Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Read and learn ethnic origin Vietnamese | Hảy tìm hiểu và học hỏi nguồn gốc dân tộc việt

ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Postby DaMinhChau » September 28th, 2017, 10:09 pm


ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG


Yên-tử Cư-sĩ TRẦN ĐẠI SỸ

Image



Xin đọc bộ Thuận-Thiên Di Sử
trước khi đọc bộ Anh Hùng Bắc Cương

Ghi ơn


Tác giả kính cẩn dâng hiến tinh thần bộ truyện này cho các vị tiền bối đã, và đang góp tâm huyết tìm lại nguồn gốc, lãnh thổ tộc Việt bằng nghiên cứu, bằng suy diễn và bằng linh kiến:

    Cố Giáo-sư Nguyễn-đăng-Thục, Nguyên khoa-trưởng đại-học Văn-khoa Sài-gòn.
    Cố Giáo-sư Lương-kim-Định, Triết-gia sáng lập An-Việt, Việt-linh
    Tiến-sĩ Thái-văn-Kiểm. Hội viên Hàn-lâm viện Pháp-quốc hải ngoại
    Cố Bác-sĩ Nguyễn-trần-Huân, Giáo-sư Văn-chương, tại đại học Văn-khoa Paris (Sorbonne)
    Luật-sư Hoàng-cơ-Thụy, Sử gia
    Cố Giáo-sư Bùi-văn-Bảo, Sử-gia.


Trước khi vào truyện


1. Quý độc giả đã đọc Anh-hùng Tiêu-sơn giai đoạn một, mang tên Thầy tăng mở nước. Thấy tăng mở nước không phải là tên mới, vì đã xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ mười hai, để chỉ chư vị tăng ni hồi đó biến đổi Phật-giáo từ Ấn-độ, Trung-quốc qua, thành một Phật-giáo dân tộc. Nhân ở hoàn cảnh mất nước lâu dài trong gần nghìn năm, các ngài đã lồng đạo pháp đức Thế-tôn với chủ đạo tộc Việt thời vua Hùng, vua An-Dương vua Trưng làm một. Bởi vậy mới có câu: “Đạo pháp bất dị quốc đạo”.

Vì nước mất đã lâu, nay các ngài dựng lại được, nên người đương thời dùng câu Thầy tăng mở nước để ghi nhớ công ơn.

Đạo-pháp, dân tộc là một không có nghĩa toàn thể tộc Việt phải sống trong đạo Phật, mà có nghĩa: Đem đạo pháp của đức Thế-Tôn ra giúp dân tộc. Đem đức từ bi, hỷ xả làm căn bản trong việc trị dân.

Giai đoạn hai, chỉ rõ một Phật-tử trong ngôi vị hoàng đế, đem đạo pháp ra trị nước, làm cho dân chúng ấm no, sung sướng như thời vua Hùng, vua Trưng. So sánh với Trung-nguyên bấy giờ hoàn toàn dùng Nho, khác hẳn. Thế nhưng không có ma sao có Phật? Bởi vậy trong triều Thuận-Thiên hoàng đế (Lý Thái-tổ) quên ăn, quên ngủ lo cho dân, thì ma qủi hiện ra dưới lớp Hồng-thiết giáo. Lại có những con ma, con quỷ đội lốt tăng ni như Nguyên-Hạnh, Hoàng-Liên, Thạch-Phụng.

2. Đến giai đoạn ba thời đại Tiêu-sơn biến sang một nét mới, thuật công cuộc phòng ngự biên cương phía Bắc của 207 khê động, tức các bộ lạc dân tộc thiểu số. Suốt mấy nghìn năm, cho đến nay, các khê động như hàng rào, bảo vệ Bắc-cương Đại-Việt.

Vào thời vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng, lãnh thổ nước ta tới hồ Động-đình. Riêng lĩnh địa quận Giao-chỉ gồm lưu vực sông Hồng tức Bắc-Việt ngày nay và vùng lưu vực sông Tả-giang, Hữu-giang tức vùng Nam Trung-quốc như : Lộc-xuân, Nguyên-dương, Khâu-bắc, Văn-sơn, Phú-định (thuộc Vân-Nam). Một phần phía Tây-Nam sông Tả-giang như Điền-lâm, Bách-sắc, Điền-dương, Điền-Đông, Sùng-tả, Bồ-Bắc, Nhạc-xuyên thuộc Quảng-Tây.(1)

Những năm 1981-1982-1983 khi công tác cho Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (Coopérative Européenne Pharmaceutique, viết tắt là CEP), Ủy-ban trao đổi Y-học Pháp-Hoa (Comité Médical Franco-Chinois, viết tắt là CMFC) du hành sưu khảo trong các vùng trên, tôi đã được phỏng vấn trước sau gần năm mươi giòng họ trong vùng này. Có tới bốn mươi ba giòng cho biết gia phả chép rằng, tổ tiên họ vào thời Tống còn là người Việt. Tôi cũng mò mẫm vào bảo tàng viện địa phương, cơ quan bảo tồn di tích cấp xã để nghiên cứu về kết quả những cuộc khai quật trong các vùng nói trên.

Một số mộ tìm thấy những viên gạch trên nắp quan tài ghi tên người quá cố với những niên hiệu của:

    Vua Lê-đại-Hành như Thiên-Phúc (980-988) Hưng-thống (989-993) Ứng-thiên (994-1005),
    Vua Lý Thái-Tổ như Thuận-Thiên (1010-1028), Lý Thái-Tông như Thiên-Thành (1028-1033) Thông-Thụy (1034-1037).

Di tích gần nhất là ngôi mộ giòng họ Quách ở vùng Điền-Đông thuộc Quảng-Tây ghi:

    Quách công húy Tuần. Thụy Minh-Mẫn
    Chung ư thập tam nhật, thập nhị nguyệt, Tý thời
    Kim vương Đại-Định, bát niên, Ất-Mão

Nghĩa là: Ông họ Quách tên là Tuần, tên thụy là Minh-Mẫn, từ trần giờ Tý ngày mười ba, tháng chạp. Nhằm niên hiệu đức vua Đại-Định năm thứ tám, tức năm Ất-Mão. Tra trong sử, Đại-Định là niên hiệu của vua Lý Anh-Tông. Năm thứ tám là năm 1147.

Tại Khâu-bắc, Văn-sơn, Phúc-định thuộc Vân-Nam còn có đền, miếu thờ công chúa Bảo-Hòa, nhưng không biết công chúa Bảo-Hòa Lý hay Thân. Người ta đã khai quật nhiều mộ người Việt, ghi lại những di tích đời Trần với niên hiệu vua Trần Thái-Tông, Nhân-tông.

Giữa hai vùng đồng bằng Tả-giang, Hữu-giang với Trung-châu Bắc-Việt chia cách nhau bằng khu rừng núi Bắc-biên ngày nay. Trong đám rừng núi này có 207 nhóm sắc tộc Mèo, Thái, Mán, Nùng, Tày, Mường. Sử gia Trung-quốc gọi họ là Man-dân, hoặc Khê-động. Sự thực những khê-động là di tích của các Lạc-ấp thời vua Văn-lang, Âu-lạc, Lĩnh-Nam còn sót lại.

Khi Mã Viện chiếm trọn Lĩnh-Nam. Y trồng một cột Đồng-trụ ở biên giới Giao-chỉ, Quế-lâm, Tượng-quận. Nếu vậy, đồng trụ phải nằm ở khu tứ giác Nam-ninh, Liễu-châu, Bắc-sắc, Nam-đơn, chứ không thể nằm trong lãnh thổ Bắc-Việt.

Thời vua Ngô đánh quân Nam-Hán, ngài chỉ đuổi chúng khỏi trung châu Bắc-Việt, tới vùng núi non Bắc-cương ngày nay, tức đuổi khỏi phần lưu vực sông Hồng, chứ không đuổi khỏi lĩnh địa Giao-chỉ cũ. Từ đấy biên cương Hoa-Việt ngăn cách nhau bằng khu núi non Bắc-cương với 207 khê động.

Trong thời gian Bắc-thuộc, các khê-động và biên cương không đặt ra. Vì người Hoa coi toàn thể lãnh thổ ta thuộc Thiên-hạ tức đất của họ.

Lúc vua Lê Đại-Hành đánh Nam-Hán, cũng không chiếm lại lãnh thổ Lĩnh-Nam cũ đã đành, mà không đòi lại toàn vẹn cố thổ Gia-chỉ. Thành ra các khê-động khi ta mạnh theo ta, khi Tầu mạnh theo Tầu.

Đến đời Lý, Đại-Việt giầu mạnh, triều đình mới nghĩ đến việc chiếm lại 207 khê động, vì biết mình ở gần, Tống ở xa.

Việc đầu tiên, vua Lý Thái-Tổ (Thuận-Thiên hoàng đế) phong cho Thân Thiệu-Anh thống lĩnh 207 khê-động. Ngài gả công chúa thứ nhì cho con Thiệu-Anh là Thừa-Qúy, với sắc phong Lĩnh-Nam bảo-quốc, hoà dân công chúa, gọi tắt là công chúa Bảo-Hòa. Hai người ra sức tranh dành thống nhất các khê động nhưng không thành.

Con của công-chúa Bảo-Hòa cùng phò mã Thân Thừa-Quý là Thân Thiệu-Thái lại được vua Lý Thái-Tông gả công chúa Bình-Dương cho. Chính công chúa Bình-Dương, cùng phò mã Thân Thiệu-Thái đã thành công trong việc chiếm lại toàn vẹn 207 khê động, thống nhất thành nước Bắc-biên. Hai vị còn tiến lên phía Bắc vùng núi đi vào vùng lưu vực Tả, Hữu-giang.

Bộ sách này thuật giai đoạn chiến tranh đó. Giai đoạn dành cố thổ trong thời đại Tiêu-sơn mang tên Bình-Dương ngoại sử, Bình-Dương ngoại truyện hoặc Anh-hùng Bắc-cương.

Tiếc thay, vùng đất đồng bằng phía Bắc của 207 khê động, vào thời Lê giặc Mạc Đăng-Dung hiến cho quân Minh, và vào thời Pháp thuộc người Pháp cắt phần nữa cho Trung-hoa dân quốc (2) Đau hơn, gần đây cuộc chiến tranh Hoa-Việt. Việt bị mất 56 xã thuộc vùng Cao-lạng (3) . Sau cuộc chiến, phía Việt quên, không nhắc nhở gì tới đòi lại.

3. Huyền sử kể rằng quốc tổ Kinh-Dương kết hôn với công chúa con vua Động-đình. Rồi quốc tổ Lạc-Long kết hôn với công chúa Âu-Cơ. Sau khi kết hôn cả hai vị quốc tổ đều đưa quốc mẫu lên núi Tam-sơn trên hồ Động-đình hưởng thanh phúc ba năm. Khi các vị lên núi Chín vạn hoa tầm xuân nở. Sau này, vào thời Lĩnh-Nam, anh hùng cũng đại hội trên núi Tam-sơn tuyên cáo khởi binh. Tiếp theo, có hai trận đánh kinh thiên động địa xẩy ra tại đây.

Phía Nam hồ Động-đình là sông Tương chảy theo hướng Bắc về Nam, qua Hồ-Nam, Quảng-Tây. Bên hữu ngạn sông Tương có ngọn núi Thiên-đài là nơi vua Đế-Minh lập đàn tế cáo trời đất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc (nay là Trung-quốc) tức vua Nghi; con thứ làm vua phương Nam (nay là Việt-Nam) tức vua Kinh-Dương. Di tích đó nay vẫn còn.

Huyền sử ghi rằng: Lạc-Long quân chia trăm con đi khắp nơi qui dân lập ấp, mỗi năm hội nhau tại cánh đồng Tương một lần.

Vì những lý do đó, đầu năm 1981, tôi lấy máy bay đi Bắc-kinh, đổi máy bay từ Bắc-kinh đi Trường-sa. Từ Trường-sa tôi dùng xe đi lên Nhạc-dương trấn, rồi thuê xuồng thăm hồ Động-đình, núi Tam-sơn, Quân-sơn. Tôi quan sát chi tiết phong cảnh, hoa cỏ vào tiết Xuân để tường thuật cuộc khởi nghiã cùng hai trận đánh vào thời vua Trưng cho đúng.

Sau đó tôi đi thăm Tương-đài, ba cánh đồng Tương: Tương-Nam, Tương-trung, Tương-Âu và Thiên-đài.

Trong bộ Anh-hùng Bắc-cương này, tôi sẽ thuật chi tiết những sự kiện đó.

Xin kính mời quý độc giả đọc Anh-hùng Bắc-cương, để thấy tổ tiên ta anh hùng như thế nào.

Viết tại Paris ngày giỗ tổ Hùng-vương năm Tân-Mùi (1991).

Ghi chú

(1) Độc giả có thể tìm hiểu rõ ràng hơn vấn đề này xin đọc những bài nghiên cứu về lịch-sử, địa lý, triết học , văn hóa Việt của các vị học giả đã đi tiên phong như: Nguyễn Đăng-Thục, Lương Kim-Định, Thái Văn-Kiểm.

(2) Hoàng-xuân-Hãn, Lý-thường-Kiệt, nhà xuất bản Sông-Nhị Hà-nội 1949. Trang 88.

(3) Việc này xẩy ra năm 1978.

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103136
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49576 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Postby DaMinhChau » September 28th, 2017, 10:10 pm


QUYỂN I
– hồi 61 — 70 –


Hồi thứ sáu mươi mốt

Phật tính, Ma tính




Nhật-Hồ lão nhân hướng Minh-Thiên chắp tay:

– Đại sư! Năm nay lão phu đúng một trăm tuổi. Không biết đại sư niên kỷ đã bao nhiêu?

Minh-Thiên đáp lễ:

– So về tuổi tác, khi tiên sinh thành danh, cùng với Đông-Nhật lão nhân lập lên nhà Hán, lúc ấy tiểu tăng chưa ra đời. Năm nay tiểu tăng sáu mươi tuổi.

Minh-Thiên lại vái liền hai vái:

– Tiểu tăng nghĩ niên kỷ, đức độ đã kém, đâu dám so với tiên sinh? Nhưng vì có lệnh của Bình-Nam vương, tiểu tăng đành cam thất lễ.

Nhật-Hồ lão nhân vui vẻ:

– Lão phu vắng bóng trên giang hồ hơn hai chục năm nay, bây giờ mới xử dụng lại võ công, không biết có chịu nổi mười chiêu của cao tăng đắc đạo không. Nhưng vì thể diện đất nước, lão phu đâu dám sợ nguy hiểm. Hôm nay, lão phu là chủ, đại sư là khách, lão phu xin nhường đại sư ra chiêu trước.

Tự-Mai nói nhỏ với Tôn Đản:

– Lão này thực đáng sợ. Cứ nghe lời nói cùng hành xử của lão, rõ ra đại tôn sư võ nghệ, đạo cao đức trọng. Có ai dám ngờ lão là một đại ma đầu, giết người không gớm tay. Kể cả Trung-quốc, Đại-Việt, số người mà Hồng-thiết giáo của lão giết, thây chất ắt cao hơn mấy chục ngọn Hoàng-liên sơn.

Trần Kiệt gật đầu:

– Suốt cuộc đời lão, lúc nào lão cũng ngọt ngào, từ ái, khoan thai. Kể cả lúc lão xử tử người ta, lão cũng nhỏ nhẹ như vậy. Thành ra nhiều người lầm lẫn, chết vì cái ngọt của lão.

Quảng trường im lặng đến không một tiếng động. Vì võ lâm đều muốn nghe, muốn kiến thức đại tôn sư của hai nước giao đấu.

Minh-Thiên biết, với thân phận của Nhật-Hồ, lão không thể xuất chiêu trước. Ông chắp tay:

– Xin thất lễ.

Tay phải nắm thành quyền. Tay trái xòe thành chưởng. Ông quay tròn đẩy về trước một chưởng. Chưởng chưa phát ra hết, mà mọi người trên đài muốn nghẹt thở.

Nhật-Hồ lão nhân khum tay như ưng vồ mồi, đẩy về trước một chưởng. Ầm một tiếng. Cả hai lảo đảo lui lại. Đại tôn sư của bang Hồng-hà Sử Canh. Bang Đông-hải Hùng Cơ. Phái Phật-thệ Chế Ma Thanh. Phái Vạn-tượng Phủ Văn. Phái Cửu-long Kim Sinh, vì công lực kém, phải nhảy xuống đài, để tránh áp lực làm bị thương.

Nhật-Hồ cất tiếng khen:

– Kim-cương ban nhược chưởng của phái Thiếu-lâm quả danh bất hư truyền.

Qua một chiêu đầu Minh-Thiên cảm thấy công lực của Nhật-Hồ thực khủng khiếp. Trong nhu có cương, trong cương có nhu. Trong chính có tà. Trong tà có chính. Bảo rằng tinh diệu cũng thực tinh diệu. Bảo rằng dũng mãnh cũng thực dũng mãnh. Trong tâm ông kinh hãi:

– Trước đây Đông-Nhật lão nhân Lưu Trí-Viễn, đơn chưởng qui tụ đệ tử lập ra nhà Hán, vang bóng một thời. Anh hùng Trung-Quốc không ai địch nổi. Thế mà lão già này lại là sư phụ của Trí-Viễn, quả thực lão không tầm thường.

Minh-Thiên tấn công liền bảy chiêu. Mỗi chiêu biến thành bẩy nữa hoá ra bốn mươi chín chiêu. Đây là một tuyệt kỹ đệ nhất của phái Thiếu-lâm, Minh-Thiên thắng khắp anh hùng thiên hạ nhờ chiêu này. Mỗi chiêu đánh ra, chưởng phong cực kỳ trầm trọng.

Nhật-Hồ lão nhân từng giao đấu với đủ hạng người Hoa, Việt. Tuy chưa biết chiêu chưởng này. Nhưng lão chỉ đỡ chiêu đầu đã hiểu được nguyên lý. Lập tức lão không đỡ nữa, mà phát ra bẩy chiêu cực kỳ thô kệch. Cứ mỗi chiêu lão phát ra, chạm vào chưởng phong của Minh-Thiên, lại bật lên tiếng ầm. Minh-Thiên phải lui một bước.

Khi hết bẩy chiêu, Nhật-Hồ quay tròn người, chưởng phong hai tay lão hóa ra thành đồng vách sắt. Minh-Thiên ngơ ngác, vì trên đời ông chưa từng thấy thứ võ công này bao giờ. Nhật-Hồ vừa quay tròn, vừa tiến lại, bất đắc dĩ ông phải đẩy một chiêu Kim-cương ban nhược chưởng vào người lão. Nhưng chưởng vừa ra, lập tức kình phong của ông, hợp với kình phong của lão hoá thành lớp chân khí mới đẩy ngược lại ông. Kinh hoàng ông vội thu chân khí lại, lão đã sát người ông. Ông phi thân lên cao, tránh thế tấn công kỳ quái. Ở trên cao, ông đá gió một cái, người rơi xuống giữa đài.

Dưới dài, Thanh-Mai hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân, võ công này phải chăng nằm trong Hồng-thiết kinh?

Đỗ Lệ-Thanh gật đầu:

– Thưa cô nương đúng thế. Chiêu vừa rồi gọi là Cuồng phong đại tuyết. Nguyên bên xứ Tây-vực, hàng năm tuyết rơi đến năm tháng. Khi tuyết rơi, gặp gió, thường biến thành lốc tuyết. Nếu Minh-Thiên đánh thẳng vào đó, sẽ bị khí hàn lãnh nhập cơ thể, chân tay tê liệt mà mất mạng. Chiêu này gồm năm biến. Nhật-Hồ mới xử dụng có bốn biến.

Trên đài Minh-Thiên đã phản công. Kim-cương ban nhược chưởng lấy yếu chỉ trong kinh Kim-cương thuộc Vô-nhân tướng thiền công. Nguyên Thiền-công nhà Phật có ba lọai gồm Vô-nhân tướng, Vô-ngã tướng, Vô-chúng sinh tướng. Cả ba hợp lại thành Vô-ngã tướng.

Khi xưa đức Thích-ca Mâu-ni, khi ngồi dưới gốc cây Bồ-đề tìm lẽ giải thoát, có không biết muôn vàn ma vương, quỷ dữ mà ngài mắc nợ với chúng từ bao kiếp trước kéo đến đòi nợ. Ngài đã tìm ra phép Thiền, để giải những nghiệp dĩ đó, rồi đi tới vô thượng chính đẳng chính giác tức đắc đạo. Sau ngài truyền cho đệ tử là Ma-ha Ca-Diếp. Từ Ma-ha Ca-diếp, truyền đến đời thứ tám là ngài Tăng-Giả Nan-Đà.

Ngài Tăng-giả Nan-Đà đến Lĩnh-Nam hoằng dương đạo pháp, truyền cho công chúa Trần Năng, Phật-Nguyệt và Trần Thị Phương-Chi trong khi bốn bà đang dự trận hồ Động-Đình. Từ sau trận đánh Hằng-sơn, Phật-Nguyệt với Trần Thị Phương-Chi bỏ đi tu rồi tuyệt tích. Còn Trần Năng, khi Bắc-bình vương Đào Kỳ với vương phi Phương-Dung tuẫn quốc, bà cùng Hùng Bảo bỏ vào Cửu-chân kháng chiến. Lúc thế nước tuyệt vọng. Bà đem khắc hết Vô-ngã tướng thiền công vào trong động Xuân-đài, về sau Bố-cái Đại-vương học được. Nay Khai-Quốc vương với Tự-Mai vô tình tìm ra, luyện nhưng chưa thành tựu.

Thiền-công Vô-ngã tướng còn chép trong bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, mà Mỹ-Linh đã luyện thành.

Hai loại thiền công này vẫn tồn tại. Trong khi tại Tây-trúc đã tuyệt tích. Kể từ Phật Thích-ca, đến đời thứ hai mươi tám bên Tây-trúc, ngài Bồ-đề Đạt-ma cỡi thuyền đến Lĩnh-Nam truyền đạo. Ngài Bồ-đề Đạt-Ma lại chỉ học được loại thiền công Vô-nhân tướng. Sau khi ở Lĩnh-Nam ít lâu, ngài sang Trung-nguyên, lập ra phái Thiếu-lâm. Cho nên yếu chỉ thiền công mà Minh-Thiên dùng tức Vô-nhân tướng công. Về sau tổ thứ ba của phái Thiếu-lâm tên Tăng-Sán, đã nhân luyện thiền, rút yếu chỉ trong kinh Kim-cương, chế ra ba mươi sáu chiêu Kim-cương ban nhược chưởng.

Cứ bình tâm mà xét, bất cứ cao thủ của phái nào, dù cao đến đâu, cũng không thể đấu với Nhật-Hồ lão nhân. Bởi vì lão thành một thiên tài võ học. Hơn nữa lão đã có một trăm năm công lực. Võ công của lão vốn rút từ Hồng-thiết kinh, một kinh của tà ma bên Tây-thiên. Với công lực đó, từ mấy chục năm nay, không ai đỡ nổi của lão mười chiêu. Trước đây, chỉ có Vạn-Hạnh thiền sư đấu ngang tay được với lão mà thôi. Nay thêm Minh-Thiên chịu được mấy chục chiêu, đã tạo một kỳ tích. Vì Thiền-công của ông thuộc Phật gia, có thừa tính chất hoá giải bất cứ ma nghiệp, ma công nào. Cho nên mỗi chiêu Nhật-Hồ đánh ra, đều bị Kim-cương chưởng hoá giải hết.

Những cao thủ nhìn cuộc đấu, đều nhận thấy công lực, chiêu số của Nhật-Hồ tinh diệu, hùng mạnh hơn Minh-Thiên nhiều. Mỗi chiêu lão đánh ra như núi lở, như thành nghiêng, nhưng chạm vào chưởng Minh-Thiên, lại biến mất.

Đấu được hơn trăm hiệp, thình lình Nhật-Hồ lão nhân đánh ra một chiêu rất hung hiểm. Đám cao thủ phái Tản-viên la lớn:

– Ác ngưu nan độ.

Bình một tiếng. Minh-Thiên bật lui liền ba bước, mặt đỏ gay. Trong khi Nhật-Hồ lão nhân thản nhiên như không. Thấy thành công, lão tỉnh ngộ, phát chiêu nữa đến vù một cái. Minh-Thiên nghiến răng đỡ. Ầm một tiếng, ông bật lui liền ba bước, người lảo đảo.

Đám đệ tử phái Mê-linh lại kêu lên:

– Thiết kình phi chưởng.

Nguyên Nhật-Hồ lão nhân có rất nhiều giáo chúng thuộc đủ mọi môn phái qui phục. Trong khi đàm luận, lão học được một số chiêu thức võ công Đại-Việt. Bây giờ vô tình lão đem xử dụng lại thắng thế.

Lão nghĩ thầm:

– Chưởng của mình do hai vị thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh chế ra không thể thắng nổi Kim-cương ban-nhược chưởng của bọn tà ma Phật từ Tây-trúc truyền qua. Trong khi chưởng của Lĩnh-Nam, lại thắng dễ dàng là tại sao? À phải rồi, tất cả võ công cổ của Lĩnh-Nam đều do lòng tin vào thần quyền nhảm nhí tức một loại tà ma. Ta xử dụng mà đắc thế chẳng qua lấy tà chọi tà.

Nhật-Hồ lão nhân theo Hồng-thiết giáo từ nhỏ. Lão tin tưởng tuyệt đối vào tôn giáo của mình. Mà quan niệm của Hồng-thiết giáo, tất cả tôn giáo khác đều thuộc tà ma ngoại đạo, phải giết hết. Ai càng giết nhiều giáo chúng ngoài Hồng-thiết giáo, khi chết về với thế giới Mã-Mặc, Lệ-Anh sẽ càng mau trở thành thần, thành thánh. Lão u mê như vậy, nên lão giết người lại coi như một nhiệm vụ.

Hôm nay, lão thấy võ công Hồng-thiết của mình rõ ràng cực kỳ cao thâm. Cực kỳ tinh diệu, lại không thắng nổi Kim-cương ban-nhược chưởng. Trong khi lão chỉ dùng mấy chiêu tạp nhạp của Đại-Việt lại thắng Minh-Thiên dễ dàng. Lão quy vào Hồng-thiết là võ công Thánh không thể thắng võ công nhà Phật, một thứ võ công tà ma. Phải dùng võ công Lĩnh-Nam, cũng một thứ tà ma mới thành công. Tức dĩ độc, trị độc.

Lão tiếp tục phát những chiêu thức lẻ tẻ của các phái, bằng công lực cực kỳ cao thâm. Đến chiêu thứ mười, Minh-Thiên bay tung xuống đài. Ông oẹ một tiếng, miệng phun ra máu. Ông nghiến răng, ngồi dậy, điều tức, mửa ra một búng máu nữa. Là cao tăng đắc đạo, thắng bại đối với ông không quan trọng. Ông khoan thai lên đài chắp tay:

– Lão nhân! Bần tăng chịu thua lão nhân.

Nói rồi ông định bước xuống đài. Bỗng thấp thoáng, một người từ dưới đài nhảy lên, chính là Thiếu-Mai. Nàng móc trong bọc một bình thuốc, đổ ra bốn viên, hai tay dâng lên cho Minh-Thiên:

– Đại sư! Tiểu nữ xin cúng dàng bốn viên thuốc này. Đại sư dùng ngay đi, e không bị nội thương nặng.

Minh-Thiên cầm lấy mấy viên thuốc bỏ vào miệng. Ông chắp tay tạ Thiếu-Mai:

– Đa tạ tiểu cô nương.

Ông xuống đài, tư thái nhẹ nhàng, tựa như không thiết tha đến sự thua được vừa rồi. Qua cuộc đấu, rõ ràng ông chiến đấu vì Tống, có hại cho Đại-Việt. Nhưng tư thái đạo mạo, thanh thản của một cao tăng đắc đạo đã khuất phục quần hùng.

Sư thái Tịnh-Tuệ hướng vào Triệu Thành:

– Triệu thí chủ. Khi thí chủ nhận cho hai bên Tống, Việt đấu ba trận. Nếu bên Việt thắng hai, sứ đoàn phải quỳ gối làm lễ đủ tám lễ trước bàn thờ anh hùng đất Việt. Sau nữa không được bàn đến việc niên hiệu, quốc danh nữa. Nay Đại-Việt thắng, xin các vị giữ lời hứa cho.

Mặt Triệu Thành xám như tro. Y vẫy tay gọi thủ hạ lên đài. Trần Tự-An, Đoàn Huy thắp hương trao cho sứ đoàn. Triệu Thành cùng cả bọn quỳ gối lễ đủ tám lễ. Lễ xong y nói:

– Khi xưa ngài Đào Kỳ được vua Quang-Vũ nhà Hán phong tước Hán-trung vương. Nay tại hạ được phong Bình-Nam vương, thuộc hàng con cháu. Hán-trung vương làm đại công thần nhà Hán. Tại hạ lễ trước bàn thờ ngài để tỏ lòng hiếu kính bậc tiền bối. Hy vọng sau này đất Giao-chỉ sẽ còn nhiều anh hùng vì Trung-quốc ra sức, để tiếp nối sự nghiệp của Hán-trung vương.

Sư thái Tịnh-Huyền nói:

– Bần ni nhân danh võ lâm Đại-Việt kính mời các vị ở lại thụ lộc, uống chén rượu nhạt. Không biết các vị có nhận cho không?

Triệu Thành lắc đầu. Y nói với Nhật-Hồ:

– Tiên sinh! Vãn bối xin phép tiên sinh được nói mấy câu với Nam-bình vương Lý Công-Uẩn.

Nhật-Hồ lão nhân gật đầu:

– Dĩ nhiên được. Triệu đại hiệp không thể nhân đanh Bình-Nam vương ra lệnh cho võ lâm Đại-Việt. Nhưng vẫn có thể nhân danh sứ thần triều Tống, nói với Đại-Việt hoàng đế.

Triệu Thành vận khí vào đơn điền nói lớn:

– Nam-Bình vương gia. Khi vua Thái-tông bản triều còn tại thế, người hằng băn khoăn về đất Giao-chỉ này, nơi rồng nằm hổ phục. Niên hiệu Thiên-phúc thứ nhì (981), thiên triều nghe lời sàm tấu của bọn biên thần, sai Hầu Nhân-Bảo, Tôn Toàn-Hưng, Quách Quân-Biện mang quân sang đánh Giao-chỉ. Vì vậy mới xẩy ra trận Bạch-đằng, Chi-lăng. Sau người cho điều tra, biết rằng bị sàm tấu, đã ra lệnh chém bọn chúng, rồi sắc phong cho Lê Hoàn làm Giao-chỉ quận vương. Suốt bao năm, Lê Hoàn trấn phương Nam, làm cho dân chúng ấm no, giặc cướp không còn. Hàng năm sai sứ sang triều kiến, lễ số không thiếu. Vì vậy tiên hoàng không ngớt lời khen y, gia phong chức tước.

Ngừng lại một lúc, y tiếp:

– Công đức của Lê Hoàn khiến tiên hoàng dự định cải Giao-chỉ thành nước An-Nam. Đến đời Chân-tông niên hiệu Cảnh-đức thứ nhì (1005) giữa lúc triều đình định sai sứ sang sách phong, thì Lê-Hoàn chết. Sau đó các con tranh nhau. Cuối cùng Ngoạ-triều lên nối ngôi, tàn ác quá đáng, nên Thiên-triều không thể phong cho làm vua một nước.

Y hắng rặng một tiếng, rồi tiếp:

– Long-Đĩnh chết. Bấy giờ vương gia đang làm Tả-thân vệ điện tiền chỉ huy sứ, tự lên kế ngôi thay Long-Đĩnh. Thiên-triều nhiều lần sai sứ sang dục vương gia tìm con cháu nhà Lê tái lập chính thống. Nhưng vương gia đều thượng biểu rằng con cháu nhà Lê không còn ai. Thiên triều cũng tin vậy, phong cho vương gia tước Nam-Bình vương, tạm quyền trị nước. Thế mà vương gia tiếm xưng đế hiệu Thuận-Thiên, quốc hiệu Đại-Việt. Như vậy thực quá lắm.

Y chỉ vào Hồng-Sơn đại phu:

– Năm trước đây, Thiên-Thánh hoàng-đế cử tiểu vương đi sứ, mục đích tìm con cháu nhà Lê. Hay đâu trời không phụ lòng người, tiểu vương tìm được Nam-Quốc vương Lê Long-Mang, chính là nhân vật kỳ vĩ, võ công vô địch thiên hạ, ơn đức trải khắp Hoa-Việt. Tiểu vương về tâu lại, ắt hẳn Thiên-triều sẽ phong cho Nam-Quốc vương làm hoàng đế, quốc hiệu vẫn còn tên Đại-Việt. Niên hiệu tùy Nam-Quốc vương chọn.

Y ngừng lại nghỉ để thở mấy hơi rồi tiếp:

– Vậy tiểu vương nghĩ Nam-Bình vương nên trả ngôi chính thống cho họ Lê. Vạn nhất vương không trả, cái gì sẽ xẩy ra? Võ lâm Giao-chỉ sẽ nổi dậy chống vương. Phái Sài-sơn dĩ nhiên chống vương. Phái Đông-a đã hai đời thân Lê. Đương kim Thiên-trường ngũ kiệt vốn bạn cũ của Hồng-Sơn đại phu, ắt phái Đông-a thành đạo quân chính kéo về Thăng-long. Chiêm-thành, Chân-lap, Lão-qua sẽ đem quân vào. Đại quân Thiên-triều ở hai lộ Quảng hơn trăm vạn vượt biên tiến sang. Như vậy liệu vương gia có giữ nổi không? Việc đó tùy vương gia xử trí.

Triệu Thành để ý, thấy Hồng-Sơn đại phu có vẻ rửng rưng với lời nói của y. Y chửi thầm:

– Thằng Lê Long-Mang này kiến thức không tầm thường, lại thêm con vợ đẹp như tiên của nó luôn công kích Thiên-triều. Có khi y đổi ý kiến cũng nên. Đã vậy ta bốc lão già hiếu danh Nhật-Hồ lên cho bọn Nam-man đánh nhau chơi, có như thế ta mới tiến quân sang được.

Nghĩ vậy y cúi đầu trước bàn thờ lễ tám lễ rồi tiếp:

– Thưa các vị anh hùng con cháu Bắc-bình vương. Qua ba trận đấu vừa rồi, tiểu vương thấy võ công Giao-chỉ thịnh hơn bao giờ hết. Giao-chỉ xứng đáng thành Đại-Việt. Người cai trị Đại-Việt không phải quận vương, mà phải thành hoàng đế. Đại-Việt hoàng đế chỉ có thể là Nam-Quốc vương. Nếu vì lý do nào đó, các vị không tin tưởng vào Nam-Quốc vương, phải cử lấy một vị đại tôn sư võ lâm lên thay. Thiên-triều cũng sẽ phong làm Đại-Việt hoàng đế, và tránh khỏi chiến tranh. Thôi, tiểu vương xin lui. Sau hai ngày nữa, tiểu vương sẽ đến Cổ-loa xem duyệt binh, chờ kết quả quyết định của Nam-Bình vương cùng các vị tôn sư võ lâm.

Nói rồi y định xuống đài, thấp thoáng bóng xanh, Thanh-Mai nhảy lên, đứng cạnh y. Y giật mình lùi lại, miệng lắp bắp:

– Trần cô nương. Từ Thiên-trường cách biệt, cô nương vẫn mạnh chứ?

Miệng nói, mà tim y đập rộn ràng. Dưới ánh nắng hè, da mặt Thanh-Mai hồng hào, tươi đẹp như một bông hoa lan mới nở, đang khoe sắc. Quần hùng thấy thế khinh thân của nàng vừa mau, vừa nhẹ, tỏ ra nội công thâm hậu vô cùng. Khi nhìn rõ thấy vẻ đẹp sắc sảo của nàng, giới trẻ bật lên những tiếng suýt xoa. Thanh-Mai chắp tay thi lễ:

– Tiểu nữ Trần Thanh-Mai, đệ tử phái Sài-sơn, xin kính cẩn ra mắt Triệu vương gia.

Triệu Thành kinh ngạc:

– Trần cô nương! Rõ ràng cô nương thuộc phái Đông-a, hơn nữa là ái nữ của vị chưởng môn danh trấn thiên hạ, cớ sao lại xưng làm đệ tử phái Sài-sơn?

Thanh-Mai cười rất tươi:

– Dĩ nhiên, gia nghiêm làm chưởng môn phái Đông-a. Nhưng tiểu nữ được Hồng-Sơn đại phu ưu ái thu làm đệ tử. Không những thu làm đệ tử, mà được coi như ái đồ của người. Vương gia có biết tại sao không? Trong mười đại đệ tử của người, tiểu nữ vốn nhỏ tuổi nhất, vì vậy cũng được sư phụ cưng chiều.

Triệu Thành thấy Thanh-Mai lên đài, y biết thế nào cô gái xinh đẹp này cũng gây sự với mình chứ không sai. Y hỏi:

– Không biết cô nương có điều chi dạy bảo? Kể từ ngày gặp gỡ cô nương lần đầu, tại hạ thấy không gian như thu hẹp lại, trăm hoa kém tươi. Tại hạ những tưởng về Trung-nguyên, cử mai mối, đem xe vàng đón cô nương làm vương phi. Thế nhưng… thế nhưng cô nương cứ theo làm khó dễ tại hạ hoài, đạo lý ở chỗ nào?

Thanh-Mai dõng dạc nói:

– Triệu vương gia ơi, tiểu nữ không hề làm khó dễ vương gia. Bình tâm mà xét, trong thiên hạ, vương gia chỉ ngồi dưới có Thiên-Thánh hoàng-đế, mà ngồi trên trăm triệu người, uy quyền biết mấy. Võ công kiến thức vương gia lại xuất chúng. Đương nhiên vương gia trở thành nguồn ước mơ của các thiếu nữ thiên hạ. Khi vương gia mới gặp tiểu nữ. Vương gia đã tỏ ý cầu thân. Tiểu nữ có phải gỗ đâu mà không cảm động?

Nàng ngừng lại chỉ vào Hồng-Sơn đại phu:

– Huống hồ cứ như lời vương gia nói, vương gia sang đây mục đích vì sư phụ của tiểu nữ, hưng diệt, kế tuyệt. Vương gia đã đến Vạn-thảo sơn trang cùng Thiên-trường tặng lễ vật lớn cho sư phụ cùng gia nghiêm tiểu nữ. Với bằng ấy lý do, đời nào tiểu nữ dám vô phép với vương gia, mà vương gia bảo rằng tiểu nữ làm khó dễ?

Nàng đưa mắt nhìn Đoàn Huy, rồi tiếp:

– Có điều tiểu nữ sinh làm gái Việt. Vương gia ơi, gái Trung-quốc lấy chồng, chỉ biết có chồng. Chồng là nhất. Nhưng gái Việt lại khác. Gái Việt yêu nước hơn yêu chồng. Chồng đứng thứ tư, sau nước, sau sư phụ, và sau song thân.

Cả quảng trường vỗ tay vang dội, hết tràng này đến tràng khác.

Người người tán tụng:

– Đệ tử danh gia có khác. Nói năng đúng đạo lý. Hành xử đâu ra đấy.

– Truyện! Một kiến thức của ông bố đã làm nghiêng thiên hạ rồi. Huống hồ thêm kiến thức của Hồng-Sơn đại phu!

– Người ta đồn nàng là một trong Thuận-Thiên cửu hùng thì phải. Em kết nghĩa của Khai-Quốc vương. Nghe đâu Thuận-Thiên hoàng đế định phong làm Vương phi Khai-Quốc vương đấy.

– Nếu hoàng-cung có một Vương-phi như vậy thực phúc đức quá. Nghe đâu phen này Hồng-Sơn đại phu được Thiên-trường đại hiệp hỗ trợ về đòi lại ngôi vua. Thế không biết nàng theo sư phụ với bố hay theo nghĩa huynh.

– Chắc theo sư phụ. Nàng vừa nói: Gái Việt coi trọng nhất nước thứ đến sư phụ. Chồng đứng thứ tư kia mà.

– Cứ chờ xem!

Thanh-Mai đợi cho tiếng vỗ tay ngưng, nàng tiếp:

– Suốt hơn năm qua, mỗi bước chân đi của vương gia, tiểu nữ hằng theo dõi. Vì vậy, hôm nay vương gia tới đây, ngỏ lời với anh hùng về ngôi chính thống của Đại-Việt, tiểu nữ bắt buộc phải lên tiếng.

Triệu Thành kinh hoảng:

– Con nhỏ này kiến thức thực bao la, trí mưu không thua ai. Mình không cẩn thận e nguy với nó. Bất cứ nó nói gì, ta cứ chối biến là xong.

Y làm ra vẻ đa tình:

– Tại hạ xin rửa tai nghe lời vàng ngọc của cô nương.

Thanh-Mai mỉm cười chỉ vào bọn Triệu Anh:

– Ngày mười tư tháng hai năm trước, tiểu nữ theo bổn sư vào Thanh-hoá dự lễ Lệ-Hải bà vương. Trên đường đi tiểu nữ gặp Tung-sơn tan kiệt cùng Quách Quỳ. Các vị ỷ lớn hiếp nhỏ, toan giết một thiếu niên thôn dã. Rồi đêm đến vào đập phá đền thờ Tương-Liệt đại vương.

Nàng vẫy tay, Tôn Đản từ dưới đài bước lên. Nó thuật tỷ mỉ cuộc đấu võ giữa nó với Quách Quỳ, sau đó bọn Triệu Thành đột nhập đền thờ Nguyễn Thành-Công phá tượng tìm di thư như thế nào một lựơt, không bỏ một chi tiết nhỏ.

Triệu Thành biết không chối được. Y tự biện lý:

– Việc đó do Tung-sơn tam kiệt tự tác. Bản nhân đã nộp vàng tại trấn Thanh-hóa theo luật Giao-chỉ để chuộc tội rồi.

Quần hào đồng lên tiếng nguyền rủa. Thanh-Mai đợi cho tiếng nguyền rủa của dứt. Nàng tiếp:

– Lần đầu tiên tiểu nữ gặp Vương-gia trên núi Chung-chinh, vào ngày hôm sau, tức rằm tháng hai năm trước. Vương gia cùng với tất cả các vị tùy tòng đây không ngớt xỉ mạ võ công Đại-Việt là thứ võ công học lóm của Trung-quốc. Vương gia không hề nói đến việc tìm con cháu nhà Lê. Vương gia dụ dỗ bọn thiếu niên để chúng chỉ động Xuân-đài tìm nơi cất võ công thời Lĩnh-Nam. Trong đêm đó, vương gia dùng độc chất của Hồng-thiết giáo Trung-quốc, mưu hại đại ca của tại hạ, nhưng không thành.

Nàng vẫy tay, Tôn Trung-Luận lên đài:

– Vị tiền bối này bấy giờ đang làm ông từ giữ đền Tương-Liệt đại vương làm chứng. Ngày mười bẩy tháng hai, Vương gia cùng sứ đoàn đến lục xét đền thờ Tương-Liệt đại vương lần nữa, bắt trói ông từ tra khảo nơi cất võ kinh.

Tôn Trung-Luận tường thuật tỷ mỷ những việc xẩy ra hồi ấy. Nhưng ông cố ý lờ vụ anh em Đàm Toái-Trạng, Đàm An-Hoà phản quốc làm gian tế cho Tống, vì Khu-mật viện muốn việc bọn họ Đàm phản quốc chưa đến lúc công bố.

Nàng hướng vào công chúa Lĩnh-Nam Bảo-quốc Hoà-dân, đang ngồi trên ghế của vua Bà Bắc-biên:

– Ngày hai mươi mốt tháng hai, trong lúc chúng tôi tế Lệ-Hải Bà-vương, Đông-Sơn lão nhân, Địch Thanh, Lý Tự xuất hiện, mưu giết công chúa Bình-Dương, cùng phá đại hội. Giữa lúc đó vua Bà Bắc-biên xuất hiện, kể tội trạng nguyên Địch Thanh ăn trộm vàng của công khố Đại-Việt.

Công-chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa đứng lên kể chi tiết vụ Lý Tự toan giết Mỹ-Linh cùng việc bọn Đông-Sơn lão nhân, Địch Thanh xâm nhập Bắc-biên dụ dỗ các khê động theo Tống, ăn cắp vàng của công khố Đại-Việt. Sau đó âm thầm đi Thiên-trường, rồi vào Thanh-hoá.

Đợi công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa kể xong, Thanh-Mai thuật chi tiết bọn Tung-sơn tam kiệt cùng với Vệ-vương Đinh Toàn tìm hầm đá, chép bộ Linh-Nam vũ kinh vào cuốn sử của Mỹ-Linh. Sau đó hủy những tấm bia kia đi.

Thanh-Mai thuật đến đây, quảng trường ồn ào hẳn lên bàn tán. Quần hùng căm phẫn sứ đoàn đến cùng tận

Nguyên từ khi thành lập nước Việt cho đến thời Lý, chưa bao giờ võ học lại phồn thịnh như thời Lĩnh-Nam. Sau khi vua Trưng tuẫn quốc, các phái phải qui ẩn, bí mật thu dụng đệ tử. Vì vậy trải hơn nghìn năm Bắc thuộc, võ công bị mai một đi rất nhiều. Cho đến khi vua Ngô lập lại tự chủ, các gia, các phái mới hoạt động trở lại. Nhưng võ học thời Lĩnh-Nam, mười phần, thất lạc đến tám chín. Các đại tôn sư chỉ biết than ngắn thở dài. Trong gần một trăm năm qua, võ lâm Trung-quốc, Đại-Việt, Đại-lý, Chiêm-thành, Lão-qua thi nhau tìm di tích bộ Lĩnh-Nam võ kinh, nhưng tuyệt vô âm tín. Người ta cho rằng, ai tìm thấy bộ võ kinh đó, sẽ trở thành anh hùng vô địch, võ lâm đại đế.

Bây giờ họ nghe Thanh-Mai nói bọn Triệu Thành được Vệ-vương Đinh Toàn chỉ cho chỗ cất dấu di thư. Sau khi chép xong, bọn y phá hủy bia đá đi. Quần hùng thấy rằng, muốn tìm lại võ thuật thời Lĩnh-Nam, phải tranh dành với sứ đoàn Triệu Thành. Nhưng phái nào cũng cảm thấy e dè, vì bọn Triệu-Thành tuy ít người, nhưng gồm toàn những đại đao thủ. Vì vậy không ai muốn ra mặt gây hấn. Họ im lặng, tìm kế vạn toàn.

Thanh-Mai thuật tiếp việc bọn Tung-sơn tam kiệt bắt nàng cùng Mỹ-Linh, Bảo-Hòa đi Vạn-hoa sơn trang, Vạn-thảo sơn trang. Cùng những việc xẩy ra trong Vạn-thảo sơn trang. Nàng kết luận:

– Cho đến lúc này, vương gia mới biết sư phụ của tôi là Nam-quốc vương. Vương gia không ngần ngại gì ném Vệ-vương Đinh Toàn vào hồ nước. Tại sao? Vì Vệ-vương thân cô, thế cô, võ công lại không cao. Trong khi sư phụ tôi võ công vô địch thiên hạ. Ơn đức trải khắp lê dân. Thế mà vương gia bảo Thiên-Thánh hoàng-đế cử vương gia sang Đại-Việt hưng diệt, kế tuyệt, tìm con cháu nhà Lê! Ai mà tin được. Tôi xin mời một nhân vật tối ư quan trọng lên làm chứng. Nhân chứng ấy chính là sư mẫu tôi.

Từ chỗ phái Sài-sơn, một thiếu phụ, cực kỳ xinh đẹp trong lớp áo lụa đỏ, quần đen, dây lưng xanh, cổ choàng khăn xanh, khoan thai lên đài. Dưới ánh nắng chói chang, nước da trắng hồng, mái tóc đen nhánh óng ánh. Mỗi bước đi của nàng như muôn ngàn bông hoa trổ sắc. Người đó chính là Lâm Huệ-Phương. Quảng trường có hàng mấy vạn người, mà không một tiếng động. Muôn con mắt đều đổ vào Huệ-Phương. Không ai có thể ngờ, tạo hoá lại nặn ra con người đẹp đến như vậy.

Huệ-Phương lên đài, hướng vào bàn thờ Bắc-bình vương lễ tám lễ, rồi nàng tường thuật chi tiết việc Triệu Thành tới Vạn-thảo sơn trang thuyết phục Hồng-Sơn đại phu khởi binh cũng như thái độ trở mặt của Triệu Thành với Đinh Toàn. Huệ-Phương đã xinh đẹp, tiếng nói lại ngọt ngào, ai nghe cũng phải xiêu lòng.

Trước đây Thuận-Thiên hoàng-đế cùng ba vị hoàng hậu, tốn không biết bao nhiêu công phu mới tuyển được Huệ-Phương cho Khai-Quốc vương, với hy vọng Vương vừa ý, sau đó phong nàng làm Vương-phi. Bẵng đi hơn năm, trong ngày hội yến ở điện Long-hoa, hoàng-đế cũng như hoàng-hậu không thấy Huệ-Phương đến chầu. Các ngài cật vấn Vương. Vương im lặng chịu tội. Hôm sau, các ngài tới vương phủ điều tra, mới biết vương đã đem nàng trả cho Hồng-Sơn đại phu. Long tâm nổi giận vô cùng. Vì ngài cho rằng sự hy sinh của Khai-Quốc vương vô ích. Theo các ngài nghĩ Huệ-Phương ắt hùa theo Hồng-Sơn đại phu, khi việc thành, nàng đương nhiên trở thành hoàng-hậu. Chứ tội gì giúp họ Lý.

Hôm nay, trong lúc nguy nan, trước áp lực của Tống, của quần hùng, ngai vàng rung rinh, Huệ-Phương xuất hiện. Nàng không những không hùa theo giúp Hồng-Sơn đại phu mà lại thẳng thắn tố cáo âm mưu của Tống. Bất giác ngài đưa mắt nhìn Khai-Quốc vương. Trong khi Vương như ngây như dại, ngắm nhìn Huệ-Phương đắm đuối.

Huệ-Phương kết luận:

– Triệu vương gia. Tiểu nữ đa tạ vương gia đã chiếu cố tới phu quân của tiểu nữ. Xây đựng lại đại nghiệp của tổ tiên, ai mà chẳng muốn, chẳng cầu? Huống hồ phu quân của tiểu nữ. Tiểu nữ là gái Việt. Lấy chồng, chồng đứng hàng tư trên đời. Đạo lý Lĩnh-Nam định rằng, lấy chồng, phải gánh vác giang sơn nhà chồng. Đúng ra tiểu nữ phải nhất tâm, nhất dạ cùng đại phu lo lập lại chính thống Lê triều. Nhưng giữa chính thống Lê triều với việc an nguy xã tắc mấy ngàn năm của giòng Việt lại không thể cùng đứng trong trường hợp này.

Tiếng vỗ tay khắp quãng trường vang dội. Pháo thăng thiên tung lên nổ khắp bầu trời. Ban nhạc Hồng-thiết giáo, Sài-sơn cử bài Xuân Việt-nữ chiến Trường-an của Nguyễn Giao-Chi thời Lĩnh-Nam.

Đợi cho bản nhạc dứt, Triệu Thành chỉ vào Huệ-Phương hỏi Hồng-Sơn đại phu:

– Nam-Quốc vương gia! Vương gia thuộc giòng dõi chính thống của triều Lê. Xin vương gia quyết cho một điều, rằng vương gia muốn lập lại Lê triều hay không? Không lẽ vương gia quên mất sự nghiệp của tiên vương đã tốn không biết bao nhiêu tâm huyết xây dựng? Còn vị nữ lưu này có phải quý phu nhân không? Dù nàng có phải quý phu nhân, những gì nàng nói, có phải ý vương gia không?

Hồng-Sơn đại phu đứng dậy khoan thai nói:

– Dĩ nhiên nàng là tiện nội. Những điều nàng nói, nàng nhân danh con dân Đại-Việt. Xin vương gia đối thoại với nàng.

Huệ-Phương hướng về phía phái Sài-sơn, chỗ Hồng-Sơn đại phu ngồi:

– Hồi nãy, Trần tiểu thư đã nói: Gái Việt yêu nước hơn yêu chồng. Tiện nữ đành lỗi đạo với phu quân, đặt sự an nguy trăm họ lên trên hạnh phúc vợ chồng. Đặt sự nghiệp của Lê triều, sau sự nghiệp mấy nghìn năm của vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng. Hiện nay phía Bắc, Thiên-triều mắc vạ với Khất-đan. Phía Tây gặp Tây-hạ binh hùng tướng mạnh. Thiên-triều đành hướng xuống Nam mưu tính Đại-Việt, Chiêm-thành, Chân-lạp, Lão-qua. Sau đó đến Đại-lý. Bấy giờ có đủ lương thực, quân lính, tiến chiếm Liêu, Tây-hạ. Muốn tính Đại-Việt nhưng Thiên triều thấy đống xương ở Chi-lăng cao hơn núi, xác lấp sông Bạch-đằng chưa thông. Vì vậy phải làm cho người Việt đánh nhau. Khi cuộc nội chiến chấm dứt, võ lâm chia rẽ, tinh lực kiệt quệ, bấy giờ mới khiến Chiêm-thành từ dưới đánh lên. Lão-qua từ Tây đánh vào. Quân thiên triều từ Lưỡng-Quảng theo đường bộ tràn sang. Thủy quân Mân-Việt đổ vào vùng Thiên-trường. Sau khi chiếm được Đại-Việt, ắt Chiêm-thành, Chân-lạp, Lão-qua không đánh cũng phải qui hàng.

Triệu Thành cười ha hả, rồi nói:

– Nam-quốc vương phi. Những lời vương phi nói đó chẳng qua là lý luận. Chứ thực sự thiên triều chỉ muốn lập lại giòng giống trung thành mà thôi. Xin vương phi cho biết chứng cớ ở đâu?

Huệ-Phương mỉm cười:

– Chứng cớ ư? Ở đây có rất nhiều. Tôi để Trần tiểu thư nói ra. Vì Trần tiểu thư là một trong nạn nhân của vương gia.

Thanh-Mai vận nội lực, nói lớn:

– Triệu vương gia ơi! Triệu vương gia tài thì có tài. Nhưng phải cái vương gia khinh địch, coi Đại-Việt không người, nên việc làm của vương gia bị lộ hết rồi. Sau khi rời Vạn-thảo sơn trang, vương gia âm thầm đi Thanh-hóa, đến họp ở Hồng-hương mật cốc, phía sau chùa Sơn-tĩnh. Bọn tại hạ theo dõi biết hết.

Triệu Thành cười hả hả đánh trống lảng:

– Trần tiểu thư ái nữ của Côi-sơn đại hiệp, không lo học văn, luyện võ, mà theo dõi bọn tại hạ. Như vậy cô nương làm việc cho Khu-mật viện của họ Lý ư?

Thanh-Mai lắc đầu:

– Triệu vương gia lại quên rằng gái Việt yêu nước hơn yêu thầy, yêu cha mẹ, yêu chồng con. Khi tiểu nữ biết vương gia ẩn ẩn hiện hiện mưu hại Đại-Việt, tiểu nữ cần theo dõi. Việc phòng vệ đất nước đâu phải của Khu-mật viện, mà của tất cả con dân Đại-Việt.

Quảng trường vỗ tay vang dội. Thanh-Mai tiếp:

– Trong đêm họp ở Hồng-hương mật cốc, có bằng này người: Vương gia với các vị tùy tùng. Phía Chiêm-quốc có chưởng môn phái Phật-thệ Chế Ma-Thanh, phu nhân Mỵ-Thu, đại tướng quân Ngô Đà. Phía Lão-qua có hoàng thúc Phủ Văn cùng vương phi Nàng Chay. Phía phái Tiêu-sơn có Nguyên-Hạnh đại sư cùng phu nhân tên Cao Thạch-Phụng.

Cả quảng trường ồ lên đồng loạt, đưa mắt nhìn vào Minh-Không thiền sư. Phái Tiêu-sơn, nơi xuất thân của vua Lê Đại-Hành, của đương kim thiên tử, nơi tượng trưng cho tinh thần quốc gia. Nguyên-Hạnh là cao tăng đắc đạo, đệ tử của Bố-Đại hoà thượng. Suốt bao năm qua uy tín chùa Sơn-tĩnh muốn ngang với Tiêu-sơn. Bây giờ Thanh-Mai tố đích danh Nguyên-Hạnh họp với Tống, hơn nữa tố rõ Nguyên-Hạnh có vợ tên Cao Thạch-Phụng. Hỏi ai không kinh hoàng?

Thanh-Mai chỉ vào Phủ Văn, với Chế Ma Thanh:

– Triệu vương gia cho người dụ dỗ Phủ vương gia giết cháu, đoạt ngôi vua, sau đó đem quân đánh vào phía Tây Đại-Việt. Dụ dỗ hoàng-đệ Chế Ma Thanh chiếm ngôi vua của anh, rồi đem quân đánh vào phía Nam Đại-Việt. Vương gia lầm lẫn mất rồi. Vương gia quên rằng Quốc-tổ, Quốc-mẫu cho các hoàng tử thứ ba mươi mốt tới bốn mươi vào Nam. Hoàng tử thứ bốn mươi mốt tới năm mươi vượt núi, sang phía Tây qui dân lập ấp. Vì vậy người Chàm, người Lào, người Việt đều thuộc giòng giống Việt-thường. Hoàng thúc Phủ Văn, hoàng đệ Chế Ma Thanh một mặt giả chấp thuận đề nghị của thiên triều. Một mặt cho người báo cho Khu-mật viện Đại-Việt biết hết mọi tin tức của cuộc họp này.

Quần hùng vỗ tay hoan hô vang dội.

Thực sự ra không phải vậy. Phủ Văn, Chế Ma Thanh muốn mượn thế Tống, giết chúa lên làm vua. Chúng hối lộ vàng bạc cho Triệu Thành để được phong chức tước. Không ngờ Mỹ-Linh, Thiệu-Thái biết rõ âm mưu này, báo về cho Khai-Quốc vương. Nhân khi bọn Tống đi từ Thiên-trường về Thăng-long, bị Thanh-Mai cho người trộm hết vàng bạc, thư tín.

Khai-Quốc vương nhân đó tương kế tựu kế. Khi hai phái Phật-thệ, Vạn-tượng về Thăng-long họp anh hùng đại hội, mưu cùng với bọn Nguyên-Hạnh, cùng phái Sài-sơn, Đông-a ép Thuận-Thiên hoàng-đế thoái vị, để cho Hồng-Sơn đại phu lên ngôi, hầu thực hiện kế hoạch của Tống. Đang đêm, Khai-Quốc vương gửi Huệ-Sinh tới gặp Phủ Văn. Nùng-Sơn tử gặp Chế Ma Thanh, nói rõ cho chúng biết rằng kế hoạch đã bại lộ. Nếu hai người thuận làm theo Khu-mật viện ngôi vị vẫn được giữa nguyên. Bằng chống lại, bao nhiêu thư tín của chúng viết cho Tống đều được gửi cho vua Chiêm, vua Lào, hai người không có đường về. Gia quyến sẽ bị xử tử. Hai người líu ríu vâng lời.

Lúc Thuận-Thiên hoàng-đế lên đài tặng quà cho hai người. Khai-Quốc vương lấy nguyên số lễ vật của hai người tặng Triệu Thành, mà tặng lại cho. Hai người nhận quà mà trong lòng phát ớn lạnh.

Bây giờ nghe Thanh-Mai tố cáo, hai người cùng đứng dậy hướng vào quần hùng chắp tay hành lễ, nhận lời hoan hô, nhưng mặt đỏ lên vì ngượng ngùng. Phủ Văn móc trong túi ra trục giấy, đưa cho mọi người xem. Y chuyển vào tay Đoàn Huy, nhờ ông đọc dùm. Đoàn Huy cầm giấy xem, rồi nói:

– Trong trục giấy này là chiếu chỉ của Thiên-Thánh hoàng-đế phong cho hoàng thúc Phủ Văn làm Thái-tử thái bảo, phó đô nguyên soái. Nam phương trung thành tĩnh lự công thần. Lão-qua quận vương. Thực ấp vạn hộ. Thực phong tam thiên hộ. Vương phi được phong An-tĩnh quận chúa.

Không đừng được, Chế Ma Thanh cũng đưa ra trục giấy. Đoàn Huy đọc:

– Trong trục giấy này, là chiếu chỉ của Thiên-Thánh hoàng-đế phong cho hoàng đệ Chế Ma Thanh làm Kiểm hiệu thái sư, tĩnh hải tiết độ sứ, đồng bình chương sự. Suy thành thuận hoá công thần. Chiêm-thành quận vương. Thực ấp vạn hộ. Thực phong ngũ thiên hộ. Vương phi Mỵ-Thu được phong Khâm-linh quận chúa. Đại tướng Ngô Đà làm Nội điện chỉ huy sứ, tước Ma-linh hầu. Thực ấp nhị thiên hộ. Thực phong nhất thiên hộ.

Thanh-Mai đỡ lấy hai cuốn trục, trao cho Triệu Thành:

– Vương gia lầm lẫn quá nhiều. Các vị đây, người hoàng-thúc, kẻ hoàng-đệ. Khi không ai dại gì mà giết chúa, để lĩnh lấy hai tờ giấy vô giá trị của vương gia?

Thình lình Thanh-Mai từ trên đài vọt mình lên cao, nhấp nhô mấy cái, đã đến phía sau khán đài phái Tiêu-sơn. Nàng quát lớn:

– Nguyên-Hạnh! Đứng lại, mi trốn đâu cho thoát!

Nàng vừa đáp xuống, xung quanh Nguyên-Hạnh đã có bốn vị sư bao vây, đó là Sùng-Văn, Sùng-Đức, Sùng-Tín, Sùng-Không. Bốn vị cùng cung kính nói:

– Sự thể thế nào xin phương trượng lên đài trả lời Trần tiểu thư, chứ có đâu bỏ chạy?

Mặt Nguyên-Hạnh tái nhợt. Y đành lên đài, đứng đối diện với Thanh-Mai. Thanh-Mai tiếp:

– Triệu vương gia. Vị này có tên Dương Bá, thực ra họ Hồ. Nguyên xuất thân đệ tử của bang trưởng bang Nhật-hồ Trung-quốc, tức Hồng-thiết giáo ẩn danh. Khi quân Tống bao vây, diệt tổng đàn Nhật-Hồ bắt được đệ tử của bang trưởng là Hồ Dương-Bá cùng con gái tên Đỗ Lệ-Thanh. Hai người lạy van xin dung tha. Khu-mật viện Tống triều bèn đem tất cả thân thuộc họ Đỗ về Biện-kinh an trí. Một mặt cho hai người sang Đại-Việt tìm cách ẩn thân, hầu sau này quân Tống sang, còn làm nội ứng.

Thế rồi nàng thuật hết việc Hồ Dương-Bá, Đỗ Lệ-Thanh sang Đại-Việt, ẩn thân vào làm đệ tử chùa Tiêu-sơn, gây dựng cơ sở như thế nào. Nguyên-Hạnh làm đệ tử Bố-Đại hoà thượng. Y giam Đỗ Lệ-Thanh cùng bồ tát Bố-Đại, Sùng-Phạm trong Hồng-hương mật cốc ra sao. Nguyên-Hạnh tổ chức thiếu niên Hồng-hương, mưu làm nội ứng thế nào…Cùng bắt giam thiếu nữ để hành lạc trong Hồng-hương mật cốc. Cho đến khi Mỹ-Linh, Thiệu-Thái khám phá ra…

Mặt Nguyên-Hạnh vẫn trơ ra:

– Trần cô nương! Người bịa ra nhiều truyện hoang đường quá, ai mà tin được? Cô nương bảo bần tăng có vợ, có con. Chứng cớ ở đâu?

Y cãi gượng gạo.

Lập tức Đỗ Lệ-Thanh từ dưới đài bước lên. Mụ chỉ tay vào mặt Hồ Dương-Bá:

– Sư huynh! Người với ta là sư huynh, sư đệ. Thân phụ ta thương người, gả ta cho người. Thế rồi khi chúng ta hàng Tống, cùng mật ước rằng âm thầm dùng Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng, dần dần không chế triều Tống, lập lại nhà Chu. Khu-mật viện triều Tống sai chúng ta sang Đại-Việt đái tội lập công. Người với ta cùng thề sẽ có ngày trốn về Trung-nguyên. Khi người trở thành phương trượng chùa Sơn-tĩnh, người giam sư phụ Bố-Đại, sư thúc Sùng-Phạm, ép hai vị dạy cho thuật xuất hồn. Người đâu biết rằng người đi tu đắc đạo mới xuất được hồn, chứ nào có truyền cho nhau được?

Quảng trường ồn lên những tiếng bàn tán. Vì Sùng-Phạm, một vị Bồ-tát đắc đạo. Ngài nổi tiếng cùng một lúc với Vạn-Hạnh thiền sư. Gần đây không ai biết ngài đi đâu. Nào ngờ ngài bị Nguyên-Hạnh bắt giam. Còn Bố-Đại hoà thượng, dân chúng tin rằng ngài là Phật Di-Lặc giáng sinh. Cho nên khi Đỗ Lệ-Thanh nhắc đến hai ngài, khiến người người đều chú ý lắng tai nghe.

Bà nghiến răng vào nhau:

– Sau khi ta khám phá ra mi gian dâm với Cao Thạch-Phụng. Mi giam tra khảo bắt ta khai ra Hồng-thiết tâm pháp cùng thuốc giải Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Ta nhất định không khai. Vì ta biết, nếu ta khai ra người sẽ giết ta. Hơn mười năm, đêm đêm người hành lạc với con tiện nhân Cao Thạch-Phụng. Mi trói ta, bắt ta phải nhìn trò bỉ ổi của mi.

Bà chỉ vào Mỹ-Linh:

– Cho đến khi công chúa Bình-Dương cùng thế tử Thân Thiệu-Thái khám phá ra Hồng-hương mật cốc. Mi giam hai người vào trong hang với ta.

Tiếp theo bà thuật việc Bố-Đại cũng như Sùng-Phạm dư sức bẻ song sắt thát ra. Nhưng hai ngài muốn ở tù để giải hết nghiệp. Khi gặp Thiệu-Thái, Sùng-Phạm truyền cho chàng một trăm năm công lực, rồi viên tịch. Thiệu-Thái, Mỹ-Linh bẻ song sắt cứu bà, đốt xác Hồng-hương thiếu niên trốn đi hầu đánh lừa Nguyên-Hạnh. Sau cùng với sự xuất hiện của Chu An-Bình, Chu An-Khôi, Chu An-Việt v.v.

Bà hướng vào phía đệ tử của Sơn-tĩnh gọi:

– Hạnh-Chân, Hạnh-Như. Hai con đâu?

Hai nhà sư trẻ từ dưới đài bước lên, quỳ gối lạy Đỗ Lệ-Thanh:

– Mẫu thân.

Đỗ Lệ-Thanh ôm lấy hai con, mặt đầy nước mắt. Bà nói với Nguyên-Hạnh:

– Khi ta được công chúa Bình-Dương cùng thế tử Thân Thiệu-Thái cứu ra. Ta đã tìm thăm hai đứa con, cho chúng biết ta vẫn còn tại thế, dặn chúng phải có mặt hôm nay làm chứng. Mi còn chối nữa hay không?

Thanh-Mai đưa ra cuốn trục:

– Đây, sắc phong cho Hồ Dương-Bá làm Đô nguyên soái, Long-biên quốc công, Giao-chỉ kinh lược sứ. Còn đây sắc phong thứ nhì cho Hồ Dương-Bá làm Quốc sư thông huyền Bồ-tát Và phu nhân Cao-thạch-Phụng làm Túc không quan âm.

Nàng hướng vào Minh-Không thiền sư:

– A-di-đà Phật! Xin Quốc sư dạy cho một lời.

Minh-Không đáp:

– Nghiệp dĩ Nguyên-Hạnh nặng quá. Tội của người xin để cho luật lệ Đại-Việt xử.

Thanh-Mai hỏi Minh-Không:

– Minh-Không đại sư! Xin đại sư cho biết gã Hồ Dương-Bá này có còn liên hệ với phải Tiêu-sơn nữa không?

Minh-Không đáp:

– Y dối sư phụ xin qui y, xin thọ giới. Như vậy cả qui y lẫn thọ giới đều không thực. Y hết còn tư cách đệ tử phái Tiêu-sơn.

Đỗ Lệ-Thanh quỳ gối trước Tự-An:

– Cách đây hơn năm, tiểu tỳ đến trang Thiên-trường, được đại hiệp hứa đứng ra chủ trì công đạo cho vụ này. Hôm nay kẻ thù trước mắt, xin đại hiệp ra tay cho.

Tự-An phẩy tay cho bà đứng dậy:

– Phu nhân bình tâm. Ta đã hứa tất làm.

Ông bảo Thanh-Mai:

– Nếu y là đại sư Nguyên-Hạnh, bố phải ra tay. Còn y trở lại thành Hồ Dương-Bá, con dạy dỗ y mấy chiêu được rồi.

Thình lình Nguyên-Hạnh phóng chưởng tấn công Thanh-Mai. Trong ý nghĩ, y phải giết nàng, nên y vận đủ mười thành công lực. Chiêu chưởng đánh ra như vũ bão. Trong chưởng có mùi hôi tanh nồng nặc.

Thanh-Mai phản ứng rất nhanh. Nàng lùi một bước, trả lại bằng một chiêu Đông-a chưởng. Binh một tiếng, Nguyên-Hạnh rùng mình lùi lại một bước. Trong khi Thanh-Mai thản nhiên như không.

Tự-An quát lớn:

– Khoan!

Ông nói với Hồ Dương-Bá:

– Hồ nguyên soái. Người lập công lớn với triều Tống, tước đã phong tới hầu, chức tới Đô nguyên-soái. Trong đẳng trật võ quan triều Tống, Đô nguyên-soái lớn cực phẩm. Đấy nói về quan chức. Còn nói về võ công, dường như người chỉ thua có quốc sư Minh-Không. Chúng ta khám phá ra người ẩn ở Đại-Việt, người có tội với Đại-Việt. Còn đối với Tống triều người thành đại công thần. Tại sao người không giám nhận cái danh dự của mình?

Nghe Tự-An nói vậy, Triệu Thành nghĩ rất nhanh:

– Tên Trần Tự-An quả xứng danh Côi-sơn đại hiệp. Ta những tưởng chối biến việc Khu-mật viên sai Nguyên-Hạnh sang Đại-Việt. Như vậy vẫn tiếp tục dùng bọn Lê Long-Mang được. Y dồn Nguyên-Hạnh đến chỗ chết, rồi lại khai ra con đường thoát thân bằng cách nhận tội. Nếu Nguyên-Hạnh nhận hết tội, đương nhiên ta cứu y thoát chết, nhưng mưu đồ e hỏng bét.

Nghĩ vậy y nháy mắt cho Nguyên-Hạnh tỏ ý bảo, đừng nhận.

Nhưng Nguyên-Hạnh lại nghĩ khác:

– Ta nhận hết, như vậy chắc chắn thoát chết. Vương gia có giận cũng chẳng đi đến đâu.

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103136
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49576 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Postby DaMinhChau » September 29th, 2017, 9:04 pm


Hồi thứ sáu mươi hai

Thượng giới Hồng Xà




Y đến trước Triệu Thành quỳ gối:

– Vương gia! Tiểu tướng làm không tròn nhiệm vụ, hỏng đại kế của triều đình. Tiểu tướng xin chịu tội với vương gia.

Triệu Thành nguyền rủa thầm Nguyên-Hạnh, nhưng y vẫn hướng vào Thuận-Thiên hoàng-đế:

– Nam-Bình vương. Hồ nguyên-soái là đại công thần của thiên triều. Vương gia không thể bắt tội được. Vương gia đừng quên rằng vương gia nhận chức tước phong của thiên triều. Vương gia thành đồng liêu với Hồ nguyên soái.

Thanh-Mai biết Thuận-Thiên hoàng-đế khó có thể đối đáp trong vụ này. Nàng chỉ vào Nguyên-Hạnh:

– Bình-Nam vương công nhận Hồ Dương-Bá, được phong Đô nguyên-soái, đại công-thần thiên triều. Như vậy vương gia công nhận thiên triều chuẩn bị đánh Đại-Việt.

Nàng chắp tay hướng vào quần hùng:

– Thưa các vị anh hùng. Bình-Nam vương nhà Đại-Tống hiện giữ trọng trách việc binh bị đã công nhận rằng nhà Tống chuẩn bị đánh chiếm Đại-Việt. Vấn đề đã rõ ràng. Các vị nghĩ xem, chúng ta nên đánh hay hàng?

Hàng mấy vạn người cùng rút kiếm ra hô lớn:

– Đánh! Diệt bọn chó Ngô.

Đợi cho tiếng nguyền rủa bớt, nàng tiếp:

– Thuận-Thiên hoàng-đế dĩ nhiên không bắt tội Dương-Bá vì việc y giam công-chúa Bình-Dương, thế tử Thiệu-Thái. Bởi khi Dương-Bá làm việc đó vì bảo vệ cơ mật cuộc họp ở Hồng-hương cốc, vì Tống, vì thi hành nhiệm vụ. Vậy xin Triệu vương gia cho biết việc y giam Đỗ Lệ-Thanh thuộc truyện riêng của y hay cũng của triều Tống?

Triệu Thành lắc đầu:

– Dĩ nhiên đó thuộc truyện riêng của Hồ

nguyên soái.

Đại-sư Sùng-Đức, viện trưởng viện giới luật chùa Sơn-tĩnh bước lên đài, hướng vào Nguyên-Hạnh:

– A-di-đà Phật. Phương trượng! Người làm nhục bản tự quá đáng. Chiếu giới luật, mong phương trượng thụ hình, để giải bớt nghiệp quả.

Hồ Dương-Bá lộ mặt thực ra:

– Hồ mỗ nguyên làm đại thần Tống triều. Mỗ chỉ mượn quý tự để ẩn thân. Mỗ không hề làm cao tăng. Đã không cao tăng, thì tam qui, ngũ giới hay thất bát, hay vạn giới đối với mỗ chẳng là cái đéo gì cả. Mỗ có quyền lấy vợ, có con. Mỗ nói cho đại sư biết, trong thời gian ở Sơn-tĩnh, mỗi tháng mỗ ăn thịt một con chó. Đêm nào mỗ cũng hành lạc với trinh nữ. Mỗi tháng mỗ hút kinh nguyệt của hai thiếu nữ để luyện Hồng-thiết công. Mỗi ngày mỗ uống nước tiểu của thiếu nữ để điều khí. Đại sư đừng đem giới luật ra dọa mỗ nữa.

Sùng-Văn quát lên một tiếng. Ông phát chưởng tấn công Dương-Bá. Dương-Bá lùi một bước, trả lại một chưởng. So vai vế, Sùng-Văn ngang vai với sư phụ Nguyên-Hạnh, ông lớn tuổi hơn, nhập môn trước. Vì vậy công lực cao thâm hơn Nguyên-Hạnh nhiều. Chưởng phong của ông hùng hậu vô cùng.

Bình, bình, bình, Hồ Dương-Bá bật lui liền ba bước. Y trả lại một chưởng rất thô kệch. Chưởng của y có mùi tanh hôi không thể tưởng tượng được. Đỗ Lệ-Thanh kêu lên:

– Chu-sa nhật hồ độc chưởng.

Sùng-Văn tránh, không giám đỡ vào chưởng của y. Ông lùi bước, rồi trả lại một chưởng. Bây giờ Nguyên-Hạnh mới phản công được mấy chiêu. Mỗi chưởng của y đánh ra, có mùi tanh hôi khủng khiếp.

Quần hùng quan sát cuộc đấu đều nghĩ thầm:

– Tên Hồ Dương-Bá này quả xứng thiên tài võ học. Y dâm đãng như vậy, mà công lực đến dường này, có thua gì Đại-Việt ngũ long?

Chính Nhật-Hồ lão nhân đứng cạnh cũng phải kinh ngạc. Lão chửi thầm:

– Tên Nguyên-Hạnh này học võ công của bang Nhật-hồ Trung-quốc. Y lại bái Bố-Đại hoà thượng làm thầy. Y khéo léo phối hợp được nội công hai phái, thành một thứ nội công mới. Vì vậy tuổi y còn nhỏ, mà đâu có thua gì bọn trưởng lão của mình. Nếu y thất bại, mình phải cứu y, thu dụng y làm đệ tử, lợi biết bao?

Cuộc đấu vẫn bất phân thắng bại. Công lực Sùng-Văn cao thâm, nhưng không giám đối chưởng với Nguyên-Hạnh. Ngược lại Nguyên-Hạnh tìm đủ cách để hai chưởng chạm vào nhau, khiến Sùng-Văn bị trúng độc. Nguyên-Hạnh đánh liền mười chưởng, Sùng-Văn đều tránh được. Đến chưởng thứ mười một hai chưởng giao nhau. Bộp một tiếng. Hai chưởng dính liền. Thế là trở thành cuộc đấu nội lực.

Khoảng nhai dập miếng trầu, Nguyên-Hạnh cảm thấy nguy cơ gần kề. Vì Sùng-Văn dồn chân khí sang người hắn cuồn cuộn. Hắn nghiến răng chịu đựng được một lát, châm tay bủn rủn, mắt hoa đầu váng.

Nhật-Hồ đứng cạnh, y nghĩ thầm:

– Tên Nguyên-Hạnh quên mất rằng trong máu y đầy chất độc. Y chỉ cần phun một búng vào mặt Sùng-Văn, Sùng-Văn chịu sao thấu?

Nghĩ vậy y nhắc:

– Dùng máu cứu mạng, nguy cơ gì cũng qua.

Nguyên-Hạnh tỉnh ngộ, hắn nghiến răng cắn môi, máu chảy ra đầy miệng. Thình lình hắn phun vào mặt Sùng-Văn. Hai người đứng quá gần nhau. Vả Sùng-Văn không bao giờ ngờ một người như Nguyên-Hạnh lại phun nước miếng vào mặt ông. Tẹt một tiếng, mặt Sùng-Văn đầy nước bọt, máu.

Sùng-Văn cảm thấy ngứa ngáy khó chịu, rồi bắp thịt co giật, chân khí muốn tuyệt. Ông vội thu tay, nhảy lùi lại. Nguyên-Hạnh được thoát chết. Y đứng thẳng, hít một hơi chân khí, điều hoà nội tức, rồi nói:

– Sùng-Văn, người trúng Nhật-hồ độc thủ của ta rồi. Ta không đấu với người nữa.

Hai bóng vàng thấp thoáng, Sùng-Đức, Sùng-Minh đại sư lên đài đỡ Sùng-Văn. Sùng-Đức chỉ mặt Nguyên-Hạnh:

– Người… người thực mặt dầy. Người dùng…

Nguyên-Hạnh thản nhiên:

– Theo luật lệ Sơn-tĩnh, khi một người thắng viện trưởng giới luật viện coi như sạch tội. Ta đã thắng Sùng-Văn. Vậy bọn Sơn-tĩnh các người không thể gây rắc rối với ta nữa.

Sùng-Văn run lẩy bẩy, tỏ vẻ đau đớn vô cùng. Nguyên-Hạnh hướng vào Minh-Không đại sư:

– Đại sư! Nếu đại sư muốn tại hạ trao thuốc giải Chu-sa độc chưởng cứu đại sư Sùng-Văn, xin đại sư tha cho tại hạ rời khỏi nơi đây. Tại hạ xin nói trước thuốc giải Chu-sa độc chưởng Trung-quốc khác hẳn với Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng Đại-Việt. Vì vậy thuốc giải của Hồng-thiết giáo Đại-Việt vô dụng.

Minh-Không đưa mắt nhìn Sùng-Văn đang đau đớn. Ngài chưa quyết định, Đỗ Lệ-Thanh lên đài cười nhạt:

– Dương-Bá! Một đời mi sảo quyệt chưa đủ sao mà mi còn dối người. Nếu mi biết chế thuốc giải Chu-sa độc chưởng, mi đâu có giam ta mười năm? Mi không có thuốc giải, mà lại nói có. Mi định lừa Minh-Không đại sư, nhưng ta đã chết đâu?

Dương-Bá bị vợ lột mặt nạ. Y giận quá, thình lình phát chiêu hướng Đỗ Lệ-Thanh. Binh một tiếng, bà bị bay tung lên cao, rơi xuống đài. Quần hùng la hoảng lên. Thanh-Mai lại bên bà bắt mạch. Bà lắc đầu, miệng phun máu có vòi, nói với Tự-An:

– Đại hiệp! Tiểu tỳ muốn nhìn thấy y đền tội.

Tự-An giận run lên. Trước đây ông đã hứa với Đỗ Lệ-Thanh rằng ông sẽ đứng chủ trì công đạo, trừng phạt Nguyên-Hạnh. Nay ông chưa ra tay, y lại giết vợ. Ông nói với Triệu Thành:

– Triệu vương gia! Trần mỗ không phải vua quan Đại-Việt, nên dù Nguyên-Hạnh có làm tam công, thượng thư Tống triều, mỗ cũng phải giết y. Mà dù ngay y có phải Ngọc-Hoàng đại đế, Diêm-La, mỗ cũng không tha.

Ông vận khí, định trong một hai chiêu đập chết y, thì Thanh-Mai đã tấn công Dương-Bá. Dương-Bá cười thầm:

– Võ công con nhỏ này mình đã biết rồi. Y thị từng bị bọn Tung-sơn tam kiệt bắt sống, dẫn đi khắp trấn Thanh-hóa. Không biết y thị có điên không, mà giám ra tay tấn công mình?

Y phát chiêu đánh trả. Bình một tiếng, y cảm thấy trời đất đảo lộn, lồng ngực muốn nổ tung ra. Tai kêu o o kéo đài vô tận. Y kinh hãi:

– Rõ ràng chưởng của con nhỏ vừa rồi không có kình lực. Tại sao chạm vào chưởng mình lại mạnh như vậy?

Y lùi lại đánh ra một chiêu Chu-sa độc chưởng. Thanh-Mai thấy mùi tanh hôi, nàng cười thầm:

– Đối với ai mi dùng độc chưởng được, chứ đối với ta e vô dụng.

Nàng nhàn tản trả lại một chiêu rất bình thường. Bình, Nguyên-Hạnh cảm thấy tay ê ê. Y phát chiêu khác.

Nhật-Hồ đứng cạnh, thấy Thanh-Mai đối chưởng với Nguyên-Hạnh, ông kinh hãi nghĩ thầm:

– Chu-sa độc chưởng khi phát ra, ai chạm vào, chỉ mấy khắc sau đau đớn vô cùng, rồi mất hết kình lực. Nay sao con nhỏ này trúng đến bốn chưởng mà vẫn vô sự. Ngược lại dường như Dương-Bá tỏ vẻ đau đớn thì phải.

Nguyên cách đây ít lâu, trong dịp viếng Thiên-trường, Đỗ Lệ-Thanh đề nghị Tự-An nghiên cứu ra một thứ võ công khắc chế Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Đỗ đã giúp Tự-An một phần. Tự-An phối hợp thiền công, cùng nội công Đông-a, học thuyết kinh-ạc của y học, hoàn thành. Thiền-công vận ra ba kinh âm hoá giải độc chất cùng kình lực đối thủ. Còn nội công Đông-a phát ra ba kinh dương tấn công. Sau đó ông dạy cho các sư đệ cùng đệ tử, Bảo-Hoà, Mỹ-Linh.

Hôm nay Thanh-Mai đem ra áp dụng đấu với Nguyên-Hạnh, nên y tấn công, nàng đỡ, mà y cảm thấy đau đớn. Vì khi nàng đỡ, trong cái thủ có cái công.

Thuận-Thiên hoàng-đế cùng Khai-Quốc vương ngồi trên đài, thấy mỗi chiêu Thanh-Mai đánh ra mạnh muốn nghiêng trời lệch đất, cả hai đều kinh ngạc đến ngẩn người ra:

– Mới hôm nào, trong Long-hoa cung, công lực nàng tuy có cao, nhưng đâu có thể đến trình độ này?

Cả hai người không hiểu là phải. Nguyên Thanh-Mai được phụ thân dạy, công lực đã tới trình độ hiếm có. Tuy vậy hồi gặp Tung-sơn tam kiệt, nàng vẫn không phải đối thủ của chúng. Trên đường đi, nàng được Huệ-Sinh dạy cho cách khai thông, hoà hợp thủy hỏa, nàng tiến tới chỗ không thua gì các sư thúc. Khi đến Vạn-thảo sơn trang, được Hồng-sơn đại phu dạy học thuyết kinh lạc, nàng tự đả thông kinh mạch, nên công lực tiến tới chỗ sâu vô cùng. Khi trở về Thiên-trường lại được thân phụ dạy cho cách đả thông hết kỳ kinh bát mạch. Đến đây nàng trở thành đại cao thủ.

Tại Long-hoa đường, nàng trị bệnh cho Đoàn Huy, vô tình hút hết nội lực của một đại cao thủ bậc nhất Đại-lý. Đến đây công lực của nàng cao thâm khôn lường. Rồi Thiệu-Thái, Huệ-Sinh vận công trị bệnh, cũng truyền công lực cho nàng. Thành ra trong người nàng nội tức muốn nổ tung ra.

Nguyên-Hạnh càng đấu càng kinh sợ, vì y cảm thấy võ công của Thanh-Mai khắc chế với y. Y lùi lại đánh ra một chưởng hết sức vũ dũng. Thanh-Mai hít một hơi nói lớn:

– Đỗ phu nhân! Hãy nhìn cháu trả thù cho phu nhân đây.

Nàng đánh ngay vào giữa chưởng Nguyên-Hạnh. Bình một tiếng, người y bay bổng lên cao, rồi rơi xuống đài. Y nghiến răng, cố gắng bò dậy, nhưng rồi lại ngã xuống. Y hộc lên một tiếng, miệng phun máu có vòi.

Đỗ Lệ-Thanh cố gắng đến gần Thanh-Mai lạy bốn lạy:

– Đa tạ vương phi chu toàn cho tiểu tỳ.

Không ai hiểu tại sao Đỗ Lệ-Thanh lại gọi Thanh-Mai bằng vương phi. Chỉ duy bọn Thuận-Thiên cửu hùng biết rõ nguyên ủy. Thanh-Mai kinh ngạc, vì rõ ràng Đỗ Lệ-Thanh trúng chưởng của Nguyên-Hạnh đến không ngồi dậy được, mà sao nay bà có thể hành lễ dễ dàng. Chợt nàng hiểu ra:

– Dù sao Đỗ phu nhân cũng từng là đệ tử Hồng-thiết giáo. Mà Hồng-thiết giáo toàn một bọn dối trá đã quen. Nhân thấy Nguyên-Hạnh tấn công. Bà có thể đỡ được, mà không đỡ, đành vận công chịu đòn, gây căm phẫn cho bố con mình, đễ mình ra tay trừ Nguyên-Hạnh.

Hạnh-Chân, Hạnh-Như thấy Nguyên-Hạnh bị trúng đòn. Hai đứa chạy lại vực y lên, miệng gọi:

– Gia gia! Gia gia có sao không?

Thình lình Nguyên-Hạnh vọt dậy. Y chuyển động một cái, hai tay kẹp Hạnh-Chân, Hạnh-Như vào hai nách. Y nhảy lùi lại quát lớn:

– Minh-Không! Nếu người không mở đường cho ra rời khỏi nơi đây. Ta kẹp nách một cái, hai đứa trẻ này chết liền.

Nguyên Hồ Dương-Bá vốn đại xảo quyệt. Y nghĩ muốn thoát thân, thực muôn vàn khó khăn. Vì vậy y nghiến răng chịu một chưởng của Thanh-Mai rồi bắt hai con như tín vật, hầu làm mộc cứu mạng.

Đỗ Lệ-Thanh thét lên:

– Dương-Bá, mi nhẫn tâm hại hai con mi ư?

Hồ Dương-Bá lạnh lùng, không lên tiếng.

Minh-Không đại sư nói với Trần Tự-An:

– Trần đại hiệp. Xin đại hiệp vì hai sinh mạng trẻ thơ, tha cho Hồ thí chủ rời khỏi nơi này.

Hồ Dương-Bá thản nhiên cặp hai đứa con vào nách, nhảy xuống đài, chạy thẳng một mạch.

Đỗ Lệ-Thanh đến trước Triệu Thành. Bà thủng thẳng nói:

– Vương gia, tiểu tỳ cùng Hồ Dương-Bá vốn người của Khu-mật viện sai sang Đại-Việt hành sự. Nhưng bây giờ vì hoàn cảnh, tiểu tỳ không còn của Tống nữa. Khi tiểu tỳ bị giam, đã hứa rằng nếu ai cứu thoát tiểu tỳ khỏi vòng lao lý, nguyện trọn đời làm nô bộc để đền ơn. Tiểu tỳ được Thân thế tử cứu thoát khỏi nhà tù, vì vậy tiểu tỳ xin từ giã vương gia ở đây.

Bà cúi lạy Triệu Thành bốn lạy, rồi xuống đài.

Triệu Thành bị Thanh-Mai cùng quần hùng lôi bộ mặt gian xảo, giả trá ra. Tuy biết không còn hy vọng gì nữa, y vẫn nói cứng:

– Nam-Bình vương gia. Tôi xin nhắc lại với vương gia rằng thiên triều đã nhất quyết hưng diệt, kế tuyệt. Một, lập lại nhà Lê. Hai, để một vị đại tôn sư võ lâm lên ngôi, mới có quốc danh Đại-Việt, mới có hoàng-đế với niên hiệu. Bằng không mảnh đất này vẫn mang tên Giao-chỉ, và người đứng đầu vẫn tước Giao-chỉ quận vương. Quân thiên triều sẽ tiến sang.

Nói rồi y hô bộ hạ, cùng lên ngựa, rời quảng trường.

Lập tức cả quảng trường ồn lên những tiếng bàn tán. Huệ-Phương hướng vào quần hùng:

– Thưa các vị võ lâm anh hùng. Các vị thấy rõ ràng rằng bọn Triệu Thành sang đây không với mục đích tìm con cháu nhà Lê, mà với ý đồ chuẩn bị xâm lăng Đại-Việt. Đất nước chúng ta, phải do người Việt tự cai trị. Dù Đinh, dù Lê, dù Lý cũng vậy. Ai đem lại hạnh phúc cho dân, người đó chính thống, minh quân, anh hùng. Người nào gây cho dân đói khổ, người đó thành giặc nước, hôn quân, trộm cướp.

Dương Ẩn hỏi Huệ-Phương:

– Nam-Quốc vương-phi. Nhưng lời vương-phi nói đó dường như ám chỉ đến một số người. Số người tốt thuộc họ Lý. Số người xấu, thuộc họ Lê. Vương-phi từ cô gái bình thường, một thoáng trở thành vợ một đại võ lâm cao thủ, hơn nữa Nam-Quốc vương của triều Lê đã từng có chiến công đánh Tống, bình Chiêm. Đáng lẽ vương-phi phải hết tâm bênh vực danh dự cho nhà chồng, cùng chồng đòi lại ngôi báu, bị cường thần tiếm vị. Đây vương-phi chống lại chí phục hưng của chồng đã là điều không tha thứ. Vương-phi còn bêu xấu tiên-vương bản triều. Đạo lý ở chỗ nào?

Huệ-Phương vẫn cười tươi:

– Lê tiền bối! Tiền bối dạy như vậy e sai.

Dương Ẩn quát lớn:

– Này Nam-Quốc vương-phi. Ta gọi người bằng vương-phi. Thì ít ra người cũng không thể quên rằng ta ngồi trên ghế tôn sư phái Sài-sơn, sư thúc của Nam-Quốc vương. Vương-phi không thể gọi ta bằng tiền bối, mà phải gọi bằng sư thúc.

Huệ-Phương định đem việc Dương Ẩn bắt giam Vũ Thiếu-Nhung làm cây thuốc cho Nhật-Hồ ra, để lột mặt nạ y. Nhưng tiếng Hồng-Sơn đại phu dùng Lăng-không truyền ngữ nói như rót vào tai:

– Huệ-Phương! Em đừng lột mặt nạ y vội. Cứ để cho y đóng kịch. Khi nào tối cần thiết, ta hãy đem ra.

Huệ-Phương nghe chồng nói, nàng đánh trống lảng:

– Lê tiền bối! Tôi biết chút ít về tướng mệnh. Tôi thấy tướng mệnh của tiền bối giống như con mèo ngủ, rình vồ chuột. Tôi tin rằng tiền bối đã làm điều gì không xứng đáng với vai sư thúc của phu quân tôi. Vì thế tôi mới không gọi tiền bối bằng sư thúc.

Nghe Huệ-Phương nói, Dương Ẩn kinh hồn động phách:

– Ta làm trưởng lão Hồng-thiết giáo, chỉ đệ tử thân tín cùng các vị trưởng lão biết. Con nhỏ này làm sao rõ được. Có lẽ nó đoán mò mà thôi.

Nghĩ vậy y nói:

– Nếu phu nhân cùng bất cứ đệ tử bản phái nào chứng minh được ta có hành vi trái với võ đạo phái Sài-sơn. Ta xin tự xử bằng cách rời môn phái.

Huệ-Phương chửi thầm:

– Mi tự trói mình, đừng trách ai nhé.

Nàng chắp tay:

– Nếu như vậy tiện nữ xin sư thúc đại xá cho. Còn việc sư thúc bảo tiểu nữ phải hết sức cùng chồng lo đòi lại ngôi báu. Điều này tiện nữ nào dám trễ nải. Có điều đòi lại ngôi vua bằng danh chính ngôn thuận nhất định chúng ta phải làm. Chứ đòi lại ngôi vua do bọn Tống áp lực, gây nội chiến, rồi đi đến mất nước, thà đừng đòi.

Dương Ẩn đứng dậy, chỉ tay vào mặt Huệ-Phương:

– Huệ-Phương! Người không phải chính thất của Hồng-Sơn đại phu. Người không có tư cách gì đại diện cho họ Lê. Người lại chẳng phải đệ tử bản phái, nên càng không có quyền nhân danh phái Sài-sơn. Lời người nói hoàn toàn vô giá trị. Ở đây chỉ mình ta mới có quyền đại diện bản phái. Mình Hồng-Sơn đại phu có quyền đại diện họ Lê.

Huệ-Phương thấy Dương Ẩn nổi nóng, mất bình tĩnh, nàng càng trêu già:

– Sư thúc ơi! Tiện nữ không hề nhân danh họ Lê, cũng không hề nhân danh phái Sài-sơn. Tiện nữ chỉ nhân danh một con dân Đại-Việt mà thôi.

Sư thái Tịnh-Tuệ xá Dương Ẩn, Huệ-Phương:

– Xin Dương đạo sư với Hồng-Sơn phu nhân tạm gác việc tranh luận lại. Chúng ta có nhiều điều phải làm ngay. Thứ nhất định rõ ngôi vua Đại-Việt, mà họ Lý tạm cầm bấy lâu nay.

Hoàng Liên ngồi trên ghế tôn sư phái Mê-linh. Mụ nạt:

– Tịnh-Tuệ, Bình-Nam vương Thiên-triều nói rằng người chờ kết quả quyết định của tôn sư võ lâm. Mi không phải tôn sư bản phái. Mi không có quyền bàn truyện này.

Tịnh-Tuệ chỉ vào Hoàng Liên:

– Thưa chư vị anh hùng. Vị sư thúc của bần ni đã nhận sắc phong của Tống triều, chuẩn bi cướp ngôi chưởng môn phái Mê-linh, hầu làm nội ứng cho giặc. Vì vậy phái Mê-linh không công nhận người ngồi trên ghế tôn sư nữa. Người mau rời ghế này.

Hoàng Liên cười the thé:

– Trước đây, Hoa-Minh thần ni định rằng, khi chỉ định người kế vị làm chưởng môn, sẽ dùng võ công định đoạt. Vậy Tịnh-Tuệ, người có dám cùng ta chiết chiêu không?

Sư thái Tịnh-Tuệ mỉm cười:

– Sư thúc. Ai làm chưởng môn là truyện nội bộ của bản phái. Võ đạo bản phái gốc lấy tinh thần vị quốc từ vua Trưng cùng các anh hùng thời Lĩnh-Nam. Đúng ra sư thúc làm gian tế cho giặc, bản phái có bổn phận thanh lý môn hộ. Nhưng xét lại, sư thúc tuổi đã cao, miễn cho khoản đó.

Hoàng Liên ngửa mặt lên trời cười lớn:

– Tịnh-Tuệ. Mi chưa giao đấu mà đã cụp đuôi, còn dám xưng nào chưởng môn, nào Đại-Việt ngũ long nữa không?

Mụ rút kiếm chĩa vào ngực sư thái Tịnh-Tuệ phóng một chiêu cực kỳ dũng mãnh. Sư thái Tịnh-Tuệ thản nhiên như không biết. Quần hùng thấy vậy kinh hoảng la lớn lên.

Nhưng người ta chỉ thấy bóng vàng thấp thoáng, Tịnh-Tuệ đã đứng sau Hoàng Liên. Quần hùng vỗ tay vang dội hoan hô.

Hoàng Liên xuất chiêu thình lình, mà không đạt được kết quả. Y thị thẹn quá, chuyển thân quay tròn kiếm đánh ra một chiêu thần tốc. Tịnh-Tuệ không những không tránh, bà lại lao đầu vào người y thị. Kiếm sượt qua hông bà. Tay phải bà ấn vào vai Hoàng Liên, rồi người bà bay ra sau y thị.

Hoàng Liên lạ lùng suy nghĩ:

– Trước đây bản lĩnh của sư phụ của mụ là Duyên-Tịnh còn thua ta xa. Thì ta có coi y thị ra gì? Hai chiêu vừa rồi tại sao ta lại không biết nhỉ? Hay nó đã âm thầm học được của cao nhân nào? Nhưng không phải, vì từ cách vận công đến phát chiêu đều nằm trong khuôn khổ võ công Mê-linh. Như vậy có thể ngày trước Hoa-Minh sư phụ ta thiên vị, dấu một số chiêu thức truyền cho Duyên-Tịnh, rồi Duyên-Tịnh truyền cho y thị.

Sự thực không phải thế. Khi sư thái Duyên-Tịnh biết mình sắp viên tịch. Bà gọi Tịnh-Tuệ, Tịnh-Huyền tới dặn rằng:

– Trong tất cả các đệ tử của ta, chỉ có hai con xuất gia. Sau khi ta viên tịch, Tịnh-Tuệ thay ta làm chưởng môn. Suốt cuộc đời, ta dồn tâm huyết để cố tổng hợp võ công Cửu-chân, Long-biên, Hoa-lư làm một. Nhưng chưa hoàn tất, thân thể ta đã mục. Trong ba loại võ công, thì Long-biên, với Cửu-chân cùng một tổ Vạn-Tín hầu chế ra. Xưa kia Bắc-Bình vương Đào Kỳ nhân biết học thuyết âm dương mà hợp được võ công dương của Cửu-chân với âm nhu của Long-biên. Sau khi người tuẫn quốc thuật này bị thất truyền. Cho đến nay, ngay võ công Long-biên, hay Cửu-chân cũng không còn đầy đủ, còn mong gì tổng hợp.

Bà ngừng lại, rồi tiếp:

– Phái Mê-linh thành lập đã ba đời. Sau ba đời, căn bản võ đạo khá vững. Bây giờ cần phát triển võ công. Người xưa sáng chế ra được, chúng ta cũng sáng chế ra được. Suốt cuộc đời, ta đã tổng hợp được một phần nội công Cửu-chân với Long-biên. Sau đó sáng chế ra một thứ nội công mới. Chiêu thức, ta cũng lấy tinh hoa của hai thứ võ công hỗn hợp quyền, kiếm, chưởng. Hôm nay, ta truyền cho hai con.

Bà giảng:

– Về ngoại công, ta sáng chế ra những chiêu thức khắc chế với chiêu thức cổ. Sau đó trộn lẫn đi. Tỷ dụ một chiêu võ công Cửu-chân đánh thẳng ra, tiếp theo một chiêu gạt ngang. Như vậy một người chúng ta hoá làm hai.

Thế rồi bà diễn từng chiêu một. Tịnh-Tuệ, Tịnh-Huyền cố gắng ghi nhận. Khoảng hơn tuần thì làu thông.

Sau khi Duyên-Tịnh viên tịch, Tịnh-Tuệ, Tịnh-Huyền cố gắng cùng nhau tổng hợp, sáng chế những gì sư phụ bỏ dở. Chỉ cần năm năm, hai bà đã làm xong công việc đó. Nhờ vậy sư thái Tịnh-Tuệ trở thành một trong Đại-Việt ngũ-long. Còn Tịnh-Huyền, vân du nay đây, mai đó thuyết pháp. Hai chiêu mà Tịnh-Tuệ dùng để đối phó với Hoàng Liên chính là pho võ công mới tổng hợp sáng chế ấy.

Nếu người khác, chỉ cần đánh ba chiêu không trúng đối thủ, nên tự trọng thôi đi. Mụ Hoàng Liên, một thứ mặt dầy nhất trong đám mặt dầy, mụ tiếp tục tấn công. Sư thái Tịnh-Tuệ tránh đến chiêu thứ mười, không còn chỗ nhảy tránh. Bất đắc dĩ bà phải rút kiếm phản công.

Hai đệ nhất cao thủ, xử dụng cùng một thứ võ công đấu với nhau. Người ngoài nhìn vào, có cảm tưởng như họ luyện kiếm. Nhưng sự thực, họ đã ra những chiêu cực kỳ tinh diệu.

Sư thái Tịnh-Huyền bảo Mỹ-Linh:

– Con hãy theo dõi những chiêu thức kia, để học lấy tinh hoa võ công Mê-linh. Chiêu thức của Hoàng Liên, con đều biết cả. Còn chiêu thức của sư thái Tịnh-Tuệ thì cứ một chiêu Long-biên, lại một chiêu khắc chế. Còn nội công, lại hoà lẫn âm nhu Long-biên với dương cương Cửu-chân.

Mỹ-Linh đã làu thông kiếm pháp Long-biên, bây giờ nàng theo dõi những chiêu của Tịnh-Tuệ khắc chế với những chiêu ấy. Mỗi chiêu Tịnh-Tuệ phát ra đều hung hiểm lạ thường. Có điều những chiêu đó không không nối liền với nhau thành một dây, và cũng không biến hoá như nàng học bí quyết trong động đá. Nàng nghĩ:

– Ta học hết những chiêu này, rồi dùng bẩy mươi hai thức trấn môn cùng bài quyết biến hoá ra áp dụng ắt kình lực mạnh vô cùng.

Hai bên chiết với nhau đến trên trăm chiêu, thình lình sư thái Tịnh-Tuệ bước xéo sang trái ba bước. Tay phải bà đánh một chưởng. Bình một tiếng, kiếm của Hoàng Liên bay bổng lên trời, rơi xuống bục, cắm khá sâu. Chuôi kiếm còn rung rinh mãi.

Tịnh-Tuệ dí kiếm vào cổ Hoàng Liên rồi nói với Nhật-Hồ lão nhân:

– Tiên sinh! Bần ni nghe nói quy luật của quý giáo, khi một giáo chúng dù phạm tội gì chăng nữa, cũng do người trong giáo xử. Chứ người ngoài xử, quý giáo coi như là phạm vào thể diện. Không biết có dúng không?

Nhật-Hồ gật đầu:

– Đúng thế!

Tịnh-Tuệ chỉ Hoàng Liên:

– Vị sư thái này hiện không còn liên hệ gì với bản phái. Người làm trưởng lão thứ mười trong hội đồng giáo vụ trung ương Hồng-thiết giáo. Người phạm tội gian tế cho Tống, đúng ra ai cũng có quyền tru diệt. Song bần ni biết rằng quý giáo thường xử phạt rất nghiêm tội phản quốc. Bần ni xin chờ uy giáo chủ phán xét vụ này.

– Đa tạ sư thái.

Tịnh-Tuệ nhổ kiếm, cầm chuôi trao cho Hoàng Liên:

– Tiền bối. Xin hoàn lại kiếm cho tiền bối.

Hoàng Liên chắp hai tay lại, tiếp kiếm. Thình lình mụ tung ra hai chưởng vào ngực sư thái Tịnh-Tuệ. Hai người đứng gần nhau quá. Mụ lại ra tay cực kỳ thần tốc, sư thái Tịnh-Tuệ bị trúng hai chưởng đến binh một tiếng. Bà bật lui lại ba bước, người lảo đảo, miệng mửa ra búng máu. Trong khi đó Hoàng Liên phóng liền một chưởng nữa.

Tịnh-Huyền từ dưới đài nhảy lên, định cứu sư tỷ. Nhưng Tịnh-Tuệ đã vòng tay tung ra một chưởng, kình lực mạnh kinh người. Mọi người kêu lên:

– Hải triều lãng lãng.

Hải triều lãng lãng là một chiêu chưởng độc lập của phái Cửu-chân. Xưa Thục An-Dương vương bị Triệu Đà đùng Trọng-Thủy đánh lừa mà mất nước. Lúc ngài chạy đến Thanh-hóa, khám phá ra vụ Mỹ-Châu. Sau khi giết con gái để tạ tội với quốc dân. Ngài nhớ lại năm giai đọan của cuộc đời, chế ra chiêu Hải-triều lãng lãng. Chiêu này có năm lớp. Lớp đầu mạnh hai lớp thứ nhì mạnh bốn. Lớp thứ ba mạnh tám. Lớp thứ tư mạnh mười sáu. Lớp cuối cùng mạnh ba mươi hai.

Hoàng Liên cười nhạt:

– Tưởng gì chứ chiêu này có chi lạ?

Mụ cũng phát chiêu Hải-triều lãng lãng. Binh một tiếng, cả hai người đều bật lui. Miệng Tịnh-Tuệ lại phun ra một búng máu, người lảo đảo. Hoàng Liên phát lớp thứ nhì kình phong tỏa ra ào ào. Tịnh-Tuệ cũng phát lớp thứ nhì, nhưng dường như không có chút gió nào. Khi hai chưởng sắp giao nhau, Hoàng Liên mới khám phá ra Tịnh-Tuệ phát một chiêu khắc chế, nội công âm nhu. Xùy một tiếng, người mụ bay tung xuống đài.

Tịnh-Tuệ lảo đảo muốn ngã. Sư thái Tịnh-Huyền lên đài đỡ sư tỷ. Tuy gặp nghịch cảnh, nhưng Tịnh-Huyền không hổ là công chúa, một vị ni sư đắc đạo. Bà nói với Nhật-Hồ lão nhân:

– Xin trả tiền bối Hoàng Liên lại cho tiên sinh.

Bà vực sư tỷ xuống đài.

Nhật-Hồ lão nhân nhấp nhô một cái, người lão xuống đài, rồi vọt lên, tay túm cổ Hoàng Liên. Lão liệng mụ xuống giữa đài kêu lên tiếng ầm.

Sự thực bản lĩnh Hoàng Liên đâu đến nỗi để Nhật-Hồ lão nhân bắt như bắt con gà! Chẳng qua mụ bị sư thái Tịnh-Tuệ đánh bay xuống đài, khí huyết đảo lộn, cơ thể gần như tê liệt. Vì vậy mụ bị lão bắt dễ dàng. Lão móc trong bọc ra một viên thuốc để trong lòng bàn tay phải, rồi vỗ lên đầu Hoàng Liên một cái. Mụ nghiêng đầu né sang bên cạnh. Nhưng không tránh nổi bàn tay Nhật-Hồ, viên thuốc tan thành bột nhập sâu vào da đầu mụ. Mụ rùng mình liên tiếp, rồi run run, chân tay không cử động được nữa.

Dưới đài phái Đông-a, Thanh-Mai hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân, lão Nhật-Hồ làm gì vậy?

– Lão phóng thuốc nhuyễn cân vào người Hoàng-Liên. Loại thuốc này tiểu tỳ cũng biết chế. Hôm trước, tiểu tỳ trao cho công tử Tự-Mai, để khống chế lão Vũ Nhất-Trụ. Khi thuốc này nhập da thịt, chân tay tê liệt, không hoạt động được, vận công cũng bế tắc.

Nhật-Hồ hỏi Hoàng Liên bằng giọng ngọt ngào:

– Hoàng-Liên, người còn có điều gì nói nữa không? Trước đây sư phụ thương yêu người nhất. Người đã từng là cây thuốc của sư phụ bao năm qua. Bây giờ người phạm tội không thể tha thứ. Vậy người chết để mau về với hai vị thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh. Người sẽ được ngũ xa hồng xà chở về Thượng-giới.

Nghe đến tiếng cây thuốc, Tự-Mai đưa mắt nhìn mẹ. Cao Huyền-Nga thấy con nhìn, bà rùng mình, nghĩ lại suốt mấy năm bị giam, làm vật cho bọn Hồng-thiết giáo luyện công.

Còn Hoàng Liên nghe đến ngũ xa hồng xà chân tay run lẩy bẩy, mặt mũi tái mét, mụ định mở miệng van xin, nhưng sợ quá, nói không ra lời.

Nhật-Hồ lão nhân hướng vào quảng trường nói lớn:

– Bản giáo do lão phu đem vào Đại-Việt, từ xưa đến giờ lấy việc bảo quốc làm võ đạo chính. Trải qua mấy chục năm, thiếu gì kẻ phản giáo, phạm giáo quy, nhưng chưa từng có người nào mãi quốc cầu vinh cả. Đây là lần đầu tiên xẩy ra. Tội này thuộc loại nặng nhất. Chiếu luật lệ bản giáo, phải xử tử hình. Nhưng Hoàng Liên giữ chức trưởng lão, đã từng vào sinh ra tử, công lao biết mấy để xây dựng bản giáo, nên cho được về thượng giới bằng ngũ xa hồng xà.

Lão hướng vào giáo chúng:

– Ngũ xa hồng xà đâu. Hành sự đi.

Lão vẫy tay một cái.

Từ phía giáo chúng Hồng-thiết đẩy ra năm cái xe lớn. Năm cái xe đến trước đài thì đậu lại. Bọn giáo chúng phụ trách nhanh nhẹn, tháo, mở thực nhanh. Phút chốc, năm cái xe ráp với nhau thành một tấm cót bằng gỗ, đường kính ước năm trượng, thành cao đến ngang lưng.

Lúc giáo chúng Hồng-thiết giáo tới, họ đem theo mấy chục chục cái xe lớn, phía trước chĩa ra một ống đồng to bằng bắp chân, không ai hiểu trong đựng gì? Bây giờ thấy họ đẩy đến năm cái xe đó, kéo ống đồng chĩa vào trong cót.

Bên khán đài phái Đông-a, Đỗ Lệ-Thanh nghe đến ngũ xa hồng xà, mặt mụ hiện ra vẻ kinh hoàng. Thanh-Mai muốn hỏi, nhưng nàng im lặng, theo dõi hiện trường.

Một đội nhạc công, hơn mười người tới trước cái cót. Họ ngừng lại, lấy ống tiêu ra thổi. Tiếng tiêu nhu hoà, êm ái, nhưng người nghe cảm thấy ghê rợn như tiếng ma kêu quỷ khóc, như tiếng than van của âm hồn vọng về từ thế giới nào xa xôi.

Trên đài Nhật-Hồ lão nhân mỉm cười rất tươi, tay lão vuốt râu, khoan thai hướng vào giáo chúng:

– Giáo chúng nghe đây!

– Dạ…ạ…ạ…ạ!

Hàng mấy ngàn người đồng hô một tiếng dạ, vang vang kéo dài. Nhiều người yếu bóng vía giật bắn người lên.

Nhật-Hồ lão nhân tiếp:

– Lắng nghe chỉ dụ.

Toàn thể đội nhạc công Hồng-thiết cùng cử bản nhạc. Giáo chúng mấy ngàn người như một, đứng thẳng, mặt hướng về trước, hai tay nắm lại vung vẩy, hai chân dậm xuống đất rầm rập, mắt trợn trừng nhìn lên đài, hàm răng nghiến lại, miệng cất tiếng ca. Âm điệu hùng tráng. Sau khi bản ca chấm dứt, Nhật-Hồ lão nhân nói:

– Hơn hai mươi năm qua, bản nhân bế quan luyện công, tìm lấy phép trường sinh bất lão. Tuy phép này không thể làm cho người ta sống ngàn tuổi, nhưng từ một tới hai trăm tuổi, ta đã tìm ra. Ta hứa sẽ truyền cho những giáo chúng nào trung thành với bản giáo. Ta nhắc lại, thứ nhất trung thành với ta. Thứ nhì trung thành với giáo. Thứ ba trung thành với trăm họ…

… Khi ta vắng mặt, bản giáo phải tiềm ẩn. Các người không tránh khỏi bị các môn phái khác khinh khi, đàn áp. Ta biết thế, thương xót các người chẳng cùng. Ta mới xuất hiện có mấy ngày, mà các người đã tụ về đông đủ như thế này, chứng tỏ bản giáo vẫn còn hùng mạnh…

… Các người nên nhớ. Sở dĩ chúng ta được trăm họ theo đông đảo, vì chúng ta sống với người nghèo, trọng tình nghiã dân tộc. Thế nhưng khi ta vắng mặt, một số giáo chúng sa đọa, có nhiều hành vi làm ô danh bản giáo. Đối với những người vai vế thấp, còn có thể tha thứ. Chứ đối với những người địa vị cao, phải thẳng tay trừng trị.

Lão chỉ vào Hoàng Liên:

– Trưởng lão Hoàng Liên, địa vị chỉ thua có ta, quản lĩnh mấy nghìn đệ tử, nhưng lại phản ta, phản giáo, phản dân, làm gian tế cho Tống. Ta tuyên bố xử tử hình. Hình phạt được thi hành tại chỗ. Đó là tội. Nhưng công của trưởng lão cũng không nhỏ, nên được về thượng giới bằng ngũ xa hồng xà.

– Nào, thi hành.

Tuy kết án tử hình người, mà lão vẫn tươi cười như gặp một truyện vui mừng. Đám giáo chúng nhảy lên ca hát. Bốn giáo chúng mặc quần áo đen mang một mảnh ván lên đài. Chúng trịnh trọng đỡ Hoàng Liên cho ngồi trên tấm ván, rồi khiêng xuống đặt vào giữa cót.

Mặt mụ Hoàng Liên tái như gà đắt tiết, nhưng chân tay mụ tê liệt, không cử động được. Mụ gào lớn:

– Nhật-Hồ ! Người can tâm giết ta ư? Khi ta mới hai mươi tuổi thì gặp người. Người dụ dỗ ta làm cây thuốc cho người luyện công. Hàng tháng người uống kinh nguyệt của ta. Hàng ngày người uống nước tiểu của ta. Tình ý thâm trọng biết bao. Ta bỏ sư phụ, bỏ phái Mê-linh để theo người. Mà nay người tàn nhẫn với ta thế này à?

Mặc mụ nguyền rủa, ban nhạc Hồng-thiết lại cầm ống tiêu thổi lên bản nhạc âm thanh ma quái. Từ trong các ống đồng, những con rắn lớn nhỏ mầu đỏ bò ra, rơi xuống cót. Vừa tới cót, chúng vọt tới cắn vào người mụ Hoàng Liên. Mụ vẫy vùng, miệng kêu thét lên be be, nhưng không thoát. Hết con này, đến con khác bu vào người mụ. Khoảng ăn xong bữa cơm, trong cót nhung nhúc những rắn, chúng đói quá, bám vào quanh mụ mà cắn, mà rỉa.

Lát sau, mụ nằm im bất động, nhưng bầy rắn vẫn tiếp tục ăn thịt mụ. Cho đến khi chỉ còn bộ xương trắng ởn. Bấy giờ bọn giáo chúng mới hạ ống đồng xuống. Bầy rắn chui trở vào xe. Mấy tên giáo chúng nhặt bộ xương cho vào cái túi, rồi tháo cót, trở về vị trí.

Nhật-Hồ hướng vào đám đệ tử Hồng-thiết giáo vẫy tay:

– Ngô Bách-Vân đâu!

Nhanh nhẹn một thiếu phụ tuổi trên năm mươi vọt mình một cái như pháo thăng thiên lên đài. Mụ cúi rạp người xuống trước Nhật-Hồ lão nhân:

– Sư phụ! Đệ tử tham kiến sư phụ.

Nhật-Hồ vuốt râu mỉm cười:

– Cách đây hơn hai mươi năm, người từng là cây thuốc của sư phụ để luyện công. Trong thời gian sư phụ vắng mặt, người vẫn một lòng trung kiên. Vậy hôm nay sư phụ cử người làm trưởng lão thứ mười của bản giáo.

Ngô Bách-Vân lạy phục xuống đất:

– Đa tạ sư phụ tin cẩn, ban hồng ân.

Cái tên Ngô Bách-Vân thực không xa với võ lâm Đại-Việt. Nguyên y thị xuất thân con một đại danh y dưới thời nhà Đinh. Nhân phụ thân làm quan võ trong triều Đinh. Lão âm thầm nhập Hồng-thiết giáo. Việc làm bại lộ. Vua Đinh truyền đem chặt đầu. Trên đường ra pháp trường, giáo chúng Hồng-thiết cứu lão thoát chết. Lão trốn sang Trung-nguyên, theo nhà Tống, rồi chết ở đó. Con gái lão tên Ngô Bách-Vân, lấy một lái buôn thú vật. Hồng-thiết giáo biết thị giòng giống giáo hữu trung kiên, âm thầm giới thiệu thị cho Nhật-Hồ lão nhân. Lão nhận thị làm đệ tử, dùng thị làm cây thuốc luyện công.

Thị ít xuất hiện. Nhưng tiếng tăm tàn ác của thị lại vang lừng thiên hạ. Mụ là một con quỷ khủng khiếp nhất. Mụ chế ra lối luyện công đăc biệt. Mỗi ngày phải bắt một đứa con nít hai, ba tuổi, mổ lấy tim, óc, chưng thuốc mà ăn để luyện công. Cho nên trong vùng nào thấy con nít bị mất tích, biết rằng mụ xuất hiện ở đó.

Hôm nay, mọi người mới biết rõ mặt mụ.

Nhật-Hồ lão nhân hướng vào cử toạ:

– Thưa các vị anh hùng. Bất cứ ai, có thể chứng minh rằng một giáo chúng của mỗ bán nước cầu vinh, mỗ sẽ xử tử như xử trưởng lão Hoàng Liên này.

Tự-Mai bước lên đài, chắp tay xá lão:

– Lão tiên sinh! Hồi nãy tiểu bối dâng trình tiên sinh những văn kiện tố giác trưởng lão Đỗ Xích-Thập với Hoàng Liên định dâng nước cho Tống. Vì vậy lão tiên sinh đã xử tội trưởng lão Hoàng Liên. Vậy còn trưởng lão Đỗ Xích-Thập thì sao?

Lão lắc đầu:

– Tiểu công tử bàn lý thực đúng. Nhưng có điều cần xét lại. Vì Xích-Thập không biết chữ, làm sao y viết thư được? Những thư công tử cung cấp cho ta, trong đó lời lẽ rõ ra Xích-Thập. Nhưng không đủ kết tội y.

Tự-Mai cười:

– Tiên sinh ơi, tiểu bối biết rõ sắc phong của Tống triều cho Đỗ trưởng lão, hiện Đỗ trưởng lão dấu trong người. Xin tiên sinh cứ xét sẽ thấy.

Đỗ Xích-Thập nghe Tự-Mai tố, y kinh hoàng, mặt tái mét lùi lại.

Nhật-Hồ nói với Tự-Mai:

– Trần công tử. Nếu ta khám trong người Đỗ Xích-Thập, không có sắc phong của Tống triều, thay vì ta xử tử y. Ta sẽ xử tử công tử đấy.

Tự-Mai cầm kiếm đưa ra:

– Giáo chủ! Tiểu bối là đệ tử phái Đông-a. Võ đạo phái Đông-a tuyệt đối cấm hại người vô tội. Giáo chủ khám trong người Đỗ trưởng lão mà không có bằng sắc của Tống, tiểu bối xin tự tử ngay tại đây. Chứ không phải đợi đại giá của giáo chủ ra tay.

Nhật-Hồ vẫy tay gọi Xích-Thập:

– Lại đây! Lại đây! Cây ngay không sợ chết đứng. Người lại đây cho Trần công tử khám.

Xích-Thập run run, định phóng xuống đài bỏ chạy. Nhật-Hồ nhảy tới chụp Đỗ Xích-Thập. Xích-Thập vọt người lên khỏi ghế. Lão định nhảy theo bắt y, bỗng cảm thấy bên phải, bên trái bị hai kình vực như sóng biển ập vào người.

Lão lùi lại một bước, hay tay đẩy ra hai chưởng đỡ. Bình, bình. Người lão rung động mãnh liệt, chân tay tê dại. Lão nhìn lại, thì ra Phạm Hổ với Lê Đức. Lão kinh ngạc hỏi:

– Các ngươi định làm gì ta đây? Muốn phản chăng?

Bên dưới đám đệ tử lão đều đã lên trên đài đứng vây xung quanh lão thành vòng tròn. Tay người nào cũng cầm vũ khí như sẵn sàng băm vằm lão ra từng mảnh. Lão kinh hoảng run run, nhưng vẫn làm bộ bình tĩnh điểm mặt:

– A ha! Tên nào gan hãy nhảy vào trước chịu chết đi!

Thấy thầy trò Nhật-Hồ sắp giết nhau, Tự-Mai bỏ xuống đài. Thanh-Mai hỏi em:

– Tự này. Em đã thấy đủ mặt bọn đệ tử Nhật-Hồ. Chị nghe nói Nhật-Hồ có mười đệ tử. Hôm nay vắng mặt Vũ Nhất-Trụ, Hoàng Văn bị Khu-mật viện giam. Mụ Hoàng Liên vừa bị giết. Tên Lê Ba chính là Dương Ẩn ngồi kia rồi. Tên Đỗ Xích-Thập vốn người phái Tản-Viên. Còn lại năm tên kia lý lịch ra sao?

Tự-Mai chỉ lên đài:

– Gã có bộ mặt xấu kinh khủng, hai môi như hai quả chuối đen kia tên Phạm Trạch. Y đã xuất hiện, giang hồ đều biết mặt. Tên mặt mũi coi được kia tên Lê Đức. Tên to lớn kia tên Nguyễn Chí. Còn tên bịt mặt kia tên Đặng Trường. Tên mặt mũi kinh tởm chắc là lão Trịnh Hồ chủ nhân tửu lầu Động-đình hoá trang. Trong Hồng-thiết giáo, y có tên Phạm Hổ.

Nó hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân. Tôi nghe anh cả mói rằng tổ chức Hồng-thiết giáo các nơi đều theo một khuôn khổ. Trên cao nhất có giáo chủ. Kế đến tả, hữu hộ pháp, ngũ sứ, mười trưởng lão. Không biết bang Nhật-Hồ Trung-quốc có giống như vậy không?

– Khai-Quốc vương thực tinh tế vô cùng. Chẳng việc gì người không biết. Có điều từ khi sang Đại-Việt, tiểu tỳ chỉ nghe nói đến mười trưởng lão, mà chưa từng thấy ai nói đến tả, hữu sứ hộ pháp cùng ngũ sứ cả.

Tự-Mai quay sang hỏi Vũ Anh:

– Sư thúc. Sư thúc nghe nhiều, biết rộng, sư thúc có biết tả, hữu hộ pháp cùng ngũ sứ Hồng-thiết giáo lý lịch ra sao không?

Vũ Anh trả lời bằng cái lắc đầu:

– Nguyên khi Nhật-Hồ lão nhân từ Trung-thổ về, lão đi thuyết phục anh hùng khắp nơi thuộc tộc Việt lập Hồng-thiết giáo. Lão cho rằng tộc Việt mình chia thành bẩy tám mảnh, mỗi mảnh nói một thứ tiếng. Đại-lý, Xiêm-la, Lão-qua nói tiếng Thái. Quế-lâm, Nam-Hải nay thuộc Đàm-châu, Quế-châu, Quảng-Đông Nam-lộ, Quảng-Tây Nam-lộ nói pha nửa tiếng Việt, nửa tiếng Hán. Đại-Việt nói tiếng Việt, Chiêm-thành nói tiếng Chiêm, Chân-lạp nói tiếng Chân. Phong tục có nhiều khác biệt, mà muốn thống nhất, thực còn khó hơn bắc thang lên trời. Trong hoàn cảnh như vậy không ai đủ uy tín tập hợp lại được? Muốn tập hợp lại phải có một tôn giáo mạnh. Đạo Phật, đạo Lão chủ xuất thế. Khổng lại là đạo của Tầu, hơn nữa chưa có ảnh hưởng ở Đại-Việt làm bao. Còn tại Chiêm, Chân, Xiêm, Lão, Lý gần như chưa ai biết đến. Cuối cùng lão đem Hồng-thiết giáo ra thuyết. Bấy giờ anh hùng tộc Việt có hơn trăm người theo. Lão tổ chức đại hội ở hồ Động-đình tuyên bố thành lập Hồng-thiết giáo Đại-Việt.

Tôn Đản cau mặt:

– Lão thực xảo quyệt. Một mặt chủ xóa bỏ tổ tiên, tôn giáo. Một mặt lại tổ chức đại hội ở hồ Động-đình ra cái điều ta đây nối tiếp truyền thồng Kinh-Dương vương, Trưng-vương. Thế sau trên trăm hào kiệt đó đâu cả?

– Trong đại hội, lão phong cho Chu Bội-Sơn làm Tả hộ-pháp phụ trách vùng Quế-lâm, Động-đình hồ, Trường-sa. Đào Tường-Phúc làm Hữu hộ-pháp, phụ trách vùng Nam-hải.

Tự-Mai đã đọc qua phần tài liệu này ở Khu-mật viện. Nó góp ý:

– Dường như Đào Tường-Phúc thuộc phái Cửu-chân, Chu Bội-Sơn thuộc phái Khúc-giang thì phải. Nhưng thực sự trong thế gian làm gì có hai tên đó. Chẳng qua hai gã ấy dùng tên giả mà thôi.

– Đúng thế! Cho đến nay, người ta cũng không biết tên thực hai gã Đào, Chu là gì. Giang hồ đồn võ công, kiến thức, văn học hai người ấy hiếm ai bì kịp. Nhật-Hồ phong cho năm cao thủ khác làm ngũ sứ. Trung ương sứ Nguyễn San phụ trách giáo chúng Chiêm-Thành. Tây-phương sứ Bun Thành phụ trách giáo chúng vùng Xiêm-la. Bắc-phương sứ Nguyễn Thúy-Minh phụ trách giáo chúng Đại-lý. Đông-phương sứ Sử-vạn Na-vượng phụ trách giáo chúng vùng Lão-qua. Nam-phương sứ Khiếu Tam Bản phụ trách giáo chúng vùng Chân-lạp. Bẩy người này được lão truyền thần công Hồng-thiết, nên họ quay ra anh hùng một cõi, không chịu quyền thống thuộc lão.

Tôn Đản hỏi:

– Thế sao cho đến nay không thấy nói đến những người này. Phải chăng họ chết hết hồi?

Tự Mai nói:

– Giang hồ mới chỉ bết danh tính bẩy hào kiệt mà thôi. Hơn trăm hào kiệt, lão chia cho bẩy người. Nhưng sau khi thấy tính chất xảo quyệt, điên khùng của Hồng-thiết giáo, anh hùng quay lại phản lão. Lão không cấp thuốc giải cho, họ chết trong đau đớn. Duy Nguyễn San, lão sai Vũ Nhất-Trụ vào Chiêm giết chết.

Nói đến đó, nó liếc nhìn Cao Huyền-Nga rồi nghĩ:

– Số kiếp mẹ mình thực long dong. Mẹ mình có cái may làm vợ một nhân vật lỗi lạc. Bọn Nhật-Hồ muốn khống chế anh hùng thiên hạ. Cho nên bọn chúng mới dùng Nhật-Hồ độc chưởng bắt mẹ mình tuân theo lệnh chúng. Lệnh của chúng chắc chắn để hại bố mình. Nếu mẹ mình không chịu nổi đau đớn, tuân theo lệnh chúng, sau chúng cũng bắt làm cây thuốc. Mẹ mình không chịu, đành gánh đau đớn trong bốn mươi chín ngày, rồi bị đem giam để biến thành cây thuốc. Không hiểu hôm nay bố mình mang mẹ mình theo để làm gì? Còn tên Phạm Hổ kia, thế nào Thuận-thiên cửu hùng cũng phải giết chết y trả hận cho mẹ mình, cho vương mẫu chị Mỹ-Linh.

Nhật-Hồ chỉ Đặng Trường:

– Trước đây, mi từng bỏ nhà theo ta. Mi tuyên thệ trung thành với ta suốt đời. Để tỏ lòng trung, mi giết cha, giết mẹ. Suốt bao năm mi cùng ta phát triển giáo. Tại sao hôm nay mi phản ta?

Đặng Trường cười nhạt:

– Sư phụ! Căn bản Hồng-thiết kinh phá bỏ tình cha con, gia đình, thầy trò. Thế vì lý do gì lão gia bắt tôi phải trung thành với lão gia? Trước đây tuân chỉ dụ của Hội-đồng giáo vụ trung ương tôi giết cha, giết mẹ, giết cả chú, bác vì những người này chống bản giáo. Thì nay, giáo chủ không thể cấm chúng tôi, giết giáo chủ để bảo tồn Hồng-thiết giáo.

Quần hùng nghe đối đáp giữa Nhật-Hồ với Đặng Trường, họ vẫn không biết y tên gì mà lại nhẫn tâm giết cả cha, mẹ, chú, bác?

Nhật-Hồ chỉ vào Dương Ẩn:

– Lê Ba. Mi là đệ tử thứ ba của ta. Mi đánh lừa ta xuống hầm, giam ta hai mươi năm, rồi còn định xả nước cho ta chết ngộp. Ta thoát ra được, nhưng vẫn tha tội cho mi. Nay mi lại phản ta nữa, thực mi không còn chút lương tâm nào.

Trừ Khu-mật viện, cùng bọn Nhật-Hồ, không ai biết mặt Lê Ba cả. Võ lâm giang hồ chỉ biết y giết người không gớm tay. Ai nghe đến tên Lê Ba cũng kinh hồn động phách. Không ngờ bây giờ nảy ra Lê Ba chính thị đạo sư Dương Ẩn, sư thúc Hồng-Sơn đại phu. Một người đạo cao đức trọng. Cả quảng trường rung động lên bàn tán xôn xao.

Trước đây Hồng-Sơn đại phu cực kỳ tôn kính Dương Ẩn, vì y có công giúp ông đoạt ngôi chưởng môn. Y lại tu hành, suốt ngày ngồi tĩnh toạ luyện công, hoặc chăm chú dạy dỗ con em trong phái. Cho nên đệ tử Sài-sơn kính trọng y như một vị tiên. Mọi bất hoà trong môn phái, đều do y hoà giải.

Chính ngay khi Vũ Thiếu-Nhung bị y đánh lén Chu-sa độc chưởng. Bà đau đớn điên loạn, y luôn ở cạnh bà, khi dùng châm cứu, khi dùng dược, cho bà giảm đau. Hồng-Sơn đại phu, với bà đều không ngờ tới. Cho đến khi bà đau quá thiếp đi, bị khâm niệm, rồi một người bí mật cậy quan tài đem bà ra cho uống thuốc phục hồi sức khoẻ. Bà mơ mơ màng màng tưởng rằng mình đang ở âm phủ. Sau đó người ta bắt bà phải phục thị Nhật-Hồ lão nhân. Lúc Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cứu bà thoát lao tù, Nhật-Hồ lão nhân cho bà biết Lê Ba chính là Dương Ẩn. Bà không tin.

Đến lúc Lê Ba giật sập hầm, tháo nước mong giết Nhật-Hồ, Nguyễn Chí. Qua cuộc đối thoại, bà nhận ra giọng nói Lê Ba giống hệt Dương Ẩn. Tuy vậy hình ảnh đạo đức của Dương Ẩn vẫn khiến cho bà không tin.

Khi Khai-Quốc vương đưa bà về gặp lại Hồng-Sơn đại phu. Thiện ý của vương dấu hết những điều nhục nhã của bà trong thời gian làm cây thuốc. Theo vương, nói dối tuy xấu, song nói thực làm thương tâm cho chồng. Những sự thực tàn nhẫn nên dấu đi. Làm vợ Hồng-Sơn, bà biết chồng cực kỳ thông minh. Nghĩ rằng dấu diếm, trước sau, ông cũng biết. Chi bằng nói cho ông nghe, để ông định liệu kế hoạch đối phó với Hồng-thiết giáo. Cho nên bà tường thuật tỷ mỉ mọi biến cố từ khi bị dùng làm cây thuốc cho đến khi được cứu ra.

Nghe vợ kể Lê Ba chính là Dương Ẩn. Hồng-Sơn đại phu lắc đầu, nhất định không tin. Ông cho rằng Khu-mật viện dàn ra vở kịch đó, để chia rẽ ông với Dương Ẩn. Vì vậy ông quyết định cho vợ mặc quần áo như đệ tử Sài-sơn theo dự đại hội. Theo ông nghĩ trong đại hội thiếu gì đệ tử Hồng-thiết giáo đi dự, ông cần cho Dương Ẩn xuất hiện. Nếu y làm trưởng lão, ắt có người nhận diện, trắng đen sẽ rõ. Cho nên ông đề cử Dương Ẩn làm đại tôn sư phái Sài-sơn để cho mọi người cùng thấy. Suốt từ đầu đại hội, Dương Ẩn đóng vai đạo sĩ nhu nhã. Cho đến bây giờ nghe Nhật-Hồ lão nhân gọi Dương Ẩn là Lê Ba. Ông vẫn cho rằng Nhật-Hồ chia rẽ, bôi nhọ, vu hãm Dương-Ẩn.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103136
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49576 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Postby DaMinhChau » October 3rd, 2017, 1:52 pm


Hồi thứ sáu mươi ba

Trưởng-lão Hồng-thiết-giáo




Ông chờ Dương Ẩn phản đối. Nào ngờ y đứng dậy dậy nói:

– Bần đạo nguyên đệ tử phái Sài-sơn. Tuy đạo hạnh không làm bao, nhưng cũng có đôi chút tiếng tăm về đạo đức. Bần đạo thấy Nhật-Hồ lão nhân hành sự tự tôn, ác độc không chừng, nên bần đạo phải nhập Hồng-thiết giáo để cải hoá lão. Cải hóa không được bần đạo giam lão dưới hầm suốt hai mươi năm qua. Mới đây lão thoát ra được. Lão định dùng anh em Hồng-thiết giáo tranh dành ngôi vua. Bần đạo có bổn phận cùng các trưởng lão truất phế lão.

Nghe Dương Ẩn nhận tên Lê Ba, cả phái Sài-sơn đều kinh hãi. Chân tay Hồng-Sơn đại phu run lẩy bẩy. Tai ông ù đi, tưởng như không còn nghe thấy gì. Thì ra Khai-Quốc vương nói đúng, Vũ Thiếu-Nhung không sai. Ông cắn răng ngồi nghe cho hết đoạn bi thảm này xem sao.

Dương Ẩn cười nhạt:

– Giáo chủ. Con người ta dù tiên, dù thánh cũng không qua được thời gian. Giáo chủ sống một trăm năm quá đủ rồi. Từ ngày lập ra bản giáo. Giáo chủ lấy việc giết người làm thú vui, coi đó như một hành vi giết kẻ ác, cứu người thiện. Bây giờ giáo chủ nên lui đi, để cho anh em chúng tôi cải tổ bản giáo.

Nhật-Hồ thấy Dương Ẩn trở mặt trắng trợn, lão phóng vào người y một quyền mạnh không thể tưởng được. Lập tức cả bọn đồng xuất chiêu hướng lão. Lão kinh hãi, phải thu chiêu lại. Lão nhìn Nguyễn Chí, Đỗ Xích-Thập, Phạm Trạch, Lê Đức, Phạm Hổ:

– Còn các người. Vì sao các người phản ta?

Nguyễn Chí nói:

– Sư phụ. Chúng tôi nhất tâm, nhất trí theo sư phụ đã sáu mươi năm có dư. Trước đây hơn trăm anh em. Sư phụ xử tử dần mòn, nay chỉ còn mười người. Đại sư ca, tứ sư ca tự nhiên mất tích mấy hôm nay. Nhị sư ca cho biết sư phụ bí mật xử tử hình rồi. Hôm nay chỉ vì muốn tỏ ra là người yêu nước, sư phụ đem Hoàng sư muội ra xử tử, để thu phục nhân tâm. Chúng tôi theo sư phụ mong cầu giúp cho nước giầu dân mạnh. Không ngờ sư phụ coi mạng sống chúng tôi rẻ quá.

Sự thực Vũ Nhất-Trụ, Hoàng Văn bị Khu-mật-viện giam một nơi bí Khi dàn cảnh cho Nhật-Hồ vào cứu Đặng Trường, Nguyễn Chí ra, Khai-Quốc vương đã cho bọn ngục tốt bàn tán với nhau rằng Nhật-Hồ vào nhà tù xử tử Vũ Nhất-Trụ, Hoàng Văn. Vì vậy bọn này tin rằng đúng.

Nhật-Hồ lão nhân lắc đầu:

– Ta không xử tử hai người đó.

Nguyễn Chí cười:

– Tôi không tin sư phụ. Nhưng thôi, coi như hai người đó trúng gió chết đi. Bây giờ có một vấn đề, chúng tôi đặt ra với sư phụ. Nếu sư phụ đồng ý, chúng tôi cùng sư phụ phất cờ đoạt giang sơn, rồi sư phụ lên làm vua. Còn như sư phụ không thuận, chúng ta cùng chết.

Nhật-Hồ lão nhân hỏi:

– Vấn đề gì, điều kiện gì, người nói ta nghe thử?

– Giản dị thôi. Hồng-thiết kinh nói rằng khi một người tuyên thệ nhập giáo, bị phóng vào người một Chu-sa độc chưởng. Khi trúng chưởng, nếu trong bốn mươi chín ngày, không có thuốc giải sẽ chết. Còn có thuốc giải, khỏi chết. Kể từ đấy, giáo chúng đó phải tuyệt đối trung thành với giáo, để hàng năm, vào ngày tiết Đông-chí sẽ nhận được một viên thuốc giải.

– Đúng thế. Ta cũng áp dụng như vậy đối với Hồng-thiết giáo Đại-Việt.

Nguyễn Chí lắc đầu:

– Khác xa! Bên Tây-dương, nếu giáo chúng nào lên tới địa vị quản một quận trở lên, sẽ được giáo chủ hoặc các trưởng lão trong hội đồng giáo vụ trung ương dùng Hồng-thiết tâm pháp giải chất độc cho. Từ đấy, nếu có trúng chưởng độc nữa, cũng vô sự. Nhưng, sư phụ giữ kín Hồng-thiết tâm pháp. Chúng tôi làm trưởng lão, mà năn nỉ biết bao năm, sư phụ cũng không dạy.

Dương Ẩn nói:

– Đã vậy, sư phụ còn sửa đổi độc chưởng thành Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng. Người bị trúng tuy uống thuốc giải, nhưng mỗi tháng lên cơn một lần, đau đến chết đi sống lại trong một giờ.

Lê Đức tiếp:

– Anh em chúng tôi quyết định lên đây yêu cầu sư phụ hai việc. Việc thứ nhất trao Hồng-thiết tâm pháp cho chúng tôi luyện. Thứ nhì, chính người phải sửa đổi Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng sao để không còn bị đau hằng tháng nữa.

Trong khi ở tù, Nhật-Hồ lão nhân đã nguyện, nếu lão thoát ra khỏi, sẽ xẻo từng miếng thịt bọn Vũ Nhất-Trụ, Lê Ba, Hoàng Văn cho hả giận. Nhưng khi ra tù, lão nghĩ:

– Giết chúng thì thỏa hận đấy, nhưng thiếu người trợ giúp. Chi bằng tha cho chúng, để chúng trợ giúp chiếm ngôi vua. Bấy giờ giết chúng cũng chưa muộn.

Bây giờ thấy chúng đặt điều kiện. Nếu thỏa mãn chúng. Chúng giúp cho tranh ngôi vua. Lão quyết định nhanh chóng:

– Có thế mà các người phải làm rộn. Nhược bằng các người xin, ta cho ngay từ lâu rồi. Được. Ta thuận hết. Tối hôm nay, chúng ta bắt đầu luyện Hồng-thiết tâm pháp.

Giáo chúng dưới đài nghe vậy, cùng vỗ tay hoa hô rung động quảng trường. Suốt từ ngày nhập giáo, giáo chúng phải chịu biết bao thống khổ do cơn đau hàng tháng hành hạ. Bây giờ nghe lão hứa sẽ cho uống thuốc giải cái khổ đó, còn gì bằng?

Thầy trò Hồng-thiết vừa cắn cấu nhau, tưởng giết nhau. Bây giờ lại thoả thuận với nhau chuẩn bị tranh thiên hạ. Ai nghe đến cũng rùng mình.

Huệ-Phương từ khán đài phái Sài-sơn bước lên lễ đài. Nàng chắp tay hướng Dương Ẩn:

– Lê trưởng lão. Tiểu bối xem tướng trưởng lão, đã biết rằng trưởng lão vốn người ác độc, giết người không gớm tay, sao có thể thành một đạo sư tiêu dao vũ ngoại trần ai được. Cho nên tiểu bối mới không gọi người bằng sư thúc, mà gọi người bằng tiền bối. Tiền bối còn mồm năm miệng mười tự cho mình đạo đức hơn người. Thì ra tiền bối tiềm ẩn ở phái Sài-sơn, mong khống chế phái này, hầu giúp Hồng-thiết giáo.

Nàng ngừng lại, mỉm cười, rồi hỏi:

– Bây giờ tiền bối có nên ngồi ghế tôn sư phái Sài-sơn nữa không?

Dương Ẩn quát lên:

– Ta làm tôn sư phái Sài-sơn hay không, cũng không đến cái thứ như mi có quyền đặt câu hỏi.

Bỗng trên khán đài phái Mê-linh có tiếng la hoảng. Mọi người nhìn lại, thì ra sư thái Tịnh-Tuệ, mặt đỏ như gấc đang ngồi kiết già trấn nhiếp cơn đau, mồ hôi phát ra như tắm. Mỹ-Linh đứng cạnh, nàng thấy rõ bà bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Vì hồi trước vương mẫu của nàng đã từng bị, nàng thấy qua rồi.

Mỹ-Linh nói với Tịnh-Huyền:

– Thái cô. Thái sư phụ bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Phải rồi. Hai chưởng của Hoàng Liên ban nãy là độc chưởng.

Tịnh-Huyền lên đài, hướng vào Nhật-Hồ lão nhân:

– Giáo chủ! Sư tỷ của vãn bối bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng do Hoàng Liên truyền vào người. Mong giáo chủ ban thuốc giải.

Đỗ Xích-Thập cười nhạt:

– Sư phụ ta mới ở trong tù ra, làm gì có thuốc giải mà xin? Trong anh em chúng ta đây, ai cũng biết chế thuốc giải hết. Muốn được thuốc giải, Tịnh-Tuệ phải tuyên thệ nhập bản giáo, mỗi năm sẽ được phát một viên thuốc giải vào ngày Đông-chí. Tuy vậy, hàng tháng cũng bị lên cơn đau đớn hai giờ.

Y đến trước mặt sư thái Tịnh-Tuệ hỏi:

– Sư thái! Nếu sư thái tuyên thệ nhập bản giáo, ắt được trao cho chức trưởng lão. Sư thái mau đến trước sư phụ xin lão nhân gia thu làm đệ tử, lập tức bọn ta cấp thuốc giải cho sư thái liền.

Tịnh-Tuệ lắc đầu:

– Đa tạ hảo ý của Đỗ trưởng lão.

Chợt Mỹ-Linh nhớ ra Đỗ Lệ-Thanh có thuốc giải này. Nàng chạy lại khán đài phái Đông-a hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân. Xin Đỗ phu nhân cứu Thái sư-phụ với.

Đỗ Lệ-Thanh đến khán đài phái Mê-linh bắt mạch sư thái Tịnh-Tuệ, rồi lắc đầu:

– Trước kia Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng của Trung-quốc với Đại-Việt giống nhau. Trải mấy chục năm, các tôn sư Trung-quốc cải biến đi nhiều. Vì vậy người trúng Chu-sa Nhật-hồ Trung-quốc, dùng thuốc giải Hồng-thiết giáo Đại-Việt trị không khỏi. Hôm bọn Tống bị trúng Chu-sa độc phấn của bang Nhật-hồ Trung-quốc trên sông Hồng. Đỗ Xích-Thập, Hoàng Văn, Hoàng Liên từng dùng thuốc giải Đại-Việt, mà trị có được đâu? Còn Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng Đại-Việt cũng sửa đi nhiều, thuốc giải Trung-quốc e khó trị được.

Tuy vậy Lệ-Thanh cũng móc một viên thuốc bỏ vào miệng sư thái Tịnh-Huyền. Bà vận công nuốt vào. Một lát, cơn đau giảm, nhưng người vẫn còn lạnh run.

Nhật-Hồ nhìn thấy vậy, y cười:

– Sư thái! Khi lão phu từ Trung-quốc về Đại-Việt, đã sửa đổi cách phát, cách luyện Chu-sa chưởng khác đi nhiều. Thuốc giải đương nhiên càng khác. Thuốc của mụ họ Đỗ kia trị không khỏi đâu. Không tin sư thái thử vận công mà xem.

Tịnh-Tuệ độ chừng Nhật-Hồ lão nhân không nói dối. Bà thử vận công, quả nhiên kinh mạch bế tắc. Các âm kinh không lưu thông được. Bà thản nhiên:

– Bần ni bị nghiệp báo từ kiếp trước. Khi nghiệp chướng bầy ra, tốt hơn hết nên chấp nhận chịu đựng mới giải trừ. Chứ còn chống trả biết bao giờ cho hết đi được? Đa tạ giáo chủ quan hoài.

Đỗ Lệ-Thanh nói với Mỹ-Linh:

– Khải tấu điện hạ. Nếu sư thái muốn giải trừ hết nọc Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng mà dùng thuốc giải, mỗi tháng vẫn bị lên cơn đau một giờ. Chỉ có phương pháp duy nhất là luyện Hồng-thiết tâm pháp, mới khu trừ toàn diện độc tố.

Tịnh-Tuệ nở nụ cười, bà nắm tay Đỗ Lệ-Thanh:

– Đa tạ Đỗ phu-nhân. Bần ni tu theo Phật từ thủa còn thơ, ăn chay niệm Phật đã lâu. Bây giờ luyện Hồng-thiết công e vô ích. Phu nhân đã biết rồi đó, Hồng-thiết giáo gốc do hai vị giáo chủ Mã-Mặc, Lệ-Anh lấy trùng độc luyện công, rồi dần dần viết Hồng-thiết kinh. Khi luyện, phải ý thủ vào máu, vào sắt, vào cảnh chém giết. Bần ni không dám luyện, có luyện cũng vô ích.

Đỗ Lệ-Thanh ngơ ngác không hiểu:

– Thưa sư thái, hơn năm trước đây đệ tử đem tâm pháp này truyền cho chủ nhân của tiểu tỳ là Thân thế-tử. Trong người Thân thế tử chứa một trăm năm công lực của Bồ-tát Sùng-Phạm, thế mà người cũng luyện thành.

Tịnh-Huyền giảng giải:

– Phu nhân không hiểu cũng phải. Khi Thân thế-tử được Bồ-tát Sùng-Phạm truyền thiền công cho, trong cơ thể thế tử chỉ có chút ít công lực phái Tây-vu. Thiền công hoá giải đi, rồi nhập vào. Phu nhân biết đó, Thân thế-tử tuy nhận một trăm năm thiền công, mà người chưa từng quy y. Phật pháp chỉ biết câu Nam-mô A-di-đà Phật. Cho nên người có công lực vô cùng mạnh, mà xử dụng không được. Bấy giờ phu nhân đem Hồng-thiết tâm kinh truyền cho Thân thế-tử. Thân thế-tử luyện chắc dễ dàng, mau chóng lắm thì phải?

Đỗ Lệ-Thanh như người đi trong đêm, được người soi sáng ngọn đèn cho, bà nghĩ thầm:

– Vị sư thái này kiến thức thực quảng bác. Bà không hổ danh một trong Đại-Việt ngũ long. Trước kia mình cứ tưởng Đại-Việt ngũ long gồm năm người có võ công cao nhất. Thì ra họ toàn những nhân vật trí tuệ, kiến thức bao la đã đành. Họ lại quảng đại, vượt ra khỏi ranh giới bo bo giữ môn hộ mình. Nhật-Hồ lão nhân, cùng đám đệ tử võ công đến thế, nhưng lòng dạ hẹp hòi, kiến thức hủ lậu, so với họ thế nào được.

Bà kiểm điểm lại:

– Lần đầu tiên ta gặp đại hiệp Trần Tự-An. Ông khó cũng thực khó, dễ lại thực dễ. Ông không cần biết đến những hào quang công chúa Bình-Dương, thế tử Thân Thiệu-Thái, quận chúa Bảo-Hòa. Trước mặt ông toàn một đám trẻ, bạn của Thanh tiểu thư. Ông thân mật, thương yêu, sẵn sàng dạy bất cứ điều gì ông có. Ông thấy ta là nữ tỳ của thế-tử, mà vẫn gọi ta bằng phu-nhân, ăn cùng mâm, truyện trò với ta như người ngang hàng. Mỗi hành xử của ông đều hào sảng, lỗi lạc. Hồng-Sơn đại-phu tính khí hẹp hòi hơn, nhưng ông thành bậc thần y đời nay. Ơn đức trải khắp thiên hạ. Minh-Không thiền sư, ta không biết nhiều, nhưng thành Bồ-tát đắc đạo, ắt kiến thức, đạo đức không tầm thường. Bây giờ ta biết thêm vị sư thái này nữa.

Nghĩ vậy bà tiếp:

– Bạch sư thái đúng thế. Thân thế-tử luyện trong vòng bốn giờ thì xong. Trong khi tiên phụ luyện trên hai mươi năm mới thành. Chính đệ tử luyện gần bốn mươi năm, mà vẫn chưa đạt được ba thành. Đệ tử cho rằng Thân thế-tử có công lực cao, luyện mau chóng. Vì vậy sư thái luyện ắt cũng mau.

– Không được. Thân thế-tử nhận thiền công, mà chưa biết vận thiền công, mới luyện thành. Còn bần ni luyện nội công Mê-linh, bao gồm nội công dương cương của Cửu-chân và nội công âm nhu của Long-biên, nếu nay luyện Hồng-thiết công, phải đi vào ma nghiệp, làm cho âm dương ly tán, cơ thể nguy tai.

Bây giờ Đỗ Lệ-Thanh mới hiểu rõ. Bà nghĩ thầm:

– Không biết bây giờ ta có thể nhờ Thân thế-tử dùng Hồng-thiết tâm pháp hoá giải độc chất cho vị sư thái này. Ngặt vì Thân thế-tử đang ẩn thân trong đám đệ tử Hồng-thiết, làm sao có thể xuất hiện? Ta đành chờ sau buổi lễ hôm nay vậy.

Sư thái Tịnh-Tuệ đã bớt đau. Bà vẫy tay gọi Mỹ-Linh:

– Con lại đây ta bảo.

Mỹ-Linh tiến lại trước bà, chắp tay đứng hầu. Sư thái Tịnh-Tuệ nhắn mắt nhập thiền. Một lúc lâu bà mới mở mắt ra:

– Từ khi Hoa-Minh thần ni qui tụ anh hùng lập ra bản phái. Sau truyền đến đời thứ ba, sư phụ ta pháp danh Duyên-Tịnh làm chưởng môn. Người còn hai sư muội. Một, Duyên-Hoà võ công cực kỳ cao thâm, Phật học càng uyên bác. Không biết vân du đâu, mất tin tức đã hơn hai mươi năm. Người thứ ba, Hoàng Liên. Sư phụ ta có hai đệ tử. Một là ta. Hai là Thái-cô của con. Ta thu ba đệ tử. Một, vương mẫu của con. Hai, Ngô Thuần-Trúc, ba, Hàn Diệu-Chi. Những người này con đều biết cả rồi.

Bà nhắm mắt vận công, một lát sau tiếp:

– Nay ta mắc nghiệp quả rất nặng, e khó gánh vác trọng trách bản phái. Con hãy quỳ xuống nghe ta dạy.

Mỹ-Linh quỳ gối, bà kéo đầu Mỹ-Linh sát vào miệng, trao cho nàng cái túi gấm, nói nhỏ:

– Trong túi này có hai tập sách mỏng. Một vẽ sơ đồ cất kho tàng lớn nhất thiên hạ, lưu truyền từ đời vua Trưng. Con truy theo đó đào lên, đem về giúp cho nước giầu dân mạnh. Cái túi thứ nhì chép phần võ công ta với Tịnh-Huyền đã tổng hợp nội ngoại công âm nhu Cửu-chân, Long-biên làm một. Con theo đó nghiên cứu cho thành pho võ công toàn bích. Tuy nhiên muốn tìm được kho tàng, con phải nhớ bài mật quyết sau đây.

Bà ghé tai Mỹ-Linh đọc một lượt, rồi bảo nàng đọc lại. Mỹ-Linh nhẩm một lúc nàng thuộc lầu. Tịnh-Tuệ đứng dậy nói lớn:

– Đệ tử Mê-linh nghe đây.

Tất cả các đệ tử phái Mê-linh im lặng lắng nghe. Tịnh-Tuệ cầm thanh kiếm đeo ngang lưng trao cho Mỹ-Linh:

– Mỹ-Linh! Hôm nay ta, Tịnh-Tuệ, chưởng môn đời thứ năm, truyền chức cho người làm chưởng môn đời thứ sáu. Thanh kiếm này là thanh kiếm vua Trưng mang thủa xưa, được coi như kiếm lệnh bản môn. Bất cứ đệ tử nào thấy kiếm cũng như thấy vua Trưng, đều phải nhất nhất tuân lệnh.

Mỹ-Linh kinh hoàng đến đờ người ra. Nàng chưa kịp trả lời, Tịnh-Tuệ đã đọc một lúc mười điều giáo luật của phái Mê-linh, bắt nàng học thuộc. Bà nói:

– Mỹ-Linh! Con hãy tuyên thệ tuyệt đối trung thành với mười điều giáo huấn của tổ sư đi.

Mỹ-Linh như cái máy, quỳ gối tuyên thệ. Tịnh-Huyền tiếp:

– Bây giờ con là chưởng môn phái Mê-linh.

Tịnh-Tuệ hô lớn:

– Toàn thể đệ tử quỳ gối làm lễ ra mắt tân chưởng môn.

Mấy nghìn đệ tử, trong đó có cả Tịnh-Huyền đều cúi đầu hành lễ. Tuy bất thần, ngạc nhiên. Nhưng Mỹ-Linh là công chúa, từng bị lễ giáo ràng buộc quen. Nên nàng không bỡ ngỡ. Tay cầm kiếm lệnh, nàng nói:

Mời các vị bình thân. Tôi tuổi trẻ, tài thô, đức mỏng. Nhưng Thái sư phụ đã dạy, không thể từ chối. Từ hôm nay, tôi nhận quyền chưởng môn, tất cả những nếp cũ các vị tổ sư đặt ra, nhất nhất đều không đổi.

Nàng bước lên đài hướng vào quần hùng:

– Tuân chỉ dụ của Thái sư phụ, tôi đảm nhiệm chức vụ chưởng môn kể từ ngày hôm nay. Rất mong được chư vị cao nhân tiền bối chỉ dạy. Nhân danh chưởng môn, tôi chỉ định Thái sư thúc Tịnh-Huyền làm tôn sư bản phái.

Tịnh-Huyền khoan thai lên đài ngồi.

Chưởng môn nhân các phái đồng đến trước Mỹ-Linh chúc mừng.

Từ lúc bọn Triệu Thành đi đến giờ, diễn biến dồn dập xẩy ra, khiến quần hùng quên lời đe doạ mang quân sang của y. Bây giờ chưởng môn phái Tản-viên Đặng Đại-Khê hỏi Nhật-Hồ:

– Giáo chủ! Vụ Đỗ trưởng lão làm gian tế cho Tống, giáo chủ định bỏ qua sao? Như vậy luật Hồng-thiết có còn giá trị không?

Nhật-Hồ lão nhân đứng trước, phía sau bẩy trưởng lão xếp thành hàng. Lão trả lời cho qua:

– Đặng chưởng môn cứ chờ đi.

Đỗ Xích-Thập chỉ vào mặt Đặng Đại-Khê:

– Tên khốn kiếp kia! Ta đã không lý đến cái chức chưởng môn của mi, mi cũng phải biết điều chứ? Mi nên nhớ rằng, từ khi bản phái tái lập đến nay, trải gần hai trăm năm. Lúc mới tái lập, ngũ tổ đã họp nhau định rằng, cho đến khi tìm được di thư của ba mươi sáu chiêu Phục-ngưu thần chưởng, người nào võ công cao nhất, đương nhiên làm chưởng môn. Mi đã tìm được chưa? Nếu chưa tìm được vậy mi có phải người võ công cao nhất chăng?

Dương Ẩn cũng nói:

– Hai vị cãi nhau chi cho mệt. Theo bần đạo nghĩ, hai vị nên dùng võ công cao thấp mà định ngôi chưởng môn vẫn hơn. Chúng ta là con nhà võ, dùng võ công giải quyết cho mau chóng.

Đỗ Xích-Thập cười ha hả:

– Dương đạo huynh! Đạo huynh dạy thực phải. Hôm nay ta dùng võ công Tản-viên dạy dỗ cho bọn hậu bối này mấy chiêu. Đại-Khê, mi phải lùi ngay, trả chức chưởng môn về cho ta. Còn bằng không mi lên đây nộp mạng.

Đặng Đại-Khê suy nghĩ:

– Nguyên bản lĩnh Xích-Thập, ta không thể nào địch nổi y rồi. Huống hồ y đã học Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng, làm sao ta có thể thắng nổi y? Nhưng trước hoàn cảnh này, ta đành mượn cái chết để đền ơn liệt tổ bản phái vậy.

Đặng Đại-Khê hướng vào quần hùng, ông xá ba xá, rồi vận khí vào đơn điền nói lớn:

– Thưa các anh hùng thiên hạ. Vị tiền bối này trước đây là người của phái Tản-viên. Sau vì hiếp dâm con gái lương gia, bị đuổi ra khỏi môn hộ. Người gia nhập Hồng-thiết giáo, làm không biết bao nhiêu điều ác độc mà kể. Song điều đó còn có thể dung thứ được. Gần đây vì ham bả công danh, người nhẫn tâm đem giang sơn Đại-Việt dâng cho Tống. Tội này, võ lâm anh hùng không thể tha thứ. Bây giờ người ra mặt tranh chức chưởng môn với tại hạ, hầu đem phái Tản-viên làm nội ứng cho Tống.

Ngừng lại một chút ông tiếp:

– Phái Tản-viên từ bao đời, dù thăng, dù trầm cũng đều lấy việc bảo vệ xã tắc làm lẽ chính. Không ngờ, đến nay lại bị vết nhơ này.

Ông nói với Xích-Thập:

– Tiền bối. Người muốn tranh chức chưởng môn, phải dùng võ công bản môn, chứ không thể dùng võ công Hồng-thiết giáo.

Đỗ Xích-Thập cười:

– Đồ hèn hạ. Chưa đấu mà đã van xin.

Nói rồi y phát chưởng tấn công. Chưởng của y vừa phát ra, kình lực đã bao trùm khắp đài, làm bàn thờ rung rinh. Trần Tự-An đưa mắt cho các sư đệ. Trần Kiệt, Phạm Hào nhảy lên đài, đứng thủ trước bàn thờ. Hai ông vận khí chống lại kình phong. Nhờ vậy bàn thờ không bị rung động nữa.

Kể từ lúc đến đại hội, anh em Bảo-Hòa, Thiệu-Thái được lệnh Khai-Quốc vương phải ẩn thân trong lớp giáo chúng Hồng-thiết, để tùy cơ ứng phó, vì vậy hai anh em chỉ biết nghe, nhìn. Khi thấy sư thái Tịnh-Tuệ, đại sư Sùng-Văn bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng, Thiệu-Thái muốn ra tay cứu hai người, nhưng chưa được lệnh, nên đành im lặng. Chàng tự an ủi:

– Dù sao hai vị đó cũng chưa đến nỗi nguy nan gì. Đau đớn mấy giờ, rồi sẽ qua. Sau đó mình trị, cũng không sao.

Bây giờ Bảo-Hòa thấy Đỗ Xích-Thập tranh quyền chưởng môn với Đặng Đại-Khê, chân tay nàng run lên, không chịu được. Hình ảnh thời thơ ấu lại trở về. Bấy giờ nàng theo ông nội tới tổng đàn phái Tản-viên thăm Đặng Đại-Khê. Vừa thấy nàng, ông đã ôm lấy như ôm đứa con gái nhỏ. Ông xem tướng, rồi quả quyết sau này sự nghiệp của nàng không nhỏ. Ông lại dốc túi truyền cho nàng tất cả mười hai chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Cuối cùng ông đem bài mật quyết về biến hoá cùng những thuật ngữ bí mật để luyện Phục-ngưu thần chưởng dạy nàng. Ông nói:

– Ta xem tướng, thấy sự nghiệp cháu sau này không nhỏ, cơ duyên phúc đức không cùng. Vì vậy ta truyền cho cháu bản thuật ngữ, hầu sau này cháu tìm ra mật phổ võ công bản môn, cháu đối chiếu mà luyện.

Hôm đó nàng hỏi:

– Xưa công chúa Phùng Vĩnh-Hoa chép bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, không chép thuật ngữ vào ư?

– Không. Bà chỉ chép phép luyện, cách vận khí, cùng biến hoá. Nhưng các danh tự trong đó đổi đi. Hầu người ngoài, hoặc kẻ thù có bắt được cũng vô ích. Chính vì vậy bà Triệu tuy tìm được bộ sách này, mà chỉ biết thuật ngữ của Long-biên kiếm pháp, nên bà không luyện được thứ võ công nào ngoài thứ võ công này. Vua Đinh cũng tìm được, nhưng ngài chỉ có thuật ngữ của phái Hoa-lư, nên không luyện được gì hơn là võ công của Cao-Cảnh hầu.

Chính vì vậy, hôm thấy bia đá chép Phục-ngưu thần chưởng, lúc đầu nàng luyện không thành. Sau nhớ lại lời dặn của Đại-Khê, nàng đem những mật ngữ ra đối chiếu, luyện thành. Như trong bia đá chép về biến hoá từ chiêu Tứ ngưu phân thi sang chiêu Thanh ngưu ư hà chép rằng: Dẫn khí về đất tổ, chuyên sang gió Đông. Nàng không hiểu gì cả. Đối chiếu trong bản mật ngữ từ đất tổ tức đơn điền. Gió đông tức hạ tiêu. Nàng luyện thành công.

Bây giờ thấy Đặng Đại-Khê có thể gặp nguy cơ, nàng không chịu được nữa. Nàng muốn ra hiệu cho Thanh-Mai để xin phép lên đài diệt tên Xích-Thập, mà Thanh-Mai lại đang chú tâm theo dõi diễn biến trên đài. Nàng nói với anh:

– Anh ở đây nghe. Em chịu không được nữa rồi.

Thiệu-Thái định cản em, nhưng không kịp. Bảo-Hòa đã chạy đi mất. Nàng đến cạnh lễ đài, để tìm cách giúp Đặng Đại-Khê.

Trên đài Đỗ Xích-Thập với Đặng Đại-Khê đã dở hết sở trường ra đấu với nhau. Võ công Tản-viên thuộc loại võ công thuần túy dương cương. Cho nên cứ mỗi lần hai chưởng chạm nhau, lại bật lên tiếng bùng lớn. Hai người bật lui lại gờm gờm nhìn nhau.

Từ lâu anh hùng thiên hạ, nghe danh Đại-Việt ngũ long, có người khâm phục, có người không. Người không phục, cho rằng chẳng qua năm người làm chưởng môn năm đại môn phái, rồi được người đời thổi phồng lên. Chứ thực sự bản lĩnh cũng chẳng hơn đời làm bao.

Hôm nay, từ lúc diễn ra cuộc long tranh, hổ đấu, họ đã thấy Trần Tự-An, Đặng Đại-Khê xuất chiêu vài lần. Chỉ một vài chiêu đó, chưa đủ cho chúng nhân biết bản lĩnh chân thực. Tiếp theo họ thấy sư thái Tịnh-Tuệ đấu với Hoàng Liên. Kiếm thuật của bà huyền ảo, linh diệu, họ tin được phần nào. Cho đến bây giờ xem cuộc đấu của Đặng Đại-Khê với Đỗ Xích-Thập kinh hoảng về bản lĩnh của hai người.

Trong mười lăm đại tôn sư ngồi trên lễ đài, phân nửa là những người có bản lĩnh cao thâm tuyệt vời, còn chịu nổi sức ép chưởng phong hai người. Một số phải nhảy xuống đài, để tránh áp lực.

Thuận-Thiên hoàng-đế cũng nói nhỏ với các vị Thái-tử đứng hầu:

— Các con liệu, nếu chịu được hãy ở lại, bằng không thì xuống đài đi.

Vũ-Uy vương, Vũ-Đức vương, Đông-Chinh vương vội vàng nhảy khỏi đài. Sau cùng chính Khai-Thiên vương cũng phải nhảy lui. Phía sau Thuận-Thiên hoàng-đế chỉ còn mình Khai-Quốc vương đứng hầu mà thôi.

Bảo-Hòa thấy Đỗ Xích-Thập chỉ có mười hai chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Còn Đặng Đại-Khê, ngoài mười hai chiêu, ông đã tự sáng chế ra hai mươi bốn chiêu nữa, thành ba mươi sáu chiêu. Vì vậy chiêu nọ, nối với chiêu kia thành một dây liên miên bất tuyệt. Tuy thế, ông vẫn không thắng nổi Đỗ Xích-Thập, vì Thập là sư thúc của ông. Y lại luyện Hồng-thiết thần công, nên công lực mạnh đến không thể tưởng tượng được.

Dưới đài, các đại tôn sư võ học, đều gật đầu kính phục:

– Quả danh bất hư truyền. Nếu không phải Đặng Đại-Khê, ai chịu sao nổi những chiêu chưởng của Đỗ Xích-Thập.

Bảo-Hòa thấy những chiêu Đặng Đại-Khê chế ra, tuy không giống Phục-ngưu thần chưởng, nhưng uy lực cũng không kém mấy. Song có điều công lực của ông không bằng Xích-Thập, vì y còn luyện Hồng-thiết công.

Thình lình Đặng Đại-Khê lui lại, chĩa ngón tay chỏ về trước điểm một cái. Tiếng véo rít lên, kình lực xé gió. Xích-Thập kinh hoàng nhảy lên cao tránh khỏi. Quần hùng la lớn lên:

– Lĩnh-Nam chỉ pháp.

Lĩnh-Nam chỉ pháp là một bộ vô hình kiếm khí. Xưa trong thời Lĩnh-Nam, Khất-đại-phu cùng với Đào Kỳ chế ra, lợi hại vô cùng. Anh hùng Trung-nguyên, Lĩnh-Nam nghe đến tên đều kinh tâm động phách. Từ ngày vua Trưng tuẫn quốc, thuật này bị thất truyền. Khi phái Tản-viên tái lập, hậu duệ tìm đủ cách nghiên cứu tìm lại, nhưng vô hiệu. Bây giờ thình lình thấy Đặng Đại-Khê xử dụng một chỉ pháp kỳ diệu, quần hùng bật lên tiếng kêu.

Bác học như Trần Tự-An mà cũng lầm. Ông mỉm cười:

– Hà! Đặng Đại-Khê ghê thực. Thì ra phái Tản-viên vẫn còn lưu truyền chỉ pháp này, mà y dấu diếm mãi. Bây giờ mới đem ra xử dụng.

Dưới đài, Bảo-Hòa biết đó không phải Lĩnh-Nam chỉ. Chẳng qua Đặng Đại-Khê nương theo nội công Tản-viên, rồi chế ra loại chỉ pháp mới mà thôi. Trong lúc hoảng hốt, Đỗ Xích-Thập nhảy tránh được mấy chỉ. Đến chỉ thứ năm, y đã đến mép đài. Cùng đường, y vọt người lên cao tránh chỉ thứ sáu. Đại-Khê hưởng tay lên cao, đánh một chỉ thứ bẩy. Quần hùng bật lên tiếng kêu:

– Chết!

Lê Ba thấy Xích-Thập sắp chết, như vậy y mất đi một cánh tay trợ giúp đắc lực. Y tung một chưởng, cắt ngang vào chỉ lực của Đại-Khê. Vì vậy chỉ lực giảm đi mất bẩy phần. Dư lực trúng ngực Xích-Thập đến choang một tiếng. Bụi bay mịt mờ, tỏa khắp đài.

Mọi người thấy đạo sư Dương Ẩn, tôn sư phái Sài-sơn lại ra tay cứu Đỗ Xích-Thập, đều nổi lên mối công phẫn. Có người văng tục:

– Đồ mặt dầy.

Thì ra Xích-Thập làm trưởng lão Hồng-thiết giáo, y đeo trước ngực một bình bằng đồng đựng độc chất Xích-trà-Luyện. Vô tình chỉ lực của Đặng Đại-Khê trúng cái bình đó. Bình vỡ, hai chất thuốc hoà lẫn với nhau, thành khói độc bay khắp đài.

Nùng Dân Phú, tôn sư của bang Quảng-nguyên kêu lên:

– Độc khí Xích-trà-Luyện!

Nói rồi y nhảy khỏi đài. Các đại tôn sư nghe đến độc khí Xích-trà-Luyện, đều vọt người lên không, đá gió một cái, tránh ra xa.

Cách đây mấy chục năm, vào thời mười hai sứ quân, trong đó có bốn sứ quân giáo chúng Hồng-thiết giáo. Trong khi giao chiến, bên Hồng-thiết tung độc khí Xích-trà-Luyện ra, quân đối đầu ngửi phải, lập tực bải hoải chân tay, đành chịu cho bên địch muốn mổ, muốn giết, muốn băm vằm tùy ý. Hôm trước, Nhật-Hồ lão nhân mới ra khỏi tù, đã dùng độc khí này để khuất phục bọn đệ tử.

Trước khi đến đây dự đại hội, Nhật-Hồ lão nhân trao cho mỗi đệ tử một bình, dấu trong ngực, khi hữu sự dùng đến. Bây giờ chỉ lực của Đặng Đại-Khê đánh trúng bình, làm nước độc, trộn lẫn bột độc, thành khói tỏa khắp đài.

Đặng Đại-Khê vô tình hít phải, ông thấy chân tay bải hoải, vội vọt khỏi đài. Tuy vậy, chân tay ông gần như tê liệt, không hoạt động được nữa. Trên đài chỉ còn Đỗ Xích-Thập với Dương Ẩn, đã uống thuốc phòng, nên không việc gì.

Đỗ Xích-Thập đợi cho khói độc tan đi. Y mới hướng vào quần hùng hô lớn:

– Xin các anh hùng làm chứng. Đặng Đại-Khê với tại hạ dùng võ công định chức chưởng môn. Y bị bại, rời khỏi đài. Như vậy kể từ giờ phút này, y không còn tư cách chưởng môn nữa.

Đặng Đại-Khê định lên đài biện luận, nhưng chân tay ông dường như nhũn ra, không cử động được. Ông hít hơi, vận khí giải độc.

Đoàn Huy cãi:

– Đỗ huynh! Như vậy không kể. Lúc đầu Đặng chưởng môn giao hẹn rằng hai bên chỉ dùng võ công Tản-viên. Đây Đỗ huynh dùng độc khí Xích-trà-Luyện, cho nên Đặng chưởng môn phải nhảy xuống đài tránh, chứ có phải võ công Đặng chưởng môn kém đâu?

Đỗ Xích-Thập cười lớn:

– Anh hùng thiên hạ minh xét cho tại hạ. Tại hạ đeo bình thuốc trên người. Chính Đặng Đại-Khê đánh vỡ bình, rồi chính y lùi xuống đài, chứ tại hạ có tung độc khí tấn công y đâu?

Quần hùng tuy ghét Xích-Thập, nhưng cũng phải công nhận y có lý, không ai cãi được câu nào. Đặng Đại-Khê vận khí giải độc, nhưng không kết quả. Ông biết mình có tranh dành cũng vô ích. Ông lên đài, hướng vào đệ tử Tản-viên nói:

– Các vị huynh đệ, cùng đệ tử. Tôi vô tài, bất đức, bại dưới tay Đỗ tiền bối. Tôi không còn mặt mũi nào ngồi vào ghế chưởng môn nữa. Tuy nhiên tôi cũng xin nhắn nhủ với huynh đệ cùng các đệ tử rằng, chúng ta thà ngói lành, chứ không chịu ngọc có vết. Vậy nếu Đỗ tiền bối tuyên thệ hai điều. Một, không còn liên hệ với Hồng-thiết giáo. Hai, trở về với Đại-Việt, không theo Tống nữa… Chúng ta mới chịu để người làm chưởng môn. Bằng không, thà giải tán bản phái.

Quảng trường im lặng, không một tiếng động.

Đỗ Xích-Thập chỉ mặt Đặng Đại-Khê:

– Đại-Khê! Mi đã bị bại rồi, không còn làm chưởng môn. Đã không còn tư cách chưởng môn, mi đâu có quyền ra lệnh cho ai. Mi mau đem búa lệnh của thánh Tản-Viên trao cho ta.

Xích-Thập tiến tới bên cạnh Đặng Đại-Khê, rút cây búa nhỏ, bằng thép, mầu đen như than dắt ở cạnh sườn ông. Đại-Khê bị trúng độc, chân tay không xử dụng võ công được. Ông đành để cho Xích-Thập tước búa lệnh.

Quần đệ tử phái Tản-Viên la hét om sòm, tỏ ý chống đối. Đỗ Xích-Thập hướng vào đám đệ tử Hồng-thiết giáo:

– Đệ tử của ta đâu!

Lập tức mấy trăm người lên tiếng đáp lại. Xích-Thập chỉ vào đám đệ tử Tản-viên:

– Các người tuy là giáo chúng Hồng-thiết, nhưng học võ công với ta. Ta làm chưởng môn phái Tản-viên. Vậy các người cũng thuộc đệ tử Tản-viên. Các người hãy sang đứng ở khu dành cho phái mình.

Đệ tử Tản-viên tới dự lễ khoảng năm nghìn người. Họ chia thành năm đoàn. Mỗi đoàn một trăm người. Đoàn lại chia làm mười đội. Mỗi đội mười người.

Mấy trăm tên giáo chúng Hồng-thiết rời chỗ, di chuyển sang khu dành cho phái Tản-viên. Rất thành thạo, mỗi toán ba người, đứng vào vị thế chỉ huy một đội. Thoáng một cái, đâu vào đấy. Ba anh em Nhất-Bách, Nhị-Bách, Tam-Bách tổng chỉ huy tất cả.

Quần hùng nhìn qua, đều biết rằng Hồng-thiết giáo đã bố trí, tổ chức, huấn luyện đệ tử rất chu đáo từ trước, để chuẩn bị cướp ngôi chưởng môn phái Tản- viên.

Đỗ Xích-Thập nói:

– Hỡi các vị huynh đệ, đệ tử Tản-viên. Kể từ nay bản phái được chia thành đội ngũ như hiện tại. Nghìn người thành một thiên. Trăm người thành một bách. Mười người thành một thập. Mỗi thập có ba người chỉ huy. Một thập trưởng, một thập phó, và một chưởng-thần. Ai trái lệnh, sẽ bị trừng phạt.

Đặng Đại-Khê cười nhạt:

– Đỗ tiền bối, người chưa tiếp nhận chưởng môn, mà đã tổ chức bản phái thành chi nhánh của Hồng-thiết giáo ư? Nếu bây giờ tại hạ hô lên một tiếng, liệu mấy trăm đệ tử của người có sống sót, mà rời khỏi nơi đây không?

Đỗ Xích-Thập chuyển động thân mình, nắm lấy Đặng Đại-Khê, tung ông xuống đài.

Đặng Đại-Khê bị tung xuống đài, chân tay ông không cử động linh hoạt được, nếu ông ngã chúi mặt xuống, nhục nhã biết bao. Bỗng thấy một thiếu nữ Hồng-thiết giáo đỡ lấy ông. Ông hơi ngạc nhiên. Nhưng thoáng ngửi thấy mùi trầm từ người thiếu nữ bốc ra. Ông biết nàng là Bảo-Hòa, cô con gái của phò mã Thân Thừa-Qúy, mà ông yêu thương hơn con đẻ. Ông hỏi sẽ:

– Cháu gái đấy ư?

– Vâng! Sư bá đừng lên tiếng. Nguy cơ chưa qua đâu.

Nàng đưa ông đến chỗ Thiệu-Thái. Quần hùng thấy Đặng Đại-Khê bị trúng độc Xích-trà-Luyện, rồi Bảo-Hòa đem ông vào giữa đám đệ tử Hồng-thiết, họ tưởng rằng ông bị Xích-Thập bắt cóc.

Bảo-Hoà vừa trao Đặng Đại-Khê cho Thiệu-Thái, có bàn tay nhỏ bé nắm lấy tay nàng. Nàng nhìn lại, thì ra bé Ngô Thường-Kiệt. Thường-Kiệt bá cổ Bảo-Hòa, nó ghé miệng vào tai nàng:

– Cô Thanh-Mai dặn con thưa với cô rằng cô đừng cho ông Đại-Khê trở lại đài vội. Chờ !

Bảo-Hòa biết đây lệnh của Khai-Quốc vương. Nàng hướng về phía Thanh-Mai gật đầu, tỏ ý hiểu biết.

Thiệu-Thái nắm lấy tay Đặng Đại-Khê, để ngón tay giữa vào huyệt Nội-quan của ông. Chàng vận Thiền-công, rồi dùng phương pháp giải độc của Đỗ Lệ-Thanh dạy, hoá giải chất độc cho ông. Trong khoảng nhai dập miếng trầu, chân tay Đặng Đại-Khê cử động được như thường. Ông nhỏm dậy:

– Ta phải lên đài diệt tên phản dân, hại nước.

Bảo-Hòa nói sẽ vào tai ông:

– Sư bá kiên nhẫn, chờ biến cố, rồi hãy thanh toán tên Đỗ Xích-Thập cũng chưa muộn.

Trong khi đó trên đài, Nhật-Hồ lão nhân cười lớn:

– Nếu không ai phản đối gì nữa, truyện phái Tản-viên coi như xong. Lão phu long trọng tuyên bố kể từ giờ này, phái Tản-viên được công nhận thống thuộc bản giáo.

Hà Thiện-Lãm được Nùng-sơn tử thu làm đồ đệ. Từ lúc tới dự lễ, nó bỏ khán đài phái Tản-viên, đến tụ họp với Thanh-Mai. Nghe Nhật-Hồ lão nhân nói, nó định lên đài phản đối, nhưng Thanh-Mai bảo nó:

– Kế hoạch của ngũ sư thúc phái Đông-a định rõ ta phái nhường nhịn, để cho Hồng-thiết giáo xuất hiện hết, chống Tống. Sau đó chúng ta mới tính tới chúng. Sư đệ không được lên đài.

Hà Thiện-Lãm đành ngồi im. Nó nhìn về chỗ khán đài phái Tản-viên, thấy sư phu cũng im lặng. Nó đành cắn răng chịu nhục.

Lập tức đội nhạc Hồng-thiết giáo trỗi dậy những âm thanh kỳ quái, man rợ, ồn ào.

Nhật-Hồ lão nhân hỏi lớn:

– Phái Tản-viên còn ai phản đối không?

Bảo-Hòa từ dưới đài nhảy lên. Nàng mỉm cười:

– Giáo chủ! Tiểu nữ phản đối.

Nhật-Hồ mở to mắt kinh ngạc. Trước mặt y, một thiếu nữ thân thể thon đẹp vô cùng, nhưng gương mặt lại trơ trơ như người chết rồi trong bộ quần áo Hồng-thiết giáo. Ông nghĩ:

– Con nhỏ này tuổi bất quá hai mươi. Địa vị trong bản giáo chắc không quá thập trưởng. Thế mà sao y thị giám lên đối đầu với Đỗ Xích-Thập?

Ông hỏi:

– Người phản đối điều gì?

Bảo-Hòa hướng vào quần hùng lên tiếng:

– Thưa các vị. Ban nãy Đặng chưởng môn và Đỗ trưởng lão tranh tài. Đỗ trưởng lão từng nói: Bất cứ ai biết xử dụng võ công Tản-viên cũng có thể lên đài tranh chức chưởng môn. Vì vậy tiểu nữ muốn lĩnh giáo võ công Tản-viên của Đỗ trưởng lão, và muốn làm chưởng môn phái Tản-viên.

Đỗ Xích-Thập kinh ngạc:

– Người có điên không? Người chẳng ở trong Hồng-thiết giáo đó ư? Người có biết ta làm trưởng lão hội đồng giáo vụ trung ương không?

Bảo-Hòa gật đầu:

– Dĩ nhiên tiểu nữ biết. Tiểu nữ biết luật lệ Hồng-thiết giáo định rằng: Khi một đệ tử thấy võ công mình cao, cũng có thể thách bất cứ trưởng lão nào đấu võ. Nếu thắng thì được thay thế. Cho nên tiểu nữ nảy ra ý định muốn làm trưởng lão thay trưởng lão Xích-Thập. Trưởng lão hiện vừa làm trưởng lão Hồng-thiết giáo, vừa làm chưởng môn phái Tản-viên. Tiểu nữ bạo gan, muốn lĩnh giáo Nhật-hồ độc chưởng của trưởng lão, để trở thành trưởng lão, cũng như võ công Tản-viên của chưởng môn, để trở thành chưởng môn.

Tất cả quần hùng chưa hết kinh ngạc vì Mỹ-Linh đánh bại Đông-Sơn lão nhân. Bây giờ lại kinh ngạc hơn khi thấy một cô gái vô danh thách Đỗ Xích-Thập đấu võ công Tản-viên lẫn Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng.

Sư thái Tịnh-Huyền ngồi gần chỗ Xích-Thập đứng, bà đang tự hỏi cô gái nào mà lại gan đến như vậy? Thoáng thấy mùi trầm hương từ người nàng bốc ra. Bà biết ngay nàng là Bảo-Hòa. Bà mắng thầm:

– Thì ra thế! Mình thực sơ tâm.

Bà dùng Lăng-không truyền ngữ báo cho Thuận-Thiên hoàng-đế, Thân Thiệu-Anh, công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa biết.

Phạm Trạch thấy Xích-Thập cướp được chức chưởng môn phái Tản-viên, ắt hẳn thế lực mạnh hơn y. Nay y thấy Bảo-Hòa thách Xích-Thập đấu, y mừng lắm. Y hỏi:

– Tiểu cô nương! Xin tiểu cô nương cho biết phương danh quý tính?

Bảo-Hòa chưa kịp trả lời, Dương Ẩn lên tiếng, nói với Nhật-Hồ:

– Mừng giáo chủ. Hôm trước đệ tử trình với giáo chủ về việc cho đôi thiếu niên nam nữ là anh em ruột sang Tây-dương học đạo. Tiểu cô nương này chính thị cô gái đó, nay đã thành tài trở về. Cô nương họ Trần, khuê danh Quỳnh-Hoa.

Nghe Dương-Ẩn nói, Nhật-Hồ mừng muốn run lên, lão nhân nhìn Bảo-Hòa gật đầu:

– Tiểu cô nương là đệ tử của Tây-dương giáo chủ, ắt biết xử dụng Hồng-thiết thần công. Đúng thể lệ bổn giáo. Nếu cô nương đủ khả năng chịu được một trăm chiêu của Đỗ trưởng lão, đương nhiên trở thành trưởng lão bản giáo, thay thế Xích-Thập.

Bảo-Hòa chắp tay:

– Đỗ trưởng lão. Trước hết chúng ta dùng võ công Tản-viên để định ngôi thứ chưởng môn phái này đã. Nào mời.

Đỗ Xích-Thập nghe nói Trần Quỳnh-Hoa theo học với giáo chủ Hồng-thiết Tây-dương, ắt hẳn độc công lợi hại vô cùng. Y nghĩ thầm:

– Mình không cẩn thận e bị lão Nhật-Hồ cũng tên Lê Ba đưa vào chỗ chết. Con nhỏ này qua Tây-dương học ắt độc công lợi hại vô cùng. Nhưng tại sao y thị lại biết võ công Tản-viên? Như vậy ta dùng võ công Tản-viên đánh cho nó tàn tật, ắt nó không dùng độc công hại được ta nữa.

Nghĩ vậy y giao hẹn trước:

– Nếu cô đỡ được của ta mười hai chiêu. Ta xin nhường chức chưởng môn cho cô ngay. Nhưng ta giao hẹn trước, trong cuộc đấu này, nếu ai dùng Chu-sa độc chưởng coi như thua.

Bảo-Hòa chắp tay:

– Thưa đúng như thế.

Bảo-Hòa biết thân phận Xích-Thập không nhỏ, chắc y không ra tay trước. Nàng bái tổ, rồi vận khí ra các huyệt Tâm-du, Can-du, Thận-du, Tỳ-du, đổ vào Đốc-mạch rồi phát chiêu Kị ngưu qui gia. Kình lực đổ ập xuống cực kỳ mãnh liệt.

Đỗ Xích-Thập, cùng đệ tử Tản-viên đều bật lên tiếng la kinh ngạc. Vì chưởng lực của nàng có sát thủ kinh người, biến ảo khôn lường. Hơn nữa chiêu này tuyệt tích đã lâu.

Xích-Thập lùi một nước vận khí xuất chiêu Ác-ngưu nan độ đánh cắt ngang vào chưởng Bảo-Hòa. Bình một tiếng. Cả hai người đều bật lui một bước. Bảo-Hòa cảm thấy như trời long đất lở, tai phát ra tiếng kêu vo vo không ngớt. Trong khi Xích-Thập tê dại cả hai tay. Y cười nhạt:

– Tiểu cô nương! Tiểu cô nương hãy đỡ chiêu nữa của ta.

Y phát chiêu Ngưu thực ư dã.

Bảo-Hòa biết, Xích-Thập đi vào tuổi bẩy mươi, công lực cao thâm biết dường nào. Còn về phần nàng, tuy gặp kỳ duyên, nhưng thời gian luyện tập chưa được làm bao, công lực không thể so với y. Thấy chiêu chưởng như núi đổ ập lên đầu. Tòng tâm nàng đưa cả hai tay đẩy lên đỡ. Vô tình tay trái nàng vận chiêu Tứ-ngưu phân thi dương. Tay phải vận chiêu Song ngưu đồng lao âm.

Bình, bình. Bảo-Hòa lùi lại ba bước để giữ chắc căn bản. Trong khi Xích-Thập cảm thấy trong chưởng của Bảo-Hoà có hai lực đạo khác nhau, nói rằng khắc chế chưởng lực của y cũng không phải. Bảo rằng giống y cũng không phải. Lại nữa đến hai chiêu đẩy vào người y. Toàn thân y mất hết kình lực, đau đớn như dần. Y kinh hoàng lùi lại, quan sát đối thủ.

Khắp quảng trường, chưa ai nhận ra cái sát thủ khủng khiếp trong chưởng của Bảo-Hòa. Chỉ duy phò mã Đào Cam-Mộc, ông kinh ngạc:

– Con cháu này, học được mật quyết luyện Phục-ngưu dương. Mình nghe lời công chúa, truyền tâm pháp Phục-ngưu âm cho nó. Không biết bằng cách nào, lại pha hai thứ âm dương với nhau, thành loại chưởng cực kỳ bá đạo như thế kia. Cũng may nó mới luyện, mà người hứng đòn công lực như Xích-Thập, mới chịu nổi.

Một đời Xích-Thập, y đã đánh hàng ngàn trận, vì vậy y nhận ra Bảo-Hòa mới luyện Phục-ngưu thần chưởng. Y nghĩ:

– Công lực con nhỏ này không làm bao, mà xử dụng Phục ngưu thần chưởng rất tổn sức. Ta cứ nhảy nhót, tiêu hao công lực, rồi giết nó cũng vừa.

Nghĩ rồi y phát liền ba chiêu tấn công Bảo-Hòa.

Bảo-Hòa cũng đã nhận thấy điểm lợi hại loại chưởng âm-dương hỗn hợp của mình. Nàng tung ra hai chiêu khác nhau đỡ. Bình, bình. Xích-Thập đau đớn, nhăn nhó. Trong khi Bảo-Hòa cũng cảm thấy trời long đất lở. Tuy vậy, đã học đủ ba mươi sáu chiêu, cùng cách biến hoá, nên nàng chuyển ngay sang chiêu Song ngưu đồng lao.

Trong khi Xích-Thập học được mười hai chiêu rải rác. Sau khi đánh hết chiêu này, phải ngừng lại vận khí rồi mới phát được chiêu khác.

Đấu được trên trăm chiêu, Bảo-Hòa tập trung tinh thần phát ba chiêu liền. Xích-Thập kinh hãi, chưởng lực Bảo-Hòa đã bao trùm người y. Y kinh hoàng vọt người lên cao tránh khỏi. Nhưng chưởng lực sướt qua dưới chân làm y đau đớn như bị gậy sắt đập vào.

Bảo-Hòa chuyển sang chiêu Tứ-ngưu phân thi, hướng lên trời. Xích-Thập chưa vận khí phát Phục ngưu thần chưởng xong. Y đành đánh xuống một chiêu Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Mùi tanh hôi bao trùm khắp đài. Bảo-Hòa không giám đối chưởng với y. Nàng nhảy lùi lại, biến từ chưởng sang chỉ.

Xích-Thập đáp xuống đài, chỉ lực đã bao vây lấy người y. Y vội nằm rạp xuống tránh khổi.

Bảo-Hòa lùi lại một bước, quát lên:

– Khoan!

Nàng hướng vào Nhật-Hồ:

– Xin giáo chủ xét cho. Giữa tiểu nữ với Đỗ trưởng lão dùng võ công Tản-viên tranh tài. Tại sao trưởng lão lại dùng Chu-sa độc chưởng? Như vậy Đỗ trưởng lão phạm luật, coi như thua rồi. Xin Đỗ trưởng lão trao trả cây búa lệnh của thánh Tản-viên cho tiểu nữ!

Nói rồi nàng xòe tay ra chờ đợi.

Gốc tích Đỗ Xích-Thập, vốn nhiễm tính vô lại bị phái Tản-viên đuổi ra, rồi đi theo Hồng-thiết giáo. Mà Hồng-thiết giáo lại qui tụ tất cả xảo quyệt, lưu manh nhất thiên hạ. Y cãi:

– Vừa rồi cô nương đánh ra ba chiêu với một chỉ. Chỉ thì đích thực của Tản-viên. Còn ba chiêu, chỉ có chiêu Tứ-ngưu phân thi của bản phái. Còn hai chiêu kia thuộc võ công phái khác. Đâu phải võ công Tản-viên. Chính tiểu cô nương đã phạm luật trước ta.



Image
Chùa Dâu nay thuộc huyện Thuận-thành, tỉnh Bắc-ninh.
Có tất cả 4 ngôi, mang tên Pháp-vân, Pháp-vũ, Pháp-lôi, Pháp-điện.
Hình chụp là chùa Pháp-vân thuộc xã Thanh-khương, huyện Thuận-thành, tỉnh Bắc-ninh.
Chùa được kiến tạo thời Trưng-vương (40-43 sau TL).
Đây là nơi phát xuất ra phái Tiêu-sơn.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103136
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49576 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Postby DaMinhChau » October 13th, 2017, 10:06 pm


Hồi thứ sáu mươi tư

TVõ Lâm Minh Chủ




Bảo-Hòa hướng vào đệ tử Tản-viên:

– Các vị có nghe Đỗ trưởng lão nói không? Một là Đỗ thưởng lão không biết võ công Tản-viên. Hai là Đỗ trưởng lão không thực thà. Rõ ràng tôi xử dụng ba chiêu liên tiếp. Chiêu đầu tên Kị-ngưu qui gia, chiêu sau tên Song ngưu đồng lao rồi tới chiêu Tứ-ngưu phân thi. Thế mà Đỗ trưởng lão bảo đó không phải võ công bản phái còn trời đất nào nữa?

Xích-Thập bị Bảo-Hòa lột mặt nạ, y luống cuống. Chợt trong đầu y lóe lên tia sáng. Một đoạn trong Hồng-thiết kinh nói:

“…Phàm đối với quân thù, không thể đạo đức. Khi gặp việc phải tranh luận trước dân chúng, thì mình đen, cứ nói làm trắng. Mình xanh cứ nói rằng đỏ. Nói lui, nói tới, nói hoài, nói mãi, cũng có người tin…”.

Y thản nhiên trả lời Bảo-Hòa:

– Trong Phục-ngưu thần chưởng quả có hai chiêu Song-ngưu đồng lao và Kị ngưu qui gia, nhưng chiêu số, biến hoá đâu có giống như cô nương xử dụng? Cô nương ơi! Cô nương đã xử dụng hai chiêu võ của Hồng-thiết giáo, rồi bảo rằng Phục-ngưu thần chưởng. Chính cô nương đã phạm qui luật. Cô nương bị thua rồi.

Bảo-Hòa thấy Xích-Thập mặt dầy quá, chưa biết đối đáp sao, đã nghe tiếng Khai-Quốc vương nói vào tai:

– Đem vấn đề đó hỏi Nhật-Hồ lão nhân.

Bảo-Hòa tỉnh ngộ:

– Trong khi hăng say, Xích-Thập quên mất Nhật-Hồ lão nhân đang muốn loại y ra khỏi chức trưởng lão, vì chính y làm gian tế cho Tống. Ta mượn lão để đánh bại tên ma đầu này.

Nàng hướng vào Nhật-Hồ:

– Giáo chủ. Xin giáo chủ xử cho. Mấy chiêu tiểu nữ đánh ra có phải võ công Hồng-thiết giáo không?

Nhật-Hồ vuốt râu:

– Trong Hồng-thiết giáo không có ba chiêu đó. Cô nương nên biết Phục-ngưu thần chưởng do tổ sư Sơn-Tinh chế ra, đặt trên căn bản dương cương. Đến thời Lĩnh-Nam, Khất đại phu với Bắc-bình vương tìm ra cách vận khí bằng kinh mạch, cho nên trở thành dũng mãnh vô cùng, thuần dương. Còn võ công Hồng-thiết do hai thánh Mã-Mặc và Lệ-Anh chế ra, đặt căn bản trên việc xử dụng độc chất, nên khi đánh ra có khí âm hàn, trong nội công dương cương.

Đỗ Xích-Thập nghĩ thầm:

– Nếu mình dùng Phục-ngưu thần chưởng, mình không biết đủ ba mươi sáu chiêu, thành ra giữa chiêu nọ với chiêu kia có một khoảng cách. Trong khi con nhỏ này biết đủ, nó phát chiêu mau hơn. Tuổi nó còn nhỏ, công lực không làm bao, dù chưởng pháp tinh diệu đến đâu cũng vô ích. Ta dùng chưởng pháp khác. Đấu một lúc, nội lực nó giảm, ta thu phục nó cũng không muộn.

Tuy vậy y vẫn cãi:

– Vừa rồi ta sơ ý. Như vậy không kể. Tiểu cô nương! Chúng ta tái đấu.

Nói dứt lời, y tấn công trước. Lần này y không dùng Phục-ngưu thần chưởng, mà dùng Phục-hổ chưởng, là chưởng pháp tuy không tinh diệu bằng Phục-ngưu, nhưng cho đến nay còn lưu truyền đầy đủ. Công lực của y cực kỳ thâm hậu, chưởng phong xoáy như con lốc.

Bảo-Hòa bị tấn công thình lình. Nàng vọt mình lên cao tránh. Xích-Thập hướng chưởng lên trời. Bảo-Hoà chĩa tay xuống, phóng một Lĩnh-Nam chỉ. Công lực Xích-Thập tuy mạnh, nhưng Phục hổ chưởng phát ra quá rộng. Trong khi Lĩnh-Nam chỉ thu gọn lại như mũi dùi. Chỉ xuyên qua làn chưởng phong xuống đầu Xích-Thập. Y kinh hãi nhảy lui lại. Trong khi Bảo-Hòa đá gió một cái, người nàng đáp ra xa.

Xích-Thập không nhân nhượng, tung chiêu khác tấn công. Bảo-Hòa lại xuất chỉ. Chỉ lực phát ra kêu lên những tiếng vi vu. Công lực Xích-Thập tuy cao, nhưng chỉ pháp của Bảo-Hòa thu gọn lại như mũi dùi vô hình. Y cứ phải nhảy nhót tránh nhé.

Phạm Hổ rút kiếm tung cho Xích-Thập:

– Lĩnh-Nam chỉ pháp cực kỳ tinh diệu. Phải có võ khí mới chống được. Này kiếm đây!

Xích-Thập tiếp kiếm khoa một vòng. Y đã dành được chủ động. Bảo-Hòa tấn công mười chiêu, y đỡ được năm sáu.

Tại khán đài phái Đông-a, Thanh-Mai hỏi Trần Kiệt:

– Sư thúc! Tại sao Lĩnh-Nam chỉ pháp lại chỉ có những chiêu tấn công. Nếu sư thúc là Xích-Thập, sư thúc sẽ đối phó ra sao?

Trần Kiệt lắc đầu:

– Lĩnh-Nam chỉ pháp thuộc vô hình kiếm khí. Xưa hai đại tôn sư Khất-đại phu với Đào Kỳ chế ra, không chút sơ hở. Nếu ta ở hoàn cảnh Xích-Thập, cũng đến chịu chết, chứ không sao chống lại.

Đặng Đại-Khê đến gần đài quan sát. Ông thấy Bảo-Hòa xử dụng Lĩnh-Nam chỉ chưa thuần thục, ông biết nàng mới luyện gần đây, chưa kinh nghiệm chiến đấu. Ông than thầm:

– Xử dụng Lĩnh-Nam chỉ, tiêu hao rất nhiều công lực. Trong khi đó Bảo-Hòa không biết lợi dụng thắng y ngay lúc đầu. Nếu đấu trong vòng năm chục chiêu nữa, nàng nguy mất.

Quả nhiên, chỉ pháp của Bảo-Hòa dần dần bớt mạnh, Xích-Thập đã tiến đến cách nàng hơn trượng.

Đặng Đại-Khê bứt rứt không yên. Ông chợt nhớ đến một câu quyết trong tâm pháp Lĩnh-Nam chỉ:

“…Khi công lực không đủ, đừng nên xử dụng cả lục kinh, mười hai chỉ. Nên thu về một chỉ, rồi hợp với chưởng…».

Giữa lúc Bảo-Hòa cũng cảm thấy nguy. Đặng Đại-Khê dùng Lăng-không truyền ngữ nhắc nàng. Bảo-Hòa tỉnh ngộ:

– Mình đáng chết thực.

Nàng thu về một tay, vận khí phát ra huyệt Trung-xung ở đầu ngón giữa. Lập tức chân khí thu về một chỉ, mạnh như núi lở băng tan.

Bỗng choang một tiếng, kiếm của Xích-Thập bị trúng chỉ, gẫy làm nhiều mảnh bay lên cao. Phạm Hổ lại tung cho y thanh bảo đao. Nhưng chỉ được mấy chiêu đao lại gẫy.

Đến đây công lực Bảo-Hòa đã hơi cạn, chỉ pháp hết linh diệu.

Trong tất cả anh hùng hiện diện, chỉ có phò mã Đào-cam-Mộc, giòng dõi Bắc-bình vương Đào Kỳ cùng phu nhân tức công chúa An-Quốc biết rõ những võ công Bảo-Hoà xử dụng. Lúc đầu Bảo-Hòa lên đài, phò mã không nhận ra được nàng. Đợi đến khi nàng bỏ mười hai chỉ, thu lại một chỉ, phò mã nói sẽ vào tai công chúa:

– Thì ra đứa cháu tiên nữ của công chúa. Ta phải lên đài cứu nó.

Hầu vọt lên đài. Lúc còn lơ lửng trên không, hầu đã phát một chiêu Thiết-kình phi chưởng của phái Cửu-chân, ngăn giữa hai người. Miệng hô:

– Khoan! Ngừng tay.

Bình một tiếng, Bảo-Hòa, Xích-Thập cùng bật lui lại. Cánh tay Xích-Thập gần như tê liệt. Y chửi thầm:

– Mẹ cha quân chó đẻ nào mà hách thế?

Ngoài miệng y hỏi:

– Các hạ là ai, mà can thiệp vào phái Tản-viên nhà ta?

Đào Cam-Mộc chắp tay xá Đỗ Xích-Thập:

– Tại hạ vốn con cháu Bắc-bình vương, họ Đào tên Cam-Mộc.

Cả quảng trường cùng bật lên tiếng »úi chà», kinh ngạc. Vì cách đây hai mươi năm, Đào Cam-Mộc nổi danh anh hùng vô địch. Khi vua Lê Ngọa-triều băng. Ông đã hăng hái đứng ra áp lực với quần hùng tôn Lý Công-Uẩn lên ngôi vua. Nhiều người phản đối, nhưng ai đấu với ông, cũng chỉ được mười chiêu, bị hạ. Sau đó ông cùng công chúa An-quốc bỏ chức tước ngao du sơn thủy, tuyệt tích giang hồ. Nay bỗng nhiên ông xuất hiện.

Ông hướng vào Nhật-Hồ lão nhân:

– Thưa giáo chủ. Hồi nãy Đỗ trưởng lão hứa rằng, nếu Trần cô nương đỡ được của người mười hai chiêu, người nhường chức chưởng môn cho. Thế mà nãy đến giờ, Trần cô nương đấu với Đỗ trưởng lão trên trăm chiêu. Vì vậy tại hạ lớn mật xin giáo chủ xử cho vụ này.

Nhật-Hồ vuốt râu:

– Xích-Thập! Người giữ lời hứa đi chứ?

Xích-Thập bị dồn đến chân tường. Tuy nhiên y vẫn cãi:

– Xưa ngũ tổ họp nhau, cùng thề rằng: Nếu sau này ai có thể tìm được Lĩnh-Nam chỉ cùng ba mươi sáu chiêu Phục-ngưu, sẽ được giữ chức chưởng môn. Còn không, ai có võ công cao nhất lên cầm quyền. Như vậy Trần cô nương phải thắng tại hạ, tại hạ mới phục.

Đào Cam-Mộc cười:

– Lĩnh-Nam chỉ với Phục-ngưu thần chưởng, xưa nay có hai nơi lưu truyền. Một ở phái Tản-viên. Hai ở họ Đào nhà tại hạ. Tại hạ biết Trần cô nương đây học được cả ba mươi sáu chiêu Phục-ngưu thần chưởng âm, lẫn dương. Lĩnh-Nam chỉ pháp, trưởng lão đã thưởng thức rồi. Còn Phục-ngưu thần chưởng, Đỗ trưởng lão chưa thấy qua, lấy gì làm tin bây giờ?

Xích-Thập cười nhạt:

– Dù những chiêu đã thất truyền, nhưng khi đánh ra, chiêu số, độ số, biến hoá. Ta há không nhận ra sao?

Đào Cam-Mộc nói với Bảo-Hòa:

– Trần cô nương, phiền cô nương biểu diễn ba mươi sáu chiêu Phục-ngưu dương cương hầu Đỗ trưởng lão ấn chứng cho.

Bảo-Hòa dạ một tiếng, nàng khoan thai diễn từng chiêu một. Đến chiêu thứ ba mươi sáu thì ngừng lại, rồi lễ phép chắp tay hướng Đào Cam-Mộc:

– Xin phò mã chỉ điểm cho những chỗ sai lầm.

Đào Cam-Mộc nói với Xích-Thập:

– Đỗ trưởng lão. Như vậy ngôi vị chưởng môn phái Tản-viên đã định. Xin trưởng lão trao búa lệnh cho Trần cô nương.

Bất đắc dĩ Xích-Thập trao cây búa cho Bảo-Hòa. Y hỏi:

– Trần cô nương. Chẳng hay cô nương đệ tử của vị nào trong bản phái?

Nghe Xích-Thập hỏi, Bảo-Hòa chợt tỉnh ngộ: Nàng học võ sơ tâm với song thân. Khi đến tuổi mười hai, chính ông nội dạy nàng. Ngoài ra chỉ có Đặng Đại-Khê, người không ở trong huyết tộc đã dạy nội công tâm pháp Tản-viên, cũng như Phục-ngưu thần chưởng cho nàng. Song ông không thu nàng làm đệ tử.

Có tiếng Khai-Quốc vương dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai nàng:

– Không cần phải bái sư, mới là đệ tử. Phàm học một chiêu, một chữ ở ai, người đó cũng thành thầy.

Bảo-Hòa tỉnh ngộ. Nàng chỉ vào Đặng Đại-Khê:

– Tiểu nữ học võ công Tản-viên với Đặng sư bá.

Cả quảng trường đều bật lên những tiếng kinh ngạc. Một, xưa nay phái Tản-viên vốn cừu thù, đối đầu mạnh nhất với Hồng-thiết giáo. Bảo-Hòa lên đài trong y phục giáo chúng Hồng-thiết, hơn nữa chính Dương Ẩn giới thiệu nàng sang Tây-dương học đạo với giáo chủ Hồng-thiết mới về. Thì sao nàng có thể là đệ tử Tản-viên? Hơn nữa, rõ ràng Đặng Đại-Khê không biết Lĩnh-Nam chỉ pháp cũng như toàn bộ Phục-ngưu thần chưởng, sao ông lại làm sư phụ nàng? Ba, theo lời Lê Ba, nàng được gửi sang Tây-dương từ nhỏ, mới trở về Đại-Việt mấy hôm nay. Thế, nàng học võ công Tản-viên từ bao giờ, mà có bản lĩnh ngang với những đại cao thủ bậc nhất Lĩnh-Nam?

Sự thực Bảo-Hòa chơi chữ. Nàng nói: Tôi học võ công Tản-viên với Đặng sư bá. Có nghĩa nàng chỉ học võ công Tản-viên của ông. Còn chữ sư bá, ý nói ông là bạn của phụ thân nàng. Thế nhưng quần hùng hiểu lầm nàng làm đệ tử một vị nào đó trong phái Tản-viên, thấp vai hơn Đặng Đại-Khê, nên nàng gọi ông bằng sư bá. Ông làm chưởng môn, trong phái, ông muốn dạy võ công cho ai cũng được!

Đỗ Xích-Thập ngơ ngác hỏi Dương Ẩn:

– Dương đạo huynh. Có đúng tiểu cô nương đây tên Trần Quỳnh-Hoa được chúng ta gửi sang Tây-dương học đạo năm nào không? Cô nương đã làm đệ tử bản giáo, tại sao lại có thể theo học phái Tản-viên?

Cách đây hơn hai mươi năm, bấy giờ triều Lê ra lệnh truy lùng, chém giết thẳng tay giáo chúng Hồng-thiết. Thầy trò Nhật-Hồ lão nhân phải ẩn thân nay đây mai đó. Tuy trốn tránh, nhưng họ vẫn có nhiều giáo chúng trung thành, che dấu cho họ. Thầy trò Nhật-Hồ vẫn lùng bắt những thiếu nữ xinh đẹp về làm cây thuốc luyện công. Trong số cây thuốc đó, có hai người làm cây thuốc cho Nhật-Hồ với Dương Ẩn thụ thai. Hai người được trao cho Dương Ẩn phá thai, lấy con nhân sâm ăn. Nhưng hai phụ nữ này được Dương Ẩn bao che không phá thai. Vì y nghi rằng hai người mang thai với y. Một người sinh con trai, một người sinh con gái. Khi sinh hai đứa trẻ ra rồi, chính Nhật-Hồ với Dương Ẩn cũng không xác nhận được con của ai. Hai người bàn với nhau, bí mật nuôi hai trẻ cho đến khi lớn, hình thể đã định, sẽ biết con của ai. Đứa con trai đặt tên Trần Đông-Thiên, đứa con gái đặt tên Trần Quỳnh-Hoa.

Nhưng sau đó mấy năm, Dương Ẩn bầy kế giam Nhật-Hồ. Khi hai trẻ được mười tuổi, Dương Ẩn gửi sang Tây-dương xin cho làm đệ tử giáo chủ Hồng-thiết. Nhật-Hồ lão nhân tuy ở trong tù, nhưng cũng được y thông báo rằng con lão được gửi sang Tây-dương du học.

Khi anh em Đông-Thiên học ở Tây-dương, Dương Ẩn luôn gửi vàng, cùng thư thăm hỏi hai người. Y tự coi hai người như con đẻ thực. Dù y không tin họ là con y. Năm trước, Dương Ẩn gửi thư xin giáo chủ Tây-dương cho hai con về Đại-Việt, với hy vọng con y học được Hồng-thiết tâm pháp. Y có thể giết chết Nhật-Hồ. Thế là toàn thể giáo chúng Hồng-thiết chỉ con y có thể giải trừ vĩnh viễn Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Y đương nhiên khống chế các trưởng lão, lên làm giáo chủ.

Cho nên y mới thiết kế cho Nhất-Trụ vào hầm giam Nhật-Hồ, Nguyễn Chí rồi giật sập hầm giết chết một thể. Nhưng khi Trần Đông-Thiên cùng Trần Quỳnh-Hoa về đến biên giới, lớ nga, lớ ngớ, không nói được tiếng Việt, bị quân biên phòng bắt giam, trao cho Khu-mật viện. Khai-Quốc vương nhân đó khai thác tin tức hai người, rồi cho Thiệu-Thái, Bảo-Hòa giả dạng, để khống chế Hồng-thiết giáo. Trong khi đó Dương Ẩn thấy Đông-Thiên, Quỳnh-Hoa xuất hiện, y tưởng con mình.

Nghe Đỗ Xích-Thập hỏi, Bảo-Hòa sợ Dương Ẩn cật vấn, khó trả lời. Nàng đáp thay y:

– Đỗ trưởng lão hỏi câu này thực hơi thừa. Thế tại sao trưởng lão Hoàng Liên lại có thể vừa làm đệ tử Mê-linh vừa ngồi ghế trưởng lão Hồng-thiết giáo? Chính trưởng lão cũng xuất thân từ phái Tản-viên rồi làm trưởng lão, có ai thắc mắc đâu?

Nhật-Hồ nhìn mặt anh em Đông-Thiên lần cuối vào lúc hai người mới biết chạy. Trong tâm, lão tưởng hai người là con lão. Cho nên khi Dương Ẩn giới thiệu Bảo-Hòa tên Trần Quỳnh-Hoa, y mừng run lên. Thâm ý, y muốn đưa hai con làm trưởng lão thay thế Xích-Thập, Hoàng Liên. Vì vậy y thiên vị ra mặt. Y nói với Xích-Thập:

– Xích trưởng lão. Vấn đề phái Tản-viên đã xong. Ta không nên bàn đến nữa. Tất cả đám giáo chúng đệ tử của người theo về phái Tản-viên, hồi nãy người chẳng từng nói rằng cho nhập vào phái Tản-viên đó ư?

Nghe Nhật-Hồ nói, Bảo-Hòa cầm búa hướng vào phái Tản-viên:

– Các vị huynh đệ nghe! Đây là búa lệnh của thánh Tản-viên. Ai thấy búa, như thấy thánh. Hồi nãy, Đỗ tiền bối nói rằng, đám đệ tử của người, tuy ở trong Hồng-thiết giáo, nhưng học võ công Tản-viên, vẫn có tư cách đệ tử Tản-viên. Tại hạ chấp nhận điều đó.

Đám Đỗ Nhất-Bách, Nhị-Bách, Tam-Bách nghe Bảo-Hòa tuyên bố, chúng nhảy lên mừng rỡ. Vì chúng mang thân phận bọn du thủ du thực theo Hồng-thiết giáo, bị người đời khinh rẻ, nay bỗng nhiên thành đệ tử danh môn chính phái, còn gì bằng. Hơn nữa chúng biết Trần Quỳnh-Hoa vốn dĩ là đệ tử giáo chủ Hồng-thiết Tây-dương, có thể giải trừ vĩnh viễn Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng cho chúng. Vì vậy nghe Bảo-Hoà nói, chúng reo hò nhảy nhót.

Bao nhiêu tham vọng của Xích-Thập, nào đoạt chức chưởng môn, nào khuynh đảo Hồng-thiết giáo. Nay đã không dành được chức chưởng môn của phái Tản-viên, mà còn mất luôn địa vị tôn sư của phái này. Y dựa vào đám đệ tử trung kiên đào tạo bao năm qua, bây giờ chúng bỏ y theo về phái Tản-viên hết. Đỗ Xích-Thập không biết gì về những uẩn khúc của anh em Đông-Thiên. Y cứ cho Dương Ẩn với Nhật-Hồ muốn lọai y ra khỏi Hồng-thiết giáo.

Nguyên từ khi đệ nhị giáo chủ Hồng-thiết giáo Tây-dương Xích Trà-Luyện lên cầm quyền, đặt ra luật mới: Tất cả các trưởng lão nào thấy sức khoẻ yếu kém phải tự ý xin về hưu trí, sẽ được toàn mạng. Còn cứ tham quyền cố vị, ngồi ỳ tại ghế trưởng, lão bất cứ đệ tử nào thấy võ công mình cao hơn một trưởng lão già cũng có thể thách đấu. Nếu thắng, được thay thế ngồi vào ghé trưởng lão. Trưởng lão già bị bại, sẽ cho cỡi Thiết-xa Hồng Xà

về với thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh. Trái lại khi một trưởng lão từ chức, được cho về dân dã. Địa vị tôn quý vẫn còn. Giáo chủ sẽ tổ chức cuộc đấu, tuyển chọn người thay thế.

Xích-Thập nghĩ thầm:

– Bây giờ ta chỉ còn hy vọng dùng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng đánh con nhỏ này tàn tật, mới mong giữ được tính mệnh.

Tuy vậy, y cố giữ vẻ thản nhiên:

– Trần cô nương. Cuộc tranh chấp chức chưởng môn phái Tản-viên của chúng ta coi như xong. Không biết bây giờ cô nương có còn giữ ý muốn tranh chức trưởng lão Hồng-thiết giáo nữa hay không? Ta cho cô nương biết, trong cuộc tranh đấu này, không có hoà, không có thắng. Trong hai người, ắt một người chết. Còn một người sống sẽ giữ chức trưởng lão.

Y hướng vào Nhật-Hồ:

– Giáo chủ, xin giáo chủ ban cho thể lệ cuộc đấu.

Nhật-Hồ lão nhân nói lớn:

– Thưa anh hùng bốn phương. Thể lệ bản giáo từ khi thành lập đến giờ vẫn không đổi. Một, bất cứ đệ tử nào thấy võ công mình cao cường cũng có thể thách cấp trên mình đấu võ. Nếu thắng, đương nhiên được thay thế. Trong khi đấu, không thể xin thua, đầu hàng. Nghiã là một bên chết, một bên sống. Nếu vì lý do nào, đối thủ tha không giết, cũng sẽ bị bỏ vào bồn rắn, để rắn đưa về Thượng-giới Hồng Xà

. Thứ nhì, bản giáo vốn là trung tâm võ học thiên hạ. Nên trong khi đấu, ai muốn dùng võ công bất cứ môn phái nào cũng được. Ba là trong khi đấu, tha hồ dùng thuốc độc, độc chất, độc chưởng. Miễn sao thắng. Bốn, đấu sau một trăm hiệp, sẽ được nghỉ trong vòng cháy hết nửa nén nhang.

Lão chỉ vào đám đệ tử Hồng-thiết:

– Chư đệ tử. Bản giáo có mười trưởng lão. Đệ thập trưởng lão Hoàng Liên đã cỡi xe Hồng Xà

về với thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh. Hôm nay trước anh hùng thiên hạ. Ta đã cử Ngô Bách-Vân thay thế. Mặt khác, chính bản thân ta, cũng như các trưởng lão khác… Nếu đệ tử nào muốn thay thế, cứ việc lên đài thách đấu.

Bảo-Hòa chợt nghe tiếng Khai-Quốc vương dùng Lăng-không truyền ngữ nói:

– Thách đấu với tên Phạm Hổ, chứ đừng đấu với tên Đỗ Xích-Thập.

Bảo-Hòa đã làm việc cạnh Khai-Quốc vương. Nàng hiểu ông cậu này rất rành. Đối với tên Đỗ Xích-Thập, nàng đã đuổi y khỏi địa vị đại tôn sư cùng chưởng môn phái Tản-viên. Bao nhiêu đệ tử của y bị nàng thu hết. Y như chim hết lông, giết y cũng vô ích. Y làm gian tế cho Tống, khắp thiên hạ ai cũng khinh khiến. Không trước thì sau gì Nhật-Hồ lão nhân cũng giết y. Còn tên Phạm Hổ, y có rất nhiều thế lực, giao du với không biết bao nhiêu đại thần trong triều, đệ tử y đông. Cần đánh bại y, mới là điều quan trọng.

Nhật-Hồ hỏi Bảo-Hòa:

– Tiểu cô nương. Trong mười trưởng lão của bản giáo, Hoàng Liên đã về Thượng-giới Hồng Xà

. Hoàng Văn, Vũ Nhất-Trụ hiện vắng mặt. Ở đây còn bẩy vị trưởng lão. Không biết cô nương muốn thay thế vị nào.

Bảo-Hòa im lặng tính toán:

– Vô tình cậu hai với lão này cùng có ý nghĩ như nhau, không muốn hạ tên Xích-Thập vội, mà muốn ta hạ tên Phạm Hổ.

Nàng khoanh tay nói với Nhật-Hồ:

– Tiểu nữ bạo gan, muốn thay thế đệ cửu trưởng lão Phạm Hổ.

Nhật-Hồ hướng vào khán đài Hồng-thiết vẫy tay gọi:

– Đệ cửu Phạm trưởng lão. Trần cô nương muốn cùng trưởng lão so tài.

Bảo-Hòa hoá trang bằng lớp sáp mỏng bên ngoài trông mặt đã lạnh lùng kinh khủng. Bây giờ Phạm Hổ lên đài. Y đeo chiếc mặt nạ da người, trông mặt y cực kỳ xấu xa ghê tởm. Tuy mặt y xấu, nhưng cử chỉ của y lại ôn nhu văn nhã như một văn nhân. Y chắp tay hướng vào Bảo-Hòa:

– Trần cô nương! Phạm mỗ tuổi đã gần bẩy mươi. Tự biết mình vô tài, bất đức, ẩn thân bấy lâu. Không ngờ hôm nay được cô nương chiếu cố. Thực hân hạnh.

Bảo-Hòa đã được thông tri cho biết Phạm Hổ chính thị gã Trịnh Hồ, chủ nhân Ngọc-lan đình cùng tửu lâu Động-đình. Vì vậy nàng muốn lột mặt nạ y cho mọi người biết. Nàng cũng đáp lễ:

– Tiểu nữ muốn lĩnh giáo võ công cao siêu của Phạm tiền bối. Mong Phạm tiền bối nhẹ tay cho.

Nói rồi nàng phát một chiêu Long-Hổ chưởng của ông nội dạy nàng. Long-Hổ chưởng là chưởng pháp cực kỳ huyền diệu. Bởi mỗi chiêu, một tay như rồng tấn công, một tay như hổ phản công. Hai thứ kình lực cuộn xoáy lấy nhau.

Phạm Hổ lùi một bước, y trả lại bằng một chiêu thức rất kỳ lạ. Bình một tiếng. Y bật lui một bước, khí huyết trong người chạy nhộn nhạo cả lên. Trong khi Bảo-Hòa cảm thấy cánh tay tê dại.

Bảo-Hòa dùng võ công Tây-vu, khiến khắp quảng trường đều kinh dị. Trong khi Phạm Hổ vẫn dùng đủ thứ võ công. Khi Đông-a, khi Tiêu-sơn, khi Sài-sơn. Cho nên không ai biết gốc tích y ra sao.

Đấu được trên trăm chiêu, phò mã Đào Cam-Mộc dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai nàng:

– Dùng Phục-ngưu thần chưởng. Đánh liền mười chiêu dương, rồi đổi sang chiêu âm. Phải cẩn thận. Nếu y dùng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng, phải đổi ngay sang một tay xử dụng âm, một tay xử dụng dương. Bấy giờ muốn thắng y, đổi sang dùng phương pháp phản công của Trần Tự-An ngay.

Nghe Đào Cam-Mộc nhắc, Bảo-Hòa nghĩ thầm:

– Ông chú đã biết mình chỉ mình luyện Phục-ngưu âm, lẫn dương. Lại cũng biết mình luyện Mục-ngưu thiền chưởng không thành, rồi Phục-ngưu biến đối thành chưởng mới, mỗi chiêu nửa âm, nửa dương, sát thủ kinh người. Nhưng sao ông khuyên mình đánh như vậy kìa?

Bảo-Hòa đang dùng Long-Hổ chưởng, thình lình nàng lui liền ba bước, vận khí ra các bối du huyệt, rồi theo Đốc-mạch đưa lên huyệt Đại-trùy, phát chiêu Ngưu-hổ tranh phong. Chưởng phong rít lên đổ ụp xuống. Phạm Hổ bị bất ngờ. Y phân tâm một chút, chưởng của Bảo-Hòa đã bao trùm khắp người. Y kinh hoàng vọt người lên cao. Ở trên cao, y phóng xuống một chưởng. Quảng trường kêu lên tiếng kinh hoàng. Vì đó chính là chiêu Long-hổ chưởng của phái Tây-vu. Nhưng chưởng của y hùng mạnh hơn những chiêu trước đây của Bảo-Hòa nhiều.

Bảo-Hòa nhảy lui liền hai bước, chuyển sang chiêu Song-ngưu đồng lao. Bình một tiếng. Nàng cảm thấy tai kêu lên những tiếng vo vo không ngớt. Trong khi Phạm Hổ bật lui ba bước. Lễ đài rung rinh như muốn xụp đổ.

Bảo-Hoà đánh đến chiêu thứ mười, nàng mới nhận ra tên Trịnh Hồ quả thực bác học vô cùng. Trong mười chiêu Phục-ngưu thần chưởng của nàng. Y đều dùng Long-hổ chưởng phản công. Cứ mỗi chiêu, lực đạo tăng lên một chút. Đến chiêu thứ mười, kình lực dương cương của y phát ra tối đa. Hai chưởng chạm vào nhau, Bảo-Hoà cảm thấy trời long đất lở.

Bật lui bốn bước, tiến lên phát chiêu Ngưu-thực ư dã, nàng vận âm kình. Trịnh Hồ thấy Bảo-Hoà đánh lại chiêu cũ, kình lực như có như không. Cho rằng Bảo-Hoà kiệt quệ chân khí, y phóng ra chiêu Long-hổ với lực đạo dương cương mạnh nhất, mong kết liễu tính mệnh nàng.

Quần hùng cùng kêu thét lên kinh hoàng vì họ thấy Bảo-Hòa phát chiêu không lực, mà chiêu của Trịnh Hồ như sấm nổ. Nhưng khi hai chưởng sắp giao nhau, Trịnh Hồ cảm thấy có gì bất ổn, bao nhiêu kình lực phát ra mất tích, mất tăm. Xèo một tiếng như chậu nước dội từ trên cao xuống. Chưởng của Trịnh Hồ như nắm muối bị ném vào bể. Mặt y tái nhợt, người lảo đảo lùi lại.

Bảo-Hòa xử dụng âm chưởng lần đầu, bất thần đắc thế. Nếu như nàng đánh tiếp ba chiêu nữa, Trịnh Hổ mất mạng ngay. Nhưng nàng không có kinh nghiệm, bỡ ngỡ một chút. Trong khi đó y lấy lại được căn bản. Để kéo dài thời gian, y chắp tay hướng Bảo-Hoà:

– Trần cô nương. Lão phu thực hủ lâu, không biết chiêu võ công cô nương vừa xử dụng tên gì vậy?

Câu hỏi của lão, cũng chính là câu hỏi của quần hùng.

Bảo-Hoà ngay thực định trả lời, bỗng tiếng phò mã Đào Cam-Mộc dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai:

– Cháu chậm một chút, thành ra y phục hồi được tư thế. Bây giờ cứ một chiêu âm, một chiêu dương tấn công như mưa sa, gió cuốn. Hoặc dùng lối hỗn hợp âm dương.

Bảo-Hoà hít một hơi, phát chiêu, miệng nói:

– Trịnh trưởng lão! Người khéo giả vờ. Coi chiêu nữa đây.

Trịnh Hồ thấy lần này Bảo-Hòa phát chiêu dương cương. Y trả lại bằng một chiêu Long-hổ. Bình một tiếng. Cả hai bật lui. Bảo-Hòa chuyển tay trái phát chiêu Ác-ngưu nan độ âm nhu. Trịnh Hồ thuận tay đẩy ra chiêu Long-hổ chưởng nữa. Vèo một tiếng, kình lực của y mất tích.

Hai người đấu được năm mươi hiệp nữa, thình lình Phạm Hổ lùi liền bốn bước, rồi phát ra một chiêu rất thô kệch, mùi tanh hôi nồng nặc khắp khán đài. Bảo-Hòa vọt người lên cao. Ở trên cao nàng phóng xuống một Lĩnh-Nam chỉ đến véo một cái. Chỉ xuyên vào giữa chưởng. Phạm Hổ cảm thẩy tay như bị một cái dùi đâm vào. Y lùi lại, nhăn nhó, tỏ vẻ đau đớn.

Bảo-Hoà vận âm kình tay trái, dương kình tay phải. Rồi mỗi tay phát một chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Như vậy chưởng trái bẩy phần âm, ba phần dương. Ngược lại chưởng phải bẩy phần dương, ba phần âm. Trịnh Hồ đâu biết loại chưởng lực quái ác, mà Bố-Đại hoà thượng kinh hãi lo lắng Bảo-Hòa xử dụng đối nới loại người chưa đáng tội chết.

Trịnh Hồ tuy bác học, nhưng y nào biết gì về loại chưởng mới này. Thấy kình lực như có như không. Cho rằng Bảo-Hòa kiệt lực, y vận đủ mười thành công lực phát một chiêu, mong kết liễu tính mệnh nàng.

Bộp, bộp. Bốn chưởng chạm nhau. Trịnh Hồ cảm thấy kình lực có sát thủ kinh khủng xuyên vào người y, khiến người y như bị hàng trăm hàng nghìn con dao băm vằm.

Y chưa hết kinh hoàng, Bảo-Hòa lại phát hai chiêu khác. Tay phải phát chiêu Tứ-ngưu phân thi. Tay trái phát chiêu Song ngưu đồng lao. Trịnh Hồ kinh hoàng, nhảy vọt lên cao tránh khỏi. Hai chưởng chạm vào khán đài. Bộp hai tiếng. Hai cây trụ khán đài to bằng bắp đùi bị tiện đứt. Một cây biến thành bột bay trắng xóa. Một cây, các thớ cong queo, mỏng như vỏ bào tung lên cao, từ từ rơi xuống.

Cả quảng trường, bác học như Nhật-Hồ, Đại-Việt ngũ long, mà cũng không hiểu Bảo-Hòa xử dụng lọai võ công gì. Đoàn Huy dùng Lăng-không truyền ngữ hỏi Đặng Đại-Khê:

– Đặng huynh, hai chiêu vừa rồi, rõ ràng thuộc Phục-ngưu thần chưởng. Mà sao âm không ra âm nhu. Dương cương không ra dương cương. Mỗi chiêu cương, nhu không đều. Hoá cho nên kình lực có sức sát thủ khủng khiếp.

Đặng Đại-Khê cũng nhận thấy thế. Ông hỏi phò mã Đào Cam-Mộc:

– Đào hầu! Kình lực kỳ lạ của Bảo-Hòa phải chăng quân hầu dạy cháu?

Đào Cam-Mộc trả lời:

– Đặng huynh dạy Bảo-Hòa tâm pháp luyện Phục-ngưu dương. Sau cháu có cơ duyên học trọn bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, tự luyện mà thành. Tại hạ dạy Bảo-Hòa tâm pháp luyện Phục-ngưu âm. Trong khi chiêu số chính tại hạ không biết. Cháu tự luyện thành cả hai. Còn kình lực kỳ lạ vừa rồi, không có gì lạ cả. Cháu muốn phát một tay âm, một tay dương, mà không phân tâm được, nên có trình độ đó.

Hồng-Sơn đại phu rời khỏi chỗ ngồi. Ông bốc một ít bột gỗ cùng thớ gỗ do chưởng Bảo-Hòa đánh ra, cầm lên xem, rồi gật đầu:

– Thực kỳ duyên. Cô bé này được Đặng chưởng môn, Đào hầu dạy, luyện thành cả âm kình, dương kình. Cô không làm được công việc của Vạn-tín hầu, Bắc-bình vương, muốn phát tay nào âm, dương tùy ý. Chỉ một tay phát dương, một tay phát âm. Muốn đổi tay dương sang âm, hoặc ngược lại, phải có khoảng thời gian ngăn cách. Vì vậy địch thủ có thời giờ phản công. Bây giờ cô được Di-Lặc Bồ-tát dạy cách phát lực của Thiền-công Tiêu-sơn. Trong khi người không có Thiền-lực, mà chỉ có âm kình, dương kình. Cô lại không trấn nhiếp nổi tâm thần, cho nên tay dương chỉ có bẩy phần dương, pha ba phần âm. Tay âm, cũng chỉ có bẩy phần âm, ba phần dương. Kình lực thành hai thứ luân phiên tấn công.

Các đại tôn sư nghe Hồng-Sơn đại phu luận, đều kinh ngạc về kiến thức của ông. Chỉ liếc qua, ông đã phân được kình lực kỳ lạ. Minh-Không thiền sư than:

– Chưởng này truyền rộng ra ngoài, e võ lâm trải qua thời kỳ sát nghiệp không biết bao giờ mới thoát ra.

Tự-An gật đầu:

– Chưởng này trúng ai, coi như xương, thịt, tạng phủ nát hết. Ta dùng chống ngoại xâm. Hễ bọn chúng lĩnh chưởng, ắt chết ngay. Cần gì thương xót quân cướp nước?

Tuy chưởng của Bảo-Hòa làm Trịnh Hồ kinh hoảng. Nhưng y dùng Nhật-Hồ độc chưởng, nên nàng cứ phải tránh né, không giám cho chưởng gặp nhau. Tự-An thấy vậy, ông nhắc nàng:

– Dùng phương pháp vận công chống độc của Đông-a.

Bảo-Hòa tỉnh ngộ, vừa lúc đó, một chưởng Trịnh Hồ đánh ra, nàng vọt người lên cao tránh. Trong khi đáp xuống, nàng đã vận công bằng kinh mạch theo phương pháp chống độc chưởng của Trần Tự-An chế ra. Ba kinh âm ở tay phòng thủ. Trong khi ba kinh dương dồn chân khí tấn công. Tay phải phát chiêu Ngưu tẩu như phi. Tay trái phát chiêu Song-ngưu đồng lao. Nàng vận công theo Bố-Đại dạy.

Phạm Hổ không biết. Y tấn công bằng một Chu-sa độc chưởng nữa. Chưởng của y chạm vào chưởng Bảo-Hòa, y thấy kình lực tấn công như ba mũi kim xuyên qua chưởng của y, đẩy chất độc trở lại người y. Trong khi chân khí y xuyên vào gặp thủ tam âm của Bảo-Hòa, kình lực chống trả rất nhu hòa.

Thanh-Mai luyện tập nội công Đông-a, Tiêu-sơn, thứ nội công nhà Phật. Ba kinh tấn công, ba kinh thủ. Nàng không được gì hết. Chỉ trừ khi đấu nội lực, nàng mới thu được công lực đối thủ.

Còn Bảo-Hòa, luyện công theo lối hợp âm-dương của Đào Kỳ chế ra. Chân khí của Phạm Hổ dồn ra bao nhiêu, nàng thu vào cơ thể bấy nhiêu.

Phạm Hổ, là một kỳ tài võ học, đại tôn sư võ nghệ. Qua một chiêu, cảm thấy có gì bất ổn. Y nghiến răng đánh liền ba chiêu. Cứ mỗi chiêu chân khí y bị mất đi một ít. Trong khi độc chất bị Bảo-Hòa đẩy trở lại không thoát ra được, cánh tay y nặng chĩu.

Thêm hai mươi chiêu nữa. Lực tấn công bị giảm rất nhiều, mà độc chất càng tụ ở tay y mạnh hơn. Y nghĩ thầm:

– Đến nước này, chỉ còn cách bỏ chạy, mai danh ẩn tích mà thôi. Tuy vậy, ta thử dùng độc chất Xích Trà-Luyện xem sao.

Y đánh liền ba chưởng cực kỳ vũ bão, rồi lùi lại, móc trong bọc ra hai cái bình, đập vào nhau. Choang một tiếng. Hai bình vỡ tan, phát thành tiếng nổ, khói bốc mịt mờ. Y ẩn trong lớp khói, chờ Bảo-Hoà tê liệt chân tay, lập tức xông vào giết chết.

Các đại tôn sư võ học trên đài biết đó là Xích Trà-Luyện độc khí, cùng vọt khỏi đài. Bảo-Hòa đã được Đỗ Lệ-Thanh cho uống thuốc phòng ngừa từ mấy hôm trước. Nàng thản nhiên như không. Phạm Hổ tưởng nàng bị tê liệt, y xông đến chụp, định xé làm hai mảnh. Khi tay y vừa đưa ra, thình lình Bảo-Hòa phát Lĩnh-Nam chỉ. Véo một tiếng, chỉ trúng tay phải y, tiếng rắc phát ra, cánh tay y bị tiện đứt. Bảo-Hòa dùng một chiêu Cầm long công túm áo y liệng xuống đài. Y nằm chết giấc. Trong khi máu trên cánh tay cụt tuôn ra xối xả.

Bảo-Hòa định tiến lên lột mặt nạ Phạm Hổ cho mọi người biết, bỗng nghe tiếng Thanh-Mai dùng Lăng-không truyền ngữ nói:

– Bảo-Hòa! Phạm Hổ giả chết đấy. Em mà tới lột mặt nạ, sẽ bị y ra tay bất thần, nguy tai.

Bảo-Hòa hú vía. Nhưng nàng vốn người mưu trí, cương cường, can đảm. Nàng nghĩ:

– Ta cứ vờ trúng kế y, chờ y vùng dậy, cho y một chỉ nữa.

Nàng vận khí khắp người rồi nói:

– Phạm trưởng lão. Dậy đi thôi!

Nàng nhảy xuống đài đỡ y dậy. Tay nàng túm y vọt lên đài, rồi xé vạt áo y, định buộc chỗ cánh tay gẫy cho y.

Thấp thoáng, một bóng trắng từ phái Sài-sơn đáp cạnh nàng. Bảo-Hoà nhận ra người ấy là Dương Bình, đại đệ tử của Hồng-Sơn đại phu. Dương Bình nói:

– Tiểu cô nương. Xin tiểu cô nương để tại hạ cứu Trịnh trưởng lão.

Dương Bình mở cái túi, lấy thuốc rắc lên chỗ cánh tay gẫy, máu cầm ngay tức khắc. Chàng dùng vải trắng buộc vết thương. Thủ pháp của chàng nhanh vô cùng. Chàng móc trong bọc ra hộp thuốc, lấy hai viên bỏ vào miệng Trịnh Hồ:

– Trịnh trưởng lão, mau vận khí nuốt đi.

Trịnh-Hồ nuốt hai viên thuốc, đau đớn biến mất. Y nhăn nhó, gượng ngồi dậy. Thình lình tay y tung ra một chưởng, hướng Dương Bình. Quần hùng kêu thét lên, vì ba người gần nhau quá, trong khi chiêu chưởng cực kỳ hùng mạnh.

Bảo-Hòa đã đề phòng. Nàng phóng một chưởng vào người y. Nhưng chậm một chút, Dương Bình bị bay tung lên cao. Vừa lúc đó chưởng Bảo-Hòa trúng Trịnh Hồ. Y ngã lộn trên đài.

Nàng phát một chỉ hướng lưng y. Thấy chỉ lực ụp lên lưng, Phạm Hổ kinh hãi, y lăn người đi một vòng tránh khỏi. Bảo-Hòa đánh theo một chưởng, người y bật tung dậy. Chiếc mặt nạ rơi xuống. Người y lảo đảo muốn ngã.

Cả quảng trường cùng bật lên tiếng la kinh hoàng. Chỉ mình Khai-Quốc vương vẫn bình thản như thường. Còn tất cả mọi người đều kêu lớn:

– Trịnh-Hồ tiên sinh.

Suốt hai mươi năm qua, Trịnh Hồ điều khiển khu Ngọc-lan đình và tửu lầu Động-đình, hai nơi du hí bậc nhất đế đô Thăng-long. Hầu hết đại tôn sư các võ phái, quan lại đều kết giao vời y. Y đóng kịch người hào hoa phong nhã. Bất cứ võ lâm đồng đạo thiếu tiền, ghé thăm y. Y tặng cho món tiền lớn. Không ngờ y lại chính đại ma đầu Hồng-thiết giáo.

Trong khi đó Hoàng Giang cư sĩ lên đài. Ông mở y viện ở Thăng-long, Cổ-loa, cứu chữa hai mươi năm qua, ân đức trải rộng. Vì vậy khắp mọi người đều biết ông. Ông bình tĩnh xem xét vết thương cho sư huynh Dương Bình. Thấy không đến nỗi mất mạng, ông hướng vào quần hùng:

– Thưa các vị, từ lúc về đây dự hội. Anh em phái Sài-sơn chúng tôi hoàn toàn đứng ngoài mọi tranh chấp. Bất cứ phe chính, phe tà bị thương, chúng tôi đều cứu chữa tận tình. Đại sư huynh chúng tôi lên đài cứu mạng cho Trịnh trưởng lão. Nào ngờ trưởng lão lại ra tay quá độc địa. Giám hỏi Nhật-Hồ giáo chủ, đây có phải đạo lý Hồng-thiết giáo không?

Nhật-Hồ lão nhân hướng vào quần hùng:

– Đúng đấy. Bản giáo chủ trương xoá bỏ những gì thằng Thích-Ca, thằng Khổng, thằng Mạnh bầy đặt ra. Ân-huệ, lễ nghĩa, trung tín, hiếu đễ, từ bi, đều đáng cho vào thùng rác. Chỉ có Hồng-thiết giáo mới đáng kể.

Quần hùng vang lên tiếng nguyền rủa. Nhật-Hồ lão nhân chỉ vào Trịnh Hồ:

– Trịnh trưởng lão thua rồi. Trần cô nương đương nhiên trở thành đệ cửu trưởng lão bản giáo.

Lão hô lớn:

– Ngũ xa hồng xà đâu! Mau ra đưa Trịnh trưởng lão về Hồng-thiết thượng giới.

Phạm Hổ kinh hoàng. Y rút trong bọc ra một bình thuốc, trút vào miệng nuốt hết. Khoảnh khắc y ôm bụng quằn quại mấy cái, rồi ngã vật trên đài. Đám đệ tử Hồng-thiết giáo đem xác y bỏ vào xe cho rắn ăn thịt. Bây giờ Mỹ-Linh thay thế sư thái Tịnh-Tuệ làm trưởng ban tổ chức buổi lễ. Nàng vờ như không biết Bảo-Hòa. Nàng đến trước Bảo-Hòa:

– Trần tỷ tỷ. Kính mời tỷ tỷ cử đại tôn sư phái Tản-viên thay cho Đỗ trưởng lão.

Bảo-Hòa hướng vào Đặng Đại-Khê:

– Kinh mời Đặng sư bá lên đài.

Đặng Đại-Khê khoan thai, lên ngồi vào ghế tôn sư phái Tản-viên. Còn Bảo-Hòa về ghế dành cho chưởng môn.

Quảng trường im lặng trở lại.

Minh-Thiên, Nùng-Sơn tử cũng như Khai-Quốc vương vẫn chưa hết lo ngại về thái độ của Trần Tự-An. Minh-Thiên dùng Lăng-không truyền ngữ hỏi ý kiến Thanh-Mai:

– Cháu nghĩ xem, mình phải làm gì để bố cháu tỏ hẳn thái độ với bọn Tống. Như vậy cục diện mới hết lo.

Thanh-Mai đáp lại:

– Đối với bố cháu, cần đem đại nghĩa ra khích mới được.

Minh-Thiên lên đài, đến trước Tự-An, chắp tay:

– Trần hiền đệ. Hôm trước hiền đệ nói với bần tăng rằng Giặc ngoài dễ đánh. Giặc trong khó phòng. Bần tăng coi bộ Nhật-Hồ lão nhân muốn dung dưỡng Xích-Thập trưởng lão trong Hồng-thiết giáo. Hiền đệ nghĩ sao?

Tự-An mỉm cười, ông chưa muốn ra tay vội. Ông cần suy nghĩ đã. Nhật-Hồ ngồi cạnh ông. Thấy ông im lặng, lão cho rằng ông sợ thế lực của lão. Lão hất hàm ra lệnh cho Nguyễn Chí.

Nguyễn Chí hướng vào anh hùng thiên hạ:

– Thưa các vị. Vừa rồi bọn Tống tới đây quấy rối, một mình Hồng-thiết giáo chúng tôi đánh bại chúng. Cho nên khi ra đi, Triệu Thành hứa rằng nếu có một tôn sư võ lâm lên làm vua, Tống sẽ đồng ý cho ta giữ quốc hiệu Đại-Việt, cùng cho dùng niên hiệu Hoàng-đế. Nghĩ cho kỹ, còn ai xứng đáng bằng Hồng-Sơn đại phu. Nhưng dường như Hồng-Sơn đại phu không muốn làm vua thì phải. Hồng-Sơn đại phu không muốn làm vua, vậy sư phụ chúng tôi phải được tôn lên. Tôi yêu cầu các vị tôn sư phụ tôi làm hoàng đế Đại-Việt.

Phạm Trạch tiếp:

– Sư phụ chúng tôi lên ngôi Hoàng-đế, ắt trong nước thanh bình an vui. Tống không có cớ mang quân sang nữa. Quân Chiêm, Lào, không còn mối đe doạ. Trái lại, giáo chúng Hồng-thiết giáo ở đó sẽ nổi lên chiếm đất, rồi xin phụ thuộc vào nước Việt. Đại-Việt ta gồm cả Chiêm, Lào, Chân. Nước chúng ta lớn, giầu. Chúng ta kéo quân đòi lại Lưỡng-Quảng, thống nhất Đại-lý. Bấy giờ nước ta hùng mạnh. Ta chỉ ngọn cờ chiếm Tống, Liêu, Tây-hạ, Thổ-phồn, lập ra Thiên-hạ Hồng-thiết giáo».

Đỗ Xích-Thập tiếp:

– Khi nước Đại-Việt trở thành Thiên-hạ Hồng-thiết, chúng ta sẽ qui phục giáo chủ Hồng-thiết Tây-phương. Thế là dưới gầm trời này được cai trị bằng một giáo chủ. Chúng ta đem tượng tên Khổng-tử hủ lậu. Tên Mạnh-tử tham ăn tham uống chẻ ra làm củi nấu cơm. Đem tượng Thích-ca, Lão-tử liệng xuống sông. Bao nhiêu chùa, miếu biến thành đền thờ hai thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh.

Phạm Trạch hướng vào quần hùng hỏi:

– Có ai phản đối việc tôn bản giáo, giáo chủ lên làm hoàng đế Đại-Việt không?

Một loạt tiếng có vang dậy. Phạm Trạch đưa mắt nhìn. Y kinh hoảng. Vì hầu hết võ lâm đều chống đối. Y đưa mắt nhìn Lê Đức. Lê Đức vốn nhiều mưu. Y nghĩ:

– Hồng-thiết giáo phải tranh phong với quần hùng có khác gì tự tử. Chi bằng ta áp đảo mấy tên bằng Chu-sa độc chưởng. Những tên khác sẽ kinh sợ mà cúi đầu.

Nghĩ vậy y hướng vào quần hùng:

– Ở đây có mười hai phái, bốn đại bang. Cộng chung thành mười sáu. Nếu tất cả cùng đấu với nhau tranh ngôi vua, e hỗn loạn tất cả. Bây giờ thế này. Mỗi phái, mỗi bang không đồng ý tôn sư phụ ta làm Hoàng-đế hãy cử lấy một người võ công cao nhất lên đấu với bản giáo. Người của phái nào, bang nào thắng được một trưởng lão của bản giáo, coi như bang phái đó thuộc thành phần được chống. Còn như người của bang phái nào bị một trưởng lão của bản giáo đả bại, bang phái đó thuộc thành phần tôn kính giáo chủ bản giáo lên làm Hòang-đế. Dĩ nhiên bang phái nào tự ý quy thuận bản giáo, không cần phải cử người ra đấu nữa. Tuy vậy, bản giáo vẫn hy vọng Hồng-Sơn đại phu trở lại ngôi vua. Mười trưởng lão bản giáo sẽ thành khai quốc công thần.

Thấy mặt trời đứng bóng, Mỹ-Linh làm chưởng môn phái Mê-linh, giữ quyền chủ động của ban tổ chức, yêu cầu ngừng hết mọi cuộc đấu, ăn cơm.

Các đệ tử phái Mê-linh thay nhau mời chư vị tôn sư, chưởng môn, bang trưởng đến một nhà rạp ăn cơm. Đám Hồng-thiết giáo thích ăn sống, với thực phẩm đặc biệt như cây nhân sâm. Vì vậy họ kéo ra bãi đất trước cổng khu hành lễ hội họp riêng.

Xa giá Thuận-Thiên hoàng đế rời khu lễ đài vào nhà rạp của hoàng-gia, chứ không vào nhà rạp chung với các anh hùng. Còn các vị Thái tử, Công-chúa, đệ tử phái nào, ngồi theo phái đó.

Khai-Thiên vương, Khai-Quốc vương theo về phái Tiêu-Sơn. Hai vương đến trước thiền sư Minh-Không hành đại lễ.

Thấy Khai-Thiên vương hiện ra sắc tướng kỳ dị. Minh-Không biết trong lòng đệ tử đang lo âu về vụ Hoàng Văn tiềm ẩn trong vương phủ, Triệu Liên-Phương làm cây thuốc cho bọn Hồng-thiết. Trịnh Hồ, bạn tâm giao của Vương thành Phạm Hổ. Ngài sẽ để tay vào huyệt Đại-trùy Vương:

– Trên thế gian, không có cái gì trường cửu cả. Hôm nay trời nắng, không chừng ngày mai trời mưa. Vua Hùng lập quốc, cai trị Văn-lang mấy nghìn năm. Vua An-Dương xây thành Cổ-loa, diệt năm trăm nghìn quân Tần oai danh một thủa. Vua Trưng phất cờ, làm nghiêng Hán. Thế nhưng nay xương cùng thịt các ngài đều thành tro bụi. Vương phải biết như thế, mọi lo âu biến đi.

Ngài buông tay trên huyệt đại trùy của vương ra rồi tiếp:

– Cái vạ Hoàng Văn gây ra với Triệu Liên-Phương. Cái ách Trịnh Hồ lại thành Phạm Hổ đâu phải một chốc, một lát mà đưa đến? Đó chẳng qua do nghiệp chướng từ muôn vàn kiếp trước.

Vương chắp tay:

– Đa tạ sư phụ chỉ dạy.

Huệ-Sinh bảo Khai-Quốc vương:

– Chúng ta lại có vấn đề mới, đó là vấn đề Nhật-Hồ lão nhân đòi làm vua. Bất cứ ai cũng có thể làm vua Đại-Việt, trừ bọn quỉ này.

Thiền-sư Minh-Không, lại bên Thiên-trường ngũ kiệt bàn:

– Các vị đại hiệp. Hôm trước chúng ta chỉ bàn nhau đối phó với bọn Tống trong hai phương diện:

Một, không thể để chúng làm nhục quốc thể trước quần hùng.

Hai, không để mắc vào âm mưu ủng Lê, ủng Lý, chia rẽ võ lâm chém giết nhau.

Khai-Quốc vương cùng Trần ngũ kiệt thiết kế đẩy Hồng-thiết giáo ra đối đầu với Tống. Trai cò tranh đấu, Đại-Việt hưởng lợi. Điều này đã thành công. Vì vậy cho đến lúc này, võ lâm vẫn còn nguyên một khối, không chia rẽ, tương tàn như Tống muốn. Nhưng bây giờ nảy ra cái vạ Nhật-Hồ lão nhân muốn làm hoàng-đế, điều này không thể chấp nhận được.

Trần Kiệt tỏ ý cương quyết:

– Chúng ta cần có đường lối nào ít tổn hại nhất. Trước đây chúng ta tránh tổn hại tinh lực võ lâm, mới đẩy Hồng-thiết giáo ra chống bọn Tống. Chúng ta không ngờ bọn Hồng-thiết lại điên khùng đòi làm vua. Theo thiển ý, sở dĩ Nhật-Hồ lão nhân coi thường võ lâm. Vì y biết rằng các phái võ ở hải ngoại như Phật-thệ, Vạn-tượng, Cửu-long, Thiên-tượng, Động-đình chắc chắn sẽ không quan tâm đến việc ai làm vua Đại-Việt.

Ông ngừng lại, lắc đầu, tiếp:

– Nhật-Hồ còn biết rằng dù năm phái này chống hay không, cũng chẳng ích lợi hay tai hại cho y. Còn trong sáu phái quốc nội, phái Đông-a, Sài-sơn ủng Lê. Phái Mê-linh, Tản-viên, trước đây trung lập. Chỉ còn phái Tiêu-sơn, Tây-vu ủng Lý. Nếu mười hai phái cứ lẻ tẻ lên đài đấu với họ, họ áp đảo dễ dàng. Việc trước mắt, phải làm sao kéo năm phái quốc ngoại về với Đại-Việt. Sau đó sáu đại môn phái thống nhất ý chí, cùng cử ra ba người đấu với họ. Lỡ có hao tổn, chỉ hao tổn ba người mà thôi.

Huệ-Sinh cũng nói:

– Dù chúng ta lên đấu với Hồng-thiết giáo lẻ tẻ, thắng họ, ít ra đám trưởng lão chết hết. Giáo chúng không người cầm đầu, tản mát vào dân, chia rẽ nhau, chém giết nhau. Ấy là chưa kể họ chém giết nhau với phái khác. Bây giờ chúng ta thống nhất mà thắng họ, chỉ tổn hại cao nhất ba người hay sáu người bằng ba trận đấu. Sau đó, ta để cho họ tồn tại. Như thế tinh lực Đại-Việt mới còn nguyên vẹn. Bọn Tống mới bỏ ý định đánh chúng ta.

Hồng-Sơn đại phu tiếp lời Huệ-Sinh:

– Phải chi có người nào trong chúng ta đủ sức thắng Nhật-Hồ lên làm giáo chủ, mọi việc tốt đẹp hết.

Trần Kiệt đưa mắt hỏi ý kiến Đặng Đại-Khê. Đặng Đại-Khê nói:

– Ngay bây giờ chúng ta cần cử lấy một vị minh chủ. Minh chủ cần có đủ ba điều kiện:

Một phải biết mình, tức biết khả năng các môn phái.

Hai phải biết người, biết hết tình hình Hồng-thiết giáo.

Ba phải đủ mưu trí đối phó với Tống, với Hồng-thiết giáo.

Hàn Ngọc-Quế thuộc phái Thiên-tượng, Đại-lý nói:

– Không biết Minh-Không Bồ-tát có chịu đứng ra làm minh chủ không?

Chưởng môn phái Vạn-tượng, Phủ-Văn lắc đầu:

– Nếu cần người đạo đức, khiến chúng nhân khâm phục, ngoài Minh-Không đại sư ra, không ai có thể so sánh. Nhưng ở đây chúng ta cử người lấy trí mà thắng Hồng-thiết. Những người có trí bậc nhất ở đây phải kể Long-thành song hiệp. Sau đến Thiên-trường ngũ kiệt. Hoặc Đoàn vương-gia nước Đại-lý.

Chưởng-môn phái Cửu-long Kim-Sinh hỏi sẽ bang trưởng Hồng-hà Sử Anh:

– Long-thành song hiệp là ai vậy?

– Là đại sư Huệ-Sinh với đạo sư Nùng-Sơn tử.

Nùng-Sơn tử chắp tay tạ từ:

– Cảm ơn Phủ huynh. Tiểu đệ không đủ khả năng lĩnh trọng trách đó.

Vũ Anh đứng dậy chắp tay:

– Tại hạ giám đem danh dự phái Đông-a cùng Thiên-trường ngũ kiệt ra bảo lĩnh rằng: Nếu chúng ta cử một người. Người này không phải tôn sư, cũng chẳng phải chưởng môn bất cứ môn phái nào. Võ công không tuyệt cao. Nhưng mưu không thua công chúa Phùng Vĩnh-Hoa. Trí chẳng kém tể tướng Nguyễn Phương-Dung. Mỗi mỗi hoạt động của Tống, của Hồng-thiết giáo, của anh em chúng ta, người đều biết.

Đặng Đại-Khê định lên tiếng. Hoàng Hùng xua tay:

– Đặng sư huynh đừng nói ra vội. Chúng ta đều lấy giấy, viết tên người đó vào, rồi thứ tự mở ra, xem có giống nhau không.

Ngô Thuần-Trúc, trưởng ban tiếp tân của phái Mê-linh lấy giấy bút trao cho ba mươi người, vừa chưởng môn, vừa tôn sư các bang, các phái. Mỗi người đều cầm bút viết, rồi gấp lại.

Minh-Không thiền sư bảo Mỹ-Linh:

– Trong các chưởng môn cũng như đại tôn sư ở đây, Công-chúa trẻ nhất. Xin Công-chúa thử mở những tờ giấy ra. Rồi trao cho tôn sư bang Hồng-hà, Sử lão huynh là người cao nhất kiểm điểm lại.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103136
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49576 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Postby DaMinhChau » October 20th, 2017, 9:31 pm


Hồi thứ sáu mươi lăm

Cầm Chính Đạo Để Tích Tà Cự Bí
(Nguyễn-công-Trứ)




Mỹ Linh kính cẩn mở tất cả ba mươi tờ giấy ra, trao cho Sử Anh. Sử Anh đưa ra trước đọc lớn:

– Hai mươi mốt tờ có chữ Khai-Quốc vương. Bẩy tờ có chữ Lý Long-Bồ. Một tờ có chữ chú hai, một tờ có chữ Bồ nhi. Tổng cộng đủ ba mươi tờ.

Trần Tự-An vẫy tay gọi Khai-Quốc vương:

– Vương gia! Mời Vương-gia lại đây.

Ông tóm lược mọi truyện cho Vương nghe, rồi kết luận:

– Những người viết Khai-Quốc vương hay Lý Long-Bồ khó biết là ai. Nhưng người viết Bồ nhi chắc của sư thái Tịnh-Huyền. Còn người viết chú hai hẳn công chúa Bình-Dương.

Khai-Quốc vương định từ chối, đại sư Huệ-Sinh vẫy tay:

– Đây không phải danh dự gì, mà một nhiệm vụ khó khăn cao cả. Vương gia chẳng nên chối.

Vương thấy sư phụ dạy, chối không nổi. Vương đưa mắt nhìn công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa, vua Bà vùng Bắc-biên như hỏi ý kiến. Bà xua tay:

– Cố đi cậu. Ngoài cậu ra, ai đương nổi.

Khai-Quốc vương kính cẩn chắp tay:

– Được các vị cao nhân tiền bối tín nhiệm. Nhất là sư bá, sư phụ cùng cô mẫu truyền lệnh. Long-Bồ này xin tuân theo.

Quần hùng vỗ tay hoan hô.

Đoàn Huy nhớ ơn Thuận-Thiên hoàng-đế ân xá cho ông tội sang Đại-Việt dò thám. Lại thâm cảm Thanh-Mai xả mệnh cứu ông sống. Ông đứng lên nói:

– Chúng ta đã bàn rằng có ba việc phải giải quyết. Một là các phái võ của người Việt, hiện không ở trong lãnh thổ Việt. Hai là vấn đề ủng Lê, ủng Lý. Ba là cử người đấu với Hồng-thiết giáo. Vấn đề thứ ba xin Khai-Quốc vương đảm nhận. Còn hai vấn đề trên. Mong chư vị giải quyết gấp. Riêng phái Thiên-tượng của tại hạ, nguyện làm bất cứ việc gì ngăn cản Hồng-thiết giáo, không thể để họ lộng hành.

Chưởng môn phái Trường-sa đứng lên:

– Phái Trường-sa của tại hạ hứa sẽ tỏ thái độ cương quyết với Hồng-thiết giáo. Chứ không buông xuôi tay đâu.

Thế rồi Kim-Sinh phái Cửu-long. Phủ-Van phái Vạn-tượng. Rat-ta-Na phái Pha-nôm. Chế Ma-Thanh phái Phật-Thệ cùng bang trưởng các bang Hồng-hà, Đông-hải, Quảng-nguyên cũng cương quyết tỏ thái độ với Hồng-thiết giáo.

Khai-Quốc vương đứng dậy nói:

– Thế là nhờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu linh thiêng phù hộ cho các vị cùng hướng về đại nghĩa. Chúng ta giải quyết được hai vấn đề. Còn vấn đề ủng Lý, ủng Lê.

Vương đưa mắt nhìn Hồng-Sơn đại phu:

– Hôm qua phụ vương tại hạ đã họp các em, các con. Người cương quyết trả lại quyền cho giòng dõi vua Lê. Người chỉ mong Hồng-Sơn đại phu hứa cho ba điều. Một là không trả thù những tướng lĩnh, quan lại của triều Lê theo Lý. Điều này tại hạ cam kết với phụ vương rằng Hồng-Sơn đại phu làm thầy thuốc, cứu người chưa xuể, hơi sức đâu mà trả thù.

Huệ-Phương ngồi sau đại phu xen vào:

– Đa tạ Vương-gia! Đúng như Vương-gia nói. Phu quân tiện thiếp thấy người ta trầy da, đau bụng còn xót xa. Huống hồ trả thù. Điều này muôn ngàn lần không thể xẩy ra.

Khai-Quốc vương tiếp:

– Hai là giữ nguyên những luật lệ phụ vương tại hạ đã ban hành bấy lâu, khiến cho dân chúng được ấm no, hạnh phúc.

Hồng-Sơn đại phu mỉm cười:

– Còn điều thứ ba?

– Điều thứ ba, xin đại phu hết sức chăm sóc cho các nước Chiêm, Lào, Chân, Xiêm. Bởi họ cũng là con cháu Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Sau đó liên kết với Mân-Việt, Đại-lý. Chúng ta dần dần tìm cách thống nhất Việt tộc lại.

Hồng-Sơn đại phu tính vốn trầm lặng. Ông là thiên tài võ học, thiên tài y học. Cho nên trong tâm nuôi chí phục hồi sự nghiệp của vua cha, bị họ Lý chiếm mất. Ông được Tống hứa. Được phái Đông-a hứa giúp. Sau này có bàn tay của Tống, thêm Nguyên-Hạnh với lực lượng Sơn-tĩnh. Nùng Dân-Phú với lực lượng Quảng-nguyên. Thêm vào đó đạo Chiêm, Lào cùng người Hoa ở đất Việt. Nếu ông khởi binh, đương nhiên thành công. Nhưng thành công rồi, đất nước điêu tàn. Võ phái Sài-sơn, Đông-a đại chiến với Tiêu-sơn, Tây-vu. Hai phái Mê-linh với Tản-viên trước hứa trung lập. Bây giờ phái Mê-linh do công chúa Bình-Dương phái Tản-Viên do Bảo-Hòa làm chưởng môn, ắt theo Lý. Như vậy ông có được nước, cũng chỉ còn một nước điêu tàn. Tống kéo quân sang, liệu có giữ được không? Vạn nhất mất nước, ông trở thành thân bại, danh liệt, mà cái danh tiếng đánh Tống của vua cha cũng tàn phai.

Ông lẩm nhẩm:

– Khốn nỗi, mình đã bàn kế sách với đệ tử. Đã cầu viện được phái Đông-a, nhóm Sơn-tĩnh, châu Quảng-nguyên. Không lẽ nay lại rút lui? Như vậy còn gì thể diện? Trong ba điều kiện Lý Công-Uẩn đưa ra đều chính xác. Bấy lâu, y cai trị dân, làm cho nước giầu thịnh. Bây giờ mình có làm hết sức cũng không hơn.

Ông chưa biết sẽ lui hay tới, chợt nhìn Vũ Thiếu-Nhung. Lòng ông đau quặn lại:

– Huống hồ ta tôn kính Dương Ẩn. Nay, nảy ra y làm trưởng lão Hồng-thiết giáo. Bản phái bị vết nhơ quá lớn. Vợ ta bị Hồng-thiết giáo bắt đi làm điều ô nhục. Ta bất lực không cứu được, phải nhờ con trai Lý Công-Uẩn cứu ra. Việc này vỡ lở, ta không còn làm người được, chứ đừng nói làm vua.

Nét mặt ông đăm chiêu suy nghĩ. Ông nhìn sang bên cạnh: Lâm Huệ-Phương đẹp như thiên tiên. Nàng săn sóc, lo lắng cho ông đủ điều. Ông nghĩ:

– Nếu mình như Khai-Quốc vương, mình không bao giờ nhường nàng cho ai. Thế mà Quốc-Vương cắn răng cho nàng về với mình. Người như vậy, mình bằng thế nào được?

Chợt Huệ-Phương đứng dậy, đến trước Hồng-Sơn đại phu. Nàng lạy phục xuống đất liền bốn lạy. Đại phu kinh hoảng đỡ nàng dậy:

– Huệ-Phương! Có gì không? Tại sao lại hành đại lễ?

Ông phất tay, một kình lực đỡ Huệ-Phương dậy, ông kéo nàng ngồi xuống bên cạnh.

Huệ-Phương đầm đìa nước mắt:

– Anh ơi! Em nghĩ anh có làm vua, bất quá lo xây cái đức của mình cho cao lớn hơn. Trong khi học trò anh, và chính anh cứu chữa cho biết bao nhiêu người. Đức cao vòi vọi rồi. Em sợ anh làm vua, không còn thì giờ cứu chữa cái đau đớn cho vạn dân nữa.

Nàng ngồi sát lại bên đại phu:

– Còn như làm Vua để giầu có ư? Em sợ Thuận-Thiên hoàng-đế không giầu bằng anh. Anh muốn làm Vua để có uy quyền ư? Uy quyền của Vua khiến chúng nhân tôn phục, vì sợ cái đao, cái búa. Chứ chưa chắc họ kính mà sợ. Còn anh. Họ kính anh, sợ anh vì sợ cái đức. Cao quý biết bao. Xin anh đừng làm mất đi những cái đó.

Nàng mỉm cười:

– Còn như làm vua có nhiều cung tần mỹ nữ ư? Với tài, với đức của anh. Em tin rằng các thiếu nữ xinh đẹp thiên hạ, ai cũng muốn được hầu anh.

Hồng-Sơn đại phu nắm lấy tay nàng, dù ông biết rằng trước mặt ông có Minh-Không, Huệ-Sinh, Tịnh-Huyền, Nùng-Sơn tử là những nhà tu. Ông nói:

– Ta có Huệ-Phương như có tất cả.

Ông đứng lên, chắp tay hành lễ với Thiên-trường ngũ kiệt, rồi quần hùng:

– Trước hết tại hạ đa tạ các vị đã hứa giúp tại hạ. Nhưng nay trước thế nước chông chênh. Tại hạ quyết định như thế này.

Mọi người im lặng chờ ông nói. Ông hắng rặng một tiếng, rồi tiếp:

– Tại hạ xin rút lui, không tranh ngôi vua với họ Lý nữa.

Quần hùng kinh ngạc đến ngẩn người ra, mắt mở lớn, nghe ông nói tiếp.

– Lý Công-Uẩn huynh đã yêu cầu tại hạ ba điều, tại hạ cũng yêu cầu lại bốn điều. Bốn điều này phải được tất cả các vị đây bảo đảm.

Minh-Không bảo Khai-Thiên vương:

– Vương mời phụ hoàng sang đây họp.

Một lát Thuận-Thiên hoàng-đế tới. Ngài chắp tay:

– Lý Công-Uẩn phái Tiêu-sơn xin nghe lời chỉ dạy của các vị tiền bối.

Minh-Không chắp tay:

– Thiện tai! Xin đại phu dạy cho bốn điều đó. Sư đệ bần tăng sẵn sàng nghe.

– Điều thứ nhất: Công-Uẩn huynh phải ban chiếu chỉ tha hết tù nhân ngay từ ngày hôm nay. Như vậy dù tại hạ không lên ngôi vua, cũng như lên ngôi vua.

Thuận-Thiên hoàng-đế dơ tay:

– Ngay ngày hôm nay, tại hạ xin ban chiếu chỉ đại xá thiên hạ. Đại xá thuế ruộng trong ba năm liền.

Quần hùng đồng reo:

– Đại phúc.

Hồng-Sơn đại phu tiếp:

– Điều thứ nhì, Lý huynh phải truyền xây đền thờ phụ vương, cùng trùng tu lăng tẩm của người. Hàng năm tế lễ như một vị tiên vương triều Lý.

Thuận-Thiên hoàng-đế chắp tay:

– Từ khi tại hạ lên ngôi, vẫn dành ra một khoản tiền lớn trùng tu lăng tẩm tiên vương. Mỗi tháng, ngày sóc, ngày vọng đều sai đại thần tế lễ. Xung quanh lăng tẩm luôn có giáp binh canh gác. Hôm nay trước mặt anh hùng, tại hạ xin hứa tiếp tục điều đó.

Hồng-Sơn đại phu tiếp:

– Điều thứ ba, xin tất cả anh hùng có mặt bảo đảm cho. Khi về già Công-Uẩn huynh phải truyền ngôi vua cho một đại anh hùng, một đại hào kiệt, một đại trí tuệ, nhã lượng. Người ấy là Khai-Quốc vương.

Mọi người kinh ngạc, chưa hiểu ý Hồng-Sơn đại phu. Ông tiếp:

– Chư vị ngạc nhiên ư? Tôi lùi, nhường ngôi cho Lý. Chỉ vì mấy năm nay Lý dùng đức cai trị dân. Tôi muốn kế tục sau Công-Uẩn huynh phải có người đức độ, tài hơn tôi. Thế thôi.

Nói rồi ông đem tất cả những điều Khai-Quốc vương đã làm để thu phục nhân tâm cho Thuận-Thiên hoàng-đế: Nào cứu thầy trò Đoàn Huy. Nào cứu Lão-qua, Chiêm-thành khỏi vướng vào bẫy Tống. Nào hy sinh cho Huệ-Phương về với ông. Cho Đào Hà-Thanh về với Trần Tự-An. Ông kết luận:

– Đại-Việt có một hoàng-đế như vậy, sau này e không thua vua Hùng vua Trưng.

Thuận-Thiên hoàng-đế long trọng đứng lên hứa:

– Hồng-Sơn huynh! Huynh xứng đáng một đại long của nước Việt. Những điều Bồ nhi làm, tiểu đệ không biết rõ bằng huynh. Đệ đang phân vân không biết chỉ định trong các em, các cháu, ai sẽ là trừ quân. Bây giờ được huynh chọn cho còn gì bằng.

Minh-Không thiền sư vẫy quần hùng đứng dậy, hướng vào Hồng-Sơn đại phu cùng vái ba vái:

– Chúng tôi muôn vàn cảm kích đại phu. Võ đạo đại phu cao quá. Muôn ngàn lần chúng tôi không bằng. Đại phu không xử dụng một chiêu võ, mà đánh tan mấy chục vạn quân Tống.

Hồng-Sơn đại phu khiêm tốn đáp lễ. Ông hướng vào Huệ-Phương:

– Em! Em mới chính sức mạnh, đánh tan sáu đạo quân Tống. Em xứng đáng làm một Thánh-Thiên thứ nhì của Đại-Việt.

Minh-Không hỏi:

– Xin đại phu cho biết điều thứ tư?

– Điều thứ tư, bằng mọi giá, Công-Uẩn huynh phải cho người đuổi theo bọn Tống đòi lại bộ Lĩnh-Nam vũ kinh.

Mọi người mặt nhìn mặt. Bởi đó là điều cực hó. Vì khi bộ võ kinh do Quách Quỳ chép được. Triệu Thành cho sao làm hai bản. Y dấu trong người một bản. Một bản cho người mang về Tống ngay từ lâu rồi. Còn bản chép trên cuốn sử, y mang theo, bị mất trên sông Hồng. Bây giờ làm sao mà đòi lại?

Khai-Quốc vương móc trong bọc ra một gói vải dầu. Vương trịnh trọng mở trước mặt quần hùng. Bên trong có ba cuốn sách nhỏ. Vương nói:

– Đạ tạ đại phu dạy. Tiểu bối coi Khu-mật viện, mà để cho giặc vào nước lấy trộm di thư đem đi, còn chi thể diện người Việt nữa? Khi y sai Quách Quỳ chép làm ba bộ trong một khách điếm. Tại hạ đã biết hết. Tại hạ cho người giả làm cướp đuổi theo tên sứ mang sách, bắt y giam lại. Sau đó sai người giả dạng chữ Quách Qùy chép ra hai bản khác. Trong hai bản đó, giống hệt bản chính, nhưng mỗi câu đổi đi một chữ, để nếu chúng có đọc, luyện tập cũng không kết quả. Hôm sau, người của Khu-mật viện vờ như không biết tên mang sách là sứ, thả cho y đi, với bộ sách giả.

Quần hùng vỗ tay vang dội.

Khai-Quốc vương tiếp:

– Tiểu bối theo dõi Triệu Thành, bí mật đổi bản giả, lấy bản thực về. Còn bản mà Đoàn vương gia nước Đại-lý cướp lại được của Triệu Huy, rồi bôi thuốc độc cho cả bọn chúng trúng độc. Sự thực bản đó, tại hạ đã cho lấy trộm trước, sửa đổi lung tung. Thành ra bọn Tống có luyện cũng vô ích.

Đoàn Huy xấu hổ, mặt đỏ như gấc. Chính ông ăn cướp bản giả đó, về chép lại, rồi khi xẩy ra cuộc chiến trên sông Hồng. Ông bôi thuốc độc trả lại bọn Tống. Bọn Tống vô tình bị trúng độc. Ông tưởng bọn chúng sẽ chết hết. Nào ngờ bọn chúng được Đỗ Xích-Thập, Hoàng Liên cho thuốc giải, nên tuy chưa khỏi, mà không đến nỗi chết. Rồi chính bản sao lại đó, bị bọn Chu An-Bình ăn trộm, trốn đi mất. Không ngờ bọn Tống, bọn Chu An-Bình, cho đến ông đều bị Khu-mật viện Đại-Việt cho vào vòng ảo thuật.

Hồng-Sơn đại phu khoan khoái mỉm cười:

– Bây giờ chúng ta tuân theo mạng lệnh minh chủ là Khai-Quốc vương để đối phó với bọn

Hồng-thiết.

Khai-Quốc vương kính cẩn nói:

– Lát nữa đây, chắc chắn Nhật-Hồ lão nhân cũng như bọn trưởng lão sẽ dở giọng điên điên, khùng khùng, tự cho là được thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh sai xuống trần cai trị nhân gian. Vì vậy cần một vị thực bác học, thực uy tín bẻ gẫy lý luận của họ. Trong chúng ta, tại hạ nghĩ Côi-sơn đại hiệp có thể đảm nhiệm.

Trần Tự-An vui vẻ:

– Tôi xin đảm trách việc đó.

Khai-Quốc vương tiếp:

– Lý luận bị yếu thế. Hồng-thiết giáo sẽ thách chúng ta đấu. Trong ba trận này ta phải nhường Nhật-Hồ thắng một trận. Còn hai trận, chắc chắn hai trong ba trưởng lão võ công cao nhất sẽ ra đấu. Đó là Vũ Nhất-Trụ, Lê Ba, Đỗ Xích-Thập. Đỗ Xích-Thập xin Côi-sơn đại hiệp thu thập y. Vũ-nhất-Trụ võ công rất kỳ ảo, xin sư bá Minh-Không thu thập cho. Còn như nếu Lê Ba xuất quân, hẳn Hồng-Sơn đại phu thanh lý môn hộ. Tuy vậy, biến chuyển còn nhiều. Bấy giờ tiểu bối sẽ liệu ứng phó.

Đến đó, Ngô Thuần-Trúc vào trình:

– Nhật-Hồ lão nhân cùng chư đệ tử trở lại. Lão thách anh hùng các nơi ra tranh phong.

Quần hùng thứ tự trở lại khu lễ đài.

Lê Đức chắp tay hướng vào anh hùng thiên hạ:

– Thưa các vị. Bên Trung-quốc cử vua cai trị có hai lối. Một là cử hiền. Vua Nghiêu nhường cho vua Thuấn. Vua Thuấn nhường cho vua Vũ. Gần đây con cháu Lưu Trí-Viễn tàn, anh hùng cử Sài Vinh lên thay. Sài Vinh chết, cử Triệu Khuông-Duẫn lên thay. Bên Đại-Việt ta, hồi xưa anh hùng cử Thục-Phán lên làm An-Dương vương. Đến thời Lĩnh-Nam, cử vua Trưng lên thống lĩnh quần hùng. Thứ nhì là cử giòng, theo lối cha truyền con. Anh truyền em.

Y ngừng lại một lúc, rồi tiếp:

– Vừa rồi, vua Đinh băng, con còn thơ, triều đình cùng võ lâm anh hùng theo lối cử hiền, đưa Lê Hoàn lên làm vua. Mới đây vua Lê Ngọa-Triều băng, con còn thơ. Triều đình không tìm được con vua Lê Đại-Hành thay thế. Anh hùng, võ tướng muốn cử quan Tả thân vệ điền tiền chỉ huy sứ Lý Công-Uẩn lên làm vua, theo lối cử hiền. Nhưng triều đình, cũng như võ lâm đều chia làm hai, suýt xẩy ra chiến tranh. Thiền sư Vạn-Hạnh đứng ra hoà giải, xin để Lý Công-Uẩn tạm nhiếp chính. Trong một thời gian, nếu chính sự tốt hãy để nguyên. Bằng không phải tái cử.

Y ngừng lại, nhìn vào phái Sài-Sơn:

– Mới đây sứ đoàn nhà Tống tìm ra Hồng-Sơn đại phu chính là Nam-Quốc vương Lê Long-Mang, con thứ vua Lê Đại-Hành. Triều Tống muốn tái lập Lê triều. Điều này dễ hiểu. Vì Tống do các Nho thần cầm quyền. Vua tôi muốn tỏ ra rằng họ trọng giòng giống. Để sau này, dân Trung-nguyên cứ tôn họ Triệu mãi mãi. Triều Tống khẳng định, nếu Lê hưng phục sẽ để cho chúng ta dùng quốc hiệu Đại-Việt, vua được dùng niên hiệu. Bằng không quân Chiêm, Lào, đại quân Tống kéo sang. Chiến tranh khó tránh.

Y chỉ vào Nhật-Hồ lão nhân:

– Sứ đoàn Triệu thành khẳng định rằng: Nhất định không Lý. Một là Hồng-Sơn đại phu. Hai là đại tôn sư võ học. Hồng-Sơn đại phu dường như không muốn làm vua. Vậy, phải cử đại tôn sư võ lâm lên thay thế. Tôn sư võ lâm hiện thời chỉ Minh-Không đại sư với sư phụ tôi xứng đáng. Minh-Không đại sư đang tiêu dao hạc nội mây ngàn, tứ đại giai không. Người đâu muốn áo cà sa nhuốm bụi trần. Vì vậy chỉ còn sư phụ tôi.

Y nói thực lớn:

– Vậy các vị tôn sư, chưởng môn nhân. Xin các vị cho biết ý kiến.

Hồng-Sơn đại phu khoan thai lên đài. Ông hướng vào bàn thờ lễ tám lễ, rồi hướng vào quần hùng cúi đầu chào. Quần hùng vỗ tay vang dội. Vì đại phu nức tiếng Hoa-Việt về tài thánh y. Học trò đại phu có hàng ngàn, đang hành y đạo cứu người khắp nơi. Đại phu vận khí vào đơn điền, nói lớn:

– Thưa các vị anh hùng. Chúng ta có hai vấn đề phải bàn. Thứ nhất, ngôi vua Đại-Việt phải do người Việt quyết định. Triệu Thành không có quyền vì y không phải Tống đế. Ví dù y có là Hoàng-đế Tống. Y cũng không được phép xen vào quyền thiêng liêng của chúng ta.

Quần hùng vỗ tay rung động quảng trường.

Hồng-Sơn đại phu tiếp:

– Lý Công-Uẩn sư huynh làm vua, hay tại hạ làm vua, nước ta vẫn cứ xưng Đại-Việt. Ta muốn xưng hiệu gì mặc ta. Tống không được phép xen vào. Nếu Tống muốn xen vào, cứ mang quân sang. Đống xương cao hơn núi ở Chi-lăng mới mục hết. Nên có đống khác thay thế. Cá sông Bạch-đằng mới hết mồi ăn, cần thêm vài chục vạn xác Tống sang nuôi cá nữa. Nhưng miễn sao chúng ta vạn người phải kết thành một khối, tuyệt đối không có kẻ làm gian tế cho giặc.

Quần hùng lại vỗ tay rung động cả quảng trường. Hàng vạn người tới trước khán đài quỳ xuống lạy Hồng-Sơn đại phu. Đại phu chắp tay đáp lễ. Đợi cho họ lễ xong, ông tiếp:

– Đấy là nói theo lý bề ngoài. Còn thực sự bề trong thế nào? Trước khi Triệu Thành đi sứ, y đâu biết rằng trên thế gian này có tại hạ? Y hứa cho Vệ-vương Đinh Toàn mượn mười vạn quân về dành ngôi vua với triều Lý. Sau khi biết được tại hạ còn sống. Y liệng Vệ-vương vào thùng rác, kéo cao ngọn cờ Hưng diệt. Kế tuyệt,. Ôi! Xảo trá cùng cực. Thực ra, y chỉ muốn cho chúng ta đánh nhau, tinh lực hao tổn, rồi kéo binh sang. Sau khi chiếm được Đại-Việt, Lão-qua, Chiêm-thành, Chân-lạp, Xiêm-la không cần đánh cũng thu phục. Bấy giờ Tống có cả một vùng trù phú, dân đông, lương đủ, kéo qua chiếm Đại-lý. Cuối cùng hướng lên Bắc diệt Kim, Liêu, Tây-hạ.

Đại phu ngừng lại, khiến cả quảng trường im lặng theo. Đại phu thở dài, tiếp:

– Nếu bây giờ, tại hạ với Công-Uẩn huynh tranh ngôi. Công-Uẩn huynh được phái Tiêu-sơn, Mê-linh, Tản-viên, Tây-vu trợ giúp. Tại hạ được phái Đông-a, Sài-sơn giúp. Cuộc chém giết kết quả sẽ không biết đâu mà lường. Nhưng… tại hạ vẫn muốn làm vua.

Quảng trường ồ lên những tiếng kinh ngạc. Hồng-Sơn đại phu mỉm cười:

– Làm vua để có vàng bạc đầy nhà ư? Vì thú thực Công-Uẩn huynh chưa chắc giầu bằng tại hạ. Làm vua để có uy quyền ư? Thú thực hiện tại hạ được quần chúng kính yêu vô cùng. Chưa chắc Công-Uẩn huynh được họ kính yêu hơn! Làm vua để có vợ đẹp ư? Thú thực tiện nội hiện là người đẹp nhất thiên hạ.

Đến đó Huệ-Phương khoan thai lên đài. Quần hùng suýt xoa không ngớt. Ánh nắng hè chiếu vào khuôn mặt nàng, tươi đỏ lên. Cả một vùng xung quanh nàng như rực ánh hoa đào.

Hồng-Sơn đại phu tiếp:

– Tại hạ muốn dành lại ngôi vua chỉ với mục đích thi hành chính sách nhân trị, kiến thiết, khuếch trương văn học võ bị. Ngoài liên kết Chiêm, Lào, Chân, Xiêm rồi cùng Đại-lý bàn truyện thống nhất đất nước. Sau đó kéo quân lên Bắc đòi lại Lưỡng-Quảng, vốn đất cũ của tổ tiên chúng ta. Thế nhưng, hôm nay đây, tại hạ tìm thấy một thiếu niên anh tài, khí hùng, trí dũng, văn võ kiêm toàn, mưu trí trùm hoàn vũ. Tại hạ cảm thấy thua xa. Nên tại hạ xin rút lui, và trao nhiệm vụ khó khăn này cho người đó.

Quần hùng im lặng, ngơ ngác, chờ Hồng-Sơn nói tên người anh hùng. Ông im lặng mấy khắc rồi tiếp:

– Người đó là Khai-Quốc vương, Lý Long-Bồ.

Quần hùng vỗ tay hoan hô, lẫn với những tiếng hô:

– Khai-Quốc vương vạn tuế.

Hồng-Sơn đại phu nói lớn:

– Mời Khai-Quốc vương lên đài.

Khai-Quốc vương khoan thai lên đài. Vương hướng vào quần hùng cúi đầu ba lần. Hồng-Sơn đại phu nắm tay vương:

– Lý huynh đệ. Người nhỏ hơn ta ít ra hai mươi tuổi. Lần đầu tiên ta biết đến người bằng một lượng cả của người mênh mông. Lần thứ nhì ta biết đến người bằng một cuộc cứu viện cho danh dự ta, nhà ta, môn phái ta. Cuối cùng muôn vàn lần ta không bằng người. Ta thích sắc đẹp. Người cũng thích sắc đẹp. Nhưng người chịu nổi, thoát ra được lòng ích kỷ. Người cho ta vay món nợ nhân tình quá lớn, muôn ngàn kiếp sau ta không trả nổi. Vậy hôm nay trước anh hùng tiền nhân. Ta trao trọng trách lại cho người.

Ông hướng vào phái Đông-a:

– Tại hạ kính cẩn cúi đầu đa tạ toàn thể huynh đệ phái Đông-a cùng Thiên-trường ngũ kiệt đã hết lòng phò trợ cho tại hạ. Hôm nay trao trọng trách vào tay Khai-Quốc vương. Tại hạ mong huynh đệ phái Đông-a dành cho Khai-Quốc vương sự hỗ trợ, như đã dành cho tại hạ.

Ông hướng vào phái Sài-sơn:

– Chúng ta nhất định cắp gươm cùng Khai-Quốc vương thực hiện chí cả.

Nói dứt, ông khoan thai xuống đài.

Phạm Trạch cười rung động quảng trường. Y lắc đầu:

– Hồng-Sơn đại phu không muốn làm vua, là truyện riêng của Hồng-Sơn đại phu. Đại phu không thể bắt chúng ta phải cúi đầu tôn một tên ôn con, miệng còn hôi sữa này lên làm Hoàng-đế.

Mỹ-Linh cực kỳ tôn kính Khai-Quốc vương. Thấy Phạm Trạch nói lời vô lễ. Nàng rút kiếm, uốn cong người, vọt lên cao. Ở trên cao, nàng xỉa kiếm vào mặt Phạm Trạch. Chỉ thấy thấp thoáng, Phạm Trạch ôm miệng nhảy lui lại, máu me đầy mặt, trông thực thảm thiết. Không ai nhìn rõ Mỹ-Linh ra chiêu như thế nào. Nàng chỉ mặt y:

– Phạm trưởng lão! Người muốn nói gì cứ nói, nhưng người nhục mạ thúc phụ ta, đừng chê kiếm ta không sắc.

Phạm Trạch kinh hồn, chân tay run lẩy bẩy. Y nghĩ thầm:

– Vừa rồi con nhỏ này giết ta, e giờ này ta chỉ còn cái xác không hồn. Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Ta để cho Lê Ba tranh phuông, nếu con nhỏ này giết, thị giết Lê Ba.

Nghĩ vậy y bưng miệng, im lặng.

Khai-Quốc vương bảo Mỹ-Linh:

– Cháu không nên quá tay với Phạm trưởng lão.

Lê Văn từ dưới đài bước lên. Nó mở hộp ra, lấy một chút cao, rồi đến trước Phạm Trạch:

– Phạm trưởng lão. Xin trưởng lão để tiểu bối trị thương cho.

Nó tiến tới bên cạnh y, tay thoa quanh miệng. Máu cầm lại liền. Phạm Trạch nói ấm ớ:

– Đa tạ bạn trẻ.

Lê Văn cười lớn:

– Phạm trưởng lão! Khi nãy đại sư huynh Dương Bình cứu mệnh cho Trịnh trưởng lão. Bị trưởng lão đánh gần mất mạng. Thế nhưng quý tôn sư còn chửi chúng tôi ngu muội theo Thích, theo Khổng, theo Mạnh. Bây giờ Phạm trưởng lão nói đa tạ, chắc phải hiểu ngược lại thành câu đồ chó chết hẳn?

Quần hào vỗ tay hoan hô Lê Văn. Nó méo miệng trêu Phạm Trạch, rồi xuống đài.

Đỗ Xích-Thập vẫy tay cho Phạm Trạch lui lại. Y hướng vào quần hùng:

– Nếu Hồng-Sơn đại phu rút lui, võ lâm chúng ta cử người khác lên thay. Hồng-Sơn đại phu làm chưởng môn nhân, cũng được quyền đề cử người. Người mà Hồng-Sơn đại phu cử tên Lý Long-Bồ. Tuy vậy, anh hùng mỗi phái đều có quyền cử người.

Y quay lại hỏi Trần Tự-An:

– Côi-sơn đại hiệp. Hồng-Sơn đại phu yêu cầu phái Đông-a dành cho Lý Long-Bồ sự ủng hộ như đã dành cho người. Vậy riêng tôi, tôi xin đại hiệp ủng hộ sư phụ tôi chứ đừng ủng hộ Lý Long-Bồ.

Đại hiệp Trần Tự-An vốn người trầm tĩnh, mưu trí. Mọi diễn biến xẩy ra, ông giữ thái độ thung dung. Bây giờ thấy bọn Hồng-thiết giở giọng điên điên, khùng khùng, ông cần phải chính đốn lại. Ông muốn cho bọn chúng mất chính nghĩa, rồi hạ mới dễ dàng. Ông nghĩ thầm:

– Tên Nhật-Hồ đang muốn loại bọn trưởng lão già nua. Vậy ta giết mấy tên làm gian tế cho Tống, ắt lão vui vẻ. Trong mấy tên trưởng lão này, tên Đỗ Xích-Thập lợi hại nhất. Ta phải trừ nó trước.

Ông đứng lên hướng vào Nhật-Hồ lão nhân:

– Lão nhân! Tại hạ không phục. Nếu lão nhân còn dung dưỡng bọn đệ tử mưu dâng giang sơn cho Tống, Hồng-thiết giáo sẽ trở thành kẻ thù của người Việt. Bấy giờ lão nhân có làm Vua, cũng không yên. Nếu lão nhân diệt mấy tên bán nước trong quý giáo, phái Đông-a sẽ tôn tiên sinh lên làm Vua.

Ông hướng vào quảng trường:

– Trước đây hơn giờ, các tôn sư, chưởng môn nhân họp nhau quyết định rằng: Mười hai phái, bốn đại bang cùng cương quyết thống nhất hành động. Nay tại hạ xin tuyên dương các điều quyết định đó:

– Một, các phái Kim-biên, Vạn-tượng, Cửu-long, Thiên-tượng, Trường-sa, Pha-Nôm. Các bang Hồng-hà, Quảng-nguyên, Đông-hải cương quyết hướng về đại nghĩa của Việt tộc. Đại-Việt là gốc đất tổ, nơi qui tụ Việt tộc đông đảo, vì vậy bất cứ biến cố gì của Đại-Việt, cũng thành biến cố của chính bản thân Lục-phái, Tam-bang.

Quần hùng vỗ tay vang dội. Thầy trò Nhật-Hồ lão nhân đưa mắt nhìn nhau, ngơ ngơ ngác ngác. Họ không hiểu bằng phép lạ nào, mà võ lâm lại thống nhất mau lẹ như vậy?

Tự-An tiếp:

– Thứ nhì, tôn Lý Công-Uẩn trong ngôi vị Thuận-Thiên hoàng-đế. Người kế tục ngôi hoàng-đế sau Thuận-Thiên hoàng-đế là Khai-Quốc vương.

Lập tức trống thúc nhịp nhàng. Hàng mấy vạn người vỗ tay reo hò. Đợi cho tiếng reo hò dứt, Tự-An tiếp:

– Thứ ba, không chấp nhận để Nhật-Hồ lão nhân làm vua Đại-Việt. Đại-Việt ta là nước văn hiến đã bốn nghìn năm, không thể để dân chúng chịu đi vào đường tà ma ăn thai nhi, uống máu đơ.

Lê Ba lắc đầu:

– Côi-sơn đại-hiệp! Đại hiệp nói vậy e sai. Nước Việt mình từ cổ vốn nước văn-hiến, nhưng tổ tiên ta dùng võ công xây dựng đại nghiệp. Cho nên cần có người văn võ kiêm toàn làm vua. Có như vậy, mới mong bảo toàn được giang sơn. Vừa rồi bọn Tống chẳng mưu làm nhục quốc thể đó ư? Sư phụ cùng anh em chúng tôi đã đem toàn lực ra đuổi được bọn chúng đi. Chúng khâm phục, nhắc rằng ngôi vua phải đo giòng dõi vua Lê hoặc do một tôn sư võ học. Tôi nghĩ tôn sư võ học còn ai xứng đáng hơn sư phụ tôi.

Y ngừng lại, hướng vào quần hùng:

– Huống hồ trong thiên hạ, cứ trăm người, chín mươi chín người quy phục Hồng-thiết giáo. Như vậy phi sư phụ chúng tôi ra, còn ai xứng đáng hơn?

Đến đó giáo chúng Hồng-thiết reo hò vang dội. Trống thúc rung động trời đất.

Nhật-Hồ lão nhân dơ tay một cái, chiêng trống im phăng phắc. Lão vuốt râu nói:

– Bây giờ thế này! Phái nào không phục việc tôn lão phu lên làm vua, cứ việc cử người lên đây đấu. Lão phu hứa rằng, nếu như trong cuộc đấu này, lão phu hay bất cứ đệ tử nào tử thương, giáo chúng Hồng-thiết giáo tuyệt không trả thù.

Tự-An chỉ vào Khai-Quốc vương:

– Nhật-Hồ giáo chủ. Giáo chủ chưa biết đó thôi. Mới đây, đại tôn sư cùng chưởng môn nhân các phái đã quyết định hợp nhất tôn sư huynh Lý Công-Uẩn lên làm hoàng-đế vĩnh viễn, và người kế tục Thuận-Thiên hoàng đế phải là Khai-Quốc vương. Tất cả các tôn sư đều đồng nhất tôn Khai-Quốc vương làm minh chủ mười hai phái, ba đại bang. Vì vậy sẽ không có việc mỗi phái cử người lên tranh phong cùng quý giáo. Nếu quý giáo muốn tranh phong cùng võ lâm Đại-Việt, đã có minh chủ định liệu.

Nhật-Hồ lão nhân cười ha hả, cười rung động quảng trường. Một lúc sau lão chắp tay hướng Khai-Quốc vương:

– Vương gia! Vương gia đã cứu lão phu khỏi chốn lao tù, lại đối xử cực kỳ tử tế với lão phu. Đó là việc tư. Còn những ai chống Hồng-thiết giáo, đương nhiên trở thành giặc của đất nước, lão phu cần tru diệt. Vậy lão phu không thể trả ơn Vương-gia. Mong Vương-gia đừng buồn.

Khai-Quốc vương biết Nhật-Hồ nói gì rồi. Vương muốn y nói rõ hơn, để quần hùng kinh tởm y:

– Lão nhân! Tiểu bối tối tăm qúa, không hiểu tại sao: Ai chống Hồng-thiết giáo, lại trở thành giặc. Cần tru diệt?

Nhật-Hồ cười lớn:

– Dẽ hiểu qúa. Hồng-thiết giáo do thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh lập ra, để phá bỏ bọn Thích đần độn, bọn Khổng hủ lậu, bọn Mạnh tham ăn. Hồng-thiết giáo phá bỏ tất cả những gì chúng xướng ra như từ-bi, bác ái, tam cương, ngũ thường. Vì vậy ai chống Hồng-thiết giáo sẽ bị coi như theo thằng Thích-Ca, thằng Khổng, thằng Mạnh cần tru diệt.

Lão chỉ vào đám đệ tử:

– Bây giờ lão phu cả gan xin Vương-gia cử ra ba người đấu với lão phu. Bằng như Hồng-thiết giáo thắng hai cuộc, võ lâm phải tôn lão lên làm vua. Còn ngược lại, Hồng-thiết giáo nguyện quy phục triều đình.

Khai-Quốc vương ung dung đáp:

– Giáo chủ muốn thế, tại hạ đành cam thất lễ. Không biết bên quý giáo, ai sẽ xuất trận đầu? Nhưng này thưa giáo chủ. Nếu giáo chủ muốn lên ngôi vua hay hưng thịnh quý giáo, cũng nên giải thích cho anh hùng Đại-Việt biết rằng quý giáo có phải do bọn Tống đưa lên ngôi vua hay không?

Nhật-Hồ lão nhân vuốt râu:

– Anh hùng thiên hạ, chỉ có Hồng-thiết giáo với phái Đông-a là chống ngoại xâm đến cùng. Vương gia không lẽ không biết điều đó?

Khai-Quốc vương chỉ Đỗ Xích-Thập:

– Thế tại sao trong quý giáo lại có một trưởng lão lĩnh ấn phong hầu của Tống triều. Xin giáo chủ dạy cho một lời.

Tự-An thêm vào:

– Tại hạ cũng chờ giáo chủ minh xác rồi mới quyết định ủng Lý hay ủng Nhật-Hồ.

Nhật-Hồ lão nhân nghĩ nhanh:

– Tên này muốn ta giết bọn trưởng lão gian tế của Tống, chính điều ta cầu mà không được. Huống hồ diệt mấy tên trưởng lão già nua, vô dụng để được phái Đông-a, còn gì hay hơn.

Lão đưa mắt nhìn Xích-Thập:

– Người phải chứng minh rằng không làm gian tế cho Tống ngay. Bằng không sẽ nguy lắm đấy.

Đỗ Xích-Thập nghe Nhật-Hồ nói; cảm thấy lạnh gáy, y chỉ tay vào mặt Tự-An:

– Tên nhà quê kia! Mi không đủ tư cách bàn việc nội bộ của Hồng thiết giáo. Xuống đài ngay. Từ lúc đến đây, tên ôn con Tự-Mai đã làm ta muốn điên tiết lên rồi. Mi không xuống đài, đừng trách ta.

Quảng trường có tới mấy vạn người, khi nghe Xích-Thập nói câu đó đều nín thở, rùng mình, kinh khủng. Vì võ lâm Đại-Việt có hai môn phái hùng mạnh cực kỳ là Tiêu-sơn với Đông-a. Tiêu-sơn do Bồ-tát Minh-Không làm chưởng môn, dù người nào phạm vào phái này, với lòng từ bi hỉ xả, ngài bỏ qua. Nhưng phái Đông-a lại khác. Thiên-trường ngũ kiệt lòng dạ như biển, ai nhờ gì cũng xả thân ra giúp. Ngược lại ai xâm phạm vào họ, e khó sống được dưới trần gian.

Tự-An nhìn Xích-Thập với con mắt khinh bỉ:

– Quân mặt dầy. Mi không có nước, mà còn mưu bán nước. Mi không đủ tư cách nói truyện với ta.

Xích-Thập vung tay phát chiêu Ác-ngưu nan độ tấn công Tự-An. Y biết, võ công Tự-An cao thâm không biết đâu mà lường, nên y vận đủ mười thành công lực. Công lực y cực kỳ thâm hậu nên kình phong ào ào ập xuống.

Tự-An xuất chiêu Đông-a chưởng pháp Đông-hải lưu phong đánh thẳng vào người y. Bình một tiếng, đài rung rinh như muốn muốn sập. Tự-An cảm thấy khí huyết đảo lộn, trong khi Xích-Thập lùi liền ba bước, tai y kêu lên những tiếng vo vo không ngừng.

Khai-Quốc vương nói lớn:

– Trận thứ nhất võ lâm Đại-Việt đấu với Hồng-thiết giáo.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103136
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49576 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Postby DaMinhChau » October 28th, 2017, 11:03 pm


Hồi thứ sáu mươi sáu

Tình Nghĩa Hồng Thiết





Tự-An cười nhạt:

– Giữa phái Tản-viên với phái Đông-a có tình giao hảo từ lâu. Đỗ trưởng lão! Đúng ra, ta thấp hơn người một vai. Nhưng người không còn chức vị tôn sư phái Tản-viên nữa, ta không cần nể nang. Ta muốn lĩnh giáo mấy chiêu Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng của người. Nào mời.

Đỗ Xích-Thập đụng nhau một chưởng với Trần Tự-An, y thấy khó mà thắng nổi địch thủ. Y định tìm kế thoái thác, nhưng tự tin vào độc chưởng của mình. Y vỗ hai tay vào nhau:

– Tên nhà quê kia, mi có bản lĩnh gì thì dở ra. Ta há sợ hay sao?

Nói rồi y phát chiêu Ác ngưu nan độ của Phục-ngưu thần chưởng. Chưởng phong cực kỳ trầm trọng ụp xuống đài. Tự-An thản nhiên, lùi hai bước quay tròn tay một cái, đẩy chưởng của Xích-Thập lệch sang một bên. Vô tình chưởng đó hướng vào Đoàn Huy. Đoàn Huy thấy chưởng phong quái ác, ông đứng dậy, đẩy một chiêu vào giữa chưởng Xích-Thập. Bình một tiếng. Cả hai lảo đảo lui lại.

Bàn chung, bản lĩnh của Đoàn Huy đâu kém gì Xích-Thập? Thế mà một nhánh chưởng của y sao có thể đẩy lui ông? Nguyên sau khi bị Thanh-Mai thu hết công lực, ông đã luyện lại, nhưng mới chỉ được có ba thành. Vì vậy ông cảm thấy người choáng váng.

Tự-An biết Xích-Thập chỉ còn có mười hai chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Ông tính:

– Sau khi đánh hết mười hai chiêu, thế nào y cũng xử dụng Nhật-hồ độc chưởng. Ta phải dĩ độc, trị độc.

Từ lúc vợ bị chết vì Chu-sa độc chưởng, Tự-An để hết tâm trí nghiên cứu cách khắc chế loại chưởng này, rồi dạy cho các sư đệ, cùng đệ tử, hầu gặp đệ tử Hồng-thiết giáo, còn có chỗ sở dụng. Không khó khăn, ông đã tìm ra trong lần Đỗ Lệ-Thanh tới trang Thiên-trường. Nội công phái Đông-a vốn phát xuất từ thiền công. Mà thiền công vốn phát xuất từ nhà Phật, nên việc hoá giải Hồng-thiết công một thứ công lực tà ma dễ dàng.

Bồ-tát Sùng-Phạm, Bố-Đại đều biết cách hoá giải Hồng-thiết độc công. Song các ngài vốn từ bi, hỷ xả, nên chỉ làm biến độc chất đi mà thôi. Còn Tự-An, ông là một đại hiệp. Đối với ông, kẻ xử dụng độc công hại mình, không có lý gì mình phải tử tế nhân nhượng với chúng. Cứ thẳng tay giết không tha. Vì vậy khi ông với Đỗ Lệ-Thanh cùng hợp tác nghiên cứu ra phép khắc chế Chu-sa độc chưởng.

Phương pháp khắc chế thực giản dị, đầu tiên chia công lực làm hai. Một phần hoá giải chất độc, một phần đẩy ngược lại đánh đối thủ. Vừa rồi Thanh-Mai thắng Nguyên-Hạnh bằng võ công này. Ngược lại Bảo-Hòa luyện nội công theo phép phối hợp âm-dương vào với kinh mạch. Nàng dùng Thủ tam dương kinh đẩy chất độc trở lại cơ thể địch. Còn Thủ tam âm bảo vệ cơ thể, hay thu chân khí của đối thủ. Nàng thắng Phạm Hổ nhờ biến cải phương pháp của Trần Tự-An đi cùng với phương pháp Bố-Đại dạy nàng.

Biết rõ chưởng lực Hồng-thiết giáo đánh ra, phạm vi chân khí phát rộng vô cùng. Tự-An nghiên cứu cách vận khí để Thủ tam dương kinh tấn công. Thủ tam âm kinh phòng ngự. Ông luyện đi, luyện lại thuần thục vô cùng. Bây giờ ông đem ra áp dụng.

Quả nhiên Xích-Thập đánh một chiêu chưởng phong rất rộng. Trong chưởng có mùi tanh hôi khủng khiếp. Tự-An thản nhiên vận khí ra cả thập nhị kinh hoá giải. Lục kinh âm như thành đồng vách sắt phòng ngự cơ thể. Lục kinh dương phản công. Xích-Thập tưởng chỉ cần với một chưởng đó, Tự-An sẽ bị chất độc nhập cơ thể, mấy khắc sau kình lực mất hết, đau đớn đến phải kêu cha gọi mẹ. Nào ngờ y thấy kình lực đánh ra gặp một thứ âm kình rất mềm cản lại. Xích-Thập nghĩ thầm:

– Thằng này ngu quá, giám ngang chiên chống Chu-sa độc chưởng. Chỉ mấy chiêu nữa, nó sẽ đau đến phải kêu cha, gọi mẹ cho biết tay.

Ý nghĩ vừa thoáng qua, y cảm thấy cánh tay nặng chĩu. Biết có sự bất ổn, y đánh liền mười chiêu. Cứ mỗi chiêu y đánh ra, Tự-An lại lùi một bước, khoanh chưởng đỡ. Tất cả các đại cao thủ dù chính, dù tà đều kinh hãi:

– Ông này võ công cao thì cao thực. Song đỡ mấy chục chiêu Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng, e nguy đến nơi.

Trong khi đó, Xích-Thập vẫn khoan thai tấn công từng chiêu Phục-ngưu thần chưởng, bằng Hồng-thiết công. Mùi tanh hôi nồng nặc khắp khán đài. Tự-An không hề đánh trả. Ông chỉ đỡ. Cứ mỗi khi hai chưởng gặp nhau, ông lại lùi một nước.

Khi Xích-Thập đánh đến chiêu thứ sáu mươi, độc chất tụ ở tay y lên đến độ tối đa. Tự-An nói lớn:

– Đỗ trưởng lão! Người đánh ta sáu mươi chưởng. Bây giờ ta đánh lại người sáu chưởng. Nếu sau sáu chưởng này, mà người không bại, ta cùng phái Đông-a nguyện theo Hồng-thiết giáo.

Quần hùng nghe Tự-An nói, họ đều kinh hãi. Vì với công lực Xích-Thập, thắng y không phải truyện dễ. Thế mà Tự-An hẹn chỉ trong sáu chiêu, thực là một canh bạc quá lớn.

Trên đài Tự-An quát lớn:

– Chiêu thứ nhất. Đỡ này.

Ông vận khí ra Thủ tam âm bảo vệ cơ thể. Còn Thủ tam dương, đẩy chất độc trở lại người y. Ông phát chiêu Phong ba hợp bích, binh một tiếng. Xích-Thập bật lui ba bước, mặt nhăn nhó, tỏ ra đau đớn vô cùng. Y cảm thấy như có ba mũi dao đâm vào phổi, vào tim, vào lồng ngực.

Tự-An cười:

– Chiêu thứ nhì! Đỡ này.

Ông xuất chiêu Đông-hải lưu phong. Xích-Thập xuất chiêu Ngưu tẩu như phi đỡ. Bình một tiếng. Y loạng choạng lui liền ba bước. Tự-An cười lớn:

– Chiêu thứ ba! Đỡ này!

Ông xuất chiêu Hải-phong cuồng nộ. Xích-Thập thấy chân tay nặng nề. Biết nguy rồi, nhưng y vẫn nghiến răng đỡ. Binh một tiếng, y lùi liền ba bước.

Tự-An vỗ hai tay vào nhau:

– Đỗ Xích-Thập. Mi chết rồi. Trong người mi hiện có con quỷ ẩn náu. Ta chả cần đánh con quỷ nữa.

Xích-Thập cảm thấy mắt hoa, đầu váng, chân tay hết lực, y lảo đảo ngã ngồi xuống. Y run rẩy như người bị bệnh sốt rét.

Dương Ẩn hỏi:

– Đỗ sư đệ! Cái gì vậy?

Xích-Thập không trả lời, mặt y tái xanh. Thình lình y ôm ngực kêu thét lên như con lợn bị chọc tiết.

Y móc trong bọc ra một bình nhỏ, mở nắp, lấy viên thuốc cho vào miệng nuốt đi, rồi nghiến răng ngồi vận công cho thuốc mau tan.

Cả quảng trường náo loạn lên. Vì người ta những tưởng Trần Tự-An bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng, tại sao ông không việc gì. Trái lại Đỗ Xích-Thập lại bị đau đớn cùng cực.

Từ xưa đến giờ, khi giáo chúng Nhật-Hồ cùng luyện độc công đấu với nhau, giữa kẻ thắng, người thua không đến nỗi mất mạng. Vì họ đã bị cấy độc tố đầy người trong khi luyện công rồi. Còn ngoại giả, bất cứ người nào đấu với họ, chỉ cần hai chưởng chạm nhẹ vào nhau, lập tức độc chất ngấm vào người, đau đớn đến chết đi sống lại trong bẩy lần bẩy bốn mươi chín ngày rồi kiệt sức mà chết. Trong trường hợp đó, nạn nhân chỉ có cách xin qui phục Hồng-thiết giáo, tuyệt đối trung thành, sẽ được phát thuốc giải mỗi năm một lần sau tiết Đông-chí. Nếu vì lý do nào, bị cắt thuốc giải, cũng vẫn đau đớn trong bốn mươi chín ngày rồi chết. Dù đã được phát thuốc giải, mỗi tháng cũng bị lên cơn trong một giờ. Bây giờ rõ ràng Xích-Thập uống thuốc giải, mà y vẫn đau đớn rên la khủng khiếp. Không ai hiểu ra sao cả.

Nhật-Hồ lão nhân hỏi Tự-An:

– À, không ngờ Côi-sơn đại hiệp cũng theo Hồng-thiết giáo đấy. Chu-sa độc chưởng của đại hiệp mạnh thực.

Trần Tự-An hướng vào Nhật-Hồ vái một vái:

– Giáo-chủ! Luật lệ của quí giáo định rằng: Nếu giáo chúng có tội, sẽ do chính giáo chủ trừng phạt. Giáo chúng dù bị tội nặng đến đâu, người ngoài cũng không thể đánh giết. Vị tiền bối này dùng độc công định hại tại hạ. Tại hạ tuyệt không có ý hại người. Nhưng phàm trong phép đấu nội lực. Công lực ai mạnh, người đó thắng. Công lực tại hạ mạnh hơn Đỗ trưởng lão, nên Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng chạy ngược trở về cơ thể người. Chứ phái Đông-a một danh môn chính phái, đâu có biết dùng độc công?

Đỗ Xích-Thập bò lại trước Nhật-Hồ lão nhân. Y run rẩy:

– Sư…ư…ư…phụ…ụ…ụ.

Hai hàm răng y cắn vào nhau kêu lập cập. Nhìn thảm cảnh Xích-Thập, hình ảnh mấy năm trước, vợ ông, Cao-huyền-Nga từng chịu đau đớn chết đi sống lại. Cho đến ngày thứ bốn mươi chín mới chết. Ông cho khâm liệm chôn cất. Nào ngờ, đó chẳng qua chỉ do kiệt lực ngất đi mà thôi. Rồi bọn Hồng-thiết cho uống thuốc tỉnh lại, dùng làm cây thuốc.

Nghĩ đến đó, ông đưa mắt nhìn tên Đặng Trường, lòng ngút lửa thù:

– Tên Đặng Trường tàng ẩn trong trang Thiên-trường bao năm, với ý đồ nắm lấy phái Đông-a. Y làm nhơ nhuốc vợ ta, cũng với mục đích làm bại hoại danh tiếng của ta. Hôm nay, ta phải nhân trước anh hùng thiên hạ, cho y chịu cái đau đớn này, mới hả mối căm hận.

Nhật-Hồ lão nhân thấy Xích-Thập uống thuốc rồi, mà cơn đau không giảm, lão kinh hoàng. Lão cầm tay y bắt mạch rồi hỏi:

– Đỗ trưởng lão. Người uống thuốc gì vậy?

Xích-Thập rên:

– Thuốc…giải…của bản giáo.

Dương Ẩn bắt mạch Xích-Thập rồi lắc đầu:

– Sư phụ. Đỗ sư đệ không bị trúng Chu-sa độc chưởng thông thường. Chu-sa độc do y phát ra, bị đẩy ngược lại bằng chân khí Đông-a. Nếu không trị mau, e mất tính mạng. Mong sư phụ dùng Hồng-thiết mật công hoá giải mới được.

Nhật-Hồ lão nhân hít một hơi, lão vận chân khí, tay trái vỗ sẽ lên đầu Xích-Thập. Xích-Thập rung động người một cái, rồi miệng hét be be. Người y nhảy chồm chồm lên như con ếch, chứng tỏ đau đớn cùng cực. Mắt y đỏ ngầu. Y nhảy lại vồ Nùng Dân-Phú, tôn sư bang Quảng-nguyên. Dân-Phú nhảy vọt ra xa tránh khỏi. Y lại vồ sư thái Tịnh-Huyền. Bà lạng người ra xa. Y đứng thẳng chỉ lên bàn thờ, miệng chửi:

– Thằng Đào-Kỳ, con Phương-Dung kia. Đầu hàng ngay. Ông nội mày là Phục-ba đai tướng quân đây!

Y phóng chưởng vào bàn thờ. Nhật-Hồ lão nhân thấy nếu để y đánh đổ bàn thờ, ắt Hồng-thiết giáo trở thành kẻ đại thù của dân Việt. Vì vậy lão xỉa tay, cắt ngang chưởng của Xích-Thập. Bộp một tiếng, Xích-Thập loạng choạng lui lại. Hai mắt y đỏ ngầu, miệng hét lên be be như con dê bị rượt.

Y lại phóng chưởng tấn công thiền sư Minh-Không. Thấy chưởng lực của y hùng mạnh quá, ngài phải đứng dậy, vận chưởng đỡ. Rầm một tiếng. Đài rung rinh. Minh-Không cảm thấy tay ê ẩm. Còn Xích-Thập bị bay tung xuống đài, ngay chỗ giáo chúng Hồng-thiết giáo.

Y gào gáy lên lanh lảnh, tay chụp một giáo đồ. Y tung giáo đồ lên cao, rồi phóng chưởng theo. Binh một tiếng. Tên giáo đồ vỡ làm nhiều mảnh, máu thịt bay tứ tung lên đầu đội thiết kỵ Hồng-thiết. Đám giáo chúng thấy vậy, bỏ chạy tứ tán.

Y chụp được một nữ giáo đồ. Tay y túm ngực cô gái, dơ lên cao. Ai cũng tưởng y sẽ vật chết cô gái khốn nạn. Không ngờ y lột quần áo cô trần truồng, rồi ghé miệng vào cổ cô cắn đứt nghiến một miếng, rồi hút máu, uống ừng ực.

Cô gái khốn nạn chết ngay tại chỗ.

Phạm Trạch nói với Nhật-Hồ:

– Sư phụ. Xin sư phụ cứu lục sư huynh.

Nhật-Hồ lão lắc đầu:

– Hãy đợi xem sao đã. Y chưa chết ngay đâu.

Xích-Thập uống máu cô gái rồi liệng xác cô ra xa. Miệng y đỏ lòm, trông giống như một con quỷ. Y nhảy đến khán đài phái Sài-sơn, tay chụp Lê Thiếu-Mai. Nhưng tay y chưa chạm vào người nàng, đã bị một chưởng rất hùng hậu đánh vào sau gáy. Nếu y không thu tay về đỡ, đầu y sẽ vỡ nát ra.

Xích-Thập tuy điên loạn, nhưng võ công chưa mất. Y nhảy vọt lên cao tránh thế chưởng quái dị. Ở trên cao, y phóng xuống đầu người kia một chưởng. Người kia xỉa tay một cái. Thân hình Xích-Thập vọt ra xa. Người kia chạy theo, đánh nhẹ một chưởng, y bay lên lễ đài, ngay trước mặt Nhật-Hồ lão nhân.

Mọi người kinh ngạc, nhìn xem ai, mà lại có võ công cao đến như vậy? Thì ra Hồng-Sơn đại phu. Quần hùng vỗ tay vang dội.

Hồng-Sơn đại phu búng tay liền bốn cái. Bốn viên thuốc mầu đỏ, to bằng hạt nhãn bay đến người Xích-Thập. Hai viên trúng hai đầu gối, hai viên trúng cùi chỏ. Lập tức bốn viên thuốc tan thành bột. Một đám bụi mầu đỏ bao trùm người y. Y hét lên một tiếng, ngã ngồi xuống, chân tay không cử động được. Phút chốc y nhắm mắt ngủ.

Đám đệ tử của Xích-Thập lên đài bồng y xuống.

Minh-Không thiền sư chắp tay hướng Hồng-Sơn đại phu:

– Đa-di-đà Phật. Mừng đại phu đã chế được thứ thuốc thần diệu. Bần tăng kính thỉnh tên thuốc đó là gì vậy?

Hồng-Sơn đại phu chắp tay đáp lễ:

– Đa tạ đại sư quá khen. Tại hạ đặt tên cho nó là Ma-túy hoàn. Phàm người thường, dù đau đớn đến đâu, chỉ cần dùng hai viên ắt tê đến ba giờ. Còn trường hợp Đỗ trưởng lão, công lực quá cao, phái dùng đến bốn viên.

Từ khán đài Hồng-thiết giáo, hai người bịt mặt nhảy lên đài. Một người chỉ vào mặt Trần Tự-An:

– Tên khốn kiếp kia. Mi hại một trưởng lão của chúng ta như vậy, có khác gì mi bôi tro trát trấu vào mặt Hồng-thiết giáo. Ta phải giết mi để phục thù.

Nói rồi y phát chiêu tấn công Tự-An. Chiêu của y chưa phát hết, mà quần hùng muốn ngộp thở. Ầm một tiếng. Cả hai người đều bật lui lại. Tự-An cảm thấy cánh tay tê dại, tai ù đi. Ông quát lên:

– Mi là ai?

Phạm Trạch la lên:

– Đại ca! Tứ đệ! Hai vị đến hồi nào vậy?

Người bịt mặt cười nhạt:

– Ta đến đã lâu rồi.

Nghe Phạm Trạch kêu, quần hùng trấn động tinh thần, cùng trố mắt nhìn. Vì từ hơn ba mươi năm nay, họ từng nghe Hồng-thiết giáo có mười trưởng lão, võ công cao siêu không biết đâu mà lường. Nhưng những trưởng lão này khi ẩn, khi hiện, không ai biết rõ mặt mũi ra sao. Tuy có nghe nói đến tên cùng hành tung cực kỳ tàn ác của họ. Người ta còn thêm thắt, nghi ngờ rằng các trưởng lão không phải ai đâu xa lạ, mà chính những đại tôn sư, chưởng môn các phái.

Tuy vậy, trong mười trưởng lão, người ta cũng biết mặt được ba người. Nguyễn Chí, trước đây làm tướng thời Thập-nhị sứ quân, cực kỳ tàn ác. Phạm Trạch, một ma đầu khét tiếng vì y thích ăn bào thai chưng thuốc Bắc, giết người không gớm tay. Lê Đức, một Nho-sinh học giỏi, đọc sách nhiều.

Từ lúc vào đại hội, nảy ra tôn sư phái Mê-linh chính làm trưởng lão thứ mười, tên Hoàng Liên, rồi tôn sư phái Tản-viên làm trưởng lão thứ sáu tên Đỗ Xích-Thập. Toàn những điều ngoài sức tưởng tượng của quần hùng. Sau chính Nhật-Hồ lão nhân xác nhận đạo sư Dương Ẩn, đại tôn sư phái Sài-sơn là Lê Ba. Mà Lê Ba nức tiếng gian manh, ác độc có một không hai của võ lâm. Y có tật, khi trông thấy bất cứ phụ nữ nào, dù bà già tám mươi, dù thiếu nữ mười tuổi, y nổi hứng lên, phải bắt hiếp ngay trước mặt chồng con. Hiếp xong y giết chết.

Mới đây Bảo-Hòa trong lớp áo thiếu nữ Hồng-thiết giáo, đánh bại Phạm Hổ. Một tên hái hoa đại đạo. Y gian dâm hãm hiếp không biết bao nhiêu phụ nữ trong vùng kinh đô Trường-yên hai mươi năm trước. Từ ngày kinh đô dời ra Thăng-long, y lại tiếp tục. Trong dân gian, hàng tháng đều có những mệnh phụ phu nhân, tiểu thư bị mất tích. Người ta nghi y bắt cóc, song không biết mặt mũi y ra sao. Không ngờ y xuất hiện nguyên hình Trịnh Hồ, một người hào hoa phong nhã. Một đại Mạnh-Thường-Quân của đế đô Thăng-long.

Từ lúc đại hội, họ thấy một trưởng lão bịt mặt. Trong khi Hồng-thiết giáo còn ba trưởng lão chưa xuất hiện. Vậy người bịt mặt có thể là Vũ Nhất-Trụ, Đặng Trường hay Hoàng Văn?

Bây giờ xuất hiện thêm hai người bịt mặt mới, Phạm Trạch gọi một người bằng đại ca, tứ đệ. Đại ca ắt hẳn Vũ Nhất-Trụ. Tứ đệ chắc là Hoàng Văn. Như vậy còn người bịt mặt kia tên Đặng Trường.

Nhất-Trụ, Hoàng Văn vẫy tay, lập tức bọn Dương Ẩn, Phạm Trạch, Nguyễn Chí, Lê Đức, Đặng Trường, bẩy người đứng vây xung quanh Tự-An trong tư thế chuẩn bị ăn tươi nuốt sống ông. Tự-An hiên ngang:

– Bẩy trưởng lão Hồng-thiết giáo định dùng số đông thắng ta ư? Được, lại đây, lại đây. Ta há sợ bọn người sao.

Nói rồi ông hít hơi, vận khí đẩy một chưởng vào Nhất-Trụ. Nhất-Trụ tung chưởng đỡ. Thấy chưởng Nhất-Trụ mạnh kinh người ông đẩy xéo chưởng của y vào người Lê Ba. Lê Ba bị lãnh hai luồng cuồng phong. Y nhảy vọt lên cao, đánh một chưởng vào giữa chưởng hai người. Tự-An chuyển chưởng vào Phạm Trạch. Trạch kinh hoảng phóng chưởng đỡ. Thế là chưởng bốn đại cao thủ gặp nhau, bùng một tiếng, đài rung rinh như sắp đổ.

Thiên trường tứ kiệt cùng bay lên đài, đứng cạnh Tự-An. Trong tư thế sẵn sàng đối chọi với bọn Hồng-thiết.

Thấy cảnh hỗn độn sắp diễn ra, Nhật-Hồ lão nhân quát lớn:

– Khoan!

Bẩy trưởng lão Hồng-thiết lui lại thủ thế. Thiên-trường ngũ kiệt dàn hàng ngang, trong tư thế cực kỳ uy mãnh.

Nhật-Hồ nghĩ rất nhanh:

– Bọn Đông-a mạnh nhất võ lâm Đại-Việt. Vừa rồi Tự-An diệt tên Xích-Thập cho mình, điều mình mong ước. Mình thà mất hết bẩy trưởng lão, chứ không thể để mất phái Đông-a.

Nghĩ vậy, lão hướng vào Tự-An:

– Xin Côi-sơn đại hiệp miễn chấp. Đây chẳng qua có sự hiểu lầm mà thôi.

Dương Ẩn hướng vào Nhật-Hồ lão nhân:

– Giáo-chủ. Giáo chủ là chúa tể bản giáo, nỡ để cho người ngoài làm nhục giáo đồ như vậy mà không có phản ứng. Bây giờ các vị sư huynh, sư đệ phải đứng ra trả hận, còn gì thể diện bản giáo nữa?

Nhật-Hồ cười nhạt:

– Từ xưa đến nay, võ lâm Đại-Việt có phái chủ trương hoà hoãn với Trung-quốc. Có phái chủ trương chống Trung-quốc. Phái nào cũng bị một vài người làm gian tế cho họ. Riêng bản giáo với phái Đông-a, trước sau như một, đều chống Trung-quốc. Bản giáo chủ trương phải xoá bỏ mọi vết tích Trung-quốc, cùng tiêu diệt bọn người Hoa kiều ngụ ở Đại-Việt. Ngược lại phái Đông-a lại coi trọng văn hoá Trung-quốc, cổ động người Hoa, người Việt sống chung. Nhưng nếu Trung-quốc đem quân xâm lăng, phải dùng mọi khả năng chống trả. Hoá cho nên bản giáo với phái Đông-a đều được dân chúng theo đông. Nay trong bản phái nảy sinh ra cái quái thai Hoàng Liên, đã bị ta xử tử. Còn tên Xích-Thập này, ta không giết, để cho người khác giết dùm cũng thế.

Dương Ẩn đưa con mắt căm hờn nhìn Nhật-Hồ:

– Giáo chủ! Hôm qua giáo chủ đã thề độc rằng chúng ta quên hết thù hận quá khứ để trùng hưng bản giáo. Thế mà bản giáo có mười trưởng lão. Thập sư muội bị giáo chủ cho rắn ăn thịt, để tỏ ra sư phụ có oai trước mặt mọi người. Cửu sư đệ Phạm Hổ bị người ta giết trước mặt anh hùng. Mà sư phụ không một lời bênh vực, lại còn cho rắn ăn thịt. Bây giờ lục sư đệ bị phái Đông-a đánh cho hoá điên. Sư phụ không chịu dùng Hồng-thiết tâm pháp cứu trị. Nay chúng tôi chỉ còn có bẩy người, cả gan xin giáo chủ trị cho lục sư đệ.

Cách đây mấy giờ, Nhật-Hồ lão nhân định giết Đỗ Xích-Thập, bị bọn trưởng lão cùng lên đài bao vây áp lực. Đúng ra với bản lĩnh độc công của lão, lão có coi bọn trưởng lão ra gì? Nhưng lão nghĩ rằng, mình ở tù bấy lâu nay, tình hình trong giáo, lão không biết gì. Không những thế, hầu hết giáo chúng đâu biết lão là ai. Nếu xẩy ra cuộc động thủ, giáo đồ của các trưởng lão sẽ bênh sư phụ chúng. Như vậy lão hoá ra trắng tay. Cho nên lão phải nhượng bộ.

Trải qua một thời gian ngắn trong buổi lễ, sau khi lão đánh bại thủ tọa Đạt-Ma đường phái Thiếu-lâm dễ dàng, các đại tôn sư, các chưởng môn nhân cũng như giáo đồ đều khâm phục lão. Ban nãy bọn Phạm Trạch hô hào quần hào tôn lão lên làm Vua, gần như không ai phản đối, khiến lão tự tin một phần nào. Trong thâm tâm lão, việc khống chế một đại cao thủ, rồi cho làm trưởng lão thực không khó. Khi thấy Phạm Hổ chết, lão càng khoan khoái trong lòng. Cho dù tất cả bọn trưởng lão chết đi, mà lão được lên làm Vua, lão cũng hả dạ. Lão nghĩ:

– Mình được anh hùng kính trọng, dân chúng theo đông đảo, vì chủ trương chống Tầu, giữ nước. Thế mà trong hội đồng giáo vụ trung ương lại có tên Xích-Thập, còn ai tin tưởng nữa. Nay y giao đấu với Tự-An, mà bị trúng độc. Ta cầu mà không được, ta trị cho y làm gì?

Vì vậy lão trả lời Dương Ẩn:

– Ta không thể, và không bao giờ dùng Hồng-thiết thần công trị độc công cho tên phản giáo. Dù ta trị, chưa chắc có kết quả. Người nên biết rằng thần công bản giáo chỉ trị được Chu-sa độc chưởng cùng tất cả độc chất khác. Đây Xích-Thập bị người ta đẩy ngược độc chất vào người bằng nội lực Đông-a, nên ta không thể làm gì hơn.

Dương Ẩn hướng vào giáo chúng Hồng-thiết. Y vận nội lực nói lớn:

– Thưa các vị huynh đệ. Bản giáo thành lập với mục đích cứu dân khỏi loạn Thập-nhị sứ quân. Sau đó thiết lập một nước lấy Hồng-thiết kinh làm căn bản, tạo hạnh phúc cho dân. Từ ngày ấy đến giờ, anh em bản giáo tử đạo có hàng mấy chục vạn. Thế nhưng giáo chủ tự coi mình như một ông Vua, hơn thế nữa một ông trời. Như anh em thấy, giáo chủ giết trưởng lão Hoàng Liên thê thảm biết chừng nào. Rồi mới đây, trưởng lão Phạm Hổ vô tội, bị người ta đánh cho chết. Giáo chủ không bênh vực, còn cho rắn ăn thịt. Bây giờ đến Đỗ trưởng lão, giáo chủ tước hết giáo đồ của người, đem cho phái Tản-viên. Cuối cùng Đỗ trưởng lão bị trúng độc, giáo chủ buông tay không chữa.

Y chỉ vào Hồng-Sơn đại phu:

– Nhục nhã cho chúng ta, phải nhờ đến Hồng-Sơn đại phu làm cho Đỗ trưởng lão mê đi, tránh khỏi cơn đau.

Y lớn tiếng, dõng dạc:

– Hồng-thiết độc công của Hồng-thiết giáo vốn giản dị. Sau khi trúng độc, uống thuốc giải thì khỏi. Mỗi năm uống thuốc giải một lần cũng đủ. Còn trường hợp được dùng Hồng-thiết tâm pháp trị, khỏi vĩnh viễn. Theo luật lệ Hồng-thiết giáo Tây-dương, bất cứ trưởng lão nào cũng được học Hồng-thiết tâm pháp. Thế nhưng giáo chủ sửa đổi đi. Người không truyền thần công đó cho bất cứ ai. Lại nữa công thức thuốc cũng đổi. Ai bị trúng độc tuy uống thuốc giải, mà mỗi tháng lên cơn một lần, đau

đớn vô cùng cực.

Y chỉ vào bọn trưởng lão:

– Hồi nãy giáo chủ hứa rằng, sẽ truyền Hồng-thiết tâm pháp cho chúng ta, cùng trị dứt đau khổ cho các giáo vụ trưởng từ cấp huyện trở đi. Bây giờ giáo chủ nuốt lời.

Nhật-Hồ cười nhạt:

– Lê-Ba, mi định phản ta ư? Điều này không dễ đâu.

Đặng Trường, Lê Đức, Hoàng Văn đứng bên Lê Ba. Đặng Trường chắp tay vào nhau:

– Sư phụ! Giáo-chủ. Xin giáo chủ chữa cho Đỗ trưởng lão. Bằng không e tan nát hết cả.

Sự thực Nhật-Hồ đã dùng bàn tay để lên huyệt Bách-hội Đỗ Xích-Thập hút chất độc trong người y. Nhưng không kết quả, ngược lại y còn đau đớn đến điên loạn. Nguyên do chất độc trong người Đỗ Xích-Thập không do ăn uống, thở hít hay do Chu-sa độc chưởng truyền vào, mà do nội công phái Đông-a đẩy ngược lại. Nội công phái Đông-a xuất phát từ thiền công nhà Phật. Nội lực phái Đông-a có Phật-tính, pha lẫn với học thuyết âm dương, ngũ hành của Lão-giáo. Thành ra khi nhập người Xích-Thập, giữa Phật-tính, Tiên-tính với ma tính Hồng-thiết xung chiến chạy hỗn loạn. Cho nên y mới đau đớn như vậy.

Nhật-Hồ vốn người xảo quyệt. Xảo quyệt bậc nhất trong lịch sử nhân loại. Lão biết rằng nếu nói thẳng ra rằng mình trị cho Xích-Thập, không kết quả, ắt giáo chúng còn coi lão ra gì nữa? Đằng nào Xích-Thập cũng chết. Chi bằng cứ nói rằng lão khoanh tay không trị cho y, để thu phục nhân tâm quần hùng rằng: Dù người có công lao như các trưởng lão, mà phản dân, lão cũng trừ khử. Vì vậy lão lắc đầu, nói lớn:

– Ta không trị cho tên gian tế của Tống. Một khi y nhẫn tâm đem bọn chó Ngô sang đất Việt giết người Việt, tàn phá giang sơn đẹp như gấm của tổ tiên, hỏi y còn trung thành với ai?

Quần hùng vỗ tay vang dội, hết tràng này, đến tràng khác. Phái Đông-a vỗ tay lâu nhất, to nhất. Tự-Mai, Tôn-Đản, Hà-thiện-Lãm, Lê-thuận-Tông từ dưới đài nhảy lên. Chúng nó ôm lấy lão, nhấc bổng lên. Bốn đứa khoanh tay thành kiệu, rước lão đi quanh đài. Dàn nhạc Hồng-thiết giáo cử bản nhạc hùng tráng nhịp nhàng.

Nhật-Hồ lão nhân ngồi trên kiệu của bốn thiếu niên. Lão sướng quá tiếp:

– Tên Xích-Thập này, về võ công, leo lên tột đỉnh của một danh môn chính phái. Trong bản giáo tới trưởng lão. Như vậy y theo Tống ắt không phải vì công danh. Y lại giầu có súc tích. Chắc y làm gian tế cho Tống không phải vì tiền bạc. Vậy y bán nước với mục đích gì? Câu trả lời duy nhất y điên khùng. Giết đi một tên điên khùng mãi quốc, dù ai giết cũng đáng kính cả. Huống hồ Côi-sơn đại hiệp.

Trong khi Nhật-Hồ nói, Vũ Nhất-Trụ, Phạm Trạch, Nguyễn Chí đi cạnh kiệu rước Nhật-Hồ, với chủ ý tỏ lòng trung thành với lão. Lê-Ba cười nhạt:

– Như vậy rõ ràng giáo chủ phụ chúng tôi, chứ không phải chúng tôi phụ giáo chủ. Ba anh em chúng tôi đành tách ra khỏi quyền của giáo chủ, thiết lập một Hồng-thiết giáo mới.

Y chỉ cờ vào một đoàn giáo chúng:

– Các người gốc đệ tử của đệ thập trưởng lão Hoàng Liên. Các người có biết rằng giáo chủ giết sư phụ người, rồi sẽ có ngày giết các người không? Những ai theo ta, lập một Hồng-thiết giáo mới hãy đứng sang bên phải. Còn nếu các người theo giáo chủ cứ đứng im.

Gần phân nửa số giáo chúng chạy sang phải. Lê Ba tiếp:

– Trưởng lão Đỗ Xích-Thập, Phạm Hổ bị giáo chủ hại, thân bại danh liệt. Vậy những ai còn trung thành với các vị đó, nên đứng sang bên phải, để lập tân giáo.

Một số ít đứng sang bên phải.

Cứ như thế, Dương Ẩn hô hào đệ tử y, đệ tử Đặng Trường, Lê Đức. Cuối cùng cũng chỉ được có non nửa. Nhật-Hồ lão nhân cười nhạt:

– Các đệ tử nghe đây. Tên Dương Ẩn phản giáo, mưu làm giáo chủ. Phàm muốn làm giáo chủ phải hội đủ ba điều kiện. Một, võ công cao nhất bản giáo. Hai, phải học được Hồng-thiết tâm pháp, hoá giải chất độc cho đệ tử. Ba, phải được hội đồng giáo vụ trung ương tín nhiệm. Đây võ công y không thể hơn Nhất-Trụ. Y lại không biết Hồng-thiết tâm pháp. Ba, y không được tín nhiệm của hội đồng giáo vụ trung ương. Vậy ai theo y, ta sẽ để cho đau đớn đến chết. Ai theo ta, ta sẽ dùng Hồng-thiết tâm pháp hoá giải chất độc cho.

Đám đệ tử chạy sang phải, lại chạy trở về chỗ cũ.

Phạm Trạch rống lên như con trâu:

– Đặng Trường, Lê Ba, Hoàng Văn, Lê Đức. Các người phải quỳ gối tạ lỗi với giáo chủ ngay. Bằng không, chúng ta phải giết các người.

Lê Ba suy nghĩ:

– Tên Phạm Trạch nói không sai. Nếu xẩy ra động thủ, nguyên Phạm Trạch, Nguyễn Chí đấu ngang tay với ta và Đặng Trường. Còn Hoàng Văn với Lê Đức, địch sao lại lão già kia, với Nhất-Trụ?

Y chưa kịp có phản ứng, thình lình Nhật-Hồ lão nhân lạng người đi một cái, tay phải lão chụp Lê Đức. Tay trái lão cầm viên thuốc vỗ lên đầu y một cái. Chân tay y tê liệt. Lê Ba xỉa hai tay vào mắt lão cứu bạn. Nhưng không kịp. Lão đã ném Lê Đức xuống sàn đài.

Bốn đứa trẻ kiệu Nhật-Hồ nhảy khỏi đài.

Đúng ra, bản lĩnh Lê Đức đâu đến nỗi để lão bắt dễ dàng như vậy? Một là vì Lê Đức không chú ý. Hai là vì lão ra tay như sét nổ, quá mau, nên y không phản ứng kịp.

Dưới đài Tự-Mai hỏi Thanh-Mai:

– Tại sao mình lại thả tên Nhất-Trụ với Hoàng Văn ra?

– Tên Hoàng-Văn, ta muốn giết lúc nào cũng được, không ai thắc mắc gì. Còn tên Vũ Nhất-Trụ tức Đàm Can, địa vị y rất lớn. Y vừa vai quốc cữu, vừa làm đại công thần trong triều. Các võ quan trấn thủ ở ngoài, mười người, có đến sáu do y đào tạo. Vì vậy bây giờ đem lột mặt nạ y ra, bảo y là Vũ Nhất-Trụ, e hoàng-đế cũng không tin. Vì vậy cần làm cách nào giả đệ tử của y, cứu y ra. Chắc chắn thế nào y cũng đến đây cùng Nhật-Hồ tính tội tên Lê Ba. Sau đó bắt y tại trận. Bấy giờ y không còn chối vào đâu được nữa.

Tự-Mai gật đầu:

– Vấn đề phức tạp thực.

Trên đài Nhất-Trụ nói với Lê Ba:

– Bất cứ giá nào, chúng ta cũng phải đoàn kết. Ngày hôm nay dành ngôi vua về cho sư phụ. Sư phụ qui tiên, anh em chúng ta sẽ cử người khác thay thế.

Nghe Nhất-Trụ nói vậy, Nhật-Hồ lão nhân nghĩ thầm:

– Nếu ta chết đi, đương nhiên Nhất-Trụ thay thế. Bây giờ ta gỉa phong cho Lê Ba làm phó giáo chủ, để y với Nhất-Trụ giết nhau.

Nhật-Hồ nói với Lê Ba:

– Lê-Ba! Nếu người muốn truất phế ta, để lên làm giáo chủ cũng dễ thôi. Người hãy dùng võ công thắng ta, rồi thắng luôn các trưởng lão. Còn như người không thể làm được việc đó, người mau đầu hàng. Ta sẽ phong người làm phó giáo chủ. Ta đã già rồi, cái chết ngay trước mắt. Ta chết đương nhiên người trở thành giáo chủ. Còn như người chống ta, ta e cái chết khó tránh.

Lê Ba còn lạ gì Nhật-Hồ. Y biết lão nói thế để chia rẽ y với Nhất-Trụ, Đặng Trường. Y hướng vào quần hùng:

– Thưa các vị! Bần đạo vốn xuất thân tử phái Sài-sơn. Bản phái do Phù-đổng Thiên-vương lập ra. Đời đời võ đạo lấy việc tạo hạnh phúc cho dân làm lẽ chính. Nhân thấy Hồng-thiết giáo du nhập vào Đại-Việt có nhiều chủ trương cải cách dân sinh, đi đến thiết lập một một nước giầu, dân hạnh phúc. Cho nên bần đạo âm thầm nhập giáo.

Y ngừng lại chỉ tay vào Nhật-Hồ lão nhân:

– Từ khi bản giáo khai môn đến giờ, có hàng trăm vạn giáo chúng hy sinh, nên mới có địa vị ngày nay. Nào ngờ giáo chủ tự cho mình thành thần, thành thánh, coi tính mệnh giáo chúng như sâu như kiến. Bần đạo nhiều phen khuyên răn, lão nhân gia không những không hối cải, lại còn đi xa hơn nữa trong việc chém giết giáo đồ. Cho nên, hai mươi năm trước đây, bần đạo đem lão nhân gia giam vào hầm tối. Sau hai mươi năm, nhân ngày sinh nhật lão nhân gia, bần đạo thả người ra, để cùng anh em xây dựng lại bản giáo. Không ngờ tuổi tuy đã một trăm, mà lão nhân gia bồng bột như con trẻ, nghe lời tố gian, muốn giết hết anh em bản giáo, để đổi lấy được phái Đông-a trợ giúp lên làm vua. Thực không còn trời đất nào nữa.

Y nói thực lớn:

– Cho nên hôm nay đây, anh em bần đạo quyết cho lão nhân gia về hưu, để bầu một giáo chủ mới.

Y nói với Nhất-Trụ:

– Đại ca! Đại ca thử nghĩ xem, lão nhân gia tuổi hạc đã cao, nên lui về nghỉ ngơi. Ngôi giáo chủ, nhường lại cho đại ca mới đúng.

Nhất-Trụ cười nhạt:

– Lê Ba! Sư đệ đừng hòng ly gián ta với sư phụ. Dù thế nào chăng nữa, ta vẫn trung thành với người.

Y quay lại hỏi Bảo-Hòa:

– Trần cô nương. Cô nương mới được phong làm trưởng lão thứ chín của bản giáo. Cô nương phải tỏ lòng trung thành với giáo chủ chứ?

Mọi diễn biến xẩy ra, Bảo-Hòa đều im lặng. Nhiều lúc nàng muốn nhảy lên đài tranh phong với bọn trưởng lão Hồng-thiết giáo. Nhưng biến chuyển dồn dập, ngoài sự tiên đoán của nàng, nàng đành ngồi im chờ lệnh Khai-Quốc vương.

Nàng nghĩ:

– Trên nguyên tắc ta làm trưởng lão của Hồng-thiết giáo. Theo như kế hoạch của võ lâm Đại-Việt, có ba trận đấu giữa đôi bên. Sư bá Tự-An đã thắng trận đầu. Chỉ cần thắng một trận nữa, coi như giải quyết xong. Nhưng bây giờ Hồng-thiết giáo chia hai. Có lẽ mình nên theo phe Nhật-Hồ, diệt phe Lê Ba, như vậy ít ra Hồng-thiết giáo mất thêm ba trưởng lão nữa. Rút cục chỉ còn ba tên, tiêu diệt chúng dễ dàng.

Bây giờ nghe Vũ Nhất-Trụ hỏi, nàng định ứng lời y, bỗng nghe tiếng Thanh-Mai dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai:

– Bảo-Hòa! Cự tuyệt với Vũ Nhất-Trụ, theo phe Lê Ba. Như vậy lực lượng y mới mạnh. Y thêm can đảm chống Nhật-Hồ. Bằng không y thoái lui mất.

Bảo-Hoà đứng dậy bước lên đài. Nàng chắp tay hành lễ:

– Giáo chủ! Tuổi giáo chủ đã cao. Uy quyền quá nhiều rồi. Giáo chủ nên rút lui đi là vừa. Tiểu nữ đề nghị giáo chủ tìm lấy trong các vị trưởng lão, người nào có uy tín, truyền ngôi cho. Rồi giáo chủ lui về qui ẩn, tiêu dao tự tại, sống như tiên chẳng thú lắm ư?

Nhật-Hồ lão nhân nhìn Bảo-Hòa với con mắt toé lửa. Trong thâm tâm lão nhân cứ nghĩ Bảo-Hòa là Trần Quỳnh-Hoa, con gái của lão. Cho nên lão giúp cho Bảo-Hòa trở thành trưởng lão. Bây giờ giữa lúc lão tranh phong với Lê Ba con gái lão lại về hùa với địch nhân.

Trong khi đó Lê Ba thấy Bảo-Hoà theo phe mình, lại tưởng rằng Trần Quỳnh-Hoa là con gái y, đương nhiên theo y. Như vậy y được thêm đám giáo chúng của Hoàng Liên, Xích-Thập, thêm phái Tản-viên. Y nói với Nhất-Trụ:

– Sư huynh! Người nên khuyên sư phụ lui về qui ẩn là hơn. Vạn nhất xẩy ra tranh chấp trong bản giáo, e tan nát hết cả.

Nhất-Trụ hỏi Ngô Bách-Vân:

– Ngô sư muội! Sư muội vẫn trung thành với sư phụ chứ?

Ngô Bách-Vân chắp tay:

– Đại sư huynh. Tiểu muội nghĩ sư phụ nên về nghỉ ngơi cũng phải. Ngôi giáo chủ phải truyền cho sư huynh mới đúng luật lệ bản giáo.

Người ngoài nghe Bách-Vân nói, đều tưởng y thị thân Vũ Nhất-Trụ. Sự thực từ khi Nhật-Hồ bị giam, y thị theo hẳn về phe Lê Ba. Y thị tuy miệng tôn Vũ Nhất-Trụ, nhưng thực ra hại y.

Vũ Nhất-Trụ tức Đàm Can còn lạ gì Lê Ba, Bách-Vân nữa. Bây giờ nếu Nhật-Hồ rút lui, người thừa kế đương nhiên phải Lê Ba. Vì trong Hồng-thiết giáo, Nhất-Trụ có uy tín bậc nhất, nhưng y chưa hề xuất hiện công khai. Trước đây, thời Lê Ngoạ-Triều, y làm hữu thân vệ điện tiền chỉ huy sứ, đứng sau Lý Công-Uẩn làm Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ có một bậc. Chính y là một trong bốn người: Vạn-Hạnh, Thân Thiệu-Anh, Đào Cam-Mộc, Đàm Can chủ xướng đưa Lý Công-Uẩn lên ngôi vua tức Thuận-thiên hoàng-đế. Khi Thuận-Thiên hoàng-đế lên ngôi vua, phong sư phụ làm Quốc-sư. Gả công chúa An-Quốc cho Đào Cam-Mộc, phong tước Trung-nghiã hầu. Phong Thân Thiệu-Anh làm Phò-mã, tổng trấn 207 khê động Bắc-biên.

Đối với Đàm Can, ngài vẫn dùng tình bạn trong việc giao tế hàng ngày. Ngài phong y tới Thái-sư, tả bộc xạ, đồng bình chương sự, Khu-mật viện sứ, đô-nguyên soái. Hơn nữa, ngài thu nạp con gái Đàm Can tên Đàm Thụy-Châu làm Tây-cung quý phi. Con trưởng Đàm Can, tuy tài không lấy gì làm xuất sắc, ngài cũng phong làm An-vũ sứ trấn Thanh-Hoá.

Như vậy một nhà hưởng phú quý vinh hoa. Nhưng trước kia y từng làm một trưởng lão Hồng-thiết giáo. Thời Thập-nhị sứ quân, tuy tuổi còn trẻ, mà y tỏ ra sắt máu khủng khiếp. Sau khi Thập-nhị sứ quân bị vua Đinh dẹp, y ẩn thân một thời gian, rồi đầu quân chống Tống. Y lập được chiến công. Từ đó y lên đến tột đỉnh trong hàng võ quan thời Lê.

Y nảy ra ý định muốn lên làm Vua. Một phía trong bóng tối, y dùng Hồng-thiết giáo diệt những đối thủ trong triều. Một phía y cố tỏ ra sắt máu, tàn sát người Hoa, để không ai nghi ngờ y theo Tống, rồi y bí mật cử người sang qui phục triều Tống. Y gặp may mắn. Thời bấy giờ Lưu thái hậu đang cầm quyền bên Tống, bị bang Nhật-Hồ Trung-quốc dùng độc chưởng khống chế. Y ra tay giết chết một cao thủ bang này, rồi cấp thuốc giải cho Lưu thái-hậu. Nhân đó, y được gần Lưu thái-hậu. Y hiến Lưu thái-hậu dùng cây thuốc để giữ nhan sắc. Vì vậy triều Tống tin tưởng y.

Sứ đoàn Triệu Thành sang Đại-Việt, Lưu thái hậu dặn dò phải lễ độ với Đàm Can, để được giúp đỡ. Cho nên bọn Triệu-Thành đối với Đỗ-xích-Thập, Nguyên-Hạnh, Hoàng Liên, Nùng Dân-Phú, coi như những người thuộc quyền. Mà đối xử với đám họ Đàm cực kỳ trọng vọng.

Y định đánh thuốc độc giết Thuận-Thiên hoàng-đế. Nhưng trước khi đánh thuốc độc giết ngài, y cần loại trừ các đối thủ. Hầu lúc ngài băng hà, ngôi vua về con trai Tây-cung quý phi. Y đương nhiên trở thành phụ chính đại thần, rồi cướp ngôi.

Đàm Can thành công trong việc đưa Hoàng Văn làm gia bộc cho Khai-Thiên vương, bắt giam Vương-phi làm cây thuốc, hầu sau này làm nhục Vương. Vương sẽ không còn được chỉ định nối ngôi vua. Y sai bắt giam Vương-phi Đông-Chinh vương tên Chu Vân-Nga cũng cùng mục đích. Đối thủ lợi hại nhất của y là Dực-Thánh vương, em trai Thuận-Thiên hoàng-đế, y lại không sợ. Vì vương thường liên lạc với các sứ đoàn, hầu tìm lấy trợ lực. Tất cả thư tín, liên lạc với Tống, Lưu thái hậu cho y biết hết. Khi gặp đúng lúc, y chỉ việc trưng ra bằng cớ, Vương trở thành tội nhân, khó tránh khỏi hoạ sát thân. Chỉ còn Khai-Quốc vương với Vũ-Đức vương, y chưa tìm ra được cách khống chế.

Gần đây Khai-Quốc vương uy trấn Hoa-Việt, y đành khoanh tay chờ đợi thời cơ. Đối với Vũ-Đức vương, tính tình bồng bột, y không coi vào đâu.

Vì những lý do đó, muôn ngàn lần Nhất-Trụ không giám xuất hiện, để mọi người biết y chính Đàm Can. Cũng vì vậy y phải trung thành với Nhật-Hồ lão nhân vì hai lý do. Một là y chờ lão chết. Khi lão chết y là đại đệ tử, đương nhiên kế vị lão lên làm giáo chủ. Chứ bây giờ lão rút về qui ẩn, người thừa kế không ai khác hơn Lê Ba. Hai là y sợ lão cho mọi người biết Đàm Can, Nhất-Trụ cùng một, ắt y mất tất cả.

Còn Đặng Trường tuy đóng vai nhị đệ tử của Nhật-Hồ lão nhân. Nếu lão qui ẩn, y cũng không thể kế vị làm giáo chủ. Vì y ẩn thân trong phái Đông-a, bắt Cao Huyền-Nga làm cây thuốc, gây ra mối hận kinh thiên động địa với phái này. Cuối cùng chỉ còn mình Lê Ba có thể kế ngôi giáo chủ.

Hóa cho nên Lê Ba rủ Nhất-Trụ chống Nhật-Hồ, đời nào y chịu?

Lê Ba tính nhẩm:

– Muốn cho Nhật-Hồ lão nhân rút lui, mình phải diệt chân tay y cùng tên Nhất-Trụ này mới được.

Nghĩ vậy y tiến tới gần Nhật-Hồ lão nhân:

– Sư phụ. Được, đệ tử thuận qui phục sư phụ để làm phó giáo chủ.

Thình lình y dùng một thế hổ trảo chụp Nhất-Trụ. Y ra tay như sét nổ, Nhất-Trụ kinh hoàng bật lui lại, nhưng kình lực của Lê Ba làm bay chiếc khăn che mặt y. Đắc thế rồi, Lê Ba nhảy lui lại. Y nói lớn:

– Đại ca, mong đại ca bỏ khăn ra cho quần hùng biết rõ đại ca một chút.

Quần hùng thấy mặt Đàm Can, cùng kinh ngạc kêu lên:

– Đàm quốc cữu.

Thuận-Thiên hoàng-đế kinh hoàng đến ngơ ngẩn cả người. Ngài hỏi Nhất-Trụ:

– Đàm quốc cữu! Người sao lại thành Vũ Nhất-Trụ ư?

Đàm Can lạnh lùng:

– Đúng thế. Bệ hạ ngạc nhiên ư? Thần đã làm trưởng lão Hồng-thiết giáo trước khi làm tướng cho vua Lê đánh Tống ở Chi-lăng. Tuy thần làm trưởng lão Hồng-thiết giáo, nhưng vẫn một dạ trung thành với triều đình.

Y chỉ mặt Lê Ba:

– Mi ra tay ám toán ta, hôm nay mi phải cùng ta một mất một còn.

Nói rồi Nhất-Trụ vung chưởng tấn công Lê Ba. Chưởng của y cực kỳ hùng hậu. Lê Ba cười nhạt vung tay đỡ. Ầm một tiếng, lễ đài rung rinh như sắp đổ xuống.

Nhật-Hồ bảo Phạm Trạch:

– Người hãy bắt tên Hoàng Văn mở mặt nạ ra cho chúng nhân biết y là ai.

Phạm Trạch lạng mình một cái, y dùng một thế ưng trảo chụp vào mặt Hoàng Văn. Hoàng Văn trầm người tránh khỏi. Y tung một chưởng vào ngực Phạm Trạch. Phạm Trach nhảy lui lại, đẩy ra một chưởng đỡ. Binh một tiếng, chưởng phong đánh bay khăn che mặt Hoàng Văn thành từng mảnh như bươm bướm lượn khắp đài.

Quần hùng lại một phen la hoảng, vì y chính là Trương Yêm, một lão già ôn nhu văn nhã, không vợ, không con, làm quản gia trong phủ Khai-Thiên vương. Tuy làm quản gia, nhưng gần như y đóng vai cố vấn của vương. Võ công y rất cao. Y lại giao du rất thân với võ lâm. Vì vậy ai cũng biết mặt y. Bây giờ y thành Hoàng Văn, một trưởng lão của Hồng-thiết giáo, giết người không gớm tay.

Nhật-Hồ lão nhân hô lớn:

– Ngừng tay.

Nhất-Trụ, Lê Ba, Hoàng Văn, Phạm Trạch cùng thu chưởng nhảy lùi lại. Đúng lúc đó Nhật-Hồ lão nhân vọt lên cao, tung ra một chưởng. Chưởng phong bao trùm bốn người. Cả bốn người rùng mình, rồi lảo đảo ngã xuống.

Dưới đài, Thanh-Mai hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân! Cái gì vậy?

Đỗ Lệ-Thanh thở dài:

– Nhật-Hồ lão nhân thấy rằng muốn khống chế Lê Ba, Hoàng Văn thực không phải dễ. Nếu để bốn trưởng lão giao chiến, ít nhất chết mất hai. Vì vậy lão hô ngừng tay. Giữa lúc mọi người thu chưởng về, lão tung độc dược ra. Bốn người bị chính chưởng lực của mình đem chất độc về thân thể. Lão thành công.

Nhật-Hồ lão nhân tiến đến bên Vũ Nhất-Trụ, Phạm Trạch. Lão vung tay một cái, hai viên thuốc bay ra trúng vào huyệt Bách-hội hai người. Hai người rùng mình, rồi đứng dậy:

– Đa tạ sư phụ.

Nhật-Hồ lão nhân bảo Đặng Trường:

– Mi có lột khăn bịt mặt ra hay phải đợi ta?

Đặng Trường còn chần chờ, Nhật-Hồ lão nhân vung tay phóng ra một chưởng. Đặng Trường lùi lại chuyển tay đỡ. Bình một tiếng. Y thoái lui liền bốn bước. Khí huyết trong người y đảo lộn.

Nhật-Hồ lão nhân cười nhạt:

– Ta mới vận có năm thành công lực.

Nói rồi lão vận khí, phóng một chưởng nữa. Đặng Trường biết chưởng này rất mãnh liệt. Y vận đủ mười thành công lực đỡ. Bình một tiếng. Y bật lui liền bốn bước. Đúng lúc đó Nhật-Hồ lão nhân tung ra một đám phấn trắng. Đặng Trường hít phải, người y lảo đảo, ngã ngồi xuống cạnh Lê Ba.

Đệ tử phái Đông-a đều đã biết vụ Đặng Trường ẩn trong phái, bị Trần Kiệt bắt trao cho Khu-mật viện. Cho nên họ thấy mặt thực của y, đều thản nhiên như không.

Nhất-Trụ, Phạm Trạch xách bọn Xích-Thập, Lê Đức để cạnh Lê Ba, Đặng Trường, Hoàng Văn. Y hướng vào đám đệ tử Hồng-thiết giáo nói lớn:

– Năm tên này phản giáo, đã bị giáo chủ bắt sống. Ai làm tội, người ấy chịu. Giáo chúng thuộc nhóm trưởng lão phản giáo đều vô tội.

Năm trưởng lão Hồng-thiết giáo cùng bị trúng độc. Mỗi người bị trúng một cách khác nhau. Nhưng họ cùng giống nhau một điểm là đau đớn cùng cực, chân tay run rẩy, miệng la hét như người điên.

Nhật-Hồ vẫy tay gọi Ngô Bách-Vân:

– Bách-Vân, mi đến đây!

Bách-Vân run run:

– Đệ tử nguyện theo sư phụ.

Nhật-Hồ búng tay một cái, viên thuốc mầu đỏ trúng giữa trán Bách-Vân. Y thị choáng váng, ngã ngồi xuống cạnh Lê Ba.

Nhất-Trụ hỏi Bảo-Hòa:

– Trần cô nương. Cô nương mới được phong trưởng lão. Cô nương có qui phục giáo chủ hay để chúng ta phải ra tay?

Trong tâm Nhật-Hồ nghĩ rằng Bảo-Hòa là con lão, lão mở cho nàng một con đường sống:

– Trần trưởng lão. Nếu người có thể chống được với một trong các trưởng lão bậc trên một trăm chưởng, ta sẽ tha tội phản giáo cho người.

Bảo-Hòa cười nhạt:

– Không biết trưởng lão nào giáo huấn người sư muội này đây?

Phạm Trạch bước ra:

– Ta xin lĩnh giáo cao chiêu của sư muội.

Phạm Trạch định phát chiêu bỗng y nghe tiếng Nhật-Hồ dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai:

– Phạm trưởng lão! Tuyệt đối không được đả thương vị tiểu cô nương này. Chỉ đấu cầm chừng thôi.

Phạm Trạch nghe Nhật-Hồ lão nhân ra lệnh. Y vung tay đánh một chiêu về phía hông Bảo-Hòa. Bảo-Hòa mỉm cười phát chiêu Thanh ngưu qui gia phản công. Bình một tiếng. Phạm Trạch loạng choạng lui lại. Quảng trường bật lên những tiếng la kinh ngạc. Vì ai cũng biết võ công y cực kỳ cao siêu.

Từ chiêu Thanh-ngưu qui gia, Bảo-Hòa chuyển sang chiêu Ngưu thực ư dã. Trong mười chiêu đầu, nàng có vẻ yếu thế. Sang chiêu thứ mười một, nàng bắt đầu chiếm được thượng phong. Cứ mỗi chiêu nàng đánh ra, Phạm Trạch phải lui lại một nước.

Lúc đầu, Phạm Trạch không giám vận hết công lực, vì Nhật-Hồ lão nhân dặn y không được đả thương nàng. Bây giờ dù y cố gắng, cũng không chạm đến vạt áo nàng được, chứ đừng nói đả thương. Bản lĩnh Phạm Trạch không kém Đỗ Xích-Thập làm bao. Vì vậy Bảo-Hòa chưa đàn áp nổi y.

Phạm Trạch càng đấu, càng yếu thế. Y nghĩ thầm:

– Hay Nhật-Hồ lão nhân muốn hại ta như Phạm Hổ? Ta phải cẩn thận mới được, bằng không e táng mạng hôm nay không chừng.

Nghĩ vậy không nhân nhượng nữa, y vận Hồng-thiết công. Chưởng phong đánh ra, có mùi tanh hôi khủng khiếp. Bảo-Hoà ứng phó rất nhanh, nàng biến chưởng thành chỉ. Lĩnh-Nam chỉ rít lên vo vo, xuyên thủng chưởng của Phạm Trạch.

Phạm Trạch nhớ lại cuộc đấu giữa Bảo-Hòa với Đỗ Xích-Thập. Xích-Thập dùng bất cứ vũ khí nào, cũng bị Lĩnh-Nam chỉ đánh gẫy. Nhưng xử dụng Lĩnh-Nam chỉ tiêu hao rất nhiều công lực. Y nghĩ thầm:

– Đã vậy ta cứ dằng dai, cho con nhỏ này kiệt lực rồi ra tay giết chết. Nghe Lê Ba nói, y theo học với Hồng-thiết Tây-dương giáo chủ, mà sao không thấy y thị dùng độc chưởng?

Bảo-Hòa thấy Phạm Trạch đánh cầm chừng , nàng hiểu ngay chủ ý của y, nhưng không biết làm sao đối phó. Chợt có tiếng Trần Tự-An dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai:

– Cháu Bảo-Hòa. Cháu vận chân khí ra sáu kinh âm để hộ vệ cơ thể. Sau đó dùng Thủ-dương-minh đại trường kinh phát Lĩnh-Nam chỉ tấn công y.

Bảo-Hòa tỉnh ngộ. Nàng chửi thầm:

– Mình đáng chết thực. Hôm đến Thiên-trường, Trần sư bá cùng Đỗ Lệ-Thanh phát minh ra phương pháp chống Chu-sa Nhật-hồ chưởng, rồi dạy cho Thanh-Mai, Mỹ-Linh với mình. Ban nãy Trần sư bá dùng phương pháp đó thắng Xích-Thập. Thanh-Mai thắng Nguyên-Hạnh. Tại sao mình không dùng để thắng tên Phạm-Trạch này.

Nghĩ đến đâu, chân khí tòng tâm phát ra. Khí sáu kinh âm bao phủ khắp cơ thể. Trong khi đó, nàng dẫn khí về Đốc-mạch đưa lên huyệt Đại-trùy rồi đưa vào Thủ-dương-minh đại trường kinh phát ra ở huyệt Thương-dương rít lên vo vo.

Trong khi đó, chưởng của Phạm-Trạch vẫn phát ra đều đều. Lĩnh-Nam chỉ xuyên vào giữa chưởng của y, đem theo độc khí trúng vào ngực y đến bộp một tiếng. Y đau đớn, nhăn nhó, chỉ thứ nhì xuyện thủng chưởng của y trúng vào vai y. Y loạng choạng lui lại.

Sau khi trúng hai chỉ, y nhảy nhót tránh né, không để bị thọ thương nữa. Khoảng nhai dập miếng trầu, y cảm thấy vai tê, ngực nặng chĩu, đau đớn vô cùng. Bất giác y bật lên tiếng ái. Chân tay mất hết lực, y ngã ngồi xuống, toàn thân run lẩy bẩy.

Nhật-Hồ lão nhân mỉm cười:

– Trần cô nương xuất thân đệ tử của giáo chủ Hồng-thiết Tây-dương có khác. Độc chưởng của cô nương lợi hại thực.

Bảo-Hòa bị Khai-Quốc vương bắt phải đóng vai Trần Quỳnh-Hoa, chứ nàng nào có biết độc chưởng gì đâu? Sở dĩ Phạm Trạch ra nông nỗi ấy, vì nàng áp dụng phương pháp của Trần Tự-An đẩy chất độc ngược lại người của Phạm Trạch.

Nhật-Hồ lão nhân đến trước Phạm Trạch. Lão vận Hồng-thiết công, vung tay vỗ lên đầu y, để giải Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng. Sau khi lão vỗ xong, Phạm Trạch hét lên như con lợn bị thọc huyết, rồi lăn lộn trên đài.

Quần hùng nhìn Phạm Trạch, thấy tình trạng y giống Xích-Thập, đều tự hỏi:

– Tại sao Trần Quỳnh-Hoa lại biết xử dụng phương pháp của phái Đông-a?

Nhật-Hồ lão nhân là một đại tôn sư võ học, kinh nghiệm có thừa. Từ lúc Bảo-Hòa xuất hiện, lão đã có nhiều nghi vấn. Tại sao nàng mới từ Tây-dương trở về, lại phải mang mặt nạ? Tại sao nàng sang Tây-dương từ nhỏ, làm thế nào nàng có thể xử dụng Phục-ngưu thần chưởng, Lĩnh-Nam chỉ pháp tới chỗ cực kỳ tinh diệu? Tại sao nàng không biết gì về Chu-sa độc chưởng. Cho nên chưởng phong của nàng phát ra không có mùi hôi tanh. Bây giờ nàng lại xử dụng phương pháp của Trần Tự-An đẩy chất độc trở lại người Phạm Trạch?

Lão nghĩ thầm:

– Không biết con nhỏ này lý lịch ra sao? Không chừng ta lọt vào cạm bẫy của Khu-mật viện Đại-Việt cũng nên.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103136
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49576 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Postby DaMinhChau » November 2nd, 2017, 12:48 am


Hồi thứ sáu mươi bẩy

Chính Tà Quyết Đấu




Nhật-Hồ lão nhân hỏi Bảo-Hòa:

– Trần cô nương! Có thực cô nương theo học với Tây-dương Hồng-thiết giáo chủ chăng?

Bảo-Hòa nghĩ:

– Thân thế ông ngoại, ông nội, mạ mạ cao biết mấy, mà mình lại nhận làm học trò tên Tây-vực giáo chủ, một đại ma đầu ư? Nhất định ta không nhận. Dù cậu hai trách mắng, đã có ông ngoại bênh.

Có tiếng Tôn Đản dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai nàng:

– Chị Bảo-Hòa, trêu cho lão tức điên người lên, để làm trò cười cùng quần hùng.

Gì chứ, chọc phá thiên hạ, Bảo-Hòa rất giỏi. Từ thầy trò Địch Thanh cho đến Hồng-Sơn đại phu, nàng đều đã trêu qua. Mới đây, Bố-Đại hòa thượng nàng còn gọi bằng danh tự Thầy chùa ăn thịt chó. Xá gì lão Nhật-Hồ. Huống chi trong Thuận-Thiên cửu hùng, Bảo-Hòa thích nhất Tôn Đản. Nghe em xui, nàng mỉm cười. Nàng trả lời lơ lớ:

– Tây-phương giáo chủ ư? Ông ta tên gì?

– Bát-Nặc.

Bảo-Hòa ngơ ngẩn:

– Tiên sinh nói sao? Bát-Nạt à? À chắc lão nhân gia còn có tên Ba-Bị. Ông Ba-Bị hay bắt nạt trẻ con. Vì vậy trẻ nhỏ thường hát:

Ông Ba-Bị,
Chín quai,
Mười hai con mắt.
Bắt trẻ bỏ bị.

Nhật-Hồ lão nhân tưởng Bảo-Hòa mới ở Tây-vực về, không thạo tiếng Việt. Lão nhắc lại:

– Tên Hồng-thiết giáo chủ Tây-dương theo Trung-quốc đọc thành Bát-Nặc. Nếu theo tiếng Tây-dương thành Xẹp-Lép.

Bảo-Hòa lắc đầu:

– Xẹp-Lép? Tên gì mà kỳ vậy?

Vũ Nhất-Trụ nhắc Nhật-Hồ:

– Trình sư phụ, giáo chủ Xẹp-lép đã về với thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh lâu rồi. Giáo chủ Tây-dương hiện thời đại danh Gọt-tam-Hổ.

Bảo-Hòa để tay lên tai làm bộ điếc:

– Gọt-tam-Hổ à? Chắc ông làm nghề gọt đầu cọp hẳn? Ừ sao có nghề lạ lùng thế nhỉ.

Nhật-Hồ lão nhân không nhịn được nữa, lão quát lên:

– Cô nương tên gì? Con nhà ai?

– Lão gia muốn biết tên người trên tôi hả? Cụ ngoại tôi tu đắc đạo thành Bồ-tát. Xin lão gia đoán xem người tên gì?

Nhật-Hồ cau mặt:

– Vô lý, người đi tu thành Bồ-tát, sao lại có con, mà thành cụ ngoại? Họa chăng ông ta là sư hổ mang.

Bảo-Hòa càng trêu già:

– Sao lại không? Đức Thích-ca Mâu-ni chẳng có vợ, có con rồi mới đi tu sao? Trong mười đại đệ tử của ngài, hầu hết đều có vợ có con, rồi mới đi tu. Sau thành Bồ-Tát hết.

– Thế ông cô nương cao danh quý tính là gì?

– Ông ngoại tôi, một người nhân từ nhất thế gian. Yêu dân Việt hơn yêu mẹ tôi. Ông nội tôi, danh vang bốn bể. Bố tôi, một người đạo đức ít có. Còn mẹ tôi ư? Mẹ tôi quanh quẩn gần lão nhân đó.

Nhật-Hồ tức muốn điên lên được, lão quát:

– Cô nương không chịu trả lời ta. Ta giết cô nương tức khắc.

Bảo-Hòa cực kỳ can đảm, nghe lão đe dọa, nụ cười tắt trên môi. Nàng cười nhạt:

– Lão định giết tiểu nữ ư? Khó lắm.

Biết sự thể không dấu diếm được nữa, nàng lột mặt nạ ra. Đang từ một cô gái xấu xí kinh khiếp, Bảo-Hòa trở lại một thiếu nữ xinh đẹp, khuôn mặt sáng như trăng rằm.

Quần hùng bật lên tiếng la, tiếng huýt sáo, tiếng vỗ tay.

Nhật-Hồ hỏi Bảo-Hòa:

– Thì ra cô nương làm gian tế, tiềm ẩn trong bản giáo. Cô nương có biết rằng những gian tế trong bản giáo, sẽ bị hình phạt khủng khiếp như thế nào không?

Bảo-Hòa mỉm cười:

– Giáo chủ nói lạ. Từ lúc tiểu nữ xuất hiện, tự nhiên trưởng lão Lê Ba rồi giáo chủ, cứ gọi tiểu nữ bằng tên Trần Quỳnh-Hoa, rồi ghép cho tiểu nữ vào làm đệ tử của Hồng-thiết giáo chủ Tây-phương. Trong khi chính tiểu nữ nói ra rằng tiểu nữ học nghệ với sư bá Đặng Đại-Khê phái Tản-viên. Rồi bây giờ giáo chủ bảo tiểu nữ làm gian tế. Giáo chủ ơi! Sao giáo chủ lại quá vô lý như vậy?

Nhật-Hồ ôn lại từ đầu, quả Bảo-Hòa chưa từng xưng tên Trần Quỳnh-Hoa, cũng không hề nhận liên hệ, hay đệ tử Hồng-thiết giáo. Lão biết nàng chỉ nhân bọn lão lầm, rồi nương theo mà thôi. Lão hỏi:

– Thế cô nương có biết Trần Quỳnh-Hoa hiện ra sao? Cô nương khuê danh là gì?

Bảo-Hòa không trả lời vào câu hỏi của lão. Nàng đánh trống lảng:

– Giáo chủ. Giáo chủ sai Phạm trưởng lão đấu với tiểu nữ. Bây giờ Phạm trưởng lão bị bại. Vậy giáo chủ có còn đòi làm vua nữa chăng? Giáo chủ hẹn đấu ba cuộc với võ lâm Đại-Việt. Nếu bên giáo chủ thắng hai, võ lâm phải tôn giáo chủ lên làm vua. Còn ngược lại, giáo chủ sẽ qui phục triều đình. Trận đầu, Trần đại hiệp thắng Đỗ trưởng lão. Trận thứ nhì tiểu nữ thắng Phạm trưởng lão. Như vậy võ lâm Đại-Việt thắng. Giáo chủ là đại tôn sư võ học. Xin giáo chủ giữ lời hứa cho.

Mặt Nhật-Hồ lão nhân xám như tro. Lão dơ tay:

– Nếu cô nương không chịu cho lão biết thân thế cô nương, cô nương đừng trách lão không nương tay.

Bảo-Hòa cười khúc khích:

– Tôi đã khai rồi, mà lão nhân gia không tin ư? Cụ ngoại tôi họ Lý, húy Khánh-Vân, một Bồ-tát đắc đạo. Ông ngoại tôi, hiện làm Thuận-Thiên hoàng-đế, nhân từ, yêu dân Việt hơn yêu mẹ tôi. Có đúng thế không? Mẹ tôi là vua Bà Bắc-biên, đang ngồi gần lão tiên sinh đấy thôi! Còn tên ư? Tôi họ Thân, tên Bảo-Hòa.

Nàng đến trước Thuận-Thiên hoàng-đế hành đại lễ, rồi cất tiếng:

– Ngoại công! Cháu chúc ngoại công tâm an thần tĩnh.

Trước đây Mỹ-Linh đánh bại Đông-Sơn lão nhân, rồi nàng xưng là cháu nội của Thuận-Thiên hoàng-đế, võ lâm đã một lần kinh ngạc. Bây giờ Bảo-Hòa thắng ba trưởng lão Hồng-thiết giáo, rồi lại gọi Hoàng-đế bằng ông ngoại. Quần hùng lại một phen kinh ngạc đến ngẩn người ra.

Thuận-Thiên hoàng-đế có mười ba công chúa, vì vậy quần hùng không biết nàng do công chúa nào sinh ra?

Bảo-Hòa đến trước vua Bà Bắc-biên quỳ gối hành đại lễ:

– Mạ mạ! Mạ mạ thấy con đánh có được không?

Vua Bà Bắc-biên tát yêu con gái:

– Con ngoan lắm, thực không uổng công bố mẹ sinh thành dạy dỗ.

Nhật-Hồ lão nhân cùng quần hùng thấy Bảo-Hòa gọi công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa bằng mạ mạ, lão biết nàng quả đúng con của vua Bà Bắc-biên.

Bảo-Hòa nói với Nhật-Hồ lão nhân:

– Lão tiên sinh! Lão tiên sinh về đi thôi. Cái ngôi vua không đến với lão nhân đâu. Tiểu nữ nghĩ lão tiên sinh nên truyền ngôi cho đệ tử, rồi về nghỉ ngơi, hưởng an nhàn chẳng thú lắm sao?

Nhật-Hồ lão nhân cười khổ sở:

– Ta muốn về nghỉ, nhưng ngặt vì không có người nào luyện thành Hồng-thiết thần công hầu giải độc chưởng cho giáo chúng, nên vẫn phải ngồi lại ngôi giáo chủ.

Tiếng Khai-Quốc vương dùng Lăng-không truyền ngữ như sợi tơ rót vào tai Bảo-Hoà:

– Khen ngợi lão, khích lão nhường ngôi giáo chủ cho Nhất-Trụ, vì y hiện mất hết uy tín. Y có lên ngôi giáo chủ, cũng không có giáo chúng theo y.

Bảo-Hòa nghe cậu nói, nàng nghĩ thêm được một kế:

– Giáo chúng Hồng-thiết đa số là người yêu nước, nhiệt tâm với dân, mà lâm vào hoàn cảnh dở sống, dở chết. Ta phải cứu họ mới được. Hiện anh Thiệu-Thái có khả năng giải Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng. Vậy ta gài bẫy để lão truyền ngôi cho Nhất-Trụ, trong khi giáo chúng lại thuộc Lê Ba. Sau đó anh Thái xuất hiện giải độc cho giáo chúng, thu phục nhân tâm, để họ có thể đem tài năng ra giúp nước.

Nghĩ vậy, Bảo-Hòa hướng vào giáo chúng Hồng-thiết giáo, nàng vận nội lực nói thực lớn:

– Anh em giáo chúng. Giáo chủ lão nhân gia có võ công cao nhất Đại-Việt. Lão nhân gia đem Hồng-thiết giáo vào Trung-quốc cũng như Đại-Việt. Hồng-thiết giáo chủ trương giúp người nghèo, chúng nhân bình đẳng. Cho nên anh em mới quyết tâm gia nhập giáo. Hy sinh tính mệnh cho giáo. Nhưng trong hai mươi năm qua, giáo chủ vắng mặt, giáo chúng không người cầm đầu, thành ra có nhiều hỗn loạn. Bây giờ giáo chủ muốn về nghỉ ngơi, hưởng nhàn, nhưng lão nhân gia còn muốn tìm một người học được phép giải Hồng-thiết độc chưởng cho anh em giáo chúng, rồi mới qui ẩn.

Nàng hỏi Nhật-Hồ:

– Thưa giáo chủ. Tại sao phải có người đủ khả năng hoá giải Hồng-thiết độc công cho anh em giáo chúng, giáo chủ mới truyền ngôi? Tiểu nữ nghĩ, giáo chủ cứ tạm truyền cho một vị trưởng lão nào đó. Sau đấy giáo chủ truyền Hồng-thiết mật công cho tân giáo chủ chẳng hay ư? Theo tiểu nữ nghĩ, giáo chủ nên truyền ngôi cho đại đệ tử của người, hầu danh chính ngôn thuận.

Nhật-Hồ thấy Bảo-Hoà là cháu ngoại Thuận-Thiên hoàng đế, mà lại khẩn thiết yêu cầu lão truyền ngôi cho Đàm Can, kẻ phản bội họ Lý, hẳn có mưu kế gì. Lão cười nhạt:

– Cô nương! Cô nương giết chết một trưởng lão bản giáo, lại làm cho một trưởng lão bị trúng độc. Lão phu làm giáo chủ, không thể bỏ qua vụ này. Bây giờ nếu cô nương đỡ được của lão phu ba chưởng, lão sẽ không truy cứu tội cô nương. Lão phu nguyện rút lui, không tranh ngôi vua với Lý Công-Uẩn nữa.

Bảo-Hòa cực kỳ gan dạ, can đảm bậc nhất trên thế gian. Hồi ở Thanh-hóa, tuy biết võ công kém xa Triệu Anh, nàng cũng dám so tay với y. Nay thấy Nhật-Hồ nói vậy, nàng nghĩ:

– Ta biết rằng công lực chưa đủ, muôn ngàn lần không thể đỡ được ba chưởng của lão. Nhưng ta cứ cố gắng. Bất quá ta chết là cùng. Ta chết, mà lão không tranh ngôi vua nữa, đỡ tốn hao biết bao nhiêu xương máu!

Nghĩ vậy nàng nói:

– Tiểu nữ xin nhận lĩnh ba chiêu của đại tôn sư võ lâm Lĩnh-Nam.

Quần hùng ào lên những tiếng bàn tán, rồi im lặng theo dõi.

Bảo-Hoà vận đủ mười thành công lực, phát chiêu Ác ngưu nan độ tấn công lão. Nhật-Hồ lão nhân thấy nàng dám tấn công mình, lão mỉm cười vung chưởng đỡ. Binh một tiếng, Bảo-Hòa bật lui liền ba bước, cánh tay nàng muốn tê liệt, tai phát ra tiếng kêu o o không ngừng. Nàng loạng choạng ngã ngồi xuống đài, miệng ri rỉ chảy máu ra hai bên mép. Nàng hít một hơi chân khí, nghiến răng chịu đau, từ từ đứng dậy.

Thấp thoáng một cái, Trần Tự-An đã đứng trước mặt nàng. Ông chắp hai tay vào nhau:

– Giáo chủ, tại hạ xin thay quận chúa Bảo-Hoà lĩnh hai chiêu còn lại của giáo chủ.

Nhật-Hồ thấy Tự-An chế ra được phương pháp khắc chế Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng của lão, cũng có ý hơi gờm. Lão cười:

– Trần đại hiệp. Khi lão phu tranh phong thiên hạ với vua Đinh, dường như đại hiệp chưa ra đời thì phải. Lão phu hứa với quận chúa Bảo-Hòa sẽ rút lui, nếu nàng đỡ được ba chưởng của lão phu, chứ lão phu có hứa với đại hiệp đâu? Nếu đại hiệp muốn qua lại mấy chiêu với lão phu, xin chờ.

Bảo-Hoà hướng Tự-An:

– Sư bá, xin sư bá để cháu lĩnh hai chiêu nữa của giáo chủ.

Nhật-Hồ cười nhạt:

– Ta mới vận có ba thành công lực, cũng chưa vận độc chưởng.

Bảo-Hòa biết thế, nhưng nàng vẫn không lui, không sợ, tay chuyển sang chiêu Ngưu tẩu như phi, nàng vận âm kình, dương kình hỗn hợp. Vù một tiếng nữa, người nàng bay bổng lên cao, rồi rơi xuống giữa đài, chân tay gần như tê liệt hoàn toàn. Nàng không ngồi dậy được nữa.

Toàn thể quảng trường im lặng, quan sát cuộc đấu kỳ lạ. Tất cả đều khâm phục can đảm của Bảo-Hòa.

Qua chưởng thứ nhì, Nhật-Hồ thấy công lực Bảo-Hòa đang từ dương sang âm, hoá giải hết kình lực cũa lão. Trong người lão như bị hàng trăm cái kim đâm vào. Lão kinh hãi nghĩ:

– Hèn gì hai đệ tử mình bại về con nhỏ này. Không biết nó học đâu được chiêu Phục-ngưu thần chưởng âm dương hỗn hợp này?

Trên đài, Bảo-Hoà nằm thẳng cẳng, nàng nghiến răng chịu đau, quằn quại, hít một hơi, rồi từ từ ngồi dậy. Miệng nàng thở hồng hộc:

– Lão nhân! Còn một chưởng nữa! Xin lão nhân tiếp lấy.

Nàng nói hết câu đó, người lảo đảo muốn ngã.

Thình lình một đám mây vàng thoáng bay qua khán đài như một tia sáng, rồi biến đi. Bảo-Hoà thấy như có ai vỗ vào lưng nàng. Bao nhiêu cái đau đớn biến mất. Mọi người đều hoa mắt lên, rồi bóng vàng biến mất. Họ định thần lại, thấy Bảo-Hoà đã đứng dậy. Bảo-Hoà biết có một cao nhân nào đó, dùng thần công thượng thừa truyền vào người nàng. Thân pháp người này mau quá, nàng không nhận ra ai. Qua tấm áo vàng giống áo cà sa, nàng đoán có lẽ Minhh-Không hoặc Huệ-Sinh., Nhưng nàng chợt nghĩ lại không phải, vì thủy chung hai vị vẫn ngồi tại chỗ. Một mùi trầm phát ra quanh nàng thoang thoảng. Nàng bật cười:

– Thì ra Bố-Đại hoà thượng.

Bố-Đại hoà thượng qua đài cứu Bảo-Hoà, ngài dùng một thứ kinh công thượng thừa, chỉ những loại võ công cao như Đại-Việt ngũ long mới nhìn rõ. Còn Nhật-Hồ đúng ra lão cũng nhìn thấy, nhưng vì tuổi cao, mắt kém, nên lão biết có người cứu Bảo-Hoà, mà không nhận ra ai. Lão nghĩ rất nhanh:

– Chỉ còn một chiêu nữa. Nếu mình nhân nhượng, bao nhiêu công lao vứt đi hết.

Nhật-Hồ lão nhân không cho nàng phát chiêu thứ ba. Lão phóng một chưởng chụp lên đầu nàng. Nàng thấy chưởng phong ụp xuống đầu, vội vận đủ mười thành công lực đỡ. Nhưng chưởng của lão chưa phát ra hết, nàng đã bị quay tròn như con quay.

Đặng Đại-Khê ngồi gần nàng nhất. Liên hệ tình thầy trò, khiến ông quên nguy hiểm, ông phát một chiêu bằng tất cả công lực của mình đỡ cho nàng. Bình một tiếng, Đặng Đại-Khê, Bảo-Hòa cùng ngã lăn trên sàn.

Nhật-Hồ lão nhân cười nhạt:

– Hai người trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng rồi. Mau quỳ xuống lạy ta, tôn ta làm sư phụ, ta sẽ ban thuốc giải cho.

Đại-Khê, Bảo-Hòa cùng cảm thấy đau đớn, rét run lên. Nhưng hai người nghiến răng chịu đau, không kêu than. Bảo-Hoà từ từ ngồi dậy, nói:

– Giáo chủ! Tiểu nữ đã đỡ được ba chưởng của giáo chủ. Mong giáo chủ giữ lời hứa.

Đến đó hai hàm răng nàng chạm vào nhau kêu lộp cộp. Thuận-Thiên hoàng-đế thấy đứa cháu ngoại nhất tâm, nhất chí bảo vệ ngôi vua cho mình, mà phải chịu đau đớn cùng cực, long tâm nhũn ra, ngài nghĩ thầm:

– Ta có năm con trai, mười ba con gái, nhưng chỉ có Bồ nhi chịu hy sinh cho ta. Bồ nhi truyền dạy tinh thần này cho Mỹ-Linh, Bảo-Hòa. Dù Hồng-Sơn đại phu không áp lực, ta cũng phải truyền ngôi cho Bồ nhi.

Vũ Nhất-Trụ móc trong túi ra viên thuốc, nói với Thuận-Thiên hoàng đế:

– Bệ hạ. Nếu bệ hạ ân xá tội cho hạ thần, hạ thần sẽ trao thuốc giải cho đứa cháu ngoại bảo bối của bệ hạ.

Thuận-Thiên hoàng đế thấy cháu đau đớn quá độ, ngài gật đầu:

— Đô nguyên soái. Nếu như thuốc này trị cho Bảo-Hòa hết đau, trẫm sẽ ân xá cho nguyên soái.

Ngài tiếp viên thuốc, định trao cho Bảo-Hòa, bỗng nhiên ngài cảm thấy tay tê tê, rồi ngứa ngáy khó chịu. Ngài vội liệng viên thuốc vào người Nhất-Trụ:

– Đồ hèn hạ. Mi đánh thuốc độc ta.

Nói rồi ngài vung chưởng tấn công Nhất-Trụ. Nhất-Trụ lùi lại vung tay đỡ. Y cười lớn:

– Công-Uẩn! Người trúng độc mà còn xử dụng võ công chỉ mau chết mà thôi.

Thuận-Thiên hoàng-đế thấy tay sưng vù, lực đạo bị mất, ngài không còn phát chiêu được nữa.

Vũ Nhất-Trụ phát một chưởng hướng ngài, trong chưởng phong có mùi tanh hôi khủng khiếp.

Từ dưới đài, một người nhảy lên, thân pháp cực kỳ mau lẹ. Người đó phát một chưởng hướng Nhất-Trụ. Chưởng phong như có, như không. Nhất-Trụ thấy chưởng kỳ lạ, hơi phân tâm một chút, chưởng phong đã bao trùm người y. Y vội vọt lên cao, rơi xuống đài. Bây giờ y mới nhìn kỹ đối thủ, chỉ là một thiếu niên thân thể cực kỳ hùng vĩ, nhưng mặt đần độn, xấu xa khủng khiếp.

Thiếu niên đó cầm lấy tay Thuận-Thiên hoàng-đế bóp một cái. Rồi vận khí hoá giải chất độc. Khoảng nhai dập miếng trầu, bao nhiêu cái ngứa, đau của ngài biến mất.

Tuy Thiệu-Thái đã hoá trang, nhưng Thuận-Thiên hoàng-đế cũng nhận ra chàng. Ngài kinh ngạc vô cùng:

– Không biết đứa cháu ngoại của ta học ở đâu được Thiền-công cao đến trình độ chỉ mó vào tay ta, mà đã đẩy được hết chất độc ra ngoài? Ta tưởng trên đời, chỉ có sư phụ Vạn-Hạnh thiền sư, mới luyên đến mức này mà thôi.

Quần hùng thấy một thiếu niên mập mạp khinh công tuyệt cao, chỉ một chiêu hời hợt đánh bay Vũ Nhất-Trụ, rồi vuốt tay một cái hoá giải chất độc cho Thuận-Thiên hoàng-đế đều kinh ngạc vô cùng. Nhưng họ không biết chàng là ai.

Thiệu-Thái vung tay phát một chưởng nhẹ nhàng hướng Đặng Đại-Khê. Ông đang nghiến răng đau đớn cùng cực, chưởng phong của chàng lướt qua, ông rùng mình một cái, bao nhiêu cái đau đớn biến mất.

Ông mỉm cười:

– Đa tạ thiếu hiệp.

Thiệu-Thái lại phát một chiêu giải độc cho Bảo-Hòa. Bảo-Hòa rùng mình một cái, nàng đứng dậy, như không hề hấn gì.

Nhật-Hồ lão nhân thấy Thiệu-Thái phát chiêu, rõ ràng công lực thuộc Thiền-công Tiêu-sơn, nhưng phương pháp hoá giải lại của Hồng-thiết giáo. Lão kinh ngạc:

– Thiếu hiệp, phải chăng thiếu hiệp tên Trần Đông-Thiên, mới từ Tây-dương về? Công lực thiếu hiệp quả thực cao thâm khôn lường. Bản lĩnh hoá giải Hồng-thiết độc công của thiếu hiệp cao minh e không thua gì Tây-dương giáo chủ Hồng-thiết giáo. Thiếu hiệp cho lão phu biết cao danh quý tính, được chăng?

Thiệu-Thái nhổ râu, vuốt mặt. Lớp sáp bao phía ngoài rơi ra hết. Chàng tới trước mặt Thuận-Thiên hoàng-đế quỳ gối hành đại lễ:

– Ngoại công! Cháu ra tay cứu trị hơi trễ, để ngoại công kinh sợ, thực có tội.

Chàng lại đến trước Thân Thiệu-Anh quỳ gối::

– Nội tổ! Cháu ngu tối, không luyện hết được võ công gia truyền xin nội công tha tội.

Chàng đến trước vua Bà Bắc-biên quỳ gối:

– Mạ mạ! Con vấn an mạ mạ.

Nói rồi chàng chắp tay đứng hầu sau Thuận-Thiên hoàng đế, mắt liếc nhìn Mỹ-Linh.

Khai-Thiên vương vốn cực kỳ ác cảm với Thiệu-Thái, vì gương mặt chàng không lấy gì làm dễ coi, tướng ụt ịt như con lợn. Lại nữa, chàng đã đính hôn rồi, mà còn lè kè bên cạnh Mỹ-Linh.

Trước đây, vì muốn tranh dành ảnh hưởng với các em, Vương định gả Mỹ-Linh cho Đàm An-Hoà. Vì Hoà là con Đàm Can, một khai quốc công thần, hiện có thế lực nhất triều đình. Can lại có đến năm con trai, bốn ngươi đang trọng nhậm ở ngoài.

Hôm nghe Mỹ-Linh tường thuật về vụ Đàm An-Hoà vô phép với nàng ở Thanh-hoá. Vương không tin, cho rằng nàng bịa truyện, để có cớ gần Thiệu-Thái.

Truyện Đàm Can tức Vũ Nhất-Trụ, cùng việc anh em An-Hoà phản triều đình, Khai-Quốc vương giữ kín, vì vậy Vương không biết gì. Hôm nay, nảy ra Đàm Can hoá ra Vũ Nhất-Trụ. Rồi Trụ công khai hại Thuận-Thiên hoàng-đế. Giữa lúc nguy nan, Thiệu-Thái hiển lộ bản lĩnh kinh thế hãi tục, đánh bay Nhất-Trụ, cứu mọi người. Bao nhiêu ác cảm của Vương với chàng biến mất.

Nhật-Hồ lão nhân đã nhận ra được Thiệu-Thái là người cùng Mỹ-Linh đã cứu lão dưới hầm Cổ-loa. Lão nghĩ thầm:

– Hôm trước thằng con lợn này với Mỹ-Linh đã chiết chiêu với Vũ Nhất-Trụ trong hầm Cổ-loa, công lực của nó cao hơn Nhất-Trụ một tý. Không hiểu sao mới mấy ngày qua, mà công lực nó đã cao đến trình độ này? Nó học ở đâu được Hồng-thiết mật công?

Bảo-Hoà khỏi đau đớn, nàng đến trước Nhật-Hồ lão nhân, chắp tay thi lễ:

– Giáo chủ. Tiểu nữ đã chịu đủ ba chưởng của giáo chủ. Vậy giáo chủ có còn tranh ngôi vua với ngoại công của tiểu nữ nữa chăng?

Xảo quyệt, nói đấy, rồi lại nuốt lời đấy là bản lĩnh của Hồng-thiết giáo Tây-dương. Nhật-Hồ lão nhân cũng như các đệ tử đều làu thông Hồng-thiết kinh. Cho nên lão trở mặt:

– Ta hứa rằng cô nương chịu ba chưởng của ta. Ta sẽ không tranh ngôi vua với Lý Công-Uẩn. Thế nhưng có lão thầy chùa nào đó giúp cô nương, một điều cô nương phạm lời ước. Tên ôn con Đặng Đại-Khê cũng giúp cô nương, hai điều cô nương phạm ước. Khi cô nương phạm lời giao ước, đừng đòi lão phu giữ lời hứa.

Lão nói với Khai-Quốc vương:

– Cứu lão phu ra khỏi cảnh tù đầy do công chúa Bình-Dương với Thân thế tử. Giúp đỡ, tha lão phu chính Vương-gia. Nhưng những ơn nghiã đó có tính cách cá nhân giúp cá nhân. Lão phu không thể vì chút ơn riêng mà bỏ đại cuộc. Mong Vương-gia đừng buồn.

Lão nói đến đó, quần hùng nổi nóng, la hét vang trời. Đợi cho tiếng la hét giảm, Bảo-Hoà hỏi:

– Thưa giáo chủ. Hồi đầu giáo chủ ước hẹn với võ lâm Đại-Việt đấu ba cuộc, bên nào thắng hai, coi như thắng cuộc. Hồng-thiết giáo thua hai cuộc coi như thua. Giáo chủ lại giao hẹn tiểu nữ chịu được ba chưởng của giáo chủ. Tiểu nữ chịu đủ ba chưởng. Nay giáo chủ nuốt lời, tiểu nữ e rằng chúng nhân thiên hạ khinh thường giáo chủ, như vậy giáo chủ có làm Vua cũng vô ích.

Nhật-Hồ lão nhân vẫn cù nhầy:

– Ba chưởng mà cô nương chịu với lão, do người ngoài giúp, coi như cô nương phạm ước. Bên cô nương thua cuộc. Bây giờ lão phu xin nhắc lại: Nếu như trong đám con cháu Lý Công-Uẩn, có ai chịu được của lão phu ba chưởng. Lão phu nhất định rời khỏi nơi đây cùng với giáo chúng.

Quần hào im lặng, đưa mắt nhìn Thuận-Thiên hoàng đế. Thuận-Thiên hoàng đế nghĩ:

– Y thách họ Lý, chứ không thách võ lâm. Trong các em, các con, không biết có người nào lớn gan như Bảo-Hoà không?

Thuận-Thiên hoàng đế đưa mắt nhìn hoàng đệ Dực-Thánh vương. Vương cúi đầu xuống. Ngài đưa mắt nhìn Khai-Thiên vương. Vương im lặng lắc đầu. Cuối cùng ngài đưa mắt nhìn Khai-Quốc vương. Vương đứng dậy, hướng vào Nhật-Hồ:

– Lão tiên sinh, tiểu bối xin xả thân bồi tiếp quân tử, nhận ba chưởng của tiên sinh.

Vương vừa dứt lời thì vèo, vèo Thuận-Thiên cửu hùng bay lên đài, rồi đến Trần Tự-An, Đào Hà-Thanh, Hồng-Sơn đại phu, Lâm Huệ-Phương… Lại có cả Phủ-Van, Chế Ma-Thanh, Đoàn Huy. Tất cả đều muốn thay thế Khai-Quốc vương lĩnh ba chiêu của Nhật-Hồ lão nhân.

Đào Hà-Thanh nghiêng mình thi lễ:

– Giáo chủ, tiểu nữ bạo gan xin lĩnh ba chiêu của giáo chủ thay thế Khai-Quốc vương được chăng?

Quần hùng thấy một thiếu phụ trẻ, nhan sắc khuynh quốc, tiếng nói thanh tao, đòi lĩnh ba chưởng thay thế Khai-Quốc vương. Họ kinh tâm động phách.

Mọi người nghĩ thầm:

– Cô này đi cạnh Trần Tự-An, hẳn thuộc phái phái Đông-a. Dù võ công Đông-a thần diệu đến đâu, mà thân thể cô thế kia, e Nhật-Hồ chỉ cần thổi một cái, cũng bay xuống đài, chứ đừng nói lão phóng chưởng.

Nhật-Hồ lão nhân hỏi Đào Hà-Thanh:

– Tiểu cô nương. Cô nương có phải con cháu họ Lý chăng?

Hà-Thanh chỉ vào Trần Tự-An:

– Không! Tiểu nữ họ Đào, làm dâu họ Trần. Phu quân của tiểu nữ chính vị này.

Nhật-Hồ kinh hãi nghĩ:

– Dù ta làm giáo chủ, dù ta làm Hoàng-đế cũng không nên gây hấn với tên Trần Tự-An. Để rồi cả đời không yên với nó.

Nghĩ vậy lão nói:

– Trần phu nhân. Phu nhân không biết võ công, chịu sao được ba chưởng của lão phu? Phu nhân không nên dại dột như vậy.

Nhưng Đào Hà-Thành không lui, nàng tiến lên tát vào mặt Nhật-Hồ lão nhân. Nhật-Hồ lão nhân vốn người ác độc có một không hai trên thế gian. Lão giết người như chà chân vào ổ kiến. Nhưng lão được cái rất dịu dàng với phụ nữ. Lão nghĩ:

– Tên Tự-An thực số đỏ. Y kiếm đâu được con vợ đẹp như thế này? Ta được nàng tát vào mặt còn gì sướng bằng?

Lão để cho Hà-Thanh tát. Bốp một cái, lão cười:

– Thực hân hạnh.

Quần hùng thấy Hà-Thanh là vợ Tự-An, những tưởng võ công của nàng ít ra cũng bằng Thanh-Mai. Nào ngờ cái tát của nàng chứng tỏ nàng không biết chút võ nghệ nào.

Đào Hà-Thanh tát liền hai cái nữa. Nhật-Hồ lão nhân thủy chung vẫn không đỡ, lão vuốt râu cười:

– Đa tạ phu nhân.

Đào Hà-Thanh cười:

– Giáo chủ, tiểu nữ đã thay Khai-Quốc vương, chiết với giáo chủ ba chiêu rồi. Như vậy giáo chủ rút lui đi chứ?

Nhật-Hồ lão nhân cười ha hả:

– Lão phu thách là thách họ Lý, chứ không phải thách các vị. Nào ngờ trong họ Lý không ai có can đảm chịu nổi ba chưởng của lão phu, còn mong gì làm vua nữa?

Khai-Quốc vương cảm động chắp tay hướng Trần Tự-An, Hồng-Sơn đại phu:

– Đa tạ tiền bối cùng phu nhân. Giáo chủ thách họ Lý tại hạ. Thành ra uổng công các vị chiếu cố.

Phò mã Đào Cam-Mộc bước lên đài:

– Giáo chủ! Tiểu bối phò mã Đào-cam-Mộc, xin được lĩnh ba chiêu của giáo chủ.

Nhật-Hồ cười ha hả:

– Đào phò mã, người họ Đào, chứ có phải họ Lý đâu? Trời ơi, không còn ai giám lĩnh ba chưởng của lão phu. Chán thực.

Mỹ-Linh rẽ mọi người bước tới trước mặt Nhật-Hồ:

– Giáo chủ. Tiểu nữ xin lĩnh ba chiêu của giáo chủ.

Trần Tự-An nhìn Mỹ-Linh nghĩ thầm:

– Mỹ-Linh kiếm pháp thần thông, không biết có chịu nổi ba chiêu của lão ma đầu này không?

Ông dắt Đào Hà-Thanh bước xuống đài cùng mọi người.

Tự-Mai lo nghĩ cho Mỹ-Linh, nó nói với Nhật-Hồ:

– Giáo chủ! Giáo chủ nhớ giữ lời hứa, chỉ ba chiêu thôi nhé. Tại hạ xin đứng đây đếm.

Nhật-Hồ lão nhân vuốt râu cười nhạt:

– Lão phu lớn tuổi hơn công chúa, xin nhường công chúa ra tay trước.

Mỹ-Linh biết trận đấu này cực kỳ quan trọng. Nếu nàng thua, e Hồng-thiết giáo sẽ còn gây nhiều rắc rối. Cuối cùng, võ lâm phải một phen đổ máu. Tinh lực Đại-Việt do đó mất đi rất nhiều. Vì vậy nàng không nhân nhượng, tay rút kiếm tung ra chiêu số rất ảo diệu. Kiếm đưa thẳng vào cổ Nhật-Hồ lão nhân. Lão né sang trái tránh, kiếm co lại như con rắn, bật sang phải, đúng giữa ngực lão.

Kinh hoàng, lão lộn đi một vòng tránh thế kiếm hiểm ác. Chân lão vừa chạm đài, kiếm Mỹ-Linh theo như hình với bóng đã tơí sát vào ngực trái lão, ngay giữa tim. Lão không còn tránh kịp, đưa tay kẹp kiếm của Mỹ-Linh. Mỹ-Linh đã bỏ ra ngoài sống chết, nàng hạ kiếm xuống một chút, kiếm chạm vào da bụng lão. Lão nhảy vọt lên cao.

Không nhân nhượng, Mỹ-Linh vọt theo. Còn ở trên không nàng quay kiếm liền ba vòng. Kiếm trúng giữa ngực lão đến choang một tiếng. Lão đá gió một cái, người bay khỏi đài, rơi xuống đất.

Thì ra Mỹ-Linh đâm trúng cái bình bằng đồng đựng thuốc trước ngực lão.

Từ-Lúc Mỹ-Linh với lão ra chiêu, quần hùng đều nín thở. Chiêu số của Mỹ-Linh cực kỳ thần tốc, mà thân pháp của lão cũng thần tốc không kém. Bây giờ mọi người mới có dịp hoan hô.

Trong khi đó Tự-Mai đã đếm được mười lăm chiêu. Nó nói lớn:

– Giáo chủ thua rồi. Chị Mỹ-Linh thắng. Mười lăm chiêu rồi.

Nhưng Nhật-Hồ lão nhân mặt lầm lỳ. Từ dưới đài, lão vọt lên cao. Trong khi còn ở trên không, lão xuất chưởng hướng Mỹ-Linh. Chưởng phong có mùi tanh hôi khủng khiếp, bao trùm khắp đài. Mỹ-Linh quay kiếm một vòng cắt ngang chưởng của lão, rồi đẩy về trước. Đây là chiêu kiếm rất ảo diệu. Hơn nghìn năm trước Vạn-Tín hầu cầm quân đánh Hung-Nô, trong khi tuyết rơi, ngài đã chế ra chiêu này, để tuyết không tới mình được. Thành ra khi Nhật-Hồ lão nhân tới đài, Mỹ-Linh vẫn vô sự, mà kiếm đẩy vào giữa ngực lão.

Nhật-Hồ lão nhân kinh ngạc đến đờ người ra. Lão vỗ tay vào ngực một cái, rồi nhảy vọt lên cao. Lập tực cái bình trước ngực lão phun ra một luồng khói đen. Các tôn sư võ học cùng kêu lớn:

– Độc khí Xích Trà-Luyện.

Rồi nhảy khỏi đài. Trên đài Mỹ-Linh bị bao trùm trong làn khói, người nàng lảo đảo, chân tay tê liệt, kiếm rơi xuống đến choang một tiếng.

Nhật-Hồ lão nhân bất chấp đạo lý. Lão phóng một chưởng, định kết thúc tính mạng nàng.

Đến lúc này, Thiệu-Thái không đừng được nữa. Chàng phát chiêu Lâm-trung kiến ngưu, trong Mục-ngưu Thiền-chưởng mà Bố-Đại hoà thượng dạy chàng. Trái với chưởng của Nhật-Hồ, nặng nề, dũng mãnh. Chiêu Lâm trung kiến ngưu như có, như không, giống trận gió xuân thổi qua. Vù một tiếng, chưởng của Nhật-Hồ mất tăm mất tích.

Thiệu-Thái chụp Mỹ-Linh tung cho Thanh-Mai, đang đứng gần đài.

Trời sinh ra Thiệu-Thái, tính tình hiền hoà, nói năng cẩn trọng. Chàng cực kỳ có hiếu, lại tôn kính ông ngoại với cậu hai như thánh. Bây giờ thấy Hồng-thiềt giáo cứ gọi tên tục ông ngoại ra trước quảng trường, rồi đòi hết điều kiện này đến điều kiện kia. Cuối cùng Nhật-Hồ lão nhân định giết Mỹ-Linh, dù hiền đến đâu chàng cũng không chịu nổi.

Nhật-Hồ lão nhân tưởng đánh một chưởng như trời long đất lở, kết thúc tính mạng Mỹ-Linh. Nào ngờ đâu, Thiệu-Thái xuất một chưởng rất lạ lùng, lão chưa hề thấy qua, làm chưởng lực của lão mất tăm, mất tích.

Lão kinh ngạc đến đờ người ra:

– Thằng con lợn này, lúc nãy biết xử dụng phương pháp hoá giải Chu-sa độc chưởng bằng một thứ nội lực phảng phất giống Thiền-công Tiêu-sơn. Bây giờ xử dụng một chiêu chưởng, hơi giống Phục-ngưu thần chưởng. Nhưng trong một chiêu bao gồm chiêu Ác-ngưu nan độ đương cương, thêm chiêu Thanh-ngưu nhập điền âm nhu, lại có chiêu Ngưu-thực ư dã, nửa nhu nửa cương.

Nghĩ vậy lão quát lớn:

– Khá lắm. Thân thế-tử, võ công mà Thế-tử vừa dùng tên gì vậy?

Câu hỏi của lão, cũng là câu hỏi của tất cả các đại tôn sư, Đại-Việt ngũ long. Ai cũng thấy rõ ràng nội lực của chàng giống nội lực Tiêu-sơn, còn chiêu số hao hao Phục-ngưu thần chưởng, nhưng trong một chiêu bao gồm đến ba kình lực cương, nhu, hỗn hợp khác nhau.

Chỉ có Trần Tự-An, ông không ngạc nhiên, vì ông đã biết Thiệu-Thái được Bồ-tát Sùng Phạm truyền cho một trăm năm công lực, cùng những kỳ duyên khác mà chàng gặp được.

Thiệu-Thái còn đang chần chờ, có tiếng Khai-Quốc vương dùng Lăng-không truyền ngữ ra lệnh:

– Thiệu-Thái, nghe cậu dạy. Cháu phải dùng hết khả năng đánh bại Nhật-Hồ lão nhân ngay. Bằng không sẽ có cuộc đổ máu lớn.

Nghe cậu hai ra lệnh, Thiệu-Thái tiến lên đáp câu hỏi của Nhật-Hồ lão nhân:

– Thưa giáo chủ, võ công mà tiểu bối xử dụng do sư phụ tiểu bối mới sáng chế ra tên gọi Mục-ngưu Thiền-chưởng. Mục-ngưu Thiền-chưởng có mười chiêu, mỗi chiêu bao gồm ba chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Có thể cả ba chiêu âm nhu, có thể cả ba chiêu dương-cương, có thể một chiêu âm, hai chiêu dương. Như vậy thành một trăm hai mươi chiêu. Mà trong Phục-ngưu có tới ba mươi sáu chiêu, biến hoá thành ra bốn nghìn ba trăm hai mươi chiêu.

– Không biết Thế-tử học võ với cao nhân nào vậy? Lão phu thấy dường như nội lực của Thế-tử hơi giống Sùng Phạm. Phải chăng Thế-tử học với Sùng Phạm ?

– Tiểu bối có duyên gặp Bồ-tát Sùng Phạm, mà không được người thu làm đệ tử. Nhưng nội lực của tiểu bối chính ngài ban cho. Còn Mục-ngưu Thiền-chưởng do một cao tăng chế ra, rồi dạy tiểu bối. Người cũng không thu tiểu bối làm đệ tử. Về danh tính của người, người bảo chả là cái đếch gì.

Nguyên hôm Bố-Đại dậy Mục-ngưu Thiền-chưởng cho Thiệu-Thái. Thiệu-Thái hỏi:

– Nếu sau này có người hỏi đệ tử rằng pho võ công này ai dạy cho, đệ tử có thể khai rằng Bồ-Tát dạy không?

Bố-Đại đáp:

– Ta chả là cái đếch gì cả. Ta chỉ hợp những gì Vạn-Tín hầu làm, Tăng-giả Nan-đà làm, Bắc-Bình vương làm, Yên-lãng công chúa làm mà thôi.

Nói rồi ngài nhập tĩnh. Vì vậy hôm nay chàng nhắc lại lời Bố-Đại. Câu nói của chàng làm quảng trường ồ lên kinh ngạc. Nguyên người trong võ lâm trọng sư đạo vô cùng. Thế mà Thiệu-Thái bảo sư phụ chả là cái đếch gì cả ai mà không kinh ngạc? Chỉ những cao tăng phái Tiêu-sơn nghe chàng nói, họ biết ngay người dạy Thiệu-Thái là Bố-Đại hoà thượng.

Trả lời xong, chàng vận đủ mười thành công lực phát chiêu Lâm-trung kiến ngưu, chàng vận thuần dương, thành ra cả ba chiêu Tứ-ngưu phân thi, Ngưu-tẩu như phi, Ác-ngưu nan độ cùng phát ra một lúc. Kình lực mạnh muốn long trời lở đất. Áp lực khiến nhiều cao nhân phải nhảy khỏi đài. Nhật-Hồ lão nhân vận Chu-sa chưởng đỡ. Ầm một tiếng. Cả hai cùng lảo đảo lùi lại. Mặt Nhật-Hồ lão nhân đỏ lên như gấc. Râu tóc lão dựng đứng dậy, trông thực khủng khiếp. Mặt Thiệu-Thái biến ra trắng bệch.

Nhật-Hồ lão nhân kinh hãi, nghĩ thầm:

– Trong đời ta, ta đã thắng khắp anh hùng Hoa-Việt. Trước đây chỉ có lão thầy chùa Vạn-Hạnh, Bố-Đại, Sùng-Phạm có thể đỡ được chưởng của ta mà thôi. Nhưng nay những lão thầy chùa đó đều hoá ra tro bụi cả rồi. Hơn nữa sau hai mươi năm ở tù luyện công, công lực ta cao biết bao. Ví dù bọn Vạn-Hạnh có còn sống, chưa chắc đã đỡ nổi chiêu của ta. Mà thằng con lợn này coi bộ nó không hề hấn gì.

Nghĩ vậy lão vận một Chu-sa độc chưởng với tất cả bình sinh công lực đẩy ra. Thiệu-Thái phát chiêu Nhân-ngưu câu vong, thuần âm. Vù một tiếng, chưởng của Nhật-Hồ mất tăm mất tích. Lão lảo đảo lùi lại. Thiệu-Thái không nhân nhượng, chàng phát chiêu Kị-ngưu qui gia.

Hai người quấn lấy nhau, chưởng phong ào ào tuôn ra. Sự thực với một trăm năm công lực của Bồ-tát Sùng Phạm, sau này trong khi trị bệnh cho Thanh-Mai, Thiệu-Thái lại thu được một số nội lực nữa, công lực chàng cao hơn Nhật-Hồ lão nhân nhiều. Nhưng chàng vừa luyện Mục-ngưu Thiền-chưởng, đây là lần xử dụng đầu tiên, nên còn bỡ ngỡ.

Đấu được trên trăm chiêu, Thiệu-Thái đã có kinh nghiệm rồi. Cứ mười chiêu chàng phản công được năm sáu. Càng đấu, chàng càng chiếm được thượng phong. Tuy nhiên Nhật-Hồ lão nhân, một bác học hiếm có trong võ lâm, lão lại thừa kinh nghiệm, nên chàng không thắng nổi.

Bỗng lão đánh ra chiêu hết sức thô kệch, Thiệu-Thái đẩy ra một chưởng đỡ. Bộp, hai chưởng dính chặt nhau. Thế là cuộc đấu trở thành đấu nội lực.

Các đại tôn sư, chưởng môn nhân đều kinh hãi lo cho Thiệu-Thái, vì họ nghĩ rằng chàng còn trẻ, công lực khó có thể so được với Nhật-Hồ lão nhân. Hơn nữa, thần công Hồng-thiết của lão cực mạnh. Chỉ cần chạm vào tay lão, sẽ trúng độc chết liền.

Hai bên đấu trong khoảng thời gian ăn một bữa cơm, trên đầu Thiệu-Thái bốc lên một luồng khỏi trắng. Còn trên đầu Nhật-Hồ bốc lên một luồng khói đen.

Thiệu-Thái nhớ lời Khai-Quốc vương dặn, cần phải hạ lão, mới mong bảo toàn được điạ vị cho ông ngoại. Chàng vận hết công lực ra. Nhưng vô ích.

Thấy Thiền-công không hạ được lão, chàng vận Chu-sa độc chưởng ra lẫn với Thiền-công. Nhưng vẫn vô hiệu.

Lát sau, thình lình Thiệu-Thái lui lại một bước. Mọi người đều kinh ngạc.

Nguyên công lực của Thiệu-Thái là Thiền-công, lấy chữ không làm căn bản. Tứ đại giai không. Trong khi chàng lại vận hết công lực mong tiêu diệt đối thủ, thành ra tứ đại giai hữu. Lại nữa Thiền-công thuộc công lực nhà Phật, chàng lại vận thên Chu-sa độc, một thứ công lực ma quái, thành ra chính chàng làm giảm Phật tính trong người chàng vậy. Vì công lực giảm đi, chàng mới bị Nhật-Hồ đẩy lui một bước.

Không ai hiểu nguyên do nào cả. Chỉ duy Minh-Không thiền sư biết rõ. Ngài vẫy tay gọi Mỹ-Linh lại gần:

– Công chúa. Công chúa tụng cho Thế-tử một bài kinh Bát-nhã.

Minh-Không là sư phụ của Khai-Thiên vương, tức thái sư phụ của Mỹ-Linh. Vì vậy khi nghe ngài dạy. Nàng không chần chờ, đến gần Thiệu-Thái, cất tiếng đọc:

Quán-tự-tại Bồ-tát,
Hành thâm Bát-nha Ba-la mật đa thời,
Chiếu kiến ngũ uẩn giai không,
Độ nhất thiết khổ ách….

…..

Sắc bất dị không, không bất dị sắc.
Sắc tất thị không, không tất thị sắc,
Thụ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị…

Bát-nhã, một bài kinh ngắn, bất cứ người theo đạo Phật nào cũng biết. Quảng trường quần hùng thấy Mỹ-Linh tụng kinh Bát-nhã họ cho rằng nàng lo sợ dùm Thiệu-Thái, đọc kinh để đức Phật che chở. Tiếng nàng trong trẻo, ngọt ngào vang đi rất xa. Ai ai cũng nghe rõ.

Thiệu-Thái đang lâm nguy, nghe tiếng Mỹ-Linh tụng kinh Bát-nhã, chàng tỉnh ngộ:

– Mình chết thực. Hôm tước Bố-Đại hoà thượng giảng rằng, khi phát lực phải bỏ lục tặc ra ngoài, mà bây giờ mình lại muốn giết lão. Trong Phật pháp, khi giận hờn làm ma tính, quỉ tính hiện, quỷ A-tu-la nhập vào người ắt Thiền-công giảm là phải.

Thế rồi chàng bỏ ra ngoài nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý. Tức lục căn biến đi, con người trở thành chân không như Quán-tự-tại Bồ-tát nhập thiền rất sâu khi xưa. Vì vậy Thiền công của chàng trở thành mạnh vô cùng. Chàng nhập tĩnh thực sâu, không còn nghe tiếng Mỹ-Linh tụng kinh. Cũng không còn thấy gì nữa.

Về phía Nhật-Hồ lão nhân, lão tưởng đàn áp được Thiệu-Thái trong chốc lát. Không ngờ Mỹ-Linh tụng kinh Bát-nhã, công lực Thiệu-Thái trở thành mạnh vô cùng. Trong khi đó công lực của lão là thứ công lực ma quái. Mỗi câu kinh lọt vào tai lão, ma tính từ từ giảm đi, công lực lão yếu dần.

Mỹ-Linh tụng hết bốn lần bài kinh Bát-nhã, Minh-Không thiền sư dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai nàng:

– Tụng bài chú kinh Thủ-lăng-nghiêm.

Mỹ-Linh hiểu ý thái sư phụ liền:

– Hiện giờ anh Thiệu-Thái nhập tĩnh đâu còn biết gì? Thái sư phụ bảo ta tụng kinh Thủ-lăng-nghiêm, mục đích cho Nhật-Hồ lão nhân nghe đây. Vì kinh Thủ-lăng-nghiêm là kinh để hàng phục ma quái. À phải rồi, ngày xưa ngài A-Nan bị nàng Ma-đăng-Già dùng chú Tiên-phạm-thiên làm cho gần phá giới thể. Phật tổ phải sai đệ tử đi cứu. Sau đó ngài giảng kinh Thủ-lăng-nghiêm dạy cho đệ tử cách phá ma chướng, ma nghiệp. Nay Hồng-thiết giáo của Tây-dương quỷ truyền vào Đại-Việt, phải dùng chú Thủ-lăng-nghiêm mới mong phá bỏ ma tính, ma nghiệp trong người Nhật-Hồ lão nhâm, vì vậy thái sư phụ bảo ta tụng hầu giải ma nghiệp trong người lão.

Khi Mỹ-Linh tụng chú Thủ-lăng-nghiêm, lọt vào tai nhật-Hồ lão nhân. Lão cười thầm:

– Con nhỏ Mỹ-Linh đọc kinh để cầu cho thằng nhỏ này ư? Khó lắm!

Nhưng những câu mật chú lão không hiểu tý gì về ý nghĩa. Cứ mỗi câu Mỹ-Linh tụng, ma tướng, ma sắc, ma nghiệp trong người Nhật-Hồ giảm đi dần, công lực lão cũng giảm theo.

Lát sau lão phải lùi một bước.

Khi Mỹ-Linh tụng xong bốn trăm hai mươi bẩy câu, thì ma tướng trong người lão như bị biến đi mất hết. Lão bật lùi liền hai bước.

Đại hiệp Trần Tự-An nghĩ thầm:

– Tên đại ma đầu này thua đến nơi rồi. Ta sợ khi y thua, mấy ông hoà thượng lại tha cho lão, lão còn tác ác nhiều. Ta phải làm cách nào mượn tay Thiệu-Thái giết y đi mới được.

Ông dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai Thiệu-Thái:

– Buông lỏng chân khí ba kinh âm, để bảo vệ cơ thể, rồi dùng ba kinh dương đẩy chất độc trở lại người lão.

Ông nói đến đâu, Thiệu-Thái tòng tâm làm đến đấy. Nhật-Hồ lão nhân thấy tự nhiên công lực Thiệu-Thái yếu đi, lão mừng quá dồn chân khí sang thực mạnh. Có ngờ đâu chân khí lão vào người Thiệu-Thái, trong khi độc chất tụ ở tay lão. Đến khi Thiệu-Thái dùng ba kinh dương đẩy chất độc tấn công lão. Lão cảm thấy như ba mũi dùi đâm vào ngực. Phút chốc lão bật tung người lên cao, rồi rơi xuống đài.

Nhất-Trụ, Nguyễn Chí nhảy lên đài vung chưởng tấn công Thiệu-Thái cứu sư phụ. Thiệu-Thái vận chiêu Nhân-ngưu câu vong thuần dương. Bình một tiếng, cả hai người bay bổng ra xa, rơi trên đài, nằm bất động, không ai biết rõ họ chết hay sống.

Nhật-Hồ lão nhân nằm thẳng cẳng. Thiệu-Thái định chạy lại đỡ lão dậy, tiếng Khai-Quốc vương rót vào tai chàng:

– Cẩn thận! Y giả vờ đấy.

Thiệu-Thái tỉnh ngộ, chàng nói lớn:

– Đa ta giáo chủ nương tay. Giáo chủ dậy đi thôi. Thân phận giáo chủ lớn biết bao, mà giáo chủ lại phải giả chết?

Nhưng lão vẫn nằm im.

Bỗng có tiếng la hoảng của Mỹ-Linh. Thiệu-Thái nhìn lại, thì ra thuốc trấn thống của Hồng-Sơn đại phu hết hiệu lực, sư thái Tịnh-Tuệ đang nghiến răng vận công chống đau.

Thiệu-Thái không lý đến Nhật-Hồ lão nhân cùng Nhất-Trụ, Nguyễn Chí nữa. Chàng đến trước sư thái Tịnh-Tuệ, chắp tay hành lễ:

– Sư thái, đệ tử bạo gan, xin được hoá giải độc tố Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng cho sư thái.

Tịnh-Tuệ mỉm cười:

– Phúc đức quá.

Thiệu-Thái vung tay, phát một chưởng hướng huyệt Chí-dương của bà. Vèo một cái như cơn gió thoảng. Sư thái Tịnh-Tuệ rùng mình, mồ hôi bà thoát ra như tắm, mùi tanh hôi nồng nặc bốc lên, khiến mọi người buồn nôn.

Lát sau bà chắp tay hướng Thiệu-Thái:

– Đa tạ thí chủ.

Chàng lại trị cho đại sư Sùng-Văn chùa Sơn-Tĩnh.

Sư thái Tịnh-Tuệ bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng của mụ Hoàng Liên. Sùng-Văn bị trúng chưởng của Nguyên-Hạnh, quần hùng đều biết. Hồng-Sơn đại phu phóng Ma-túy hoàn giúp hai vị chống đau nhức. Nhưng cứ hơn giờ thuốc hết hiệu nghiệm, lại phải phóng tiếp. Bây giờ họ thấy Thiệu-Thái chỉ phát một chưởng hời hợt, mà giải được cho bà. Họ kinh ngạc tự hỏi:

– Chưởng này là chưởng gì, mà có thể trị được Chu-sa độc tố?

Hôm trước đây, giáo chúng Hồng-thiết đã nghe anh em Đỗ-xích Nhất-Bách khoe rằng họ được Thiệu-Thái hoá giải vĩnh viễn Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng cho. Họ biết, nhưng chưa hoàn toàn tin tưởng. Nay họ thấy thủ pháp của Thiệu-Thái, giống hệt thủ pháp trước đây của Nhật-Hồ đã từng trị cho giáo chúng, họ kinh ngạc hỏi nhau:

– Thiếu niên này tại sao lại biết Hồng-thiết mật công? Hơn nữa đánh bại giáo chủ. Theo luật Hồng-thiết, như vậy y ta đương nhiên thành giáo chủ.

Họ kéo đến trước đài, định quỳ gối khấu đầu trước Thiệu-Thái. Thình lình Nhật-Hồ kêu thét lên như con lợn bị chọc tiết. Mắt lão đỏ gay, râu tọc dựng đứng. Lão hét be be. Trong khi đó Vũ Nhất-Trụ, Nguyễn Chí cũng nhảy lên choi choi vì đau đớn. Ba thầy trò vừa hét, vừa nhảy, vừa lăn lộn.

Quần hùng đưa mắt nhìn Thiệu-Thái. Bang trưởng bang Hồng-hà hỏi:

– Thân thế-tử, phải chăng Thế-tử đã dùng Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng đánh Nhật-Hồ lão nhân và Vũ, Nguyễn trưởng lão?

Thiệu-Thái trả lời bằng cái lắc đầu. Chàng đưa mắt nhìn Trần Tự-An. Tự-An hướng vào Sử Anh:

– Sử bang chủ. Nhật-Hồ lão nhân cùng Vũ Nhất-Trụ, Nguyễn Chí dùng Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng hai Thân thế-tử. Trong khi hai bên giao đấu, tại hạ hướng dẫn Thân thế-tử phương pháp đẩy chất độc trở về cơ thể đối thủ. Vì vậy Nhật-Hồ, Nhất-Trụ, Nguyễn Chí tự đánh mình, chứ Thân thế-tử đâu có ý hại người?

Minh-Không thiền sư nói với Hồng-Sơn đại phu:

– Xin đại phu ban mấy viên ma túy hoàn, giải cái đau khổ cho Nhật-Hồ lão nhân cùng nhị vị trưởng lão.

Hồng-Sơn đại phu đưa mắt cho Thiếu-Mai. Thiếu-Mai vung tay một cái, ba viên thuốc bay ra. Một viên hướng Nhật-Hồ. Hai viên hướng Nhất-Trụ, Nguyễn Chí. Khi thuốc sắp tới người, thì vỡ tan thành đám bụi, chụp lên người họ. Khoảng nhai dập miếng trầu, cả ba thầy trò hết đau. Nhưng qua cơn lăn lộn, ba người mệt nhoài, họ ngồi im ở góc đài, vận công phục hồi chân khí.

Từ hồi Nhật-Hồ lão nhân mang Hồng-Thiết giáo vào Đại-Việt, giáo chúng bắt buộc phải coi lão như một nhân vật thần thánh. Một vài người tỏ ý không kính trọng lão, lập tức bị các vị trưởng lão giết chết, hoặc không cho thuốc giải hàng năm, cuối cùng đi đến cái chết thảm khốc. Khi Lê Ba giam lão vào hầm để khảo Hồng-thiết mật công, y tìm một người hơi giống lão, đánh thuốc độc cho chết, phao rằng lão chết, rồi làm lễ an táng thực lớn, xây lăng mộ lão, bắt giáo chúng mồng một, ngày rằm thờ cúng.

Bây giờ thình lình lão tái xuất hiện, dự đại hội võ lâm ở Hội-phụ. Chính mắt họ chứng kiến, cũng như nghe những điều dơ bẩn của các trưởng lão. Rồi các trưởng lão với giáo chủ tranh chấp nhau, chém giết nhau, họ đã nản đến tận xương, tận tủy. Rồi bây giờ lão bị một thanh niên trẻ đánh bại, cái thần tượng lão tiên, thánh biến mất.

Trong khoảnh khắc, người nọ truyền tai người kia rằng, Thiệu-Thái có bản lĩnh hoá giải độc chưởng vĩnh viển cao minh hơn Nhật-Hồ lão nhân nhiều. Không ai bảo ai, hơn năm nghìn giáo chúng cùng đến trước lễ đài quỳ mọp xuống, đồng hô lớn lên:

– Bọn thuộc hạ kính mừng tân giáo chủ.

– Tân giáo chủ muôn năm.

Có tên nói lớn:

– Muôn năm thế nào được, phải vạn vạn, ức ức năm mới đúng.

Có tên khác lại nỏi:

– Chúng ta mau mau đuổi lão Lý Công-Uẩn đi, tôn giáo chủ lên làm hoàng-đế Đại-Việt.

Khi nói xong câu này, y chợt nghĩ lai Thiệu-Thái là cháu ngọai Thuận-Thiên hoàng-đế. Y vội tát vào mịệng mình:

– Cái miệng này nói bậy! Cái miệng này nói láo.

Một giáo chúng khác chỉ Nhật-Hồ:

– Thằng già đầu gáo, râu cáo kia, có mau quỳ lạy tân giáo chủ không? Chậm trễ ta cho cỡi Ngũ-xa Hồng Xà

về với thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh ngay bây giờ.

Một nữ giáo chúng chỉ vào Nhật-Hồ:

– Giết quách lão đi cho rồi.

Một đoàn thiếu nữ Hồng-thiết, tuổi trẻ, xinh đẹp, đến quỳ trước Thiệu-Thái:

– Khải tấu giáo chủ. Bọn đệ tử nguyện làm cây thuốc cho giáo chủ luyện thần công.

Anh em Đỗ-xích Nhất-Bách, Nhị-Bách, Tam-Bách cùng lên đài. Ba người hướng vào quần hùng hành lễ, rồi nói với giáo chúng:

– Xin anh chị em nghe đây.

Mọi người im phăng phắc. Nhất-Bách nói:

– Tất cả chúng ta đều bị trúng Chu-sa độc chưởng hết. Nay Thân thế-tử luyện được Hồng-thiết mật công, có thể giải độc cho chúng ta. Chính ba anh em tôi đã được người giải chất độc Chu-sa cho hôm qua. Vậy tôi đề nghị chúng ta tôn Thân thế-tử làm giáo chủ.

Lập tức hơn năm nghìn người cùng hoan hô vang dậy trời đất, rồi quỳ xuống.

Nhất-Bách hô:

– Bọn đệ tử kính cẩn ra mắt tân giáo chủ.

Diễn biến xẩy ra, Thiệu-Thái chưa biết giải quyết sao, có tiếng Khai-Quốc vương nói bằng Lăng-không truyền ngữ:

– Hãy nhận chức giáo chủ. Sau đó chữa trị mọi người. Có gì khó khăn, Bảo-Hoà sẽ giúp cho.

Thiệu-Thái dơ tay ra hiệu cho giáo chúng im lặng, rồi chàng nói lớn:

– Nếu anh em giáo chúng muốn tôi nhận chức giáo chủ, phải tuyệt đối tuân mạng lệnh tôi. Còn không, tôi bỏ mặc.

Đám giáo chúng cùng quỳ gối:

– Bọn đệ tử tuyệt đối tuân lệnh giáo chủ.

Thiệu-Thái chỉ vào Bảo-Hoà:

– Đây là em gái của bản nhân. Mới đây đánh bại trưởng lão Phạm Hổ, Phạm Trạch. Bản nhân phong làm Tả sứ giả trong hội đồng giáo vụ trung ương.

Có tiếng Khai-Quốc vương rót vào tai:

– Mời Thanh-Mai làm hữu sứ giả Hồng-thiết.

Chàng chỉ vào Thanh-Mai:

– Đây, Trần sư tỷ! Trần sư tỷ làm Hữu sứ giả bản giáo.

Đám giáo chúng thấy Thanh-Mai võ công cao cường, lại xinh đẹp. Hơn nữa nàng là con gái chưởng môn phái Đông-a, một danh môn chính phái. Nay làm Hữu sứ giả còn gì bằng. Họ hoan hô vang trời đất.

Thiệu-Thái chỉ vào anh em Nhất-Bách:

– Ba vị này đã có công trấn ngự biên cương của bản giáo, võ công cao cường. Bản nhân cũng phong làm trưởng lão. Nhưng vì cái tên Đỗ-xích kinh tởm quá, không nên giữ lại. Nhân hôm nay ngày giỗ Bắc-bình vương, ngài họ Đào, vậy đổi họ Đỗ của ba vị thành họ Đào. Từ nay tên ba vị thành Đào Nhất-Bách, Nhị-Bách, Tam-Bách.

Chàng ngừng lại nhìn Bảo-Hòa:

– Mời nữ Tả sứ đặc trách kế hoạch ra ban bố chương trình hoạt động của bản giáo.

Bảo-Hòa bước ra nói:

– Việc cải cách đầu tiên của bản giáo gồm năm điểm. Ai không tuân theo, sẽ không được giải độc chưởng.

Giáo chúng im lặng, lắng tai nghe. Bảo-Hoà tiếp:

– Tổ đầu tiên của giòng Hoa-Việt là vua Thần-Nông. Sau này Quốc-tổ, Quốc mẫu mới lập ra nước Văn-lang, để phân biệt với Trung-Quốc. Trung-Quốc thờ vua Hoàng-Đế làm quốc tổ. Hoàng-Đế, Lạc-Long quân là tổ về chính trị. Còn Thần-Nông là tổ về huyết tộc. Chúng ta vốn con rồng, cháu tiên, không thể thờ thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh. Chúng ta thờ hai thánh này, e không thể nào thu phục được nhân tâm. Vì Mã-Mặc, Lệ-Anh bản chất điên khùng. Trong lúc điên khùng, viết ra bộ Hồng-thiết kinh, gây cảnh núi xương, sông máu bao đời!

Ngừng một lát nàng tiếp:

– Nếu nay không thờ Mã-Mặc, Lệ-Anh, mà thờ Phật, ắt những người theo Nho, theo Lão cũng sẽ chống. Ngược lại thờ Lão-tử ắt những người theo Phật, theo Nho chống. Việc đầu tiên muốn thống nhất nhân tâm, kể từ nay, chúng ta không xưng Hồng-thiết giáo nữa, mà cải thành Lạc-long giáo. Lạc-long giáo không thờ thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh, mà thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu cùng các vị anh hùng, tiên hiền Đại-Việt. Tuy nhiên giáo chúng muốn theo đạo Phật, Đạo-Nho, Đạo-lão cũng không cấm. Nhưng phải thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu, cùng anh hùng dân tộc.

Giáo chúng hô lớn:

– Đại-Việt muôn năm. Quốc-tổ, Quốc-mẫu muôn năm.

– Điều thứ nhì, bản giáo chủ trương bênh kẻ khó, diệt kẻ ác. Cứu người nguy, giúp người nghèo. Ai cũng phải làm mới có ăn. Những kẻ lười biếng đều kết tội.

Giáo chúng hoa hô nhiệt liệt. Đợi cho tiếng hoan hô dứt, Bảo-Hoà tiếp:

– Điều thứ ba, bản giáo chủ trương đứng hẳn ra ngoài cuộc tranh chấp ngôi vua Đại-Việt. Sẵn sàng phục tùng các vị hoàng đế nhân từ, thương dân. Sẵn sàng diệt trừ các hoàng đế hôn ám, ác độc, làm cho dân khốn khổ.

Giáo chúng lại hoan hô nhiệt liệt.

– Điều thứ tư …

Bảo-Hoà chưa kịp nói, Nhật-Hồ, Vũ Nhất-Trụ, Đỗ Xích-Thập, Nguyễn Chí hét lên lanh lảnh, lăn lộn tỏ vẻ đau đớn khổ sở vô cùng.

Vũ Nhất-Trụ hét lớn:

– Ối chết! Đau chết đi. Giết ta đi, giết ta đi.

Nhật-Hồ lão nhân thở hồng hộc như con trâu, miệng la bai bải. Còn bọn Đỗ Xích-Thập chạy quanh đài miệng hú như vượn.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103136
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49576 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Postby DaMinhChau » November 13th, 2017, 1:42 pm


Hồi thứ sáu mươi tám

Lấy Chết Rửa Tội




Minh-Không thiền sư nói với Hồng-Sơn đại phu:

– Xin đại phu lại ra tay cứu họ một phen nữa. Họ đau đớn quá, hoá khùng, hóa điên rồi.

Hồng-Sơn đại phu vung tay, bốn viên thuốc bắn vào mình thầy trò Nhật-Hồ. Họ rùng mình một cái, không kêu gào nữa, ngồi xuống góc đài vận công chống đau.

Bảo-Hòa tiếp:

– Điều thứ tư, Lạc-long giáo chủ trương kết thân hết với tất cả các võ phái, xóa bỏ mọi hận thù cũ cũng như mới. Nếu như giáo chúng trong quá khứ có gây thù hận với ai, giáo chủ cùng hội đồng trung ương giáo vụ sẽ tìm đủ mọi phương cách xin lỗi, bồi thường, để đi đến giao hảo tốt đẹp.

Từ mấy chục năm nay, Hồng-thiết giáo như bóng ma, bóng quỷ, gây ra không biết bao nhiêu tang tóc đau khổ cho dân. Gây lên những trận phong ba với võ lâm. Những bang, những trang, những động nhỏ bị giáo chúng Hồng-thiết gây hấn, đành ngậm tăm ấm ức.

Trong các đại môn phái, chỉ Tiêu-sơn, Tây-vu có hệ thống kiểm soát rất gắt gao mới thoát khỏi bàn tay của họ mà thôi. Còn các môn phái khác, không ít thì nhiều, đều bị Hồng-thiết giáo gây hấn. Như phái Đông-a, người nhiều, thế mạnh, thế mà Nhật-Hồ lão nhân cũng cho Đặng Trường tiềm ẩn ở trong, bắt giam Cao Huyền-Nga làm cây thuốc cho các trưởng lão luyện công. Họ bắt giam bà còn nhằm mục đích sau này khống chế Trần Tự-An. Nếu ông tuân theo mạng lệnh Hồng-thiết thì thôi, bằng không họ sẽ làm vỡ lở vụ vợ làm cây thuốc ra, ắt thân bại danh liệt ngay.

Phái Sài-sơn còn đau hơn nữa, Lê Ba làm thái thượng chưởng môn, lại đóng vai thứ nhì trong Hồng-thiết giáo. Y giam Vũ Thiếu-Nhung, với mục đích như bắt Cao Huyền-Nga. Phái Tản-viên, Mê-linh họ gây ra vụ Đỗ Xích-Thập, Hoàng Liên.

Trong triều đình, Nhật-Hồ lão nhân cài Vũ Nhất-Trụ vào. Y leo lên đến địa vị tể thần. Có thời y làm tới Thái-úy phụ quốc, coi toàn bộ binh lực trong tay, kiêm quản Khu-mật-viện một cơ quan an ninh tối cao. Trong năm con y, hết bốn lĩnh chức trọng trấn bên ngoài. Ở nội cung, con gái làm đến Tây-cung quý phi. Vũ Nhất trụ còn cho bắt Vương-phi của Khai-Thiên vương. Họ cài Hoàng Văn vào phủ Khai-Thiên. Đông-Chinh vương làm lại bộ thượng thư, Vương-phi cũng bị bắt làm cây thuốc, để sau này kiềm chế Vương.

Bây giờ quần hùng nghe Bảo-Hoà tuyên bố chấm dứt tình trạng gây hấn, cũng như hoà giải, xin lỗi, bồi thường cho các nạn nhân, họ như trút được một gánh nặng. Họ vỗ tay hoan hô hết tràng này đến tràng khác.

Bảo-Hoà chờ cho tiếng hoan hô giảm, nàng tiếp:

– Điều thứ năm, Về võ công. Giáo chúng nguyên thuộc phái nào, vẫn tiếp tục luyện võ công phái đó. Bản giáo khuyến khích các võ phái gửi đệ tử nhập giáo, để chăm lo việc nước. Tuy nhiên bản giáo lấy bộ Lĩnh-Nam vũ kinh thời vua Trưng làm võ công trấn môn. Đệ tử nào muốn luyện, sẽ được chỉ dạy.

Các phái võ gốc Việt từ hải ngoại về đây dự lễ, hầu hết chỉ với mục đích tìm tông tích bộ Lĩnh-Nam vũ kinh. Nay thấy Bảo-Hòa tuyên bố sẽ đem bộ Lĩnh-Nam vũ kinh ra giảng dạy cho giáo chúng, họ nghĩ thầm:

– Thế tại sao mình không cho đệ tử nhập giáo Lạc-long để được luyện Lĩnh-Nam vũ kinh?

– Điều thứ sáu, bản giáo lấy bảo quốc, hòa dân làm cương yếu hoạt động. Việc giữ gìn xã tắc chống ngoại xâm, cùng giữ an ninh trong nước làm nhiệm vụ của toàn thể con dân Đại-Việt, chứ không phải của triều đình. Các cơ sở bản giáo tại hương thôn đảm trách việc huấn luyện tráng đinh, canh phòng trộm cướp, cứu giúp người khốn nguy. Khi quốc gia hữu sự phải xung quân bảo quốc. Có như vậy ngân khố quốc gia mới không tốn tiền nuôi quân nhiều, dĩ nhiên triều đình sẽ giảm thuế cho dân.

Bảo-Hoà vừa dứt, chính Thuận-Thiên hoàng-đế vỗ tay đầu tiên, rồi đến anh hùng các nơi.

Bảo-Hoà đợi cho tiếng ồn ào giảm, nàng tiếp:

– Điều thứ bẩy, Lạc-long giáo chủ trương hoà hoãn với Trung-quốc. Trong quá khứ Hồng-thiết giáo đi đến đâu đánh đuổi Hoa-kiều thực khốn khổ. Dù tình người với nhau cũng không nên. Huống hồ tộc Hán, tộc Việt vốn gốc từ vua Phục-Hy, Thần-Nông. Về tộc Việt, bản giáo nối liền tình huynh đệ giữa các nước, nguyên thuộc giòng Bách-Việt, để đi đến thống nhất. Đại-Việt, Mân-Việt, Đại-lý, Chiêm-thành, Lão-qua, Chân-lạp, Xiêm-la, bẩy nước, như một. Ranh giới có thể phân, nhưng tình thương yêu huyết tộc không thể chia cắt. Mọi phân chia tình thương yêu tộc Việt đều đáng kết tội.

Thiệu-Thái tiếp:

– Cương yếu của bản giáo có bẩy điều. Bất cứ ai, không kể nam, nữ, già trẻ, thuộc giòng Bách-Việt đều có thể gia nhập Lạc-long giáo. Như giáo chúng Hồng-thiết cũ, thấy chủ trương của bản giáo có điều không hợp, toàn quyền rút ra. Bản giáo không cấm.

Đến đó có tiếng rên la trong hàng giáo chúng, thì ra hai vị đạo trưởng quản giáo bị Chu-sa độc hành hạ, đang nghiến răng vận công chống trả. Đào Nhất-Bách kính cẩn nói với Thiệu-Thái:

– Trình giáo chủ, xin giáo chủ cứu trị cho hai anh em đạo-trưởng.

Hai đạo trưởng đã được đưa lên đài. Một người đang ôm đầu nghiến răng rên siết. Một người đang ôm hai bàn tay sưng lớn đỏ hỏn. Hai tay run run, mồ hôi vã ra, tỏ vẻ đau đớn cùng cực. Bằng cử chỉ nhu nhã, Thanh-Mai, Bảo-Hòa đỡ họ ngồi trước bàn thờ. Thanh-Mai hỏi:

– Hai vị huynh đệ hiện quản đạo nào trong bản giáo?

Người nhức đầu nói:

– Thưa sứ giả, tiểu nhân tên Chung Hoa quản đạo Mê-linh. Còn sư đệ đây tên Lê Cường quản đạo Ba-vì.

Thiệu-Thái vung tay phát chưởng nhẹ nhàng như gió thoảng vào đầu Chung Hoa. Lập tức y rùng mình một cái, rồi ngồi im. Thiệu-Thái lại cầm lấy hai tay Lê Cường, chàng vận công truyền chân khí sang. Bàn tay Lê Cường đang đỏ hỏn, từ từ trở lại bình thường.

Khoảng nhai dập miếng trầu, Chung Hoa, Lê Cường cùng hướng vào Thiệu-Thái rập đầu:

– Đa tạ giáo chủ cứu mạng.

Hàng vạn giáo chúng đến trước đài, quỳ gối:

– Xin giáo chủ cứu trị cho thuộc hạ.

– Mong ơn giáo chủ giải ách cho thuộc hạ.

– Đệ tử cầu mong giao chủ ra tay thần thánh.

Thiệu-Thái hướng vào các trưởng lão, giáo chúng:

– Bản nhân may học được Hồng-thiết thần công, có thể giải Chu-sa độc chưởng cho bất cứ ai. Vậy anh em giáo chúng hãy về chỗ, trước sau đều được trị.

Chàng hướng vào Nhật-Hồ:

– Riêng về Nhật-Hồ lão gia cùng các trưởng lão Vũ Nhất-Trụ, Đỗ Xích-Thập, Nguyễn Chí, bản nhân không thể trị được. Bởi nếu chỉ đẩy Chu-sa độc chưởng ra, thì Hồng-thiết công có khả năng. Nay bốn vị dùng độc chưởng đánh người, rồi người dẩy ngược trở về, bản nhân không biết cách trị. Tại sao? Vì Hồng-thiết nội lực bị pha lẫn với nội lực người khác, hoá cho nên chất độc biến đổi đi nhiều.

Chàng chỉ vào Đỗ Xích-Thập:

– Đỗ trưởng lão dùng độc chưởng đánh Côi-sơn đại hiệp. Côi-sơn đại hiệp dùng nội lực Đông-a đẩy trở về người Đỗ trưởng lão. Hóa cho nên Nhật-Hồ lão gia đã dùng Hồng-thiết thần công cứu trị, mà bệnh thêm nặng ra.

Chàng nhìn ông ngoại, rồi tiếp:

– Bản giáo tuy xóa bỏ hận thù, nhưng chỉ trong bản giáo. Bản giáo không phải Đại-Việt. Bản giáo chủ trương tuyệt đối tuân theo phép nước. Những ai mang tội với Đại-Việt, cần phải được triều đình ân xá, bản nhân mới dám giải ách cho.

Đến đó Thuận-Thiên hoàng-đế đứng dậy, ngài vận nội lực nói lớn:

– Lý-công-Uẩn, đệ tử phái Tiêu-sơn, được anh hùng các phương tín nhiệm, tôn lên ngôi vua, hầu lo cho trăm họ Đại-Việt. Mới đây lại được Hồng-Sơn đại phu, nguyên là Nam-quốc vương, truyền nhân của vua Lê trao thêm nhiều trọng trách. Bây giờ tại hạ xin tuyên bố đức trạch của đại phu trước anh hùng thiên hạ. Đức trạch của đại phu gồm năm điều.

Ngừng lại một lát, ngài tiếp:

– Điều thứ nhất, kể từ giờ phút này, đại xá thiên hạ. Đại xá có ba phần. Phần thứ nhất đại xá hình phạt. Bất cứ ai phạm tội gì, đang ở tù, hoặc đang trong vòng điều tra thụ án, đều được ân xá. Phần thứ nhì, đại xá thuế. Bất cứ con dân Đại-Việt nào còn thiếu thuế những năm về trước, đều được ân xá. Phần thứ ba đại xá lao dịch. Những người nghèo phải bán thân, bán con làm nô bộc, triều đình xin chủ cho họ về nhà làm ăn. Triều đình sẽ bồi hoàn bằng cách khấu trừ tiền thuế những năm sau.

– Điều thứ nhì, phàm những người già, tuổi từ bẩy mươi trở đi, việc phụng dưỡng tuy do con cháu, nhưng ngày lễ sinh nhật thất tuần An-vũ-sứ, Tiết độ sứ phải trích công khố mua lụa, cùng khánh bạc thay triều đình đến mừng. Lễ mừng sinh nhật cứ tiếp tục hàng năm cho đến khi qua đời. Người nào thọ tới tám mươi, ngày khánh thọ, đích thân Tể-tướng sẽ đại diện triều đình mang khánh vàng tới dự lễ tế sống. Lễ tế sống tiếp tục hàng năm, cho đến khi qua đời.

– Điều thứ ba, việc trị bệnh các con dân Đại-Việt, triều đình ủy cho phái Sài-sơn. Mỗi xã sẽ có ít nhất một y sĩ đảm trách. Mỗi huyện sẽ có một chẩn y viện, để những người bệnh nặng đến nằm chữa trị. Những y sĩ nào đang hành nghề, phải trình diện đại phu, để được xét lại khả năng, bổ vào chỗ xứng đáng. Người nào không đủ khả năng sẽ được dạy dỗ thêm.

– Điều thứ tư, hàng năm, các hương dịch phải tấu về triều những lương gia phụ nữ tiết liệt, để triều đình ban sắc Tiết hạnh khả phong hầu tưởng thưởng. Nhà nào một vợ, một chồng sinh năm con trở lên, đều được miễn thuế. Nếu nhà không có ruộng, mỗi con được cấp một mẫu công điền, miễn thuế. Nhà nào khéo dạy con, những bậc thầy giỏi hương ấp, hương dịch phải tâu về, để triều đình ban sắc tưởng thưởng.

– Điều thứ năm, về binh dịch. Trai tráng tuổi mười sáu trở đi, được ghi tên vào sổ, gọi là hoàng nam. Hoàng nam vẫn học văn, luyện võ. Đến mười tám tuổi, ai tình nguyện đầu quân, ngoài tiền lương bổng ra, mỗi người được cấp một mẫu công điền. Ruộng đó do hoàng nam trong xã cầy cấy, thu hoạch cho, để sau này khi mãn hạn về, còn có tài sản chi dùng. Người nào lập được chiến công, thì thầy, cha mẹ, hương dịch đều được sắc khen. Người nào tuẫn quốc, hương dịch phải thay mà phụng dưỡng cha mẹ già, chu cấp cho con côi, vợ góa.

Ngài vừa ngừng, thì tiếng hò reo hoan hô vang vang như muốn rung động trời đất. Lý Đạo-Nghĩa giữ quyền Tể tướng lên đài hướng vào bàn thờ lễ tám lễ, rồi nói:

– Tuân chỉ dụ của đức Hoàng-đế. Các chức sắc trong Hồng-thiết giáo đều được ân xá. Vì vậy Đàm quốc cữu, trước làm Đô nguyên soái, thái-phó, tổng trấn Thăng-long. Nay chức tước vẫn giữ nguyên. Duy chức tổng trấn Thăng-long đã giao cho Tạ Sơn, vì quốc cữu cao niên. Các con quốc cữu cũng được ân xá, giữ nguyên chức tước cũ.

Thấy Hoàng-đế lờ đi, không xét đến tội âm mưu với Tống, để được làm vua, một tội nhục nhã vô cùng. Đàm Can đến trước Thuận-Thiên hoàng đế quỳ gối lạy tạ. Thuận-Thiên hoàng-đế rơm rớm nước mắt:

– Đàm huynh! Người cùng ta nguyên kết bạn. Người lại có công phò ta lên ngôi vua. Con gái người ta đã phong quí phi. Người bị quỷ kinh, ma thư Hồng-thiết làm mờ cả trí minh mẫn. Nay người thoát ách, ta mừng cho người.

Lý Đạo-Nghĩa tiếp:

– Còn trưởng lão Hoàng Văn, tiềm ẩn trong phủ Khai-Thiên vương, bắt giam Vương-phi làm ô uế hoàng tộc. Tội phải lăng trì, chu di tam tộc. Nay được ân xá tất cả. Nhưng Hoàng trưởng lão nguyên là mệnh quan Tống-triều, tước phong hầu, triều đình sẽ để trưởng lão cùng gia quyến, của cải trở về Trung-nguyên.

Hoàng Văn đến trước Khai-Thiên vương quỳ lạy tám lạy:

– Vương gia! Hoàng Văn này tội đáng chết trăm lần. Nay được ân xá, xin khấu đầu tạ tội với Vương-gia.

Khai-Thiên vương dở khóc dở cười, ông đỡ Hoàng Văn dậy:

– Hoàng quân hầu chẳng nên đa lễ.

Vương nghĩ lại trước đây mình ác cảm với Thiệu-Thái, nay muốn bảo chàng giải Chu-sa độc tố cho y mà Vương ngượng. Vương đưa mắt nhìn Mỹ-Linh. Mỹ-Linh hiểu ý phụ vương. Nàng nói:

– Hoàng quân hầu mau tới bái kiến tân giáo chủ để được trục Chu-sa độc chưởng.

Hoàng Văn tới trước Thiệu-Thái quỳ xuống. Chàng vung tay lên, chưởng hướng vào chân y. Y bay bổng lên cao, lộn đi ba vòng rồi rơi xuống đài. Máu cùng nước vàng tiết ra ở hai bàn tay y hôi tanh khủng khiếp. Máu càng ra nhiều người y càng hồng hào lên. Lát sau máu không rỉ ra nữa. Y lạy tạ Thiệu-Thái:

– Đa tạ giáo chủ. Được đức Hoàng-đế cùng giáo chủ ân xá. Thần xin làm một con dân thực ngoan của Đại-Việt để báo ân đức này.

Lý Đạo-Nghiã tiếp:

– Trưởng lão Đỗ Xích-Thập cùng trưởng lão Hoàng Liên can tội làm nội ứng cho Tống. Nay trưởng lão Hoàng Liên qua đời rồi, tội lỗi cũng theo luôn. Trưởng lão Đỗ Xích-Thập cũng được ân xá hết tội trạng.

Lý Đạo-Nghĩa hướng vào quần hùng:

– Những giáo chúng phạm tội với triều đình, đều được ân xá. Tuy nhiên trước đây, giáo chúng Hồng-thiết gây ra nhiều oán hờn với các gia, các phái, triều đình kêu gọi các gia các phái xoá bỏ hết hận thù cùng nhau giữ nước.

Đến đó lại có mấy đạo trưởng bị độc chưởng Nhật-Hồ hành, họ kêu thét lên. Bảo-Hòa đưa họ lên đài cho Thiệu-Thái trị. Thiệu-Thái đến trước thầy trò Nhật-Hồ, chắp tay:

– Nhật-Hồ lão nhân cùng các vị đang bị trúng độc. Tiểu bối xin vì các vị trị độc, để gỡ cái ách cho các vị.

Nhật-Hồ lão nhân cười nhạt:

– Thằng bé con kia! Ta tuy bại dưới tay người, nhưng ta không phục. Nếu người muốn ta phục, người phải khai ra hai điều. Điều thứ nhất nội công Tiêu-sơn luyện tập kết quả rất chậm. Tại sao tuổi ôn con như người công lực lại cao đến trình độ không biết đâu mà lường? Điều thứ nhì, mi học Hồng-thiết mật công ở đâu, mà có thể giải được Chu-sa độc chưởng của ta. Người phải nói thực, vì Chu-sa độc chưởng của Tây-dương giáo chủ ta đã biến đổi đi, dù chính lão nhân gia hiện diện cũng không giải được.

Thiệu-Thái tính người chân thật, chàng không muốn dấu diếm lão, khi lão đã trở thành thân tàn ma dại:

– Lão tiên sinh đặt câu hỏi thực phải. Nguyên tiểu bối cùng công chúa Bình-Dương bị đại sư Nguyên-Hạnh dùng Chu-sa độc chưởng đánh bại, rồi bắt giam vào Hồng-hương mật cốc. Tại đây, người cũng giam Bồ-tát Sùng-Phạm, cùng Bố-Đại hòa thượng với phu nhân của người tên Đỗ Lệ-Thanh. Chính Bồ-tát Sùng-Phạm đã trút một trăm năm Thiền-công, Đỗ Lệ-Thanh đã truyền Hồng-thiết mật công Trung-nguyên cho tại hạ.

Nhật-Hồ cau mày:

– Người nói lạ, Thiền-công của Sùng-Phạm vốn vô sắc, vô tướng. Còn Hồng-thiết mật công phải luyện với độc tố, thuộc loại hữu sắc, hữu hình. Làm sao người trộn làm một được? Họa chăng người có tài bao gồm cả Vạn-tín hầu Lý Thân, Bắc-bình vương Đào Kỳ, Công-chúa Yên-lãng Trần Năng và Tăng-giả Nan-đà.

Thiệu-Thái mỉm cười:

– Lão nhân thực xứng đáng thiên tài võ học. Điều gì lão nhân cũng biết hết. Tiểu bối…

Đến đây có tiếng Khai-Quốc vương dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai chàng:

– Đừng nói hết ra. Lão đang dò hỏi, để học lóm đấy.

Thiệu-Thái tỉnh ngộ:

– Tiểu bối được sư phụ dạy cho.

– Sư phụ của người là ai?

– Tiểu bối không biết. Khi thì người bảo người chẳng là cái đếch gì. Khi thì người bảo người cũng như cục phân trâu.

Nhật-Hồ lão nhân chỉ vào các trưởng lão:

– Mi làm giáo chủ, mà bất quá chỉ trị được cho mấy đứa đạo trưởng, còn các trưởng lão mi không trị được e cũng vô ích. Mi có giỏi, hãy trị độc chưởng Chu-sa cho chúng đi.

Nghe Nhật-Hồ thách, Thiệu-Thái vẫy tay gọi Đặng Trường. Y bị Nhật-Hồ vỗ thuốc tê vào đầu, người y mơ mơ hồ hồ, không cử đông được. Nhưng y cũng hiểu tất cả những diễn biến xẩy ra. Y tiến lại trước chàng quỳ gối xuống:

– Thuộc hạ xin giáo chủ cứu trị.

Thiệu-Thái để tay lên đầu y, chàng vận Thiền-công đẩy nhẹ. Y rùng mình một cái, máu mũi y tuôn ra xối xả. Các cao nhân ngồi trên đài đều kinh ngạc. Họ tưởng Thiệu-Thái xử dụng công lực quá mạnh, khiến y bị thương. Nhưng họ thấy máu ra xối xả, mà trên gương mặt y hiện ra nét hân hoan. Máu càng ra nhiều, mặt y càng tươi lên. Khoảnh khắc máu ngừng chảy.

Hoàng Văn đứng dậy. Y hít hơi vận chân khí, thấy lưu thông như thường biết rằng cả thuốc tê lẫn Chu-sa độc chưởng được trục ra khỏi cơ thể. Y hiểu mình đã thoát cái ách mấy chục năm bị Nhật-Hồ khoác vào thân.

Trước đây mỗi lần Nhật-Hồ tung thuốc vào giáo chúng làm cho tê liệt, sau đó muốn giải, lão cũng dùng thuốc chứ, không dùng thần công. Bây giờ Thiệu-Thái dùng thần công, chứng tỏ công lực chàng cao hơn lão nhiều, khiến giáo chúng nhìn chàng với con mắt khâm phục hơn.

Hoàng-Văn quỳ gối lạy Thiệu-Thái:

– Đa tạ giáo chủ giải ách.

Y đến trước Nhật-Hồ lão nhân lạy ba lạy:

– Giáo chủ! Sư phụ. Không phải thuộc hạ phụ lão gia, mà chính lão gia phụ thuộc hạ. Theo luật lệ bản giáo, khi có người thắng được giáo chủ bằng Hồng-thiết thần công, người đó đương nhiên thành tân giáo chủ. Bây giờ Thân thế-tử thắng giáo chủ, thuộc hạ xin theo về người. Thuộc hạ tạ từ giáo-chủ ở đây.

Y đến trước Trần Tự-An quỳ xuống rập đầu binh binh bốn lần:

– Côi-sơn đại hiệp. Tại hạ bị ma tính, quỷ tính Hồng-thiết kinh làm cho trở thành con quái. Tại hạ đã làm hại đại hiệp cùng phái Đông-a, tội ác không thể chết một lần mà trừ được. Hôm nay tại hạ xin cúi đầu, để lĩnh phạt của đại hiệp.

Trần Tự-An là một bác học thời đại. Ông chỉ cứng rắn với kẻ ác. Còn đối với người hối lỗi, lòng dạ ông lại rất rộng. Ông đỡ Đặng Trường dậy:

– Đặng trưởng lão. Khi người đã hối hận, muôn ngàn tội lỗi theo đó trôi đi. Hãy quên tất cả, để cùng nhau lập Lạc-long giáo.

Thiệu-Thái tiến đến trước Lê Đức, vung tay nói:

– Lê trưởng lão. Trong bản giáo người có cái nhìn rộng nhất, kiến thức cao nhất. Ta giải ách cho người, để người đem tài năng ra kiến thiết Đại-Việt.

Nói rồi chàng vung tay đẩy một chưởng vào lưng Lê Đức. Y rùng mình một cái đứng dậy. Nhấp nhô mấy cái, đã rời xa đài, tới chỗ đất trống, y cúi xuống mửa. Y mửa ra đờm trắng, vàng bầy nhầy. Y mửa trong khoảng ăn một bữa cơm, thì hết. Trở lại đài, y rập đầu trước Thiệu-Thái:

– Đa tạ giáo chủ giải ách.

Y đến trước Nhật-Hồ từ tạ:

– Sư phụ! Sư phụ truyền Hồng-thiết kinh cho đệ tử. Nhưng sư phụ cũng cấy vào người đệ tử một con quỷ. Đệ tử làm ác bao năm, nào có biết mình ác! Bây giờ Thân thế-tử giúp đệ tử thoát khỏi quỷ nghiệp, đệ tử phải theo người, chuộc tội với Đại-Việt. Mong sư phụ hiểu cho đệ tử.

Phạm Trạch đến trước Thiệu-Thái:

– Thuộc hạ kính xin giáo chủ gia ân.

Thiệu-Thái vung tay một cái, chưởng lực như có như không đánh vào đỉnh đầu y. Lập tức mười đầu ngón chân y như bị cắt, máu đen chảy tuôn ra. Phạm Trạch ngồi xuống vận công đẩy chất độc. Phút chốc y đứng dậy, tạ Thiệu-Thái:

– Đa tạ giáo chủ cứu thuộc hạ.

Y cũng đến trước Nhật-Hồ từ tạ, rồi đứng chắp tay đứng sau Thiệu-Thái.

Lê Ba đưa mắt nhìn Hồng-Sơn đại phu. Y biết, nếu Hồng-Sơn đại phu không tha tội ắt Thiệu-Thái sẽ chẳng bao giờ ra tay gỡ ách cho y. Xưa nay, y ngồi ở vị thế cao hơn Hồng-Sơn đại phu, thế mà bây giờ y phải tạ tội với ông, đời nào y chịu? Vì vậy y tới trước Nhật-Hồ lão nhân:

– Sư phụ! Người không phải giáo chủ. Người trở thành con quỷ rồi. Khi tôi đang làm một đạo sĩ, hành y đạo cứu dân, người xuất hiện, thuyết giảng Hồng-thiết kinh. Nhiệt tình với đất nước, tôi bỏ hết, theo người những mong xây dựng một nước theo Hồng-thiết giáo. Thế nhưng người phóng Chu-sa độc chưởng vào tôi, mà không bao giờ gỡ ra. Hôm nay, được hoàng-đế ân xá, tôi không mặt mũi nào nhìn anh hùng thiên hạ, cũng như con em bản giáo. Tôi vẫn tôn thờ thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh, cho nên tôi không muốn ở trong Lạc-long giáo, cũng chẳng muốn theo người nữa. Tôi từ tạ người ở đây.

Đến đó y hướng vào giáo chúng:

– Hỡi con em Hồng-thiết giáo! Bấy lâu nay chúng ta tôn thờ thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh, tại sao phút chốc chúng ta lại phải cúi đầu tôn phục thằng nhãi con, cháu ngoại Lý Công-Uẩn làm giáo chủ? Giáo chủ Nhật-Hồ lão nhân, thất đức, chúng ta phải truất phế lão, đó là điều đương nhiên. Sau lão, đến ta lên làm giáo chủ mới xứng đáng. Vậy ta đi đây. Nếu con em nào còn muốn trung thành với nhị thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh, mau cùng ta kiến thiết lại bản giáo.

Nói rồi y định bước xuống đài. Nhưng y vừa tới mép đài, có bóng vàng thấp thoáng. Một người đáp nhẹ như chiếc lá trước mặt y, đến nỗi suýt nữa hai người chạm vào nhau. Kinh hoàng, y vội nhảy lùi lại một bước. Người kia nhảy theo sát y như bóng với hình.

Biết gặp kình địch. Y lộn liền ba vòng, tránh ra xa. Trong khi đó, y đẩy trở lại một chưởng. Bóng vàng vung chưởng đỡ. Binh một tiếng. Cả hai lảo đảo lui lại. Lê Ba quát lên:

– Mi là ai? Ta với mi không thù, không oán. Hà cớ gì mi cản đường ta?

Mọi người nhìn lại, bóng vàng đó là một nhà sư mặc cà sa đại hồng. Đôi mắt nhà sư chiếu ra tia hàn quang lấp lánh, chứng tỏ nội công cao thâm không biết đâu mà kể. Nhưng mặt nhà sư lạnh lùng, trơ như gỗ, xấu xí đến kinh khủng. Rõ ràng ông mang mặt nạ da người.

Quần hùng coi hình dáng, dường như nhà sư còn rất trẻ. Ai cũng kinh ngạc vì Lê Ba ở ghế sư thúc của Hồng-Sơn đại phu. Nguyên võ công Sài-sơn của y đã cao thâm không biết đâu mà lường. Y lại luyện thêm Chu-sa Nhất-Hồ độc chưởng. Thế mà vừa rồi nhà sư giao nhau một chưởng với y, bất phân thắng bại.

Khi nhà sư xuất hiện, đám Tự-Mai, Tôn Đản, Thanh-Mai đều đưa mắt nhìn nhau, rồi nhìn Bảo-Hòa. Vì chính ông đã cứu Bảo-Hòa trong ngày giỗ Lệ-Hải Bà-vương. Chính ông đánh bọn Triệu Huy cứu Thanh-Mai. Khi Mỹ-Linh, Thanh-Mai, Bảo-Hòa bị giam trong hầm đá. Ông đánh thuốc mê cả bọn Triệu Huy, rồi vào sao chép Lĩnh-Nam vũ kinh. Tiếp theo, ông xuất hiện trong Vạn-thảo sơn trang chữa bệnh cho Bảo-Hòa. Gần đây nhất, ông đến trang Yến-vĩ sương sen ném tên Qúy-Toàn vào chuồng hôi, cùng giết cả nhà tên Đặng Đức-Kềnh.

Nhà sư trẻ không trả lời. Ông xuất một chiêu quyền rất quái dị đánh thẳng vào giữa ngực Lê Ba. Lê Ba thấy kình phong đối thủ trầm trọng vô cùng. Y không giám coi thường, vung chưởng đỡ. Khi hai chưởng sắp giao nhau, y ngẩn người ra, vì chưởng của nhà sư biến thành hư không. Vèo một tiếng, chưởng của Lê Ba như đánh vào một quãng không.

Nhà sư bật tay một cái, chưởng hướng đỉnh đầu Lê Ba, giống như người ta đùa cợt, không một chút lình lực. Lê Ba vội trầm xuống tránh, thì nhà sư phát một chỉ dương cương mãnh liệt hướng bụng y. Chỉ lực rít lên vo vo. Lê Ba tung người lên không tránh thế chỉ. Nếu nhà sư đánh theo một chỉ nữa ắt Lê Ba hết sống. Nhưng nhà sư tần ngần đứng im.

Tự-An đưa mắt hỏi Đặng Đại-Khê:

– Đặng huynh! Hai chiêu đầu hao hao giống Thiên-vương chưởng của phái Sài-sơn. Còn chiêu chỉ phải chăng Lĩnh-Nam chỉ?

Đặng Đại-Khê trả lời bằng cái gật đầu. Trên đài, nhà sư dùng Thiên-vương chưởng tấn công Lê Ba khiến y luống cuống chân tay. Những cao thủ hạng nhất đều thấy rằng công lực nhà sư không cao hơn Lê Ba. Nhưng ông dùng Thiên-vương chưởng khi cương, khi nhu, khi thực, khi hư, khiến y không biết đường nào mà phản công.

Đặng Đại-Khê, Trần Tự-An, Hồng-Sơn đại phu tụ lại bên Minh-Không đại sư chỉ chỏ bàn tán.

Minh-Không hỏi Tự-An:

– Trần đại hiệp. Đại hiệp có kiến thức uyện bác nhất Đại-Việt. Đại hiệp thử đoán xem nhà sư kia học võ với ai? Mà khi dùng võ công Sài-sơn, khi dùng võ công Tản-viên. Lạ một điều, võ công Sài-sơn xưa nay vốn cương nhu hợp nhất. Thế mà nhà sư trẻ phân ra khi cương, khi nhu, khiến Dương đạo sư không biết đâu mà ứng phó.

Từ lúc nhà sư trẻ xuất hiện, trong lòng Tự-An thấy một tình cảm lạ lùng dâng lên. Buồn cũng không phải, thương cảm cũng chưa hẳn, vui cũng chẳng đúng. Tự nhiên ông thấy hồi hộp lạ lùng. Nay nghe Minh-Không hỏi, ông đáp:

– Lúc vị tiểu sư phụ nhảy lên đài, người dùng thân pháp phái Đông-a. Chiêu chưởng đầu tiên tên Lôi đả ngạc ngư của Sài-sơn. Chiêu này đã thất truyền. Đến Hồng-Sơn đại phu cũng không biết. Sao tiểu sư phụ lại xử dụng thành thạo vô cùng? Sau đó lại dùng Lĩnh-Nam chỉ. Xét về hai loại võ công này, hiện nay chỉ có phò mã Đào Cam-Mộc, Bảo-Hòa biết xử dụng. Nhưng Phò-mã chỉ xử dụng được Phục-ngưu thần chưởng dương cương với Lĩnh-Nam chỉ, chứ không biết xử dụng âm chỉ. Còn Bảo-Hoà có thể xử dụng một tay âm, một tay nhu từng chiêu một, chứ không thể hai tay luân phiên xử dụng cương nhu như thế kia.

Nhà sư tấn công tới tấp, khiến Lê Ba cứ phải lùi hoài. Khi y lùi đến cạnh Nhật-Hồ lão nhân, lão xỉa một ngón tay vào hông nhà sư. Nhà sư kinh hãi nhảy lui lại tránh. Nhờ đó Lê Ba có cơ hội phản công.

Bình, bình, bình. Y phóng ra ba chiêu Thiên-vương chưởng. Chưởng phong như núi đổ ập xuống. Nhà sư trả lại bằng ba chiêu Thiên-vương chưởng.

Minh-Không hỏi Hồng-Sơn đại phu:

– Đại phu! Xin đại phu cho biết, Lê lão sư có còn thuộc phái Sài-sơn không?

Hồng-Sơn đại phu cười nhạt:

– Dù Công-Uẩn sư huynh có đại xá thiên hạ. Dù cho Lạc-long giáo chủ xoá bỏ thù hận. Nhưng Lê Ba làm hại bản phái thái quá. Tại hạ không thể tha thứ cho y.

Hồng-Sơn đại phu cũng như đệ tử Sài-sơn, thấy nhà sư trẻ xử dụng Thiên-vương chưởng cực kỳ huyền ảo. Họ đứng ngây người ra mà nhìn.

Nguyên sau khi đánh tan giặc Ân, Phù-đổng Thiên-vương lên núi Sài-sơn qui ẩn. Ngài mở phái, thu dụng đệ tử. Trong thời gian đó, ngài chế ra bẩy mươi hai chiêu chưởng. Trong mỗi chiêu bao gồm cả cương lẫn nhu. Khi cương, chân khí bốc ra nóng bỏng. Khi nhu chân khí hoàn toàn băng giá. Đời sau đặt tên pho chưởng ấy tên Thiên-vương chưởng.

Đến thời Lĩnh-Nam, pho chưởng chỉ còn có hai mươi chiêu. Sau Bắc-bình vương Đào Kỳ tìm ra bộ Văn-lang võ kinh, trong đó có chép đủ 72 chiêu, trao lại cho Nam-Hải nữ hiệp. Nhưng Nam-Hải nữ hiệp chưa luyện xong, bà đã tuẫn quốc. Khi Bắc-bình vương tuân chỉ vua Trưng, chép bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, có chép pho chưởng này lại.

Trải đến đời sư phụ Hồng-Sơn đại phu, Thiên-vương chưởng chỉ còn mười tám chiêu. Tuy vậy yếu chỉ để luyện, trong phái vẫn còn lưu truyền, mang tên Thiên-vương mật dụ. Lê Ba dùng trăm khôn nghìn khéo giúp ông lên làm chưởng môn, rồi xin ông cho xem Thiên-vương mật dụ. Ông từ chối. Sau y khống chế Vũ Thiếu-Nhung, bắt nàng lấy trộm mật dụ cho y. Không ngờ nàng chịu chết, chứ không nỡ hại chồng.

Hồng-Sơn đại phu kinh ngạc tự nghĩ:

– Ta nghe nói Thanh-Mai, Bảo-Hòa, Mỹ-Linh tìm ra nơi chép Linh-Nam vũ kinh. Có thể họ biết cách luyện Thiên-vương chưởng. Nhưng dù họ có cuốn phổ, mà không biết Thiên-vương mật dụ, sao luyện thành? Nhà sư là ai, mà y lại xử dụng thành thạo Thiên-vương chưởng thế kia?

Từ lúc nhà sư xuất hiện, trong lòng Bảo-Hoà nổi lên một cơn bão tố. Tim nàng đập loạn xạ. Mặt nàng khi trắng khi hồng. Vì nhà sư này, chính người theo sát bên nàng mấy năm qua, không lúc nào rời.

Lần đầu tiên, nàng tuân chỉ của mạ mạ, cùng anh theo dõi hành tung của bọn Địch Thanh. Trên đường hành sự nàng gặp nhà sư. Nhà sư tỏ ra hào sảng, cho nàng biết rằng chính ông cũng theo dõi bọn Địch-Thanh.

Thế rồi ai bên cùng làm chung một việc. Bảo-Hoà không theo Phật giáo. Vì vậy dọc đường nàng trêu chọc, châm biếm nhà sư, làm tình làm tội thế nào nhà sư cũng không giận. Chọc nhà sư chán, nàng sai nhà sư thi hành không biết bao nhiêu công tác khó khăn, lạ lùng thay nhà sư vẫn vui vẻ chiều nàng.

Một lần nàng nói đùa: Thôi tiểu sư phụ đừng đi tu nữa. Tôi nói với mạ mạ, cưới tiểu sư phụ làm chồng quách. Bảo-Hoà tưởng với câu nói đùa này nhà sư sẽ nhảy dựng lên. Nào ngờ, ông e thẹn, cúi đầu xuống không trả lời. Từ đấy trong lòng Bảo-Hoà nảy sinh ra mối nhu tình với nhà sư.

Khi đến trấn Thanh-hoá, nàng bị bọn Địch Thanh, Dư Tĩnh tấn công. Nhà sư nhảy vào cứu nàng. Nhưng ông cặp nàng chặt quá. Sự đụng chạm cơ thể lần đó khiến người Bảo-Hoà như tê liệt. Từ đấy nàng yêu thương nhớ nhung nhà sư, mà nàng không hề biết mặt mày.

Hồi bị bọn Triệu Huy giam ở hầm đá, trong khi nàng bị trúng độc mê man. Nhà sư xuất hiện, dùng châm cứu trị bệnh cho nàng. Mỹ-Linh còn kể, nhà sư chép toàn thể bộ Lĩnh-Nam vũ kinh mang đi. Rồi tới hôm nàng bị Hồng-Sơn đại phu phóng thuốc độc vào người, không thể thoát khỏi Vạn-thảo sơn trang. Nhà sư lại xuất hiện cứu nàng. Hai người yêu nhau say đắm ngay từ đêm ấy.

Bẵng đi hơn năm trời, bây giờ, nhà sư lại xuất hiện, với võ công cao thâm ngang với Đại-Việt ngũ-long.

Trên đài Lê-Ba bắt đầu dùng Chu-sa độc chưởng. Mỗi chưởng của y đánh ra đều có mùi tanh hôi khủng khiếp. Nhà sư biết thế, ông dùng Lĩnh-Nam chỉ pháp trả đòn. Chỉ phong véo, véo, tuôn ra. Mỗi chỉ như mũi kiếm đâm thủng màn chưởng của Lê Ba. Lập tức y cảm thấy đau nhói ở ngực. Y kinh

hãi nghĩ:

– Cơ chừng này, mình chắc bỏ mạng tại đây mất thôi. Bây giờ Hồng-thiết giáo tan vỡ. Mộng bá vương tan như sương. Thôi thì mình bắt lấy đứa con gái nào đó làm con tin, hầu thoát thân. Sau đó kiếm nơi hang cùng, dùng làm cây thuốc, an hưởng tuổi già.

Nghĩ vậy y đánh liền ba chưởng, bình, bình, bình. Rồi y nhảy khỏi đài. Nhà sư không tha, ông đuổi theo. Như ánh chớp, Lê Ba xẹt đến khán đài phái Sài-sơn. Y chụp một nữ đệ tử phái này đơ lên đỡ chỉ của nhà sư. Nhà sư vội hướng chỉ ra chỗ khác, nhảy lùi lại.

Một tay Lê Ba túm nữ đệ tử kia, một tay phóng chưởng đánh nhà sư. Nhà sư kinh hãi, chỉ biết nhảy nhót tránh né.

Hai đệ tử phái Sài-sơn tung mình tấn công Lê-Ba cứu đồng môn. Mọi người nhìn lại đó là Dương-Bình với Lê-Văn.

Hồng-Sơn đại phu vội trở về khán đài của mình. Ông hiểu liền.

Thì ra nữ đệ tử mà Lê Ba chụp làm bia đỡ chỉ của nhà sư, chẳng ai khác hơn Lê Thiếu-Mai.

Hồng-Sơn đại phu quát lớn:

– Ngừng tay!

Dương Bình, Lê Văn nhảy lùi lại sau bố. Nhà sư trẻ cũng thu chỉ về. Hồng-Sơn gườm gườm nhìn Lê Ba. Ông nói với y:

– Sư thúc! Việc làm của sư thúc gây ra biết bao nhiêu oán hờn. Tôi vì đại nghĩa, tuân chỉ ân xá của Thuận-Thiên hoàng-đế, cùng lời cầu khẩn của Lạc-long giáo, không truy cứu tội của sư thúc. Hà cớ gì sư thúc còn định bắt Thiếu-Mai làm bia đỡ đòn?

Lê Ba cười nhạt:

— Người muốn ta thả Thiếu-Mai ra ư? Cũng được. Người phải nạp Vũ Thiếu-Nhung cho ta. Vũ Thiếu-Nhung trước kia làm vợ nhà ngươi. Nhưng sau đó nàng thuận dâng hiến cho ta. Vì vậy nàng là vợ ta. Cho nên ta muốn mang nàng đi. Ta tìm không thấy nàng, bắt con gái thay vào. Không mẹ thì con, có gì là lạ đâu? Mi cản ta như thế này mà bảo rằng phải lý ư? Nếu mi để cho ta đi, mọi truyện sẽ tốt đẹp. Bằng không, ta bóp chết y thị.

Nhà sư trẻ quát lên một tiếng. Ông tung ra một chiêu chưởng hướng Lê Ba. Chưởng phong cực kỳ trầm trọng. Nếu Lê Ba có đưa Thiếu-Mai ra đỡ, cả y lẫn nàng thịt nát xương tan. Y vội tung nàng lên cao, phát một chiêu Thiên-vương chưởng đỡ. Trong khi y lùi liền ba bước để hoá giải kình lực của nhà sư trẻ. Nhà sư trẻ tiến lên, đánh liền ba chưởng nữa. Lê Ba phải lùi liền ba bước.

Nhà sư bắt lấy Thiếu-Mai. Lê Ba thấy mất Thiếu-Mai, y tiến lên phóng chưởng phản công. Nhà sư trẻ cặp Thiếu-Mai vào nách, tay phải đỡ chưởng của Lê Ba. Bình một tiếng. Cả hai bật lui lại một bước.

Thình lình Lê Ba lui liền hai bước. Vèo một tiếng, y xẹt qua khán đài phái Sài-sơn, tay y chụp một phụ nữ khác ở phía sau. Bà chính là Vũ Thiếu-Nhung.

Quần hào la hoảng. Lê Ba lầm lỳ nhìn mọi người. Sắc mặt y tím bầm, coi thực khủng khiếp.

Hồng-Sơn đại phu định xuất chưởng tấn công y, Lê Văn tới trước ông quỳ xuống:

– Bố! Bố coi như mẹ con chết rồi. Bố để cho y mang mẹ con đi. Nếu bố tấn công y, ắt mẹ con chết.

Hồng-Sơn đại phu bị Lê Ba nói điều bí mật dơ bẩn của vợ ông ra trước quần hùng. Lòng tự ái nổi dậy, ông nghiến răng:

– Lê Ba! Trước kia ta tôn kính mi biết bao! Nay chính mi hại mi, mi đừng trách ta tàn bạo.

Ông vung chưởng tấn công y. Thấp thoáng bóng xanh, Thanh-Mai đã đứng trấn trước ông:

– Sư phụ! Sư phụ để con thanh lý môn hộ. Với cái thứ người dơ bẩn như Lê Ba, sư phụ không nên hạ thể giao chiến với y.

Hồng-Sơn đại phu biết công lực Thanh-Mai hiện giờ cao không thua gì ông. Nàng lại học được phương pháp dĩ độc trị độc của phái Đông-a, ắt nàng đủ sức kiềm chế Lê Ba. Ông lui lại.

Thanh-Mai phát chiêu Đông-hải lưu phong của phái Đông-a. Nàng vận đủ mười thành công lực. Chưởng phong cuộn như một cơn gió lốc. Lê Ba kinh hãi vung chưởng đỡ. Chưởng của y có mùi hôi tanh nồng nặc. Ầm một tiếng. Y bật lui hai bước. Trong khi Thanh-Mai lui một bước.

Lê Ba biết mình khó thắng Thanh-Mai. Mà dù y có thắng nàng, ắt Thiên-trường ngũ kiệt sẽ lâm chiến. Vốn tính tàn ác, vô tình, bạc nghĩa, y chuyển tay ôm Vũ Thiếu-Nhung trước ngực, rồi cười:

– Con nha đầu kia, mi có giỏi cứ phát chưởng đi.

Thanh-Mai không dám phát chưởng. Vì nàng sợ làm sư mẫu tổn thương.

Mọi người ngơ ngác, không biết giải quyết sao. Thì sư thái Tịnh-Huyền ghé tay Lâm Huệ-Phương, Mỹ-Linh nói nghỏ mấy câu. Huệ-Phương tiến đến gần Lê Ba chắp tay:

– Lê sư thúc. Nếu sư thúc muốn, tiểu nữ nguyện thay cho chị Thiếu-Nhung. Sư thúc muốn băm vằm, mổ xẻ thế nào tiểu nữ cũng không oán hận.

Hồng-Sơn đại phu chưa kịp cản, Huệ-Phương đã chạy đến bên Lê Ba. Lê Ba vốn là con quỷ dâm dục. Từ hôm thấy Huệ-Phương về làm dâu Vạn-thảo sơn trang, y thèm đến dỏ dãi ra. Trong lòng y nguyện phải bắt cóc nàng làm cây thuốc. Vừa rồi, y định bắt nàng. Nhưng thấy nàng ngối gần Hồng-Sơn đại phu. Y không giám. Y chuyển ra ý bắt Vũ Thiếu-Nhung mang đến một chỗ kín nào đó, dùng làm cây thuốc luyện công. Bây giờ Huệ-Phương tình nguyện, điều y cầu mà không được.Y tung Thiếu-Nhung ra, chụp Huệ-Phương. Thì nhanh như chớp, sư thái Tịnh-Huyền xẹt tới xớt nàng. Mỹ-Linh xớt Thiếu-Nhung nhảy lui. Trong khi đó nhà sư trẻ tấn công y bằng ba chỉ liên tiếp.

Quần hùng thấy sư thái Tịnh-Huyền lập mưu cứu được Thiếu-Nhung, Huệ-Phương, đều thở dài nhẹ nhõm, vỗ tay hoan hô.

Bỗng Mỹ-Linh kêu lớn lên:

– Hồng-Sơn phu nhân làm sao rồi!

Lê Thiếu-Mai vội chạy lại bắt mạch. Nàng tìm ra trên ngực bà có con dao nhỏ đâm giữa vùng tim. Mặt bà tái mét, hơi thở dồn dập. Bà nói rất khó khăn:

– Con! Con tha thứ cho mẹ. Thân mẹ dơ bẩn, thực không xứng đáng làm người nữa.

Hồng-Sơn đại phu móc trong bọc ra ba viên thuốc bỏ vào miệng bà. Ông vận nội lực đẩy thuốc xuống bao tử, phút chốc mặt bà tươi lên. Bà mỉm cười:

– Đại phu! Thiếp không hề phụ đại phu. Bằng chứng thiếp chịu đau bốn mươi chín ngày rồi chết, không trao Thiên-vương mật dụ cho y. Nhưng khi bị trúng chưởng, độc chất làm cho thiếp mất nhân tính, để cho bọn quỷ làm dơ bẩn thân thể. Vì vậy, thiếp lấy cái chết để tạ lỗi với đại phu.

Đến đó, bà mửa ra mộm búng máu rồi chết. Lê Văn kêu lớn:

– Mẹ! Mẹ lại chết nữa à?

Nhà sư trẻ vẫn dùng Thiên-vương chưởng đấu với Lê Ba. Khi ông dùng dương kình, chưởng phong như núi lở như băng tan, chạm vào chưởng của Lê Ba bật thành tiếng nổ lớn. Khi ông dùng dùng âm kình, chưởng phong không có, mà khiến cho Lê Ba lảo đảo.

Nhà sư trẻ với Lê Ba đã đấu nội lực. Mọi người cùng nín thở theo dõi. Hồng-Sơn đại phu bàn với Tự-An:

– Sư huynh! Công lực Lê Ba cao không biết đâu mà lường. Đệ sợ vị tiểu sư phụ không chịu nổi mấy khắc nữa.

Quả nhiên, nhà sư trẻ bắt đầu yếu thế. Ông lùi một bước. Trên đầu ông có làn khói bốc ra. Hồng-Sơn đại phu cuống lên:

– Làm sao bây giờ?

Trên từ Minh-Không, Tự-An, Hồng-Sơn đại phu đều chuẩn bị, nếu thấy nhà sư trẻ bị nguy cấp, lập tức nhảy vào diệt Lê Ba.

Nhà sư trẻ lại lùi một bước nữa, cơ chừng ông nguy đến nơi.

Bảo-Hòa nhảy lên đài, nàng dõng dạc nói lớn:

– Lê Ba, tội mi ác ngập đầu. Ta bất kể đạo lý, luật lệ võ lâm. Hôm nay ta ra tay giết người như giết con rắn độc.

Nói rồi nàng phát một chiêu Long-hổ chưởng đánh vào lưng y. Mọi người đều hoan hô:

– Rồi đời tên đại ác nhân.

– Đáng kiếp.

Một người từ góc đài, vung chân đá vào lưng Bảo-Hòa một cước cứu Lê Ba. Bắt buộc Bảo-Hòa phải thu chưởng về, nhảy lùi lại tránh. Nàng nhìn lại, người cứu Lê Ba chính là Nhật-Hồ lão nhân.

Lão nói:

– Không thể hai người đánh một.

Bảo-Hòa đành nhảy xuống đài.

Nhà sư trẻ cơ chừng không chống nổi nữa rồi. Mọi người cuống lên.

Một thiếu phụ từ phái Đông-a, tha thướt bước ra. Bà đến bên nhà sư trẻ với Lê Ba, rồi nói:

– Anh Ba ơi! Anh có nhớ em không? Anh có nhớ đêm mười rằm tháng bẩy vừa rồi anh đến Ngọc-lan đình cùng em uống rượu ngắm trăng không?

Lạ thay, thiếu phụ cất tiếng nói rất ôn nhu, mà công lực Lê Ba giảm xuống. Nhà sư đã lấy lại được thăng bằng.

Nghe tiếng thiếu phụ, Tự-An rúng động tâm can. Vì nàng chính là Cao Huyền-Nga, vợ của ông. Trước đây Cao Huyền-Nga bị bắt làm cây thuốc cho bọn Hồng-thiết giáo luyện công, mới được Mỹ-Linh, Tự-Mai cứu ra. Từ hôm đoàn tụ với chồng, bà giữ lời hứa với Khai-Quốc vương, không cho ông biết mình bị bọn Hồng-thiết giáo dùng làm cây thuốc. Thế nhưng trong lòng bà luôn nổi lên cơn phong ba. Bà muốn tìm cái chết để tạ lòng chồng.

Hôm nay thấy nhà sư đang đấu nội lực với Lê Ba, nguy cơ đến trong chốc lát. Khi nhà sư lên đài, bà đã nhận ra chân tướng của ông ta. Bà muốn dùng cái chết để cứu nhà sư trẻ.

Lê Ba nổi cộc lên văng tục:

– Con tiện nhân cút ngay.

Cao Huyền-Nga tiếp:

– Anh nhớ chứ. Hôm đó em đang hành kinh. Anh xin uống kinh của em để luyện công. Em dâng cho anh hết cả.

Lê Ba nghe Cao Huyền-Nga nói, kinh khí của y chạy hỗn loạn. Y lui liền ba bước. Nhà sư dồn chân khí tấn công mạnh hơn.

– Anh Lê Ba ơi! Ngừng đấu võ đi, để cùng em hưởng thú thanh nhàn.

Lê Ba nghe đến đây, y thấy máu đưa lên cổ. Y nghiến răng không thở, nhưng chỉ được một lát, máu lại đưa lên. Y oẹ một tiềng, máu miệng phun ra có vòi. Y lảo đảo lùi lại. Tay phải y túm Cao Huyền-Nga:

– Mày muốn giết tao ư? Thì tao với mày cùng chết.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103136
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49576 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG

Postby DaMinhChau » November 25th, 2017, 5:42 pm


Hồi thứ sáu mươi chín

Bể khổ vô bờ,
Hồi đầu thị ngạn.




Lê Ba đánh một quyền vào giữa đầu bà. Binh một tiếng. Cao Huyền-Nga bị bật tung ra xa, sọ vỡ óc tung toé..

Nhà sư trẻ nổi giận phóng vào người y ba chỉ liền. Phụp, phụp, phụp. Ngực, đầu y thủng ba lỗ. Y quằn quại mấy cái, rồi ngã xuống.

Nhà sư trẻ ôm lấy Cao Huyền-Nga gọi lớn:

– Mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ cứu được con, thì mẹ lại chết.

Thanh-Mai, Tự-Mai chạy đến bên nhà sư gọi:

– Anh Thông-Mai đấy ư? Bấy lâu nay anh ở đâu?

Nhà sư trẻ mở mặt nạ ra, mọi người ồ lên kinh ngạc. Ông chính là một tiểu hoà thượng pháp danh Huệ-Trung của chùa Sơn-tĩnh. Huệ-Trung đến trước Tự-An quỳ gối lạy bốn lạy:

– Xin bố tha tội cho đứa con bất hiếu này.

Sùng-Văn kinh ngạc vô cùng. Vì cách đây bẩy năm, có thiếu niên lên chùa Sơn-tĩnh xin thọ giới đi tu. Nguyên-Hạnh không biết lý lịch thiếu niên, nên không chịu thu nhận làm đệ tử. Thiếu niên hết sức cầu khẩn, đại sư Sùng-Văn, viện trưởng viện Hoằng-Pháp mủi lòng thu làm đệ tử, cho thọ giới sa di, pháp danh Huệ-Trung.

Vì không rõ lý lịch thiếu niên, nên chùa Tiêu-sơn chỉ dạy cho Huệ-Trung kinh kệ, mà không dạy võ công. Huệ-Trung rất chăm chỉ, cần cù học kinh điển. Chàng nói với sư phụ Sùng-Văn:

– Sư phụ! Mẫu thân đệ tử mới qua đời. Trong lòng đệ tử không tin người đã khuất. Vì vậy đệ tử xin thọ giới với lời nguyện Đệ tử tu đến khi nào gặp mẫu thân. Dù gặp trên dương thế, dù gặp ở thế giới Cực-lạc.

Bảo-Hoà đến trước Thông-Mai, nàng nói trong nước mắt:

– Anh! Anh chính là Thông-Mai ư?

Thông-Mai gật đầu:

– Anh đã nguyện với bản sư, chỉ tu đến khi nào… khi nào gặp mẫu thân. Kể từ nay anh không còn làm hoà thượng nữa. Bảo-Hoà chẳng nên khổ tâm.

Có tiếng hú rùng rợn, lảnh lót, mọi người nhìn lại, thì ra thuốc hết hiệu nghiệm, Vũ Nhất-Trụ nhảy lên, hét be be vì đau đớn. Hồng-Sơn đại phu lại phóng đến người y một viên thuốc. Nhưng lần này vô hiệu. Y vẫn đau đớn rên la:

– Đại-phu… cho thêm vài viên nữa.

Hồng-Sơn đại phu phóng liền một lúc bốn viên Ma-túy hoàn vào người y, nhưng y vẫn la hét nhảy lên choi choi.

Minh-Không đại sư thở dài:

– Dường như Ma-túy hoàn chỉ có hiệu lực đến viên thứ năm. Đại phu, có cách nào không?

Hồng-Sơn đại phu lắc đầu:

– Ma-túy hoàn của tại hạ, phóng vào người thường một viên có thể làm cho tê hẳn đi, mê trong vòng một ngày một đêm. Nhưng đối với những vị công lực cao như Nhật-Hồ lão nhân cùng các vị trưởng lão, tại hạ đã xử dụng đến năm viên. Bây giờ cơ thể quen với thuốc, thành ra vô dụng mất rồi.

Minh-Không đại sư hỏi Thiệu-Thái:

– Thân giáo chủ. Hồng-thiết công của giáo chủ có thể trị cho Đàm quốc cữu không?

Thiệu-Thái kính cẩn chắp tay:

– Bạch đại sư, Hồng-thiết thần công có thể giải được Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng mà thôi. Còn trường hợp Nhật-Hồ giáo chủ cùng các trưởng lão Vũ, Đỗ, Nguyễn là do các vị dùng độc chưởng đánh người, rồi bị đẩy ngược trở lại. Vụ này tiểu bối nghi Hồng-thiết thần công cũng vô ích.

Chàng chỉ Đỗ Xích-Thập:

– Hồi sáng, Đỗ trưởng lão dùng độc chưởng đấu với Côi-sơn đại hiệp, bị người đẩy chất độc trở lại cơ thể. Nhật-Hồ lão nhân đã dùng Hồng-thiết thần công cứu trị. Không những Đỗ trưởng lão không khỏi, mà bệnh càng nặng thêm ra.

Hồng-Sơn đại phu lo lắng:

– Lát nữa đây cả bốn thầy trò Nhật-Hồ cùng tái phát. Họ hoá điên, hoá khùng, ai sẽ kiềm chế họ cho được?

Đại phu hỏi Trần Tự-An:

– Trần huynh! Trần huynh phát minh ra phương pháp dĩ độc trị độc dùng thần công đẩy chất độc về người đánh mình. Vậy Trần huynh có cách nào trị cho họ không?

Tự-An cười lớn:

– Minh-Không đại sư là Bồ-tát đắc đạo, dù kẻ ác đến đâu, người cũng muốn cứu chúng. Đại phu làm thầy thuốc, dù người ta tróc thịt, trầy da, đại phu cũng thương xót. Song đối với đệ lại khác. Kẻ kia dùng trăm thứ độc luyện công, gieo tang tóc khắp Đại-Việt. Mấy chục năm qua, có hàng trăm vạn người chết vì họ. Tại hạ muốn băm vằm họ ra làm nghìn mảnh, xác quẳng xuống trộn với phân mới hả dạ! Tại sao lại phải cứu họ? Nếu như hồi nãy, công lực tại hạ kém, e giờ này tại hạ sẽ đau đớn đến phải kêu cha gọi mẹ, rồi cúi đầu lậy mấy con quỷ này để cầu thuốc giải, liệu chúng có tội nghiệp tại hạ không?

Ông hướng vào Thuận-Thiên hoàng-đế:

– Hoàng-đế bệ hạ. Bệ hạ làm đấng minh quân, nhân từ hơn Nghiêu, Thuấn, không kém gì vua Hùng, vua An-Dương. Bệ hạ ban chỉ đại xá cho bọn ma đầu này, đấy thuộc quyền của bệ hạ. Lạc-long giáo chủ xoá bỏ mọi hận thù, Trần mỗ cũng ứng lời giáo chủ đại xá cho Đặng Trường. Đại xá không có nghĩa phải ra tay cứu bọn ma đầu.

Quần hùng nghe Tự-An nói, nhiều người khoan khoái trong lòng. Họ vỗ tay hoan hô.

Tự-An tiếp:

– Tại hạ xin đề nghị với Lạc-long giáo, hãy trói thầy trò Nhật-Hồ lại ngay, bằng không lát nữa chúng nổi cơn điên lên, bấy giờ anh em tại hạ đành giết chúng như giết con chó điên vậy.

Đỗ Xích-Thập đang ngồi vận công, nghe Tự-An nói, y vọt người dậy, phát một chưởng hướng vào ông. Trong chưởng có mùi hôi tanh nồng nặc. Tự-An vận khí chống độc, rồi phát chiêu Nam-phong ngộ sơn chống trả. Ông đẩy chưởng cửa y vào người Vũ Nhất-Trụ.

Vũ Nhất-Trụ kinh hãi, phát chưởng đỡ. Ầm một tiếng, cả y lẫn Xích-Thập lảo đảo lùi lại.

Nguyễn Chí đang ngồi vận công, y đứng dậy phát chưởng đánh Tự-An. Tự-An lại đẩy chưởng của y về phía Xích-Thập. Xích-Thập vừa phát chưởng, chân khí gần kiệt. Y lùi lại một bước núp sau Nhật-Hồ lão nhân. Nhật-Hồ đứng dậy phát một chiêu, hoá giải kình phong của Nguyễn Chí.

Tự-An cười nhạt:

– Tên bán nước Xích-Thập kia. Mi đã bị trúng độc, mà còn xử dụng võ công, chẳng khác gì tự tử. Xưa nay mi phóng độc vào người ta, rồi bắt người ta quỳ lạy quen rồi. Bây giờ mi hãy quỳ xuống lạy ta tám lạy. Kêu đủ một trăm tiếng Con cắn cỏ con lạy ông. Xin ông cứu cho cái mạng kiến ruồi của con. Ta sẽ cứu mệnh chó má của mi.

Tự-An nói xong câu đó quần hùng đều bật cười. Ai cũng tưởng ông nói thế, ắt Xích-Thập sẽ nổi cơn điên phóng chưởng giết ông. Nào ngờ y bò đến trước ông, rập đầu binh binh đủ tám lần:

– Con cắn có lạy ông… xin… ông tha cho cái mạng chó má này.

Nguyễn Chí, Vũ Nhất-Trụ tỏ vẻ khinh bỉ:

– Đồ hèn hạ.

Vũ-nhất-Trụ phóng một chưởng hướng đầu Xích-Thập. Xích-Thập vung tay đỡ. Binh một tiếng, cả hai bật lui lại.

Đến đó Nhất-Trụ, Nguyển-Chí, Xích-Thập đồng kêu thét lên, rồi nhảy chồm chồm. Ba người lên cơn điên phóng chưởng đánh lẫn nhau. Các cao nhân cùng rời khỏi đài, tránh độc chưởng.

Lát sau đến Nhật-Hồ lão nhân cũng lên cơn. Bốn thầy trò phát chưởng. Độc khí bay khắp đài, không còn phân biệt được ai đánh ai nữa.

Minh-Không thiền sư nói với Tự-An:

– Côi-sơn đại hiệp! Thiên-trường ngũ kiệt đều biết xử dụng thần công chống Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng. Xin các vị mau khống chế Nhật-Hồ giáo chủ cùng các vị trưởng lão. Bằng không thì có nhiều người chết bây giờ.

Tự-An hỏi Thiệu-Thái:

– Thân giáo chủ. Không biết Nhật-Hồ cùng các gã họ Đàm, Đỗ, Nguyễn có còn ở trong Lạc-long giáo không? Nếu họ còn ở trong giáo chúng của quý giáo, xin quý giáo quản thúc, kiềm chế họ. Bằng không phái Đông-a sẽ tuân lệnh Minh-Không đại sư đánh chó điên.

Thiệu-Thái nhìn thấy trò Nhật-Hồ hoá điên, chàng nói với Tự-An:

– Đỗ trưởng lão đã chịu qui phục tiền bối. Xin tiền bối trị cho Đỗ trưởng lão.

Tự-An mỉm cười, ông nhắm đỉnh đầu Đỗ Xích-Thấp đánh một quyền. Xích-Thập tuy trong cơn mê loạn vì đau đớn, nhưng cũng nhận ra được Tự-An. Y biết Tự-An trị bệnh cho, nên không phản công. Quyền Tự-An trúng đầu Xích-Thập đến binh một tiếng. Xích-Thập loạng choạng ngã ngồi xuống. Tự-An túm cổ y nhắc bổng lên. Ông vọt mình, rời khỏi đài, đem Xích-Thập về khán đài phái Đông-a.

Người Xích-Thập nhũn ra, nhưng bao nhiêu cái đau đớn, điên loạn biến mất. Y chắp tay tạ Tự-An:

– Đa… tạ.

Tính Tự-An cực kỳ cương ngạnh. Đối với người đạo đức, ông kính trọng, xử lại bằng đạo đức. Đối với kẻ ác, ông giết không tha. Trong lúc ghét thầy trò Nhật-Hồ, ông đưa ra điều kiện bắt họ quì lạy một trăm lạy, với lời cầu khẩn trên, chẳng qua để tỏ rằng mình không muốn trị cho họ. Nào ngờ Xích-Thập qùy gối cầu xin thực. Trong lòng ông hối hận vô cùng về việc làm của mình.

Ông dùng một quyền đánh trên huyệt Bách-hội của Xích-Thập. Bách-hội tổng hội các kinh dương cùng Đốc-mạch. Khi đánh, ông dồn chân khí vào. Bao nhiêu độc khí ban nãy ông đẩy về người Xích-Thập, đã bị ông hoá giải. Vì vậy y không còn đau đớn nữa.

Ông để Xích-Thập ngồi ngay ngắn lại, rồi quỳ gối trước mặt y:

– Tại hạ Tự-An, hồi nãy có lời lẽ ngông cuồng quá đáng. Mong Đỗ huynh tha tội cho.

Sau đó ông lạy Xích-Thập đủ tám lạy.

Xích-Thập tuy được cứu khỏi cơn đau. Nhưng sau cơn mê sảng, người y mất hết lực. Y muôn ngăn cản không cho Tự-An lạy, nhưng sức không còn, miệng chỉ lắp bắp được câu:

– Không nên…Không nên làm thế.

Thiệu-Thái thấy Tự-An cứu được Xích-Thập, chàng nói với ông:

– Tiền bối. Xin tiền bối cứu Nhật-Hồ lão nhân cùng Đàm, Nguyễn trưởng lão một phen.

Tự-An lắc đầu:

– Thế tử ơi! Đỗ huynh do tôi dùng nội lực Đông-a đẩy chất độc vào người, tôi mới trị được. Còn Nhật-Hồ với Đàm, Nguyễn do Thế-tử đẩy chất độc vào người họ, phải do chính Thế-tử mới hoá giải nổi. Chứ tôi làm sao mà cứu họ được. Đối với Đỗ huynh, tôi đã hoá giải chân khí của tôi trong thân người. Còn độc tố Chu-sa xin Thế-tử ra tay.

Thiệu-Thái vung tay đánh vào huyệt Đại-trùy của Xích-Thập. Người y rung động thực mạnh, rồi mửa ra mấy ngụm máu. Y mửa đến ngụm thứ bẩy thì ngừng lại, đến trước Thiệu-Thái:

– Đa tạ giáo chủ giải ách.

Thiệu-Thái hỏi Tự-An:

– Xin tiền bối chỉ cho cháu phương pháp hoá giải chân khí cháu đẩy độc chất trở lại người Nhật-Hồ lão gia cùng Vũ, Nguyễn trưởng lão.

Tự-An mỉm cười:

– Đối với nội lực của Thế-tử, tôi không biết sẽ hoá giải bằng phương pháp nào. Còn nội lực Đông-a, tôi dùng ba kinh dương đẩy chất độc vào người họ bằng ba kinh âm. Vì vậy bây giờ đảo đi, tôi dùng chân khí chuyển vào sáu kinh dương. Chân khí đó sẽ gặp chân khí ở sáu kinh âm. Thế là âm dương tự hoá giải lẫn nhau.

Nói rồi ông nhảy khỏi đài.

Trong khi đó Thông-Mai đến bên Hồng-Sơn đại phu:

– Xin sư bá miễn cho cháu cái tội học trộm võ công của Thiên-vương.

Hồng-Sơn đại phu với đại hiệp Tự-An vốn thân nhau từ nhỏ. Chả vậy mà khi thấy Thanh-Mai lần đầu, ông không cần hỏi ý kiến Tự-An, cũng chẳng biết Thanh-Mai có tuân lệnh không, ông dạy y khoa cho nàng liền. Bây giờ thấy Thông-Mai xử dụng võ công Sài-sơn đến chỗ tinh vi, ông mừng vô hạn. Ông cầm tay chàng:

– Tre già măng mọc. Ta mong dạy cho cháu mà không được. Thấy cháu xử dụng võ công bản môn đến chỗ siêu việt, ta mừng thầm vì Thiên-vương linh thiêng đã ban ơn cho cháu. Có điều ra thắc mắc rằng : Ai đã dạy cháu?

Thông-Mai ghé tai đại phu tường thuật một lúc. Mắt đại phu sáng lên:

– Khi cháu thượng đài, ta cũng nghi vị cao nhân đó dạy cháu. Ta thực hồ đồ, không biết rõ hành tung của Lê Ba. Ai ngờ trong bóng tối, cao nhân đó biết hết bộ mặt của y. Người dạy cháu võ công bản môn, rồi ủy cho cháu giết tên Lê Ba để thanh lý môn hộ phải không?

– Thưa sư bá đúng thế.

Trên đài, thầy trò Nhật-Hồ vẫn hú lên lanh lảnh, tỏ ra đau đớn cùng cực. Thiệu-Thái thấy Vũ Nhất-Trụ, Nguyễn Chí đang đấu với Nhật-Hồ lão nhân. Người nọ đánh lẫn người kia, chiêu thức rối loạn, chẳng ra đường lối nào cả. Họ không khác gì ba người điên đang đùa với nhau. Chàng thở dài:

– Mình thử làm giống sư bá Tự-An xem. Biết đâu chẳng thành công?

Chàng vận khí, vỗ vào đầu Nguyễn Chí, Vũ Nhất-Trụ, mỗi người một cái. Hai người loạng choạng ngã ngồi xuống đài.

Thấy thành công, chàng hướng đầu Nhật-Hồ lão nhân vỗ một cái. Lão cũng ngã ngồi xuống.

Cả ba người gần như tỉnh táo. Họ nhắm mắt ngồi dưỡng thần. Quần hào hoan hô nhiệt liệt. Thiệu-Thái an ủi:

– Các vị chịu khó ngồi vận công, lát nữa tại hạ sẽ khu trục độc tố Chu-sa cho các vị.

Thiệu-Thái bảo anh em Đào Nhất-Bách:

– Ba vị đưa từng đạo trưởng một lên đài, để bản nhân giải ách cho họ.

Một thiếu phụ tuổi khoảng ba mươi lên đài, quì gối hành lễ:

– Thuộc hạ Ngô Bách, đạo trưởng đạo Trung-thành, tham kiến giáo chủ. Xin giáo chủ ban ân.

Thiệu-Thái vỗ nhẹ trên đầu Ngô Bách một cái. Thị rùng mình, máu mũi tuôn ra đầy mặt. Thị xé vặt áo hứng máu. Máu ra bao nhiêu, mặt thị tươi bấy nhiêu. Một ngừng chảy, nét mặt thị vui mừng không bút nào tả siết. Thị qùi gối lạy tám lạy:

– Đa tạ giáo chủ giải ách.

Nói rồi thị xuống đài. Một đạo trưởng khác lên hành lễ:

– Đệ tử Ngô Công tham kiến giáo chủ.

Thiệu-Thái lại vung tay lên, phóng vào người y một chưởng.

Cứ thế, hơn giờ sau, Thiệu-Thái trị xong các đạo trưởng.

Đào Nhất-Bách chắp tay:

– Trình giáo chủ, trong bản giáo ngoài một trăm đạo trưởng ra, còn có ba mươi sáu vị phụ trách giáo chúng ở ba mươi sáu trấn trên toàn quốc. Xin giáo chủ giải cứu.

Thiệu-Thái gật đầu. Nhất-Bách đưa lên đài một thiếu nữ. Thiệu-Thái vừa vung tay, bỗng nghe tiếng Thanh-Mai, Bảo-Hòa thét lên:

– Coi chừng!

– Ngừng tay!

Nội công Thiệu-Thái hiện đã đến mức tối cao. Dù cơn gió thỏang, dù con dán, con chuột chạy quanh năm trượng, chàng cũng phân biệt được. Nhưng chàng mải mê trị bệnh, nên không biết những gì diễn ra phía sau. Khi nghe tiếng Bảo-Hòa, Thanh-Mai, chàng giật mình, vì cảm thấy như có ai đánh trộm. Thuận tay, chàng vòng về sau một chưởng, rồi tung người lên cao. Hai tiếng bình, bình vang lên dưới chân. Chàng nhìn xuống, thấy Thanh-Mai đỡ chưởng của Nhất-Trụ. Bảo-Hòa đỡ chưởng của Nguyễn Chí. Cả bốn người đều loạng choạng lui lại.

Thiệu-Thái đá gió một cái, người chàng bật ra xa, rồi đáp xuống dưới đài. Trên đài Thanh-Mai, Bảo-Hoà đang đấu với Nhất-Trụ, Nguyễn Chí. Còn Nhật-Hồ lão nhân đang đấu với Tự-An.

Thì ra Thiệu-Thái dùng Thiền-công hoá giải nội lực của chính chàng đẩy vào người ba thầy trò Nhật-Hồ. Nhưng chỉ một chiêu chàng chưa hoá giái hết. Ba người ngồi nhắm mắt vận công đẩy nốt phần còn lại. Họ thấy công lực phục hồi như xưa, bèn dùng Lăng-không truyền ngữ nói với nhau. Cả ba đồng ý bất thần phát chiêu tập kích Thiệu-Thái. Chỉ cần giết chết chàng, cục diện có thể thay đổi. Tuy mộng làm vua mất, nhưng cũng nắm lại được Hồng-thiết giáo.

Không ngờ mọi hành động của họ không qua mắt được đại sư Minh-Không. Ngài dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai Tự-An, Thanh-Mai, Bảo-Hòa. Ba người vận công đề phòng. Nên thầy trò Nhật-Hồ vừa ra tay, đã bị phản công.

Thiệu-Thái thấy công lực Tự-An thua sút Nhật-Hồ một chút. Bảo-Hòa, ngang tay với Nguyễn Chí. Còn Thanh-Mai, nàng có vẻ thắng thế Nhất-Trụ. Đấu thêm được chút nữa, Nhất-Trụ bắt đầu dùng Chu-sa độc chưởng. Chưởng phong của y tanh hôi khủng khiếp. Thanh-Mai bình tĩnh, dùng phương pháp chống độc của phụ thân trả đòn.

Nhất-Trụ đánh liền mười chiêu, Thanh-Mai trả mười chiêu. Cứ mỗi chiêu nàng lại lùi một bước. Trong khi đó Nhất-Trụ cảm thấy tay mỗi lúc một nặng nề, chưởng phong thêm trầm trọng. Đến chiêu thứ mười một, Thanh-Mai lui lại, vỗ hai chưởng vào nhau:

– Đàm quốc cữu! Người bại rồi! Tôi không đánh với người nữa!

Đàm Can định lên tiếng chửi bới. Chợt y cảm thấy như có con dao đâm vào ngực. Y kêu kên tiếng ái rồi lùi lại. Y nghiến răng phóng thêm chiêu nữa, nhưng tay mới dơ lên, y kêu tiếng ái nữa rồi hét như con lợn bị chọc tiết.

Thanh-Mai nhảy lui lại. Nàng cười gằn:

– Mi dùng Nhật-Hồ độc chưởng hai ta. Ta chỉ đẩy trở lại người mi mà thôi!

Tất cả mọi người đều kinh hoàng tự hỏi:

– Thanh-Mai dù là con gái yêu của Trần Tự-An, nhưng tuổi bất quá mười chín, hai mươi là cùng. Làm sao mà công lực nàng mạnh đến độ trong mười chiêu, có thể thắng nhân vật thứ nhì của Hồng-thiết giáo? Ngay Tự-An, muốn hạ Vũ Nhất-Trụ, ít ra cũng phải sau một trăm chiêu?

Không ai hiểu là phải. Khi vào Cửu-chân lễ Lệ-Hải bà vương, công lực của Thanh-Mai tuy có cao, nhưng chưa dung hoà được thủy, hỏa. Phải đợi đến khi nàng đi cùng Huệ-Sinh lên chùa Sơn-tĩnh, nàng được Huệ-Sinh giảng cho phép hoà hợp này. Từ đấy công lực nàng lên tới trình độ hiếm có.

Khi đến Vạn-thảo sơn trang, Hồng-Sơn đại phu thu nàng làm đệ tử, dạy nàng học thuyết kinh lạc, cách vận khí theo vòng Tiểu-chu-thiên, Đại-chu-thiên. Công lực nàng lại tiến thêm một bậc nữa. Cũng do đó, khi đấu với cao thủ, người ta dùng nội lực tấn công nàng, bị cơ thể nàng hấp mất.

Sau này về Thiên-trường, nhờ phụ thân chỉ cho cách hoà hợp xử dụng những gì học được. Công lực nàng đã ngang với phụ thân. Cuối cùng trong lần trị bệnh cho Đoàn Huy, nàng hút hết công lực của y. Tuy người nàng đầy ắp chân khí, nhưng nàng lại trúng độc. Rồi Trần Kiệt, Huệ-Sinh, Thiệu-Thái dùng thần công trị bệnh cho nàng. Nàng lại hút thêm công lực của ba cao thủ nữa.

Giữa lúc nàng mê man, Hồng-Sơn đại phu dùng châm cứu đả thông kinh mạch, hoà hợp những luồng dị khí trong người. Thế là nàng trở thành một đại cao thủ hiếm có.

Thiệu-Thái thấy công lực Bảo-Hoà với Nguyễn Chí ngang nhau. Nhưng vì nàng úy kị độc chưởng của y, nên vẫn chưa thủ thắng. Chợt nhớ ra một điều: Hôm trước Bố-Đại hoà thượng dạy anh em chàng Mục-ngưu Thiền-chưởng. Chàng xử dụng được cả nhu lẫn cương, hoặc cương nhu hợp nhất. Còn Bảo-Hòa chỉ xử dụng dược dương cương. Nếu bây giờ nàng dùng Mục-ngưu Thiền-chưởng, có thể đàn áp được Nguyễn Chí.

Nghĩ vậy, chàng nhắc em:

– Bảo-Hòa, Mục-ngưu Thiền-chưởng.

Bảo-Hòa nghe anh nhắc, tòng tâm nàng phát chiêu Kỵ-ngưu qui gia. Một chiêu bao gồm ba chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Nguyễn Chí nào biết gì? Y tưởng chiêu đó cũng như những chiêu trước. Y vung tay đỡ. Bình một tiếng, người y bay bổng lên cao. Bảo-Hòa không nhân nhượng, nàng phóng một chỉ lên trên định kết liễu tính mệnh y.

Nhưng sau khi ra chiêu Kỵ-ngưu qui gia trong Mục-ngưu thiền chưởng, công lực Bảo-Hòa đã cạn. Thành ra chỉ không có lực. Nguyễn Chí đã đánh dư trăm trận. Tuy bị tung lên, nhưng y chưa chết. Ở trên cao, y vung chưởng đánh xuống đầu Bảo-Hòa.

Trong lúc nguy cấp, tay trái Bảo-Hòa phát chiêu Ác-ngưu nan độ âm, tay phải phát chiêu Tứ-ngưu phân thi dương. Bộp, bộp hai tiếng, Nguyễn-Chí cảm thấy hai lực đạo âm dương hỗn họp xung phá trong người y cực kỳ hung hãn. Trọn đời y, y từng đấu với hàng ngàn người, đủ loại chính tà. Chưa bao giờ y thấy thứ lực đạo kinh hoàng như vậy.

Y phân tâm một chút, Bảo-Hòa đã đánh hai chiêu nữa. Nguyễn Chí nghiến răng kêu lên:

– Mạng ta cùng rồi.

Nhật-Hồ lão nhân đang đấu với Tự-An, thấy đệ tử lâm nguy, lão phát một chưởng hướng lưng Bảo-Hòa. Bảo-Hòa chuyển chưởng về sau đỡ. Rầm một tiếng, nàng bật lui lại ba bước. Trong khi Nhật-Hồ lão nhân cũng cảm thấy bốn lực đạo theo chưởng Bảo-Hòa công phá cơ thể lão. Lão kinh hãi:

– Rõ ràng con nhỏ này dùng Phục-ngưu, thế nhưng sao lực đạo sát thủ kinh thế hãi tục như thế này? Nó còn bá đạo hơn Chu-sa của mình nữa.

Nhờ Nhật-Hồ lão nhân giúp một chiêu, Nguyễn Chí lấy lại được thế công, y đánh liền ba chưởng. Bảo-Hòa lùi hai bước, rồi trả đòn. Sau khi tiếp ba chiêu của Bảo-Hòa, Nguyễn Chí thấy rõ ràng công lực của nàng đã cạn. Y cần đấu nội lực để thủ thắng. Y đánh liền ba chưởng, đến chưởng thứ ba, y được toại nguyện. Hai người cùng đứng im đấu nội lực.

Thiệu-Thái đứng cạnh, chàng vận công thủ sẵn, nếu thấy em sơ xuất sẽ ra tay cứu liền.

Cuộc đấu nội lực dần dần đi đến bất lợi cho Bảo-Hòa.

Thông-Mai từ dưới đài nhảy lên. Chàng hướng vào Nguyễn Chí, nói lớn:

– Ta, Trần-thông-Mai là tiểu sa-di chùa Sơn-tĩnh. Ngũ giới cấm ta không được sát sinh. Nhưng ta cũng là đệ tử phái Sài-sơn, hậu duệ của Thiên-vương. Hôm nay ta giết chết mi, để trừ cho võ lâm một mối hoạ.

Nói rồi chàng chìa ngón tay định phóng một chỉ vào người Nguyễn Chí. Mọi người đều khoan khoái trong lòng:

– Đáng đời tên ác bá.

Trong khi Nguyễn Chí vừa thắng thế một chút, y thấy Thông-Mai giết mình, trong lòng hoảng sợ, chân khí yếu đi. Nhờ vậy Bảo-Hòa có dịp phản công. Nguyễn Chí bị đẩy lui liền hai bước.

Thông-Mai cười hô hố, thu tay lui lại. Bấy giờ mọi người mới biết chàng chỉ dọa cho Nguyễn Chí rối loạn tâm thần mà thôi.

Nhưng suốt từ sáng đến giờ, Bảo-Hòa đã đấu với Đỗ Xích-Thập, Trịnh Hồ, Phạm Trạch, rồi Nhật-Hồ lão nhân, công lực tiêu hao quá nửa, chưa có thời giờ phục hồi, thành ra vẫn không thắng được Nguyễn Chí.

Thình lình dưới đài, một thiếu phụ mặt che bằng cái khăn lụa, trong quần áo giáo chúng Hồng-thiết, khoan thai lên đài. Thiếu phụ đến đối diện với Nguyễn Chí, nàng cất tiếng ôn nhu:

– Nguyễn Chí ơi! Em là cây thuốc của anh đây. Anh có biết không? Từ hôm xa anh, ngày em tưởng đêm em nhớ, không bao giờ nguôi. Anh ơi!. Ngừng đấu đi, em đem thuốc cho anh luyện công đây này.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đưa mắt nhìn nhau, vì hai người nhận ra tiếng thiếu phụ rất quen, mà trong nhất thời không biết là ai.

Lạ thay, mấy câu nói của thiếu phụ, khiến công lực Nguyễn Chí yếu đi. Y tỏ vẻ cáu giận:

– Con tiện nhân. Có cút đi không?

Y nói mấy câu đó, công lực giảm, y lùi liền bốn bước.

Thiếu phụ tiếp:

– Anh ơi! Hôm nay ngày em hành kinh! Anh có luyện công không?

Nguyễn Chí nghe nói câu đó, y hét lên một tiếng, máu miệng trào ra. Y ngã lăn trên đài.

Không ai hiểu tại sao? Thiếu phụ là ai?

Thiếu phụ cười ha hả:

– Nguyễn-Chí. Bọn Hồng-thiết bắt ta làm cây thuốc cho mi luyện công bốn năm liền ở dưới hầm Cổ-loa. Bọn mi những tưởng làm cho phu quân ta thân bại danh liệt. Hôm nay ta lên đây trả được mối thù này.

Nói dứt nàng cười một tràng dài, tiếng cười đầy man rợ như người điên. Nàng đến trước Nguyễn Chí, tay vuốt mắt y bằng cử chỉ nhu nhã:

– Anh ơi, tuy vậy chúng ta cũng thành vợ chồng trong bốn năm dưới hầm, ngày đêm có nhau. Anh rất mực chiều chuộng em. Tình yêu sâu như biển. Bây giờ em đưa anh về với thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh.

Nói rồi nàng rút con dao trong bọc, đâm thẳng vào giữa ngực y. Nhưng dao chưa tới ngực, y vùng dậy đánh một quyền. Thiếu phụ bay tung lên cao, rồi rơi xuống giữa đài, nàng nghẹo đầu sang một bên, máu miệng ri rỉ chảy ra. Còn Nguyễn Chí, y cũng nằm bất động.

Diễn tiến xẩy ra thực bi thảm. Chờ một lát, không thấy hai người cựa quậy, Thanh-Mai chạy lại bắt mạch. Nàng đáp gọn:

– Mạch không nhảy, hơi thở tuyệt. Cả hai đã chết.

Thiệu-Thái định mở khăn bịt mặt thiếu phụ ra, có tiếng Khai-Quốc vương:

– Không được mở khăn! Người nhà đấy. Để Mỹ-Linh mang về an táng.

Nguyên thiếu phụ đó chính thị Chu Vân-Nga, Vương-phi của Đông-Chinh vương. Vương là em ruột của Khai-Quốc vương. Nàng bị Hồng-thiết giáo bắt sống, đem cho Nguyễn Chí làm cây thuốc luyện công. Từ hôm được Mỹ-Linh, Thiệu-Thái giải cứu. Nghĩ lại thân mình dơ bẩn, nàng định tử tử bao phen. Hôm nay nhân ngày lễ. Nàng trà trộn vào hàng giáo chúng, với ý định trả thù. Thì vừa lúc Nguyễn Chí đấu nội lực với Bảo-Hòa.

Chu Vân-Nga cũng học võ. Trong thời gian bị giam dưới hầm Cổ-loa làm cây thuốc của Nguyễn Chí. Y tiết lộ cho nàng biết rằng, những người luyện Hồng-thiết công có một nhược điểm rất quan trọng, luôn phải tập trung tinh thần. Lỡ ra trong lúc đấu nội lực với đối thủ, mà cây thuốc xuất hiện, lập tức phân tâm, chân khí tản ra da, chỉ khoảnh khắc kiệt quệ mà chết. Vì vậy, nàng muốn trả cái hận bị làm nhục, chờ lúc y đang đấu nội lực, lên đài nói truyện với y. Quả nhiên y lạc bại.

Còn Ngyễn Chí, khi y thấy Chu Vân-Nga lên đài, biết tử thần đã xuất hiện đòi mạng. Vì phân tâm, công lực giảm y bị đánh ngã, nhưng chưa chết. Vân-Nga nào hay, nàng định đến đâm chết y, bị y đánh một quyền, vỡ nát tạng phủ chết ngay.

Mỹ-Linh cho người đem hai xác chết rời khỏi đài.

Lúc nãy, người ta thấy Cao Huyền-Nga đến bên Lê Ba nói những lời dâm đãng ngọt ngào, khiến cho y lạc bại. Bây giờ thấy thiếu phụ này cũng đến bên Nguyễn Chí thỏ thẻ như cặp tình nhân, rồi y bị mất mạng. Không ai hiểu tại sao. Chỉ những người trong Hồng-thiết giáo mới biết mà thôi.

Cuộc đấu giữa Tự-An với Nhật-Hồ vẫn tiếp diễn. Nhật-Hồ công lực cao hơn Tự-An, nhưng lão sợ bóng sợ gió phương pháp đẩy chất độc ngược về của ông, nên chưa giám dùng độc công.

Nhật-Hồ lão nhân nhìn sang bên cạnh, thấy Nguyễn Chí chết thảm. Còn Nhất-Trụ đang hóa điên hóa khùng. Lão nghĩ rất nhanh:

– Ta có thắng được tên Tự-An này, ắt thằng Thiệu-Thái cũng không buông tha. Chi bằng tạm bỏ chạy, ẩn nhẫn. Sau này, ta sẽ kiến thiết lại bản giáo.

Nghĩ vậy lão đánh ra liền ba chưởng, rồi tung mình lên cao, bỏ chạy.

Tự-An thấy lão bỏ chạy, ông cười nhạt:

– Hồng-thiết giáo thành Lạc-long giáo, mi có chạy thoát, cũng chẳng làm hại được ai nữa.

Chân lão vừa chạm xuống đất, một bóng xanh đã chặn mất lối đi. Bóng xanh tung ra hai chưởng. Lão vung tay đỡ. Bình một tiếng, khí huyết lão đảo lộn. Lão nhảy lui một bước. Bóng đó cũng nhảy theo, phóng chưởng thứ ba. Bình một tiếng. Lão phải nhảy lui hai bước nữa, chân lão đáp xuống đài.

Thủ pháp, thân pháp của bóng xanh cũng như Nhật-Hồ nhanh như điện chớp, quần hùng không nhìn rõ bóng xanh là ai. Họ tự hỏi:

– Công lực Nhật-Hồ vô địch thiên hạ. Không biết ai, mà có khả năng xuất chiêu đẩy lui lão?

Bấy giờ Nhật-Hồ với quần hào mới nhìn rõ. Bóng xanh đó chính Hồng-Sơn đại phu.

Quần hùng vỗ tay hoan hô:

– Hồng-Sơn đại phu muôn năm.

Hồng-Sơn đại phu cười nhạt:

– Nhật-Hồ lão ma đầu. Hôm nay mi phải đến tội. Mi định chạy ư? Mi chạy đâu cho thoát?

Nhật-Hồ lão nhân nhìn xung quanh, y bị vây bởi bốn cao thủ: Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, Tự-An, Hồng-Sơn đại phu. Lòng y nguội như tro tàn. Y ngửa mặt lên trời than:

– Các người tự nhận danh môn chính phái, mà bốn người vây ta ư? Võ đạo các người cao thực.

Tự-An cười gằn:

– Võ đạo chỉ có thể xử dụng với kẻ biết đạo lý. Còn bọn Hồng-thiết của mi từ chối mọi kỷ cương, mi không thể đòi hưởng tinh thần võ đạo. Bình sinh mi giết người có ức vạn. Mi đâu có thấu hiểu nỗi đau đớn của họ? Hôm nay, mi có bị giết, cũng xứng đáng tội trạng!

Nhật-Hồ lão nhân ngửa mặt lên trời than:

– Không ngờ ta tung hoành trăm năm, dọc ngang trên đầu không cần biết có ai, thế mà lại chết ngày hôm nay. Côi-Sơn đại hiệp. Trước khi chết, ta xin một đặc ân.

– Đặc ân gì?

– Ta chỉ ước ao được ăn một bữa thịt chó no nê.

Tự-An cười nhạt:

– Khi mi giết người có hàng ức vạn, mi có cho họ đặc ân gì không?

Lòng Nhật-Hồ lão nhân nguội như tro tàn, lão nhìn trời:

– Tiếc quá, trời đẹp thế kia mà ta bị giết. Ôi! Đau đớn thay.

Khi đấu nội lực với Thiệu-Thái. Giữa lúc ma công phát ra tối cao, thì Mỹ-Linh tụng kinh Bát-nhã, rồi bài chú Thủ-lăng-nghiêm, ma tính trong người lão giảm rất mau. Bây giờ, Thiệu-Thái dùng Thiền-công đẩy vào người lão, trị độc cho lão. Đến trình độ này, ma tính gần như giảm hết. Lão nhắm mắt lại, những hình ảnh giáo chúng giết người trong quá khứ thoáng hiện lên, chạy qua mặt lão.

Lão ngồi xuống giữa đài, nói lớn:

– Than ôi! Ta xuất thân con nhà danh gia. Chỉ vì học Hồng-thiết kinh, mà mất nhân tính, hóa ra ma, ra quỷ. Ta giết người không kể số. Hôm nay ta thấy trong lòng hối hận vô cùng. Vậy các vị mau giết ra đi. Giết ta đi để ta được thảnh thơi, còn hơn trong lòng hối hận, đau khổ gấp vạn lần.

Y nhìn mây chiều trôi, mà nhớ lại quá khứ:

– Ta dạy đệ tử rằng: Theo thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh, cần xoá bỏ tất cả những gì gọi là tinh hoa tộc Việt. Ta dạy giáo chúng giết cha, hại mẹ, khinh thầy. Phật, Nho, Lão ta đả phá đã đành. Ngay đền thờ anh hùng dân tộc ta cũng truyền phá bỏ. Ôi thực ta điên khùng mà ta không tự biết.

Lão gào lên:

– Ta điên! Ta điên.

Y nói với Mỹ-Linh:

– Công chúa điện hạ. Lão phu bị giam trong hầm hai mươi năm, được công chúa giải thoát. Thế mà lão phu không hề biết ơn công chúa. Thì ra trong người lão phu đầy ma tính, quỷ tính, đâu còn biết gì nữa?

Lão nhìn Thiệu-Thái:

– Lão phu thành ma, thành quỷ mà không biết, lại cho anh hùng thiên hạ là đồ trộm cướp, ác độc, cần tru diệt. Hôm nay được Thế-tử dồn Thiền-công vào cơ thể, ma tính bị Phật tính đẩy khỏi người, mới tự biết mình. Tuy vậy, lão phu tội quá nhiều, chỉ có cái chết mới chuộc được tội lỗi.

Y cào hai tay vào mặt, máu me chảy ra kinh khiếp.

Y nhìn Tự-An:

– Côi-Sơn đại hiệp. Lão khẩn cầu đại hiệp giết lão càng mau càng tốt, để lương tâm khỏi bị dày vò cấu xé.

– Cái đó không khó!

Tự-An dơ tay lên phóng chưởng xuống. Vạn người như một đều nói thầm:

– Rồi đời tên ma đầu.

Nhật-Hồ lão nhân nhắm mắt chờ chết. Thình lình bóng vàng thấp thoáng. Một người mặc cà sa từ đâu, nhảy vào giữa vòng vây. Người này vòng tay một cái, Tự-An, Thiệu-Thái, Mỹ-Linh, Hồng-Sơn đại phu đều bị đẩy lui.

Tất cả cao nhân đều đứng nhổm dậy, la hoảng lên. Họ trố mắt nhìn xem ai, mà chỉ một chiêu đẩy lui được bốn đại cao thủ một lúc. Khi định thần lại, họ thấy đó là một nhà sư mập tròn, mặt đẹp vô cùng, miệng cười toe toét, lưng đeo túi vải lớn.

Quảng trường vang lên tiếng niệm:

– Nam-mô A-di-đà Phật.

– Nam-mô Di-Lặc tôn Phật.

– Nam-mô Bố-Đại Bồ-tát.

Sự xuất hiện của Bố-Đại hoà thượng, làm quảng trường đang đầy sát khí, bỗng nhiên đổi hẳn thành một bầu không khí hiền hoà, vui vẻ. Người người đều quỳ gối hướng ngài tụng kinh A-di-đà, trong đó có cả Minh-Không, Huệ-Sinh, Thuận-Thiên hoàng-đế.

Thời bầy giờ Tịnh-độ-tông trong Phật-giáo tuy không thịnh bằng Thiền-tông. Nhưng hầu hết quần chúng đều theo tông phái này. Hằng ngày, họ ăn hiền, ở lành, làm điều phúc đức, sáng tối tụng kinh A-di-đà, với niềm ước mong lúc lâm chúng được ngài đón về thế giới Tịnh-độ. Khắp một giải Hoa-Nam, Đại-Việt, Đại-lý, Chiêm-thành, Chân-lạp, Xiêm-la, Lão-qua đều nghe Phật A-di-đà phân thân giáng thế thành Bố-đại hoà thượng. Nay được thấy ngài, ai không mừng?

Khắp quảng trường vang lên tiếng tụng kinh. Người ta nói với nhau:

– Không ngờ đi lễ Bắc-bình vương, lại được thấy Phật A-di-đà, thực đại phúc.

Bố-Đại đến trước bàn thờ, chắp tay vái bốn vái, rồi ngài bưng mâm hoa quả xuống. Không biết ngài phất tay thế nào, mà một quả na lớn, chín thơm, tung đến trước Mỹ-Linh:

– Con nhí ăn đi! Ngon lắm.

Mỹ-Linh bắt lấy trái na, chắp tay tạ ơn:

– Nam-mô A-di-đà Phật.

Bố-Đại búng tay một cái, quả chuối tiêu chín trứng quốc, bay đến trước mặt Thiệu-Thái:

– Con lợn, ăn đi! Thơm đáo để.

Thiệu-Thái lạy tạ:

– Nam-mô Bố-Đại Bồ-tát.

Ngài xuống đài, đến chỗ trẻ con đứng xem. Chúng thấy ngài, lập tức bu lại xung quanh chắp tay, mắt hau háu nhìn. Ngài chĩa ngón tay vào mâm hoa quả. Từng trái một bay vọt lên, rơi trúng tay từng đứa một. Chia hết mâm trái cây, ngài vẫy Mỹ-Linh:

– Con nhí, bưng xôi, trái cây xuống đây.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái dạ một tiếng, bưng mâm trái cây, cùng xôi xuống. Bố-Đại tiếp tục chia cho đám trẻ con. Một lát, trên bàn thờ chỉ còn lại gà, lợn, rượu. Ngài lên đài hướng vào Minh-Không thiền sư:

– Này, lão hoà thượng kia! Ta đem Nhật-Hồ lão nhân đi đây!

Bố-Đại hoà thượng cười toe toét. Ngài nắm tay Nhật-Hồ lão nhân:

– Bể khổ không bờ. Quay đầu thấy bến. Lão nhân giết người không sao kể siết. Nhưng khi đã xám hối, tội lỗi cũng trôi theo.

Ngài nhìn Thiệu-Thái:

– Con lợn! Khá lắm.

Thấy Nhất-Trụ đang nhảy nhót la hét, ngài tiến đến bên vỗ vào lưng y một cái. Cơn đau hết. Y quỳ xuống niệm:

– Nam-mô A-di-đà Phật.

Nhật-Hồ, Nhất-Trụ đều quỳ gối:

– Bồ-tát! Đệ tử nguyện quy y theo Phật. Mong Bồ-tát độ cho.

Bố-Đại vuốt tay trên đầu, trên mặt hai thầy trò Nhật-Hồ. Bao nhiêu râu tóc biến mất. Ngài cười:

– Nào là giáo chủ! Nào là trưởng lão! Nào là quốc trượng, chẳng qua một giấc mộng ảo. Hai người đi theo ta, ăn trái cây, uống nước suối, có phải sướng không?

Bố-Đại hướng vào quần chúng thuyết pháp. Ai cũng tưởng ngài giảng những điều cao xa, không ngờ ngài giảng những kiến thức phổ thông: Ăn hiền ở lành, giữ ngũ giới. Các bậc thức giả đều thất vọng. Họ nghĩ:

– Trời ơi, Phật Di-Lặc chỉ dạy có vậy sao?

Ngài Bố-Đại nói lớn:

– Các người cho rằng muốn thành Phật khó lắm phải không? Dễ mà. Ai cũng có thể thành Phật. Các người tưởng học giỏi thông kinh điển sẽ thành Phật ư? Sai lầm lắm. Ai trong các người cũng có Phật tính. Chỉ cần bỏ vọng tâm, Phật-tính lớn ra, ma tính rời khỏi liền.

Ngài ngừng lại:

– Muốn phục cái tâm, phải đi từng bước.

Ngài hướng vào Bảo-Hòa:

– Tiểu quận chúa. Người đã vẽ mười bức tranh Mục ngưu phải không? Hãy in ra thực nhiều, giảng kỹ, để chúng sinh ai cũng biết.

Bố-Đại thấy gần như tất cả quảng trường đều quỳ gối niệm kinh A-di-đà. Ngài cũng niệm theo. Thấp thoáng một cái, ngài với Nhật-Hồ, Nhất-Trụ biến mất khỏi lễ đài.

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103136
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49576 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Next

Return to History & Culture Of VietNam | Lịch Sử & Văn Hóa Việt Nam

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests