Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử

Read and learn ethnic origin Vietnamese | Hảy tìm hiểu và học hỏi nguồn gốc dân tộc việt

Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử

Postby DaMinhChau » May 4th, 2013, 10:03 am


Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử (phần 1)


Image


Sự ra đời và lưu hành của những lá quốc kỳ Việt Nam đã có nhiều bài viết cũng như nhiều cách lập luận, tuy nhiên, bức tranh tổng thể về lịch sử quốc kỳ Việt Nam thì chưa bao giờ có. Cần lưu ý rằng, lịch sử quốc kỳ là gồm thâu tất cả những lá cờ được sử dụng làm biểu trưng cho quốc gia – bất kể thể chế chính trị nào. Lịch sử là cái đã – đang – sẽ diễn ra chứ không diễn ra theo-ý-muốn-của-ý-thức-hệ, cho nên, bài viết này cố gắng lược thuật lại dòng sử về quốc kỳ Việt Nam bằng cái nhìn khách quan, không nghiêng lệch theo ý niệm chính trị. Rất có thể, đây đó còn thừa hoặc thiếu, mong được bạn đọc góp ý và phản biện !

Image
Bản đồ và quốc kỳ Việt Nam đương đại xuất hiện trong clip Việt Nam – hình hài một chữ S.


Trước khi tiếp xúc với nền văn minh Âu châu (thường gọi là phương Tây), các nước Á Đông nói chung – Việt Nam nói riêng – không có khái niệm về lá cờ biểu trưng cho quốc gia, hoặc nếu có thì không được công nhận chính thức. Những lá cờ thường được sử dụng vào mục đích văn hóa (hội hè, tang gia bối rối…) hoặc quân sự, ngoài ra cũng có cờ biểu trưng cho hoàng gia – mà trực tiếp là biểu hiện sự cao quý của vua chúa – nhưng bị hạn chế sử dụng trong dân gian. Thí dụ, quốc kỳ các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Xiêm La (sau đổi là Thái Lan)… ban đầu được sử dụng làm chiến kỳ (lá cờ biểu trưng cho quân đội), lá quốc kỳ Đại Hàn Đế quốc (quốc hiệu cuối cùng của Triều Tiên trước khi bị Nhật Bản đô hộ) vốn dĩ là cờ hiệu của phái đoàn ngoại giao. Tại Việt Nam, mãi đến đầu thế kỷ XX vẫn chưa có quốc kỳ, cờ biểu trưng cao nhất chỉ là cờ hoàng gia (hoàng kỳ).

1. Liên bang Đông Dương (1887 – 1953)
Được thành lập vào ngày 17 tháng 10 năm 1887 nhưng mãi đến năm 1923, Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) mới có quốc kỳ chính thức (trước đó chỉ sử dụng quốc kỳ Cộng hòa Pháp), lá cờ này được sử dụng đến khoảng năm 1945 – khi Đế quốc thực dân Pháp bị phát xít Nhật gạt khỏi Đông Dương. Đây là lá quốc kỳ đầu tiên xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam ; tỉ lệ 2/3 với nền vàng và quốc kỳ Pháp ở góc trái phía trên cùng – cờ tam tài thể hiện Nhà nước bảo hộ và màu vàng thể hiện giống người da vàng. Liên bang Đông Dương thực tế không phải quốc gia mà chỉ là liên minh các tiểu vương quốc và lãnh thổ ủy trị của Đế quốc thực dân Pháp tại Đông Á, cho nên có khi được gọi là xứ Đông Pháp. Lãnh thổ tương ứng Việt Nam ngày nay được chia làm ba kỳ : Bắc Kỳ (lãnh thổ ủy trị), Trung Kỳ (Đại Nam Đế quốc), Nam Kỳ (lãnh thổ ủy trị).

Image
Mã màu : #0055A4, #FFFFFF, #EF4135, #FFFF00


2. Việt Nam Đế quốc (1945)
Đầu năm 1945, chiến sự Thái Bình Dương biến chuyển bất lợi cho quân đội Nhật Bản. Với ý muốn xây dựng khu vực Đông Á thành hậu phương vững chắc của mình, Đế quốc Nhật Bản đột ngột thay đổi chính sách : từ bỏ minh ước “cùng nhau cai trị” để tiến tới thâu tóm hoàn toàn Đông Dương. Ngày mồng 9 tháng 3 cùng năm, hoàng quân Nhật Bản đảo chính thành công, gạt Đế quốc thực dân Pháp (chính phủ Vichy) khỏi Đông Dương và chỉ hai ngày sau (11 tháng 3) thì trao quyền độc lập về danh nghĩa cho Việt Nam. Bản chiếu chỉ đề ngày 27 tháng Giêng Âm lịch (tức ngày 11 tháng 3 Dương lịch) do Hoàng đế Bảo Đại đọc tại điện Kiến Trung, có chữ ký của 6 vị Thượng thư triều Nguyễn và sự chứng kiến của đại diện Nhật hoàng (Đại sứ, Tổng lãnh sự, Lãnh sự), có ý nghĩa tiên khởi cho nền độc lập của nước Việt Nam hiện đại. Quốc hiệu Việt Nam lúc đó là Việt Nam Đế quốc, thủ đô đặt tại Huế. Từ ngày 11 tháng 3 đến ngày 17 tháng 4, quốc kỳ nước Việt Nam (bấy giờ chỉ bao gồm Bắc Kỳ và Trung Kỳ) là cờ long tinh. Lá cờ long tinh (龍星帝旗) vốn là cờ hiệu của hoàng gia Nguyễn, sử dụng từ 1920 bởi các Hoàng đế Khải Định, Bảo Đại. Tỉ lệ cờ 1/2 với ba dải ngang : dải đỏ chen giữa hai dải vàng, chiều rộng nền đỏ chiếm 1/2 chiều rộng cờ.

Image
Mã màu : #FFFF00, #EF4135


Ngày 17 tháng 4, được sự ủy nhiệm của Hoàng đế Bảo Đại, chính khách Trần Trọng Kim (Tổng bí thư Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng) đứng ra lập tân chính phủ và được bầu làm Nội các Tổng trưởng (Thủ tướng). Quốc hiệu giữ nguyên, nhưng quốc kỳ thay đổi và thủ đô đặt tại Hà Nội. Lá quốc kỳ Việt Nam Đế quốc là cờ quẻ Ly, tỉ lệ 2/3 với nền vàng và quẻ Ly đỏ ở chính giữa, được sử dụng đến ngày 23 tháng 8 cùng năm. Ý nghĩa của lá cờ dựa trên thuyết ngũ hành : Nền Vàng thuộc hành Thổ, cũng tượng trưng cho sự cân bằng Âm-Dương, thể hiện ước vọng thái bình thịnh trị cho nước Nam. Quẻ Ly (離) thuộc hành Hỏa, có nghĩa là lệ dã (sáng chói), biểu trưng cho nhiệt năng (mặt trời, lửa, ảnh sáng) – cũng tức là nền văn minh ; phần màu vàng chen giữa ba vạch đỏ giống chữ công (工) có nghĩa là việc làm, lao động ; màu đỏ thuộc hành Hỏa, và cũng biểu trưng cho phương Nam. Cho nên, tổng thể lá cờ vừa hàm nghĩa tụng ca sự thịnh vượng, tự chủ của nước Việt Nam vừa tôn vinh đức siêng năng cần mẫn của người Việt Nam trong lao động sản xuất. Lãnh thổ Việt Nam Đế quốc lúc này đã gồm thâu cả Nam Kỳ.

Image
Mã màu : #FFFF00, #CC0000


3. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 – 1947, 1954 – 1955)
Sau cuộc chính biến 19 tháng 8 và tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 (có ý nghĩa như sự công bố thành lập) năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, có ý nghĩa là chính thể dân chủ cộng hòa đầu tiên tại Việt Nam và là sự kế thừa Việt Nam Đế quốc về chính trị cũng như lãnh thổ. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực tế có thời kỳ gián đoạn khá dài (1947 – 1954) do sự bùng nổ cuộc Chiến tranh Đông Dương, chính phủ phải giải tán và trở thành Mặt trận Việt Minh, hoạt động chủ yếu tại chiến khu Việt Bắc. Lá quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là cờ sao mai (hay còn gọi là cờ đỏ sao vàng), xuất hiện lần đầu trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa (1940), ý nghĩa của nó được lý giải trong một bài thơ của Nguyễn Hữu Tiến (tác giả) :
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu với cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì đất nước
Sao vàng tươi da của giống nòi
Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sĩ-công-nông-thương-binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.
Tỉ lệ cờ 2/3 gồm ngôi sao vàng năm cánh chính giữa nền đỏ. Ngôi sao mai (còn gọi là sao Hôm – xuất hiện khi mặt trời mới nhú) thể hiện niềm tin vào tương lai rạng rỡ của đất nước.

Image
Mã màu : #CC0000, #FFFF00


4. Quốc gia Việt Nam (1949 – 1955) và Việt Nam Cộng hòa (1955 – 1975)
Theo thỏa thuận Yalta (đầu tháng 2 năm 1945), bên cạnh việc quy định khu vực đóng quân sau khi Trục phát xít tan rã, ba cường quốc Liên Xô – Hoa Kỳ – Anh cũng nhất quán rằng, các khu vực trước Đệ nhị Thế chiến là thuộc địa thì trả về cho chính quốc cũ. Bởi vậy, ngay sau khi Đế quốc Nhật Bản đầu hàng (14 tháng 8 năm 1945), quân đội Pháp nhập vào lực lượng Anh quốc để tiến vào Đông Dương – một mặt là giải giới quân đội Nhật, mặt khác là dọn đường cho sự quay trở lại của Đế quốc thực dân Pháp. Về nguyên tắc, việc này tuân thủ đúng Hiệp ước Yalta. Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 (1946) – được ký giữa Jean Sainteny (đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp) và Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh (những đại diện của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) – quy định, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do (tự trị) trong Liên bang Đông Dương (thực tế chỉ tồn tại trên danh nghĩa) và trực thuộc Liên hiệp Pháp. Sự kiện này cũng có ý nghĩa như dấu mốc hình thành khối Liên hiệp Pháp (1946 – 1958). Tuy nhiên, ngày 2 tháng 6 cùng năm, Cao ủy Đông Dương (tương đương với Toàn quyền) Georges Thierry d’Argenlieu đã đơn phương thành lập tại khu vực ngày nay là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ một thực thể có tên là Cộng hòa tự trị Nam Kỳ (République autonome de Cochinchine), do đó làm mất giá trị bản Hiệp định, nhưng cũng có thể xem đây là một trong những căn nguyên dẫn đến cuộc Chiến tranh Đông Dương (nổ ra vào ngày 19 tháng 12 năm 1946). Dầu vậy, do thực lực quá yếu nên chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tự giải tán vào khoảng đầu năm 1947 và trở lại hình hài Mặt trận Việt Minh, rút toàn bộ ban lãnh đạo lên chiến khu Việt Bắc. Ngày 17 tháng 2 năm 1947 tại Nam Kinh (Trung Hoa Dân quốc), các tổ chức chính trị đối lập với Việt Minh và một số hội đoàn tôn giáo đã họp hội nghị thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp – tổ chức này là tiền đề của chính phủ Quốc gia Việt Nam.
Quốc gia Việt Nam ra đời ngày 14 tháng 6 năm 1949 theo thỏa thuận giữa đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp và cựu hoàng Bảo Đại (thoái vị ngày 30 tháng 8 năm 1945) – Hiệp ước Vịnh Hạ Long (7 tháng 12 năm 1947). Đây là chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu trên danh nghĩa là Quốc trưởng Bảo Đại, điều hành quốc gia là Thủ tướng và Nội các ; về kết cấu thì Quốc gia Việt Nam mô phỏng cách tổ chức của những nước đại nghị chế như Đức, Ý, Israel, Ấn Độ… Quốc gia Việt Nam kế thừa vai trò chính trị cũng như lãnh thổ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa tự trị Nam Kỳ – tức là thuộc khối Liên hiệp Pháp. Thủ đô đặt tại Sài Gòn. Quốc kỳ là lá cờ vàng ba sọc đỏ, tỉ lệ 2/3 với năm sọc ngang (hai sọc vàng chen giữa ba sọc đỏ) chính giữa nền vàng. Cờ vàng ba sọc đỏ sao phỏng cờ quẻ Càn của triều Nguyễn (1890 – 1920) nhưng màu đỏ sậm hơn. Tương tự cờ quẻ Ly, cờ vàng ba sọc đỏ tuân thủ nguyên tắc ngũ hành bát quái, chỉ khác một chút là quẻ Càn (乾) thuộc hành Thổ, có nghĩa là kiện dã (khỏe mạnh), tượng trưng cho tứ đức (nguyên-hanh-lợi-trinh, có tứ đức thì tạo nên nghiệp lớn), ý nghĩa của quẻ Càn là biểu trưng cho thiên mệnh, địa vị chính thống. Đó cũng là nguyên cớ vì sao những người suy tôn lá cờ này thường tự coi mình là “chính nghĩa quốc gia”. Ba sọc đỏ cũng hàm nghĩa ba giọt máu Bắc-Trung-Nam không thể chia lìa của đất mẹ Việt Nam.
Sau khi trận Điện Biên Phủ kết thúc với thắng thế thuộc về Mặt trận Việt Minh (7 tháng 5 năm 1954) và Hội nghị Genève (26 tháng 4 đến 8 tháng 5 năm 1954) tổ chức, Cộng hòa Pháp chấm dứt vai trò chính trị tại Đông Dương và quân đội Pháp phải triệt thoái khỏi miền Bắc Việt Nam (giới hạn là vĩ tuyến 17), chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khôi phục (10 tháng 10 năm 1954). Lúc này, lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17, nửa phía Bắc là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (thủ đô Hà Nội), nửa phía Nam là Quốc gia Việt Nam (đô thành Sài Gòn). Nhưng trong cuộc tổng tuyển cử năm 1955 (còn được gọi là trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam), Quốc trưởng Bảo Đại thất cử và Thủ tướng Ngô Đình Diệm thắng áp đảo. Ngày 26 tháng 10 năm 1955, ngài Ngô Đình Diệm nhậm chức Quốc trưởng (sau đó được gọi là Tổng thống) và đổi quốc hiệu là Việt Nam Cộng hòa. Việt Nam Cộng hòa kế thừa Quốc gia Việt Nam về lãnh thổ (đường biên tuân theo Hiệp định Genève) và vai trò chính trị. Ngày 26 tháng 10 năm 1956, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa được công bố, lá cờ vàng ba sọc đỏ được giữ nguyên làm quốc kỳ. Vai trò quốc kỳ của cờ vàng ba sọc đỏ tồn tại đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì chấm dứt – khi chính thể Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam được thay thế bởi Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Image
Mã màu : #FFFF00, #CC0000


5. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1955 – 1976) và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1976 đến nay)
Ngày 10 tháng 10 năm 1954, chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khôi phục, nhưng cực Nam dừng lại ở vĩ tuyến 17 (tuân theo Hiệp định Genève). Sắc lệnh 249/SL (ngày 30 tháng 11 năm 1955) được ký bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ấn định việc sửa đổi hình dạng ngôi sao để phù hợp với ngôi sao biểu trưng thường thấy trên quốc kỳ các nước Xã hội chủ nghĩa. Ý nghĩa lá cờ đỏ sao vàng về căn bản được giữ nguyên. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam họp khóa đầu tiên đã chọn lá cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chính thể nhất thống trên toàn lãnh thổ Việt Nam, có ý nghĩa kế thừa hai thực thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Image
Mã màu : #CC0000, #FFFF00


MỘT SỐ HÌNH ẢNH

Image
Lá cờ long tinh của triều Nguyễn đứng bên cạnh quốc kỳ Liên bang Đông Dương (hình in trên vỏ hộp thuốc lá).

Image
Tem Đông Dương phát hành năm 1945 với cờ long tinh và hàng chữ 11.3.45 (thời điểm Hoàng đế Bảo Đại công bố nền độc lập của Việt Nam Đế quốc).

Image
Cờ sao mai theo bước chân Trung đoàn Thủ đô về tiếp quản Hà Nội – 10 tháng 10 năm 1954 (ghi lại trong bộ phim tài liệu Việt Nam của Roman Karmen).

Image
Lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay trước sân Phủ Toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ tịch) – 1953.

Image
Lá cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện trong một chuyến thăm Cao nguyên Trung phần của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Image
Cờ đỏ sao vàng ngạo nghễ tung bay giữa biển trời Trường Sa.


TTXVA
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image

For this message the author DaMinhChau has received thanks:
canh_n2000
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80836
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46239 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 28th, 2017, 12:11 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử

Postby DaMinhChau » May 4th, 2013, 10:06 am

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image

For this message the author DaMinhChau has received thanks:
canh_n2000
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80836
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46239 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 28th, 2017, 12:11 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử (phần 2)

Postby DaMinhChau » May 4th, 2013, 10:22 am


Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử (phần 2)


Bên cạnh những chính thể có tính cách đại diện cho toàn thể cộng đồng Việt Nam thì cũng có nhiều thực thể chính trị được thừa nhận hoặc vô thừa nhận ra đời tùy bối cảnh lịch sử. Những thực thể này hầu hết không tồn tại lâu nhưng ít nhiều đóng góp cho sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, và trước nhất chúng ta thấy rằng, việc đánh giá cơ cấu chính trị – xã hội Việt Nam phải dựa trên cái nhìn đa diện chứ không thể đứng ở hệ quan điểm này bài xích hệ quan điểm nọ.

Image

Đèo Nàng Tơi (1914 – 2008) là vị chúa Thái cuối cùng, sau khi Khu tự trị Tây Bắc giải thể (1975) thì bà di cư sang Pháp. Dòng họ Đèo thế tập không kén chọn nam hay nữ và hiện nay hầu hết định cư tại Pháp. Bức ảnh chụp tại Hà Nội năm 1952. Thời gian tới, TTXVA sẽ có bài viết về dòng họ quyền uy này.


1. Vương quốc Sedang (1888 – 1890)

Từ thế kỷ XIX trở về trước, Tây Nguyên còn là miền đất hoang sơ, nơi cư trú của nhiều bộ lạc gốc Mã Lai – Đa Đảo và chưa bao giờ đạt tới trình độ văn minh. Từ năm 1858 khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) thì các nhà thám hiểm hoặc truyền giáo Pháp mới bắt đầu tìm cách chinh phục Tây Nguyên, nhưng hiệu quả rất ít bởi sự cách trở về ngôn ngữ cũng như phong tục tập quán. Đến năm 1888, một cựu nhân viên ngân hàng người Corse tên là Marie-Charles David de Mayréna (1842 – 1890) đã mua chuộc một số tù trưởng để thành lập tại vùng đất ngày nay là Dakto một quốc gia có tên là Vương quốc Sedang (Royaume des Sedangs). Đây thực chất là một liên minh các bộ lạc lớn ở khu vực ngày nay là Kontum, Mayréna đặt cho kinh đô vương quốc là Marie Peleï (tiếng Mã Lai : Làng Marie) – nay là buôn Kongu (xã Ngọc Wang, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum). Cư dân chủ yếu của Vương quốc Sedang là người Bahnar và Sedang (từ Sedang là đọc trại của từ Cà răng). Bản thân Mayréna tự xưng là vua Marie Đệ Nhất, ấn định Hiến pháp vương quốc, đồng thời thiết lập hệ thống biểu trưng (quốc kỳ và quốc huy, hiệu kỳ và huy hiệu hoàng gia), thậm chí đã kịp in tiền và tem (được sản xuất tại Pháp). Tuy nhiên, mục đích thực sự của Mayréna khi thiết lập vương quốc chẳng qua để ngã giá với các nước thực dân Tây Âu (vốn đang khát thuộc địa và thị trường tiêu thụ hàng hóa) ; Mayréna trực tiếp đi giao thiệp với đại diện các chính phủ Anh, Pháp nhưng việc thương lượng đổ bể. Sau đó, ông sang Bỉ tìm mua vũ khí (với giao hẹn chia sẻ nguồn tài nguyên thiên nhiên) nhằm đoạt lại quyền kiểm soát vương quốc nhưng bị hải quân Pháp chặn bắt tại Singapore (với lý do buôn lậu). Do không tìm được đường trở lại Tây Nguyên, Mayréna bỏ sang Malaysia, kết hôn và định cư trên đảo Tioman cho đến khi mất (11 tháng 11 năm 1890). Vương quốc Sedang chấm dứt sự tồn tại và những vùng đất của nó nhập vào Liên bang Đông Dương, dù sao việc ra đời quốc gia này đã mở đường cho sự truyền bá Công giáo, Tin Lành giáo vào cộng đồng Tây Nguyên vốn còn ở tình trạng nguyên thủy.

Quốc kỳ Vương quốc Sedang hình vuông, nền lam với chữ thập trắng ở chính giữa, bên trong chữ thập còn có một ngôi sao năm cánh màu đỏ.

Image
Mã màu : #0055A4, #FFFFFF, #EF4135


2. Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ (1946 – 1948)

Trước khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh (14 tháng 8 năm 1945), khu vực ngày nay là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ được gọi chung là Nam Kỳ, hưởng quy chế lãnh thổ tự trị trong khối Liên bang Đông Dương (tương tự Bắc Kỳ và Quảng Châu Loan). Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân đội Pháp trên danh nghĩa Đồng Minh quay trở lại tiếp quản Sài Gòn (tuân thủ Hiệp ước Yalta) rồi dùng vũ lực trấn áp toàn miền. Các tổ chức chính trị (Đông Dương Tự trị Đảng, Việt Nam Tân Dân chủ Đảng, Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng…) và trí thức Nam Kỳ đồng loạt lên tiếng yêu cầu chính phủ Cộng hòa Pháp trao quyền tự trị cho xứ này – điều đó cũng có nghĩa là, người Nam Kỳ bấy giờ không có ý muốn gia nhập chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 2 năm 1946, Ủy viên Cộng hòa Jean Marie Arsène Cédile quyết định thành lập Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) với 12 ủy viên (4 người Pháp, 8 người Việt Nam). Đến ngày 31 tháng 5 cùng năm thì Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ đổi tên thành Hội đồng Nam Kỳ (Conseil de Cochinchine) với 42 ủy viên. Quan điểm của Hội đồng là liên đới mọi cá nhân hoặc tổ chức đối lập với Việt Minh thành một khối. Ngày 27 tháng 5 năm 1946, Cao ủy Đông Dương Georges Thierry d’Argenlieu đơn phương tán thành việc thiết lập một chính thể lấy tên là Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ (République autonome de Cochinchine), thủ phủ đặt tại Sài Gòn. Ngày 1 tháng 6, một cuộc meeting nhằm ra tuyên cáo của tân chính phủ đã diễn ra tại khu vực Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ hưởng quy chế ngang hàng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – tức là tự trị trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương thuộc Pháp.

Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ là một chính thể đại nghị chế, đứng đầu trên danh nghĩa là Cao ủy Đông Dương, quyền điều hành thuộc về Thủ tướng và Nội các. Chính thể này thành lập giữa lúc tình thế chính trị Nam Kỳ diễn biến phức tạp, các phe phái đua nhau cát cứ và trong nội bộ chính phủ thì có sự chia rẽ. Chỉ trong 3 năm (1946-1947-1948) đã có 3 Thủ tướng thay phiên nhau chấp chính : Nguyễn Văn Thinh (tự sát ngày 10 tháng 11 năm 1946), Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân. Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ thực chất là một chính thể thành lập vội vã, kết cấu chính quyền chưa hoàn chỉnh và cũng không nhận được sự tán thành của đông đảo quần chúng. Sau Thỏa ước Élysées (được ký kết bởi Tổng thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại) và một cuộc biểu quyết tại Quốc hội Nam Kỳ, ngày 2 tháng 6 năm 1948, Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ giải thể, lãnh thổ của nó sáp nhập trở lại với Bắc Kỳ và Trung Kỳ để sang năm 1949 thì chính thể Quốc gia Việt Nam ra đời.

Quốc kỳ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ là lá cờ vàng ba sọc lam, tỉ lệ 2/3 với năm sọc ngang (hai sọc vàng chen giữa ba sọc lam) chính giữa nền vàng. Ba sọc lam tượng trưng cho ba dòng sông lớn chảy tràn trên đất Nam Kỳ : Đồng Nai, Tiền Giang, Hậu Giang. Hiện nay, nguồn tư liệu về lá cờ này ở không nhất quán : Có tài liệu nói rằng, giữa ba sọc lam là hai sọc trắng – nhưng cũng có tài liệu khẳng định giữa ba sọc lam là hai sọc vàng. Chi biết rằng, đương thời dân gian giễu nhại nó là “cờ sốt rét”.

Image
Mã màu : #FFFF00, #0055A4


3. Sip Song Chau Tai (1948 – 1955)


Từ xưa, vùng Tây Bắc là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thiểu số di cư từ cao nguyên Vân Quý (Trung Quốc), nhưng mạnh nhất và giữ vai trò thống trị lâu nhất là người Thái (hình thành trong khoảng thế kỷ VII – XIII). Suốt từ thế kỷ XIII đến nửa đầu XIX, các chúa Thái vừa lo bình định trong ngoài vừa kiến tạo cơ sở vật chất cho mình, nguồn lợi chủ yếu có được là do buôn bán thuốc phiện với các khu vực lân cận. Do cương vực là nơi giao thoa của nhiều quốc gia, các thủ lĩnh người Thái đã củng cố thế lực bằng chính sách ngoại giao rất khôn khéo (lúc nhu lúc cương, khi liên kết với Ai Lao chống Đại Việt, khi kết giao với Đại Việt chống Trung Hoa…) và trong nội bộ dân tộc Thái cũng tồn tại những luật lệ không quá hà khắc, tỏ ra công bằng giữa người nam và người nữ. Từ năm 1431 nổi lên thế lực của dòng họ Đèo (thủy tổ là Đèo Cát Hãn) thuộc nhóm Thái Trắng (Táy Khao) – cũng từ triều Lê sơ trở đi, các thủ lĩnh Thái được gọi là phìa tạo (p’tao), được quyền thế tập, có lãnh địa và hệ thống chức sắc riêng, những vẫn phải phụng cống xưng thần với triều đình Đại Việt. Đến khoảng năm 1841, Đế quốc Xiêm La bình định xong các tiểu quốc Lào và trở thành nguy cơ đối với quyền lực của các chúa Thái, dòng họ Đèo buộc phải khẩn cầu sự trợ lực của triều Nguyễn. Đáp lại, Hoàng đế Minh Mạng kết hợp ba châu Ninh Biên, Tuần Giáo, Lai Châu thành phủ Điện Biên và cử quân đội người Kinh lên đó đồn trú.

Sau khi Đế quốc thực dân Pháp xâm nhập và bình định xong Bắc Kỳ, vào năm 1890, Thống đốc Pháp tại Luang Prabang là Auguste Jean-Marie Pavie (1847 – 1925) đã kiến nghị với chính phủ Cộng hòa Pháp công nhận chúa Đèo Văn Trị là thủ lĩnh hợp pháp của vùng Tây Bắc – từ lúc này được gọi là Sip Song Chau Tai (สิบสองเจ้าไต, Mười hai xứ Thái). Triều Nguyễn cũng sắc phong Đèo Văn Trị chức tri châu, được quyền thế tập để cai quản đạo Lai Châu (trước đó gọi là phủ Điện Biên). Từ năm 1947, cuộc chiến tranh Đông Dương bùng nổ và diễn biến phức tạp, với mục đích cô lập lực lượng Việt Minh, chính phủ Pháp quyết định tách Sip Song Chau Tai khỏi Bắc Kỳ và ngày 1 tháng 1 năm 1947, Liên bang Thái Tự trị (Fédération Taï) được thành lập với thủ phủ đặt tại nơi ngày nay là thị xã Mường Lay. Liên bang Thái là lãnh thổ ủy trị của Liên hiệp Pháp, bao gồm 16 châu hợp thành. Điều thú vị là, kết cấu chính quyền Liên bang Thái đảm bảo tam quyền phân lập rất rõ : Đứng đầu xứ là lãnh chúa xuất thân từ dòng họ Đèo, cơ quan lập pháp là hội đồng đại biểu các châu với nhiệm kỳ 4 năm, cơ quan hành pháp có chủ tịch do các đại biểu tri châu bầu lên với 2/3 số phiếu và nhiệm kỳ 5 năm, tư pháp thì chiểu theo tập tục cổ truyền. Ngày 1 tháng 7 năm 1948, Liên bang Thái Tự trị đổi tên thành Khu tự trị Thái và sang năm 1949 thì trở thành một phần của Quốc gia Việt Nam. Vào ngày 29 tháng 4 năm 1955, Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hồ Chí Minh) đã ra Sắc lệnh số 230/SL thành lập Khu tự trị Thái – Mèo với 17 châu trên cơ sở Khu tự trị Thái và một số vùng trực thuộc Liên khu Việt Bắc. Năm 1962, Khu tự trị Thái – Mèo đổi tên thành Khu tự trị Tây Bắc và tồn tại đến ngày 27 tháng 12 năm 1975 thì giải thể, quyền lực của các chúa Thái cũng chấm dứt.

Cờ hiệu của Sip Song Chau Tai được ấn định vào ngày 4 tháng 3 năm 1948, tỉ lệ 2/3 với sọc trắng chen giữa hai sọc lam, chính giữa sọc trắng có thêm ngôi sao đỏ 16 cánh (ban đầu là 12 cánh). Kết cấu lá cờ dựa trên quốc kỳ Cộng hòa Pháp, màu sắc lấy từ trang phục lễ hội của phụ nữ Thái Đen (Táy Đăm), ngôi sao 16 cánh tượng trưng cho 16 châu liên minh. Trong khoảng từ 1946 đến 1949, lá cờ này được sử dụng làm chiến kỳ của binh sĩ người Thái trong quân đội Pháp. Năm 1954, khi quân đội Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ thì lá cờ này chấm dứt vai trò biểu tượng.

Image
Mã màu : #0055A4, #FFFFFF, #EF4135


4. Cộng hòa Tây Nguyên và Champa (1964 – 1965)

Sau khi chính thể Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam sụp đổ (2 tháng 11 năm 1963), nội trị Việt Nam Cộng hòa trở nên biến động khôn lường. Chịu trách nhiệm lãnh đạo quốc gia lúc này là Hội đồng Quân nhân Cách mạng, nhưng do thiếu kinh nghiệm chính trị cũng như cách giải quyết các khúc mắc xã hội nặng nề tính cách nhà binh, những mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo được dịp bùng phát. Bên cạnh đó là sự dính líu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong các hoạt động khủng bố, chia rẽ. Ngày 20 tháng 9 năm 1964, tại Phnompenh, dưới sự chủ tọa của quốc vương Campuchia Sihanouk, Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức (Front Uni de Lutte des Races Opprimées, FULRO) được thành lập, bao gồm :

- Mặt trận Giải phóng Champa (Front de Libération du Champa, FLC), còn gọi là FULRO Chăm, do Lès Kosem lãnh đạo.
- Mặt trận Giải phóng Campuchia Krom (Front de Libération du Kampuchea Krom, FLKK), còn gọi là FULRO Khmer, do Chau Dera làm đại diện.
- Mặt trận Giải phóng Cao Nguyên (Front de Libération des Hauts Plateaux, FLHP), còn gọi là FULRO Thượng, do Y Bham Enuol chỉ huy.

Mục tiêu của tổ chức này là giành quyền tự quyết cho các sắc tộc Thượng, Chăm, Khmer bằng bạo động vũ trang. Bởi vậy, vào ngày 29 tháng 7 năm 1964, một toán 200 tay súng FULRO từ Campuchia về chiếm giữ Buôn Briêng (Darlac) và kết nạp thêm 181 thành viên. Ngày 15 tháng 10 năm 1964, đại hội các sắc tộc Thượng được triệu tập tại Pleiku nhằm đề ra chính sách hỗ trợ cho đời sống người Thượng. Đến ngày 17 tháng 10 cùng năm, một chính quyền có tên là Cộng hòa Tây Nguyên và Champa (République des Highlands et Champa) được thành lập, thủ phủ đặt tại Pleiku. Chính quyền này được lập ra với sự chấp thuận của chính phủ Hoa Kỳ, tự coi là đại diện chính trị cho hai sắc tộc Thượng và Chăm song không có đường biên cũng như hệ thống cơ quan hành chính, thực lực quân sự cũng không đảm bảo. Sang năm 1965, Hội đồng Quân nhân Cách mạng cử đại diện là Trung tướng Nguyễn Khánh đàm phán với các lãnh tụ FULRO. Ngày 2 tháng 8 năm 1965, một tuyên cáo chung về hợp tác Kinh – Thượng được công bố, nội dung căn bản là :

- Kinh Thượng bình đẳng và đoàn kết thật sự
- Tôn trọng phong tục, tập quán của đồng bào Thượng
- Đặc biệt nâng đỡ đồng bào Thượng theo kịp đà tiến bộ của Dân tộc

Tuyên cáo này cũng có thể xem như sự cáo chung của một chính quyền không có thực lực. Trong hai năm tồn tại, Cộng hòa Tây Nguyên và Champa sử dụng lá cờ như sau :

Image
Mã màu : #0055A4, #EF4135, #009246, #FFFFFF


Nửa bên trái là ba sọc lam – đỏ – lục trích từ hiệu kỳ FULRO, nửa bên phải là nền trắng với biểu tượng Hồi giáo (trăng lưỡi liềm) ở chính giữa - màu đỏ và màu trắng phỏng theo trang phục truyền thống của dân tộc Chăm. Tổng thể lá cờ toát lên ý chí đoàn kết vì mục tiêu chung của các sắc tộc Thượng và Chăm.

5. Cộng hòa Champa (1965)

Ngay từ thời điểm thành lập, nội bộ FULRO luôn dao động giữa chủ hòa và chủ chiến. Y Bham Enuol chủ trương giành quyền tự trị cho Tây Nguyên bằng giải pháp thương lượng, đồng thời quan tâm nâng cao chất lượng đời sống của các sắc tộc Thượng ; Y Dhon Adrong chủ trương giành độc lập cho ‘Tây Nguyên bằng bạo động vũ trang. Sau khi tuyên cáo về hợp tác Kinh – Thượng được công bố, chính quyền Cộng hòa Tây Nguyên và Champa cũng giải thể, nội bộ FULRO mâu thuẫn dữ dội vì phe chủ chiến không chấp nhận giải pháp này. Khoảng tháng 7 năm 1965, Mặt trận Giải phóng Champa đơn phương thành lập tại Phan Rang (Ninh Thuận) một chính quyền có tên là Cộng hòa Champa (République du Champa), Lès Kosem (bấy giờ mang cấp hàm Thiếu tá Nhảy dù trong Quân đội Hoàng gia Campuchia) tự xưng là Tổng thống và tuyên bố phục quốc Champa. Tuy nhiên, chính quyền này không được công nhận và cũng không có thực lực nên chỉ tồn tại một thời gian rất ngắn.

Quốc kỳ Cộng hòa Champa là hiệu kỳ của Mặt trận Giải phóng Champa (tỉ lệ 2/3).
Image
Mã màu : #0055A4, #FFFFFF, #EF4135


6. Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (1969 – 1976)

Biến cố Tết Mậu Thân (1968) đã khiến Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trở thành cái tên được công luận quốc tế quan tâm. Để tận dụng sức hút đối với phong trào phản chiến thế giới, Đảng Lao động Việt Nam chỉ thị Trung ương Cục miền Nam tổ chức Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam Việt Nam tại chiến khu Tây Ninh, tham dự Đại hội là các cá nhân và tổ chức Việt Nam Cộng hòa có cảm tình với Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Tại Đại hội, từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 6 năm 1969, hai tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã bầu ra một ban lãnh đạo chung – được gọi là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam – đứng đầu là kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Chủ tịch lâm thời), trực tiếp cầm quyền là Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (vốn là phân bộ phía Nam của Đảng Lao động). Tuy mặc định toàn bộ vùng đất từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau là lãnh thổ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, nhưng thực tế lúc này thuộc quyền quản lý của chính thể Đệ nhị Cộng hòa, thủ phủ của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chiến khu Tây Ninh. Đến 30 tháng 4 năm 1975 khi Việt Nam Cộng hòa cáo chung thì chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam dời về Sài Gòn. Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp khóa đầu tiên đã tuyên bố xóa bỏ khu DMZ vĩ tuyến 17 và đặt quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng nghĩa Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) giải thể, Sài Gòn cũng được đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù có sự tổ chức hành chính rất bài bản, song chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chịu sự chi phối của Trung ương Đảng Lao động trong mọi quyết sách chính trị – ngoại giao – quân sự và thực tế cũng tự coi là chính quyền ủy trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cho nên Cộng hòa Miền Nam Việt Nam không đại diện cho bất cứ cộng đồng nào mà chỉ nên xem là giải pháp chính trị của Đảng Lao động Việt Nam trong bối cảnh tương tranh Nam-Bắc.

Quốc kỳ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là hiệu kỳ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, tỉ lệ 2/3 với nửa trên màu đỏ và nửa dưới màu xanh, chính giữa là ngôi sao vàng năm cánh. Lá cờ này sao phỏng từ quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nửa đỏ thể hiện miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, nửa xanh thể hiện miền Nam đang còn chiến tranh và chưa hợp nhất, ngôi sao vàng thể hiện tinh thần đoàn kết của 5 giai cấp chính yếu trong xã hội Việt Nam.
Image
Mã màu : #CC0000, #FFFF00, #0099FF
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image

For this message the author DaMinhChau has received thanks:
canh_n2000
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80836
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46239 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 28th, 2017, 12:11 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Tìm lại những lá cờ hoàng gia xưa tại Việt Nam

Postby DaMinhChau » May 29th, 2013, 9:40 pm


Tìm lại những lá cờ hoàng gia xưa tại Việt Nam


Nếu như quốc kỳ là đại diện cho chủ quyền quốc gia thì hoàng kỳ chỉ đại diện cho hoàng triều cai trị quốc gia đó.

Image
Lá cờ long tinh của triều Nguyễn đứng bên cạnh quốc kỳ Liên bang Đông Dương (hình in trên vỏ hộp thuốc lá).

Ngược dòng lịch sử, những lá quốc kỳ đầu tiên mới chỉ xuất hiện tại Âu châu vào khoảng thế kỷ XVI, rồi theo chân những đoàn thương gia hoặc quân viễn chinh du nhập vào Á Đông khoảng nửa sau thế kỷ XIX. Có nghĩa là, do sự khép kín về chính trị cũng như văn hóa, xã hội Á Đông hầu như không có nhu cầu về những biểu trưng mang tính cộng đồng. Sự thật là, dường như người xứ mình vẫn nhầm lẫn quốc kỳ với hoàng kỳ, như đã nhầm lẫn hai khái niệm Đảng và Tổ quốc vậy. Một sự thật khác, sau khi các triều đại phong kiến tàn lụi và nhu cầu dân chủ hóa xã hội phát sinh thì hoàng kỳ lại trở thành ý tưởng hình thành nên quốc kỳ ; Mông Cổ, Hàn Quốc, Thái Lan là dẫn chứng. Cho nên, ít nhiều sự điểm lại lịch sử hoàng kỳ cũng là cách nhận diện nguồn gốc những lá quốc kỳ tại Việt Nam. Ở một số quốc gia như Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Campuchia… mặc dù biến động lịch sử đã xóa nhòa nhiều di sản quá khứ, nhưng nhờ công nghệ kỹ thuật số mà việc khôi phục những hình ảnh của tiền nhân – trong đó có lá cờ – trở nên dễ dàng. Nhưng mối quan tâm của những người Việt Nam chúng ta với di sản của thế hệ trước còn thiếu điều gì chăng, như tất cả chúng ta đều thấy, cả cộng đồng dành quá nhiều thời gian cũng như công sức vào hai biểu tượng nặng nề tính ý thức hệ : cờ đỏ sao vàng – cờ vàng ba sọc đỏ. Ai trong số chúng ta chợt nhận ra rằng, lịch sử Việt Nam không chỉ có hai lá cờ duy ý chí đó ? Liệu chúng ta đã nhận diện tổ tiên một cách khách quan, công bằng ?…
Tại Việt Nam, bên cạnh quốc kỳ, lá cờ lễ hội (thường được gọi là cờ ngũ sắc) khá phổ biến. Nó là lá cờ phát sinh từ đời sống dân gian và không giữ vai trò biểu tượng – hầu như chỉ được xem là vật trang trí hoặc có ý nghĩa tâm linh. Ban đầu, cờ hoàng gia cũng được thiết kế như vậy. Những lá cờ này thường có viền răng cưa nên được gọi là cờ tua rua, hoặc cờ vảy rồng. Màu sắc của cờ căn cứ vào thuyết ngũ hành (Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ), nền cờ thường thêu chữ hoặc linh vật (chim, thú…). Cờ hoàng gia tại Việt Nam có lẽ được tiếp thu từ văn hóa Trung Hoa. Blogger Nguyễn Đức Chính đã liệt kê ba loại cờ được sử dụng trong các sinh hoạt hoàng gia xưa :
    ● Kỳ (旗) : Loại cờ thông dụng, có chức năng làm biểu trưng, tín hiệu hoặc vật trang trí.
    ● Đạo (纛) : Loại cờ lệnh thuộc đặc quyền và đặc ân của vua chúa.
    ● Xí (幟) : Loại cờ biểu trưng cho mỗi đạo quân hoặc cơ quan.
Hầu hết các hoàng kỳ Việt Nam đều sử dụng nền vàng (do tiếp thu các nghi thức quân chủ Trung Hoa), ngoại trừ triều Tây Sơn sử dụng nền đỏ (do nguồn gốc của các chúa Tây Sơn là nông dân), trên cờ thường thêu nhật nguyệt, tinh tú, tứ linh, thảo mộc, ngũ hành bát quái… vẽ cách điệu. Việc sử dụng hoàng kỳ bị hạn chế rất nhiều bởi những quy tắc ứng xử quân-thần, cho nên ký ức về những lá cờ thời quân chủ thường ít lưu lại trong dân gian, sự hiểu biết về chúng phần nhiều phải dựa vào thư tịch cổ hoặc khảo cứu lịch sử. Những liệt kê dưới đây nhất định còn thiếu sót, rất mong quý độc giả ủng hộ bằng sự góp ý và phản biện !

Image
Triều Ngô.

Image
Triều Lý.

Image
Triều Trần.

Image
Triều Lê.

Image
Triều Tây Sơn (1778 – 1788).

Hoàng kỳ triều Tây Sơn có nền đỏ viền vàng, do xuất thế của các chúa Tây Sơn từ nông dân (những cuộc nông dân khởi nghĩa thường chọn sắc cờ đỏ, nâu, tím từ trang phục thường ngày).

Image
Quang Trung Đế kỳ (1788 – 1802).

Sau khi đăng quang hoàng đế (1788), Nguyễn Huệ đặt thêm ngôi sao vàng trên nền cờ, gọi là Quang Trung Đế kỳ (光 中帝旗). Trong ý niệm Á Đông, ngôi sao là một khối cầu, biểu trưng cho chính đạo, sự ngay thẳng ; khác với người phương Tây quan niệm ngôi sao là khối cầu với những cánh nhọn. Trường hợp điển hình cho sự va chạm văn hóa Á-Âu là tên gọi nước Mỹ : Hoa Kỳ / Huê Kỳ (xứ cờ hoa), thuở ban sơ khi tiếp xúc với văn minh Âu-Mỹ, người Việt Nam tưởng lầm những ngôi sao trên quốc kỳ Mỹ là bông hoa năm cánh.

Image
Long tinh kỳ (triều Nguyễn, 1802 – 1778).

Trước khi trở thành xứ bảo hộ thuộc Đế quốc thực dân Pháp, hoàng kỳ triều Nguyễn là lá cờ nền vàng viền lam, ở giữa còn có ngôi sao màu đỏ. Đây là lá cờ thể hiện rất rõ ý thức chủ quyền và nhất thống quốc gia của các hoàng đế triều Nguyễn. Nền vàng vừa thể hiện sự cai trị của hoàng triều vừa có ý nghĩa tượng trưng cho Đất (nơi Tiên trú) ; viền lam tượng trưng cho Nước (nơi Rồng ngụ). Ngôi sao là biểu hiện của chính đạo, sự hợp nhất ; màu đỏ thể hiện phương Nam (tức Việt Nam – đối lập với Trung Hoa ở phía Bắc) và nhiệt huyết với sơn hà xã tắc. Yếu tố Biển lần đầu tiên được nhắc đến trong một biểu tượng có tính cách cao quý !

Image
Đại Nam Đế kỳ (triều Nguyễn, 1885 – 1890).

Ngay khi kiểm soát được nội trị Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp gây sức ép buộc vua Đồng Khánh (đăng quang năm 1885) đổi hoàng kỳ – lá cờ long tinh trước đây bị phế bỏ (vì được vua Hàm Nghi sử dụng làm biểu tượng hiệu triệu phong trào Cần Vương kháng Pháp). Lá cờ mới được gọi là Đại Nam Đế kỳ (大南帝旗) – theo quốc hiệu đương thời, nền vàng với hai chữ Đại Nam màu đỏ nằm ngược chiều nhau.

Image
Cờ quẻ Càn (triều Nguyễn, 1890 – 1920).

Sau khi kế nhiệm vua Đồng Khánh (1889), vua Thành Thái ra sức ủng hộ các phong trào chấn hưng quốc lực đương thời (Minh tân, Đông Kinh nghĩa thục, Đông du…) và âm thầm chuẩn bị lực lượng để nổi dậy kháng Pháp. Vị hoàng đế có xu hướng cải cách này đã bãi bỏ lá cờ Đại Nam để thay bằng cờ quẻ Càn. Lá cờ này thường được xem như “thủy tổ” của quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa, nền vàng với ba sọc đỏ vắt ngang. Ý nghĩa cũng tương tự quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa, nhưng màu đỏ nhạt hơn và kích cỡ ba sọc cũng rộng hơn.

Image
Long tinh kỳ (triều Nguyễn, 1920 – 1945).

Năm 1920, hoàng đế Khải Định đã thay thế cờ quẻ Càn bằng một mẫu cờ long tinh khác để hòa dịu mâu thuẫn với chính phủ Pháp. Lá cờ này sử dụng kích cỡ 1:2 thường thấy tại Âu châu, ba dải ngang : dải đỏ chen giữa hai dải vàng, nền đỏ rộng bằng 1/2 nền cờ. Sắc đỏ giống như trên quốc kỳ Pháp (đỏ hồng).

Image
Long tinh Đế kỳ (triều Nguyễn, 1945).

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, hoàng quân Nhật Bản đảo chính và gạt mọi ảnh hưởng của Pháp tại Đông Dương, ngay sau đó, tuyên bố trao trả nền độc lập cho người Việt Nam. Ngày 11 tháng 3 cùng năm, trước đại diện chính phủ Nhật Bản và hội đồng quan lại, hoàng đế Bảo Đại đã đọc chiếu chỉ công bố nền độc lập của nước Việt Nam – quốc hiệu Việt Nam Đế quốc (帝国越南). Lá cờ long tinh được sử dụng như quốc kỳ. Nhưng đến ngày 17 tháng 4 năm đó, ngài Trần Trọng Kim được hoàng đế ủy thác lập tân nội các và trở thành Thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Quốc kỳ mới là cờ quẻ Ly, cờ long tinh trở lại làm hoàng kỳ và có sự chỉnh sửa – kích cỡ giảm còn 2:3 và màu đỏ chuyển sang sẫm hơn (đỏ tươi) để tương thích với quốc kỳ.

Image
Long tinh Đế kỳ (triều Nguyễn, 1920 – 1945).

Có nguồn dẫn rằng, trong chuyến công du nước Pháp vào mùa hè năm 1922 (Hội chợ đấu xảo thuộc địa Marseille), hoàng đế Khải Định cùng các cận thần đã sáng chế tại chỗ lá cờ long tinh (龍星帝旗) để tiện dụng cho việc nghi lễ.
Mẫu cờ lệnh của hoàng đế triều Nguyễn (sử dụng trong đám rước hoặc cắm trên xe hơi của nhà vua) :

Image

Image
MỘT VÀI HÌNH ẢNH

Image
Phiên bản lá cờ triều Tây Sơn, sử dụng trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785).

Image
Quang Trung Đế kỳ xuất hiện trong Festival Huế 2008 – tái hiện lễ đăng quang của hoàng đế Quang Trung.

Image

Image

Cờ long tinh tại lễ Tứ tuần đại khánh mừng thọ hoàng đế Khải Định (1924) – trong ảnh là lối cổng vào. Đầu thế kỷ XX trở về trước, do y học và điều kiện dinh dưỡng còn thấp kém nên tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tương đối thấp (số liệu trước 1945 là 20), người sống đến 40 tuổi đã được gọi là cụ. Bởi vậy, việc tổ chức mừng thọ cho người ở độ tuổi này là không đáng ngạc nhiên.

Image
Lối cổng giả.

Image
Gánh hát tuồng Nam Định chụp ảnh dưới lá cờ long tinh.

Image
Gánh hát bội Nam Kỳ.

Image
Cờ long tinh trong lễ an táng hoàng đế Khải Định (1925). Trong ảnh là phái đoàn nguyên thủ và quan chức cấp cao.

Image
Đám rước linh cữu hoàng đế Khải Định. Sau khi đăng quang, hoàng đế Bảo Đại giữ nguyên mẫu cờ long tinh này làm biểu tượng hoàng gia và chỉ hạ lệnh chỉnh sửa vào năm 1945 để phù hợp với thực tế nước Việt Nam độc lập.

Image
Tem Đông Dương phát hành năm 1945 với cờ long tinh và hàng chữ 11.3.45 (thời điểm Hoàng đế Bảo Đại công bố nền độc lập của Việt Nam Đế quốc).

Image
Từ trái qua : Cờ vàng ba sọc đỏ (Quốc gia Việt Nam), cờ long tinh (Quốc trưởng Bảo Đại), ngự lâm quân.


TM
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80836
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46239 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 28th, 2017, 12:11 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử

Postby DaMinhChau » March 9th, 2016, 12:50 pm


Hồn Việt Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80836
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46239 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 28th, 2017, 12:11 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử

Postby DaMinhChau » March 16th, 2016, 4:55 pm


Những Bài Ca Trở Thành Quốc Ca


Giao Chỉ San Jose


Số phận hẩm hưu của bài quốc ca Giải phóng Miền Nam. *Văn Cao, tác giả quốc ca miền Bắc không được nêu tên* Lưu hữu Phước, tác giả hai bài quốc ca miền Nam nhưng chưa bao giờ được vinh danh. *Không bài ca nào chào đời đã là quốc ca, tất cả đều trải qua thử thách.Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa đã phải sửa lời 7 lần trong 8 năm. *Quốc hội hai miền Nam Bắc đều muốn đổi quốc ca nhưng không xong.*Bà Văn Cao đã từng nói: “Mày chê tác giả nhưng khi nhạc của ông hát là chúng mày phải đứng lên hết...”. *Sau cùng, bài ca và lá cờ của miền Nam theo chân tỵ nạn ngày nay có mặt khắp thế giới.

Đầu đuôi câu chuyện như sau:

Lời ca ngang trái

Năm nay tin tức cho biết có đến 160 ngàn người Việt hải ngoại về quê ăn Tết hoặc về thăm Việt Nam vào mùa lễ hội đầu năm 2008. Ngược lại con số sinh viên Việt Nam du học tại Hoa Kỳ bắt đầu gia tăng đáng kể và nhiều thân quyến của các em cũng có dịp sang thăm nước Mỹ theo diện du lịch.

Bên cạnh những chuyến đi dần dần đă có vẻ bình thường, chúng tôi vừa ghi nhận những khía cạnh rất đặc biệt. Một thân hữu ở Việt Nam về kể lại rằng đă tham dự 1 buổi văn nghệ mở đầu có lễ chào cờ và quốc ca của Cộng hòa xă hội Việt Nam. Ông đă nói với người nhà lần sau phải cho biết để đi ra ngoài hút thuốc hoặc đi thăm nhà vệ sinh. Khi nào phần chào cờ thông qua rồi mới vào. Bài ca bắt ông phải đứng nghiêm chính là bài Tiến quân ca. Quốc ca của xă hội chủ nghĩa cộng sản đă làm cho ông hơi khó thở.

Trong khi đó một cặp vợ chồng người Hà Nội có con du học tại California nên đã xin được visa du lịch. Vốn là dân Hà Nội cũ nên những người này gặp lại bạn bè gốc di cư tại quận Cam. Họ được anh em mời đi tham dự văn nghệ của cộng đồng tỵ nạn.

Với chút dè dặt và ngập ngừng, hai ông bà từng sống suốt đời với cờ đỏ và Tiến quân Ca, nay đứng lên dự lễ chào cờ vàng và nghe hết bản quốc ca Việt Nam Cộng Hòa lần đầu tiên.

Câu chuyện ngẫu nhiên nầy gợi ý cho chúng tôi tìm hiểu để viết về đề tài: Những bài ca đã trở thành quốc ca.

Những lời ca ngang trái đối với những người Việt ở trong các hoàn cảnh khác nhau. Từ trong nước ra hải ngoại đã có những khác biệt rất biểu tượng qua mầu cờ, lời ca và điệu nhạc. Sự tìm hiểu và ghi lại ở đây hoàn toàn có tính cách sưu tầm tài liệu, mong độc giả thông cảm.

Image
Hình ảnh lá cờ vàng VNCH.


Hồn nước qua tiếng nhạc

Năm 1962 có anh đại úy trẻ của VNCH đi du học Hoa Kỳ. Nói là du học cho to chuyện nhưng thực ra chỉ có 3 tháng. Tiếng Anh của tôi sau 30 năm ở Mỹ vẫn còn quá kém, nói gì vào thời gian cách đây gần 50 năm, khả năng hết sức loạng quạng.

Tuy nhiên, thời kỳ đó Hoa Kỳ đang chiêu đãi Việt Nam Cộng Hòa. Một anh trung úy Mỹ gốc Pháp làm liên lạc viên gần như đi suốt khóa với anh sĩ quan Sài Gòn thụ huấn về môn chiến tranh sinh hóa. Tay trung úy này hết lòng với nhiệm vụ ngay từ đầu. Pháp văn là nhịp cầu liên lạc, dù rằng cả hai đều chẳng uyên bác gì. Khóa học được một tuần mới có lễ khai giảng vì phải chờ ông tướng chỉ huy Fort Mc.Clellan đi công tác về chủ tọa. Cả khóa có 60 sĩ quan học viên. Vì đây là lớp học về tấn công và phòng thủ trong chiến tranh sinh hóa nên có đủ loại cấp bậc cùng đến để nghiên cứu quân dụng.

Từ cấp úy đến cấp đại tá. Toàn là sĩ quan của các quân chủng Hoa Kỳ cùng với hai sĩ quan đồng minh. Một ông đại úy của quân lực Tây Đức và tôi là đại úy Việt Nam Cộng H?a. Khai giảng trong hội trường uy nghi của căn cứ. Tôi được ngồi trên sân khấu cạnh ông đại tá trưởng lớp, tướng chỉ huy trường và ông đại úy Tây Đức. Cờ Mỹ chính giữa, cờ Đức và cờ vàng ba sọc đỏ ở hai bên. Sau bản nhạc quốc ca Hoa Kỳ tương đối dễ nhận, tiếp đến bản nhạc lạ tai sau này tôi mới biết là họ chơi điệp khúc quốc ca của Tây Đức, sau cùng là bản quốc ca Việt Nam.

Tôi và ông đại úy Tây Đức nhìn thấy cờ của nước nhà rất cảm động nhưng không ngờ là họ còn liên lạc với các tòa đại sứ xin bản nhạc rồi cho ban quân nhạc chơi cả quốc ca.

Ba đoạn điệp khúc quốc thiều của ba nước trình tấu ào một lượt. Khi nghe thấy quốc ca của đất nước mình cất lên, người tôi lạnh toát, tưởng như giữa cơn mơ. Xong bài nhạc tất cả đứng lên vỗ tay. Dường như bài quốc thiều của Việt Nam nghe lạ tai và hùng tráng nhất.

Các bạn học đến bắt tay chúc mừng hai sĩ quan đồng minh. Ông đại úy Đức cũng không khá gì hơn tôi. Mỹ nói Mỹ nghe. Tuy nhiên, chúng tôi quả thực đã được hưởng giây phút tuyệt vời. Đi học một lớp ấm ớ chứ có làm vương làm tướng gì đâu mà họ lại đem cả quốc kỳ và quốc ca ra chào đón.

Suốt đời tôi còn nhớ mãi cái giây phút thiêng liêng đó. Quả thực là hồn nước đã gọi người qua tiếng nhạc. Này công dân ơi!...

Hành trình tìm kiếm bản quốc ca

Bản quốc thiều của VNCH cử hành trong hội trường của Fort Mc.Clellan 46 năm về trước vẫn còn văng vẳng đâu đây. Tôi lần mò suốt đêm dài trong nhiều ngày để đi tìm các tài liệu nghiên cứu.

Trên thế giới ảo người Việt Âu Châu ghi lại được một tập biên khảo của Jason Gibbs do Nguyễn Trọng Quí dịch. Tựa đề của hơn 30 trang chữ rất nhỏ: Hành trình tìm kiếm bản quốc ca.

Thiên tiểu luận uyên bác, phong phú. Qua 30 trang có đến hàng trăm chỗ tham khảo. Sau cùng đọc đi đọc lại, tìm thêm được nhiều bài liên hệ, trên 100 ý kiến đóng góp của độc giả nhiều điện báo khác nhau, chúng tôi ghi nhận được nước ta đã từng có đến 4 bài quốc ca dưới nhiều hình thức và thời đại.

*Đăng đàn cung (Đàn đăng cung)
Cờ Vàng, thời cuối nhà Nguyễn
Nhạc triều đình, được sáng tác năm 1930, không rõ tác giả, trình diễn quốc tế tại Pháp năm 1933 được chọn làm quốc ca Việt Nam năm 1945.

*Tiếng gọi sinh viên của Lưu Hữu Phước.
Quốc kỳ Quốc Gia và VNCH sáng tác 1939, được chọn làm quốc ca của quốc gia Việt Nam năm 1948.

*Tiến quân ca của Văn Cao.
Quốc Kỳ, cộng sản Việt Nam sáng tác 1944 được chọn làm quốc ca của cộng sản Việt Nam năm 1945.

*Giải phóng miền Nam,
Cờ Giải Phóng miền Nam
tác giả Lưu Hữu Phước sáng tác 1960. Chính thức chọn làm quốc ca cho chính phủ Cộng Sản Miền Nam năm 1969.
Sau đây là phần khai triển đôi chút về lịch sử của mỗi bài ca theo diễn tiến của lịch sử.

*Đàn đăng cung:
Do ảnh hưởng của Trung Hoa, hằng năm nhà vua và triều đình tổ chức tế lễ trời đất, lập đàn Nam Giao. Việt Nam tế lễ đầu tiên vào năm 1154 đời Lý Anh Tông. Đây là giờ phút vua thay mặt cho toàn dân tiếp xúc với đất trời. Thực phẩm dâng lên, xiêm áo rực rỡ và lễ nhạc tưng bừng. Lời cầu nguyện với các nghi lễ trầm hương cúng tế cùng với âm thanh chiêng trống đóng một vai trò hết sức quan trọng.

Qua thế kỷ 19, vua Khải Định lập ra ban nhạc Tây Phương đầu tiên năm 1918 và bản Đàn đăng cung được trình tấu coi như nhạc chính thức của triều đình. Năm 1933 Việt Nam tham dự đấu xảo các quốc gia thuộc địa tại Pháp. Đội quân nhạc với kèn trống của Việt Nam chơi bản Đàn đăng cung như là một hình thức quốc nhạc.

Chúng tôi không tìm thấy tác giả, nhưng lời ca tìm thấy hai câu như sau: Kìa là núi vàng bể bạc, Có sách trời, sách trời định phận....

Xem ra ý nghĩa không khác gì bài ca của Hoa Kỳ, ca ngợi nước Mỹ với không gian bao la, núi sông hùng vĩ. Thêm vào đó lời ca gần với bài thơ bất hủ ngàn xưa của Lý Thường Kiệt.

Nam quốc sơn hà, Nam đế cư, Tuyệt nhiên định phận, tại thiên thư.

Dịch nôm là: Sông núi nước Nam, Vua Nam trị, Rõ ràng định phận, sách trời ghi. Với tính cách xác định chủ quyền như vậy, sau thế chiến thứ II (39-45) chính phủ Việt Nam đầu tiên thành lập với nội các Trần Trọng Kim 1945 đă quyết định cờ vàng là quốc kỳ và bài Đàn đăng cung là quốc ca.

*Tiếng gọi sinh viên:

Năm 1939 một học sinh Petrus ký là Lưu hữu Phươc cùng với Mai văn Bộ viết bài tiếng gọi sinh viên bằng Pháp văn. Kêu gọi sinh viên lên đường giúp nước. Qua năm 1941 soạn lại lời Việt và bài này đã sửa đi sửa lại 7 lần từ 1941 đến 1948 để sau này được chọn làm quốc ca của chính quyền quốc gia Việt Nam thay cho bản Đàn đăng Cung.

Sau này vì lý do tác giả là Lưu hữu Phước theo cộng sản nên khi đất nước chia đôi, miền Nam đã trưng cầu dân ý tìm bản khác thay thế, nhưng sau cùng quốc hội Việt Nam Cộng Hòa biểu quyết giữ nguyên.

Lý do là quốc kỳ và quốc ca đã trải qua bao nhiêu thời gian và biết bao nhiêu xương máu hy sinh nên không thể thay thế. Bất kể tác giả là ai.

Sau năm 1975, người dân tỵ nạn cộng sản đi khắp bốn phương trời đem theo quốc kỳ và quốc ca Việt Nam Cộng hòa. Đến ngày nay sau 33 năm các đề nghị thay đổi là điều bất khả. Cờ vàng và Này công dân ơi!...sẽ tồn tại muôn đời với lịch sử. Lời của bài quốc ca Việt Nam Cộng hòa như sau:

Này công dân ơi! đứng lên đáp lời sông núi.Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.Dù cho thây phơi trên gươm giáo.Thù nước lấy máu đào đem báo.Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,Người công dân luôn vững bền tâm trí,Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi,Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.

Điệp khúc:

Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ, Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ,Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống, Xứng danh ngàn năm giòng giống Lạc Hồng!

*Tiến quân ca:

Năm 1945 toàn dân nổi dậy chống Pháp. Lúc đó đảng Cộng sản còn núp bóng kháng chiến. Lấy chiêu bài Việt Minh lãnh đạo và cần 1 bài ca để nâng cao tinh thần bộ đội.

Nhạc sĩ Văn Cao viết bài Tiến quân ca. Qua đến năm sau quốc hội Cộng sản chính thức công nhận Tiến quân ca là quốc ca cùng với cờ đỏ sao vàng là quốc kỳ.

Sau này lời của Tiến quân ca được sửa đổi nhiều lần cho bớt sắt máu và hợp với hoàn cảnh. Khi Văn Cao theo nhóm Nhân văn Giai phẩm, tư tưởng giao động, đảng cộng sản cũng tìm cách cho thi tuyển bài khác thay thế. Sau cùng, quốc hội Xã hội chủ nghĩa quyết định vẫn giữ nguyên Tiến Quân Ca và không nhắc đến tên tác giả.

Sau đây là lời của Tiến quân ca:

Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốcBước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa.Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước, Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca. Đường vinh quang xây xác quân thù,[nguyên thuỷ là: thề phanh thây uống máu quân thù]Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu. Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,Tiến mau ra sa trường.Tiến lên! cùng tiến lên.Nước non Việt Nam ta vững bền.

*Bài giải phóng miền Nam:

Sau khi thấy không thể thôn tính miền Nam bằng chính trị, Hà Nội cho tập kết trở về và đem quân vào Nam, lập Mặt trận giải phóng. Lưu hữu Phước được Lê Duẩn chỉ thị soạn bài ca Giải phóng miền Nam phát thanh lần đầu năm 1960.

Cho đến năm 1969 thành lập chính phủ miền Nam, bài này được chọn chính thức làm quốc ca để tuyên truyền trên thế giới là miền Nam hiện có 2 chính phủ. Phe cộng sản Miền Nam có cờ và quốc ca Giải phóng miền Nam. Tất cả do Hà Nội dựng nên. Qua năm 1976 thì cờ và quốc ca của giải phóng miền Nam hoàn toàn biến mất.

Times New Roman Sau đây, với một chút tò mò tìm được,chúng tôi xin đăng lại lời ca của bài giải phóng miền Nam như sau:

Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước. Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước.

Ôi! xương tan, máu rơi. Lòng hận thù ngất trời. Sông núi bao nhiêu năm bị cắt rời. Đây Cửu Long hùng tráng, Đây Trường Sơn vinh quang. Thúc giục đoàn ta xung phong đi giết thù. Vai sát vai chung một bóng cờ. Vùng lên, nhân dân miền Nam anh hùng. Vùng lên, xông pha vượt qua bão bùng....Vận nước đã đến rồi . Vùng lên...GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Những bài ca theo đuổi một đời

Tất cả chúng ta, ngay từ lúc còn nằm trong nôi, trong vòng tay mẹ hay trên võng của bà đã nghe tiếng ru vào đời.

Trong lớp tuổi chúng tôi, khởi đi từ những bài ca cách mạng khi tập hát trong đoàn Nhi đồng cứu quốc rồi lên đội Thiếu niên tiền phong. Bài hát ca ngợi thần tượng kháng chiến của tuổi thơ: Anh Kim Đồng ơi!... Bài Việt Bắc... và hết sức rung động là bài Nhạc tuổi xanh của Phạm Duy: Một mùa Thu năm qua cách mạng tiến ra đất Việt...

Trong các buổi mít tính, hội họp tuổi thơ đã từng nghe bài Tiến quân ca của Văn Cao. Vào năm chừng 15 tuổi lần đầu tiên cậu bé Thiếu niên tiền phong từ Nam Định tản cư về Yên Mô, đứng dựa cột đình nghe cô bé Thái Thanh ca những bài khích lệ phong trào chống nạn mù chữ. Ai học chữ i chữ tờ (t) của Bình dân học vụ.

Thấm thoát đã 60 năm qua. Biết bao nhiêu lời ca tiếng nhạc đã theo đuổi một đời người. Từ bỏ Tiến quân ca và cờ đỏ, cậu bé mới vào đời theo gia đình hồi cư về Nam Định rồi lên Hà Nội và sau cùng vào Sài gòn. Suốt cuộc đời từ đó đi theo bóng cờ vàng và Tiếng gọi Công dân.

Khởi đi từ định mệnh, tiếp theo là nhiệm vụ và sau cùng là tư tưởng. Nhưng luôn luôn biết rằng, thực ra đây chỉ là phần số. Anh em họ hàng còn ở lại Yên Mô, Nam Định hay Hà Nội vẫn phải sống với mưa sa trên màu cờ đỏ. Tất cả chỉ là số phận. Đất nước chia đôi rồi thống nhất, nhưng màu cờ và bài ca cũ của người tỵ nạn vẫn mang theo.

Nhân dịp tổ chức văn nghệ tháng 4-2008 ba mươi ba năm sau, chúng tôi có mời cô Thái Thanh lên San Jose để cậu bé ngày xưa dựa cột đình xem nàng trình diễn nay lại có cơ hội nghe tiếng hát 60 năm, vượt cả không gian lẫn thời gian.

Ca sĩ Ý Lan nói rằng: “Bác Lộc ơi! Mẹ cháu bây giờ về hưu thực sự rồi. Đành phải vậy thôi...”

Hình ảnh của thân phụ Ý Lan là ông Lê Quỳnh với bài ca xuất sắc: Một mùa Thu năm qua trong phim Chúng tôi muốn sống, dự định sẽ giới thiệu cũng không thực hiện được. Thiếu tá phi công Lê Qụỳnh đã ra đi vĩnh viễn. Bây giờ còn lại đây là những kỷ niệm gì ?

Năm 1939 bài ca Tiếng gọi sinh viên bằng Pháp văn ra đời. Năm 1941 có lời ca Việt Ngữ. Năm 1942 cách đây 66 năm có 2 nữ sinh viên Sài gòn ra Hà Nội học y khoa. Hai cô gái ở tuổi 20 đã cất tiếng hát lần đầu tiên bài hát sau này trở thành quốc ca của Việt nam cộng hòa. Phan thị Bình và Nguyễn thị Thiều là sinh viên trường nữ hộ sinh đã trình diễn ngày chủ nhật 15 tháng 3 năm 1942. Về sau cô Thiều lấy bác sĩ Nguyễn tú Vinh và cô Bình thành hôn với bác sĩ Nguyễn tôn Hoàn

Năm 1947, bác sĩ Hoàn, trong thành phần lập chính phủ đã dề nghị lấy bài này làm quốc ca. Ngày nay bài ca của đất nước miền Nam theo chân dân Việt lưu lạc bốn phương trời. Bài ca vẫn còn đây. Hùng tráng nhưng không sắt máu. Hứa hẹn hy sinh nhưng không kêu gào chém giết. Bài ca đó được hát lại thêm 1 lần với cô sinh viên ngày xưa, nay đã cũng 86 tuổi, trên sân khấu lớn của thành phố San Jose, vào ngày chủ nhật 6 tháng 4-2008. Nếu các bạn không có mặt vào ngày chủ nhật của năm 1942 tại Hà Nội để nghe: Này sinh viên ơi, đứng lên đáp lời sông núi. thì xin đến vào ngày chủ nhật 66 năm sau để nghe: Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Trong cuộc đời chúng ta, không phải là ai cũng có thể sống được những giây phút lịch sử như vậy

Giao Chỉ giới thiệu bác Trần Đỗ Cung và bà Ng. Tôn Hoàn trên sân khấu CPA San Jose 2008. Ngày xưa, khi bà hát lần đầu tại Hà Nội thì ông Cung là sinh viên trẻ tuổi đứng hát theo. Ngày nay tại San Jose đã gặp lại trong chương trình văn nghệ “Lịch sử ngàn người viết” do IRCC,Inc tổ chức tại San Jose.

Xin gửi tặng bằng hữu quà Xuân 2013 hai bài viết về Quốc ca ,quốc kỳ (1) Những bài ca trở thành quốc ca (2) Những bài ca và những lá cờ. Kèm theo DVD Hồn Việt xem trên Internet Giaochi12@gmail.com
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80836
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46239 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 28th, 2017, 12:11 am
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử

Postby DaMinhChau » March 19th, 2016, 11:13 am


Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam


Giáo Sư NGUYỄN NGỌC HUY

Sau năm 1975, đồng bào Việt Nam ở hải ngoại đã nhiều lần nghe những ý kiến phát biểu bằng lời nói hay bằng những bài báo về quốc kỳ và quốc ca Việt Nam. Trong những dữ kiện và ý kiến được trình bày, có cái không đúng sự thật, có cái đúng sự thật nhưng gây ra một số thắc mắc và hoang mang. Viết bài này, tác giả chỉ có mục đích trình bày một số dữ kiện lịch sử xác thật về quốc kỳ và quốc ca Việt Nam và đánh tan những luận điệu có thể làm cho người quốc gia Việt Nam thắc mắc và hoang mang về lá quốc kỳ và bài quốc ca của chúng ta.

I. QUỐC KỲ VIỆT NAM

A. SỰ XUẤT HIỆN CỦA Ý NIỆM QUỐC KỲ TRONG LỊCH SỬ NHƠN LOẠI


Việc dùng một mảnh hàng hay vải có màu sắc và hình thức nhứt định để biểu tượng cho một nhơn vật, một gia tộc lãnh đạo hay một cộng đồng chánh trị đã có từ ngàn xưa. Trong các cuộc giao tranh dữ dội trên các bãi chiến trường cổ kim, binh sĩ hai bên đối đầu nhau đều lấy cờ của bên mình làm điểm hội tập và đều tận lực tranh đấu, thường khi phải hy sinh cả tánh mạng để bảo vệ nó. Trong lịch sử quân sự của mọi cộng đồng chánh trị, việc cắm được cờ của mình trên đất địch hay cướp đoạt được cờ của quân lực địch đều được xem là một chiến công rạng rỡ.

Tuy nhiên, trước cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, phần lớn các nước trên thế giới đều theo chế độ quân chủ, hoặc là quân chủ chuyên chế trong đó chỉ có một nhà vua nắm trọn quyền lãnh đạo và được xem là sở hữu chủ duy nhứt của quốc gia, hoặc là quân chủ phong kiến trong đó bên dưới nhà vua còn có những nhà quí tộc làm chủ các lãnh địa, và có khi có những thị xã tự trị trong đó quyền điều khiển thuộc một nhóm người hào phú địa phương. Một số cộng đồng chánh trị nhỏ thời đó đã theo chế độ cộng hòa hay dân quốc. Với chế độ này, quyền lãnh đạo cộng đồng thuộc về một vài thế gia cự tộc. Các cộng đồng chánh trị kể trên đây đều độc lập hoàn toàn hay phải tùy thuộc một cộng đồng chánh trị lớn hơn đều có lá cờ làm biểu hiệu cho mình. Nhưng vì cộng đồng được xem là vật sở hữu của một gia tộc hay một thiểu số gia tộc lãnh đạo nên lá cờ của cộng đồng cũng được xem như là lá cờ của gia tộc hay các gia tộc đó.

Ý niệm quốc kỳ biểu tượng cho toàn thể quốc dân chỉ mới xuất hiện với cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789. Với cuộc cách mạng này, quốc gia không còn được xem là vật sở hữu của một gia tộc, mà là vật sở hữu chung của toàn thể mọi ngưoi sống trong cộng đồng. Hệ luận của quan niệm mới này là lá cờ một nước không còn là biểu tượng của gia tộc lãnh đạo, mà là biểu tượng của toàn thể quốc dân. Người Pháp đã dùng từ ngữ drapeau national để chỉ loại cờ này. Quan niệm của người Pháp lần lần được người các nước khác chấp nhận và người thuộc các dân tộc nói tiếng Anh đã dùng từ ngữ national flag khi nói đến lá cờ của mình. Drapeau national của Pháp và national flag theo tiếng Anh đã được người Việt Nam chúng ta dịch là quốc kỳ.

Về mặt thực hiện cụ thể thì lá quốc kỳ đầu tiên trên thế giới là cờ tam sắc của Pháp gồm ba màu xanh, trắng, đỏ, xếp ngang nhau theo thứ tự kể trên đây. Sự hình thành của lá cờ này là kết quả của một sự thương lượng giữa hoàng gia Pháp và nhơn dân thị xã Paris. Lá cờ tiêu biểu cho hoàng gia Pháp từ nhiều đời vốn nền trắng trên có thêu một hoa huệ màu vàng. Thời quân chủ Pháp, Paris là một thị xã được hưởng quyền tự trị và có lá cờ riêng gồm hai màu xanh và đỏ xếp ngang nhau. Khi người dân Paris nổi lên làm cách mạng đòi hỏi chánh quyền cải tổ chế độ, họ vẫn còn chấp nhận nền quân chủ. Nhà vua Pháp lúc đó là Louis XVI một mặt vì nhu nhược, một mặt vì thiếu phương tiện nên không dùng võ lực đối phó một cách quyết liệt với phong trào cách mạng và chịu chấp nhận các yêu sách của nhơn dân Paris. Do đó, hai bên đã đồng ý nhau lấy cờ của hoàng gia và cờ của thị xã Paris trộn lại làm huy hiệu cho nước Pháp. Nhà vua là quốc trưởng nắm quyền Hành Pháp nên màu trắng của cờ hoàng gia được đặt ở giữa, hai màu xanh đỏ của cờ thị xã Paris được ghép hai bên thành một huy hiệu tam sắc. Huy hiệu này lần lần được phổ biến khắp nơi trong nước, và đến năm 1793, Quốc Ước Hội Nghị đã chánh thức biểu quyết lấy cờ tam sắc làm quốc kỳ cho nước Pháp.

Phải nói rằng về mặt thẩm mỹ, cờ tam sắc này rất đẹp. Mặt khác, Cách Mạng Pháp thời đó lấy làm tiêu ngữ ba khẩu hiệu Liberté - Égalité - Fraternité là Tự Do - Bình Ðẳng - Bác Ái. Ba màu của quốc kỳ Pháp được xem là tiêu biểu cho ba tiêu ngữ trên đây: màu xanh tiêu biểu cho Tự Do, màu trắng tiêu biểu cho Bình Ðẳng và màu đỏ tiêu biểu cho Bác Ái. Cờ tam sắc của Pháp đã đẹp mà còn được giải thích một cách đầy đủ ý nghĩa tượng trưng rất phù hợp với lý tưởng chung của nhơn loại nên quốc dân Pháp đã nhiệt liệt hoan nghinh nó và chấp nhận nó làm biểu tượng cho mình. Về sau, nhiều nước Tây Phương khác chịu ảnh hưởng của Cách Mạng Pháp đã chọn ba màu xanh, trắng, đỏ, làm quốc kỳ với những giải thích hơi khác nhau, nhưng vẫn dùng ba màu này làm tiêu biểu cho các lý tưởng tự do, bình đẳng và bác ái là nền tảng chung của các xã hội dân chủ tự do.

B. CÁC LÁ CỜ ÐÃ XUẤT HIỆN Ở VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ QUỐC KỲ

1. Quốc kỳ xuất hiện đầu tiên: cờ long tinh của Hoàng Ðế Bảo Ðại


Ở Việt Nam trước đây cũng như ở các nước quân chủ cổ thời khác, các lá cờ được dùng để biểu tượng cho một nhà lãnh đạo. Hiệu kỳ của một vị tướng cầm đầu một đạo quân thường có màu phù hợp với mạng của vị tướng đó: người mạng kim thì cờ màu trắng, người mạng mộc thì cở màu xanh, người mạng thủy thì cờ màu đen, người mạng hỏa thì cờ màu đỏ, người mạng thổ thì cờ màu vàng. Màu cờ của các triều đại thì được các nhà sáng lập chọn lựa theo sự tính toán dựa vào thuyết của học phái Âm Dương Gia nghiên cứu về sự thạnh suy của ngũ hành lưu chuyển trong vũ trụ sao cho triều đại mình hợp với một hành đang hưng vượng. Ngoài cờ chung của triều đại, mỗi nhà vua đều có thể có lá cờ riêng của mình. Nhưng các lá cờ này chỉ để biểu tượng cho hoàng gia. Về ý niệm quốc kỳ biểu tượng cho cả dân tộc Việt Nam, nó chỉ xuất hiện ở nước ta khi dân tộc ta bị lọt vào ách thực dân Pháp.

Tuy nhiên, trong gần suốt thời kỳ Pháp thuộc, dân Việt Nam vẫn chưa có quốc kỳ. Lúc ấy, Nam Việt (được gọi là Nam Kỳ) là thuộc địa Pháp và phải dùng cờ tam sắc của Pháp, Bắc Việt và Trung Việt (được gọi là Bắc Kỳ và Trung Kỳ) trên lý thuyết là lãnh thổ của nhà Nguyễn. Các nhà vua Việt Nam thời đó đều có lá cờ biểu tượng cho mình như thời còn độc lập, nhưng cờ này chỉ được treo nơi nào có nhà vua ngự đến chớ không phải ở mọi nơi trong nước và dĩ nhiên không có tánh cách một quốc kỳ. Mãi đến thời Thế Chiến II, Hoàng Ðế Bảo Ðại mới ấn định quốc kỳ đầu tiên.

Nguyên lúc đó, người Pháp đã thua Ðức và rất suy kém. Họ không còn đủ quân lực để bảo vệ các thuộc địa xa xôi. Riêng ở Ðông Dương thì người Nhựt lợi dụng sự suy kém của Pháp đòi quyền đem binh vào chiếm đóng đất này để lấy nó làm bàn đạp phong tỏa phía nam Trung Quốc và tiến đánh Ðông Nam Á Châu với dụng ý chinh phục cả Á Châu. Chánh phủ Pháp không thể từ chối lời đòi hỏi của Nhựt và viên Toàn Quyền thời đó là Ðề Ðốc Decoux có nhiệm vụ phải chịu hợp tác với quân chiếm đóng Nhựt, đồng thời cố gắng đến tối đa để bảo vệ quyền lợi Pháp ở Ðông Dương. Ý thức rằng chánh sách thực dân Pháp trước Thế Chiến II làm bất mãn người Việt Nam mọi giới, Toàn Quyền Decoux đã áp dụng một chánh sách hai mặt: một mặt triệt để đàn áp các phần tử cách mạng chống Pháp, một mặt xoa dịu người Việt Nam nói chung. Trong khuôn khổ của mặt thứ nhì trong chánh sách này, ông đã có những biện pháp nâng cao uy tín của các nhà vua Ðông Dương.

Hoàng Ðế Bảo Ðại nhơn cơ hội này đã đưa ra một vài cải cách và ban chiếu ấn định quốc kỳ của nước Ðại Nam. Quốc kỳ này tên là cờ long tinh, nền vàng với một sọc đỏ nằm vắt ngang ở giữa, bề ngang của sọc đỏ này bằng 1/3 bề ngang của cả lá cờ. Cờ long tinh được dùng trên lãnh thổ Ðại Nam, nghĩa là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, vì Nam Kỳ lúc đó vẫn là thuộc địa Pháp và vẫn phải dùng lá cờ tam sắc của Pháp.

2. Quốc kỳ thứ nhì: cờ quẻ Ly của chánh phủ Trần Trọng Kim

Chánh quyền thuộc địa Pháp ở Ðông Dương đã bị quân đội Nhựt lật đổ ngày 9 tháng 3 năm 1945. Hai ngày sau, Hoàng Ðế Bảo Ðại tuyên bố độc lập. Chánh phủ độc lập đầu tiên được thành lập ngày 17 tháng 4 năm 1945 do nhà học giả Trần Trọng Kim cầm đầu. Quốc hiệu được đổi là Ðế Quốc Việt Nam và theo chương trình hưng quốc được chánh phủ Trần Trọng Kim ban bố ngày 8 tháng 5 năm 1945 thì quốc kỳ được chọn gọi là cờ quẻ Ly. Cờ này cũng nền vàng, ở chính giữa có một quẻ Ly màu đỏ. Ly là một trong 8 quẻ của bát quái và gồm một vạch liền, một vạch đứt và một vạch liền, bề rộng của các vạch này chỉ bằng một phần bề rộng chung của lá cờ.

Cờ quẻ Ly trên nguyên tắc là cờ của cả nước Việt Nam gồm có ba kỳ. Nhưng trong thực tế, nhà cầm quyền quân sự Nhựt đã không trao trả Nam Kỳ ngay cho triều đình Huế. Việc trao trả này chỉ thực hiện ngày 14 tháng 8 năm 1945, nghĩa là 4 ngày sau khi chánh phủ Nhựt quyết định đầu hàng Ðồng Minh và 10 ngày trước khi Hoàng Ðế Bảo Ðại thoái vị. Do đó, đại diện của triều đình Huế chưa bao giờ được thật sự cầm quyền ở Nam Việt và cờ quẻ Ly đã không được dùng ở đó.

Trong thời gian từ ngày Nhựt đảo chánh Pháp cho đến khi Việt Minh củng cố được chánh quyền cộng sản ở Nam Việt thì cả lãnh thổ này không có quốc kỳ. Lá cờ là điểm hội tập các phần tử quốc gia Nam Việt quyết tâm tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam thời đó là cờ của Thanh Niên Tiền Phong, một tổ chức được thành lập ngày 21 tháng 4 năm 1945, sau khi Nhựt đảo chánh Pháp, để giúp vào việc cứu trợ những nạn nhơn của các cuộc oanh tạc của Ðồng Minh và sau đó, tiếp tay vào việc giúp đỡ đồng bào miền Bắc bị nạn đói. Cờ của Thanh Niên Tiền Phong nền vàng, chính giữa có ngôi sao đỏ. Nó không hề được xem là quốc kỳ, nhưng vì nó là cờ huy động các thanh niên ái quốc Nam Việt cầm tầm vông vạt nhọn đứng lên tranh đấu với Quân Ðội Viễn Chinh Pháp đến xâm chiếm Nam Việt trở lại nên tôi thấy có nhiệm vụ phải nhắc đến nó trong bài khảo cứu này về các lá cờ đã được dùng ở Việt Nam.

3. Cờ đỏ sao vàng của tập đoàn Cộng Sản Việt Nam (CSVN)

Khi cướp chánh quyền ở Bắc Việt hồi tháng 8 năm 1945, tập đoàn CSVN dưới tên Việt Minh đã dùng cờ đỏ sao vàng. Cờ này sau đó được họ dùng ở những nơi họ chiếm đoạt được và cho đến nay, vẫn được họ tiếp tục xem là quốc kỳ.


4. Cờ của Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc


Khi chiếm lại được các thành phố lớn ở Nam Việt, chánh quyền Pháp đã khuyến khích phong trào Nam Kỳ tự trị. Ngày 26 tháng 3 năm 1946, họ đã cho thành lập Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc, tên Pháp là République de Cochinchine và Cộng Hòa Quốc này đã có một quốc kỳ nền vàng, với 5 sọc vắt ngang ở giữa gần như quốc kỳ của ta hiện tại, nhưng thay vì ba sọc đỏ và hai hai sọc vàng như quốc kỳ của ta, nó gồm ba sọc xanh và hai sọc trắng chen nhau. Xét về mặt thẩm mỹ, cờ này rất khó coi. Bởi đó, trong những bài trào phúng trong báo Ðuốc Việt là cơ quan ngôn luận bán chánh thức của Xứ Bộ Nam Việt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng lúc ấy, tôi đã đặt cho nó cái biệt danh là lá cờ sốt rét.

5. Quốc kỳ của chúng ta hiện nay

Quốc kỳ của chúng ta hiện nay do một họa sĩ nổi tiếng thời Thế Chiến II là Lê Văn Ðệ vẽ và đã được Cựu Hoàng Bảo Ðại chọn trong nhiều mẫu cờ khác nhau được trình cho ông trong một phiên họp ở Hongkong năm 1948, gồm có ông và đại diện các đoàn thể chánh trị và tôn giáo cùng một số thân hào nhơn sĩ về phía người quốc gia Việt Nam. Như mọi người đều biết, nó có nền vàng với ba sọc đỏ và hai sọc vàng chen nhau nằm vắt ngang ở giữa, bề ngang của mỗi sọc đỏ và vàng này bằng nhau và bề ngang chung của năm sọc bằng 1/3 bề ngang chung của lá cờ. Cờ vàng ba sọc đỏ đã được dùng làm quốc kỳ cho quốc gia Việt Nam khi chánh phủ lâm thời Việt Nam được thành lập ngày 2 tháng 6 năm 1948 dưới sự chủ tọa của Tướng Nguyễn Văn Xuân. Nó đã tiếp tục được dùng suốt thời Ðệ Nhứt và Ðệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam, cho đến ngày nay.

C. Ý NGHĨA CỦA LÁ CỜ ÐÃ ÐƯỢC DÙNG LÀM QUỐC KỲ

Trong các lá cờ mô tả trên đây, cờ vàng sao đỏ không hề được xem là quốc kỳ, cờ sốt rét của Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc chỉ là cờ của một chánh phủ bù nhìn dùng trên bộ phận của nước Việt Nam. Vậy, đúng danh nghĩa quốc kỳ chỉ có bốn lá cờ: cờ long tinh, cờ quẻ Ly, cờ đỏ sao vàng của tập đoàn CSVN và cờ vàng ba sọc đỏ của người quốc gia Việt Nam. Lúc cờ vàng ba sọc đỏ ra đời, một số người đã gọi chung bốn lá cờ trên đây là cờ tứ linh: cờ long tinh dĩ nhiên là cờ long, chữ ly trong cờ quẻ Ly đồng âm với ly là con lân, cờ của tập đoàn CSVN được xem là qui vì nó có ngôi sao 5 nhánh y như con rùa ló đầu và bốn chơn ra và quốc kỳ của chúng ta là phụng vì nó có ba sọc đỏ nằm song song nhau như đuôi chim phụng.

1. Ý nghĩa và màu sắc của bốn lá cờ được dùng làm quốc kỳ

Ðiều đáng để ý là cả bốn lá cờ được dùng làm quốc kỳ Việt Nam đều gồm hai màu vàng và đỏ. Tuy nhiên, màu sắc của lá cờ CS nền đỏ sao vàng có ý nghĩa hoàn toàn khác ba lá cờ về phía người quốc gia Việt Nam.

a. Ý nghĩa lá cờ đỏ sao vàng của tập đoàn CSVN

Ðảng kỳ của Cộng Sản Ðệ Tam Quốc nền đỏ trên có búa và liềm màu vàng. Quân Ðội Cộng Sản Nga lúc nổi lên cướp chánh quyền thì lấy ngôi sao đỏ làm biểu hiệu. Quốc kỳ của Liên Sô gồm huy hiệu của Ðảng và Quân Ðội nên cũng nền đỏ trên có búa liềm vàng và ngôi sao đỏ. Nhưng muốn cho ngôi sao đỏ hiện được trên nền đỏ của lá cờ, Cộng Sản Liên Sô đã phải dùng một viền màu vàng bao quanh nó. CSVN đã phỏng theo cờ Liên Sô để làm quốc kỳ. Nhưng năm 1945, họ còn phải giấu tánh chất cộng sản của họ nên không dám để búa liềm trên quốc kỳ này và chỉ dùng ngôi sao tượng trưng cho quân lực cộng sản. Ðiểm khác với Liên Sô là ngôi sao tượng trưng cho quân lực CSVN màu vàng chớ không phải màu đỏ viền vàng.

Chúng ta không nên quên rằng hai điều căn bản trong điều lệ của Ðảng Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế do Lenin thành lập là người tuyên thệ vào đảng này phải xem Liên Sô là tổ quốc số một của mình và phải triệt để tuân lịnh cơ quan lãnh đạo của Ðảng đặt tại Liên Sô. Lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ, Hồ Chí Minh và tập đoàn CSVN đã biểu lộ ý muốn xem lực lượng quân sự Việt Nam là một lực lượng phụ dịch cho Quân Ðội Liên Sô, và như vậy thì dĩ nhiên nước Việt Nam Cộng Sản phải là một nước chư hầu của Liên Sô.

Ý muốn này đã được thực hiện hoàn toàn sau năm 1975. Lúc CSVN chiếm được Miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ đã rút lực lượng quân sự khỏi Ðông Nam Á Châu và sẵn sàng bắt tay với họ. Trung Cộng tuy không còn là thân hữu và có những hành động chống đối họ, nhưng không có sự uy hiếp quân sự đáng kể. Nếu CSVN giữ thái độ trung lập giữa Trung Cộng và Liên Sô, đồng thời tỏ ra hòa hoãn với Hoa Kỳ, họ đã có thể nhờ sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để phát triển kinh tế và dựa vào cả Hoa Kỳ lẫn Liên Sô để hóa giải áp lực Trung Cộng. Nhưng tập đoàn CSVN đã công khai đứng về phía Liên Sô để gây hấn với Trung Cộng và cho Liên Sô dùng Việt Nam làm một căn cứ quân sự chống lại Trung Cộng, đồng thời uy hiếp lực lượng Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương. Hiện nay, mọi người đều thấy rõ nước Việt Nam Cộng Sản là một chư hầu của Liên Sô và lực lượng quân sự của CSVN chỉ là lực lượng phụ dịch của Hồng Quân Liên Sô.

Tuy những điều kể trên đây chỉ mới thể hiện sau này, nhưng ý đồ của tập đoàn CSVN đã biểu lộ ngay từ lúc họ lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ. Vậy, cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của tinh thần vọng ngoại chấp nhận làm thuộc hạ của Liên Sô. Nó hàm ý để cho Liên Sô có quyền can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Ðối với những ai cho rằng Ðảng Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế đã bị giải tán năm 1943 nên Liên Sô không có quyền can thiệp vào việc nội bộ các nước cộng sản chư hầu, chúng tôi xin nhắc lại rằng Ông Brezhnev, Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Liên Sô khi biện minh cho việc Liên Sô can thiệp vào việc nội bộ của các nước cộng sản Ðông Âu trong thập niên 1960 đã công khai nêu trước cộng đồng thế giới thuyết chủ quyền hạn chế theo đó một nước xã hội chủ nghĩa đàn anh (tức là Liên Sô) có quyền can thiệp vào việc nội bộ của các nước xã hội chủ nghĩa đàn em (trong đó dĩ nhiên là có Việt Nam) để bảo vệ các nguyên lý của xã hội chủ nghĩa.

b. Ý nghĩa của màu vàng và màu đỏ của những quốc kỳ về phía người quốc gia

Màu vàng và đỏ của các quốc kỳ về phía người quốc gia thì có một ý nghĩa hoàn toàn khác. Theo một số người Việt Nam, hai màu của các quốc kỳ về phía người quốc gia biểu tượng cho dân Việt Nam da vàng máu đỏ. Tư tưởng này có lẽ đã bị ảnh hưởng ít nhiều lối giải thích về ý nghĩa lá cờ nửa vàng nửa đỏ mà Việt Nam Quốc Dân Ðảng đã dùng trong cuộc khởi nghĩa Yên Báy năm 1930. Nhưng lối giải thích trên đây không đúng đối với các quốc kỳ Việt Nam về phía người quốc gia. Các quốc kỳ này thật sự có một ý nghĩa sâu sắc hơn, liên hệ đến cả vũ trụ quan của dân tộc Việt Nam.

Trong vũ trụ quan này, có sự liên hệ mật thiết giữa các màu sắc, phương hướng và ngũ hành. Màu vàng thuộc hành thổ và ở vị trí trung ương. Vì thế, nó vừa tượng trưng lãnh thổ, vừa tượng trưng cho uy quyền của nhà lãnh đạo tối cao được xem là sở hữu chủ của lãnh thổ này. Các nhà vua Trung Hoa xưa kia cho mình là kẻ làm chủ cả thiên hạ. Bởi đó, họ tự xưng là hoàng đế đứng trên các vị quốc vương làm vua một nuớc, và nắm giữ độc quyền dùng màu vàng làm y phục. Các nhà vua Việt Nam xưa kia vì thế yếu hơn các nhà vua Trung Hoa và không muốn có những cuộc chiến tranh liên miên với họ chỉ vì vấn đề danh phận nên đã phải chấp nhận làm chư hầu của hoàng đế Trung Hoa với tước hiệu quốc vương. Nhưng trái với các nhà vua Triều Tiên dùng tước hiệu quốc vương trong mọi trường hợp và không bao giờ dám mặc y phục màu vàng, các nhà vua Việt Nam chỉ dùng tước hiệu quốc vương trong sự giao thiệp với Trung Quốc, còn đối với thần dân trong nước và đối với các nước láng giềng khác, họ đã tự xưng là hoàng đế. Mặt khác, họ đã mặc y phục màu vàng y như nhà vua Trung Hoa. Như thế, trong tâm thức tự ngàn đời của dân tộc Việt Nam, việc dùng màu vàng là biểu tượng cho một chủ quyền nguyên vẹn của quốc gia, một nền độc lập hoàn toàn đối với Trung Quốc.

Cũng trong vũ trụ quan Việt Nam và Trung Hoa thời trước, màu đỏ thuộc hành hỏa và chỉ phương nam. Do đó, dùng màu đỏ làm biểu tượng là nhấn mạnh trên chỗ dân tộc ta là một dân tộc ở phương nam, đối chiếu với dân tộc Trung Hoa ở phương bắc. Cùng với việc dùng màu vàng, nó nói lên quan điểm của người Việt Nam tự xem mình là một dân tộc nắm trọn chủ quyền của nước mình và ngang hàng với dân tộc Trung Hoa.

Quan điểm trên đây đã được Nguyễn Trãi nêu ra rất rõ trong đoạn đầu của bài Bình Ngô Ðại Cáo: "Như ngã Ðại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang. Sơn xuyên chi cương vực ký thù, Nam Bắc chi phong tục diệc dị. Tự Triệu Ðinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ Hán Ðường Tống Nguyên nhi các đế nhứt phương". Ý nghĩa chánh xác của đoạn văn trên này là: "Như nước Ðại Việt ta quả là một nước văn hiến. Bờ cõi núi sông (của nước ta và Trung Quốc) đã phân biệt nhau mà phong tục (của chúng ta là) dân phương nam cũng khác với phong tục (của người Trung Hoa là) dân phương bắc. Từ nhà Triệu, nhà Ðinh, nhà Lý, nhà Trần xây dựng nước ta, (các vua ta đã cùng các vua Trung Quốc của) nhà Hán, nhà Ðường, nhà Tống, nhà Nguyên mỗi bên đều làm hoàng đế một phương."

Trong bài này, chúng ta có thể nhận thấy rằng Nguyễn Trãi đã xem nhà Triệu là một triều đại Việt Nam, mặc dầu theo phần lớn các sử gia hiện tại, đó là một triều đại do người Trung Hoa thành lập. Như thế là vì Triệu Ðà là người đầu tiên áp dụng nguyên tắc nhận làm chư hầu của Trung Hoa để tránh việc tranh chiến, nhưng bên trong nước, vẫn tự xưng là hoàng đế, nghĩa là tự xem mình ngang hàng với nhà vua Trung Hoa.

Dầu quan điểm của chúng ta đối với nhà Triệu như thế nào thì lập trường chung của dân tộc Việt Nam về sự độc lập hoàn toàn và chủ quyền nguyên vẹn của quốc gia cũng đã được nêu rõ trong bài Bình Ngô Ðại Cáo và được thể hiện rõ rệt với hai màu vàng và đỏ dùng trong các quốc kỳ được phía người quốc gia chọn lựa. Vậy, hai màu vàng và đỏ của các quốc kỳ này khác hẳn ý nghĩa của cờ đỏ sao vàng được tập đoàn CSVN dùng làm quốc kỳ. Hai màu vàng và đỏ của các quốc kỳ về phía người quốc gia đặt nền tảng trên bài Bình Ngô Ðại Cáo, một bản văn được một nhà ái quốc Việt Nam viết lên sau khi nước ta được giải phóng khỏi ách đô hộ của người Trung Hoa và biểu lộ tinh thần độc lập của dân tộc. Trong khi đó, cờ đỏ sao vàng của tập đoàn CSVN biểu lộ tinh thần nô lệ, thần thuộc nước ngoài vì đặt nền tảng trên nguyên tắc tổ chức của Cộng Sản quốc tế ngày nay được nêu rõ trong thuyết chủ quyền hạn chế của nhà lãnh tụ Liên Sô Brezhnev, theo đó, Liên Sô có quyền can thiệp vào việc nội bộ của các nước theo xã hội chủ nghĩa để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

2. Ý nghĩa đặc biệt của cờ quẻ Ly và cờ vàng ba sọc đỏ

Ngoài ý nghĩa chung về màu sắc nói trên đây, cờ quẻ Ly và cờ vàng ba sọc đỏ còn có những ý nghĩa riêng cũng rất sâu sắc.

a. Ý nghĩa cờ quẻ Ly

Như chúng tôi đã nói trên đây, Ly là một quẻ của bát quái. Cũng như màu đỏ, nó tượng trưng cho phương nam. Trong vũ trụ quan của Việt Nam và Trung Hoa thời trước, màu đỏ thuộc hành hỏa, tượng trưng cho mặt trời hay lửa; quẻ Ly cũng tượng trưng cho mặt trời, cho lửa, cho ánh sáng, cho nhiệt lực và về mặt xã hội thì tượng trưng cho sự văn minh.

Về hình dạng thì quẻ Ly trên cờ của chánh phủ Trần Trọng Kim gồm một vạch đỏ liền, một vạch đỏ đứt và một vạch đỏ liền. Do đó, bên trong quẻ Ly, hiện lên một nền vàng gồm hai vạch liền và một vạch đứng nối liền hai vạch ấy. Trong Hán văn, đó là chữ Công. Chữ công này được dùng trong các từ ngữ công nhơn, công nghệ để chỉ người thợ và nghề biến chế các tài nguyên để phục vụ đời sống con người. Vậy, ngoài ý nghĩa văn minh rạng rỡ, quẻ Ly còn hàm ý ca ngợi sự siêng năng cần mẫn và sự khéo léo của dân tộc Việt Nam trong các ngành hoạt động sản xuất kỹ nghệ.


b. Ý nghĩa cờ vàng ba sọc đỏ


1/ Ý nghĩa chánh trị

Trong lá quốc kỳ, nền vàng tượng trưng cho quốc gia và dân tộc Việt Nam nói chung và ba sọc đỏ tượng trưng cho ba kỳ. Vậy, ba sọc đỏ name trên nền vàng hàm ý là nước Việt Nam gồm cả ba kỳ và dân tộc Việt Nam gồm người của cả ba kỳ.

Ngày nay, sự thống nhứt của quốc gia và dân tộc Việt Nam là một điều không ai phủ nhận được nên người Việt Nam hiện tại không ý thức được sự gay go của cuộc tranh đấu đòi thống nhứt trong thập niên 1940, nhứt là ở Nam Việt. Trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ kỳ có nghĩa là một phần đất của một quốc gia chớ không hàm ý một lãnh thổ biệt lập. Các từ ngữ Bắc Kỳ, Nam Kỳ thật sự đã được triều đình Huế dùng lúc nước Việt Nam chưa bị người Pháp xâm lăng để chỉ hai địa phương của một quốc gia thống nhứt. Sau khi xâm chiếm Việt Nam, người Pháp mới tách Nam Kỳ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, rồi dùng từ ngữ Trung Kỳ để chỉ phần đất ở hai phía bắc và nam của kinh đô Huế. Nam Kỳ được Pháp trực tiếp cai trị như một phần đất của Pháp. Bắc Kỳ và Trung Kỳ được xem là lãnh thổ của nhà Nguyễn chịu sự bảo hộ của Pháp, nhưng từ năm 1897, Pháp lại ép nhà vua Việt Nam phải giao quyền đại diện mình cho một Thống Sứ Pháp thành ra Pháp đã can thiệp vào sự cai trị đất này một cách trực tiếp hơn ở Trung Kỳ.

Trong hệ thống tổ chức của Pháp trước Thế Chiến II, ba kỳ của Việt Nam đã được xem như là ba lãnh thổ biệt lập. Sau Thế Chiến II, kế hoạch của Pháp là thành lập một Liên Bang Ðông Dương gồm 5 nước là ba kỳ của Việt Nam, Cam Bu Chia và Lào. Trong 5 nước này, Nam Kỳ là đất mà Pháp tha thiết muốn nắm giữ dưới quyền thống trị của mình hơn hết vì nó đã được họ trực tiếp cai trị từ năm 1867, lại là phần đat thạnh vượng trù phú nhứt. Bởi đó, họ đã nhứt định không chấp nhận một nước Việt Nam thống nhứt gồm cả ba kỳ. Tháng 3 năm 1946, họ đã cho thành lập Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc. Thiểu số người Việt Nam theo họ lúc đó đã chống lại quan niệm Việt Nam thống nhứt một cách mạnh mẽ. Các phần tử quá khích trong nhóm này đã xem đồng bào gốc Bắc Việt cư trú ở Nam Việt trong thời kỳ đó là người của một nước địch và thường hành hung đối với các đồng bào ấy. Trong các cuộc bố ráp hay chận đường xét giấy căn cước, họ thường bắt người dân nói ba tiếng "Tân Sơn Nhứt", người nào không nói đúng giọng Miền Nam thì bị họ đánh đập một cách tàn nhẫn.
Sau mấy năm tác chiến ở Ðông Dương, người Pháp ý thức rằng họ không thể áp đặt ở Việt Nam một chế độ thống trị theo khuôn khổ họ đặt ra. Vì cần dùng sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để có phương tiện tài chánh đối phó với CSVN, họ phải chấp nhận điều kiện của Hoa Kỳ là nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam. Bởi đó, họ đã tiếp xúc và thương thuyết với Cựu Hoàng Bảo Ðại. Tuy nhiên, họ chỉ muốn cho Việt Nam hưởng một nền độc lập hình thức, và thực quyền vẫn còn nằm trong tay họ. Mặt khác họ không chấp nhận sự thống nhứt của Việt Nam và tìm mọi cách giữ riêng Nam Kỳ dưới quyền cai trị trực tiếp của họ.

Nhờ được Anh Nguyễn Tôn Hoàn từ Trung Hoa về cho biết về tình thế và nhận chân rằng chỉ có Cựu Hoàng Bảo Ðại mới có thể đại diện cho người quốc gia Việt Nam trong cuộc thương thuyết với Pháp nên Xứ Bộ Nam Việt của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng đã phát động phong trào đòi thi hành giải pháp Bảo Ðại với một nước Việt Nam độc lập và thống nhứt. Lúc ấy, người Pháp đã đàn áp phong trào này ở Nam Việt một cách mạnh mẽ. Một số đồng chí của tôi trong đó có Anh Dương Quang Tiếp (sau này phục vụ trong Quân Ðội và trong ngành cảnh sát với cấp bực đại tá và đã từ trần trong trại tù cộng sản) đã bị Pháp bắt và đánh đập tàn nhẫn khi rải truyền đơn đòi thi hành giải pháp Bảo Ðại.

Tuy được sự yểm trợ của Hoa Kỳ trong cuộc thương thuyết, Cựu Hoàng Bảo Ðại không nắm được ưu thế hoàn toàn đối với Pháp vì lúc đó, Trung Cộng đã thắng thế hơn Trung Hoa Dân Quốc và CSVN có triển vọng được Trung Cộng giúp đỡ trong tương lai. Người Pháp đã cho Cựu Hoàng Bảo Ðại biết rằng nếu không thỏa thuận được với ông, họ sẽ thương thuyết với Hồ Chí Minh. Nhận thấy thời gian không thuận lợi cho mình, Cựu Hoàng Bảo Ðại đã phải nhượng bộ cho Pháp về mặt độc lập, nghĩa là chấp nhận để cho Việt Nam ở trong Liên Hiệp Pháp với những mối liên hệ chặt chẻ với Pháp, nhưng cương quyết đòi Pháp phải nhận cho Việt Nam thống nhứt. Người Pháp đã phải nhượng bộ ông về vấn đề này.

Nhưng ngay đến lúc chánh phủ Pháp chấp nhận cho Nam Kỳ được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam, đám thực dân ở Nam Việt vẫn chưa chịu thua và nhiệt liệt chống lại việc ay. Vì Nam Kỳ được xem là một lãnh thổ của Pháp mà theo nền pháp lý của Pháp thì mọi quyết định liên hệ đến qui chế của đất này phải có sự chấp thuận của một hội nghị địa phương tên là Hội Ðồng Lãnh Thổ Nam Kỳ (Assemblée Territoriale de Cochinchine), thực dân Pháp đã dự liệu bỏ ra một số tiền lớn để mua chuộc những người Pháp và người Nam Kỳ có quốc tịch Pháp được bầu vào Hội Ðồng đó biểu quyết chống lại việc sáp nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam. Chúng tôi đã biết được kế hoạch này và đã nhiệt liệt chỉ trích nó trên hai tờ báo Ðuốc Việt (cơ quan ngôn luận bán chánh thức của Xứ Bộ Nam Việt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng) và Thanh Niên (cơ quan ngôn luận chánh thức của một tổ chức do Xứ Bộ này thành lập là Thanh Niên Bảo Quốc Ðoàn).

Sự tố cáo của chúng tôi làm cho người Pháp rất căm tức. Tướng Boyer de la Tour du Moulin, Ủy Viên Cộng Hòa Pháp ở Nam Kỳ lúc đó đã mời một đồng chí của tôi là Anh Ðỗ Văn Năng, Thủ Lãnh Thanh Niên Bảo Quốc Ðoàn, đến gặp ông và bảo rằng: "Xin ông nhớ cho rằng tôi là người Pháp có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của nước Pháp. Các hoạt động của đoàn thể ông có hại cho quyền lợi này. Các ông phải chấm dứt nó hay ít nhứt cũng giảm thiểu nó, nếu không, tôi buộc lòng phải đối phó một cách quyết liệt. Tôi sẽ rất tiếc nếu phải làm như vậy, vì tôi lúc nào cũng tôn trọng ông là người mà tôi nhìn nhận là rất đứng đắn". Anh Ðỗ Văn Năng đã điềm tĩnh trả lời: "Tôi rất cám ơn ông đã tỏ ra thành thật với tôi, và tôi thấy có nhiệm vụ cũng phải thành thật đối với ông. Xin ông hiểu giùm cho rằng ông yêu nước Pháp như thế nào thì tôi yêu nước Việt Nam như thế ấy và ông có quyết tâm bảo vệ quyền lợi Pháp như thế nào thì tôi cũng có quyết tâm bảo vệ quyền lợi nước Việt Nam như thế ấy".

Sau đó, chúng tôi vẫn tiếp tục chiến dịch tố cáo các âm mưu của thực dân Pháp ở Nam Việt tìm cách phá hoại các giao ước giữa chánh phủ Pháp với Cựu Hoàng Bảo Ðại về vấn đề thống nhứt Việt Nam. Mặt khác, Cựu Hoàng Bảo Ðại lúc ấy còn ở Âu Châu đã cho biết rằng ông chỉ chịu về nước lãnh đạo chánh phủ nếu việc tái nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam được xác định một cách rõ rệt. Cuối cùng, các hội viên của Hội Ðồng Lãnh Thổ Nam Kỳ đã không dám chống hẳn lại việc thống nhứt Việt Nam. Họ chỉ ghi thêm trong quyết nghị biểu quyết ngày 23 tháng 4 năm 1949 chấp nhận để Nam Kỳ được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam một điều kiện là nếu có sự thay đổi trong mối liên hệ giữa Việt Nam với Liên Hiệp Pháp thì Nam Kỳ sẽ lại được quyền tự quyết định về số phận mình.

Ðám thực dân Pháp ở Nam Kỳ rất thù hận chúng tôi về việc đã chống lại họ một cách mãnh liệt về vấn đề thống nhứt Việt Nam. Do đó, họ ngầm thông đồng với bọn công tác thành của CSVN và để cho một cán bộ trong bọn công tác này là La Văn Liếm hạ sát Anh Ðỗ Văn Năng ở Sài Gòn vào những tháng đầu năm 1950. Ngoài anh ra, chắc hẳn còn có nhiều người Việt Nam khác thuộc các tổ chức ái quốc đã bị Pháp sát hại vì cuộc tranh đấu cho Việt Nam thống nhứt.
Vậy, đồng bào gốc Bắc Việt vào cư trú Nam Việt trước 1945 và người Nam Việt chủ trương thống nhứt đã phải tranh đấu rất gay go, có người phải thiệt mạng vì chủ trương này. Bởi đó, sọc đỏ thứ ba trên quốc kỳ tượng trưng cho Nam Việt thật sự đã được tô bằng máu của nhiều nhà ái quốc và điều này làm cho cờ vàng ba sọc đỏ có một ý nghĩa chánh trị sâu xa mà nhiều người Việt Nam hiện nay không thấy được.

Một quyết định khác của Quốc Trưởng Bảo Ðại khi ông mới về nước năm 1949 cũng có một ý nghĩa chánh trị ít ai được biết là việc chọn Sài Gòn làm thủ đô. Vì là người kế thừa nhà Nguyễn nên Quốc Trưởng Bảo Ðại rất muốn đặt chánh phủ thống nhứt của Việt Nam ở Huế là kinh đô cổ truyền của triều đại mình. Nhưng lúc ấy, nhà cách mạng lão thành Trần Văn Ân đã bàn với ông là nếu ông lay Huế làm thủ đô, việc sáp nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam không được thể hiện rõ rệt đối với người Việt Nam và người ngoại quốc và nền thống nhứt thâu hoạch được một cách gay go sẽ không vững chắc. Ðặt thủ đô ở Sài Gòn để cho mọi chánh lịnh ban hành trong toàn quốc Việt Nam phát xuất từ Nam Việt thì tánh cách thống nhứt của nước Việt Nam từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan hiển hiện trước mắt và trong tâm thức mọi người thành ra không ai còn hoài nghi hay phủ nhận sự thống nhứt đó được nữa. Quốc Trưởng Bảo Ðại tán thành ý kiến trên đây của Ông Trần Văn Ân và quyết định lập chánh phủ thống nhứt ở Sài Gòn, mặc dầu ông không thích ở Sài Gòn vì chánh quyền Pháp lúc đó chịu giao Phủ Cao Ủy ở Hà Nội cho ông mà lại giữ Phủ Cao Ủy ở Sài Gòn là Dinh Norodom (sau này gọi lại là Dinh Ðộc Lập) thành ra tại Sài Gòn, Phủ Thủ Tướng của Việt Nam kém bề thế hơn Phủ Cao Ủy của Pháp.


2/ Ý nghĩa triết lý


Về mặt triết lý, trong bát quái, ba vạch liền là quẻ Càn, tượng trưng cho trời, cho vua, cho cha và cho quyền lực. Ngày nay, chúng ta sống trong chế độ dân chủ và quẻ Càn trên quốc kỳ có thể dùng để tượng trưng cho quốc gia và dân tộc Việt Nam và sức mạnh của toàn dân ta.

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80836
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46239 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 28th, 2017, 12:11 am
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử

Postby DaMinhChau » March 20th, 2016, 3:34 pm


3. Cờ vàng ba sọc đỏ và cờ đỏ sao vàng

a. So sánh cờ vàng ba sọc đỏ và cờ đỏ sao vàng về mặt thẩm mỹ

Nói chung thì trên một lá cờ gồm hai màu, một đậm, một lợt thì nếu màu đậm quá nhiều và làm nền còn màu lợt quá ít và làm dấu hiệu phụ thuộc thì màu lợt bị màu đậm tràn ngập và lá cờ trở thành tối. Trái lại, nếu màu lợt nhiều hơn và làm nền còn màu đậm ít hơn và làm dấu hiệu phụ thuộc thì màu đậm in rõ lên nền màu lợt và cả hai màu đều sáng chói. Quốc kỳ của tập đoàn CSVN gồm một ngôi sao vàng nhỏ trên nền đỏ, màu vàng của ngôi sao bị nền đỏ sậm hơn tràn ngập nên chỉ hiện lean như một tia sáng yếu ớt và cả lá cờ xem rất tối. Quốc kỳ của người quốc gia chúng ta trái lại, dùng màu vàng làm nền và ba sọc đỏ sậm hơn đã hiện rõ lên nền vàng này thành ra cả hai màu đều tươi sáng. Vậy, chỉ xét riêng về mặt thẩm mỹ, quốc kỳ của chúng ta tươi đẹp hơn quốc kỳ của tập đoàn CSVN rất nhiều. Ðiều đó cũng không có chi lạ. Quốc kỳ của chúng ta do một họa sĩ nổi tiếng vẽ ra, còn cờ của tập đoàn CSVN chỉ là sự mô phỏng nô lệ cờ một đế quốc có chủ trương sắt máu và không có ý thức gì về cái đẹp.


b. So sánh cờ vàng ba sọc đỏ với cờ đỏ sao vàng về mặt triết lý


Nếu lấy nền triết lý cổ truyền của dân tộc Việt Nam làm căn bản để phán đoán thì cờ vàng ba sọc đỏ của chúng ta cũng có một ý nghĩa tốt đẹp hơn cờ đỏ sao vàng nhiều. Theo quan niệm cổ của dân tộc Việt Nam, màu vàng thuộc hành thổ và màu đỏ thuộc hành hỏa và vì hỏa sanh thổ nên hai màu này rất hợp với nhau. Nhưng trên cờ đỏ sao vàng, màu đỏ quá nhiều, màu vàng quá ít, cũng như khối lửa lớn hay một ánh nắng gay gắt nung đốt một hòn đất nhỏ thành ra hòn đất bị khô cằn đi. Trong khi đó, trên cờ vàng ba sọc đỏ, ba sọc đỏ nhỏ như những tia nắng rọi xuống một mặt đất rộng rãi làm cho mặt đất này ấm áp và có điều kiện thuận lợi cho cây cỏ mọc lên được.

Ý nghĩa về triết lý trên đây thật ra cũng phù hợp với bản chất của chế độ chánh trị hai bên. Chế độ cộng sản là một chế độ độc tài toàn diện đè ép nhơn dân, phủ nhận các quyền lợi căn bản của con người, làm thui chột các sáng kiến nên không thể phát triển được. Dưới quyền của tập đoàn CSVN, nước Việt Nam đã trở thành một mảnh đất cằn cỗi không sinh khí và xã hội Việt Nam lọt vào sự đói khổ cùng cực. Chế độ quốc gia dung nạp sự tự do, tôn trọng các quyền lợi căn bản của con người và khuyến khích sáng kiến nên mặc dầu các nhà lãnh đạo về phía quốc gia đã phạm nhiều lỗi lầm trầm trọng, mặc dầu CSVN đã gây nhiều tàn sát và phá hoại, phần lãnh thổ Việt Nam do người quốc gia điều khiển đã là một mảnh đất đầy sinh khí và nhơn dân Việt Nam trên lãnh thổ này đã hưởng một nếp sống tương đối tự do và trù phú hơn.


D. VẤN ÐỀ THAY ÐỔI QUỐC KỲ


1. Các lập luận đưa ra để phủ nhận cờ vàng ba sọc đỏ

Sau năm 1975, trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại có một số người chủ trương phủ nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ. Trong số những người này, có kẻ bảo rằng đó là cờ thua trận, có kẻ bảo rằng đó là một lá cờ của một chế độ tham nhũng thúi nát, có kẻ cho rằng đó là cờ của Bảo Ðại, cờ của Ông Ngô Ðình Diệm hay cờ của Ông Nguyễn Văn Thiệu là những người lãnh đạo mà họ cho là không xứng đáng.

2. Quan niệm chung của người các nơi trên thế giới về quốc kỳ

Thật sự thì quốc kỳ một nước thường có ý nghĩa sâu xa liên hệ đến văn hóa và lịch sử dân tộc. Dầu cho nó do ai chọn lựa và chọn lựa như thế nào thì một khi đã được dùng làm quốc kỳ, nó cũng không còn có thể được xem là của cá nhơn nào mà phải được xem là của toàn thể nhơn dân trong nước. Bởi đó, số phận quốc kỳ không thể cột buộc vào số phận một nhà lãnh đạo, vào những ưu khuyết điểm của một chế độ hay vào sự thắng bại trong một cuộc tranh đấu. Trong lịch sử thế giới, không ai chủ trương phủ nhận quốc kỳ của mình hay thay đổi nó vì các lý do trên. Việc thay đổi quốc kỳ chỉ được đặt ra khi trong nước có những quan niệm chánh trị mới hoàn toàn khác quan niệm làm căn bản cho chế độ quốc gia.

Như chúng tôi đã nói trên đây, lá quốc kỳ đầu tiên được dùng trên thế giới là cờ tam sắc của Pháp. Nó là kết quả một sự tương nhượng giữa hoàng gia Pháp và nhơn dân thị xã Paris. Sau đó, nhà vua Louis thứ XVI của Pháp đã chống lại Cách Mạng và bị xử tử, nhưng chánh phủ cách mạng Pháp vẫn chánh thức lấy lá cờ tam sắc làm quốc kỳ.

Lúc dòng vua chánh thống của Pháp được đưa lên ngôi báu trở lại, họ đã dùng lá cờ trắng có hoa huệ vàng của hoàng gia làm quốc kỳ, nhưng cờ này chỉ được dùng từ năm 1816 đến năm 1830. Với cuộc Cách Mạng 1830, dòng Orléans được đưa lên thay dòng vua chánh thống và cờ tam sắc đã được dùng làm quốc kỳ trở lại.

Năm 1848, dòng Orléans lại bị lật đổ. Một số nhà cách mạng tả khuynh thời đó đã chủ trương dùng cờ đỏ thay cờ tam sắc làm quốc kỳ, nhưng sau một bài diễn văn cảm động của thi hào Lamartine, người Pháp đã quyết định giữ cờ tam sắc. Lúc ấy, người Pháp lập Ðệ Nhị Cộng Hòa. Nhưng người đầu tiên được bầu làm Tổng Thống của nền cộng hòa này lại là cháu của Hoàng Ðế Napoléon thứ I. Năm 1850, ông đảo chánh để lên ngôi hoàng đế với danh hiệu Napoléon thứ III. Ðến năm 1870, vì gây chiến với Ðức và bị thảm bại nên ông phải thoái vị.

Quốc Hội Pháp được bầu vào lúc đó gồm nhiều người bảo hoàng muốn tái lập chế độ quân chủ và tôn làm quốc vương Bá Tước Chambord, người lãnh đạo dòng vua chánh thống từ năm 1836. Nhưng Bá Tước Chambord đòi hỏi phải bỏ cờ tam sắc để lấy cờ trắng thêu hoa huệ vàng làm quốc kỳ. Những người bảo hoàng nhiệt tâm nhứt đều biết rằng quốc dân Pháp lúc đó không chấp nhận cờ trắng thêu hoa huệ vàng thay cờ tam sắc nên cố thuyết phục Bá Tước Chambord bỏ ý định của ông. Thống Chế Mac Mahon là một lãnh tụ bảo hoàng đã bảo rằng: "Nếu dùng lá cờ trắng thay lá cờ tam sắc thì không cần ai bấm cò, súng cũng tự nổ". Vì Bá Tước Chambord vẫn khăng khăng phủ nhận lá cờ tam sắc nên cuối cùng phe bảo hoàng phải từ bỏ chủ trương tái lập chế độ quân chủ.

Thời Thế Chiến II, Thống Chế Pétain đã chịu đầu hàng người Ðức trong khi Tướng De Gaulle chạy sang Anh kêu gọi người Pháp kháng chiến. Lúc ấy, có hai lực lượng Pháp đối đầu nhau và cả hai đều dùng lá cờ tam sắc. Ðể phân biệt hai bên, Tướng De Gaulle chỉ dùng một cây thánh giá Lorraine gồm hai nhánh ngang và một nhánh dọc đặt trên cờ để làm hiệu kỳ cho Lực Lượng Pháp Quốc Tự Do (LLPQTD) của ông. Ðến khi giải phóng được nước Pháp, ông đã không vì cớ cờ tam sắc đã bị Thống Chế Pétain dùng trong khi đầu hàng Ðức để xin thay đổi nó. Do đó, cờ tam sắc vẫn là quốc kỳ của Pháp và lá cờ có dấu thập tự Lorraine chỉ được xem là hiệu kỳ của LLPQTD.

Nói chung lại thì từ năm 1789, ở Pháp có ba quan niệm chánh trị căn bản thể hiện bằng ba lá cờ: quan niệm quân chủ chánh thống với cờ trắng thêu hoa huệ vàng, quan niệm cách mạng tả phái với cờ đỏ và quan niệm dân chủ tự do với cờ tam sắc. Cờ tam sắc biểu tượng được lý tưởng chung của đa số dân Pháp nên đã được chọn làm quốc kỳ và các mưu toan thay đổi nó đều không thành tựu được.

3. Nhiệm vụ người quốc gia Việt Nam đối với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ
Người quốc gia Việt Nam ta may mắn có một lá quốc kỳ rất đẹp và oai hùng. Phải thấy cờ này bay phấp phới trên một nền trời trong xanh mới thấy hết cái đẹp oai hùng đó. Mặt khác, cờ vàng ba sọc đỏ mang nhiều ý nghĩa triết lý và chánh trị tuyệt hảo, hơn hẳn lá cờ đỏ sao vàng chống đối lại nó. Từ khi Quốc Gia Việt Nam được công nhận là một nước độc lập, cờ vàng ba sọc đỏ đã được nhiều quốc gia trên thế giới biết. Tại Việt Nam, nó đã là biểu tượng hội tập nhiều triệu chiến sĩ quân nhơn cũng như dân sự tranh đấu cho sự tự do của dân tộc Việt Nam. Nó đã được dùng để phủ lên áo quan của nhiều trăm ngàn người đã chết vì Tổ Quốc Việt Nam. Như vậy, nó là một bảo vật thiêng liêng đối với mọi người chúng ta.

Hiện nay, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ không còn được chánh thức dùng bên trong nước Việt Nam, nhưng mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết rằng nó là lá cờ tượng trưng cho nền độc lập và tự do của Tổ Quốc, chống lại chế độ cộng sản tàn ác, phi nhơn và nô lệ ngoại bang. Bên ngoài Việt Nam, nó cũng được người ngoại quốc xem là biểu tượng của phía người Việt Nam chống lại Cộng Sản. Không biểu tượng nào khác có thể thay thế cờ vàng ba sọc đỏ về các mặt này. Vậy, việc tỏ lòng tôn trọng quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ và dùng nó một cách rộng rãi ở nơi nào có người quốc gia Việt Nam là một công cuộc đóng góp lớn vào việc giải phóng đất nước khỏi ách Cộng Sản.

Việc một hội đoàn Việt Nam dùng làm hiệu kỳ một lá cờ nền vàng ba sọc đỏ trên có biểu tượng riêng cho mình là một điều hữu ích cho công cuộc tranh đấu chống lại Cộng Sản. Khi Liên Minh Dân Chủ Việt Nam (LMDCVN) áp dụng nguyên tắc trên đây và thêm 5 ngôi sao 5 nhánh màu xanh trên cờ vàng ba sọc đỏ để làm đoàn kỳ của mình, một số người đã chỉ trích vì cho rằng như vậy là bất kính đối với quốc kỳ. Nhưng sự thật không phải như vậy. Việc dùng một biểu hiệu thêm vào quốc kỳ để làm hiệu kỳ cho một tổ chức tranh đấu cho Tổ Quốc là một điều mà người các nước đã từng làm. Như trên đây đã nói, khi thành lập LLPQTD để chống lại chánh phủ Pétain, Tướng De Gaulle đã dùng một cây thập tự Lorraine thêm vào quốc kỳ Pháp. Vậy, việc đoàn kỳ của LMDCVN là một quốc kỳ trên có 5 ngôi sao 5 nhánh màu xanh chỉ hàm ý rằng LMDCVN là một tổ chức của VNCH tranh đấu dưới lá quốc kỳ Việt Nam, và 5 ngôi sao 5 nhánh màu xanh chỉ để phân biệt nó với những tổ chức tranh đấu khác nhưng cùng một mục tiêu chung.

Trong khi chưa giải phóng được Việt Nam và chưa làm cho nó được chánh thức dùng trở lại trên toàn cõi Việt Nam, nhiệm vụ người Việt Nam ở hải ngoại là làm cho cờ này vẫn được sử dụng ở mọi nơi có người quốc gia Việt Nam, đặc biệt là trong những hoạt động có liên hệ đến người ngoại quốc. Về mặt này, chúng ta phải ghi công cố Ðại Tá Ðỗ Ðăng Công, nguyên Tổng Thư Ký của Phân Bộ Việt Nam trong Liên Minh Thế Giới Chống Cộng (LMTGCC). Sau năm 1975, lúc CSVN vừa chiếm được Miền Nam Việt Nam, ban tổ chức của liên minh này đã không còn dùng cờ vàng ba sọc đỏ trong các phiên họp của họ. Nhưng bằng những lời lẽ hợp lý, cương quyết và cảm động, cố Ðại Tá Ðỗ Ðăng Công đã làm cho họ thay đổi ý kiến và từ đó, quốc kỳ của chúng ta đã được long trọng dùng chung với cờ của các nước hội viên khác của LMTGCC ở mọi nơi.

Ngoài ra, còn có những người khác cũng có những công tác tương tự. Khi đến thuyết trình về vấn đề Việt Nam ở Viện Ðại Học OSU (Oregon State University) tại Cornvallis ngày 30 tháng 11 năm 1987, tôi được biết rằng các anh chị em sinh viên Việt Nam ở Viện Ðại Học này đã hai lần tranh đấu với ban giám đốc để cho cờ vàng ba sọc đỏ vẫn được treo với tư cách là quốc kỳ Việt Nam ở một hội trường trưng bày cờ các nước. Phía Canada thì Cộng Ðồng Việt Nam đã tranh đấu để cho thị xã Toronto chấp nhận để cho quốc kỳ Việt Nam được treo lên một tuần lễ mỗi năm tại kỳ đài của thị xã vào dịp 30 tháng 4. Tại Los Angelès (California) thì Cộng Ðồng Việt Nam đã được chấp nhận cho xây dựng một kỳ đài để quốc kỳ Việt Nam sẽ được treo liên tục suốt năm. Tại San Jose (California), Cộng Ðồng Việt Nam cũng sẽ xây dựng một kỳ đài tương tự*. Ngoài ra, trong dịp Tết Mậu Thìn, quốc kỳ Việt Nam đã được treo trong suốt một tuần lễ ở trụ sở các tỉnh Santa Clara, thị xã San José và thị xã Milpitas.

Có lẽ trên thế giới còn có những nơi mà đồng bào Việt Nam đã tranh đấu và thành công trong việc làm cho quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ được cộng đồng quốc tế chấp nhận treo lên mà chúng tôi không được biết nên không nêu ra đây được. Riêng Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Việt Nam Tự Do (UBQTYTVNTD) thì dĩ nhiên là chánh thức công nhận quốc kỳ này. Ngày 4 tháng 12 năm 1986, khi tổ chức buổi hội thảo công khai đầu tiên của Ủy Ban, Ông Chủ Tịch Paul Vankerkhoven đã đích thân kiểm soát việc trang trí phòng hội thảo. Tại phòng này, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ đã được treo chung với cờ các quốc gia trong Cộng Ðồng Âu Châu và đặc biệt là được treo ở chỗ danh dự là ngay bên hữu cờ Bỉ là cờ của nước chủ nhà. Chắc chắn là trong mọi cuộc hội họp công cộng của UBQTYTVNTD mà có treo cờ thì quốc kỳ của chúng ta sẽ được treo chung với cờ các nước khác.
Việc quốc kỳ của chúng ta lần lần tái hiện bên cạnh cờ các quốc gia khác trên thế giới là một dấu hiệu cho thấy rằng công cuộc tranh đấu để giải phóng Việt Nam khỏi ách Cộng Sản có những tiến triển khả quan. Hiện nay, quốc kỳ này là biểu hiệu hội tập mọi người quốc gia Việt Nam: dầu có bất đồng ý kiến, dầu có những hiềm khích đối với nhau, mọi người quốc gia đều nên tôn trọng quốc kỳ và nếu mọi người đều quyết tâm tranh đấu chung nhau hay ít nhứt cũng song song nhau thì một ngày không xa lắm, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ sẽ phấp phới bay trên mọi nóc nhà Việt Nam từ mũi Cà Mau cho đến ải Nam Quan.

II. QUỐC CA VIỆT NAM

A. SỰ XUẤT HIỆN CỦA Ý NIỆM QUỐC CA TRONG LỊCH SỬ NHƠN LOẠI
Ý niệm quốc ca đã từng xuất hiện một lượt với ý niệm quốc kỳ. Từ ngàn xưa, loài người đã có dùng những bản nhạc hay bài ca để đánh dấu sự có mặt của một nhơn vật lãnh đạo. Nhưng thời trước, với chế độ quân chủ, các bản nhạc hay bài hát loại này được xem là biểu tượng riêng của cá nhơn nhà vua, nhá quí tộc hoặc nhà đại diện cho các cự tộc cầm đầu cộng đồng. Về nội dung, nó có thể là một bài để cho nhơn vật lãnh đạo này cầu nguyện trời hay thần linh phù hộ ông, một bài chúc tụng ông, đề cao công nghiệp của ông hay của gia tộc ông, hay một bài mô tả cảnh thái bình thạnh trị, hoặc sự cường thạnh của cộng đồng mà ông là chủ nhơn.

Chỉ với cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, khi quốc gia được xem là sở hữu của toàn thể mọi người sống trong cộng đồng mới có bài hát được dùng làm biểu tượng chung cho toàn thể quốc dân. Người Pháp đã dùng từ ngữ hymne national để chỉ loại bài hát này. Quan niệm của người Pháp lần lần được người nước khác chấp nhận và người thuộc các dân tộc nói tiếng Anh đã dùng từ ngữ national anthem khi nói đến bài hát tiêu biểu cho nước mình. Hymne national của Pháp hay national anthem theo tiếng Anh đã được người Việt Nam chúng ta dịch là quốc thiều nếu nhấn mạnh trên phần âm nhạc, hay quốc ca khi nhấn mạnh trên phần lời nói.

Về phần thực hiện cụ thể thì bản quốc ca đầu tiên trên thế giới là bài Marseillaise của Pháp. Bài này do một đại úy công binh Pháp tên Rouget de Lisle làm năm 1792 với tên là Chiến Ca Của Lộ Quân Sông Rhin (Chant De Guerre Pour l'Armée Du Rhin). Nhưng sau đó, nó được nổi tiếng khi được một tiểu đoàn chí nguyện quân gồm người gốc ở thị xã Marseille hát trong lúc kéo từ Marseille lên thủ đô Paris nên có tục danh là bài Marseillaise. Bài hát này đã được phổ biến rộng rãi ở Pháp từ năm 1792 và đến năm 1795, nó đã được chánh thức chọn làm quốc ca của Pháp.

Sau khi người Pháp tung ra ý niệm quốc ca, nhiều nước khác đã chấp nhận ý niệm này và đều có quốc ca. Có khi quốc ca được chọn là một bài đã được dùng để đánh dấu sự hiện diện của nhà vua. Ðó là trường hợp bài God Save The King (Trời Phù Hộ Ðức Vua) hay God Save The Queen (Trời Phù Hộ Nữ Hoàng) nếu quốc trưởng là một nữ hoàng. Bài này đã được dùng ở Anh từ trước Cách Mạng Pháp, nhưng đến năm 1825 mới được chánh thức xem là quốc ca của nước Anh.


B. CÁC BẢN NHẠC ÐÃ XUẤT HIỆN Ở VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ QUỐC THIỀU VÀ QUỐC CA



1. Quốc ca xuất hiện đầu tiên: bản Ðăng Ðàn Cung của Hoàng Ðế Bảo Ðại


Ở Việt Nam trước đây, cũng như ở các nước quân chủ cổ thời khác, có những bản nhạc và bài hát được dùng trong các lễ long trọng để đánh dấu sự hiện diện của nhà vua. Về ý niệm quốc thều hay quốc ca, nó chỉ xuất hiện ở nước ta khi dân tộc ta bị lọt vào ách thực dân Pháp.

Tuy nhiên, trong gần suốt thời kỳ Pháp thuộc, dân Việt Nam vẫn chưa có quốc thiều và quốc ca. Nam Kỳ lúc ấy là thuộc địa Pháp và khi có các cuộc lễ lớn thì bản nhạc được dùng là bài Marseillaise của người Pháp. Ở Huế thì triều đình nhà Nguyễn có một số bản nhạc được dùng khi có sự hiện diện của nhà vua. Nhưng các bản nhạc trên đây không phải là quốc thiều hay quốc ca theo đúng nghĩa kim thời của nó.

Ðến thời Thế Chiến II, Hoàng Ðế Bảo Ðại mới ấn định quốc thiều và quốc ca một lượt với quốc kỳ. Bản quốc thiều và quốc ca này là bản Ðăng Ðàn Cung. Ðó là một bản nhạc cổ điển của Việt Nam và được triều đình Huế dùng khi nhà vua ngự đến đài Nam Giao để đại diện cho tất cả thần dân làm lễ tế trời. Lễ này ba năm cử hành một lần và được xem là cuộc lễ quan trọng hơn hết của triều đình. Do đó, bản Ðăng Ðàn Cung được xem là bản nhạc trang nghiêm nhứt. Vì vậy, Hoàng Ðế Bảo Ðại đã dùng nó làm quốc thiều và quốc ca trong khi cờ long tinh được chọn làm quốc kỳ. Cũng như cờ long tinh, bản Ðăng Ðàn Cung chỉ được dùng trên lãnh thổ Ðại Nam tức là Trung Kỳ và Bắc Kỳ, còn ở Nam Kỳ bị xem là lãnh thổ Pháp thì bản Marseillaise vẫn phải được dùng.

2. Quốc ca thứ nhì: bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông thời chánh phủ Trần Trọng Kim

Sau khi Nhựt đảo chánh Pháp và Việt Nam tuyên bố độc lập, chánh phủ Trần Trọng Kim đã ban bố một chương trình hưng quốc ngày 8 tháng 5 năm 1945, trong đó bản Việt Nam Minh Châu Troi Ðông của nhạc sĩ Hùng Lân được chọn làm quốc ca. Lời ca của bản nhạc này như sau:

    Việt Nam, minh châu trời Ðông!
    Việt Nam, nước thiêng Tiên Rồng!
    Non sông như gấm hoa uy linh một phương,
    Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương.
    Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi.
    Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.
    Máu ai còn vương cỏ hoa
    Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.
    Giơ tay cương quyết,
    Ta ôn lời thề ước.
    Hy sinh tâm huyết,
    Ta báo đền ơn nước.
    Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,
    Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam.

Bản quốc ca này được dùng chung với cờ quẻ Ly ở Bắc và Trung Việt, nhưng không được dùng ở Nam Việt vì Nam Việt đã bị người Nhựt thay người Pháp điều khiển một cách trực tiếp và chỉ được trả cho triều đình Huế lúc Hoàng Ðế Bảo Ðại đã sắp thoái vị rồi. Vậy, trong thời kỳ từ khi người Nhựt đảo chánh Pháp cho đến khi Mặt Trận Việt Minh củng cố được chánh quyền của nó ở Nam Việt, cả lãnh thổ này không có quốc ca. Bài hát được người quốc gia ở Nam Việt dùng khi đứng lên tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam thời đó là bài Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên của Thanh Niên Tiền Phong, chung với cờ vàng sao đỏ cũng của tổ chức này. Như chúng tôi sẽ trình bày sau đây, bản nhạc của bài Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên này chính là bản nhạc của bài quốc ca mà chúng ta đang dùng.

3. Quốc ca thứ ba: bản Tiến Quân Ca của tập đoàn CSVN
Khi cướp được chánh quyền, tập đoàn CSVN đã dùng làm quốc ca bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao. Bản nhạc này đã được họ bắt đầu dùng khi tổ chức các đơn vị võ trang đầu tiên và cho đến nay, vẫn được họ dùng làm quốc ca.

4. Quốc ca của Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc


Khi Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc thành lập năm 1946, những người cầm đầu phong trào Nam Kỳ Tự Trị đã dùng làm quốc ca một bản phổ nhạc của mấy câu thơ đầu trong Chinh Phụ Ngâm Khúc mà tác giả là Giáo Sư Võ Văn Lúa, một giáo sư trung học thời Pháp thuộc. Sau đó, Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc lại dùng một bản nhạc khác cũng của vị giáo sư này làm quốc ca, nhưng về nhạc và lời, bản sau này cũng chẳng hơn gì bản trước. Các bản quốc ca quái đản trên đây thật xứng với lá cờ sốt rét dùng làm quốc kỳ cho Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc. Nó đã là một đề tài chế giễu của ngưoi dân Nam Việt lúc đó và ngày nay nhắc lại nó, chúng tôi không biết nên cười hay nên khóc vì tuy hết sức lố bịch, nó đã được dùng làm biểu tượng cho một tổ chức chống lại nền thống nhứt của Việt Nam và đã gây nhiều đau khổ chết chóc cho những người tranh đấu cho nền thống nhứt này.

5. Quốc ca của chúng ta ngày nay

Bản quốc ca của chúng ta hiện nay có một lịch sử đặc biệt. Người sáng tác bản nhạc là Lưu Hữu Phước, một cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký và cựu sinh viên Viện Ðại Học Hà Nội. Nếu tôi không lầm thì bản nhạc này đã được soạn ra lúc Lưu Hữu Phước còn học ở trường Pétrus Ký. Năm 1942, anh ta là sinh viên của Viện Ðại Học Hà Nội. Thời Thế Chiến II, Viện Ðại Học này là Viện Ðại Học duy nhứt của các nước Ðông Dương. Nó có khoảng 800 sinh viên trong đó phân nửa là người Việt Nam, còn lại là người Khmer, người Lào, người Pháp và ngay cả người một số nước láng giềng như Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á Châu.

Vì là Viện Ðại Học duy nhứt của Ðông Dương nên Viện Ðại Học Hà Nội đã họp tập tất cả sinh viên Việt Nam thời đó. Các sinh viên ái quốc gia nhập các chánh đảng cách mạng tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam đã tổ chức những tổ bí mật tại đó. Ðặc biệt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng có đảng trưởng Trương Tử Anh và một cán bộ nồng cốt là Anh Nguyễn Tôn Hoàn học tại Viện Ðại Học Hà Nội thời Thế Chiến II. Anh Nguyễn Tôn Hoàn là người giỏi về nhạc nên được bầu làm Trưởng Ban Âm Nhạc của Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (Association Générale des Étudiants Indochinois) và anh đã lãnh nhiệm vụ bí mật hướng dẫn các sinh viên hoạt động về văn hóa theo chiều hướng tranh đấu chống thực dân.

Chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (THSVÐD) đã tổ chức tại Ðại Giảng Ðường của Viện Ðại Học Hà Nội một buổi hát để lấy tiền giúp các bịnh nhơn nghèo của các bịnh viện được dùng làm nơi thực tập cho các sinh viên Khoa Y Dược. Các sinh viên Việt Nam đóng vai tuồng chủ động trong Tổng Hội đã quyết định nhơn cơ hội này tung ra một bản nhạc đặc biệt là Sinh Viên Hành Khúc, tên Pháp là Marche des Étudiants. Anh Nguyễn Tôn Hoàn được ủy nhiệm chọn bản nhạc dùng vào công việc đó. Lúc ấy, Lưu Hữu Phước đã đưa cho anh một số bài nhạc do anh ta soạn. Anh Nguyễn Tôn Hoàn nhận thấy rằng trong tất cả các dự thảo của Lưu Hữu Phước, bản nhạc mà chúng ta hiện dùng làm quốc thiều có tánh cách khích động tinh thần tranh đau hơn hết nên đã chọn nó làm nhạc cho Sinh Viên Hành Khúc. Sau đó, một ủy ban soạn lời ca cho bản nhạc này đã được thành lập với Ðặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị. Lời ca này gồm ba đoạn với một điệp khúc chung:

    I. Này sinh viên ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi!

    Ðồng lòng cùng đi, đi, mở đường khai lối.
    Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,
    Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
    Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
    Ðừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
    Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
    Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá.
    Ðường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,
    Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
    (Ðiệp khúc)
    Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
    Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng!
    Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
    Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
    II. Này sinh viên ơi! Dấu xưa vết còn chưa xoá!
    Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!
    Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,
    Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn.
    Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
    Lừng tiếng Sát Thát Trần Quốc Tuấn.
    Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
    Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám.
    Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
    Mong đến ngày vẻ vang, ta thắp hương nguyền.
    (Trở lại điệp khúc)
    III. Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng,
    Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!
    Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
    Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng.
    Là sinh viên vun cây văn hoá,
    Từ trước sẵn có nhiều hoa lá.
    Ðời mới kiến thiết đáp lòng những ai
    Hằng mong ta ra vững cầm tay lái.
    Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi
    Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
    (Trở lại điệp khúc)

Các lời ca tiếng Việt như trên đây được dùng cho sinh viên Việt Nam và có mục đích thúc đẩy người Việt Nam tranh đấu cho đất nước Việt Nam. Nhưng vì như trên đã nói, Viện Ðại Học Hà Nội lúc ấy còn có nhiều sinh viên không phải Việt Nam nên ngoài lời ca tiếng Việt, lại còn có lời ca tiếng Pháp để mọi sinh viên của Viện đều có thể dùng nó được. Lời ca tiếng Pháp này dĩ nhiên là không thể nói riêng về Việt Nam mà phải nói đến cả Ðông Dương để cho phù hợp với tên THSVÐD. Lời ca tiếng Pháp cũng do ủy ban nói trên đây soạn ra:

    Étudiants! Du sol l'appel tenace
    Pressant et fort, retentit dans l'espace.
    Des côtes d'Annam aux ruines d'Angkor,
    À travers les monts, du sud jusqu'au nord,
    Une voix monte ravie:
    Servir la chère Patrie!
    Toujours sans reproche et sans peur
    Pour rendre l'avenir meilleur.
    La joie, la ferveur, la jeunesse
    Sont pleines de femmes promesses.
    (Ðiệp khúc)
    Te servir, chère Indochine,
    Avec coeur et discipline,
    C'est notre but, c'est notre loi
    Et rien n'ébranle notre foi!

Buổi hát chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942 đã đưa đến những kết quả mỹ mãn và bản Sinh Viên Hành Khúc tên Pháp là Marche des Étudiants đã được chánh thức công nhận là bản nhạc của THSVÐD. Mùa hè năm đó, Tổng Hội này lại tổ chức một buổi lễ mãn khoá tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Lần này, có Toàn Quyền Ðông Dương và nhiều viên chức cao cap Pháp khác đến dự. Bản Sinh Viên Hành Khúc được dàn nhạc của Hải Quân Pháp trình tấu. Âm điệu hùng hồn của nó đã làm mọi ngưoi khích động và khi nó được trổi lên, tất cả mọi ngưoi tham dự lễ mãn khoá năm 1942 của Viện Ðại Học Hà Nội, kể cả các viên chức cao cấp Pháp, đều đã nghiêm chỉnh đứng dậy để chào nó. Sau đó, nó được phổ biến khắp nơi. Các sinh viên Pháp, Khmer và Lào dĩ nhiên là theo lời ca Pháp. Về phía Việt Nam thì các sinh viên chỉ lo đi học chớ không có nhiệt tâm tranh đấu chánh trị cũng chỉ biết có lời ca Pháp. Phần các sinh viên Việt Nam có nhiệt tâm tranh đấu cho nền độc lập của dân tộc thì đem ra phổ biến ở khắp cả ba kỳ trong kỳ nghỉ hè năm đó với lời ca tiếng Việt, nhứt là đoạn I nói trên đây. Vì thế, từ năm 1943, bài Sinh Viên Hành Khúc đã được người Việt Nam ở cả ba kỳ biết.

Năm 1945, sau khi Nhựt đảo chánh Pháp, Thanh Niên Tiền Phong được thành lập ở Nam Việt và lấy bản nhạc trên đây làm đoàn ca. Tên bản nhạc được đặt lại là Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên. Về lời thì hai chữ sinh viên được thay bằng hai chữ thanh niên. Lúc người Pháp trở lại chiếm Nam Việt cuối năm 1945, Thanh Niên Tiền Phong đã huy động người ái quốc Việt Nam ở Nam Việt đứng lên chống lại họ dưới lá cờ vàng sao đỏ và bản Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên.

Năm 1948, trong phiên họp lịch sử ở Hongkong giữa Cựu Hoàng Bảo Ðại và một số thân hào nhơn sĩ cùng đại diện các đoàn thể chánh trị và tôn giáo ở Việt Nam, Anh Nguyễn Tôn Hoàn đã đề nghị lấy bản nhạc của Thanh Niên Hành Khúc làm quốc thiều cho Quốc Gia Việt Nam. Hội nghị đã đồng ý và tên bản nhạc được đặt lại là Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Về lời ca, đoạn I của bài Thanh Niên Hành Khúc nói trên đây đã được dùng, với hai chữ công dân thay cho hai chữ thanh niên.

Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chánh phủ lâm thời Việt Nam được thành lập với Tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng và Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân được chánh thức dùng làm quốc ca. Lúc Ông Ngô Ðình Diệm lật đổ Quốc Trưởng Bảo Ðại để thành lập chế độ cộng hoà, Quốc Hội Lập Hiến được bầu năm 1956 đã có đặt vấn đề chọn một bài quốc ca khác. Tuy nhiên, lúc đó, phần lớn các bản nhạc được đề nghị dùng làm quốc ca đều không đủ tiêu chuẩn để được chấp nhận. Bài duy nhứt được xem là xứng đáng làm quốc ca chính là bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông của nhạc sĩ Hùng Lân đã được chánh phủ Trần Trọng Kim chọn làm quốc ca năm 1945. Tuy nhiên, hai Ông Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu cuối cùng đã không chấp nhận việc dùng bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông làm quốc ca vì một lý do đặc biệt.

Năm 1945, hai Ðảng Việt Nam Quốc Dân Ðảng (VNQDÐ) và Ðại Việt Quốc Dân Ðảng (ÐVQDÐ) đã sáp nhập lại làm một với tên chung là Quốc Dân Ðảng và Ðảng này đã lấy bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông làm đảng ca. Sau đó, VNQDÐ và ÐVQDÐ lại tách nhau ra, nhưng cả hai đều giữ đảng ca Việt Nam Minh Châu Trời Ðông. Vì biết được việc này nên hai anh em Ông Diệm đã không chấp nhận bản nhạc này làm quốc ca. Rốt cuộc, Quốc Hội Lập Hiến năm 1956 đã quyết định giữ lại bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân làm quốc ca, nhưng đổi lời lại như sau:

    Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng.
    Ðồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống!
    Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
    Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
    Dầu cho thây phơi trên gươm giáo,
    Thù nước lấy máu đào đem báo.
    Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
    Ngưoi công dân luôn vững bền tâm trí,
    Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
    Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
    (Ðiệp khúc)
    Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
    Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ
    Thoát cơn tàn phá, vẻ vang đời sống
    Xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.
    Bản nhạc và lời ca này đã được dùng suốt thời Ðệ Nhứt và Ðệ Nhị Cộng Hòa cho đến ngày nay.

C. VẤN ÐỀ THAY ÐỔI QUỐC CA

Nói tóm lại, trừ các bản nhạc vô duyên đã được Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc dùng làm quốc ca, nhưng thật sự không thể xem là quốc ca được, dân tộc Việt Nam có cả thảy bốn bản nhạc xứng đáng với danh nghĩa quốc ca là Ðăng Ðàn Cung, Việt Nam Minh Châu Trời Ðông, Tiến Quân Ca và Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Bốn bản quốc ca này đã được dùng song song với bốn lá quốc kỳ: bản Ðăng Ðàn Cung với cờ long tinh, bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông với cờ quẻ Ly, bản Tiến Quân Ca với cờ đỏ sao vàng và bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân với cờ vàng ba sọc đỏ.

1. So sánh các bản quốc ca với nhau
Bản Ðăng Ðàn Cung là bản nhạc cổ điển Việt Nam thuộc loại nhã nhạc. Loại nhạc này có tánh cách nghiêm trang và ôn hòa, trái với dâm nhạc là loại nhạc biểu lộ tình cảm một cách nồng nhiệt và chỉ được dùng trong việc giải trí hay hội họp vui chơi. Bản Ðăng Ðàn Cung là một bài nhã nhạc dùng trong lễ tế Nam Giao của nhà vua. Do đó, nó có tánh cách trang trọng, nhưng không hùng hồn và không khích động được tinh thần người nghe. Bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông là một bản tân nhạc có tánh cách khích động hơn bản Ðăng Ðàn Cung, nhưng cái hùng của nó là loại trầm hùng nên không khích động tinh thần người nghe bằng bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Vì là một hành khúc, bản quốc ca hiện nay của chúng ta khích động tinh thần người nghe một cách mạnh mẽ hơn. Mặt khác nữa, hoàn cảnh lịch sử đã làm cho nó đóng một vai tuồng tích cực trong cuộc tranh đấu cho nền độc lập và tự do của dân tộc Việt Nam. Thời Thế Chiến II, với tên là Sinh Viên Hành Khúc, nó đã được dùng để đánh thức tinh thần tranh đấu của nhơn dân Việt Nam. Ðến lúc người Pháp đem binh đến để tái chiếm Nam Việt, dưới tên Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên, nó đã được dùng để thúc đẩy các chiến sĩ cầm tầm vong vạt nhọn đứng lên tranh đấu với Quân Ðội Viễn Chinh Pháp. Khi nước Pháp chánh thức nhìn nhận nền độc lập và thống nhứt của Việt Nam, nó đã thành bản quốc ca với tên là Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân.

Bản Tiến Quân Ca của CSVN cũng có tánh cách khích động tinh thần người nghe như bản quốc ca của chúng ta. Nhưng về lời ca thì từ hình thức Sinh Viên Hành Khúc qua Thanh Niên Hành Khúc đến Quốc Dân Hành Khúc, bản quốc ca của chúng ta nhiều lắm là nói đến "thù nước lay máu đào đem báo", còn Tiến Quân Ca với lời "thề phanh thây uống máu quân thù" rõ là sắt máu quá và có thể làm cho thế giới xem dân tộc Việt Nam là dã man. Về mặt chánh trị, bản Thanh Niên Hành Khúc đã được dùng để thúc đẩy các thanh niên ái quốc Nam Việt cầm tầm vông vạt nhọn chống lại Quân Ðội Viễn Chinh Pháp trong khi bản Tiến Quân Ca đã được trổi lên để chào đón Quân Ðội này lúc họ đổ bộ ra Bắc Việt theo sự thoả thuận với Hồ Chí Minh trong Sơ Ước ngày 6 tháng 3 năm 1946. Sau đó, nó đã được dùng khi bộ đội Việt Minh cùng với bộ đội Pháp hợp tác nhau trong Ban Liên Kiểm Việt-Pháp để tiến đánh các chiến khu của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng, Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội.

2. Lý luận của những người muốn đổi quốc ca
Những người muốn đổi quốc ca đã đưa ra nhiều lý luận khác nhau. Trong các lý luận được đưa ra, chỉ có một cái đáng cho chúng ta lưu ý. Lý luận này đặt nền tảng trên chỗ tác giả bản nhạc được chúng ta dùng làm quốc ca là Lưu Hữu Phước, hiện là một cán bộ cộng sản, và Lưu Hữu Phước đã lên tiếng sỉ vả người quốc gia Việt Nam là vô liêm sỉ khi lấy bản nhạc của anh ta và đặt lại lời ca để dùng. Một số người quốc gia Việt Nam đã tỏ ra khó chịu về việc này và những người muốn thay đổi quốc ca đã dựa vào đó để kêu gọi mọi người bỏ bản quốc ca hiện tại.

a. Nhận định về cá nhơn Lưu Hữu Phước

Vì lý luận trên đây dựa vào cá nhơn Lưu Hữu Phước nên chúng ta cần phải biết về cá nhơn này trước khi phán đoán. Thời Thế Chiến II, Lưu Hữu Phước là một sinh viên có tinh thần quốc gia và cũng như nhiều sinh viên khác của Viện Ðại Học Hà Nội, chỉ có chủ trương giành độc lập cho Việt Nam mà không gia nhập đoàn thể chánh trị nào. Lúc CSVN chưa cướp được chánh quyền, Lưu Hữu Phước đã hoạt động với Anh Nguyễn Tôn Hoàn là một cán bộ của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng tại Viện Ðại Học Hà Nội.

Lúc CSVN cướp được chánh quyền, Lưu Hữu Phước và một số sinh viên khác gia nhập Ðảng Tân Dân Chủ, một chánh đảng hợp tác với CSVN trong Mặt Trận Việt Minh, nhưng lúc đầu phân biệt với Ðảng CSVN và nhiều khi cạnh tranh lại đảng này. Tuy nhiên, bằng cách vừa mua chuộc, vừa lấn ép, CSVN đã lôi phần lớn các đảng viên Tân Dân Chủ vào Ðảng CS và chỉ còn dùng tên Ðảng Tân Dân Chủ làm một nhãn hiệu để làm cho người ta lầm tưởng rằng chế độ họ xây dựng lên không phải là chế độ độc đảng.

Lưu Hữu Phước thuộc thành phần đảng viên Tân Dân Chủ bị lôi kéo vào Ðảng CS. Anh ta không đủ khí phách để chống lại việc đó và bị loại ra khỏi trường chánh trị như Ðặng Ngọc Tốt, cũng không đủ tinh thần sắt máu để được CSVN tin dùng như Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Bửu Kiếm. Mặt khác, anh ta không có một khả năng đặc biệt về chánh trị mà CSVN có thể khai thác được như Mai Văn Bộ. Trước sau, Lưu Hữu Phước chỉ là một nhạc sĩ. Do đó, CSVN đã dùng anh ta như một văn công, sản xuất nhạc theo lịnh Ðảng và lên tiếng về các vấn đề khác những khi Ðảng thấy cần. Nói tóm lại, Lưu Hữu Phước đã sáng tác bản nhạc của Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân lúc còn là một sinh viên có tinh thần quốc gia. Ngày nay, anh ta là một văn công của CSVN và mọi lời phát biểu của anh ta chỉ là do Ðảng CSVN mớm cho.

b. Quan niệm chung của người các nơi trên thế giới về quốc ca

Nhưng dầu cho lúc sáng tác bản nhạc của Quốc Dân Hành Khúc, Lưu Hữu Phươc đã là một đảng viên cộng sản rồi và việc chỉ trích chúng ta dùng bản nhạc đó là do ý anh ta, chúng ta cũng không phải bận tâm về vấn đề này, vì theo quan niệm chung của người các nơi trên thế giới về quốc ca thì khi một bản nhạc đã được quốc dân nhận làm quốc ca, nó không còn của riêng ai nữa mà là của toàn dân. Do đó, cá nhơn người sáng tác bản nhạc cũng như người chọn bản nhạc làm quốc ca không thành một vấn đề đem ra thảo luận. Chúng ta có một tiền lệ đáng lưu ý về việc này.

Ðó là trường hợp bản Marseillaise được dùng làm quốc ca Pháp. Bản quốc ca này được một nhà quí tộc Pháp là Rouget de Lisle sáng tác năm 1792. Lúc ấy, Vua Louis thứ XVI còn trị vì và Rouget de Lisle là một sĩ quan trong Quân Ðội Pháp. Năm 1793, Vua Louis thứ XVI bị xử tử và Rouget de Lisle bị bắt vì là người quí tộc theo phe bảo hoàng chống lại Cách Mạng. Lúc ấy, Ông Lazare Carnot, Ủy Viên Quốc Phòng của Hội Ðồng Cách Mạng vì muốn cứu một sĩ quan cùng binh chủng với mình, lại là tác giả bản Marseillaise, đã đề nghị Rouget de Lisle tuyên thệ trung thành với Cách Mạng thì sẽ được tha, nhưng Rouget de Lisle từ chối vì không chịu phủ nhận lý tưởng bảo hoàng của mình. Cuối cùng, ông ta chỉ thoát chết vì chánh phủ cách mạng chủ trương Ðại Khủng Bố do Robespierre cầm đầu đã bị lật đổ trước khi bản án tử hình của ông ta được đem ra thi hành. Nhưng mặc dầu sau năm 1793, Rouget de Lisle đã trở thành người chống lại Cách Mạng, chánh quyền cách mạng Pháp vẫn tiếp tục dùng bản Marseillaise do ông sáng tác và năm 1795 đã chánh thức quyết định lấy nó làm quốc ca.


c. Trường hợp bản Tiến Quân Ca được tập đoàn CSVN dùng làm quốc ca


Bản Tiến Quân Ca được tập đoàn CSVN dùng làm quốc ca vốn do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác trong thời kỳ CSVN chưa cướp được chánh quyền ở Việt Nam. Không rõ lúc ông sáng tác bản nhạc này, Văn Cao đã là một đảng viên cộng sản hay chưa. Nhưng chắc chắn là về sau, ông đã vào Ðảng CSVN. Tuy nhiên, cũng như nhiều văn nghệ sĩ có nhiệt tâm yêu nước thời đó, Văn Cao đã lần lần nhận chân được bộ mặt thật của Cộng Sản. Ðiều đáng quí là ông đã can đảm hơn nhiều người khác như Lưu Hữu Phước chẳng hạn, và đã dám nói lên sự bất mãn và chống đối của mình. Ông đã tham dự phong trào Nhân Văn Giai Phẩm hồi năm 1956 và đã dứt khoát chống lại Ðảng CSVN. Trong con mắt của CSVN hiện nay, Văn Cao là một phần tử phản Ðảng, phản động, phản cách mạng.

Với chủ trương độc tài sắt máu và lòng tự hào là Ðảng mình lúc nào cũng hành động hợp với chánh nghĩa, CSVN rất xấu hổ về chỗ bản quốc ca họ dùng là sáng tác của một nhạc sĩ phản Ðảng, phản động và phản cách mạng. Bởi đó, họ không chịu theo quan niệm thông thường bắt đầu với lịch sử bản Marseillaise của Pháp, nghĩa là bất chấp lập trường chánh trị về sau của tác giả bản quốc ca. Họ đã treo một giải thưởng lớn cho người sáng tác được một bản nhạc đáng làm quốc ca mới. Nhưng trong nhiều trăm bản nhạc gởi đến dự thi, họ đã không chọn được bản nào ra hồn. Cuối cùng, họ phải hậm hực giữ bản Tiến Quân Ca làm quốc ca.

Người quốc gia Việt Nam chúng ta theo quan niệm thông thường trên thế giới về quốc ca nên không có gì phải hậm hực vì tác giả bản quốc ca chúng ta đang dùng hiện đã trở thành một văn công của CSVN. Và nếu có người nào đem việc Lưu Hữu Phước sỉ vả chúng ta về chỗ đã lấy bản nhạc do anh ta sáng tác làm quốc ca, chúng ta có thể bảo họ nên dùng các lời sỉ vả đó đặt trong miệng Văn Cao để gởi cho tập đoàn CSVN.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80836
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46239 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 28th, 2017, 12:11 am
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox


Return to History & Culture Of VietNam | Lịch Sử & Văn Hóa Việt Nam

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests