Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Quyển 1-7)

Read and learn ethnic origin Vietnamese | Hảy tìm hiểu và học hỏi nguồn gốc dân tộc việt

Re: 2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI

Postby DaMinhChau » April 7th, 2018, 12:48 pm


Chương 76

Cái chết của đặc công Huỳnh Thành Đồng
và sợi dây lưng quần của cô nữ dân công.





Vừa đi Tư Nhựt vừa than thở.

– Thiệt hại nặng quá thầy Hai. Thiệt lãng quá ! Đánh như vậy lính đâu còn mà đánh nữa.

– Trên 40?

– Thằng Hai Hổ xã đội vô trách nhiệm. Y cứ dập, không có cả bó chiếu, nói chi hòm!

Hai đứa kéo vô quán làm sơ vài con khô mực. Cô bé bẽn lẽn nhìn tôi như nhắc lại những cái hôn táo bạo của cô hôm trước. Chính nơi đây tôi được nghe cô nói: “Sắp đánh Tân Qui.” Đó là nguyên nhân của sự thất bại nặng nề.

Tôi và Tư Nhựt đi ngất nghễu trên đường vắng lặng. Lúa hai ven đường xơ xác. Không một bóng người. Đồng bà thưa thớt Những bà mẹ, những bác nông dân tự cho mình cái quyền chạy ra ấp chiến lược bám thắt lưng Mỹ mà không ai được nói gì. Ai nói gì kia chớ? Trực thăng nó xúc cả heo nái heo con lẫn người ra ngoài đó, heo được uống cả sữa bột. Ai đút miệng vô đâu mà nói.

– Tôi quá tin ông Ba Châm thầy Hai à! Tôi nghe ở trên sắp phân tán E2 thành D độc lập. C3 mất sức chiến đấu.

– Nó chịu nặng nhất.

Bỗng từ đàng sau có tiếng người. Tôi quay ngó lại. Hai người khiêng toòng teng một cái võng. Tôi nghĩ thầm: Chắc bị pháo lẻ đêm qua. Không có ngày nào Củ Chi không đổ máu, không có ngày nào thế giới không bị lừa gạt về cái Củ Chi đất thép này (đến nay 1994). Chúng nó gạt thiên hạ đã đành, chúng nó còn gạt cả đồng chí chúng và tự lừa mình.

– Ai đó phải anh Hai không?

Hai đứa tôi đứng lại. Chiếc võng trờ tới. Trên chiếc võng một bọc ni lông dài màu xanh. Tưởng ai, ai dè con Quắn.

– Ai vậy Quắn?

– Anh Ba em !

Thằng Quyết. Đêm trước thấy lính nhà vác xác nó qua mặt tôi đã rụng rời tay chân. Tôi còn đau đớn. Quắn đi song song với tôi và Tư Nhựt giải thích:

– Ba em bảo em đi tìm cho được xác ảnh đem về chôn ở đất nhà. Em ra Phú Hòa tìm ông Hai Hổ một ngày. Ổng mới dắt tới vườn cao su. Mấy chục nấm đất mới, không biết cái nào? Em nói tên Ba Quyết. ông bảo: “Tôi nhớ rồi. Mới lúc chiều chú Ba có mượn tôi kiếm cho cây đòn để khiêng thương binh. Chẳng ngờ tối lại khiêng chú.” Ổng chỉ: “Cái mã kia kìa. Nhưng phải coi kỹ, bể sọ đầu mới đúng, bị chỗ khác thì không phải Ba Quyết.”

Tôi rợn xương sống. Nếu tôi bị dập ở đó ba má tôi làm sao biết được? Cái cuộc chiến tranh ái quốc ái quần này giết không biết bao nhiêu sinh mạng để làm gì ngoài những trò khỉ cho thế giới khinh miệt và cười chê.

Nước chảy ròng ròng xuống đất, tanh hôi lạ lùng, nhưng tôi và Tư Nhựt cố giữ vẻ thản nhiên. Những con ruồi bay theo đáp trên ni lông, trên chiếc đòn. Tôi và Tư Nhựt đứng nép qua, cúi đầu. Tư Nhựt giơ tay, giọng nói rưng rưng.

– Chào mày nhe Quyết!

Còn tôi không muốn nhìn cái võng lẫn cô em gái đi sau chiếc võng. Quắn nói:

– Đây là bộ đồ ảnh bỏ lại nhà, em đem tới mặc cho ảnh nhưng không mặc được.

– Cho anh gởi lời chia buồn tới gia đình.

Tôi và Tư Nhựt đứng lại chờ cho chiếc võng vượt xa mới đi tiếp Tư Nhựt nói:

– Chuyến này mình đi Trung An thầy ạ !

– Đừng kêu tôi vậy, lính cười cả anh lẫn tôi.

– Anh, thầy cả đại tá, tôi ăn thua gì.

– Về Bộ binh tôi phải học anh.

– Giỡn hoài ! Tôi nghe Tư Linh nói anh đánh Tây hồi mười bốn tuổi. Tôi chỉ là… không chó bắt mèo ăn cứt: Học thì không, kinh nghiệm thì ít. Chỉ quen đường đất vùng này.

– Kỳ này hai đứa mình phải gở lại cái Tân Qui.

– Hai ông Ba Châm, Út Lịa làm bể lính hết. Phải vùa một tụ cho tụi nó lấy lại tinh thần anh ạ. Kỳ này luồn xuống một đại đội thôi. Trước khi đi mình phải kiểm thảo trận đánh. Ông Ba Châm bị gọi về gặp ông Năm Lê . Cho ổng xanh mặt phen này. Ờ, chân anh đã lành hẳn chưa?

– Lành, nhưng đi còn sượng.

– Nghe đàn bà đi chợ về nói tụi Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 mở tiệc ăn mừng ngoài đó. Tụi nó ngạo mình đấm vào lỗ không! Tức ói máu!

Tôi hỏi Tư Nhựt:

– Cái tay anh hết rồi hả ?

– Miễng sớt qua ngoài da thôi. Mấy bữa này xe tăng Mỹ cà rịch từ Lồng Cu 3 tới Bàu lách, lên tuốt Bến Đình. Nó vừa moi được một hầm 6 ông 2 bà ở An Phú .Chúng nó đang thăm dò để bung tới đường số 7 vào sâu Lô 6. Rồi luôn Ba Sòng nữa. Cha cha! Nó cắm nọc giữa rún mình rồi anh!

– Có ai ở trên xuống kiểm thảo mình không?

– Chưa biết. Nhưng ở trên bảo là mình có khả năng đánh cấp tiểu đoàn. Mặc dù vậy, trận Tân Qui cũng cho một số kinh nghiệm.

Tôi làm thinh. Hồi chín năm tôi ở D307 của Nguyễn Văn Tiên, có trận nào đánh cấp tiểu đoàn mà xộc xệch về mọi mặt thế này đâu. Hồi đó chiến thuật vững hơn, cán bộ tài ba hơn bây giờ nhiều. Những người lứa tuổi đó bây giờ như Ba Châm, Năm Tiều… đã lụt, chỉ còn làm được Tham mưu thôi. Nhưng đánh Mỹ bây giờ họ cũng đã lạc hậu. Các chiến thuật Lấy thịt đè người, Dao mổ bò giết ruồi, Công đồn đả viện đã phải rách nát trước các chiến thuật Trực thăng vận, Bủa lưới phóng lao, Phượng hoàng vồ mồi. Nhưng mình bắt buộc phải đánh. Chấp nhận.mọi hi sinh.

Thế là tôi và Tư Nhựt đi Gò -Môn (Gò Vấp và Hốc Môn nhập lại) để thi hành nghị quyết cấp trên. Bên cạnh cái chiến thuật “Nắm thắt lưng của Mỹ mà đánh” do “nhà văn” Nguyễn Chí Thanh (tác giả tùy bút “Cây đa bến cũ con đò khác đoan đăng trên 12 kỳ báo Nhân Dân để ca ngợi hợp tác xã) sáng tác bây giờ lại được bổ túc bằng một cái sự đời mới nữa “Đưa ác liệt vào lòng địch” mà chúng tôi là mũi nhọn tiền phong.

Theo kế hoạch thì chúng tôi gặp ông vua con Châu Thái Hùng, huyện đội trưởng huyện Gò-Môn. Hùng cho mấy chiếc tam bản rước một đại đội chúng tôi đến Trung An, một xã nằm sát sông Sài gòn, ở hai xã Tân Trạch Đông và Phú An Đông. Nếu cho tỉnh lộ 8A là cây đòn gánh một đầu gánh ấp chiến lược Cây Bài, một đầu ghim vào thị xã Bình Dương bên kia sông Sài gòn thì Ngã Tư Tân Qui và bót Cây Keo (cũng còn gọi là bót Thầy Mười vì ở gần đó có nhà thầy giáo Mười) là những điểm giữa của chiếc đòn gánh này. Tân Qui nằm ở phía ấp chiến lược Cây Bài, bót Cây Keo nằm về phía thị xã Bình Dương.

Hai cứ điểm này nằm trên trục lộ 8A cách nhau chừng bốn cây số đường chim bay. Quốc lộ I dẫn về Sài gòn gặp nhau với tỉnh lộ 8A ngay ấp chiến lược Cây Bài. Nói tóm lại muốn luồn Cl vào vùng Gò-môn chẳng khác nào bắt một con cá chui qua những mắc lưới đồn bót trên bộ và đặc biệt Giang Thuyền Bình Dương lúc nào cũng có thể đổ bộ trên hữu ngạn sông Sài gòn tấn công vào các vùng đất hẹp té được Mặt Trận Giải Phóng hóa phép thành khu Giải Phóng chiếm 3/4 đất đai Miền Nam nói chung và vùng giải phóng Quân Khu IV chạy dài tới cửa ngỏ Sài gòn! Trong khi trên thực tế, thì Củ Chi chạy tới Sài gòn là một nan lưới đồn bót cố định và được xây cất thêm càng ngày càng đông đúc vào thời điểm này. Có đến hàng trăm cái bót lớn nhỏ. Tân Qui chỉ là một cứ điểm trung bình có chừng 2C địa phương quân trấn giữ.

Riêng tôi và Tư Nhựt được một chiếc xuồng con rước vào căn cứ của Hùng, còn Cl và các tổ trinh sát thì phải hành quân qua rạch Nàng Âm vào lúc chiều tối để đóng ở ấp Phú Yên sát bờ sông Sài gòn chờ lệnh chúng tôi. Tôi hỏi Tư Nhựt:

– Anh có quen với Ba Hùng? (tức Châu Thái Hùng)

Tư Nhựt lắc .

– Nhưng nghe nói ông cũng là dân tập kết. Rất khó tính.

Chiếc xuồng con do hai người bơi theo con rạch quanh co, đổ ra sông Sài gòn một hồi rồi lại chui vào một con rạch khác. Hai bên bờ toàn là cây bần, cây mắm và lá dừa nước. Chừng một tiếng đồng hồ mới đến một khu vườn dừa cao và cây ăn trái. Tôi ngó lên thấy có một sợi dây phơi quần áo đen tím giăng giữa hai cây cau. Heo gà rải rác bên mương vườn. Tư Nhựt lên giọng lạc quan:

– Thế nào bữa nay mình cũng có bữa cháo gà .

Không ngờ gặp Hùng, chúng tôi thối chí: hắn có bộ mặt gà mái ấp, lạnh như tiền. Bàn bạc với hắn cả buổi, không có một miếng nước lã thấm giọng. Chúng tôi chủ quan nên không mang bình ton theo, đành chịu khát bàn chuyện cứu nước. Hắn làm như chúng tôi là Bộ Tư lệnh Quân Khu phải giải quyết tất cả mọi khó khăn cho hắn, nên bàn kế hoạch tác chiến nào hắn cũng than không khắc phục được và mong các đồng chí thông cảm. Tư Nhựt hơi quạu:

– Phần tác chiến chúng tôi đảm trách, xin đồng chí cấp gạo cho chiến sĩ.

– Ở đây không có chế độ cấp gạo. Cơ quan nào cũng lãnh lúa tự xay lấy mà ăn.

– Tụi tôi là D cơ động làm sao xay lúa?

Hùng nhăn răng cười:

– Tại nó vậy tôi biết làm sao? (Nó là ai, có trời hiểu.)

Nếu gặp Năm Tiều chắc thằng cha quận đội này ăn đạp hoặc được thường vài ba chục đù mẹ. Mặt hắn có vẻ sáng sủa hơn Tám Giò quận đội Củ Chi. Nhưng Tám Giò còn đãi tôi và Hai Khởi một ly cà phê, trà và thuốc hút. Cuối cùng là nhậu mắm chua cá con, nhưng thằng này thì luôn luôn quác ra, làm như chúng tôi tới đây phá rối cuộc ăn hút của hắn.

Tư Nhựt hỏi tới vấn đề tải thương. Hùng lắc đầu:

– Ở đây chỉ có vài que du kích. Nhưng lâu rồi họ lặn mất hết. Nếu các đồng chí cần (cần thật chớ nếu con mẹ gì!) tôi sẽ liên lạc với xã đội Tân Thành Đông may ra kiếm được vài mạng. Nhưng xay lúa giả gạo thì may ra họ còn giúp, chớ tải thương thì e khó động viên. Có bắt họ đi ra trận, họ cũng trốn trước khi nổ súng.

Khác hẳn với những gì (rất lạc quan) mà ông Tám Quang Trưởng phòng chính trị Quân Khu thay mặt Bộ Tư lệnh phổ biến trước khi chúng tôi xuất quân. Cấp chỉ huy nào của Việt Cộng cũng có một cách lãnh đạo nhằm mục đích xua lính vào cái chết. Trước lúc vượt Trường Sơn, Nguyễn Văn Vịnh, Chủ nhiệm ủy ban Thống Nhứt thay mặt Trung ương Đảng báo cáo “Trường Sơn có quân y viện, có bếp nuôi quân, có cả mậu dịch bán với ba thứ tiền Việt Miên Lào!” Lũ binh sĩ và cán bộ nghe xong tưởng như đi dạo Bờ Hồ. Vô đó rồi hộc máu ra từng cục, lính chửi bác Hồ đểu. Nhưng đã vô lò sát sinh rồi. Cửa đóng then gài, chuồn trở ra không được. Tám Quang cũng lãnh đạo cái kiểu đó. Hùng nhìn tôi một giây rồi hỏi:

– Thấy anh hơi quen, hình như có ở 338 của ông Tô Ký .

Tôi gật, bụng không khoái lắm.

Cuối cùng tôi và Tư Nhựt cáo lui, chỉ nhờ hắn cung cấp xuồng ghe cho chúng tôi chở súng nặng đi trong rạch. Ở đây ruộng lầy, không thể vác đi được. Hắn đồng ý nhưng với điều kiện là phải báo trước một ngày thì mới có.

Hắn ngồi trong nhà nhìn chúng tôi đi chớ không thèm đưa ra bến. Tư Nhựt là kẻ rất đàng hoàng, nhưng bây giờ cũng không giằn được. Y đù mẹ và văng tục chửi thằng quận đội là đồ chó đẻ, đồng chí con gì vậy v.v….

Chúng tôi nhìn mấy người trong xóm có vẻ là du kích nhưng không dám ra mặt hơn, để hỏi thăm tình hình. Họ bảo xã Trung An này trống trơn, dân đi tứ tán hết, nhà cửa thưa thớt, chỉ có một con đường từ ấp Phú Yên ra ấp Nhà Việc gần đường số 8. Còn ngoài ra thì lội. Nếu đóng quân thì phải coi chừng trực thăng ở Đồng Dù đáp xuống hốt. D2 đã bị chụp mấy lần rồi! Chúng tôi chỉ được biết có thế. Ngoài ra thì mò mẩm tìm hiểu lấy.

Sau khi lên bờ tôi gặp Tư Công C trưởng Cl vừa lên thay cho Năm Tân bị thương nặng ở Tân Qui, Tư Công cho một tổ trinh sát đón chúng tôi đến bờ rạch xóm Bưng Tre (tức là con rạch Láng The). Con rạch này bắt nguồn từ đâu không biết, nhưng nó chảy qua cầu Phú Hiệp ở đường Một Làng, cách Đồng Dù chừng sáu, bảy cây số và đổ ra sông Sài gòn. Nói là rạch nhưng nó rộng lớn hai bờ rậm ri, nếu không có xuồng thì không tài nào lội qua được. Cuộc hành quân “đưa chiến tranh vào lòng địch” này quả là một cuộc đ đứng thiên nan vạn nan còn hơn cả Trường Sơn vinh quang.

Ở Trường Sơn có sốt rét, đói và leo núi, nhưng không có địch, còn ở đây thì nước ngập, bốn bề là địch và pháo. Nguy hiểm nhất là nước ngập cả vườn, nhà dân chỉ có cái nền là khô ráo. Không làm sao nấu cơm được ngoài vườn. Khổ nữa là củi ướt nhiều khói, bót bên kia sông Sài gòn hễ thấy khói là bắn qua. Lính lội sình móng chân nhét bùn, móng bị thối làm sưng hết cả bàn chân không đi được, chúng tôi kêu thằng quận đội mua cho vài chục cái cắt móng tay để lính dùng, và vài cái rề-sô để nấu cơm. Hắn bảo: “Các đồng chí tự túc lấy. “

Trên đường đi, tôi hỏi cậu liên lạc quận đội:

– Đồng chí Hùng ở đây hoạt động chắc mạnh lắm hả em?

Cậu bé bảo:

– Ổng đâu có ra khỏi nhà đó. Mấy ông được mời vô nhà là ưu đãi lắm rồi.

Tư Nhựt lại văng tục om sòm:

– Không có miếng nước uống, ưu đãi c… gì?

– Vậy mà hễ mấy ông về là ổng chơi toàn cà phê, Nestlé thôi Mấy con nhỏ áo hồng, áo xanh đỏ đi chợ mua đủ thứ về là đeo sát với ổng.

Tư Nhựt lại qua sông nghiên cứu trận địa vì y rành vùng này. Y bảo:

– Đơn vị mình cắm xuống đây là thất thế lắm thầy Hai, nhưng đó là ý muốn cấp trên. Nhưng thế này cũng chưa sao đâu khi lọt qua đường số 8 xuống vùng Bình Mỹ rồi thầy sẽ biết. Mình sẽ phải nấu cơm trên mặt nước . Một đứa treo soong trên tay, một đứa cầm lửa dưới đít soạng.

Đồn Thầy Mười xa xa kia. Nó chốt một trung đội để chận đường liên lạc băng qua đường số 8. Du kích bị nó đánh tan còn liên lạc thì phơi thây cũng nhiều. Do đó ở trên muốn chúng tôi bứng nó đi. Tư Nhựt qua sông xong, tôi ở lại lo chỗ trú quân và kiểm tra vũ khí chuẩn bị chiến đấu, không để xảy ra một trận Tân Qui của ông Ba Châm nữa.

Tôi và thằng Phước trợ lý cấp dưỡng Tiểu đoàn đi lãnh lúa. Lãnh cho được lúa cái đã rồi sau đó hãy tính đến việc xay. Có bộ đội chủ lực nào sinh hoạt như vậy chưa? Nếu có thì đó là bộ đội Việt Cộng. Lạ thay, trong trang thời đại nguyên tử này, nó phải đánh với một quân đội võ trang tối tân như quân đội Sài gòn và Mỹ. Và nên nhớ rằng “phải nắm thắt lưng mà đánh. ” Cái chiến thuật này đã đẻ ra vô số nghĩa địa và cái to nhất tên là Mậu Thân với nửa triệu nấm mồ vô chủ, trong đó có một cái mã to sù mang tên Lăng Bác!

Ông chủ nhà chúng tôi đóng quân mặt xanh như lá tràm. Ông không dám từ chối, chỉ muốn chúng tôi đi nhanh, nên mách cho chúng tôi chỗ lãnh lúa. Đó là anh Tư ở ấp Phú Yên. Chị Tư bán quán ở sát sông Sài gòn. Ra đây có nghĩa là vuốt râu cọp vì Giang thuyền Bình Dương thả trôi lều bều, không biết nó sẽ đổ bộ lúc nào, khoảng nào. Nhưng bụng đói thì đầu gối phải bò.

Chúng tôi vào quán thấy ba bốn ông nông dân sồn sồn mặc quần tiều, người áo vắt vai, kẻ ở trần đang ngồi uống trà. Tôi hỏi thăm thì họ chỉ ngay ông Tư trong đám. Anh là cán bộ kinh tài xã. Thằng Phước nói nhỏ.

– Ớn quá anh Hai. Rủi giang thuyền đổ bộ mình chạy đâu?

Tôi nói mà bụng cũng run.

– Có anh Tư đây lo gì !

Một người đàn bà cỡ bốn mươi tuổi, đầu tóc bới bánh lái, bước ra ngó hai đứa tôi với cặp mắt lạ lùng, lạ vì cách ăn mặc: đồ vải thô trên rừng không giống ở đây toàn xài vải ni lông. Chị bảo:

– Ông coi phát lúa cho mấy chú đi.

Tôi biết đó là chị Tư. Anh Tư nói ngay:

– Anh Ba Hùng có báo cho tôi hôm qua.

Thằng Phước ra miệng ngay:

– Anh Tư làm ơn cấp gạo cho tôi, chớ chúng tôi làm sao xay lúa? Chúng tôi là đơn vị lưu động đâu có vác cối trên vai được Vai chỉ để vác súng… cối thôi.

Tưởng đâu câu nói thống thiết đó làm anh động lòng, nhưng ngược lại, anh cười lạt lẽo:

– Mấy ông ở Hố Bò không quen vác cối xay, nhưng xuống đây phải tập rồi quen. Một vai vác cối xay, một vai vác súng cối. Có cối xay, súng cối mới nổ được.

Tôi muốn đá vô bảng mặt thằng đồng chí kinh tài, nhưng rừng nào cọp nấy, nên giằn lòng:

– Thôi được, anh Tư cho tôi lãnh lúa.

Chị Tư xía vô:

– Cái ông này, mấy chú kia (tức là D2 của Tám Lê) ở đây lâu quen rồi, còn mấy chú này mới xuống, ông phải giúp người ta chớ! – rồi quay sang tôi với cặp mắt cảm tình – Mấy chú đem lúa đổi. Một giạ lúa lấy 18 lít gạo. Dân xay lúa lời được trấu và cám cho heo gà ăn.

Tôi mừng thầm. Cái miệng nhân đạo của chị đã biến lúa ra gạo giúp chúng tôi.

– Cám ơn chị !

Tôi và Phước đi lãnh mấy chục giạ lúa. Giấy đều có chữ ký của anh Tư. Tôi hỏi anh:

– Ở đây không có kho sao anh Tư?

Anh lắc:

– Kho nước ngập, với lại mình làm kho Sư đoàn 5 nó nhảy xuống đốt hết. Chúng tôi bị cháy mấy cái ở Cầu Lớn rồi !

Sau khi lãnh lúa xong, tôi quay trở lại quán mua thuốc hút. Anh Tư mời tôi:

– Mấy chú mới xuống phải bám chắc Ba Hùng. Thôi, làm vài ly đón gió. Lạ phong thổ dễ bị chói nước lắm.

Tôi ngồi nhâm nhi khang mà mắt láo liên vì lạ nước lạ cái không biết bị tấn công, bao vây, đổ chụp lúc nào. Bỗng một nhóm ba người đầu bờm xồm, mặc áo ni lông đen cầu vai, quần tiều vào quán. Tôi đâm đứng dậy thủ thế, thì có tiếng kêu:

– Ê, Lôi !

Tôi ngó trân trân vào người vừa kêu.

– Tao là Vĩnh, Lục quân Trần Quốc Tuấn ở ty tiểu đội của mày nè.

Rồi hắn chạy tới ôm tôi hôn chùn chụt, buông ra rồi lại hôn như mưa. Chị Tư lẩm bẩm:

– Làm coi như vợ chồng !

– Tụi tôi còn hơn vợ chồng nữa đó chị Tư! – Rồi nói với tôi- Đây là chị nuôi của tao, còn đây là bạn của tôi từ mười năm trước đó chị Tư. Tưởng không gặp nữa.

– Mười năm mà còn nhớ, giỏi thiệt!

– Chết cũng không quên nữa là mười năm!

Anh Tư rót rượu, chị Tư nướng khô mực ra. Vĩnh cụng ly với tôi.

– Tao có gặp mày ở Quảng Oai Sơn một lần rồi từ đó biệt luôn. Thằng Phạm Hai không đi tập kết, nó ở lại kinh 6 Biển Bạch với con Út. Phải nó đi thì giờ này cũng như mình. (Tôi không hiểu Vĩnh nói như mình là sao. Anh dũng như mình, cực như mình hay ở trên coi mạng mình như kiến?) Nay gặp lại mày ở đây coi như tụi mình đã về Biển Bạch. Phải nhậu một bữa.

– Tao bận ghê lắm.

– Tao biết! tao biết! Nhưng bận gì cũng phải say một trận. Mày phải bám ông thần này (Vĩnh vỗ ngực) chớ không nhờ cậy thằng Châu mèo đái đó được đâu.

– Châu… nào?

Vĩnh rỉ tai tôi:

– Thằng Châu Thái Hùng! Ở đây bọn tao và Tám Lệ, Năm Dây kêu nó vậy, vì nó giúp gì cho mình cũng ri rỉ còn với các em thì nó rộng rãi như công tử Bạc Liêu. Mày tới cơ quan nó chưa? (Tôi gật) Có thấy mấy con gà mái tơ láng mướt trong nhà không? Đó là cái ổ… cách mạng to nhất của Gò-Môn. .. đóng tại làng Trung An. Mày cứ ở đây, bảo gì, cần gì tao làm cho. Thằng đó kể như mình nghỉ chơi đi ! Tao biết nó là Cf ở 338 nhưng đéo thèm nhắc. Mày không thấy cái mặt lưỡi cày, bộ răng chuột của nó à . Tướng đó khó chơi lắm. Nhờ nó cái gì nó cũng bảo tự túc, hoặc hứa mà không có ! Tao lo hết ! Tao lo hết cho mày! – Vĩnh đấm ngực – Tao sẽ cho lính tao tới phụ với mày.

– Đừng có hứa cuội nghe Vĩnh!

– Ê, giỡn hoài mày, ai chớ thằng này hổng chơi kiểu đó !

Tôi cười, giơ ly rượu lên:

– Vậy mày không hứa ra Bắc hai năm về là gì, Vĩnh?

Vĩnh cụn ly với tôi, nốc cạn rồi hai thằng tri kỷ ngã đầu vào vai nhau cười sặc sụa. Nó lè nhè:

– Không biết cô nàng Biển Bạch của tao nay đã thành hủ mắm chưa ?

– Tao cũng có một hủ….

Chị Tư vọt miệng:

– Mấy chú đừng lo, mắm để lâu càng ngon!

Chúng tôi lại uống, lại nhắc tích cũ. Nhưng không dám uống say dù cần phải say. Tôi bảo:

– Ngồi ở đây tao rét quá Vĩnh à !

– Mình ở Bạc Liêu Cần Thơ quen chém vè rồi. Ở đây cũng vậy. Tao chết, mày mới chết! Tao đã sống ở đây hai năm rồi!

-Trời đất, lão làng cỡ đó sao!

Vĩnh hứng tình, chu mõ hút gió queo queo vang cả quán. Anh Tư chị Tư đều khen tài của hắn. Tôi châm thêm:

– Nó ca vọng cổ mùi còn hơn mít nghệ chín cây nữa đó chị Tư. Nhờ vậy mà con Út đội giường thờ theo nó. Rồi con Sáu cũng mê nó luôn. Để khi rỗi, anh biểu nó vừa hút gió vừa diễn bài Khổng Minh tọa lầu cho anh coi cười lộn ruột.

Vĩnh nốc một phát quẹt miệng rồi gật gù:

– Tao sẽ về gặp lại em tao.

Hắn móc bóp lôi ra tấm hình nhỏ đã loang lở đưa cho tôi.

– Mày nhớ cái bờ kinh này không.

– Chẳng biết bờ nào?

– Bờ kinh 6 Biển Bạch chỗ tướng mình đóng.

– Ờ! ờ!

Tôi hình dung lại những hình ảnh xa mờ sau những lớp bụi chiến chinh, vẫn còn chưa biến dạng trong đầu. Vĩnh tiếp:

– Tao với mày đừng có đứa nào sẽ như anh Bảy Đồng của mình nghe mậy !

– Bảy Đồng nào?

– Huỳnh Thành Đồng tham mưu phó Quân Khu mày quên à?

– À! à ! Hắn ở Công binh F338 ông TÔ Ký đóng ở Xuân Mai. Ảnh ở đâu?

– Ảnh đang… ở sau bờ mía kia kìa.

Tôi mừng như tái sanh.

-Thiệt hả?

Huỳnh Thành Đồng Tiểu đoàn trưởng Z35, người đã chỉ huy pháo kích sân bay Biên Hòa. Tưởng đã chết ở Sông Bé. Súng ống quăng cả ở sông Sài gòn chạy lấy thân. Cái huân chương của ảnh tôi thay mặt lãnh ở đại hội mừng công R có mặt ông Sáu Vi, Nguyễn Hữu Thọ v.v… Nay lại gặp ở đây. Ảnh sẽ giúp mình cả tinh thần lẫn vật chất trong lúc gian nan này. Tôi hỏi:

– Có thể cho tao gặp ảnh được không?

– Ảnh nằm đó chớ đâu mà không được? Cái thằng!

– Tao muốn gặp càng sớm càng tốt !

– Khoan đã, để cưa thêm xị nữa rồi gặp không muộn gì. Ảnh đóng ở đó chớ không dời đi đâu hết. Đã ba, bốn tháng nay rồi.

Tôi yên trí nên nốc nhanh nốc mạnh. Xị rượu lưng rồi đầy lượt nữa. Vịnh vẫn cà kê. Tôi sốt ruột:

– Thôi đủ rồi Vĩnh. Làm quá mức không chạy được.

– Ừ đi thì đi. Nhưng đừng có gặp mà khóc như tao gặp mày lúc nãy nghe!

Vĩnh dắt tôi ra bờ. Qua một dãy mía sau quán. Đến một khoảng đất trống bằng chiếc đệm bốn bên là cây nua, cây bù xít um tùm. Đứng xa xa Vĩnh trỏ tay:

– Đó chả nằm đó.

Tôi nghĩ thầm:

– Chỗ này đào hầm được à?

Nhưng Vĩnh nói, giọng tỉnh queo:

– Mày không thấy chỗ đất mô mô đó à ?

– Nắp hầm mà làm vậy lộ chết!

– Nắp hòm chớ nắp hầm gì ?

Tôi điếng người. Lặng câm hồi lâu. Tai ù mắt hoa.

– Mày nói gì Vĩnh?

– Thì ảnh nằm đó chớ nói gì ?

Tôi hiểu rồi. À! thì ra thế.

– Thôi, đi vô mày. Tụi Giang thuyền đổ bộ êm lắm.

Bàn rượu vẫn còn nguyên, chưa dọn.

Huỳnh Thành Đồng? Con người to lớn. Đại đội trưởng Công Binh F338. Về Nam lúc nào không biết: Đánh sân bay Biên Hòa. Rồi được phong làm Tham mưu phó khu IV. Vợ ở Mõ Cày, Bến Tre. Rước vợ vô 1963 ở Tà Băng. Gặp vợ ở đò máy anh ta ẵm lên tay. Vợ dãy dựa suýt rớt xuống sông… Bây giờ nằm ở đây, im lìm như đất, dưới đất. Bốn bên không một đóa hoa. Không một cọng nhang.

Huỳnh Thành Đồng! Tham mưu phó Quân Khu IV!

Vĩnh không còn cái giọng châm biếm pha bi lụy nữa. Nó ngồi đờ ra.

– Thôi uống đi mày rồi lo công việc! Tao không muốn cho mày biết nhưng có thể sau này tao với mày gặp nhau dưới đó rồi mày trách tao.

Đột nhiên một tia sáng lóe trong đầu tôi:

– Khoan đi đã Vĩnht Mày hỏi chị Tư có gà vịt gì không cho tao một con.

Rồi chị bắt gà làm thịt, luộc để trên dĩa đem ra cho tôi.

– Đi Vĩnh ! Theo tao .

Vĩnh biết ý tôi, lấy bó nhang. Hai đứa ra mộ. Nấm đất lè tè vàng úa như một gò mối loạn trong rừng Tây Ninh. Tôi đốt nhang, cúng vái. Khói tỏa mênh mang. Lòng tôi tan nát bi thảm. Huỳnh Thành Đồng học cùng khóa pháo binh ở Sơn Tây với tôi về Nam lội khắp nơi. Biên Hòa, Bình Giã, Phước Long đều in dấu chân anh. Bây giờ nằm ở đây bẹp dí!

Chúng tôi quay trở lại. Tôi hỏi Vĩnh:

– Sao vậy?

– Ổng xuống đây thằng mèo đái không cho ở chung. Lạ cảnh lạ người !

– Sao không bám mấy ông xã đội?

– Xã mẹ gì. Chị Tư biết rõ. Ở đây làm gì có xã xiếc Ảnh tự đào hầm ở sau quán đâu đó. Giang thuyền đổ bộ lội vô quán ngồi im. Có lẽ ảnh bị ngộp nên tung lên chạy. Chẳng ngờ có hai tên ở sau bờ ngồi ăn mía. Nó rẹt một băng M16 rồi rút xuống tàu. Không biết đó là ai!

– Trời !

– Nó tưởng là thường dân.

– Có báo cáo về khu không?

– Thằng mèo đái nhẹm luôn vì đó là trách nhiệm của nó.

Đại úy Hai Giả bị cài xuống Thủ Đức cũng chết oan ức như vậy. Đó là kết quả chiến thuật nắm thắt lưng của Sáu Vi !

Tôi vẫn tưởng anh còn ở đâu trên R. Dè đâu lại chết ở ấp Phú Yên xã Trung An bên bờ sông Sài gòn. Hạng Võ không biệt Ngu Cơ ở Ô Giang mà ở bờ sông Sàigòn. Ngu Cơ hỡi, nàng ở Mõ Cày nào có hay!

Tôi gặp anh sau khi anh ở Bình Giả về. Mặt mày trầy xước, tóc tai bù xù, chúng tôi nhậu ở Suối Dây với thịt nai của Bùi Khanh săn được. Mấy đứa làm cạn năm lít đế mua ở Xóm Mới. Tám Tiến, Năm Minh, Tư Tây, Tôn Sứt, Bùi Khanh, Đồng và Lôi. Mọi người hãy còn, mất một mình Đồng. Hồn thiêng hãy về báo mộng cho chị ở Mõ Cày!

Cũng may nhờ gặp Vĩnh bạn chí tình. Nó cho lính bắc thêm, sửa chữa mấy cây cầu Rạch Cây Da, Rạch Kè để chúng tôi vận chuyển DKZ và súng cối! Nếu đi cầu khỉ thì quăng cả người lẫn súng xuống sông.

Tư Nhựt móc được người em cột chèo là Sáu Sanh, trợ lý tham mưu quận Gò-môn. Sáu Sanh tìm được vài ông du kích xã Tân Thành Đông. Tôi vẽ sơ đồ và đặt kế hoạch. Muôn năm vẫn một chiến thuật: Đánh nhanh rút nhanh để tránh pháo Bình Dương. Chúng đã gây tổn thất cho chúng tôi ở Tân Qui hơn cả trận chính diện. Bây giờ chúng tôi rất ngại, nhưng với pháo, không cách gì chống được trong lúc rút lui.

Đêm xua đánh đồn thầy Mười. Tưởng hạ nhanh, không dè lằng nhằng tới ba giờ sáng. Lính bị thương nặng nhẹ trên mười. Chết năm cậu. Đồn chính vẫn còn đề kháng ác liệt. Dakota thả hỏa châu, tàu lá chuối cũng không che được thân kiến. Gà cồ Bình Dương lại gáy ầm ầm sau lưng và hai bên sườn chúng tôi. Ba lô cốt đã bị chiếm để làm bàn đạp diệt cứ điểm trung tâm. Tư Nhựt hét như muốn đập máy:

– Công! Ôm thủ pháo nhào đại vô cho thằng Bụng lên.

Ở Tân Qui cối của Ba Trác vẫn canh không cho tiếp viện. Lát sau nghe thằng Trung báo:

– Anh Công quỵ rồi.

Công là em nuôi Tư Nhựt mới lên C trưởng được mấy ngày. Tư Nhựt hỏi tôi.

– Bây giờ làm sao anh Hai? Pháo Bình Dương nó dập sau lưng mình rát quá !

Tôi giựt máy:

– Bụng! Bụng ở đâu?

– Tôi với thằng Bính ở trong lô cốt bên tay phải.

– Sao không bò lên bịt lỗ châu mai trung tâm?

– Trống trơn. Bò lên đứa nào ngã đứa nấy. Ba bốn đứa nằm trước mặt tôi đây chưa lôi ra được.

Tư Nhựt lại hỏi tôi:

– Cho đám trinh sát nhào vô đại được không thầy?

– Không được !

Quả tôi thấy khó . Đánh kiểu này y như chiến thuật a thần phù của Trần Bá Xoài ở Cần Thơ và Hoàng Thọ ở khu 7 hồi chín năm. Nghĩa là cứ đánh rồi tùy tình hình mà liệu. Chắc sẽ bị pháo dập nát ngoài hàng rào trước khi hạ được cứ điểm trung tâm.

Bỗng nghe tiếng rí rố sau lưng. Tôi bảo Xướng ra coi cái gì vậy. Xướng báo cáo:

– Ba Trác pháo kích Tân Qui về tới.

– Kêu nó vô đây.

Ba Trác Cf cối, người Hải Phòng, mập mạp trắng trẻo.

– Báo cáo Tham mưu trường, tôi Ba Trác…

Tôi đưa tay ra hiệu bảo ở đó chờ rồi đập thằng Thuận:

– Mày chạy lên coi thằng Bụng thế nào?

Thằng nhỏ vọt lên như con chuột, lủi nhanh dưới lửa. Tôi tiếc thầm: Phải đem một bộ phận công binh của thằng Vĩnh theo thì đỡ quá . Thận chạy về thở hồng hộc, tiếng khao khao:

– Nó chỉ còn một khẩu đại liên ở trung tâm. Mình ló con nào nó quét con nấy. Ba Bụng đang ở trong lô cốt bên phải nhưng không vô trung tâm được.

Tôi lẩm bẩm.

– Làm sao bịt họng đại liên?

– Cối mình đâu? Anh nói anh từng bắn thẳng…

Thằng con nít bất ngờ gỡ rối cho tôi, kẻ đã tập cho đơn vị Tôn Sứt bắn trực xạ ở nền đồn Bổ Túc nơi chồng của Mai Khanh chôn thây bên gò mối loạn. Lúc rối trí tôi quên chính tôi đã sáng tác ra cái lối cối bắn thẳng. Thằng Thuận nói:

– Ở phía sau có mấy bà du kích do anh huấn luyện pháo…

Đang nói bỗng thằng Thuận quát.

– Anh Hai hụp xuống.

Khào… Làn đạn bay qua trên đầu tôi!

– Mời Tư Nhựt lại đây Thuận.

Tư Nhựt chạy tới, giọng run run:

– Pháo nó nã rát quá anh Hai.

– Để tôi! Ba Trác! Pháo còn mấy quả?

– Dạ mỗi khẩu còn một cặp!

– Đem lại đây một khẩu chuẩn bị bắn thẳng.

Hắn ngần ngừ, vì chưa từng bắn kiểu đó. Thằng Ty liên lạc nói:

– Anh Hai để em bắn cho!

– Mày học ở đâu.

– Em có học của anh hồi trước. Nhưng hiện giờ không có que và dây giật.

-Tại sao?

– Dạ bắn ở Tân Qui xong bỏ hết, anh Trác định về nghỉ, nhưng nghe đây còn nổ nên anh tạt vô coi.

– Chạy ra sau chặt ít khúc sậy hay dây gì cũng được !

Một chốc Ty về:

– Sậy dòn không buộc cò được.

– Anh nào có dây lưng quần cởi ra.

– Đâu có ai bận quần lưng rút, toàn là quần tây gài nút, còn quần cụt thì dây thun không xài được.

Ba Trác đã đem khẩu cối tới. Nhưng không có dây. (sau khi pháo kích y đã vứt hết mọi thử râu rìa, cho mang đê cối và nòng về thôi ) Thằng Ty la lên:

– May ra mấy bà du kích có anh Hai.

Tôi tuột quần dài ném cho Ty:

– Mày ra đổi mấy cổ lấy sợi dây lưng rút và chặt hai ba khúc sậy đem vô cho tao.

Tiếng pháo Bình Dương vẫn nhịp trường canh sau lưng chúng tôi tới cả trời rung rinh suýt sụp cả đất.

– Anh Hai tụt xuống.

Chéo! Chéo! Chéo! Thuận lôi tay tôi. Đạn qua trước rồi tôi mới hụp sau. Thằng Ty trở lại đưa hai sợi dây lưng và bốn, năm khúc sậy, mỗi khúc dài khoảng một thước tây.

– Ở đâu có đến hai sợi lận.

– Một ông già có sợi dàm trâu buộc ngang lưng đề phòng lội nước tụt quần tiều.

Thế là tôi có hai sợi cho hai que sậy. Tôi bảo Tư Nhựt:

– Anh kêu thằng Trung, thằng Bụng thu hút đại liên về phía nó để ở đây tôi bố trí bắn thẳng.

Rồi thằng Thuận dẫn đầu, thằng Ty vác đạn, Ba Trác vác lòng, tôi xách đế cối khòm khòm đi lên phía trước. Trung và Bụng đã làm đúng lệnh của tôi. Thu hút cả hỏa lực về phía chúng nó. Xướng báo cáo.

– Anh Hai xong rồi .

– Xong cái gì?

– Có chỗ đặt pháo rồi.

Ba Trác thì bảo Ty:

– Chạy tìm cho tao hòn đá để kê nòng súng.

– Trời, đá đâu ở đây? Đá bèo thì có.

Tôi quát:

– Tìm mau, ở đó mà giởn.

Ty chạy đi rồi trở lại:

– Có gạch thôi không có đá .

Ba Trác giật lấy hòn gạch. Tôi chụp lấy khẩu cối đặt lên nhưng nòng cối để nằm gối lên hòn gạch cứ lăn qua lăn lại. Tôi bèn giật chiếc khăn choàng tắm trên cổ thằng Ty chêm dưới nòng súng. Tôi đo từ mặt đất đến nòng cối đúng một gang tay. Theo thường lệ thì chẳng có ai bắn pháo cối như tôi. Trường dạy đặt nòng cối trên đế và bắn vòng cầu. Cho nên khi lấy hướng và độ xong thì pháo thủ ôm đạn cối thả vào nòng. Viên đạn chạy tọt xuống, hột nổ ở đuôi pháo sẽ chạm kim hỏa và vọt ra khỏi nòng bay đến mục tiêu.

Còn tôi thì khác. Tôi sáng tác ra cách bắn thẳng. Thay vì đứng trên đế, nòng pháo được đặt nằm theo chiều dài, họng cối chỉ cách mặt đất một gang tay nghĩa là chừng 20 độ. Như vậy thả trái pháo vào nó không chạy xuống. Do đó phải dùng que sậy đẩy nó xuống chừng 113 nòng pháo. Ở một đầu que sậy buộc sợi dây còn đầu kia thì chọc vào đầu trái pháo đã nằm sẵn trong nòng. Khi có lệnh thì người cầm sợi dây sẽ giật, que sậy đẩy trái pháo rơi xuống đáy nòng cối.

Tôi chỉnh hướng, tầm độ xong thì trong lỗ châu mai của cứ điểm trung tâm phụt ra những dây lửa quét qua quét lại phía thằng Bụng. Tôi nằm dài theo lòng cối và quát:

– Xong chưa ?

– Xong !

-Bắn!

Thằng Ty giật mạnh. Cụp! Trái đạn vọt ra. Tôi ngó theo. Một vầng sáng lóa xanh lè. Đạn đã chạm tường và xuyên thủng vào nổ bên trong. Tôi không thấy đạn súng máy phụt ra nữa thì biết trúng mục tiêu nên quát.

– Bắn tiếp!

Thằng Ty nối dây, Ba Trác nạp đạn. Ầm! Không còn tiếng súng bắn trả. Tôi hô: “Xung phong!” Một chiến sĩ đưa máy bộ đàm cho tôi. Tôi hét:

– Tư Nhựt! Cho trinh sát vô khiên chiến thương. Toàn đơn vị thu dọn chiến trường.

Xác lính hai bên lẫn lộn nằm chồng, nằm bên nhau. Phải rọi đèn pin để nhận mặt. Xác Tư Cường Ct nằm bên góc lô cốt trái với bốn xác chiến sĩ.

– Cho rút nhanh, Tư Nhựt.

Chỉ năm phút sau Dakota đã tới thả pháo sáng và ria vòng ngoài. Tư Nhựt chống nạnh, quát:

-Thằng Châu mèo đái đâu, vô đây mà hôi ! Đù mẹ thằng quận đội chó đẻ !

Đồng hồ tay tôi chỉ bốn giờ. Trời đã hừng đông. Nhờ sợi dây lưng của cô nữ dân công và sợi dàm trâu của bác nông dân mà cối bắn được hai quả. Nếu không, sẽ phơi xác cả trung đội chớ chẳng ít. Hạ một đồn chỉ có một trung đội nghĩa quân đóng giữ mà chết một Ct., một bt và mười một chiến sĩ. Nhưng hãy còn khá hơn trận Tân Qui. Nhờ sợi dây lưng quần chớ không phải nhờ tài trí của Tư Nhựt và Thiên Lôi. Nếu không có cái sợi dây phép đó thì chắc…

… Đường về nhà má vợ Tư Nhựt nước ngập lội lõm bõm. Vườn nhà măng cụt, sầu riêng nước lên tới gốc. Tư Nhựt cứ đi một quãng lại chửi rùm:

– Đù bà thằng mèo đái. Bây giờ tới phiên nó đi hôi !

Cái nhà ngói ba căn. Hai bộ ván gỏ hai bên. Chính giữa là cái bàn thờ. Bồ lúa đứng ở sát vách. Tôi quơ manh chiếu ném vô kẹt (bảo đảm miểng pháo văng) ngã ạch xuống, tay chân rã rời, hồn bay khỏi xác. Không biết qui phủ được bao lâu thì có người lắc chân lôi dậy:

– Anh Hai, dậy ăn cơm.

Dòm mặt trời đúng ngọ. Tôi bước lại bàn. Đồ ăn vung chùng. Thấy có hai chị em giống mặt nhau, tôi đoán là vợ và em vợ Tư Nhựt. Tôi đùa:

– Ông không sợ nghèo ba năm sao?

– Ông muốn chèo thì vô, sợ gì?

Thấy tôi bận quần tiều, bà già bảo:

– Mất quần như chú vậy cũng nên mất.

Tư Nhựt tiếp :

– Không biết cô dân công đó ở đâu má ạ ! Để con thưởng cô ta hoặc bắt làm dâu cho tiểu đoàn.

Vợ Tư Nhựt đem hai trái sầu riêng để trên bàn khui ra thơm bát ngát.

Tối hôm đó đánh luôn lô cốt Rạch Tra do Nhân Dân Tự Vệ thủ. Không có phát súng kháng cự nào.

Lính tôi hăm hở xông vô định lấy súng. Tôi quát:

– Nó gài mìn trong đó. Vô chết banh xác.

Tư Nhựt thừa thế quát to:

– Trở ra, rút mau. Nó tới bây giờ. Rút nhanh !

Nhưng pháo đã động tới. Ngay lô cốt. Đất đá bay như mưa. Tôn Võ Tư có dạy: “Địch lui ta không nên đuổi. Địch bỏ thành chớ nên vào.” Thấy chưa?

Về tới nhà thằng nào thằng nấy mặt mày không còn hột máu, thè lưỡi dài cả gang.

Tôi, Tư Nhựt và một số trinh sát Ct, Cf tiếp tục nghiên cứu. Chúng tôi cho 1A trinh sát qua sông Rạch Tra, luồn xuống chợ Nhị Bình trong đêm đó, qua luôn sông Bà Hồng, vùng đất không một bóng người, nhà không vườn trống. Hoang vắng lạnh người. Chúng tôi mắc võng ngoài vườn cau. Rồi tìm ổi ăn đỡ dạ, mà lại uống nước lã. Ruột sôi như sấm, không ngủ được. Thuốc hút ướt mềm. Rượu không có, không có cái gì ngoài trên răng dưới dế và những câu chuyện khào. Tôi mơ màng, nghe Ba Đức hỏi Tư Nhựt:

– Về nhà tấp nập vậy, ông có bắn được quả nào không?

– Súng K54 bắn ruồi chớ bắn gì.

– Thì bắn ruồi chớ bắn gì? Hí hí… Con ruồi nhà ấy mà ?

Tư Nhựt hiểu ý, gãi đầu đáp:

– Khách khứa đầy nhà , lại lu bu công việc. Tôi lôi bả ra sau vườn thừa thắng xông lên làm cú đứng. Mẹ ! Nước ngập tới mắt cá. Đỡ ghiền vậy chớ mất hứng quá cha!

Tôi cười, chõ mồm sang:

-Đứng cũng tốt chớ tía nó! Hắc… hắc!…

Tư Nhựt trả đũa .

– Bộ thầy cũng có kinh nghiệm hả?

– Trực xạ có khi hay hơn bắn vòng cầu. Tuy có hơi vất vả nhưng mục tiêu kề.

-Đúng ông gầy… thầy… pháo!

– Nhưng không cơ động bằng ông đặt dưới nước bắn thẳng bon!

– Hề hề… Tôi nghe mấy bữa trước, quân y rung rinh… hầm mấy em tơi bời khói lửa hết ráo.

Tôi tưởng thật, nên ngạc nhiên hỏi.

– Pháo nào? Sao tôi ở đó mà không biết?

Tư Nhựt cười đắc chí:

– Còn pháo nào nữa ông thầy ? Một quả , rơi hai con chim Thiên Nga !

Tư Nhựt cười đắc chí. Ba Đức tiếp:

– Nhưng cái cú trực xạ của anh không thể sánh nổi với cái miếng xay lúa của ông thầy pháo đâu nghe anh Tư!

Ba tên lê dương đầu đỏ cười sục sục giữa sự im lặng phập phồng của những tiếng súng vừa im.


IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 102057
Has thanked: 35654 times
Have thanks: 49460 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 4th, 2018, 2:13 pm
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: 2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI

Postby DaMinhChau » April 10th, 2018, 11:45 pm


Chương 77

Cái chết rùng rợn của tên cướp đầu đỏ bần cố nông Nguyễn Chí Thanh:
Điềm gở Mậu Thân.




Sau trận Thầy Mười, tình hình trở nên cực kỳ sôi động. Các cơ quan quân khu đều chạy tuột quần qua sông Sài gòn để tìm đất cắm dùi ở Bến Cát, Bến Súc, C khu đói và đau (Đ) cũ. Tôi không gặp lại Năm Lê trước khi anh rời cái chiến luỹ Maginot của Xã đội trưởng Ba Xây ở Xóm Bà Huệ . Cô Hiến, cô Thanh nấu bếp và Tám Nghị bị moi hầm bắt ngay ở đó. Tám Quang, cô Thảo cũng dông qua sông không ai tìm được. Mặt mấy ông lớn méo xẹo như những cái lò bị bão. Cho đến giữa năm 67 thì quân khu tả tơi này giải tán để chia thành 5 phân khu, chuẩn bị tổng tấn công Sài gòn vào Tết Mậu Thân.

Ở chương này tôi sẽ kể cho các bạn nghe về sự liều mạng nướng quân của bọn Hà Nội, đặc biệt là cái chết rùng rợn của tên giặc đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh, một tên lính không có cấp bậc bỗng nhiên lại vọt lên thành Đại tướng rồi đứng lên đầu cả Võ Nguyên Giáp. Hắn là cháu cưng của Hồ nên Hồ đưa hắn vào Nam với chức Toàn quyền xứ Nam kỳ, tiền trảm hậu tấu, với cái tên ăn trộm Sáu Vi. Sáu Vi có cái bảng mặt vuông như khay trầu, bên má trái có cái sẹo to, có lẽ đó là dấu vết của một thời dao búa. Thợ ảnh chụp để treo trong đám lãnh tụ Hà Nội phải lấy nghiêng 3/4 để dấu cái thẹo đó và chải tóc hắn lưỡi mèo để che bớt cái trán dồ, còn bộ răng như cưa cá mập của hắn thì không sao núp kín dưới cặp môi thâm, dù rất dày, dày như hai múi bưởi của chị em ta.

Trận đánh đồn Thầy Mười đánh dấu một chặng đường lịch sử của Củ Chi: Nó cho biết rằng muốn đánh một cứ điểm do một trung đội địa phương quân phải dùng một tiểu đoàn chủ lực và phải hi sinh trên mười chiến sĩ, 1 Bt, lCt. Như vậy muốn đánh Sài gòn (đánh thôi, chưa nói hạ được) gồm có hằng chục sư đoàn trấn giữ thì phải có bao nhiêu quân đội và hi sinh bao nhiêu? Vậy mà bọn Hà Nội dám tấn công với những lực lượng tập hợp năm cha ba mẹ., rồi đặt ẩu cho những cái tên công trường 5, công trường 7 với sự hợp đồng chệch choạc, sự chỉ huy hầu như không có thì chẳng khác nào vác một cái vỏ trứng chọi vào một tảng đá. Chủ nghĩa Cộng Sản luôn luôn áp đặt và bành trướng. Nhưng bây giờ nó đã teo như mãnh da lừa và nhủn như cái c… c…

o O o

Tôi gắt tiểu đoàn chạy suốt không nghỉ. Chạy hộc máu, chạy cháy phổi, chạy bằng chân bằng cả đầu gối và hai tay. Chạy chết. Chạy cho thoát khỏi. Nhưng….ầm… ầm…

Mưa dưa hấu. Không nhiều, ba đợt trải thảm thôi. Tôi bò lên không nhớ mình tên gì, không biết mình còn sống hay chết. Dựa lưng vào gì cũng không biết. Ngủ hay thức cũng không biết. Bỗng nghe tiếng kêu văng vẳng:

– : Thiên Lôi ! Thiên Lôi đó hả ?

Tôi mở mắt ra thì thấy Tư Linh. Hắn cà gật cái đầu. Hắn thở như trâu cắt cổ. Hai thằng sống sót gặp nhau. Hắn cố nín thở để nói.

– Tin quan trọng.! Tin quan trọng!

– Quan trọng cái đếch!

Tôi quát và lại gục xuống… ngủ tiếp. Hắn rỉ tai tôi. Tôi kêu lên. Hắn lại bảo.

-Thiệt đó mày!

Tôi bàng hoàng sửng sất có đến mười phút mà không biết nói gì, không hiểu gì, cứ ngó hoài vào khoảng không đen đặc.

– Thiệt vậy sao? Thiệt vậy sao hả mậy?

Tư Linh ngồi soải bẹt hai chân ra như hai khúc gỗ, đầu nghẹo sang bên, không đáp. Tôi gắt:

– Sao không thấy ai báo cho tao biết?

Hắn gầm lên:

– Người ta đang dấu. Đù mẹ, báo cho mày?Mày là cái củ gì mà người ta phải báo cho mày?

– Xui quá ta ơi…

– Đừng có lộ ra. mất đầu ! Chút xíu nữa anh Ba Xu mình cũng phủi càng leo lên bàn thờ rồi.

– Ở đâu?

– Thì tại căn cứ đường 30 ở Long Nguyên.

– Trời, chỗ đó mà chết thì còn chỗ nào sống nổi!

– Hữu sanh hữa mạng mà mày. Tao bị trực thăng phang biết bao lần, và đội B52 mấy chập mà không sứt tí bòi nào hết. Còn ổng ở hầm sâu tới âm phủ nhưng chừng tới số thì cũng chết. .

– Xui quá là xui. Mẹ ! Sắp xuất chinh, nguyên soái lại chết, còn hơn cái kỳ bị gãy cụp. Đó là điềm xấu vô cùng.

– Đầu cu ở đó mà văn hoa ! Mày biết tụi thằng Hai Ninh ở đâu không?

– Chi vậy?

– Bảo nó điện cho Tư Cường điều động trực thăng vô Mi Mốt.

– Cấp cứu hả ?

– Cấp gì được mà cấp?

– Miễng hay sức ép?

– Trúng ngay trên giữa đỉnh đầu.

– Ổng có trối lại gì không?

– Không. Chỉ la một tiếng thất thanh rồi nằm dài, bất tỉnh luôn. . .

– Chậcc! Khổ quá, ổng ở trên R yên rồi, sao đi xuống dưới này làm gì cho bị vậy?

– Ở trển cũng ăn B52 liên tục nên ổng xuống dưới này chỉ huy và lánh nạn luôn. Không biết lẽ nào.

– Lánh nạn mà lại thọ nạn. Đù mẹ, chẳng ai biết được.

Tên tướng đầu đỏ đi xuống I/4 xem xét tình hình về vụ Tổng công kích Mậu Thân 1968 để bàn với Tư lệnh Ba Định.

Để chuẩn bị cho cuộc tấn công quan trọng này vô số công việc được tiến hành như: giấu kín hằng tiểu đoàn xe thồ trong rừng, mở đường băng rừng và quan trọng nhất là căn cứ cũ Bộ Tư lệnh Nam Bộ hồi chín năm của Trần văn Trà (một tên bất tài nhờ gặp dịp may mà lên đến Trung tướng). Năm 1950 Trà dời về Chiến khu Đ Đất Cuốc, Tân Uyên, Biên Hòa, tại đây Nguyên Bình giao quyền hành lại cho Trà để về Trung ương và chết dọc đường, người ta nghi là Lê Duẫn đã báo tin cho Phòng Nhì Pháp, đem lính commando phục kích.

Năm 1967, Bộ chỉ huy quân Giải Phóng đã biệt phái Trung đoàn Đặc Công-công Binh 429 do Tư Cường chỉ huy, xuống vùng Long Nguyên để thiết lập căn cứ.

Cả đơn vị thay phiên nhau xúc tác ngày đêm không lúc nào ngưng. Những gốc cây rừng to cả hai ba ôm được ngã xuống, cắt mỗi khúc dài sáu thước, bốn năm người khiêng mới xuể, dùng làm đà nắp hầm. Hầm đào sâu ba thước. Kiến trúc theo hình chóp nón với trụ chống đỡ có thể chịu đựng sức ép của B52 và bom từ 200 đến 250 kí-lô nổ trên nắp. Đường kính của các khúc gỗ dùng để làm nắp hầm phải từ hai đến ba tấc Tây. Ngoài ra trên nắp hầm còn có những lớp tre trúc đập dập xấp lớp để cản sức khoan xoáy của bom pháo. Đồng thời cũng có cả nắp đậy để chống bom hóa học.

Lòng hầm gồm có nhiều ngăn: nơi làm việc của Bộ chỉ huy, hầm ngủ của cán bộ, hầm quân y, hầm nhà bếp, hầm lương thực, hầm hội trường, hầm tù binh Mỹ. Đặc biệt có cả máy điện cung cấp điện cho các hầm về đêm. Có thể nói đó là một cái hang Pắc-pó nhân tạo thiết kế hiện đại như một thành phố tí hon dưới lòng đất.

Ở trên qui định là phải hoàn thành trước cuối năm 1967.

Khi hoàn thành xong thì Nguyên Chí Thanh xuống xem qua hệ thống hầm hố này và bỏ mạng tại đó.

o O o

Tôi đang ngồi bên cạnh Tư Lệnh cùng dựa chung một gốc cao su ngủ thiếp đi lúc nào không hay thì cậu cần vụ đập tôi dậy. Trời mưa lâm râm càng làm cho cảnh tượng thê thảm hơn là cảnh hai anh Hồng Quân Liên Xô trong Chiến Bại (La défaite) của Fadeev. Thằng Tặng, cận vệ của Tư Linh, giăng võng đã mắc xong. Tôi gọi Tư Linh vào. Thằng Tặng đưa cho hắn cốc nước trà, hắn chỉ hớp mấy hớp rồi nằm vật xuống võng ngáy pho pho. Tôi cũng uống nước, uống hết cả cốc và hỏi thằng Thuận cận vệ của tôi:

– Đơn vị đâu?

– Dạ, không biết.

– Trời đất, sao mày không biết đơn vị ở đâu, hả?

Thằng Thuận bứt đầu bứt tai lơ lơ láo láo. Tôi sực nhớ ra rằng hai thầy trò vừa tách đơn vị đi điều nghiên địa điểm để đặt pháo bắn vô Đồng Dù lần nữa. Dọc đường thì bị B52. May có nó bên cạnh, nếu không, chẳng ai biết tôi ở đâu mà tìm. Và cũng may thần kinh tôi chưa đứt sợi nào, nên tôi chưa quên cái tiền kiếp một giờ trước của tôi. Tôi bảo:

– Em biết chỗ nào còn quán xá gì không?

Thuận gan lỳ theo sát tôi! Nó là cậu cần vụ thứ 5 của tôi kể từ khi chỉ huy Bộ Binh. Cứ mỗi đứa lên vài tháng lại rụng, lâu lắm là ba tháng, nhanh nhất hai ngày. Tôi là kẻ bị đạn chê. Hồi chín năm, Nguyễn văn Trên, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 lừng danh toàn quốc gồm toàn lính ác chiến gốc Vĩnh Trà Bến, cũng kể là bị đạn chê như tôi bây giờ. Liên lạc và cần vụ của ông ta hi sinh đến cả chục mạng trong kháng chiến chống Pháp. Nghe tôi hỏi, Thuận lắc đầu:

– Bây giờ không biết ngả nào mà mò nữa anh Hai ạ !

– Lấy đèn pin mà đi.

– Dạ, mắt em sáng còn hơn mắt mễn nhưng bom cày cây ngã bít đường hết, nhà cửa không còn, đâu có chỗ nào để làm mốc chuẩn.

– Anh nhớ hình như đây là ngã ba . . .

– Dạ đâu để em đi thử.

Thuận vừa bấm đèn, tôi đã quát:

– Đi thầm nó !

Tôi sợ máy bay trông thấy. Giống như tên ăn trộm sợ ánh sáng. Đó là cố tật của Việt Cộng mà. Làm cái gì cũng bịp bợm lén lút sợ người ta bắt gặp. Thằng nhỏ đành phải đi mò.

Tôi lên võng nằm, mệt đừ nhưng không sao ngủ được. Khói thuốc TNT nồng nặc. Tôi cứ ho hoài. Câu hỏi tự nhiên nhá lên trong đầu tôi: Có thể nào xui xêo như thế sao? Hắn chết rồi ai thay? Không có ai bằng ổng. Một con người lạ lùng, một ông tướng mặt sắt. Nghe hắn đến là tướng tá sợ đái trong quần, tỉnh ủy tỉnh quéo mặt xanh như gà cắt tiết. Ngay cả Võ Nguyên Giáp cũng phải nể sợ vì hắn là con người ít mang tiếng lem nhem về đàn bà nhất trong Đảng, hoặc có mà tôi không biết. Xin nói cho công bằng: Nguyễn Chí Thanh không có đ. . . bậy bạ , không bao giờ mặc quân phục đại tướng hoặc có mà tôi không trông thấy. Mấy lần hắn đến huấn thị chỉ mặc sơ mi thường, không có cần vụ đi theo tò tò mang cơm mang nước. Linh gọi hắn là Đại tướng bần cố nông. Không biết hắn học hành tới đâu nhưng bộ đáng của hắn trông hệt một anh xã viên hợp tác xã nhưng nét mặt có phần hung ác mặt vuông, trán đồ, miệng quai xách. Hồ đã chọn đúng người để đưa vào Nam làm Toàn quyền đỏ khi Mỹ đổ bộ vô Sài gòn. Nghe đồn trước khi hắn vô Nam, Hồ đã tiếp riêng. Trước khi chia tay, Hồ đưa tặng cho một bao thuốc con Mèo Đen Craven A và bảo:

– Vận mệnh Miền Nam trong tay chú.

Tại sao Nguyễn Chí Thanh mà không phải Võ Nguyên Giáp, Phạm Hùng hoặc Lê Đức Thọ? Như đã nói trên, Hồ chọn Nguyễn Chí Thanh rất đúng. Giáp đã bị rơi đài phải về ẩn sĩ một thời gian học chơi dương cầm ở Hồ Tây. Thời gian này lẹo tẹo với bà thầy đờn xinh đẹp, mang tai tiếng cả Hà Nội. Giáp lại còn có đầu óc chính qui hiện đại, muốn biến quân đội thành một quân đội nhà nghề. Cuối cùng là tấm thân phì nộn bộ vó tài tử xi nê Tàu xì của Giáp không thể che dấu được bộ mặt xâm lược của Bác trên đường Trường Sơn. Do đó Giáp không được chọn vào ghế Toàn Quyền đỏ mà là Thanh mặt sắt.

Lê Đức Thọ thì không biết tí gì về quân sự mà chỉ lý thuyết suông sợ e không điều khiển nổi đám tướng đầu bò như Hoàng Văn Thái, Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà, Đồng Văn Cống v.v…

Còn Phạm Hùng? Hùng làm Phó cối cả chục năm đội đít “Phạm Văn Vều”, tuy nổi đanh là tay xốc vác, phản ứng nhanh, tuyệt đối trung thành với Mác Lê, nhưng lại cũng như Thọ không biết tí gì về quân sự và tai hại hơn nữa là gốc dưa hấu ! Nên nhớ rằng bên ngoài Bác làm bộ đặt tay trên ngực và khóc mếu nói ” Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi,” thực sự bác là chúa ghét và nghi ngờ dân Nam kỳ và biệt đãi dân Trị Thiên Nghệ Tỉnh, kế đó là dân Rau Muống rồi Năm Eo, dân Dưa Hấu thì đội sổ muôn năm. Do đó dân Nam kỳ Thành Đồng Tổ Quốc vẫn không được xơ múi gì ráo sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh Tây, vác thây ra Bắc để “gặp Bác, bắt tay Bác.” (vô khám và đày lên núi đôn củi thì có. Dân Nam kỳ đã tởn tình yêu của Bác chưa?) Nói trắng ra, Bác sợ Hùng trở cờ.

Do đó, Nguyễn Chí Thanh tên trùm đỏ họ Hồ giao cho nắm vận mệnh miền Nam trong tay. Hắn vào đây như một Toàn Quyền có quyền bày đặt ra chánh sách mới, thay đổi chánh sách cũ và hành động một cách hoàn toàn độc lập không phải thỉnh thị Trung ương.

Tướng tá, ủy viên trung ương, dân theo đóm ăn tàn ở Sài gòn ra khu, nghe hắn vào thảy đều khiếp vía. Sự có mặt của hắn coi như chấm dứt mọi sự ăn hút, cấm câu ăn tiền của đám này. Vào đến R, Nguyễn Chí Thanh thay đổi ngay Chế độ cần vụ mà các ông to bà lớn ở trong này tự đặt ra cho mình. Với hắn, nói là làm, không có dằn dai chờ đợi.

Trước nhất hắn dẹp bỏ ngay chế độ huynh trưởng. Anh Ba, anh Tư quen miệng gọi nhau rồi dần dà trở thành nề nếp gia đình hồi nào không hay. Nhưng chính hắn lại thích làm huynh trưởng của đám đầu bò. Kế đó, hắn sắp xếp lại ba hệ thống quân dân chánh Đảng, mà hắn cho là trống đánh xuôi kèn thổi ngược, cho ăn rơ với nhau. Tiếp đến hắn nói rõ với mấy bọn xôi thịt Sài gòn rằng công cuộc cứu nước là việc chung, không ai được từ chối hoặc được biệt đãi hơn ai. Mấy ông bà sồn sồn, mấy tên nhà tu nhảy rào, mấy tên thầy chùa lỗ mũi trâu, mấy thằng kỹ sư ba xạo, lũ nhà văng và trí thức tịt ngòi, mấy gã tư sản yêu nước không có đồng xu dính túi thảy đều ngơ ngác nhìn anh Sáu Vi có bằng nửa con mắt. Sợ và ghét chớ không phục! Nhưng chẳng ai dám hé môi.

Tệ hại này là do chánh sách dụ dỗ, tâng bốc của Năm Quang tức Trần Bạch Đằng từ trước tới nay. Mỗi ông bà xôi thịt Sài gòn có cả tiểu đội hoặc một bán đội phục vụ . Các đàn bà như Dương Huỳnh Hoa và chồng là Hai Nghị sướng như tiên. Có lẽ ở thành, chúng nó cũng không được như thế. Tối rượu sâm-banh sáng sữa bò đều đều. Giải phóng quân phải giặt quần áo cho mụ nói gì chuyện nấu bếp rửa chén xách dép? Cặp uyên ương này vì cần phải có chỗ kín đáo để làm tình nên giải phóng quân phải cất nhà dựng vách bốn phía và làm phòng tân hôn cho chúng, trong lúc giải phóng quân thì ngủ võng muối cắn sốt rét thấy mẹ .

Còn Trịnh Đình Thảo thì đi đâu giải phóng quân phải khiêng như quan thái thú đi kiệu ngày xưa. Chuyện phục dịch cái đám trí thức này không tả xiết.

Nhưng dưới trào của đại tướng bần cố nông thì tất cả đều xuôi râu xếp giáp không dám ho he khi bị cắt hết các đặc ân. Ông đại tướng tuyên bố một câu xanh dờn:

– Các vị ra đây tiếp tay cứu nước, dân tộc ghi công. Nhưng trong lúc tình thế khó khăn chúng ta phải cùng chịu gian nan như nhau, cán bộ cũng như chiến sĩ, trưởng cơ quan cũng như anh nuôi chị nuôi. Nếu các vị không chịu đựng nổi, chúng tôi sẵn sàng và vui vẻ để các vị trở về sống lại cuộc đời cũ đáng hổ thẹn như những ai kia còn ngủ mê !

Bố bảo thằng nào dám phản ứng. Về lại Sài gòn ư? Có mà uống mật gấu mới dám!

Do đó thời kỳ này Lữ Phương (thứ trưởng Bộ Văn Hóa sau này) được đưa về tiểu ban Văn Nghệ R và công việc văn hóa duy nhất của hắn là nghiên cứu cách làm cho mấy con gà tự túc của hắn đẻ… trứng vàng. Còn Thanh Nghị thì được ở trên phát cho một chiếc xe đạp phế thải để chạy lọc cọc lán này qua lán khác và bị cả anh nuôi khi dễ như chó. Mỗi khi bưng cơm đến cho hắn, họ ném lên bàn rồi quay đi, không mời một tiếng. Họ cho là tụi này nghe hơi nồi chõ rồi nhào vô một lũ theo đóm ăn tàn, theo voi hít bả mía…

Dưới trào ông bần cố nông cán bộ từ đại tá trở xuống không được phép có cần vụ. Tướng chỉ được một. Còn từ thượng tá trở xuống phải ôm AK (có kèm K54) để chiến đấu khi có biệt kích tấn công bất ngờ. Lê Đức Anh bấy giờ đã đóng lon thiếu tướng, thừa lệnh Sáu Vi đã khui kho súng AK phát cho cán bộ dân quân chánh R.

Có một cú Sáu Vi chơi rất ngoạn mục. Cả dân R ai cũng biết và tán nhuyễn ra cười ngã nghiêng trong lúc uống trà. Đó là vấn đề ông trời con Tư Huệ . Chánh ủy kiêm tỉnh trưởng Tây Ninh. Tư Huệ trong kháng chiến tên là Nguyễn Việt Hồng, Chánh ủy Trung đoàn 300. Hồi chống Pháp, Tư Huệ sống như vua R. Vợ chồng y có một trung đội phục vụ . Nghe Sáu Vi đến, Tư Huệ trà nước tiếp đãi anh Sáu, anh Sáu không màng. Tư Huệ đem các món ngon vật lạ mua ngoài vùng Ngụy dâng đãi anh Sáu, anh Sáu cũng không ngó. Tư Huệ thừa cơ hội anh Sáu đến lều vua bèn than phiền rằng:

– Các đồng chí dưới cấp tôi được tập kết, từ ngoài đó trở về đồng chí nào cũng trên cấp tôi. Tôi lãnh cấp đại tá thì hơi hẹp bụng nhưng trung tướng thì hơi cao!

Ý anh Tư nhà mình đòi một sao với cành dương liễu như Lê Đức Anh. Anh Sáu bảo:

– Cấp bậc chỉ là tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, không phải nấc thang để bám lấy mà hưởng lạc…

Anh Sáu đả thông một hồi. Tư Huệ thụt cổ rùa luôn. Đó là mồm mép lãnh đạo Cộng Sản thôi. Thực ra chúng ganh ăn giết nhau như ngóe. Bọn nào giết hai đại tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái và hai trung tướng Đinh Đức Thiện, Trần Bình?…(!)

Mấy hôm sau, Ban chỉ huy tỉnh đội Tây Ninh được lệnh đi nghỉ mát. Riêng Tư Huệ đại vương thì từ giã hoàng hậu để trở về R làm lâu la dưới trướng của lũ đầu bò Bắc Kỳ. Đau đớn thay cuộc đời cách mạng lên voi xuống chó của tên Nam kỳ này. Tất cả các cơ quan R đều hả hê và tỉnh Tây Ninh được nhận một bộ chỉ huy mới là Ba Tới và Hai Dương. Ngoài ra ông xã đội Kà Tum tức là Trung đoàn trưởng Huỳnh Văn Một có công từ thời chín năm ở mặt trận Rừng Sát, sau 54 phải trốn chui trốn nhủi trong rừng, sau Đồng Khởi rút về Kà Tum thành lập lực lượng võ trang và trấn giữ vùng này suốt năm năm (đúng ra Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa coi như đồ bỏ không thèm để ý) nay lại được Sáu Vi cất nhắt cái vù. Nghe đâu Sáu Vi phong cho đại tá, nhưng Một không nhận, chỉ xin 100 AK phát cho bọn lục lâm săn nai săn thỏ kiếm ăn, để ruồng bắt đảng Rồng Xanh, một đám lính bất mãn đào ngũ do một tên Dt lãnh đạo và để chống các đồng chí Khơ-me đỏ thường lẻn
sang ăn cướp hoa màu của rẩy mình.

Với sự cải cách của Sáu Vi, các cơ quan R đã được giảm chính nhẹ nhàng và gom được một trung đoàn bổ sung cho công trường 9. Và đưa luôn trung đoàn Bảo Vệ căn cứ R của Tám Lê Thanh ra công đoàn bổ sung cho Công trường 5, thuyên chuyển Lê Thanh về I/4. Đám này bị nướng sạch với cái tên nghe rất hách “Mũi nhọn 1 và 2.”

Các bạn hẳn còn nhớ trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, tức là chiến tranh Quốc-cộng, cũng còn được gọi là chiến tranh chống Mỹ, có một bà Thiếu tướng?

Đó là mụ Định, dân Bến Tre, hồi chín năm chống Pháp làm đoàn trưởng Phụ nữ Tỉnh. Chính Sáu Vi đã cất nhắc mụ Định một cách bất ngờ.

Trong một cuộc hội toàn bọn xôi thịt Sài gòn, bọn đầu sỏ các tỉnh, bọn tướng đầu bò Bắc kỳ, Sáu Vi đã tuyên bố quyết định đề bạt “đồng chí Ba Định giữ chức Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam.”

Các tên đực rực, các mụ nái xề mang danh trí thức yêu nước của Miền Nam, các tên lưu manh đội lớp thầy tu, các tên khoác áo cà-sa mang dép râu dùng cánh sen nhà Phật che bộ mặt đỏ, các tên luật sư thất nghiệp, lũ nhà văn tịt ngòi, có cả tên can phạm hãm con nít được xách đầu lên ghế chủ tịch Mặt Trận nữa v.v. .. Tất cả, tất cả đều gục mặt không dám ngó lên.

Bọn này đứa nào cũng mơ tưởng Sáu Vi sẽ cất nhắc mình vào ghế cao chức lớn, nào ngờ hắn ta lại cho một mụ đàn bà chữ không đầy lá mít ngồi trên đầu chúng. Có thể điều này làm cho chúng bất mãn kinh hồn. Bằng chứng là sau Tết Mậu Thân một trong những thành viên Trung ương của Mặt Trận là kỹ sư Hồ Văn Bữu đã dông về thành thú tội với chánh phủ Sài gòn.

(Sau năm 75, Hồ Văn Bữu đã bị bắt cải tạo tám năm và khi được thả ra, sống không hộ tịch. Nghe nói đã vượt biên, không biết đúng không?)

o O o

Đường dây hồi ức miên man của tôi bị cắt đứt vì có tiếng chân người đi tới. Tôi chồm dậy như máy, tay chụp vào khẩu K54, quát. Một ánh đèn nhoáng lên rồi tắt phụp. Thằng Thuận đã về.

– Có gì không?

Thằng bé ném một bọc xuống đất, nghe chừng nặng. Nó biết ý tôi nên không bấm đèn nữa. Tôi lấy mũ tai bèo che và móc hộp quẹt bật lên. Thằng bé móc ra và ấn vào tay tôi, nói:

– Cái quán bay đi đâu rồi thủ trưởng! Chi còn có mấy cây cột và xâu bánh này.

Miếng bánh tét đầu tiên nhai trong miệng thiu nhớt, chứng minh lời thằng bé nói. Tôi đập hai thầy trò Tư Linh dậy. Chúng tôi ăn bánh tét phế phẩm uống trà nguội, ăn luôn cả xác trà vì không dám nhóm lửa. Tôi hỏi:

– Tỉnh hồn chưa?

– Ngủ được một phát đỡ quá . Tao ngủ lâu chưa mày?

– Chừng hai tiếng ! Nào, mày tỉnh rồi phải không?

– Tao mê hồi nào mà mày bảo vậy?

– Hết mê rồi thì nói lại lần nữa cho tao nghe.

– Nói cái gì?

– Ông Sáu Vi đã chết thiệt à?

– Cái thằng! Mày mê thì có! Tao đã bảo là thằng Ba Tiến hỏi tao con đường đến thằng Hai Ninh để đánh điện cho thằng Tư Cường Công Binh đem máy bay vô sân bay Mi Mốt chở xác ổng về Hà Nội.

– Ba Tiến là thằng nào?

– Là Bí thư của ông Sáu Vi. Trời ơi ! Khổ quá sao mày không biết cái giống gì hết vậy?

– Miễng trúng đâu?

– Trúng ngay chóc cái đầu. Thôi đừng hỏi nữa. Bữa nào khỏe tao kể tiếp. Còn nhiều vụ ly kỳ nữa cơ. Bây giờ mệt lắm…. Mà không phải miễng bom.

Hắnchết thiệt rồi ! Một chuyện rất thường tình trong chiến tranh. Những cái chết mà chính tôi trông thấy tận mắt chớ không phải bằng báo cáo nhân dân hay bằng cái loa Giải phóng . Ở Trường Sơn chúng nó đem con bỏ chợ thật tình. Không có cách gì để sống ngoài cái sức còm cõi còn sót lại trong người. Tên tướng mặt sắt này đi vào Nam không mất một lạng thịt. Vô đến đây hắn còn chất nhờn đầu gối, lội hết chỗ này đến chỗ khác, chứ đâu có biết đến sự tàn phá của cái vòi bé tí của con muỗi đòn xóc.

Hắn có tiếng là người “đi sâu đi sát thực tế, phát hiện vấn đề rất nhạy bén, giải quyết mâu thuẫn rất kịp thời.” Điều đó đã được chứng minh ở sự giản chính các cơ quan R, nhưng nếu hắn lội bộ Trường Sơn thì hắn sẽ thấy rằng tiết kiệm được hai trung đoàn cần vụ và bảo vệ căn cứ R không thấm gì với hàng vạn sinh mạng con người đang sống dở chết dở suốt con đường mòn quái ác mang tên Bác Hồ kia! Tôi gạn hỏi:

– Bị B52 à?

– Chớ còn gì nữa !

– Mà xác còn nguyên à?

Tư Linh gào lên:

– Đừng hỏi nữa. Để tao kể cho nghe . Nghe xong rồi quên đi rõ chưa? Còn các cậu nữa? Không nên nói đi nói lại với ai ! – Hắn nghiến răng với hai cậu cần vụ – Tụi bây mà lép nhép cái miệng là bỏ bố nghe con! Chắc chắn ổng chết rồi. Thằng Ba Tiến chạy đi tìm Hai Ninh Phó ban Thông Tin mà không gặp nên hắn theo liên lạc hỏa tốc cùng với đội bảo vệ từ đường 30 chạy về ngang cầu Phố Bình, không biết đường đi bèn lũi đại vào rừng, gặp tao. Trông mặt mũi hắn mất sắc tao hỏi chuyện gì. Hắn bảo ông Sáu Vi đã chết nên chạy đi tìm Hai Ninh để đánh điện về R.

– Thôi vậy là hỏng rồi. Bị có nặng không?

– Căn cứ ở đường 30 chuẩn bị cho chiến trận sắp tới đã bị sụp gần hết. Nhưng ổng không có việc gì. Xong đâu đấy, ổng mới lên miệng hầm, đứng quan sát. Bất thần một nhánh cây gãy phóng xuống ngay đầu ông như búa tầm sét của Thiên Lôi.

– Trời đất !

– Thiệt là kỳ cục.

– Cây gì lại gãy kỳ vậy?

– Thì cây cối trên rừng chớ cây gì!

– Nhưng sao trước đó không gãy lại chờ ông lên mới gãy?

~ Trời ơi! ông nội hỏi những câu như vậy làm sao tôi trả lời. Chậc! Xui quá! Cả nhóm ba bốn người đứng chung quanh đó mà nó lại rơi trúng ngay ông. Thằng Ba Tiến đứng sau lưng ông có mấy tấc, không sao cả. Ổng vừa ngã xuống nó liền xốc ông dậy, nó nói ông đã xụi lơ và không có nói được tiếng nào hết. Ông Ba Xu đứng cạnh cũng không trầy chút da.

– Rồi mày có dẫn cho Ba Tiến gặp Hai Ninh không?

– Có chớ! Hai Ninh điện cho Tư Cường đem xe thồ xuống chở xác ông đi. Cũng may là tụi thằng Hai Ninh bị B52 dập mấy lần mà không chết. Nó cứ bám trụ ở Đường Long nên Ba Tiến mới gặp và cũng may là máy còn phát điện được. – Tư Linh hắc hơi hai ba cái liền — Tư Cường cho tụi xe thồ đến chở đi. Trời đất! thằng Ba Tiến nói là nó phải bó xác ông lại rồi chở bằng hai chiếc xe thồ. Một chiếc thì làm sao mà đi! Ổng đâu ngồi trên poọc-ba-ga được.

– Tao không tưởng tượng được là tụi nó thồ cách nào.

– Có lẽ đã tới Mi Mốt rồi. Ở đó có trực thăng sẽ đưa nhanh về Nam Vang rồi ra Hà Nội. Cấp cứu gì được nữa ?

– Đại tướng mà chết lãng nhách.

– Đại tiểu gì thì cũng chỉ một viên thôi.

– Mà ổng đi đâu dưới này chớ?

– Chắc là ổng đi xem tình hình để có chỉ thị cho Quân Nhu. Nhưng thằng Ba Tiến thì bảo với tao là đi lánh nạn. Một công hai việc.

– Trời đất! Lánh nạn gì ở I/4? Bom đạn như vầy mà xuống đây lánh nạn?

– Nó bảo trên R ăn B52 dữ quá, chịu không xuể.

Nguyễn Chí Thanh là ông tướng cao cấp nhất mà tôi được tiếp xúc nhiều nhất. Cho nên khi nghe hắn chết như vậy, nhất là một cái chết không đáng, lúc đó (1967) tôi cũng nao nao trong lòng.

Tháng 4 năm 1964 khi tôi mới về tới U-80 thì được cử lên R để nhận phần thưởng và cờ Lưu Luân của Mặt Trận tặng cho chiến công pháo kích sân bay Biên Hòa. Tôi được tôn vinh như một anh hùng. Sự thực thì tôi không có tham gia trận pháo kích này. Lúc xảy ra trận đó, tôi ở Phước Long với cô em Thu Hà (đã thuật ở phần trước) nhưng vì tôi là thầy dạy pháo cho nên ở trên bắt tôi làm anh hùng ngang. Tôi được ngồi ở hàng ghế đầu. Trong buổi lễ có mặt đông đủ các tướng tá Bắc kỳ: Trần Độ, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn v.v… Nguyễn Chí Thanh đứng lẫn trong quan khách nói chuyện rất hào hứng với đám xôi thịt Sài gòn đang lu bu theo hắn như ruồi bu c… ngựa. Bỗng Trần Văn Trà nắm tay tôi lại bên Nguyễn Chí Thanh và hỏi tôi:

– Biết ông nào đây không?

Tôi rút chân thẳng thế đứng nghiêm theo quân phong quân kỷ.

– Báo cáo Đại tướng…

Ông đưa một ngón tay lên miệng và suỵt:

-B.M.

Da mặt hắn vẫn sạm đen, không có vẻ gì bệnh hoạn. Áo len nâu sậm, cổ cao, tay dài. Hắn đưa tay ra cho tôi bắt và không nói gì. Khai mạc lễ chính thức, tôi đại diện cho đơn vị chiến thắng ở sân bay Biên Hòa bước lên diễn đàn phát biểu cảm tưởng: Kính thưa các đồng chí õm tõi, trong đó có cả đồng chí chủ tịch Mặt trận, Phó chủ tịch Mặt Trận và bà Phó tịch nữa. Đặc biệt là có một cái ông gọi là Maurice Tư Thiên, đại diện Bình Xuyên là cái nghĩa gì, tôi không hiểu được nhưng ở trên bảo là phát biểu là cứ phát ào. Mà thực ra nó có phải là cái cảm tướng của tôi đâu. Từ I/4 lên R, trung tá Ba Hải, trưởng phòng Chính Trị của U80 đã gà sẵn cho tôi rồi. Ban đầu tôi còn từ chối, nhưng Ba Hải bảo:

– Ông Cục trưởng Cục Chính Trị Quân Giải Phóng có biết mặt mày. Tao nghĩ là trong đám đặc công ở R không có thằng nào có văn hóa bằng mày, lại nữa mặt mũi chúng nó trông rất ác tướng không nên ló ra trước mặt đám trí thức thành thị mới vô v.v….

Do đó, cuối cùng tôi phải nhận mần một cái cảm tưởng. Tôi đủ sức mần, nhưng Ba Hải sợ trật đường lối nên thảo sẵn dàn bài cho tôi. Tôi cười cười chấp nhận, nhưng bụng nghĩ có quan trọng mẹ gì. Hồi ở Hà Nội, có nhiều lần thầy Lôi đi với em suốt buổi tối chủ nhật, sáng thứ hai vô trường đâu kịp soạn giáo án mà vẫn cương tuồng bụng re re học sinh từ cấp thiếu úy đến thượng tá ngồi nhóc mỏ cá kèo nghe, sá gì cái cảm tưởng này. Còn khỏe hơn nữa là lên tới R, ông Cục Trưởng Cục Chính Trị Quân Giải Phóng đã soạn sẵn cho ba, bốn trang lâm ly rồi. Cứ đó mà đọc. Ông ta cũng soạn cho bốn, năm người khác trong đó có mấy ông bà trí thức gà mờ ở thành mới vô . Do đó tất cả cảm tưởng trong buổi lễ đều rất ăn khớp với nhau không có điểm nào chệch choạc hoặc râu ông này cắm cằm bà kia.

Tôi được ông Cục Trướng Cục Chính Trị giới thiệu với hội trường như một anh hùng vừa lập xong cái chiến công Biên Hòa. Cả hội trường vỗ tay vang dậy hồi lâu. Tôi đọc cảm tưởng một cách chậm rãi và rất hùng hồn.

Mấy mụ sồn sồn ngó tôi lom lom. Mấy tên mặc áo nhà sư đầu bóng lưỡng thì chậm rãi gật gù. Hóa ra một đám Lỗ Trí Thâm lên cổng chùa vào đây ngã mặn. Chứ không, sao lại hoan nghênh kẻ sát nhân như tôi. Cán bộ đến dự gồm toàn thứ cao cấp của Cục Tham Mưu, Cục Hậu Cần, Cục Chính Trị ngồi như cá mòi ở cuối hội trường không có dịp ngửi hương phấn của Sè thành e lệ. Tôi liếc thấy một cô đào Hát bóng ở Hà Nội. Cô nàng đẹp lắm nhưng tiếc thay cái bông hoa lài đã cặm bãi cứt trâu, bây giờ vô đây không biết món gì mà lại lọt vào hội trường này?

Tôi đọc tới đoạn quan trọng thì lên gân:

– Quân đội là con em của nhân dân, phải tận trung với nước, tận hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành (lặp lại hai lần), khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng! (tôi nghĩ là: kẻ thù nào cũng đánh bại chứ sao lại đánh thắng?)

Tôi biết câu này là do ông Sáu Vi sáng tác nên vừa đọc xong, tôi ngó xuống ngay hắn. Hắn gật gù và giơ nắm tay lên trước ngực tỏ ý hài lòng, trong lúc hội trường ào ào đứng bật lên như đạp phải lửa. Mỉa mai thay những tên đặc công đánh trận Biên Hòa, sau khi nổ súng rồi bị trực thăng nhảy chụp không có đường rút lui, phải nơ ba cây DKZ 25 lủi như chuột còn kẹt ở bờ sông Bé, nghe nói gần phân nửa bị bắn chết, hai khẩu DKZ rơi xuống sông không mò được…

Tất cả đám xôi thịt không.phân biệt gái trai già trẻ đều ngồi phải cây cọc Nguyễn Chí Thanh một cách hết sức êm ái nên tha hồ nhún nhảy và vỗ tay khoái cảm rã rít. Khi tôi hoàn thành bài cảm tường thì các ông to bà lớn động cởn lại một phen đứng dậy vung tay múa chân hoan hô giải phóng quân anh hùng.

Kế đó là ông chủ tịt Mặt Trận Nguyễn Hữu Thọ lên sân khấu tặng huân chương Quân Công Hạng Ba cho đội đặc công (gọi là Đoàn Pháo 69). Tôi thay mặt Đoàn lãnh Huân Chương. Tiếp đến vợ chồng bác sĩ Phùng Văn Cung trao cờ Luân Lưu (Phùng Văn Cung là tên bác sĩ thiến heo, vô rừng chích toàn gây áp-xe cho bệnh nhân). Tôi lại cũng tiến ra thím xực luôn lá cờ rồi quay ra trình cho hội trường xem. Bà ta cảm động ôm quàng lấy tôi mà hôn. Tôi nghe ớn quá trời vì bả già cóp. Tôi chỉ đáng con bả. Giá được con gái bả hôn thì thích hơn.

Hội trường lại thêm một phen cảm động quá sá ngán. Máy ông phó nháy chớp lia, mấy ông phó nhòm thì quay ống kính theo tôi bấm máy chạy rè rè. Tôi nghe cái cục vinh quang chạy lên tận cổ. Tôi dõng dạc oai phong bước xuống sân khấu đến ngồi vào ghế của mình. Ông đại tướng chồm lên vỗ vai tôi, rồi đưa tay ra cho tôi bắt:

– Cậu khá lắm! Quân đội phải thế!

Phần lễ chính thức tối đó coi như chấm dứt để bước sang phần văn nghệ do đoàn Văn Công Giải Phóng của chị Ba Thanh Loan phụ trách. Trong lúc ngồi xem, ông đại tướng cứ hỏi chuyện tôi hoài. Mình ở trong rừng thiếu chất tươi, xem Văn Công được một đêm còn hơn uống thuốc La Vạn Linh Bổ Thận nhưng tôi đâu dám bất mãn với ông đại tướng, cứ phải luôn miệng trả lời. Ông hỏi thăm tình hình của đoàn Pháo 69 mà Cục Chính Trị lếu láo giới thiệu với hắn tôi là Đoàn Phó. Vốn là người đi sâu đi sát với lính nên hắn hỏi thăm tôi ngay về tổ chức của đoàn. Làm sao đột nhập vào vùng tạm chiếm. Vấn đề chuyên chở nòng pháo. Vấn đề rút lui v v Chẳng lẽ mới nhận huân chương đó, bây giờ lại nói không biết gì, tôi bèn bịa và trả lời xuôi rót nên ông ta tin tưởng tôi là Đoàn Phó đoàn 69 và đã chỉ huy trận pháo kích thật. Hóa ra mấy tên đầu bò bịp tên đầu bò. Tôi không ngờ chúng nó lại thủ đoạn với nhau như thế. Do cái loại báo cáo tô hồng này mà Cải cách ruộng đất bét nhèo ra rồi lão Hồ mới hay.

Nhưng Sáu Vi không dừng lại ở những nét chung chung đó. Hắn hỏi sát đáy quần chúng cơ.

– Anh em ăn có no không?

– Dạ no. (Gạo mục và đói thấy mẹ. Trồng khoai sắn tự túc Mỹ đánh tan hoang hết)

– Có trộn khoai sắn gì không?

– Dạ không ? (Không trộn khoai sắn, chi ăn khoai sắn vì không đủ cơm. )

– Mỗi tháng khẩu phần bao nhiêu?

– Dạ 30 lít chẵn. (Lắm lúc không có lít nào phải đi ăn chực ngoài ấp chiến lược hoặc trong xóm. )

– Tiền thức ăn bao nhiêu, có tạm đủ không?

– Dạ, 8 cắc cho sơ cấp và lính, một đồng hai cho trung cấp (sự thực ít khi lãnh đủ. )

– Không được, phải hủy bỏ ngay cái chế độ đó. Phải đồng cam cộng khổ. Sinh hoạt phí có phát đều không?

– Dạ có ! (không mấy khi có.)

– Anh em có thắc mắc gì không?

– Dạ không ạ . (Anh em chỉ chưởi cha mấy tháng quản lý tham ô và cấp trên hưởng lạc thôi chứ không dám thắc mắc.)

– Anh em có ra ấp chiến lược mua sắm không?

– Dạ đơn vị cấm ngặt ạ ! (Sự thực thì cán bộ ăn hút mê man ngoài ấp chiến lược lấy vợ luôn ngoài đó)

– Chế độ sinh hoạt Đoàn Đảng có duy trì tốt không?

– Dạ có ! (chỉ họp để thi hành kỷ luật các ông dâm ô ngoài ra ai cũng ớn họp.)

– Có kết nạp đoàn viên đảng viên mới không?

– Dạ có ! (sự thật thì không ai vô đoàn, còn đảng viên thì bị khai trừ nhiều hơn kết nạp. )

– Anh em miền Nam về được quê hương có phấn khởi không?

– Dạ phấn khởi lắm. (Mừng thấy bố nữa là khác.)

– Đồng chí có gia đình chưa?

Dạ chưa ! (Làm sao đứng lại để cưới vợ được mà có ?)

Ông ngưng một chút để cho tôi coi Văn Công. Tưởng gì ai dè kịch Đánh Mỹ của các dũng sĩ Củ Chi. Nào là Bảy Bê, Bảy Nề, Bảy Mô, Út Nhỡ, Tư Gừng, Năm Cội v.v… Đến cái màn Mượn Mỹ (tôi đã kể ở phần I) tôi mắc cỡ quá chừng. Vì sự thực không có gì hết ngoài cái tổ chức gọi là Đội Nữ (gồm toàn Nữ Du Kích của các xã) nhảy cóc nhảy nhái võ trang bằng súng trường bá đỏ đâu có làm ăn được gì. Tôi biết rành mà chúng lại đem diễn láo cho tôi xem.

Ông đại tướng lấy làm thú vị, vừa coi vừa gật gù khen ngợi:

– Thành đồng phải thế! Thành đồng phải thế!

Khi vở kịch Mượn Mỹ chấm dứt ông lại hỏi tôi một loạt nữa.

– Cậu có gặp mấy cô này không?

– Dạ có gặp luôn ạ . (Gặp cả ở dưới hằm.)

– Có đúng như trong vở kịch không?

– Dạ đúng, nhưng vở kịch còn kém so với thực tế.

– Là thế nào?

– Dạ đội nữ anh dũng hơn nhiều. Vở kịch không diễn tả được cảnh trực thăng bắn.

– À ! đúng, cái đó thì khó đem lên sân khấu. Mỹ có vẻ khờ lắm phải không?

– Dạ không.

– Sao tôi nghe đài Giải Phóng nói thì tôi mường tượng đó là những thằng người làm bằng sáp.

– Dạ tôi chưa bắt được thằng nào nhưng máy bay của nó thì rất… ác.

Tôi không dám đẩy cây thoa mỡ bò với ông đại tướng về cái khoảng Mỹ khờ vì tôi đã đánh với nó nhiều trận. Phải nói khi xáp chiến thì 50/50 nhưng lúc rút lui thì nó cho trực thăng và pháo truy kích gây số thương vong gấp năm, mười lần tại trận địa.

Hết vỡ tuồng Mượn Mỹ (*) thì tới vỡ Gái Bán Bar hay US go home (*).

(*) Hai vở kịch này của tên bồi Nguyễn Vũ, tên cúng cơm là Ngô Y Linh.

Cô đào hát bóng đóng vai gái bán bar. Lính Mỹ đến nhậu và bị dán truyền đơn ngay cả trên lưng mà không hay… Con nhỏ rã rê với tên Mỹ, chân trắng nõn suông như ống chỉ, cặp mông ngún nguẩy làm tướng tá tao nhân mặc khách đều mê tơi, nhưng ông Đại tướng lại quèo tôi hỏi tiếp:

– Này, đơn vị bộ binh mỗi khẩu súng trường được bao nhiêu đạn? Du kích được bao nhiêu?

– Dạ súng trường 100, tiểu liên 150-200, trung liên 500-600. Du kích 100-200. (sự thực du kích đào bom lép nổ tan xác thiếu gì.)

– Còn pháo?

– Dạ nếu 105 ly thì 10 quả. Cối 120 ly cũng cỡ đó. DKZ-75, cối 81 thì 10-12 quả.

– Đạn 105 vác cách nào?

– Dạ thì thanh niên xung phong vác theo bộ đội.

– Làm sao vác nổi?

– Dạ hai người một quả, thay phiên nhau.

Ông đại tướng ngẫm nghĩ một chốc rồi lại hỏi tiếp. Tôi hơi phiền trong bụng vì không được thoải mái xem kịch. Các tên Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Trần Văn Trà ngồi trơ trơ đó, sao hắn không hỏi mà cứ hạch mình. Tôi biết hắn muốn đi sâu đi sát . Bị một vố Cải Cách Ruộng Đất rồi ê càng, Bây giờ không dám nghe các ông bà trung gian tâu lên bệ hạ nữa.

– Đơn vị cậu mỗi ngày sốt rét bao nhiêu? Có sốt ác tính không?

– Dạ chừng một vài người thôi. (Sự thực trên 2/3.)

– Ngoài sốt rét ra còn bệnh gì khác nữa không?

– Dạ phù thủng, kiết lỵ, quáng manh, gan, lá lách, dạ dày, sốt ác tính cũng lai rai.

– Nhiều vậy sao?

Tôi bị ló đuôi, bèn trở cờ:

– Dạ đó là hồi năm kia, anh em chưa quen nên bịnh nhiều, bây giờ thì không thế nữa.

– Đoàn của đồng chí có cứu thương không?

– Dạ có . (Thực ra là không, chỉ một vài anh y tá vườn bắt theo đơn vị băng bó thương binh ẩu tả để chở đi bệnh xá cưa cắt thôi. )

– Bệnh xá có phương tiện khá không?

– Dạ tôi nghe nói khá. (Sự thực chẳng có thuốc men gì. Một giáo sư Liên Xô đã vào thăm cái gọi là Bệnh Xá của Quân Khu ở Bưng Còng. Y tá phải biểu diễn một màn cưa chân thương binh bằng cưa sắt như kiểu chín năm chống Pháp. Ông giáo sư lắc đầu chịu thua. )

Cái tính đi sâu đi sát với lính và dân của ông đáng cho cán bộ thuộc cấp sợ xanh mặt lắm chớ không có đùa đâu. Ba tên tướng ngồi bên cạnh ông nghe tôi trả lời chắc phải nhấp nhổm như ngồi bàn đinh. Biết đâu nay mai ông gọi ba trự này sạc-cà-rây một mách?

Tôi viết chương này để mọi người Việt Nam biết rằng cái chết của tên tướng đầu đỏ báo hiệu xấu cho Tết Mậu Thân thảm bại. Sự thảm bại này kéo theo cái chết của Hồ. Đó không phải là một chuyện thường mà là hình phạt của Thượng Đế ban cho thầy trò tên cướp và bọn lâu la.

Cám ơn nhánh cây rừng có mắt đã hủy diệt dùm dân tộc Việt Nam một cái mầm Staline.

o O o

Tôi và Tư Linh ngủ ngoài rừng giữa cái đêm kinh hoàng đó. Đến sáng mới mò đường (mò thật chớ chẳng phải nói đùa vì bom B52 đã thay đổi toàn bộ địa vật). Chúng tôi mò được quán cô Sáu Tỉnh (hoặc Sáu Tiệm). Cô Sáu là người rất mến tôi ngay từ lần đầu tôi bước chân xuống Củ Chi.

Cái quán bay cả nóc chỉ còn một cái chái xiêu xiêu, lòi cả miệng hầm. Bên trong hai ba trự đang ngồi uống trà tán nhuyển về trận B52 và mừng cho sự sống sót của mình.

Thấy tôi và Tư Linh, ông thiếu úy đánh xe bò mừng rỡ:

– Lại đây trụng lòng trà đế quốc vài chung thầy Hai.

– Ê ! ổng lên E phó rồi nghe mậy!

– E, Ê gì cũng một viên thôi.

Tôi và Tư Linh sà vào. Khói thuốc thơm mịt trời. Thấy quanh bình trà toàn là những ông kẹ con nên tôi không ngại gợi lại chuyện đêm qua!

– Chuyện đó đã đành rồi t Nhưng đem về tới sân bay Mi Mốt bằng cách nào?

Tư Linh nói.

– Mình chỉ dùng xe đạp thôi chớ xe mô-tô làm sao đèo được? Ban đầu tôi cũng không hiểu thồ cách nào. Vì thồ xe đạp thì chỉ thồ người sống chớ làm sao mà thồ người chết? Nói xin lỗi, chẳng lẽ trói rùn ông lại rồi ràng trê n poọc-ba-ga?

Bảy Hốt hớp ngụm trà và gật gù:

– Đây là nghề của tôi rồi. Để tôi nói cho hai ông nghe. Ba cái vụ Thồ này là gốc từ ngoài Bắc nhất là trong chiến dịch Điện Biên. Ông ba Kiên trung đoàn trưởng Q16 vô hồi nẳm, ổng có phổ biến kỹ thuật thồ, trong đó có cách thồ chiến thương bằng võng ở những đoạn đường phẳng. Chẳng khó khăn gì. Lấy một cái đòn dài buộc vào sườn xe trước luồn tận xe sau.

– Nghĩa là hai xe đạp.

– Ngoài đó gọi là thồ đúp hoặc thồ gia công. Giữa hai chiếc xe ta treo cái võng trên cây đòn. Chiến thương nằm trên võng. Xe chạy êm ru!

Tư Linh nói:

– Nhưng từ căn cứ 30 đến sân bay Mi Mốt đâu có phải gần như hồi Bộ Chỉ Huy đón ổng vô. Ít nhất cũng phải đạp mất một ngày. Đó là nói trường hợp đường suông sẽ, không bom pháo, đổ chụp!

Tư Linh thở dài sườn sượt ra vẻ chán nản cực độ.

– Đù mẹ, giữa trận mạc thì lính lãi cũng một phát mà đại nguyên soái cũng chỉ một phát thôi.

Tôi bảo:

– Nhưng đám ma lính lãi thì chỉ có cóc nhái ễnh ương tiễn đưa, còn Nguyên Soái thì có kèn trống mày ạ !

Tư Linh rút thuốc bật lửa hút mấy hơi dài rồi nói.

– Phải rồi ! Nhưng nằm trong hòm có nghe gì? Nhớ hồi ổng mới vô sân bay Mi Mốt, tụi tao đi đón.

– Ủa, mày được danh dự thế à ?

– Danh dự gì ! Tao đi trong đám bảo vệ, toàn cấp úy trở lên, nhưng đến nơi chỉ đứng xa xa vòng ngoài. Bữa đó không biết được điện hồi nào, mà anh Ba Chè nhà mình hớt hãi tập họp các ông tướng. Chín Vinh, Lê Trọng Tấn và mấy ông Thượng tá Cục Trưởng, Cục Phó B1, B2, B3. Chỉ trong vòng hơn một tiếng đồng hồ chuẩn bị là cả đoàn xuất phát. Tao còn nhớ ông Ba Chè có chọn tám dũng sĩ khỏe nhất thuộc Bộ Chỉ Huy. Không biết ổng định làm gì. Ổng bảo đi là đi. Cả đoàn vừa đi vừa chạy. Chỉ băng qua biên giới một tiếng đồng hồ là đến sân bay. Đây là cái sân bay của thằng chủ đồn điền cao su chứ không phải sân bay hành khách. Tao là cái thằng cầm đóm điếu nên được phân công đứng sau mấy ông tướng để sai vặt. Chờ chừng mười lăm phút thì trực thăng tới.

Tôi hỏi.

– Từ Hà Nội vào gì mau vậy?

– Không! Từ Nam Vang.

– Ủa, ông đi từ Nam Vang à?

– Chớ sao. Mày không biết ông già Ca Văn Thỉnh làm đại diện của mình đang ở đó à? Mình oánh xí cú mứng nên thằng vua Thổ phải chịu. Nó là học trò của ông Thỉnh ở Chasseloup Laubat mày biết không? Người Á Châu trọng nghĩa thầy trò nên ổng muốn gì cũng được. Nó cho ông tướng nhà mình xuống Mi Mốt bằng trực thăng có khó khăn gì. Ổng bước xuống thang tươi rói, không mất giọt mồ hôi.

– Vậy tao gặp ông trên đường Trường Sơn là nghĩa gì?

– Ổng đi quan sát một vài trạm để đề xuất vấn đề , chỉnh đốn nọ kia vậy thôi. Mày biết ổng mà . Ổng đi đến đâu là thay đổi rần rần đến đó. Ông ba Chè mình giới thiệu qua các ông khác rồi quay lại vẩy tay cho tao. Tao đã được dặn dò kỹ lưỡng, nên thấy ổng vẫy tay là biết thời cơ lập công dâng đảng đã đến. Tao chạy ra sau đuôi máy bay giơ tay ngoắc, lực sĩ chạy tới vòng qua trước cửa. Ông Ba Chè khúm núm:

“Thưa anh Sáu, anh Sáu đi đường xa mệt mỏi, mời anh Sáu lên kiệu.”

Tôi gắt.

– Kiệu?

– Ừ, ổng kêu là cái kiệu vì nói võng nghe hèn hạ, hoặc sợ phạm húy của ai đó tao không rõ. Tao thấy ông đại tướng rõ hơn hồi ở Hà Nội. Nước da ổng cũng mầu đồng điếu. Chẳng phải vì ông dầm mưa dãi nắng mà đó là nước da lãnh đạo. Ông mặc áo len màu nâu, quần kaki xanh chân đi dép lốp. Ổng lấy làm ngạc nhiên khi bốn lực sĩ của tao xỏ võng vào đoàn và kề lại trước mặt ông chờ ông bước lên. Ổng xua tay lia lịa:

– Không không có như thế được !

– Dạ dạ…

Ông Ba Chè lắp bắp tiếng được tiếng không. Ông Lê Trọng Tấn cũng phụ họa:

– Dạ mời anh Sáu…

Ông càng xua tay mạnh hơn.

– Không ! Không ! Tôi còn khỏe, tôi đi bộ được. Chiến sĩ ta lội núi vượt rừng khổ cực, tôi không thể nằm võng cho các đồng chí khiêng như vậy. Đến đổi Bác Hồ đi công tác còn phải xăn quần lội suối… (vài chục thước thôi!)

Thiếu úy xe bò chắn ngang.

– Ổng không nhận thật à?

– Không ! Đó là sự thực chính tao thấy. Ổng không nằm võng cho tụi nó khiêng thiệt mà.

Tôi nghĩ bụng:

– Ối! Những chuyện đạo đức như vậy tôi biết thiếu gì. Đó chỉ là một lối mị dân, gạt lính. Bác Hồ đang đi xe hơi, thấy xã viên tát nước bèn dừng lại tát vài gàu (Báo Nhân Dân la ỏm tỏi). Bác về dinh Toàn Quyền uống sâm đặc và hút thuốc Mèo Đen (không báo nào nói), bác đập ruồi (các báo chụp hình đăng lên) nhưng bác giết Dương Bạch Mai tất cả lại câm như hến.

Thì cũng như tướng mặt sắt này giả bộ đạo đức không chịu nằm võng cho lính khiêng, nhưng cứ ba bốn tháng thì mụ sề vác cái bề hê vô trong này phục vụ cho con tì ngẩn của hắn. Ngoài ra các mụ tướng khác cũng tùng dấu theo đó mà vô thăm chồng. Mỗi lần các mụ tới Mi Mốt thì lính khiêng về R còng xương sống, có ai dám nói gì đâu ! Và mỗi lần các mụ ra về thì chở theo vô số vải vóc, đồng hồ, bút máy, radio cả xe đạp đem về miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Nhưng, mặc dù được vợ thăm viếng như thế, hắn ở trong này vẫn tòm tem như thường! Các bạn hẳn nghe danh anh hùng Nguyễn Văn Trỗi chứ? Tên đặc công đặt bom ở cầu Trương Minh Giảng bị cảnh sát Sài gòn bắt được và đồng bào cầu này gọi là tên ăn trộm gà ấy mà ? (vì hắn bị đuổi phải chui trốn trong chuồng gà) Trời có cô vợ xinh xinh tên là Q. Sau khi Trỗi bị xử bắn thì đảng ta ra lệnh cho Mặt Trận rước cô nàng vô khu để “Bác Sáu huấn luyện tinh thần yêu nước cho cháu gái, để cháu gái nối bước theo chồng! “ Do đó thị Q. được bác Sáu cho ở chung một nhà để tiện việc huấn luyện, đến nổi ( bọn cần vụ rỉ tai nhau: “Bác Sáu cưng vợ ông anh hùng này quá sá ? , Huấn luyện được kết quả 500%. Nên sau đó có tiếng xầm xì: “Bác Sáu gởi bà anh hùng về Sài gòn để nạo.”

Chuyện này chỉ có bác Sáu biết. Có lẽ tư tưởng Mác Lê duy vật không cho phép bác dùng chứng minh thư nhân dân.

Chuyện này ít ai hay, nhưng sở dĩ tôi rành là vì chính thằng bạn của tôi tên là thằng T. nó quê ở Gò Công có đi học trường Mác Lê Moscowa đàng hoàng, khi về Hà Nội nó viết cái luận án Phó Tiến sĩ trình Ban Tuyên Huấn Trung Ương bị Tố Hữu ngâm tôm hoặc vứt sọt rác gì đó, nên không được trở qua nữa mà lại bị đưa về Nam. Nhưng cái chức Phó Tiến sĩ hàm của hắn vô Nam thì xài ở đâu? Bèn cho hắn xách dép Nguyễn Chí Thanh. (Tôi có gặp hắn làm nhiệm vụ trên đường Trường Sơn vài trạm. Nguyễn Chí Thanh muốn xem tình hình “mậu dịch bán bằng ba thứ tiền Việt Miền Lào” ra sao chắc. Chỉ được vài ngày thì hắn biến mất. Thì ra hắn tách riêng đi xe hơi.)

Thằng Phó Tiến sĩ đang làm tên nâng cu sửa dế cho ngài đại tướng trong thời kỳ ở R chung với bọn Lê Đức Anh, Trần Độ, Lê Trọng Tấn v.v… Hắn ở một nhà còn thằng bí thư ở nhà khác: Hai cái cách nhau xa xa. Nếu cần, bác Sáu gọi. Kỳ dư thì không được tới chầu.

Bữa đó vì có chuyện gấp nên thằng T vô chiếu triệu mà lại lò dò vô tới. Chuyện không ngờ nó thấy bác Sáu nằm trên võng còn cháu Q thì ngồi dưới đất nhổ tóc ngứa. Nó rình một hồi thì cháu Q được bác Sáu đề bạt lên bụng bác. Chập sau bác Sáu lên giường cỡi áo ra nằm sấp cho cháu Q cạo… gió. Nó chỉ dám ngó có bấy nhiêu thôi vì ngó lâu sợ cụ Hồ nổi giận thì khổ thân ! Những chuyện như vậy sống để bụng, chết đem theo mới phải. Nhưng thằng bí thư đã xì ra với tôi trong một đêm ngã mặn ở Tiểu ban Văn Nghệ R. Trước khi kể, nó bắt tôi thề độc “Không được nói với ai!”

Con quỉ đỏ mặt vuông này bị búa Thiên Lôi đả nát sọ là một việc may mắn cho dân tộc Việt Nam vô cùng. Chính hắn là tên có nợ máu trong Cải Cách Ruộng Đất, nhưng hắn là con cưng của lão Hồ nên lão ta đưa tên Hồ Viết Thắng ra đỡ đòn. Nếu hắn còn sống thì dân tộc ta còn phải điêu đứng hơn so với ba tên chăn bò hiện nay nhiều.

Đọc trên một ngàn trang sách, không thấy địa đạo Củ Chi đâu cả. Xin thưa: Củ Chi đâu có địa đạo như trên đài Giải Phóng và đài Hà Nội. Củ Chi đâu có địa đạo như một nhà báo ngoại quốc ngây thơ bị Việt Cộng gạt và đem ngòi bút tuyên truyền không cho chúng.



– HẾT QUYỂN IV –
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 102057
Has thanked: 35654 times
Have thanks: 49460 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 4th, 2018, 2:13 pm
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: 2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Quyển 5)

Postby DaMinhChau » June 21st, 2018, 11:01 pm


Image

2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi

Quyển 5

Chương 78

Vài trận "Bảy Món Ăn Chơi"
với "Anh Cả Đỏ" và "Tia Chớp Nhiệt Đới"



Nói chuyện đánh Mỹ trên đất Củ Chi thì không cùng. Vả lại chúng tôi cũng không thể nào nhớ hết trong 2000 ngày đêm trấn thủ vùng đát từ "thép" đến "bùn" này. Bởi vì đêm bảy ngày ba, trưa cũng không nghỉ. Có khi đang ngủ vụt ngồi dậy thấy xe tăng đã lúc nhúc như bọ hung, lính Mỹ vàng đồng, trực thăng đen trời, chỉ quơ lấy súng vừa núp vừa bắn. Có khi đang ăn cơm pháo nó giã, buông đủa vô hầm. Có khi đi ven đồng bị "cá rô" rượt, chỉa AK bắn mà chạy thoát thân, lại có trường hợp hai thằng cùng đi bị Mỹ đuổi bất ngờ, cắm đầu chạy, chừng dừng lại thấy thằng bạn mình đâu mất, nó đã bị bắn gục phía sau lưng.

Vì thế trong chương này tôi chỉ xin kể dăm ba trận mà tôi còn nhớ rõ để cống hiến độc giả. Nếu độc giả nào có tham gia kháng chiến chống Pháp và có cầm súng trong bộ đội sẽ thấy sự khác nhau giữa hai anh chàng Pháp và Mỹ như thế nào. Chính vì không hiểu được sự khác biệt này mà bọn Hà Nội đã nướng quân một cách vô tội vạ, nướng luôn cả hai trung đoàn đã từng là anh hùng trong trận lịch sử Điện Biên Phủ. Chỉ nội pháo binh của Mỹ thôi, tôi tin chắc Võ Nguyên Giáp cũng không hiểu tí gì, đứng nói chi các loại cơ giới khác như xe tăng, trực thăng, tàu chiến...

Các bạn có khi nào bị pháo bắn mà đạn pháo nổ rồi mới nghe tiếng đạn pháo đi không? Các bạn có khi nào bị pháo bắn mà đạn pháo nổ hàng loạt dòn như tiểu liên không? (Tiếng nổ to gấp ngàn lần, nhưng nổ loạt). Đó là pháo siêu âm của Mỹ, thường gọi là pháo nòng dài tức là 175 ly và cà nông 40 ly mà Việt Cộng quen gọi là cà nông quarante. Đánh với Pháp chúng chỉ xài 105 và bắn từng quả. Một trái nổ xong, ta có thể ăn trầu hút thuốc đã đời hoặc ngủ một giấc rồi mới đến trái khác.

Pháo Mỹ khi đụng trận rồi không nổ như thế bạn ạ. Nó nổ, mình không quen, túm giò không chạy được. Trong một trận đánh mà tôi sẽ kể sau đây, ông Hai Phái, chính trị viên của tôi đã bò lăn xuống đất, tôi tưởng y bị thương, bèn tới xốc y dậy, y bảo y không bị thương, chỉ mất tinh thần không chạy được thôi.

Muốn cho các ông lớn Hà Nội hiểu rõ vũ khí của Mỹ, không gì giản dị bằng ném họ vào Củ Chi này chơi với Mỹ một trận nho nhỏ, cho họ đội pháo Đồng Dù thôi, không cần chi tới B52, thì họ sẽ hiểu bom đạn của Mỹ như thế nào.

Trong mấy chương trước, tôi có thuật lại trận đánh đồn Paris Tân Quy, 95% binh sĩ thương vong là do pháo. Trận pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù cũng thế. Đơn vị chúng tôi không ngán chạm mặt trực tiếp với lính Mỹ mà chỉ sợ lúc rút lui. Số thương vong tại trận có khi chỉ một phần mười so với số thương vong lúc ra khỏi trận địa. Nhiều khi nổ súng xong là chúng đem trực thăng tới xúc quân về và gọi pháo giã nát đất. Phần lớn cán Bộ Chỉ Huy ở miền Nam, cao lắm là chỉ học được chiến thuật Mao Trạch Đông và xài đại bác "cà lăm", "không giật" Liên Xô, Trung Quốc. Thậm chí nhặt nhạnh ba cây pháo tép của Pháp từ thời Pétain làm trùm vứt lại, đem ra đối đầu với pháo siêu âm của Mỹ. Đứng trước các chiến thuật trực thăng vận "bủa lưới phóng dao", "phượng hoàng vồ mồi" của Mỹ thì than ôi, cụ Mao quả là danh hề quân sự. Cụ Mao dạy, và chúng tôi cũng đã gạo rất kỹ, rằng phải "đánh gọn rút nhanh", "dao mổ bò giết ruồi"... Rút nhanh . Nhanh sao bằng pháo bắn, nhanh sao bằng trực thăng bay? Dao mổ bò có nghĩa là tập trung một lực lượng lớn để tràn ngập một đồn nhỏ. Ví dụ đồn nhỏ như đồn Thầy Mười do một trung đội Nghĩa Quân đóng, thế mà muốn hạ được nó chúng tôi đã phải hy sinh đứt một tiểu đội, một C phó, và một B trưởng. Nhưng nên nhớ rằng trong cái Củ Chi nhỏ bằng bàn tay nằm dưới cánh các loại máy bay thám thính của Mỹ, không dễ gì tập trung được một lực lượng lớn. Hơn nữa có lực lượng lớn đâu mà tập trung. Chưa bao giờ tập trung được một trung đoàn. Có lần Q16 Bắc Việt sắp sửa dàn trận, Mỹ cho pháo giã tan tành. Chưa đánh đã thua. Đó là trận tập kích bộ binh và xe tăng Mỹ cụm ở trảng Dầu Bà gần đường số 6 tại ấp Bùng Binh xã Đôn Thuận đầu năm 67. Cả ba tiểu đoàn 7, 8, 9 của Q16 Bắc Việt định ăn chắc, hốt gọn một tiểu đoàn của Mỹ. Nhưng mới vừa tới, khai triển đội hình chưa xong thì đụng một trung đội Mỹ án ngữ đường 15. Chúng kêu pháo dã chiến Chà Rầy và pháo tầm.xa 155 Đồng Dù. Cả hai dàn pháo câu vô ngay chóc. Tiểu đoàn của ông Bá Lùn bị bắn tan tành không sót một ngoe nào. Lần đó tính ra chúng bắn chừng năm ngàn trái pháo trong vòng hai tiếng đồng hồ để diệt một tiểu đoàn Bắc Việt. Ba Kiên, anh hùng trận Điện Biên, E trưởng, sống sót về gặp tôi ở Củ Chi hôm sau, ôm tôi khóc nức nở và lắc đầu: "Mỹ chơi ác quá đồng chí Hai Lôi ơi ! Tụ i Tây mà đóng kiểu này, chúng tôi ăn gỏi ngay!" Tôi tìm lời an ủi ông anh hùng và hứa sẽ kết hợp với nhau để trả thù. Nói cho đồng chí ta mát bụng vậy thôi, chớ đánh Mỹ thì chỉ thủ huề chớ không dễ gì diệt gọn. Ba Kiên lúc này như con gà chết, bi quan với câu "Sanh Bắc Tử Nam" của lính Bắc Việt mới vô Trường Sơn coi trời chẳng bàng vung. Nhưng khi vô đụng Mỹ thì teo lại, mất tinh thần.

Đó là vào khoảng năm 1967 là lúc có đủ mặt hai sư đoàn "Anh Cả Đỏ" và "Tia Chớp Nhiệt Đới" ở đất Củ Chi. Và lúc này tôi cũng đã tổ chức lại tiểu đoàn hoàn chỉnh hơn gồm có bốn đại đội tác chiến và một đại đội văn phòng gồm trinh sát. liên lạc, văn thư, chính trị, tham mưu, hậu cần v.v... Gà hai bên đã biết tiếng gáy nhau và cũng đã từng nạp nhau vài ba đòn sơ vấn cho nên đã biết mặt nhau rồi. Bây giờ chỉ còn buông đuôi ăn trót tại trường đá Củ Chi.

Nói là "chỉnh đốn hoàn bị" thực ra bởi vì quân số hao hụt mà không có nguồn bổ sung nên đó chỉ là giật gấu vá vai, nhổ râu ông nọ cắm cằm bà kia thôi. Nhất là các ban chỉ huy đại đội chết quá nhiều, không có cán bộ, tôi đành bắt cán bộ trung đội lên làm đại đội phó, đại đội trưởng. Chỉ huy một B còn không xong, lại chỉ huy một C? nhưng "gặp thế thì thế thời phải thế" chớ biết làm sao! Lính thì toàn lính mới toanh, động tác cơ bản chưa rành, còn lính cũ thời Đồng Khởi thì đã chết hoặc lên cán bộ B, C.

Riêng vũ khí bộ binh thì lấy súng trường bá đỏ bắn phát "một cắc một chùm" làm chính, trung liên cũng xài đồ cũ thời kháng chiến chống Pháp.

Trung liên mới RPD của Liên Xô, một băng năm mươi viên gọn nhẹ, nhưng ở trên để dành cho hai công trường 5 và 9 chớ ít lọt xuống tới chúng tôi. Ngoài ra mỗi tiểu đội chỉ một khẩu B40. Ở mỗi đại đội có một trung đội hỏa lực gồm ba súng cối 62 ly, một đại liên. Ở mỗi D thì có một BDKZ 57 ly gồm ba khẩu và một B cối 82 ly gồm bốn khẩu và một B phòng không gồm hai khẩu 12 ly 8. So với hỏa lực của Mỹ thì chẳng khác nào ta đem con gà tre chọi với gà nòi.

Nhưng theo chỉ thị của ông Sáu Di thì phải "nắm thắt lưng Mỹ mà đánh!" ông đã chết rồi nhưng huấn thị của ông được các ông lớn nhắc đi nhắc lại luôn miệng. Đánh với Mỹ bom pháo ngút trời, nếu chậm chạp hoặc lộ bí mật địa điểm là chỉ trong vòng 15 phút thì đã có phi cơ, trực thăng hoặc pháo tới.

Chúng tôi phải thiết lập nhiều căn cứ đóng quân ở Phú Hòa, ở Rừng Làng, Ràng, Sa Nhỏ, Đồng Lớn, Gót Chàng. .. và ở khắp Củ Chi. Hễ chuyển quân tới là công sự đã sẵn sàng, giặc đổ quân là đánh ngay chứ không phải xài "địa đạo chiến" theo kiểu găn gỏi ba thằng Mỹ như chúng tôi đã từng giàn cảnh cho tên nhà báo gà tồ Burchett hồi mấy năm trước. Người lính chúng tôi phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng đánh giặc trong lúc hành quân hay đóng quân .

Trận đánh đầu tiên như gà mới vào nước nạp là trận chúng tôi đụng một tiểu đoàn biệt kích Mỹ đổ xuống Đồng Lớn và tiến về phía Ba Sòng. Trời đã về chiều, đáng lẽ theo lệ thường thì chúng cho trực thăng xúc về Đồng Dù, nhưng lần này chúng lại cụm ở Gò Nổi Trên (nơi chúng tôi đặt súng cối pháo kích đồn Trung Hòa lần trước). Lúc đó tôi và ban chỉ huy C3 đang nghiên cứu trận địa Dân Hàn, định đánh tụi lính tại cầu Công Sở trên đường chúng đi từ Suối Cụt vào Trung Hòa.

Tư Nhựt (tiểu đoàn trưởng) cho cấp tốc gọi tôi về để tổ chức tập kích Mỹ. Đó là lệnh của Quân Khu chớ không phải của tiểu đoàn trưởng.

Mưa tầm tã, trời tối đen như mực, người đi sau không thấy người đi trước, phải quơ tay để giữ liên lạc. Ra tới trường học thuộc lộ số 6 (cao su) thì gặp Tư Nhựt cùng hai ông đốc chiến Ba Châm và Năm Tiều, cán bộ tác huấn Quân Khu. Cả hai đều mang cấp bậc trung đoàn. Ba người đang dụm đầu vào ngọn đèn dầu lờ mờ đặt trên tấm bản đồ trải dưới đất ướt chỗ lồi chỗ trũng. Gió thổi ù ù, mưa tạt như xối nước.

- Lôi, mày về đó hả ! Vô đây mau!

Năm Tiều thấy tôi vào nên lên tiếng trước. Tôi ngồi xuống giữa Năm Tiều và Tư Nhựt, móc gói thuốc Capstan ném ra. Chỉ phút chốc khói tỏa ấm áp và làn khói phủ mờ bản đồ.

Trong xó nhà, một cậu liên lạc bị thương không biết từ lúc nào, đang rên khóc hù hụ. Ba Châm bực mình quát:

- Đem bắn mẹ nó đi ! Lính gì bị thương khóc như con nít.

Ở vòng ngoài tôi thấy có Năm Tân C trưởng Cl, Năm Dầy C trưởng C4 hỏa lực của tiểu đoàn. Thấy tôi về, Tư Nhựt nhìn sang hai ba lần có ý ngầm hỏi: "Đánh thế nào đây thầy Hai?"

Tư Nhựt, con người kiêu hãnh nhưng chân thật. Lúc tôi mới về, anh thấy tôi mảnh khảnh có vẻ thư sinh, nhưng nghe tôi là "thầy pháo" chắc y cho rằng tôi chỉ biết dạy học trò trên sách vở thôi, còn thực nghiệm chiến trường thì không có bao nhiêu. Nhưng qua nhiều đợt điều nghiên mặt trận, bố trí hỏa lực, và sau các trận đánh Suối Cụt, hạ đồn Thầy Mười và tập kích đồn Paris Tân Quy thì anh tỏ vẻ phục tôi, nên anh cũng bắt chước các cán bộ C gọi tôi bằng "thầy" và mỗi lần quyết định một việc quan trọng anh đều chờ ý kiến tôi. Nhưng tôi không bao giờ lấn lướt quyền hạn tiểu đoàn trưởng của anh, mà ngược lại tôi tìm mọi cách nâng uy tín của anh lên đối với các cán bộ C và B để anh dễ dàng làm việc.

Tôi đã biết địa thế Gò Nổi Trên, nhưng không rõ tụi Mỹ đội hình ra sao nên chưa phát biểu ý kiến, mà để chờ mấy ông kẹ lên tiếng trước. Ba Châm rít một hơi thuốc lào rồi bảo:

- Thằng Lôi mày đi chính diện còn mấy đứa kia thì chỉ đánh xuyên hông.

Tôi nhìn điểm Gò Nổi và hỏi:

- Anh Ba có nắm được đội hình tụi nó chưa?

- Bị đánh một phát nó ré lên thì mình biết chớ gì. Để sáng nó rút mất không đánh được, ở trên khiển trách.

- Anh Ba đừng nóng ! Để đợi trinh sát đủ các mặt về đã !

Tư Nhựt biết khi tôi nói như vậy là chưa khai hoả được nên vuốt nhẹ Ba Châm.

Năm Tiều đồng cấp với Ba Châm, nói mạnh miệng hơn:

- Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng nghe cha! Biết địch gồm có các điểm: quân số, hỏa lực và bố phòng của địch. Quân số của nó thì ta đã biết, một tiểu đoàn. Súng ống thì chắc các loại mình đã chơi rồi. Còn cách bố phòng thì ta chưa biết. Bắn phát đầu phải diệt được hỏa lực chính của nó, ví dụ như đại liên, trung liên của nó thì mới xung phong được. Chứ nếu chỉ diệt được một vài cây ARI5 mà xung phong lên thì sẽ bị nó quét sạch.

Ba Châm ngồi im, bộ râu mép quặp xuống, nhúc nhích lia:

- Các cha làm sao đó thì làm. Chớ để tụi này rút về Đồng Dù mà không sứt mảy lông thì cả bọn mình "không còn chỗ đội nón".

Năm Tiều gật:

- Tôi đưa đầu cho các chả chém! Đánh Mỹ chớ phải đánh u sao mà dễ vậy?

Còn đang cãi cọ, bỗng trinh sát về báo cáo:

- Tụi nó bố trí hình tam giác. Ba đại đội tựa lưng vào nhau để phòng ngự. Một đại đội hướng về Ba Sòng, ta đã phát hiện nó khoảng nhà tía vợ xã đội Ba Tâm, một đại đội hướng về lô cao su lộ 6, một đại đội hướng về đường số 7.

- Như vậy được rồi, Tư Nhựt quyết định đi. -Tôi bảo.

Tư Nhựt bị trận Tân Quy cũng dưới quyền ông E trưởng Ba Châm mà C3 bị nhai hết một B nên lần này hơi ngán cái lối "đánh võ rừng" của già Châm. Anh định gạn hỏi thêm trinh sát vài điều, nhưng tôi biết già Châm sẽ gầm lên.

Bọn tôi chỉ huy tiểu đoàn rất hợp lý hơn có hai ông già đốc xúi này, nhất là ông già Châm thì ông ta đi trận nào kể như lính mất tin tường trận nấy. Tôi nháy Tư Nhựt bảo:

- Vừa đi mình thảo luận thêm.

Tôi nhìn đồng hồ. Đã 2 giờ sáng. Hết giờ rồi. Phải kết thúc nhanh, để trời sáng càng thuận lợi cho máy bay, tai hại cho mình.

Tôi bảo:

- Tín hiệu: khăn trắng buộc ở tay. Cứ ra lệnh và gọi tên nhau bằng tiếng Việt Nam, không cần ám hiệu vì Mỹ không nghe ra.

Tư Nhựt ra lệnh hành quân chớp nhoáng. Xướng, B trưởng đội trinh sát dắt "tai mắt" đi đầu. Tôi dắt C3 và C4 đi kế. Ba Trách, C phó điều khiển một đại liên và một DKZ đi cặp hông tôi dọc theo bờ ruộng bên phái, hai C đi phía bên trái. Sau cùng là C phó Năm Dầy điều khiển hai cối 82 ly của D và hai cối 62 ly của C3.

Tôi dặn Năm Dầy khi biết hướng địch thì cứ để cự ly 200, 300 mà bắn vào giữa đội hình chúng.

Trời vừa dứt mưa, không khí còn ẩm ướt, nếu để xa có thể đạn đi không chính xác sẽ vỡ mặt quân của Ba Đức chốc nữa sẽ tấn công từ phía đường số 7 lên.

Trời tối om, đường lầy lội, tôi bảo mọi người nhón chân để không khua nước. Xướng dừng lại. Tôi biết gần tới khu địch đóng quân. Không rõ chúng nằm ngồi thế nào mà êm ru. Không có tiếng động, cũng không có một đốm lửa thuốc lá. Tôi khẽ bảo Năm Dầy cho anh em dàn hàng ngang và sẵn sàng xung phong. Bỗng nghe một tiếng ầm. Tôi biết là Ba Trác đã nổ DKZ. Tôi nghe tiếng Tư Nhựt lẫn Út Sương thét lên xung phong. Tôi quát Năm Dầy:

- Nổ mạnh vào!

Tum! Tum! Tum! Ành, ành, ành!

Cối giã dòn tan. Bộ binh xông lên.

Xáp lá cà với quân Mỹ. Chúng kêu, la rống, không biết nghĩa gì. Cứ bắn, đâm, la hét áp đảo tinh thần. Chúng chạy đùn cục xuống ruộng nước. Tôi không cho đuổi chúng để Năm Dầy phóng pháo. Trong vòng mười phút, tiếng Ba Trác vang lên:

- Xơ ren đơ! Xơ ren đơ! Đụ mẹ mày ba thằng Mỹ chó đẻ !

Xơ-ren-đơ là tiếng của Tư Linh ban địch vận dạy để khi ra trận kêu gọi lính Mỹ đầu hàng (surrender). Nhưng không thấy thằng nào giơ tay giơ súng lên cả. Tôi biết cái lối đánh của Mỹ nên ra lệnh rút ngay, không chậm một phút.

Đơn vị vừa ra khỏi trận địa là pháo Trung Hòa rót vào rung đất. Kế đó pháo Đồng Dù giã vào xóm Ba Sòng để chận đường rút lui của chúng tôi.

Tôi la:

- Rút mau. Tụi nó hủy diệt trận địa rồi.

Tôi ù cả tai không còn nghe gì nữa. Chỉ nghe loáng thoáng tiếng Ba Đức chửi thề và tiếng chiến sĩ bị thương kêu cứu.

Pháo bắn điên đầu. Tiếng nổ lụp bụp như đại liên chớ không rời ra từng phát đâu bà con ơi. Pháo của Tây là trò chơi con nít. Bắn một phát, uống ly cà phê rồi bắn phát nữa. Pháo Mỹ bắn cò điện tự động, không đếm được. Khói pháo đen bít cả đường đất địa hình, không biết lối nào mà chạy. Rất tiếc Võ đại tướng không vô đây cỡi ngựa xemhoa .

đội cắt ngang lộ 6 rồi cặp theo lộ 7 về xóm trại Bà Huệ. Về đến nơi thì biết Nam Tân, C trưởng Cl bị thương sọ não; Chín Xe Đò, B trưởng chết; Chín Nữa, C phó bị thương, C3 mất đứt một A vì trúng mìn clay-mo. Nhưvậy ngót mười chiến sĩ lẫn cán bộ thương vong.. Khôngbiết Mỹ chết bao nhiêu. Chúng tôi thu được sáu khẩu M79, ba máy PRC25, mười bốn khẩu ARI5, một súng bắn hỏa tiễn (như B40) và hai ống kính hồng ngoại tuyến.

Sau này ban tác huấn Quân Khu mới đoán là một tiểu đội bị diệt gọn trong bãi mìn vì Mỹ có kính hồng ngoại tuyến nhìn thấy người trong ban đêm. Không biết trúng hay sai, nhưng mười hai chiến sĩ đã tan xác không hốt lại được một miếng thịt. Do đó chúng chết mà không mồ mả chi hết.

Chúng tôi kéo về Thuận Đức gần cầu Rạch Sơn nằm liệt địa, định nghỉ vài tiếng đồng hồ rồi di quân vì đây là điểm pháo của Đồng Dù. Nhưng nằm chưa thẳng lưng thì trực thăng lại đổ quân và xe tăng tới ủi rừng. Không biết chúng được điệp báo mà đuổi theo chúng tôi hay là tao ngộ chiến. Nhưng dù thế nào chúng tôi cũng phải nghênh chiến vì không thể tránh né được. Một tốp trực thăng đổ quân xuống đầu Rừng Làng. Chúng đụng ngay đội quân y và trinh sát. Một trận đánh cận chiến giữa hai bên xảy ra ở ngay bìa rừng.

Thương binh ở trận Gò Nổi vừa được băng bó xong đã phải cầm súng đánh tiếp, bắn được phát nào hay phát nất hơn là nằm chờ bị bắt.

Bảy Phúc, quân y sĩ, trước kia là phụ tá của Tư Chuyền ở C5 vừa mới được chuyển về phụ trách quân y cho tiểu đoàn đã bị bắn chết ngay từ phút đầu dưới hầm. Mỹ phát hiện được cứ điểm của chúng tôi nên thả xe tăng càn tiếp. Ủi xong, chúng rút ra để nhường chỗ cho pháo dập. Bạn có thể tưởng tượng là pháo từ Đồng Dù, Trung Hòa và các cụm pháo dã chiến từ Trảng Bàng, Bình Dương câu liên tiếp hai tiếng đồng hồ! Một con dế cũng không thể sống sót thì công sự bằng bê tông cũng không thể đứng nổi. Nhưng chúng tôi vừa cầm cự vừa rút chạy về Sa Nhỏ cho nên tránh khỏi bị tiêu diệt toàn bộ ở Rừng Làng.

Chiến thuật của Mỹ là "tìm và diệt" cho nên chúng tôi đi đâu thì có "cá rái cá nhái, cá lẹp, đầm già, cồng cộc, thần sấm" theo đến đó và cuối cùng là dưa hấu bầy rơi lả tả như mưa.

Chúng tôi đóng thành thế phòng ngự tam giác. C1 ở Đồng Lớn, C3 ở Cỏ Ống, C2, C4 và C5 ở Sa Nhỏ. Chắc chúng đã nắm được sự bố phòng của chúng tôi nên mới 10 giờ sáng (hôm sau) chúng đã cho trực thăng phóng pháo sơ sơ rồi đổ quân thành hai cụm, một ở giữa đồng Sa Nhỏ, một ở đầu ấp Cỏ Ống cách C3 không đầy một cây số.

Tôi đang ngủ trong nhà ông Mười ở cuối ấp Sa Nhỏ, thì ông đập vai tôi: "Con ơi! Mỹ đổ quân rồi. Hai! Mau lên!" Tôi bật dậy, ló đầu ra cửa sổ thì cánh quạt trực thăng quạt xước cả nóc nhà làm da mặt và tóc tôi muốn bị lột ra. Tôi rút đầu vô và ngó theo thấy thằng Mỹ ghìm đại liên bên hông máy bay.

Văn phòng D đóng ở trong nhà cô Tư Thêm má con Tiền, chỉ cách có mấy bờ dừa mà tôi không vọt về được để dùng điện thoại chỉ huy các đơn vị. Tôi bèn quơ súng và chạy ra tiền duyên của C2 nhào xuống ổ đại liên của Năm Hỏi, B trưởng. Y mừng rỡ:

- Phen này mình trả thù cho Bảy Phúc ! Kìa, anh coi, tụi Mỹ đi ngay vô họng đại liên kia cà. Có thằng bỏ ống dòm khoát tay chỉ huy.

Tôi ngóc lên nhìn thấy lố nhố áo vàng tiến gần họng đại liên, còn một tốp đi cặp đường xe lửa từ Đồng Lớn vào Sa Nhỏ. Tôi hỏi:

- Ba Đức ở đâu?

- Dạ, ảnh bên tay mặt tôi. Còn anh Bảy ở phía trái. Tôi ở giữa.

Tôi yên trí vì ở hai đầu có hai cán bộ đại đội mà tôi tin cậy đang chỉ huy. Mỹ đã tới rất gần nhưng tôi bình tĩnh vỗ vai Năm Hỏi:

- Đợi cho nó tới gần chút nữa!

Năm Hỏi là B phó tôi mới đề bạt lên B trưởng. Hắn cũng gan như Ba Quyết (hy sinh ở Tân Quy), nhưng trầm tĩnh hơn Quyết và không chửi bới nạt nộ lính khi gặp mấy chú nằm lỳ không dám xung phong.

Từng đánh nhau với Mỹ bộn rồi, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhìn rõ hình thù chúng nó. Mẹ, to con thật. Đèo đẹt như lính mình thì phải bốn chú mới khiêng nổi một thằng ! Những bộ đồ vàng ghìm súng lom khom đi thẳng vào đại liên. RPD là loại súng mới Liên Xô nổ ác như đại liên. Xạ thủ run run tay nối dây đạn. Một tên Mỹ mang kính dâm ngóng cổ quay nhìn lại và bắt đầu ra hiệu cho bọn sau đi tới.

Năm Hỏi cất giọng run run:

- Bắn chưa anh Hai?

- Chưa. Chờ thằng mang kiếng đi qua khỏi bụi cây.

- Gần quá rồi anh!

- Gần vậy mình xông lên lấy súng rồi trở về chiến hào mới kịp.

Tuy miệng nói tỉnh, nhưng bụng tôi cũng run. Hai chiếc trực thăng võ trang bay sà trên ngọn cây, quạt lá cây lật ngược cả lên như bão tới. Tôi nom rõ mặt thằng phi công đỏ lòm. Năm Hỏi ôm khẩu AK, còn anh xạ thủ RPD thì đã xỏ ngón tay vào lòng cò, má miết sát vào thước ngắm. Năm Hỏi không nói nữa. Y nhìn tôi rồi hất hàm về phía trước, ý bảo: "Nó tới gần rồi, bắn nghe anh?"

Tôi xua tay: Chưa!

Bỗng thằng Mỹ mang kiếng la lên. Không rõ nó nói gì. Tôi quát:

- Bắn!

Khẩu RPD nổ dòn. Ở hai đầu chiến hào súng cũng nổ vang.

- Xung phong!

Tiếng thét dậy lên. Trước mặt không còn bóng tên Mỹ nào, chỉ thấy khói và rần rật lính mình. Tiếng nổ liên tục, rinh tai.

Tôi quát:

- Đừng bắn bậy. Lấy súng mau trở lại chiến hào!

Năm Hỏi tay cặp AK, tay lột súng Mỹ. Tôi tháo được một Colt 12 và lột được hai khẩu M16. Năm Hỏi quơ được hai M79. Nghe tiếng trực thăng trở lại, tôi quát:

- Trở lại hầm! Bắn nó!

Tôi không xuống hầm kịp. Chỉ cách có hơn chục thước nhưng máy bay đã ria trên đầu. Tôi phải nằm bẹp bên xác một thằng Mỹ thật to bị bắn bể đầu. Ba Đức nhào tới, hét:

- Thầy Hai xuống mau. Nó còn xạ vòng ngoài.

Tôi vọt một phát xuống hầm và ngó lên trời. Mẹ , thằng phi công ở ngay trên đầu, sức với tay đụng. Tôi quát:

- Đại liên đâu không lia?

Tành tành... tành. Chiếc máy bay đảo nghiêng rồi vọt thẳng, khói bốc mịt mù như cái đuôi xoăn tít.

- Bắn vét đuôi nó! -Ba Dục quát tiếp.

Chiếc trực thăng này sau đó rớt ở rìa ấp Sa Nhỏ gần Bờ Sa. Còn một chiếc (bao giờ chúng cũng đi cặp) nhưng không chịu chạy thẳng, nó quay lại rà sát mặt đồng, ý chừng muốn cứu phi công.

Nhưng bị đại liên nổ rát quá mới bay thẳng. Chập sau, máy bay "trái chuối" (chinook) có hai cánh quạt tới ném lựu đạn cay xuống hầm chúng tôi. Chúng tôi phải rời hầm và di động vào vườn. Nhưng trong vườn cũng bắt đầu ăn bom và pháo.

Một đám Mỹ sống sót chạy dạt ra giữa Đồng Lớn mong trực thăng xúc lên an toàn, nhưng Năm Bụng, C phó cho súng bắn đuổi và cho một tốp xung phong bắt sống.

Chúng nằm xuống, dùng bờ ranh làm công sự đánh trả .

Thế trận lộn ẩu không có ranh giới giữa hai bên nên pháo và máy bay ngưng dập. Lợi dụng khoảng khắc đó, tôi cho đơn vị rút. Tới chiều tối xác lính Mỹ vẫn nằm phơi ngoài đồng, chúng không dám xuống lấy vì sợ chúng tôi trong vườn bắn ra. Chẳng ngờ chúng tôi đã về tới Phú Hòa lau súng nghỉ ngơi.

Sáng hôm sau xe tăng ở Đồng Dù mới lọ mọ ra lấy xác. Trận này cũng không biết Mỹ chết bao nhiêu. Nhưng đây là trận tiểu đoàn chúng tôi thiệt hại nhẹ nhất. Nghĩa trang Ngã Ba Sòng chỉ đào thêm có mười hai huyệt và hai mươi mốt lính lẫn cán bộ A, B, C vô nằm chật quân y Tư Chuyền.

Riêng du kích thì lên tinh thần vì họ lấy được nhiều súng, cởi được nhiều đồng hồ, lột được nhiều quần áo, nói chung, trúng "mùa hôi" nhất từ trước tới nay. Các anh chàng du kích lâu nay đói khát nay quơ được vô số đồ hộp, tha hồ làm tiệc rí rớ ăn mừng chiến thắng. Nào thịt heo, thịt bò, bơ sữa, cà phê, nước ngọt khui ra ăn uống và tán tỉnh nhau cả mấy ngày trời vẫn chưa hết tếu.

Chính trong trận đó chúng tôi mới nhìn thấy những đồng đô-la xanh móc được trong túi áo lính Mỹ . Ngoài ra còn có năm, sáu cái bóp và giấy tờ nhà binh Mỹ, chúng tôi đem nộp cả cho ông Tám Quang.

Riêng nữ du kích Ba Xưa thì chôm được một cây Colt 12. Cô ta giấu biệt cả tháng trời mới xì ra. Có lẽ cô không biết sử dụng và sợ hãi không dám giữ làm của. Nếu gặp ai khác như Tư Bé, Bảy Mô, Út Nhỏ, Út Là thì ém luôn rồi.

Út Chạy, bí thư xã Trung Lập, chơi ngon, xúc mười giạ lúa đem tới nhà cô Ba Xưa năn nỉ đổi lấy. Đi đâu anh ta cũng mang kè kè.

Chúng tôi cứ để anh ta mang cho oai, không thu làm gì mất cảm tình, sau này còn nhiều dịp nhờ bàn tay anh ta bắt dân công phục vụ chiến trường cho tiểu đoàn tôi.

Thu lượm xác chết đồng bọn tụi Đồng Dù mới cho bom pháo san bằng vườn tược ở Cỏ Ống và Sa Nhỏ. Chúng bắn không nhiều, cả một ngàn đạn 105 và 155 ly thôi. Sau ba trận liên tiếp ở Gò Nổi, Cỏ Ống và Sa Nhỏ, "Anh Cả Đỏ" và "Tia Chớp Nhiệt Đới" bắt đầu theo riết chúng tôi. Chỉ vài hôm sau, trong lúc chúng tôi đang dưỡng quân ở ấp Ràng thì xe tăng được trực thăng dẫn đường bọc sau lưng ấp Ràng vây kín một khu rừng nhỏ (nơi cô Quắn đã đưa tôi tới "họp xã ủy" tay đôi với cô trong một cái chòi hoang giữa đêm khuya).

Anh chàng xạ thủ B40 Tô Văn Đực đã hạ liên tiếp ba chiếc xe tăng tại bờ rào trường học của cô giáo Chín Hòa, em gái Bảy Lập ở VC quận. Một chiếc trực thăng rụi nằm mẹp tại chỗ, hai chiếc được trực thăng móc đem về.

Tôi cho đơn vị rút nhanh.

Tôi vỗ vai thằng Đực bảo:

- Kỳ này tôi cho cậu đi R dự đại hội anh hùng.

Tội nghiệp thằng bé, mới 21 tuổi, tôi cũng không hỏi lai lịch nó quê quán ở đâu, cha mẹ là ai, có hứa hôn với cô nào chưa? Tánh nó lầm lì ít nói, ăn khỏe và ngủ mê man, có đập mới dậy, không đập là ngủ lu bù. Lính là vậy: đi xóm ghẹo gái và ngủ là hai công tác chính.

Thấy nó không nhanh nhẹn, tôi định cho nó sang tổ đại liên làm nhiệm vụ tiếp đạn (chớ không làm xạ thủ), chẳng ngờ anh chàng rất gan dạ. Thế mới biết thời thế tạo anh hùng. Nếu không đụng xe tăng thì Tô Văn Đực sẽ nằm trong danh sách những chiến sĩ vô danh.

Tôi vác bớt đạn cho nó, hai thầy trò cùng chạy. Trực thăng tới bắn như mưa bấc. Chỉ chạy liều mạng thôi chớ không chắc thoát, nhưng nếu nằm lại thì thế nào cũng ôm một trái cà nông. Tụi Mỹ khi đã bắn thì không có cái mục "tiếc" và tiết kiệm đạn. Hơn nữa, đây là vùng "oanh kích tự do" đã ghi trong bản đồ hành quân của Anh Cả Đỏ và Tia Chớp Nhiệt Đới.

Nghĩ cũng lạ, cặp chân của mình, bình thường thì nó lặc lìa, sau mỗi trận đánh nó như không còn tuân lệnh chỉ huy nữa, nhưng khi chạy đua với trực thăng thì nó tự động, trực thăng ria hung bao nhiêu thì nó bật nhanh bấy nhiêu.

Hai thầy trò chạy một chập thì lạc đơn vị, không biết đường nào mà mò nữa. May gặp Sáu Khoắn, xã đội trưởng. Anh ta nghe bộ đội đụng trận thì núp xa xa để chờ cơ hội nhào ra "hôi" súng và quần áo Mỹ. Lần này không được cây nào mà chạy suýt chết. Thầy trò tôi bèn đeo dính y. Y chạy cũng có hạng nên cố theo kịp y là thắng trực thăng. Nhưng lần này đành chịu thua. Y vừa thở dứt vừa bảo:

- Không được, anh... Hai... ơi! Phải kiếm hầm chui.

May quá, bên đường có một cái hầm cũ từ đời cố lỷ cố lai nào. Thế mà ba cây thịt cứ phóng đại xuống cho đỡ khổ. Đạn ghim xuống đất cắm vào thân cây nghe lạnh mình.

Sáu Khoắn nhanh chân lủi xuống trước, tôi đẩy thằng Đực vào rồi không còn chỗ chui. Tôi cứ đứng chong ngóc bên miệng hầm. Chỉ huy, làm lớn phải làm láo, chớ lủi trước lính coi ra gì? Nếu đứng trơ trơ như thế này, pháo dập e bất tiện, nhưng cũng may, Sáu Khoắn trồi lên kêu om:

- Không được! Kiến bù nhọt cắn chịu không nổi.

Tôi quát:

- Hầm đâu mà chạy?

Sáu Khoắn tông thằng Đực ra và trồi lên, mặt như quỷ sứ:

- Kệ mẹ cứ chạy. Ôg giỏi thì xuống đây.

Bất chấp sự hoang mang của tôi, Sáu đâm đầu chạy, vừa chạy vừa phủi đầu, cổ. Cả ba lại chạy, phen này không gặp hầm nên nhảy xuống mương cau. Cứ quay ngó theo trực thăng, liệu bề mà né. Đạn bay ren rét ghim chịt chịt chung quanh.

Cũng nhờ Trời Phật phò hộ nên trận đó không bị thương. Hôm sau tôi đang ngất ngưởng vừa nhậu đế vừa tán dóc với Tư Nhựt trong quán thì Sáu Khoắn lù lù xuất hiện:

- Anh Hai ơi! ! Anh Hai !

- Cái gì vậy?

- Tôi vừa đi trở lại mặt trận tìm coi tụi du kích có bỏ sót "cun" (colt) không.

- Có sót không?

Sáu Khoắn lôi tay tôi tới chỗ hầm hôm qua. Tôi rùng mình. Cái hầm bay mất. Một lỗ sâu và to bằng nửa chiếc đệm. Một trái 155 rơi vào đó. Sáu Khoắn đưa tôi bó nhang, rồi đốt lên, bảo:

- Anh Hai vái thánh thần đã đỡ trái cà nông cho mình đi!

Tôi cười:

- Thần kiến lửa hay kiến bù nhọt?

Sáu Khoắn ngoẹo đầu:

- Không có ổ kiến thì ba thầy trò mình bay không còn miếng thịt.

- Từ rày trước khi nhậu, mình phải cúng ông thần Kiến một ly rồi mới uống nghe anh Hai.

Sau trận Ràng, xe tăng Mỹ hết dám nghênh ngang. Trước kia chúng muốn cắt vào chỗ vườn nào tùy ý, như vào chỗ không người. Mỗi lần chúng đi qua là cây vườn ngã liệt địa, chủ vườn thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng bây giờ không thế nữa. Chúng ở ngoài đồng trống, muốn vào vườn phải dọn đường rất lâu. Như vậy có đủ thì giờ cho bộ đội, cơ quan di chuyển, du kích bố trí địa lôi hay chạy trốn. Cho nên mỗi khi vào vườn chúng đều thiệt hại.

Dần dần chúng cũng "rút kinh nghiệm" khá chính xác. Chúng thả biệt kích sục sạo trước hoặc cho một vài chiếc tăng đi trước để nhử du kích, nhưng ít khi an toàn. Sau cùng chúng thay đổi chiến thuật. Chúng chạy ngoài ruộng để tránh B40. Loại này chỉ bắn xa 100 mét, sau đó chúng tôi được trang bị B41 bắn xa 500 mét. B40 bắn đạn ra đụng gì cũng nổ, còn B41 bắn xuyên cả bùng nhùng lưới chì gai vẫn không nổ, đến khi húc vào vách tường hoặc xe tăng mới nổ.

Đến phiên chúng tôi đổi chiến thuật. Mỹ ít vô vườn thì chúng tôi đào công sự giữa ruộng, phủ rơm lên. Đợi chúng đến gần mới bắn. Bắn xong vọt lên chạy. Nhưng chạy sao thoát được lưới lửa của xe tăng? Chúng tôi phải bố trí trung liên, đại liên phục sẵn trong vườn để bịt miệng súng của xe tăng cho bồ nhà vác B40 tháo chạy. Nếu không, mỗi lần hạ xe tăng là mỗi lần bỏ mạng thì ai còn ham làm "anh hùng diệt tăng" để lãnh huân chương? (mà bụng đói meo như anh hùng Năm Cội).

Ngoài B40 ra, chúng tôi có một thứ bửu bối khác. Đó là mìn địa lôi, cũng còn gọi là mìn 8 kí lô hoặc 10 kí lô của Trung Quốc. Mìn kết hợp với B40 thì đánh tăng mới thắng to. Nhưng mìn rất tai hại. Nhiều khi chính quân ta lại giết quân mình bằng mìn còn gọn hơn bom pháo Mỹ. Số là chiến sĩ ta mang vác hành quân nặng nề nên đem chôn tạm đâu đó, tự hứa sẽ có ngày móc lên xài, nhưng rồi quên luôn.

Các bạn thử nghĩ con nít 15, 16 tuổi ở nhà bị pháo bắn, ruộng nương không làm được, lêu têu chết cũng uổng mạng nên gia nhập du kích hoặc bộ đội. Đâu có đứa nào lớn con, chỉ độ 35, 40 kí lô là nặng nhất, lại ăn khoai mì, cơm gạo thiếu thốn, đã lê cái thân còn không nổi lại còn vác trên 10 kí lô nên chôn nhẹ gánh là điều không đáng trách.

Cái việc này tôi đã từng chứng kiến ở trên Trường Sơn. Lính cụ Hồ ốm tong như nhái bén, chân như cái cọc màn mà lại vác đạn pháo, đế cối, nòng pháo nặng cả 50, 60 kí lô. Cho nên họ ném bỏ dọc đường cỏ mọc phủ lên, không ai ngó ngàng tới. Việc bồi dưỡng quân lính, Trung ương không hề nghĩ tới . Họ chỉ tìm cách khai thác đến giọt máu cuối cùng của lính mà thôi.

Tôi cũng chết hụt một lần vì trái mìn của fu kích "bỏ quên". Hồi ấy đầu năm 70, khi đánh Mậu Thân xong, tàn quân năm cha ba mẹ khắp Quân Khu tập họp lại thành một trung đoàn gọi là trung đoàn Quyết Thắng do ông Năm đốc chiến, tức là Năm Tiều, làm E trưởng. Tôi làm E phó kiêm tham mưu trưởng và Mười Việt làm D trưởng D1. Chúng tôi đi về Quân Khu xin thêm vũ khí và lính bổ sung. Đi lên tới khu vực Bời Lời thì gặp một chiếc xe bò chở gạo. Người đánh xe bò thuộc lính cũ của Năm Tiều, gặp lại thủ trưởng mừng quá, hai bên ôm nhau hít hà rồi trao đổi văn hóa thuốc rê với nhau, vừa đi bên xe bò vừa tâm sự.

Tôi bất ngờ đạp miếng bom đứt chân nên ngồi xuống tự rịt lấy. Hai người đi một khúc chưa đầy 50 mét thì nghe một tiếng "ầm" rung đất. Tôi nhìn lên thấy đất đá bùng lên như núi lửa phun. Thôi bỏ mẹ rồi. Tôi dư biết đó là "ông địa". Quả y như rằng, người và con bò cùng với chiếc xe đầy gạo mất hết. Sức tung của nó có thể làm lật gọng một chiếc xe tăng Mỹ thì bấy nhiêu đó thấm thía gì! Tội nghiệp bác Năm bầy trẻ bỏ lại hai bà vợ, còn Mười Việt vĩnh biệt cô vợ mới cưới chưa đầy ba tháng.

Nếu tôi có điều kiện thì tôi cũng lập miếu thờ "ông địa" như thằng Rắc thờ "ông địa" (trái địa lôi của du kích đã gầm hụt) ở trước cửa bót nó vậy.

Đánh Mỹ như trò chơi nguy hiểm, thấy cái chết như đồng xu lật sấp lật ngửa, chỗ nào cũng là mặt trận, giờ nào cũng đánh được, không kén nơi không chọn giờ gì ráo.

Đang hành quân bị trực thăng đuổi thế là chong đại liên bắn. Chúng đổ quân bao vây. Thế là thành trận đánh. Cán bộ tiểu đoàn gặp nhau hút thuốc uống rượu một hồi nóng máu rủ nhau đi tìm Mỹ đánh. Một lần tôi phát hiện được chỗ Mỹ đóng quân ở Bàu Đứng, tôi rủ Bảy Nô xách cối tới pháo kích. Chẳng ngờ tụi Mỹ có kiếng hồng ngoại hồng nội gì đó (hồng ngoại tuyến) phát hiện được, chúng cho xe tăng xả cà nông 40 ly, cả hai ban chỉ huy tiểu đoàn chạy tuột quần. về đến căn cứ, Bảy Nô văng tục om sòm và "thề" không chơi với Hai Lôi nữa. Nói vậy chớ đêm sau lại rủ nhau đi, bắn được sáu trái cối rồi rút về an toàn, sáng dậy nhìn mặt nhau cười. Tôi hỏi Bảy Nô:

- Trông kìa, Mỹ đã cho trực thăng lấy xác mấy chuyến rồi?

- Củ cặc, tụi bay còn trẻ giỏi giò chạy mau, tao chạy không kịp, rủi có bề gì bỏ chị Bảy lại cho ai?

(Bảy Nô là một người vui tánh xuề xòa, đánh giặc như đùa. Tuy lo mà cũng không khỏi. Sau này anh được phân công về Rừng Sát thành lập Quân Khu mới do Tám Quang làm chánh ủy. Qua sông Lòng Tào bị giang thuyền bắn chết cả hai thầy trò).

Căn cứ của chúng tôi ở Rừng Làng, Lộc Thuận, Rừng Tre v.v... mới cũ gì Mỹ cũng đều phát hiện được, chúng cho bộ binh có xe tăng và máy bay yểm trợ tấn công vào. Ở Lộc Thuận, Cl tử chiến với chúng. Ở Rừng Tre đụng C3, chúng bắt sống được vài cậu lính trẻ. Ở gần trại Bà Huệ, chúng bắt được cả thượng úy Tám Nghi, bạn tôi (tay xạ thủ hữu hạng trong cuộc thi xạ kích ở Đông Âu), chánh văn phòng của Năm Lê. Ở Sở Đất Thịt gần Bàu Đứng chúng đụng tiểu đoàn 7 của Bảy Nô, ở Cầu Xe đụng D9 của Q16 Bắc Việt do Hai Đồng chỉ huy. Trận này năm ăn năm thua, sau đó Hai Đồng lên Sóc Lào lại đụng Anh Cả Đỏ. Hai Khởi bị thương, Hai Đồng bị bắt sống trong trận này, bỏ vợ là cô Tám Mang mới có bầu. Cô dông ra Củ Chi lập nhà bảo sanh, rồi sau đó không rõ tông tích. Một trận khác ở Bàu Trâu, tôi dắt đơn vỉ tập kích một cụm quân "Tia Chớp Nhiệt Đới". Tôi cho pháo dập rồi xung phong. Chúng không chống cự, kêu trực thăng tới bốc rồi cho pháo trả đũa. Hai Phái mất tinh thần không chạy được, tôi phải kéo xểnh như thây ma. Về đến nhà y bịnh luôn, xin về cơ quan làm chính trị, không ra trận nữa. Ở trên đưa một ông gốc khu 5 tên là Sáu Đoàn Tâm, cán bộ cũ của sư đoàn 305 Bắc Việt xuống thay. Chỉ một thời gian ông này cũng chết.

Tình hình chiến trường càng ngày càng trở nên ác liệt. Hầu như ba bữa một trận nhỏ, bảy bữa một trận lớn. "Người không rời súng, ngựa chẳng rời quân", chúng tôi phải di động tránh né luôn ở khắp Củ Chi, sang cả bên Trảng Bàng ăn nhờ ở đậu. Ở đây tôi gặp Ba Tới, quen hồi chín năm. Ông ta mới về làm tỉnh đội trưởng Tây Ninh thay cho ông vua con Nguyễn Việt Hồng bị Sáu Di cách chức. Tôi rủ Ba Tới cho kết nghĩa tiểu đoàn 14 Tây Ninh và tiểu đoàn Quyết Thắng của tôi.

Ban chỉ huy D14 là Năm Sơn, Ba Nhị và Chín Hung (cháu ông Mười Huệ ở Bến Tre) rất chịu chơi. Chúng tôi bèn rủ nhau phục kích đánh một đoàn xe tăng Mỹ kẻo từ Suối Sâu lên Trảng Dầu. Sáng chúng kéo lên, chiều rút về Đồng Dù. Hai bên phối hợp nghiên cứu chiến trường, đồng ý bố trí hỏa lực xong, vào giờ chót D14 nghỉ chơi, rút lui.

Tôi và Tư Nhựt vẫn đánh, bắn cháy hai chiếc xe tăng tại Suối Sâu. Phản lực, Dakota, trực thăng tới làm mưa làm gió.

Chúng tôi rút về Cầu Xe. Phản lực tới ném bom ngay giữa đội hình của C2 làm chết một tiểu đội, sáu chiến sĩ bị thương vì bom Mỹ và đạn B40 nổ trong hầm. Tưởng thắng hóa ra không thắng.

Chúng tôi chôn cất thương vong liền tay, riết rồi cũng không còn sức, mà cũng không có thì giờ tẩm liệm, gói ghém và đào huyệt. Cứ dồn xuống công sự, tay lấp đất, miệng lẩm bẩm: "Thôi nằm đỡ đó chịu lạnh nghe tụi bay, tàn cuộc chiến tụi tao sẽ trở lại xây mồ mả và lập miếu thờ!" Rồi dông ngay trong lằn đạn của phi pháo. Nếu quyến luyến ở lại đó thì sẽ chết chùm. Chiến tranh lôi cuốn mãi, con đường đã đi qua có bao giờ trở lại, còn nói chi mồ mả , miếu đền?

Nay ngồi viết những dòng này, hiện lên trong trí tôi những xóm làng, vườn tược ở khắp Củ Chi, nơi đó chúng tôi đã để lại những mô đất lè tè, những chiến hào toang hoác, nơi yên nghỉ nghìn thu những bạn bè thân thiết của chúng tôi xưa đã từng đi suốt ba miền trong cuộc kháng chiến chống Pháp, và cùng nhau vượt Trường Sơn, về đây nằm nghỉ tại quê nhà... một cách vô lối.

Là người cầm súng, bất cứ ở trên trận tuyến nào và chiến đấu vì mục đích gì, cũng phải là người dũng cảm. Chắc bạn đọc tưởng chúng tôi là những gan lì tướng quân nên mới đánh với Mỹ như vậy nổi. Sự thực cũng có tí gan lỳý đó, nhưng có lúc người ta lại bắt buộc phải gan lỳ để tìm cái sống. Hồi chín năm Hoàng Thọ là tay nổi tiếng nướng quân. Y bố trí trận địa chỉ chừa một cửa sống. Thí dụ sau lưng là sông, trước mặt là cơ giới địch đang di chuyển trên đường. Muốn sống phải diệt địch vượt qua lộ về khu giải phóng chớ không thể lùi lại phía sau.

Chúng tôi ngày nay cũng bị Hà Nội lãnh đạo chỉ huy theo lối đó. Họ ném chúng tôi vào Trường Sơn với một lon muối và vài kí lô gạo để hành quân trên con đường không có dấu chân người dài hàng ngàn cây số. Phải tìm cách để sống nếu không muốn chết. Dù có trăm phương ngàn cách lính Trường Sơn cũng chết như rạ .

Về đến miền Nam, họ quăng chúng tôi vào những chiến trường cũng với phương châm đó: tự tạo điều kiện đánh giặc để sống còn. Nếu lười nhát sẽ bị giặc tiêu hủy. Giặc đây là Mỹ, một quân đội trang bị tối tân nhất thế giới, còn chúng tôi trang bị lạc hậu cũng nhất thế giới: súng ngựa trời và các loại súng mút thời Nga Hoàng mà cũng không có đủ nói chi súng máy.

Đứng trước một tình thế sống chết như trở bàng bàn tay, chúng tôi phải tìm cách sinh tồn. Đánh cũng chết mà chạy cũng chết. Người cầm súng có bao giờ chọn lấy con đường nhục nhã là chạy trốn địch? Cho nên sự gan lỳ của chúng tôi là một sự gan lỳ bắt buộc như anh lính Hồng Quân Liên Xô trong phim Bài ca người lính chiếu ở Hà Nội mà tôi đã xem. Đơn vị anh ta bị lính Hitler tiêu diệt sạch, chỉ còn một mình anh ta chạy trốn. Xe tăng đuổi theo. Anh ta quay lại thấy họng súng của nó to lớn vô cùng và đã sát sau lưng, nếu tiếp tục chạy thì họng súng kia sẽ nhả đạn. Anh ta bèn quay lại rút thủ pháo ném. Quả pháo rơi vào lòng xe tăng diệt cả bon địch... Và anh ta đã trở thành anh hùng một cách bất ngờ. Trong lúc ném quả thủ pháo anh ta không nghĩ gì cả, như một cái máy bật một cách tự nhiên.

Chúng tôi đánh Mỹ ở Củ Chi cũng gần như trong trạng thái tinh thần đó chứ không nghĩ rằng Củ Chi đất thép đất bùn gì cả. Đánh để tìm đường sống hơn là lủi trốn để rồi chết. Cho nên ai khen chúng tôi gan dạ, anh dũng là lầm.

Hồi khoảng 1949-50 gì đó, Đồng Tháp Mười bị một trận tổng ruồng kinh hồn. Trận này do trung tướng Pháp Bondis chỉ huy. Lúc đó tôi còn là một cậu bé mười bảy tuổi. Một biển cả mênh mông mà chỉ có vài chục chiếc xe lội nước (tank amphibie) và chưa đến chục máy bay, còn dưới sông thì có độ chục tàu há mồm (chaland de débarquement). Riêng bộ binh thì có chừng vài trung đoàn. Như vậy chẳng khác nào muối bỏ biển. Thế mà Bộ Tư Lệnh chiến khu VIII của Trần Văn Trà chạy tướt bơ, không dám quay mặt lại. Đại đội phòng không chỉ bắn rơi có một chiếc máy bay Skyraider ở Dốc Binh Kiều mà đã được nhạc sĩ Hoàng Việt cho vào bài ca bất hủ.

Có lẽ đó là trận ruồng lớn nhất của quân Pháp ở Nam Bộ. Vài trận đụng độ lẻ tẻ với Vệ Quốc Đoàn đã xảy ra. Số thương vong của hai bên chưa tới con số 10. Riêng ở miền Tây, Pháp dùng hai cây cà nông 105 và 90 ly trên đường Tầm Vu và Sóc Xoài đã bị Vệ Quốc Đoàn đánh lấy, kéo về chiến khu bằng hai con trâu mà Pháp không đuổi theo kịp.

Tôi nhắc lại vài ba sự kiện trước kia của các bậc đàn anh, không phải để đánh giá họ mà là để thấy thằng Tây so với thằng Mỹ ngày nay không bằng một phần mười.

Nếu Pháp dùng một trái bom thì Mỹ dùng đến một ngàn trái.

Nếu Pháp bắn một viên đạn thì Mỹ bắn đến một trăm ngàn viên.

Nếu Pháp dùng một phi cơ thì Mỹ dùng đến một, hai trăm phi cơ chưa kể B52.

Nếu Pháp dùng một xe tăng thì Mỹ dùng năm trăm xe tăng

Nếu một chục cây số vuông thời chín năm bị một phần mười quả bom 50 kí lô thì mỗi cây số vuông ở Củ Chi lãnh mười quả bom 100 kí lô và một quả bom đìa.

Nếu mỗi trận đánh cấp đại đội thời chống Pháp có một đến năm chiến sĩ hy sinh thì ở Củ Chi một trận đánh thường bổ đồng có mười chiến sĩ thương vong.

Trong kháng chiến chín năm, ba Bộ Tư Lệnh chiến khu VII VIII IX đều còn nguyên vẹn.

Trong kháng chiến chống Mỹ, ba Bộ Tư Lệnh đều bị tiêu diệt hoàn toàn. Nguyễn Văn Bảo, chánh ủy sư đoàn 330, anh ruột của Nguyễn Hộ, được đưa về làm chánh ủy Quân Khu IV chết năm 1965 ở Củ Chi trong trận bom B52 đầu tiên dội xuống An Nhơn.

Nguyên soái đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh chết ở Long Nguyên cuối năm 67, còn Nguyễn Bình chết năm 49 là bị đồng đội phản thùng. Lê Quốc Sản, tư lệnh Quân Khu II, Nguyễn Hoài Pho, tư lệnh Quân Khu III đều chết vì bom đạn Mỹ.

Chúng tôi không phải là những nhà thống kê chuyên môn, chỉ xin nêu tên vài con số ước đoán với tư cách của những kẻ đã sống và cầm súng trong suốt hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Và sở dĩ chúng tôi cho những trận đánh kể trên là "bảy món ăn chơi" là vì trận tổng nướng quân Mậu Thân mới là món ăn thiệt mà chúng tôi sẽ kể ở những chương sau đây.

Xin trở lại tặng độc giả một "món ăn chơi" ở Cây Trắc.Trận đó D Quyết Thắng của tôi đụng với cụm quân Mỹ ở đường Một Làng xã Phú Hòa Đông. Ở đây có một cây trắc thiệt to nên có địa danh là Cây Trắc. Mỹ mở cuộc càn với 30 ngàn quân có B52 dọn bãi, gồm sư đoàn "Tia Chớp Nhiệt Đới" ở Đồng Dù và trung đoàn 11 kỵ binh thiết giáp. Mục đích chính là đánh vào khu vực Tam Giác Sắt Bến Cát và các xã ven sông Sài Gòn từ Nhuận Đức đến Hố Bò



.

Chúng tôi được lệnh Quân Khu phải cấp tốc hành quân bôn tập cụm quân Mỹ tại Cây Trắc. Năm Dầy C trưởng C4 của tôi cũng vừa bị tử thương vì pháo bắn sập hầm cùng với năm cán bộ và chiến sĩ. ớ trên bổ sung cho một C trưởng là Chín Tống, người Bến Tre tập kết. Chín Tống chuyên sử dụng súng cối, trình độ khá hơn Năm Dầy. Nhưng về kinh nghiệm chiến đấu, y chỉ là một tân binh. Trời mưa nên y dắt đại đội đi lạc đường suýt làm trễ giờ tấn công, nhưng nhờ có y bắn hai trăm quả cối trúng đích mà ba đại đội xông vào trận địa Mỹ dùng B40, thủ pháo, AK mà đánh với xe tăng và bộ binh Mỹ. Cánh Cl bị phát hiện và bị mìn clay-mo nổ bay gọn một trung đội. C2 và C3 đánh thủng một tuyến xe tăng nhưng không xung phong vào sâu được nữa, phải nằm cầm cự và bắt được bốn thông dịch viên.

Chỉ huy sở của D đặt trong một cái quán có hầm vững chắc do Ba Trắng, xã đội phó Phú Hòa Đông dẫn tới. Xong ông ta chuồn mất làm chúng tôi rất khó khăn trong việc định hướng. Xung phong không được mà chưa biết rút lui cách nào.

Trong hầm có ba người, Tư Nhựt, Đoàn Tâm và tôi. Đoàn Tâm vừa xuống thay cho Hai Phái mất tinh thần về làm chính trị ở quận đội. Đoàn Tâm hằng ngày hay giựt le về lập trường, đây là lần đầu hắn đụng trận với Mỹ trên đất Củ Chi, lại rơi vào tình thế nguy ngập nên cứ thở dài hỏi:

- Như vậy thì mần răng?

Tư Nhựt phát cáu, quát:

- Chết đến nơi, ở đó mà răng cỏ gì!

Trong lúc đó Cl, C2 báo cáo chiến sĩ bị thương nằm la liệt. Tôi cũng chưa tính ra cách giải quyết. Ba Thắng đã chuồn, dân công cũng lén trốn hết mà thương binh thì đông. Tôi biết nếu ở đây càng lâu sẽ có nguy cơ bị xe tăng càn hoặc pháo giã thì không đường rút lui, nên bảo Tư Nhựt:

- Để tôi lên C2 xem tình thế rồi cho mở đường máu.

Tư Nhựt đồng ý. Tôi vọt ra hầm. Nãy giờ ngồi trong hầm tối om, mới ra khỏi hầm mắt chói lòa như mặt trời mọc, tôi tưởng sáng rồi. Nhưng không phải. Đó là hỏa châu của Dakota, chúng quần khắp trận địa bắn pháo sáng như đèn điện giăng trên trời.

Mấy cậu trinh sát ngồi tựa lưng vào vách hầm chờ lệnh. Thằng Thuận hỏi:

- Anh Hai chạy đi đâu. Thương binh nằm đặc trước sân kia cà !

Tôi mọp trong lằn đạn, cố ra sân. Kẻ rên, người la. Tôi choáng váng.

- Dân công đâu hết rồi?

- Họ ở bên cái nhà đó, nhưng không còn người nào.

Đúng ra còn được năm, sáu người. Tôi cho tải thương binh nặng đi trước, rồi bảo thằng Thuận dắt tôi chạy lên chỉ huy sở của C trưởng Ba Đức. Ba Đức kêu lên:

- Nguy quá anh Hai. Tôi cho một trung đội đánh thốc vô trung tâm. Không thấy trở ra đứa nào hết.

Tôi bảo gọi Út Sương. Út Sương thở phào trong máy:

- Nguy quá anh Hai!

Tôi quát:

- Mở đường mà ra !

Đang tiến thối lưỡng nan thì trinh sát báo cáo:

- Anh Hai, em nghe có tiếng xe tăng từ phía Bà Hộ . Coi chừng tụi Đồng Dù ra tiếp viện.

Một trái pháo nổ rầm gần đó. Miểng phang nghe lạnh mình. Tôi quát:

- Tất cả tự lực chạy hoặc nằm tại đây...

Bỗng một giọng quen chọc ngang:

- Một giò cũng rán chạy đua với xe tăng tụi bay ơi!

Đang cơn nguy biến mà ai lại cà rỡn? Đó là ông Chín Nữa, C phó C3, dượng của tôi chớ không ai lạ. Ông ta là người rất "hút" đạn. Trận lớn nhỏ gì cũng bị thương. Không nặng, vai, đùi, sém tai v.v... Thế nào cũng lãnh một ít về nằm quân y rồi ra đơn vị. Đánh trận, lại bị thương trở vào viện.

Tôi nghe dượng nói như gợi ý, bèn bảo:

- Cậu nào bị gãy giò thì được cáng, còn bị thương tay, mình, phải rán đi chầm chậm chớ không còn dân công. Nằm đây chờ sẽ không có ai khiêng. Xe tăng nó tới rồi kìa.

Mà thật, động cơ nghe rõ dần, đất rung khe khẽ. Biết mình ra lệnh như vậy là quá ư dã man đối với chiến sĩ, nhưng còn cách nào khác? Chần chờ chỉ có chết thôi. Đoàn quân sứt tay gãy gọng vừa rên vừa lê chân cất bước trong tiếng pháo, tiếng động cơ xe tăng và dưới lằn đạn.

Nhiều chiến sĩ bị thương nặng quá nằm lại và chúng tôi cũng đành bỏ họ ở lại chết ờ đó, sau này xã đội sẽ chôn giùm. Chiến trận càng ngày càng tồi tệ về phía chúng tôi. Đầu năm 62-63, chiến sĩ chết còn được truy điệu, có hòm bằng gỗ tạp chôn, có nấm mả, có mộ bia. Năm 64-65 không còn truy điệu nhưng còn nấm mả. Năm 66 chỉ còn cái lỗ tun hút, cuộn ny-lông rồi dập, may có nấm, rủi khỏa bằng.

Bây giờ thì, chết không được chôn, cứ nằm đó cho rã thây để cho đất Củ Chi trở thành đất "thép". Cái mả mẹ mày thằng Hồ tặc. Thành đồng tổ quốc làm cái đéo gì! Dân Nam Kỳ chết đau chết đớn vì tham vọng bá chủ của chúng mày.

Tôi và Ba Đức chờ cho người thương binh sau cùng băng qua đường mới gọi Tư Nhựt:

- Allô !... Tôi đã giải quyết xong công tác hậu cần.

- Đồng chí lo cho họ đi, để mặt trận cho tôi tính.

Ầm ầm ầm! Một loạt pháo nổ gần. Khi dứt, tôi gọi Tư Nhựt. Không có tiếng đáp. Tôi biết là dây điện đã bị cắt đứt.

Ầm ầm ầm! Loạt nổ kéo dài hơn một hơi thở. Lần này không phải pháo mà là B52. Tôi la lên trong hốt hoảng:

- Ở đâu nằm đó. Đừng chạy bậy!

Trong khói mù mịt, tôi ngóc đầu lên. Pháo sáng còn hơn đèn điện thành phố Hà Nội.

Cây vườn ướt sương lấp lánh đẹp như tranh. Nhưng kìa xe tăng đã tới. Bom B52 nổ cách chúng nó chừng vài trăm thước. Tôi nhổm dậy, tay quờ đụng một vật âm ấm. Ai vậy?

- Anh Hai!

Tôi nhận ra Bảy Mô. Trời đất, tường gặp nhau ở dưới âm ty.

- Sao em ở đây?

- Em nghe tiếng anh quát thương binh thì chạy tới tìm anh. Em bị thương ở đùi. Tụi em tải đạn cối cho Chín Tống, rồi chia nhau đi với Cl và C3 tải thương. Ông Năm Tần C trưởng bị thương sọ não, Năm Bụng C phó bị thương ở hông, trung đội của Năm Trung chết gần hết vì mìn Clay-mo ở trước hàng rào, ông Tư Linh (không phải Tư Linh binh vận bạn tôi) bảo tụi em nhào lên lôi thây. Em lôi được hai cái, đến cái thứ ba thì bị thương.

- Không ai võng à?

- Có còn ai mà võng!

- Vịn anh đi.

- Đánh gì kỳ vậy anh?

- Trận này D anh bị nặng nhất.

Chúng tôi dìu nhau ra khỏi trận địa. Bom pháo thưa dần. Chúng tôi đi chậm lại.

Tôi la to:

- Hết B52 rồi các cậu! Rán về tới Cây Diệp thì mới khỏe.

Bảy Mô kêu:

- Chân anh sao vậy?

Tôi ngó xuống, ống quần bên trái ướt dầm. Tôi tưởng là bùn đất, không ngờ là máu. Mô xé khăn quấn cổ buộc cho tôi rồi hai đứa cùng đi.

- Sao anh đi đâu cũng gặp em hết vậy?

- Sao em đi đâu cũng gặp anh hết vậy?

Hai đứa cùng cười. Về đến Sở Đất Thịt là trạm quân y dã chiến Quân Khu của Tám Lê. Ông bác sĩ này móm xọm. Nhìn mặt ông ta không thấy cái miệng, chỉ thấy cái cằm nhô ra như bánh lái ghe. Lần này nó càng nhô ra vượt mức.

Ông ta lắc đầu:

- Nhiều quá làm sao cho xuể hả ông Lôi? Ông coi kìa, thương binh nằm trắng lớp trong rừng cao su mà chỉ có một mình tôi. Nếu tôi biết trước tình thế này tôi bắt Tư Chuyền và Năm Hồng theo tiếp tay. Trước nhất ông phải cho khiêng họ đi ra khỏi rừng này. Tôi nghi B52 sẽ rắc bom xuống đây nội sáng nay. Vì nó dư biết đường rút của mình.

- Tôi không còn tên lính nào trong tay. Cả dân công cũng không có. Ông cứ để họ nằm đó đi. Sáng mai tôi sẽ cho đơn vị tới giúp...

Bỗng có tiếng người vang lên:

- Rán bò lên tụi bay. Nhất là mấy thằng mới có mèo. Đừng nằm đây hứng B52 uổng thân lắm. Còn thằng nào muốn sang Mỹ nếm mùi đầm Mỹ thì chờ xe tăng, trực thăng tới xúc.

Tôi nhìn lại thì ra dượng Chín của tôi. Ổng bị thương, tay treo cần cổ. Tôi và Bảy Mô kết bè với dượng đi về tới Sa Nhỏ, tạt vô quán Ba Trắng nghỉ chân. Chỉ có bà vợ bán hàng, còn đức lang quân xã đội phó thì vắng mặt. Bà vợ đóng kịch:

- Ủa, còn ba sắp nhỏ đâu, không thấy về?

Chín Nữa thừa biết sự anh dũng của ông Ba, nên vọt miệng đáp:

- Kỳ này ông xã đội của chị sẽ lãnh huân chương anh hùng.

- Sao vậy anh Chín?

- Ổng ôm thủ pháo xông vô xe tăng Mỹ diệt luôn ba chiếc chớ sao!

- Úy trời đất, rồi ảnh có sao không?

- Xe tăng nó tung mà ảnh không trầy miếng da!

Chị chủ quán biết mình bị tháu cáy nên lẩn ra sau. Chắc Ba Trắng nằm trong buồng nghe rõ lời Chín Nữa nói.

Mỹ vẩn còn càn tới càn lui ở Hố Bò, An Phú nhưng ở đây, những chàng lính đi trận về đã bắt đầu mua rượu và tép mỡ làm tiệc. Yêu cuồng sống vội còn hơn thanh niên Sài Gòn. Họ nhấc chuyện chết hụt đêm qua và cười.

Một cậu nhắc lại câu nói bất hủ của Ba Tố hay Năm Dầy gì đó:

- Em ơi! Cho anh ngủ một đêm rồi sẽ có "bảng vàng danh dự"‘ treo trong nhà, (hoặc) muốn có bảng vàng danh dự treo trong nhà thì cho anh ngủ một đêm thôi.(Câu này đã trở thành câu đầu môi của chiến sĩ mỗi khi đùa).

Cơ quan của ông đốc chiến Năm Tiều cũng rề tới rề lui vùng này. Nghe tôi về, anh đến thăm. Anh lôi tôi ra ngoài

- Mẹ, còn tệ hơn Tân Quy nữa hả tụi mày?

Tôi lặng thinh, anh tiếp:

- Tao ở nhà nghe tiếng súng thì biết. Mỹ đông quá mà lại súng nhiều. Mình có một D, như thằn lần ôm cột đình, làm sao chuyển nổi.

Tôi lắc đầu:

- Cái khổ là không có dân công tải thương anh à.

- Thằng Châm nó nghe tụi bay thua trận này, nó sẽ khoái chí lắm. Nó bảo: "Sao không giỏi chạy xe Honda nghiên cứu như kỳ Suối Cụt nữa đi!"

Thấy Bảy Mô trong quán, anh tiếp:

- Mày đi đâu cũng đeo cái của nợ đó theo. Trận Tân Quy xui là tại vì con Kim Anh, trận này là con "dì Bảy" nó.

- Cô ấy là dũng sĩ chớ có phải đầu quăn sao anh?

Năm Tiều dắt tôi và Chín Nữa về căn cứ của anh. Từ sau cuộc kiểm thảo, anh không còn trách nhiệm chỉ huy nữa, anh được cho làm tham mưu phó Quân Khu(dưới trướng Năm Lê). Anh lập một cơ quan riêng gồm ba nhân viên toàn là cháu anh: thằng Nừng khỏe mạnh chuyên vác ba lô và đào hầm cho anh, thằng Cào có bộ giò cuốc thì làm liên lạc. Con Thanh gọi anh bằng bác ruột thì nấu cơm, pha cà phê. Đi đâu cũng kéo một dọc bốn trụ. Bà con gọi là "gánh hát Tiều".

Hôm sau Năm Tiều rỉ tai cho tôi biết, ở trên đưa về nhiều cán bộ miền Bắc, nhiều vũ khí tối tân của Liên Xô, Trung Quốc: Chuẩn bị giải phóng miền Nam trong vòng hai tuần lễ. Dễ như trở bàn tay.

Năm Tiều khoái chí làm tôi cũng mê man, nhưng nhớ lại trận Cây Trắc vừa rồi, sơ sơ thấy gần nửa đại đội thương vong. Còn phải mệt lắm mới tìm đủ số tân binh lấp lỗ trống.

Q16 lính dép râu (dân gọi là lính vịt xiêm) anh hùng Điện Biên của Năm Dũng và Ba Kiên thì cũng tiêu hao bộn rồi mà chưa đánh trận nào coi cho được, để lấy uy tín với đám em út miền Nam.

Dù sao thì cấp chỉ huy của chúng tôi cũng gồm những ông Hoàng Thọ đánh giặc liều mạng không cần khoa học. Lính phải tìm lấy sinh lộ. Nhưng Hoàng Thọ khác với những vị chỉ huy của chúng tôi bây giờ.

Ở chỗ Hoàng Thọ ra trận, xung phong trước lính chớ không ở sau lưng, trong hầm đốc xúi nướng quân.

Đang uống trà ngon miệng, bỗng Năm Tiều bảo:

- Thằng Nữa ở lại đây chơi, còn thằng Lôi thì về bên quán đi. Con dũng sĩ nó đang đợi mày, nhưng nhớ đừng có gầy trận nghe. Vết thương làm độc, vô quân y, mẩy em nhỏ ở trong nó đang ghen, nó cưa chân mày đó.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 102057
Has thanked: 35654 times
Have thanks: 49460 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 4th, 2018, 2:13 pm
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: 2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Quyển 1-7)

Postby DaMinhChau » June 25th, 2018, 11:14 pm


Chương 79

Những "bàn cờ thế" trên đất Củ Chi



Sau một thời gian đánh liên tục của tiểu đoàn Quyết Thắng, Quân Khu cho Tám Quang xuống làm một cuộc tổng kiểm thảo những trận đánh điển hình thắng và thua: Suối Cụt Tân Quy, Cây Keo (đồn Thầy Mười). Năm Lê, tham mưu trướng Quân Khu, đáng lẽ phải có mặt nhưng vì "đau xương sống" nên không đến dự. Đúng ra, ông ta ngại ra khỏi hầm.

Ít nhất trong vòng hai năm tôi đến làm việc với ông hai lần trong hầm này (nơi mà xã đội trưởng Ba Xây, ông Xây bị bắt trong cuộc càn Operation Crimp, nhưng Năm Lê vẫn không dời địa điểm). Và vì một lý do ngầm: Năm Lê không ưa cái mép của Tám Quang.

Cuộc kiểm thảo được tổ chức trong vườn chuối sau nhà cô Ba Lợi, có đủ mặt cán bộ tiểu đoàn và đại đội của tiểu đoàn và nhiều tai to mặt lớn của Quân Khu như Ba Hải, trưởng ban tác huấn khu; Ba Kỳ Nam, cấp chính ủy trung đoàn; Út Lịa, trung đoàn phó đang tại chức; Ba Châm, trung đoàn trưởng; Năm Tiều, trung đoàn trưởng cán bộ đốc chiến cố vấn của tiểu đoàn.

Mở đầu, Tám Quang, trưởng phòng chính trị, báo cáo tình hình thế giới, trong nước và Quân Khu. Ông cho biết lão Khơ xét lại đã bị hạ bệ, Kốt-xi-ghin lên, hoàn toàn ủng hộ chủ trương giải phóng của đảng. Cho nên đã có vũ khí mới viện trợ, chấm dứt thời kỳ tiếp trợ bằng những khẩu mút cơ tông "oảnh tầm sào" dựng cao hơn đầu lính ta.

Miền Nam có ba công trường 5, 7, 9, một sư đoàn pháo và một sư đoàn đặc công. Hai sư đoàn Mỹ "Anh Cả Đỏ" và "Tia Chớp Nhiệt Đới" đã có mặt đầy đủ tại Đồng Dù, Lai Khê và Dĩ An. Ngoài ra còn có một trung đoàn thiết kỵ và lữ đoàn Dù 179 tăng cường cho hai sư đoàn này khi có hành quân lớn. Sư đoàn 25 Sài Gòn đã rảnh tay để đánh phá vùng hậu cứ của Mặt Trận Giải Phóng. Cụ thể là hiện giờ nó được rải dài từ Hậu Nghĩa đến Tây Ninh để canh giữ trục quốc lộ I, trong lúc lữ đoàn Dù 173 Mỹ đang thiết lập căn cứ Trảng Lớn dưới chân núi Bà Đen ngay trước cửa ngõ căn cứ của R. Ở trên nhận định rằng sau cuộc hành quân ở vùng Tam Giác Sắt và tả ngạn sông Sài Gòn hồi đầu năm 1966, chúng sẽ mở cuộc tấn công lớn vào căn cứ R trong năm nay.

Do tình hình biến chuyển như vậy, Quân Khu xét thấy các đơn vị cần phải nhẹ gọn để luồn vào đô thị đánh các vùng an toàn của Ngụy. Bộ Tư Lệnh quyết định tạm thời giải tán trung đoàn. Tám Quang không nói ra nhưng ai cũng biết đó là trung đoàn của Ba Châm, một trung đoàn đánh đâu thua đó và chuyên môn bỏ xác lính tại trận. Bộ Tư Lệnh chỉ giữ lại trung đoàn Q16 của R tăng viện cho Quân Khu tức là trung đoàn (của hang Pắc Pó) anh hùng Điện Biên của Ba Kiên và Năm Dũng, và tiểu đoàn Quyết Thắng của Củ Chi, nay được Quân Khu nâng lên thành tiểu đoàn chủ lực cơ động của Quân Khu. Tiểu đoàn này sẽ được đưa vào sát nách Sài Gòn và Q16 sẽ thay thế nó ở địa bàn Củ Chi trong những ngày sắp tới.

Khi Tám Quang dứt lời, mọi người đều im lặng. Không một ai giơ tay lên. Ba Châm ngó xuống. Tư Nhựt và Hai Phái liếc sang tôi. Năm Tiều móc thuốc hút một cách ung dung. Không khí nặng nề bứt rứt vì ai cũng cảm thấy tình hình chẳng sáng sủa tí nào. Tôi nghĩ: tiểu đoàn Quyết Thắng còn quá ư xộc xệch, về mặt chiến thuật, kỹ thuật, quân số và trang bì làm sao luồn vào giữa lưới đồn bót mà đánh địch hữu hiệu? Sợi dây lưng của cô dân công đã giúp chúng tôi thoát nạn ở đồn Thầy Mười là một bằng chứng hùng hồn về sự xộc xệch đó. Một phương diện khác cũng không kém quan trọng, đó là nghệ thuật lẫn phương tiện chỉ huy. Trận tập kích Tân Quy thất bạ một phần lớn là do lỗi ở chỉ huy.

Thấy không ai có ý kiến gì, Tám Quang hỏi thẳng Hai Phái, đảng viên.

Hai Phái đáp xụi lơ:

- Dạ ở trên chỉ đâu chúng tôi đánh đó.

Còn Tư Nhựt gãi đầu gãi tai:

- Dạ, tinh thần chiến sĩ rất cao, ngặt vì vũ khí của ta không đáp ứng nổi cho chiến đấu.

Tám Quang ngắt lời:

- Chiến tranh do đảng lãnh đạo lấy con người làm yếu tố chính. Vũ khí cũng quan trọng nhưng tinh thần quyết định chớ không phải vũ khí. Nếu các đồng chí không có tinh thần quyết thắng thì đã không có sáng kiến dùng sợi dây quần của cô Tân cô... ô... -ông Tám Quang tằng hắng mấy cái liền, nuốt gặng rồi nói tiếp- Các đồng chí đã từng xem phim anh hùng Liên Xô Ma-tơ-rô-rốp, Đồng Tổn Thụy của Trung Quốc và Bế Văn Đàn, Phan Đình Giọt lấy thân mình lấp lỗ châu mai để giải quyết thắng lợi cuối cùng về ta. Những tấm gương đó có nghĩa là gì? Đó là tinh thần quyết định chứ không phải vũ khí. Đồng chí Hai Lôi nghĩ thế nào? Đồng chí đã tỏ ra là một người chỉ huy vừa dũng cảm vừa sáng suốt xin cho biết ý kiến.

Tôi nghĩ: ổng đã nói thế rồi, bố thằng nào dám nói khác, nên gật đầu, nói bọc xuôi:

- Dạ đồng chí trưởng phòng chính trị dạy chí phải ạ !

Tám Quang nói tiếp:

- Tuy vậy không phải là đảng coi thường sinh mạng chiến sĩ (đảng coi chiến sĩ như chó thôi chớ không coi thường). Các đồng chí Liên Xô rất khâm phục chúng ta đã biết khắc phục hoàn cảnh thiếu thốn để đánh Mỹ. Nhưng trong vài bữa nữa, các đơn vị sẽ thấy ông Ba Giỏi, Tám Dương phát cho các đồng chí vũ khí mới của Liên Xô hơn hẳn vũ khí của Mỹ . Hiện trên R mới có chín khẩu, sẽ trang bị cho các đồng chí cả. (chưa tới mười khẩu vũ khí mới, chưa biết là vũ khí gì mà đánh với hai sư đoàn Mỹ tối tân. Vậy là ghê gớm lắm đó các đồng chí "ngựa trời" của Năm Cội, anh hùng diệt tăng của đất Củ Chi ơi!).

Đến phần kiểm thảo các trận đánh, Ba Châm thua me gỡ bài cào. Sau khi Út Sương báo cáo về trận Suối Cụt, y lên tiếng trước nhất:

- Đồng ý là trận Suối Cụt có nhiều ưu điểm, nhưng có một sự vô kỷ luật căn bản.

Mọi người chưng hửng nhìn ông trung đoàn trưởng già (một loại Đạt Đức lão tướng lạc hậu trong kịch Tiền Tuyến của Liên Xô trong thời đánh Hitler. Do đó bộ tổng tư lệnh Hồng Quân đã đưa tướng Cu-nhiếp đến thay thế). Ba Châm nhìn thẳng vào tôi:

- Ai cho phép cán bộ tiểu đoàn ra vùng địch nghiên cứu trận địa?

Tôi giật mình. Không ngờ y vạch lá tìm sâu như vậy. Trận Tân Quy, Ba Châm đã có ác ý cho đơn vị do tôi trực tiếp chỉ huy (C3 của Út Sương) nằm vòng ngoài để đội pháo Bình Dương nhưng tôi bỏ qua, nay y lại bắt tội tôi ra vùng địch.

Nhưng Tám Quang chận ngay:

- Đó không phải là một hành động vô kỷ luật mà là một sự linh động. Vả lại Bộ Tư Lệnh chưa có một chỉ thị nào cấm cán bộ ra vùng địch để thi hành công tác. Hơn nữa, nhờ sự nghiên cứu tận tường nên trận Suối Cụt đã đem lại kết quả tốt đẹp nhất trong các trận đánh địch cụm quân từ trước tới nay. Ngược lại, trận tập kích Tân Quy đã không đem lại tiếng vang là vì sự nghiên cứu còn có chỗ thiếu sót

(Tám Quang đã đụng tới Năm Lê nên không dám nói mạnh. Thực ra phải nói là vác búa đánh vào khoảng không thì mới đúng).

Tuy vậy lão tướng Ba Châm vẫn còn ức. Ông ta chưa chịu im nên cố bới lông tìm vết để đổ lỗi cho tôi:

- Trong nguyên tắc bố trí hỏa lực pháo binh điều tối kỵ là bố trí "pháo giao đầu" thế mà đồng chí tham mưu trưởng D đã phạm khuyết điểm đó.

Tám Quang biết tâm lý của Ba Châm: ông ta là cán bộ trên tôi ba cấp thời kháng chiến chống Pháp mà bây giờ tôi lại tỏ ra linh động hơn ông. Nên Tám Quang an ủi ông bằng cách vuốt nhẹ:

- Trong chín năm ta có những nguyên tắc không thể đem áp dụng vào thời kỳ này. Hơn nữa, có khi ta lại làm ngược lại. Thí dụ hồi trước ta đóng quân trong vườn và nhà nhân dân, bây giờ nếu ta cứ chui rúc trong vườn và nhà nhân dân thì ta làm mồi cho pháo. Trong lãnh vực pháo binh, đồng chí tham mưu trưởng tiểu đoàn có đủ trình độ để bố trí hỏa lực hợp lý. Qua hai trận pháo kích Đồng Dù và Trung Hòa, kỹ thuật bắn pháo của đồng chí ấy chứng tỏ cho Bộ Tư Lệnh thấy rõ . Và trong trận Tân Quy, pháo binh ta đã không gây thiệt hại gì cho bộ binh ta. Đó là một thực tế chúng ta đều phải công nhận.

Ba Châm đành im.

Sự thực tôi không có thành kiến gì với Ba Châm lẫn Năm Tiều, là hai cán bộ có thành tích chống Pháp. Nhưng bây giờ các ông ấy đã già yếu và không chịu rời bỏ những kinh nghiệm lỗi thời xưa. Thời đó đánh Pháp phần lớn là bằng kinh nghiệm chớ không bằng kiến thức khoa học. Nói vấn đề ra trận, các ông không chạy nổi thì cũng đủ chết rồi. Chạy đua với pháo, trực thăng phải là đám trẻ chúng tôi, còn sồn sồn cỡ Hai Phái, Đoàn Tâm, Út Lịa cũng không kham nữa là Ba Châm. Chẳng những chạy, mà vừa chạy vừa đánh.

(Sau khi trung đoàn giải tán, Ba Châm được rút về làm tham mưu phó Quân Khu, dưới trướng Năm Lê. Chỉ ít lâu sau, trong một đêm, ông và cậu cần vụ vào nhà dân ngủ. Sáng thức dậy cuốn võng lơn tơn ra hầm bị biệt kích Mỹ phục kích ở ven rừng bắn chết cả hai).

Để vỗ an cán bộ, Tám Quang nhân danh Bộ Tư Lệnh khen (miệng) D Quyết Thắng của chúng tôi và nhấn mạnh:

- Quyết Thắng được Bộ Chỉ Huy R công nhận là một trong bốn tiểu đoàn đánh giỏi nhất miền Nam.

Rồi ra lệnh cho ban chỉ huy D đề nghị thăng cấp cho cán bộ và chiến sĩ do y duyệt xét ngay không cần trình lên Bộ Tư Lệnh.

Tan hội nghị tôi về văn phòng với Tư Nhựt và Hai Phái, định bàn việc tổ chức lại tiểu đoàn để đáp ứng nhu cầu mới của chiến trường. Nhưng cơm nước xong, thì nữ phóng. . .viên tới yêu cầu làm việc với ban chỉ huy để cô ta tường thuật trận Suối Cụt. Tư Nhựt từ sau trận này, tỏ ra điệu đờn với tôi nên nháy tôi và bảo:

- Thầy Hai có văn nghệ hơn tụi tôi, thầy nên tìm chỗ yên tĩnh mà "làm ăn", ủa, làm việc với nhà báo đi! Còn công việc "dê" (D) chúng tôi ở nhà lo thay cho đồng chí.

Tuy đoán mò rằng tôi và cô nhà báo có xăng tăng với nhau từ trước, nhưng Tư Nhựt cũng không biết rằng trong lúc kiểm thảo, tôi ngồi cặp kè với nàng và trao đổi bang giao với nhau cụ thể rồi. Còn Hai Phái thì biết mình không dấm dớ được nên cũng không phản đối.

Ra khỏi văn phòng, tôi hỏi nàng:

- Đi đâu bây giờ em?

- Anh là tham mưu mà !

- Nhưng em là "dê trưởng".

- Quỷ không hà !

Thế là tôi nhảy lên poọc-ba-ga. Nhờ chiếc xe Peugeot còn mới nên nàng phóng một hồi, qua không biết bao nhiêu bãi bom pháo (đi cho thật xa cái thế gian ồn ào này mà), từ Bàu Đưng vô Phú Hòa, tôi bảo dừng lại, nàng đều không nghe, cứ mải miết đạp, qua khỏi Lộc Thuận tới nhà Mủ nàng mới tốp. Trời đã xế dài. Hai đứa vào cái trường học ngả tó ngả xiêu, gần chỗ bãi B52 nơi Tư Linh báo cáo cho tôi cái chết của Sáu Di đêm nào. Nàng ngồi xuống chiếc băng gãy, lột chiếc nón hướng đạo rộng vành quạt lia.

- Anh làm như em là cần vụ của anh vậy.

- Tại sao?

- Em mỏi rụng cả hai chân.

- Thì anh đã bảo dừng lại từ Bàu Đưng kia mà ! -Tôi vừa nói vừa sụp xuống bóp chân nàng.

- Em ghét mấy ông "dê" (D) của anh lắm. Thế nào nay mai họ cũng đồn rùm. Anh không nghe ông "dê trưởng" của anh nói hai tiếng "làm ăn" rồi "ủa" sao?

- Anh ấy nói nhầm rồi sửa lại liền là "làm việc", em không nghe à?

- Ông ta cố ý, tưởng em không biết.

- Nào, hết mỏi chưa?

- Còn!

- Chừng nào hết thì mình làm... việc... nhé ! -Tôi ngước lên nhìn nàng.

Nàng tát khẽ má tôi:

- Anh nữa! Anh cũng trong ban chỉ huy "dê". Làm vi...ệc!?

- - Thì làm việc với em như em yêu cầu. Chứ chẳng lẽ em làm... việc một mình được?

- Cái miệng của anh có ngạnh. Nói đâu dính đó.

- Dính gì ?

- Kìa, mặt anh sao thờ thẫn vậy?

- Tại anh nhớ lúc mới gặp em lần đầu cũng ở vùng này.

- Lần đó anh bị bà xã đội phó nắm hồn thư nên không dám ngó em phải không?

Tôi làm thinh, chỉ cười trừ nhưng hai cái tay không nghỉ và càng lúc càng Bắc tiến.

- Anh không sợ bị trả thù à?

- Ai?

- Bắc kỳ thù dai chớ không phổi bò như dân Nam Kỳ anh đâu.

- Ai thù và thù ai mới được chớ?

- Ông già Kốt-ta-bít đó chớ ai.

- Anh có làm gì ổng đâu mà ổng thù?

- Anh đánh giỏi hơn ổng.

- Ổng còn chỉ huy anh đâu nữa mà thù.

- Ổng gần mặt trời, ổng tâu vô tâu ra, anh biết đâu được.

- Đạn có mắt em à! Những thằng cứ chạy tránh lại leo lên bàn thờ nhanh hơn những đứa liều mạng. Anh cứ kể như anh không sống. Thế là anh yên tâm. Em không thấy người ta lấy vợ rần rần, còn anh thì không sao?

- Ai yêu anh mà lấy?

- Có chớ !

- Ai?

Tôi ngước mất lên nhìn nàng.

- Anh ghê gớm lắm. -Nàng khom xuống ôm đầu tôi.

- Dám lừa em xuống Bến Mương để tập bơi.

- Tập bơi chớ đâu có làm... gì mà em gọi là lừa?

-.. Còn không nữa?

- Sao em biết... mà vẫn để anh lừa?

- Sau lần gặp tại bữa tiệc của Bộ Tư Lệnh ở Xóm Chùa anh còn gặp những ai nữa? Khai thiệt đi, không em vặt tóc anh

- Không có gặp ai hết!

- Anh ngủ ở nhà nào, anh Ba Tố ngủ ở nhà nào, em nói cho anh nghe.

- Thì nhà người ta chỉ có một cái hầm, anh ngủ bên ngoài pháo ăn anh làm sao?

- Anh bị thương mà đi suốt từ Tân Quy về tới đường Một Làng với ai?

- Thì đó là tình cá nước quân dân mà em!

- Tình quân dân ngọt như quả dưa hấu non của cô bé tình báo vậy hả?

- Đó là công tác chớ anh đâu có yêu cầu ai.

- Ứ công tác một mình với người ta trong hầm ở nhà Bảy Sơn, thích nhỉ?

- Chứ việc bí mật không lẽ đem ra bàn giữa gia đình?

- Bí mật nên "xã ủy" mời anh ra chòi họp giữa ban khuya phải không?

- Anh hoàn toàn bị động.

- Vậy mua cà rá trạm chữ "L" là do ai chủ động?

Tôi thấy cô nhà báo thu thập tin tức quá chính xác và đầy đủ nên không chối quanh nữa, mà bịa chuyện: Tuy vậy anh chỉ yêu có một người.

- Người nào?

- Em biết rồi mà còn phải hỏi.

- Nếu người ấy muốn cùng anh thay đổi cuộc sống thì anh nghĩ thế nào?

Không ngần ngại, nàng bật ra câu nói như đã kềm ở môi từ lâu:

- Em thấy em không thể sống ở đây anh à !

Tôi giật mình nhìn nàng trân trân, không ngờ nàng có ý nghĩ đó :

- Nghĩa là sao?

Nàng thở dài:

- Anh thấy chị Hằng có đẹp không?

- Người ta bảo "đẹp như Hằng Nga", mà sao em lại hỏi thế?

- Nhưng em thấy mặt chị ấy rồi.

- Mặt chị ấy ra sao?

- Mặt rỗ nhằng rỗ nhịt thôi anh ạ.

Tôi biết cô nàng ngụ ý : cuộc kháng chiến này mới nghe thì lý tưởng lắm, nhưng đi vào thì vỡ mộng. Cô nàng là sinh viên đại học chắc ăn phải bả ông trí thức Tư Ánh rồi.

Bao nhiêu lửa dậy trong lòng tôi đều hạ xuống tiêu tan trong giây lát. Tôi bảo:

- Mình nên dời chỗ đi em ạ.

- Tại sao?

- Anh có linh tính là giang thuyền thả xuống sẽ bắn lên hủy diệt cái trường học xiêu vẹo còn lại này.

Nàng đứng dậy ôm ghì lấy tôi, thầm thì:

- Nụ cười của em đã rơi xuống lòng sông Bến Mương cho anh rồi, nên anh không yêu em nữa phải không?

- Không phải đâu. Chính vì thế mà anh càng yêu em.

- Hay vì em nói ra ý nghĩ của em?

Tôi lặng thinh. Chỉ hôn khẽ trên trán nàng. Rồi chia tay, không biết đây là người thứ mấy rủ tôi trốn về thành (thay đổi cuộc sống). Từ sau cuộc gặp gỡ này, tôi luôn luôn tránh né nhà báo. Cho đến năm 1992 (25 năm sau) tôi mới trông thấy lại nàng trên báo.

... Ít t lâu sau, Quân Khu đưa một tham mưu phó xuống làm cố vấn cho chúng tôi. Đó là ông Vũ Ba, thời kháng chiến ông đã từng chỉ huy tiểu đoàn ở Thị Vãi, Bà Rịa cùng với Hai Bứa và Ba Ngọt (Nguyễn Chí Sinh). Ông Sinh hiện là cục trưởng cục tác chiến R, người đã từng sang đánh giúp Pathet Lào. Sau này chỉ huy một trung đoàn vào Sài Gòn và bị Nhân Dân Tự Vệ bao bắt ở Gò Vấp vào Tết Mậu Thân ở tại chuồng heo..Và chính ủy Lê Hiền, Lê Hiền sau Cải Cách Ruộng Đất được phong đại tá chính ủy sư đoàn F350 bảo vệ thủ đô Hà Nội.

Thấy tiểu đoàn quá ư vất vả trong chiến đấu lẫn ngày thường, ông bèn đưa ra kế hoạch nghiên cứu trước chiến trường và có sẵn ý niệm bố trí quân, hỏa lực. Vì quân Mỹ cơ động quá nhanh, nên chờ cho chúng đổ quân xong, ban chỉ huy mới họp bàn kế hoạch chiến đấu thì không kịp. Có khi bàn xong, chúng đã rút hay đã thay đổi đội hình. Tôi là người được ông chỉ định đi khắp Củ Chi để vạch ra những phương án cụ thể này, lý do là tôi đã đến nhiều xã và có cảm tình với các xã đội nhất trong ban chỉ huy D.

Tôi sắp sửa lên đường thì liên lạc báo cho biết có hai ông già lem nhem nhưng có gác đờ co có mang AK tới xin gặp ban chỉ huy tiểu đoàn. Tôi không biết là ai, trong bụng sợ tụi thằng Lệnh, thằng Rắc giả dạng đột nhập căn cứ, nên bảo thằng Thuận ra xem xét cho kỹ. Thuận trở vào báo cáo:

- Dạ, mấy ông già khọm và nói tiếng trọ trẹ, lại mặc đồ cứt ngựa, mang dép cao su.

Tôi quát:

- Tụi nó không biết ngụy trang hay sao?

Vừa dứt tiếng thì tôi nghe tiếng Ba Đức vọng vào:

- Không phải đâu anh Hai. Đây là ban chỉ huy Q16 bồ tèo của mình đó.

Tôi biết rồi. Đây là các anh hùng Điện Biên Phủ. Tôi cũng đã từng nghe trung đoàn này được chị Ba Định đỡ đầu và hai ông trong ban chỉ huy E là em nuôi của chị Ba.

Tôi bước ra niềm nở chào hỏi, nhưng Tư Nhựt không xuất hiện, chỉ để một mình tôi tiếp khách. Thoạt trông thấy tôi hơi buồn. Các ông ấy già không kém gì Năm Tiều và Ba Châm, 1954 đã là anh hùng thì đâu có được 30 tuổi. E trưởng Nguyễn Văn Lực đổi ra là Ba Kiên có bộ răng Bến Tre, gầy tọp, nhỏ thó như ông tướng Dương Quốc Chính hồi năm 1950 từ Bắc vào Nam. Còn ông Năm Dũng, chánh ủy trung đoàn thì cũng nhỏ thó như vậy, đặc biệt có cặp mắt toét rất nặng. Ông ta hấp háy luôn và nhìn nghiêng.

Tôi cho làm một con cầy tơ để thết đồng đội từ phương xa tới. Năm Dũng hỏi tôi có phải là Hai Lôi, người đã cho một cái đùi bò cho lính ông ta năm trước nhân ngày Quốc Khánh không? Trong lúc chén thịt chó chúng tôi trao đổi kinh nghiệm tác chiến.

Sự thực các ông đến học kinh nghiệm của D Quyết Thắng. Trong khi D chúng tôi tập kích quân Mỹ ở Cây Trắc thì Q16 cho một tiểu đoàn (D7) đánh cụm bộ binh cơ giới Mỹ ở rừng Cả Chúc ở gần Bùng Binh (Bến Được). Tiểu đoàn này bị pháo ở Chà Rầy từ Trảng Bàng bắn bị thương vong hơn một trăm. Từ sau các trận Bàu Trâm, Trường Gà, Cỏ Ống và Rừng Cả Chúc đã mất hào khí Điện Biên. Không bao giờ dám tập trung, đánh cấp E mà chỉ chơi lẻ tẻ với lực lượng D là cùng.

Tôi .biết lính Q16 suốt Trường Sơn đã mất sức khỏe, bịnh sốt rét dây đưa, vô tới R không được bồi dưỡng, xuống Củ Chi không được nghỉ ngơi, ăn uống có khá hơn ở R nhưng vẫn chưa lấy lại được sức lực cần thiết cho những tay súng đối đầu với Mỹ, lại nữa chiến trường lạ lùng, bom pháo kỳ cục, không giống như Điện Biên. Rất nhiều lính Q16 bỏ đơn vị đi lang thang trong dân, sau những trận sống sót B52 họ càng chán nản.

Tôi nói với Năm Dũng và Ba Kiên:

- Chiến trường dạy chúng tôi thôi các đồng chí ạ. Thứ nhất phải nhanh nhẹn, thứ hai phải dùng công sự, thứ ba phải có gan đội bom pháo. Thế thôi, chứ nói về thành tích và kinh nghiệm thì so với các đồng chí, chúng tôi là những kẻ sanh sau đẻ muộn.

Năm Dũng tỏ vẻ rất hiểu đời và khiêm tốn:

- Bao nhiêu phương pháp công tác chính trị tốt thời đánh Pháp đi vô tới Trường Sơn bớt ngay hậu quả . Vô tới đây thì vô ích. Chỉ có một việc nắm vững quân số, chúng tôi cũng không làm được. Xin hỏi thật, lính các đồng chí có đào ngũ hoặc "dinh tê" không?

- Đào ngũ thì chuyện đó chúng tôi coi thường. Vì họ về nhà rồi không thể ở yên được lại trở về đơn vị. Còn "dinh tê" , là gì?

- Tức là bỏ về thành ấy mà.

- Ồ, chuyện đó cũng thường. Ở đây sát quốc lộ, họ chỉ vọt một cái là về Sài Gòn ngay. Cán bộ đại đội cũng đi.

Ba Kiên nói:

- Mình đánh với một tên vừa nhà giàu vừa có "võ"! Gay lắm. Ngày xưa chúng tôi áp đảo thằng Pháp ở lòng chảo Điện Biên khỏe ru. Chúng tôi vào tận hầm Đờ Cát cũng không gay go bằng đánh một trận nhỏ cấpp D như trận Rừng Cả Chúc vừa rồi. Thương vong trên một trăm! Rồi lấy lính ở đâu mà điền vào?

Hai ông anh hùng Điện Biên nhậu thịt chó rất phấn khởi. Hẹn sẽ hợp tác với chúng tôi và sau một trận chiến thắng nào đó sẽ làm lễ kết nghĩa anh em Nam Bắc một nhà. Trước khi hai ông ra về, tôi bảo anh nuôi gói mấy sườn chó và mua một lít đế hai ông cầm tay ra về.

Hai ông vừa đi khỏi, tôi tìm chỗ ngả lưng thì có trinh sát báo cáo: Sáu Huỳnh tới. Sáu Huỳnh lúc này đã lên làm trưởng ban quân báo khu thay cho Chín Lộc. Nghe ông già này tới, tôi ngồi bật dậy, chạy ra ngay. Vì ông ta đến chắc có tin B52 bán dưa hấu.

Ông ta đến báo cho mình tránh né kịp thời!

- Anh Sáu !

(Sáu Huỳnh là bạn kháng chiến của ba tôi, nhưng tôi quen miệng gọi bằng anh).

- Thằng Lôi! Mày còn đó hả?

- Còn chớ mất đi đâu anh? Sao coi bộ tơi bời hoa lá vậy bố vợ?

- Đội dưa chớ sao nữa?

- Binh tôm tướng cá của anh đâu hết rồi?

- Chết sạch. Thằng Chín Bù Lạch (Chín Lộc) về R làm phó chánh ủy quân báo R, Sáu Cúc về làm phó cối cho Năm Lê. Sáu Lễ và mấy thằng kia rụm hết. Có gì cho tao bỏ vô bụng chút rồi tao nói hết cho nghe. Đụ mẹ, tụi Mỹ kỳ này chơi tới gáo.

Tôi kêu thằng Thích, anh nuôi. Nó biết ý đem lên một tô hột gà bột và bình trà. Tôi rót nước còn Sáu Huỳnh múc hột gà đổ vô miệng theo kiểu uống thuốc một hơi hết nửa tô. Vừa ăn vừa uống vừa nói, mỗi câu mở đầu bằng hai tiếng con cặc hoặc đụ mẹ.

- Kỳ này ngoài Mỹ, tụi nó còn thêm trung đoàn Hoàng Gia úc Đại Lợi nữa. Nó quần nát bên kia sông rồi mới sang tới bên này. Đụ mẹ chạy như gà mắc đẻ. Chạy tới đâu đụng B52 tới đó. Nó đã bào láng An Thành, An Điền, Thanh Tuyền, nay nó lên tới Long Nguyên, Dầu Tiếng. Mấy thằng K20 của Tám Quang vừa ở bên này vọt qua bên đó. Rồi đám công binh Tư Thuật, Ba ân, Sáu Gấm phó ban tuyên huấn như đám cá vô rọ, bị một phát B52, không biết thằng nào còn thằng nào mất.

Nghe nói tới Long Nguyên, tôi giật mình bèn hỏi nhỏ:

- Vụ ông Sáu Di ra sao, anh rõ không?

Sáu Huỳnh ngó quanh rồi đưa tay lên miệng rù rì:

- Vụ đó thằng nào cũng biết nhưng không thằng nào dám nói ra, sợ đứt đầu.

- Nhưng anh có chắc không vậy?

- Còn gì nữa mà không chắc!

-Tụi công binh tệ quá. Hầm hố gì bết vậy? -Tôi làm bộ nói trớt ra.

Sáu Huỳnh bảo:

- Công binh làm căn cứ như chiến lũy Maginot mày còn đòi gì nữa. B52 bỏ có trúng chó gì, chỉ rung rinh đất thôi chớ đâu có sụp.

- Rung rinh thì sao đến đỗi?

- Ổng với ông Ba Xu mình thấy dứt loạt rồi nên bò lên.

- Trời! Bò lên đi đâu cho bị? Ở dưới đó là yên rồi.

- Ma xui quỷ giục mày à. Cả chục người đứng sau lưng và hai bên tả hữu của ổng mà không ai trúng cả.

- Đạn à?

- Không biết miểng đạn hay nhánh cây. Đứa nói cái này thằng bảo cái khác, không biết đâu mà rờ. Chỉ biết ông bể sọ chết ngay không nói được câu nào. Ông Ba Xu đứng kế ổng mà không hề hấn gì. Chính ông Ba Xu đỡ ông nằm xuống đất rồi kêu lên, nhưng ổng không trối trăn gì hết.

- Rồi cái xác làm sao?

- Mày hỏi tới hoài mậy. Mày muốn tao đi vô Hỏa Lò hả ?

- Tôi chỉ lo cái xác không đem về Hà Nội được.

- Đầu Củ Chi họ! Chuyện đó có cấp trên lo.

- Đã đành rồi, nhưng tôi nghe Hai Ninh nói xác ổng gói trong ny lông và thồ xe đạp bằng cách thồ gia công qua Mi Nốt để chở lên Nam Vang rồi về Hà Nội.

- Tao không biết cái vụ đó. Nhưng cái tin này giữ kín lắm. Không ai được biết. Thôi bỏ đi ông Thiên Lôi ơi.

- Kỳ này anh không có cho tụi tôi tin B52 sao?

- Có tin nhưng chưa chính xác. Mày nên nhớ bám gần đồn bót và xóm còn dân, đừng có bung ra các destroyed zones mà ăn mập luôn đấy. Nhất là dọc đường số 6 trở lên Sóc Lào, tụi Q16 bị nhiều cú rã bành tô rồi -Sáu Huỳnh nói nhỏ lại- Tụi D8, H6 xui quá, ba thằng cán bộ D Năm Thủ, Tám Mao, Tư Tây vừa ăn một trái bom đìa ở An Phú .

Tôi nhảy dựng lên, hỏi:

- Anh có nghe du kích thiệt hại gì không?

- Sao mày lo cho du kích dữ vậy?

- Vì tôi có hầm chung với tụi nó.

- Chớ không phải có dính với mấy con "phòn" đó à?

Sự thực tôi lo cho em Tư Lan. Nhớ hồi Tết khi đi Giang Tả cầu hôn về gặp em, tôi ghé. Nhà có một mình em ở nhà. Em giữ tôi ở lại.

- Bây giờ anh một thân một mình, tính đi đâu. Hay ở lại với tụi tôi một thời gian đi.

- Ở với tụi mày để ăn pháo hả?

- Vậy đi tìm thum của bà Hai Xót, Năm Đang xin "ngồi ké" chớ gì?

- Bời Lời nó chơi hóa học rụng hết lá rồi. Bây giờ nó đem xe tăng ủi từ Trảng Sa lên tới Suối Nhánh rồi lên tận sông Bà Hảo đó ông con. Bà khu ủy Út Tức của mày cũng chạy tuột... mất cái giỏ trầu có đựng cây Colt, chớ còn chỗ đâu mà ngồi thum? Hiện Mỹ đang xài tới hai mươi hai tiểu đoàn giăng ngang từ Lộ ủi Trần Lệ Xuân đến Lò Gò Xóm Giữa, Sóc Xoài lên tận biên giới. Chín Lộc biên thư cho tao bảo trên R bây giờ từ trung tá trở xuống phải mang AK chiến đấu chống càn bảo vệ tướng. Đụ mẹ, tướng thì cũng một phát như ông Sáu Di thôi chớ giỏi gì? Mà các ổng còn ở bên này đâu, mấy ổng chạy tuốt qua bên Miên hết rồi. Tha hồ xơi mắm bò hóc và "thuốc rượu không đau lưng".

- Thuốc rượu không đau lưng là thuốc rượu gì anh?

- Cái thằng ngây thơ quá vậy. Như mày hiện giờ là cần thuốc rượu đó lắm. -Sáu Huỳnh vừa nói vừa nháy và ra dấu- "Vầy nè", hiểu chưa?

- Hiểu rồi! Nhưng biết chừng nào tôi mới được sang đó?

- Ở đây còn Vườn Trầu, Sa Nhỏ, Phước Thành để mình ngồi thum. Qua đó thằng Khiêu Som Phan nổi khùng nó vác chà gạc lụi cho phèo ruột. Đụ mẹ kỳ rồi đoàn 69 bị khiển trách nặng vì tụi Mỹ đi thênh thênh mà không cắn được nó miếng nào.

- Sao vậy anh?

- Thằng Huỳnh Thành Đồng chết thì còn ai? Với lại Mỹ đổi chiến thuật. Trước đây nó đổ quân ngoài trảng trống rồi tiến vô rừng nên bị mình khìa. Bây giờ nó cho B52 dọn bãi trong rừng rồi đổ bộ binh và xe tăng xuống, mình gặp trở ngại trong hành quân và phục kích nên không đánh được. U60, U80 đều bị... nặng. Gạo muối chôn giấu ở khu vực Suối Dây, Suối Tha La bị hốt hết. Bà Út Tức của mày chắc phải xách giỏ trầu chạy ra Mõ Công Trại Bí ôm cái lá trầu héo ngồi thum chờ B52 thôi. Còn lão Huỳnh Văn Một không biết còn làm xã đội trưởng Kà Tum hay đi theo ông Sáu nắm thắt lưng Mỹ mà đánh ở dưới kia.

Thằng Phích dọn cơm với cá trê kho và canh khoai có rắc tiêu. Sáu Huỳnh ăn ngon lành, vừa ăn vừa nói liên miên.

- Binh tướng giờ còn mình tao, tao có hơn gì Tào Tháo ở Huê Dung đạo. Tao muốn ra quốc lộ I gặp Ba Xuyên tổ chức lại đường dây. Nhân viên chính của tao bây giờ chỉ còn con Ua.

- Tôi mới gặp nó . . .

Sáu Huỳnh cười:

- Gặ... ập? Hì hì!... Mày chém chạy coi chừng nó. Con nhỏ đó mê mày như điên. Nó khai với tao hết. Bà già lên đã hứa cưới nó cho mày. Mày lẹo tẹo với mấy con dũng sĩ xã đội, coi chừng nó chia hai lựu đạn với mày. B52 thì thoát chớ mày không có tránh né nó được đâu... Nè, điểm thứ nhất là đừng làm cho nó phì ruột, tao mất nhân viên.

- Nó muốn có con để có lý do về nhà đó tía vợ ơi .

Sau bữa cơm, Sáu Huỳnh từ giã. Tôi đứng ngó theo ông trường ban quân báo khu một mình một ngựa bôn ba từ Bến Cất qua Củ Chi, rồi từ Củ Chi đi đâu nữa?

Mới ngày nào kháng chiến chống Tây, anh làm huyện đội trưởng, trẻ khô. Tôi còn là con nít. Bây giờ tóc anh đã bạc, còn tôi thì sồn sồn. Chốc đây mà đã hai mươi năm. Hai mươi năm không bình thường. Hai mươi năm bom đạn. Hai mươi năm của tuổi thanh xuân đã mất đi.

Thế là tôi đi nghiên cứu trận đồ. Tôi mang theo một tiểu đội vừa bộ binh và trinh sát, có cả B40, gặp xe tăng cũng chơi được.

Trước khi tôi đi, ông Vũ Ba còn đả thông tư tưởng tôi : "Đây chỉ là ém quân thôi. Bộ Tư Lệnh có khiển trách, tôi chịu trách nhiệm!"

Có ông tham mưu phó che dù, tôi không lo gì nữa, cứ thẳng một lèo ra Đồng Lớn, tới ngay căn cứ của quận đội Tám Giò.

Tám Giò đã rời cái hầm dưới bụi tre ở gần Bến Mương, nơi tôi được ông tham mưu quận đội Hai Khởi đưa tới và được đãi một bữa mắm chua. Ra Đồng Lớn ông Tám cũng thủ một cái hầm vĩ đại và vô cùng bí mật, có rất nhiều ngách. Tôi trình bày những nhu cầu của tôi, ông quận đội nói:

- Tôi giới thiệu cho các xã đội thì họ chỉ thi hành nửa chừng, vì quyền hạn nằm trong tay xã ủy. Vậy đồng chí phải đến huyện ủy xin giấy giới thiệu mới chắc.

Tôi định rút lui.Nhưng tôi không biết ông Một Sơn ở đâu.

- Ờ dưới âm phủ chớ đâu.

- Hồi nào vậy?

- Trong cuộc càn Cedar Fall, ổng bị khui hầm ở Xóm Bưng. Mỹ đánh chất nổ, Hai Xót, Tư Bé, Tám Phụng chê hầm thối và sợ mấy ông nội táy máy tay chân, nên có bốn mạng rụi tèng heng thôi, nếu không thì tới bốn ông bà. Bây giờ ông Hai Mõ lên thay chức bí thư. Cả ban bộ đều dời chớ không dám ở trong Xóm Bưng xã Thuận Đức nữa.

Tám Giò cho liên lạc dắt tôi đến sào huyệt ông Hai Mõ ở Bàu Sót. Vô gặp được ông bí thư còn khó hơn gặp ma. Chỉ một mình tôi vào thôi. Hai Mõ người nhỏ thó, cỡ bốn mươi ngoài, đầu trọc giống như cái gáo dừa. Có lẽ vì thế có tên Hai "Mõ". Ông nói giọng nhỏ rí, dường như sợ cóc nhái nghe:

- Anh Hai muốn gì tôi giúp nấy, còn về địa đạo thì tôi xin nói rõ để anh Hai khỏi tìm kiếm mất thì giờ... Dân Hàn trở vô ấp Ràng, Đồng Lớn, Sa Nhỏ không có địa đạo. Chỉ có một khúc sau nhà cô Hai Chạnh ở Ba Sòng và một khúc gần lộ 6 ờ An Nhơn. Mỗi khúc chứa được ba mươi người. Ở Xóm Trại, Gót Chàng, Bến Mương (nơi tôi chết ngộp, do ông Tám Đột quản lý), Xóm Bưng, Bàu Lách, mỗi nơi còn một khúc nhưng cũng chỉ chứa được cỡ đó. Không có nơi nào ém được một đại đội. Ngay ở Phú Hòa Đông địa đạo còn tốt nhất, nhưng cũng chỉ ém từng trung đội ở mỗi khúc mà thôi. Anh và Bảy Nô đã từng xài địa đạo đó nên biết rất rõ...

Tôi thấy hơi bi quan, nhưng ông ta làm sao đẻ ra thêm được? Đã vậy ông còn dặn:

- Anh đến họ cho xem, anh phải coi cho kỹ. Bởi vì địa đạo cũ đào từ Đồng Khởi (1960) tới bây giờ không xài, không tu bổ, không gì ráo hết, bây giờ chun xuống đó, lỡ có việc gì chúng tôi khổ tâm lắm đó nghe anh Hai.

Nghe ông bí thư nói, tôi rất thương tâm. Đó là lời thành thật. Người sống và chiến đấu thực trên đất Củ Chi thì không bao giờ tếu về "địa". Chỉ có những người bên ngoài không biết gì mới tưởng tượng Củ Chi là thần thánh.

Rời cơ quan huyện ủy, tôi dắt cả bọn ra Ba Sòng và Gò Nổi để xem mấy khúc địa đạo, vì tôi nghĩ rằng có thể dùng nó để phục kích lính ở Đồng Dù hoặc Trung Hòa bung ra.

Lần ra đây quan sát địa hình để pháo kích, tôi còn thấy xóm làng trù phú, nhà cửa y nguyên. Chỉ một năm sau, tất cả hoang tàn xơ xác, chỉ còn những mái chòi lụp xụp ở mé ruộng của những người dân cố ở lại làm ruộng. Còn bao nhiêu đều chạy ra các ấp chiến lược Cây Trôm, Lào Táo, Suối Cụt. Pháo nện liên miên vào các khu vườn đã được khoanh từng ô trong bản đồ pháo binh. Chúng muốn bắn xóm nào, thậm chí ngôi nhà nào, cũng thảy ngay chóc nhất là các ngã ba, các con đường mòn giao liên thì nát như tương.

Tôi ghé nhà má Hai, nơi xác thằng Chi được đặt ngoài hàng ba trước khi đem chôn ở nghĩa trang Ba Sòng, vì Chi là chồng chưa cưới của cô Chạnh, con má Hai. Hai Chạnh đã thành hôn với Tư Đông, cán bộ của tôi. Cô đang mang bầu. Tội nghiệp Tư Đông được rút về trên bổ sung cho F100, đánh vô Sài Gòn bỏ xác không biết ở đâu, lúc con chưa biết mặt cha. Em Nhành là em út của Chạnh, mười ba tuổi, nhưng đã trổ mã con gái rất đẹp. Tôi định bụng chừng vài năm sẽ cưới cho thằng Thưng hay thằng Thuận trinh sát của tôi. Nhưng chỉ vài tháng sau cả hai theo trung đoàn mũi nhọn vào Sài Gòn rồi không thấy về nữa!

Dấu vết đạn pháo Trung Hòa giết thằng Chi còn đây, trên thân những cây cao su èo uột. Ba Tâm, xã đội phó, bị thương trong trận Tân Quy nhờ Tư Chuyền cứu chữa lành lặn, nay cả vợ chồng đến cám ơn tôi rồi bà vợ hối thúc chồng về, và khuyên tôi:

- Ban ngày mà ở trên mặt đất ớn quá. Các anh nên tìm hầm mà làm việc trong đó, đừng ở ngoài.

Chị vừa đi khỏi thì ông già của Ba Tâm tới. Ông bị mất con trâu vì pháo bắn kỳ trước, lần này thấy bọn tôi, ông sụp lạy:

- Các chú có đánh thì vô Đồng Dù đánh, để ngoài này cho bà con làm ruộng làm rẫy kiếm hột lúa củ khoai độ nhật.

Nghe ông già nói giọng rơm rớm nước mắt, tôi bủn rủn hết tay chân, không còn ham đánh đá gì nữa. Quân đội nhân dân, đánh giặc để bảo vệ nhân dân, giải phóng nhân dân, cái gì cũng nhân dân cả , nhưng đến đâu nhân dân đều sợ xanh mặt mà không thèm đếm xỉa tới.

Ba Tâm gượng gạo chống đỡ:

- Mấy ảnh đi móc gia đình chớ không có việc gì đâu ba ơi!

Ông già bắt buộc phải "tin" lời thằng con, nhưng còn nói rán:

- Chú coi đó, tôi có mấy con trâu, con thì bị pháo bắn xẻ thịt, con thì ăn lựu đạn gài, rốt cuộc tôi không còn làm ruộng được, hổng lẽ tôi kéo cày thay trâu?

Ba Tâm bảo thằng Cu du kích dắt tụi tôi đến chỗ ở. Cu hãnh diện:

- Các anh đừng lo. Vài chục thì ngại chứ mười người trở xuống, tôi có đủ chỗ.

Tôi nghĩ bụng: Ba Tâm không dám cho mình ở chung mà giao cho du kích. Nhưng không theo du kích thì theo ai ? Hai Giả xuống Thủ đức cũng được ở hầm "quốc tế". Đó là loại hầm dành cho khách tỉnh, khu, ai đến chưa tậu được hầm đều được "đãi" cho loại hầm này. Do đó mà hầm bí mật trở thành hầm lộ bí mật hết ráo.

(Cũng tại đây năm 1969, Ba Thụng, trưởng ban đặc công khu và Tư Linh, trưởng ban binh vận khu, bạn tôi, đến công tác cũng được nhét xuống hầm "quốc tế" nên bị lính Trung Hòa hành quân chơi, khui hầm nắm đầu lôi lên hai ông trưởng ban gọn bơ).

Bữa nay thằng Cu chơi cắc cớ. Nó dắt một cậu trinh sát của tôi đi ém một chỗ khác, rồi đem giao tôi vào một cái nhà khác với thằng Thuận.

- Em đừng cho anh ở hầm "quốc tế" bị khui lãng nhách nghe !

- Không có đâu anh.

Nó đưa tôi đến một cái chòi ở ngoài mé ruộng. Ở đây có địa thế chui vô vườn và ngó ra ruộng đều tiện cả. Nếu xe tăng từ ngoài ủi vô thì mình có thể tẩu như phi. Nó không dừng lại kêu chủ nhà mở cửa, mà dắt tuốt vào trong:

- Chị Tám ơi! Có khách nè! -Rồi nó đẩy cửa bước vô buồng.

Trong bóng tối lờ mờ tôi thấy hai gương mặt trắng trẻo và ngửi mùi tóc đàn bà.

- Ai vậy?

. Chị Tám, chị Chín cho tôi gửi ông này nghe!

- Hầm chật rồi mà.

- Chật thì cho ém một ông! -Thằng Cu nói như ra lệnh, rồi quay lại cũng với giọng ấy- Thuận, theo tao!

Thằng thuận ngần ngừ. Cu bảo:

- Anh Hai ở đây bảo đảm, mày đừng lo! -Rồi lôi tay Thuận ra.

Thằng này chơi ác thật. Hay là có sự lãnh đạo của Ba Tâm.

Hai nàng kẹp tôi là Tám Phụng và Chín Tá . Cá hai đều quen với tôi trong nhiều cuộc tao ngộ tập thể với bà Năm Đang và bà Hai Xót. Riêng Tám Phụng thì có cảm tình đặc biệt với Thiên Lôi. Nhưng chỉ có dịp hôn nàng trong một lần gặp ở nhà má Hai ăn vú sữa ngâm nước đá.

- Anh Hai đến đây công tác hả? -Tám Phụng hỏi trước.

- Tôi chỉ đến... a... a... móc gia đình thôi.

- Móc gì mà móc hoài vậy? -Chín Tá chất vấn- Bộ kỳ trước móc bà già vô bỏ hàng rào thưa, kỳ này vô làm đám "tiên bố" hả?

- Giặc giã rần rần, vợ con gì cô Chín ơi!

- Anh đi đường mệt, ngồi trên giương nè nghỉ! -Tám Phụng vừa nói vừa nép sát vào bên trong, còn Chín Tá thì sà xuống võng bên cạnh đó.

- Hầm tốt không a... a... em?

- Đến địa phương thì nhờ mấy ổng chớ đâu biết tốt xấu gì anh!

Vài ba trái pháo nổ sau hè, miểng văng vô thân.chuối phực phực ghê quá. Nhưng đó là sự thường. Đạn nổ xong sự đời đâu lại vào đấy.

Ngồi hơi lâu, tôi ngả lưng ngoài mép giường. Chín Tá bỗng đứng dậy:

- Để em đi đằng quán chút nghe chị Tám.

- Chi vậy?

- Để mua ít đường về làm kẹo chuối ăn như kỳ trước vậy - Rồi cô Chín Tá đi ra.

- Nhớ mua gói trà . Anh Hai thích uống trà! -Tám Phụng dặn vói theo vừa dứt tiếng thì tôi lăn vào bên chân nàng, hôn hai bàn chân lia lịa.

Nàng không nói gì mà còn ôm miết đầu tôi vào hai ống quyển mịn màng, vừa thơm mùi đất vừa thơm mùi da thịt. Tôi hỏi:

- Sao em không lấy chồng đi Phụng?

- Em chờ anh! -Nàng đáp hồn nhiên.

Tám Phụng là người con gái có sắc đẹp, có học khá và có đạo đức nên kén chồng. Cán bộ dòm ngó cũng nhiều nhưng chưa ai lọt mắt xanh của nàng. Nghe nàng nói tôi bàng hoàng. Quả thật, hai đứa rất xứng đôi. Ai cũng tưởng rằng chúng tôi sẽ thành hôn như mây gặp gió. Riêng tôi cũng có lúc nghĩ: nếu thời bình mà kiếm vợ thì Tám Phụng là người con gái lý tưởng của tôi.

Nhưng bến đợi mà thuyền cứ mấp mé chứ không cặp bờ. Tôi luôn luôn nghĩ không trận này thì trận tới mình sẽ "rửa chân leo lên bàn thờ", không nên để khổ cho người ta. Cô Chạnh là một ví dụ, thằng Chi chết lúc hai đứa chưa cưới nhau.

(Ở một chương khác tôi sẽ ghi ra một trăm danh sách đàn bà cơn gái góa bụa của đất Củ Chi này).

Bạn đọc thấy tại sao tôi cứ đụng hết cô này đến cô kia . Đó là sự thực, nhưng tôi chỉ ghi ra đây một phần... nhỏ. Sớm muộn gì cũng chết. Không tính chuyện một mái ấm vợ hiền con ngoan gì hết ráo.

Sống, yêu được bao nhiêu hay bấy nhiêu, để khỏi chết thèm. Đó là quan niệm của tên Thiên Lôi này trong thời gian sống ở Củ Chi.

Chín Tá đi mua đường tới xế không thấy quay về, chiều cũng không trở lại. Tám Phụng đi ra đi vào ngong ngóng:

- Con quỷ này đi đâu biệt tăm vậy cà?

Đêm nay là đêm trời cho tôi với nàng. Nàng khóc ướt cả cánh tay tôi. Lòng chinh khách cũng mềm đi tí chút.

- Chiều mai anh đi! -Tôi bảo.

- Biết còn bao giờ gặp lại anh nữa?

Nàng dúi vào tay tôi chiếc khăn tay, thầm thì:

- Anh giữ làm kỷ niệm. Em đã cho anh cả đời em...! - Rồi nàng nức nở gục đầu vào bẹ cửa.

Tôi bước đi, hai chân nghe như ngã xiêu. Ra tới khỏi sân, vọt qua một hố đạn đất nám đen còn mới. Nó là dấu nhạc đệm cho cuộc tình chúng tôi đêm qua mà chúng tôi nào hay. Tôi quay lại, dắt nàng trở vào buồng:

- Phụng à ! Anh đau khổ cho đến chết vì không sống được với em.

Nàng càng òa to lên, tức tưởi, nghẹn ngào.

- Em muốn gì anh cũng cho em được hết.

- Một đứa con!

Lạy trời, xin được như ý nàng. Xin trời cho nàng được những gì nàng ước mong cho nàng và cả cho tôi!

Rồi chúng tôi chia tay.

- Bao giờ anh trở lại? -Nước mắt ròng ròng, nàng nhìn tôi

- Biết bao giờ mà hứa? -Tôi dùng văn chương tiểu thuyết- Có thể ngày mai, cũng có thể không bao giờ!

Tôi cúi xuống hôn chân nàng và nơi đóa hoa hồng vừa hé nhụy chào xuân đêm qua.

Tôi còn gặp nàng sau này nhiều lần. Lần cuối cùng, tôi biết nàng có chồng. Mà tôi còn sống. Niềm đau cho một mối duyên tan. Đó là cuộc đời của tên Thiên Lôi.

Thằng Thuận và thằng Thưng đến, chúng tôi lại lên đường. Ba Tâm cho xem mấy cái miệng hầm ở Gò Nổi Dưới vào chập tối. Tôi rọi đèn pin xuống thấy nước, rễ cây chằng chịt.

Tôi không buồn bảo trinh sát chui thử nữa. Hầm này mà chui ư? Thà chết sướng hơn. Nhưng thằng Thuận cố làm gan:

- Để em do thám thử coi - Nói xong lột quần áo cầm đèn pin tụt xuống. Rồi trồi đầu lên liền, mặt nhăn như quỷ- Cái gì thú quá. Nước bùn chèm nhẹp. Ông nội tôi cũng không dám đút đầu vô.

Thăng Thưng đứng ở trên thọc đầu xuống:

- Thằng nhát quá, để tao thử coi.

Thuận leo lên:

- Hổng được đâu anh Hai! Chuột chết nổi lình bình. Mình ở dưới này vài giờ mà có ló lên cũng không chạy nổi, nói chi cả ngày.

Thằng Thưng lỡ miệng nói tài nên không dám rút lui, đành bặm môi tụt xuống. Nhưng vừa chui vô nó liền trồi ra và vọt lên, vuốt mặt lia:

- Mẹ, con gì chết sình, thúi muốn bể lỗ mũi.

Ba Tâm đậy nắp lại và giải thích:

- Từ hồi đào tới giờ tôi không có xài lần nào.

- Vậy làm chi cho mất công?

- Thì ở trên kêu đào thi đua với các xã khác thì tôi cho đào. Chớ tụi tôi chỉ xài hầm bí mật hai, ba người vô một cái thôi. Còn cái nạn hầm chông nữa.

- Sao?

- Có sụp thằng nào đâu, chỉ dính gà nhà. Hồi đánh Tây, giặc đi bộ, bây giờ tụi nó chơi toàn trực thăng nhảy cóc.

Cậu Thành lãnh trách nhiệm đi thám thính. Thời may hầm còn khá nên Thành ở dưới đó. Tôi ngồi hút thuốc với Ba Tâm trên miệng hầm.

Ba Tâm than từ ngày Ba Xây bị bắt, du kích tán lạc, anh ta phải cáng đáng mọi công việc. Du kích không nghe lệnh xã đội, mạnh chú nào chú ấy tìm cách sống riêng biệt, gặp mặt họ là chuyện khó, đừng nói kêu đi dân công. Bỗng có tiếng của Thành ở tuốt đằng kia kêu:

- Anh Hai ! Anh Hai!

Tôi và Ba Tâm chạy lại. Thành trồi lên.

- Sao giỏi vậy? -Tôi hỏi.

- Em tìm được ngách lên ở đây.

- Bộ có một khúc đây sao anh Ba?

- Dạ chỉ được chừng một trăm thước.

- Tốt lắm.

Thành leo lên, lấc đầu:

- Có con rắn tổ nái, đen ngời.

- Rắn gì?

- Ai biết rắn gì. Cũng may, em sợ nó mà nó cũng sợ em. Hai bên cùng lủi.

- Bậy quá. Phải bắt được nấu cháo tẩm bổ!

Ba Tâm vui mừng vì đã cho tôi được một khúc "địa" còn xài được. Anh lại dắt tôi đi coi tiếp:

- Khúc này ở giữa bãi hoang. Hồi trước tụi tôi đào gặp nhiều xương dữ lẩm. Nhưng lỡ đào một quãng rồi, không thể bỏ nên đào luôn.

- Xương gì?

- Xương Cao Đài. Cả chục bộ.

- Cao Đài ở đâu đây?

- Mấy ông già bảo là hồi kháng chiến, ông hai Bứa (tức Nguyễn Hồng Lâm, phó tư lệnh ban chỉ huy R, hiện nay là em nuôi ông Ba Tô Ký) xử tử Cao Đài ở đây. Ổng xỏ mỗi xâu cả chục người đào lỗ, đâm rồi xô xuống lấp đất. Nhiều người còn sống rên la dưới đất, trong xóm nghe lồng lộng cả đêm. Sáng hôm sau, ổng cho dân quân vác xà-beng ra xom cho thiệt chết.

Tôi lắc đầu:

- Như vậy không được.

- Tại sao?

- Mình chui "họ" sẽ mách cho lính đào bắt.

- Họ chết lâu rồi mà anh.

- Nhưng hồn họ còn thù.

- Anh nói gì kỳ cục vậy?

Còn đang dang ca, bỗng có tiếng réo thất thanh:

- Chú Ba ơi ! Chú Ba !

- Cái gì vậy ?

Tôi ngó về phía có tiếng réo. Thì ra cô Chạnh. Cô ta mang cái bụng bầu lạch bạch tới:

- Anh Hai có y tá đi theo không?

- Cái gì mới được chớ? -Tôi quát.

Chạnh nói tức tưởi:

- Con nhỏ trong xóm trại Giàn Bầy, chăn trâu bị lựu đạn nổ nằm ở bờ đập.

- Lựu đạn gì ?

- Lựu đạn gài... Anh Hai mau đi tới coi còn cứu được không? Miểng ghim vô đầu còn ngáp ngáp, còn con trâu chết tươi ơ... ơ....Tan xác.

Ba Tâm bảo tôi:

- Không phải lựu đạn đâu anh Hai. Nếu lựu đạn thì con trâu không chết. Đó là đạn 105.

- Trung Hòa bấn sao mình không nghe?

- Cà-nông lép, mấy thằng ông nội đào về "cải tiến" rồi đem gài.

Tôi ớn quá. Mấy thằng ông nội sẽ giết cả tôi chớ không chơi. Tôi nói với Ba Tâm:

- Một khúc "địa" đó cũng được rồi anh Ba, để tôi đi xã khác.

(Phải ớn mấy thằng ông nội mới được. Tụi nó gài dính bồ nhà không ít. Chính Năm Tiều đã chết vì tay tụi nó. Riêng tôi năm 69 cũng suýt lãnh một quả nguyên. Ông Ba Kiên E trưởng Q16 và gạc đờ co tên Ngọc ẵm một quả mìn. Rồi năm 70 cũng một em bé gái chăn bò chết vì một quả DH10 gài trong lùm tre ấp nhà việc xã Trung An, con bò chỉ còn cái bọng, cả người em tan nát bay dính đầy bụi tre, thịt xương gom lại không được một bao bàng).

Tiếp tục cuộc dò xét địa hình, tôi dắt cả đoàn đi xuống Gò Đình, Bàu Tròn và Bàu Lách. Thăng Cu tiếp tục đưa đường. Nó hỏi tôi bằng giọng giễu cợt, đớt đát:

- Cái hầm em giấu anh có "gọng"... không anh Hai?

- Mày là thằng quỷ à nghen ? Báo hại cô Chín bỏ đi mất.

- Vậy còn anh Hai với chị Tám, hầm "gọng" dễ thở chớ sao! -Rồi nó nói- Anh đừng có qua Bàu Lách vội!

- Sao vậy?

- Bên đó bây giờ đâu còn ai.

- Thằng Năm Cội đâu?

- Rụm rồi.

- Tại sao? -Tôi bàng hoàng cả người, tưởng như vừa bị thương.

- Xe tăng hay cà nông gì đó không "gõ".

- Cà nông Trung Hòa hay Đồng Dù?

- Nghe nói của ảnh chế biến. Gài rồi đạp.

- Hừ... sao kỳ vậy?

- Em đâu biết tại sao? Mà chuyện đó cũng xảy ra hoài chớ bộ mới ảnh sao!

Cu là lính công trường 9 hẳn hòi bị thương, suýt cưa giò, vết thương lành cà thọt từ R về đây được Ba Tâm sắc phong là du kích. Nhưng bà con không biết thành tích của nó tưởng là lính đào ngũ, nên gọi nó là "dích cu" chớ không phải nó tên Cu. Có lần chỉ huy đám du kích đêm không xong, nó nổi dóa bảo.

- Tao là xạ thủ RPD của B1, Cl nghe tụi bay, không phải "dích cu" đâu mà lấp lửng.

Từ đó nó mới được du kích tín nhiệm.

- Về đây có tính chuyện với cô nào chưa? -Tôi hỏi Cu.

- Nhà em ở Gò Nổi Trên, em bỏ vòi qua Gò Nổi Giữa, cũng sắp xong rồi, nhưng ông già con nhỏ lại ra ấp chiến lược Lào Táo nên nó phải đi theo.

- Vậy là sút vòi à? Thằng Thuận chen vào.

- Nó thỉnh thoảng cũng có về trong này.

- Ở ngoài đó bị tụi thằng Rác cặm dùi rồi.

- Mày phải dời nhà xuống "Gò Nổi Dưới" thì mới rình tóm nó được, chớ ở "Gò Nổi Trên" không có địa hình. - Thuận tiếp.

o O o

Cuộc nghiên cứu này kéo dài một tháng, bàn chân tôi dẫm khắp Củ Chi. Tôi đã vẽ năm chục sơ đồ, dự án trên các xã Trung Lập, An Nhơn, Nhuận Đức, Phú Mỹ Hưng, An Phú, Lộc Thuận, Đôn Thuận đem về trình cho ông tham mưu phó Vũ Ba được ông khen:

- Cậu khá lắm!

Đó chẳng khác nào những bàn cờ thế. Người thế cờ đã dàn quân trước: "Trận địa của tôi như vậy đó, ai muốn chiến thì nhào vô!"

Ai thuộc tủ thì thắng. Đối Mỹ cũng vậy, nhưng ít khi chúng nó hành quân rơi đúng thế cờ của mình, mà ngược lại mình luôn luôn bị động vì cái thế cờ luôn luôn luân chuyển bằng cơ giới của chúng.

Nhưng cái chuyện đáng buồn nhất, như "dã tràng xe cát biển Đông, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì", là khi đệ trình lên ông Ba Xu, tư lệnh thì mười lăm ngày sau tôi được một mẩu giấy viết tay phê với những chữ:

Công tác chuẩn bị chiến trường rất tốt, nhưng tuyệt đối không được cho bộ đội ém hầm bí mật hoặc xuống địa đạo.

Chữ "tuyệt đối" gạch đít hai lằn đậm, và cuối cùng mẩu giấy có câu tái bút:

"Đồng chí tham mưu trưởng D sang gặp tôi ngay".

Thế là ông Thiên Lôi lại băng sông Sài Gòn, bụng nghĩ mãi không ra chuyện gì.

Tư Nhựt cười hề hề :

- Ổng kêu thầy sang làm phò mã đấy! Đi mau lên!
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 102057
Has thanked: 35654 times
Have thanks: 49460 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 4th, 2018, 2:13 pm
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: 2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Quyển 1-7)

Postby DaMinhChau » July 6th, 2018, 10:31 pm


Chương 80

Cấm xuống hầm, nhưng chính ông tư lệnh lại chui hầm và chết dưới hầm




Tôi sang sông đang cong lưng đạp xe thì có tiếng kêu từ ven rừng:

- Anh Hai!

Tôi chạy chậm lại và ngoảnh nhìn sang. Một bầy tiên cô vừa vẫy tay vừa chạy, trong số tôi nhận thấy Thảo, cô bé nấu cơm cho K20, tức phòng chính trị của Tám Quang và Tám Hà. Thấy Thảo quen với tôi, mấy cô kia dừng lại và tản ra hai bên chớ không tới gần tôi nữa. Sau vài câu thăm hỏi, tôi dắt xe tạt vào ven rừng. Thảo nói ngay:

- Tụi em vừa qua bên này bị một trận B52 suýt chết.

Thảo là con gái Bình Dương, đất nổi tiếng có nhiều gái đẹp. Thảo cũng mê giải phóng, tưởng vào khu sẽ mang túi dết đi tuyên truyền, đứng nói trước mi-cờ-rô cho đồng bào nghe nên bỏ trường theo ông Thọ. Chẳng ngờ vô đây bị giao cho tuyên truyền các cụ táo quân. Buồn tình ca, Thảo muốn về, nhưng các chú dọa "tử hình". Rồi chú Tám nhận làm con nuôi. Lần tên Thiên Lôi gặp mấy ông lớn ở đó, Thảo tỏ tình và muốn Thiên Lôi tháo cũi xổ lồng nhưng làm sao nổi. Thảo đang ở trong hang cọp.

Tôi kéo nàng ngồi xuống mép giao thông hào cạn nhách, thủ thỉ :

- Anh qua An Thành là nhớ em.

- Còn ở bên Củ Chi không nhớ há?

- Ở đâu cũng nhớ hết.

- Nhiều đêm em khóc. .. Anh còn giữ chiếc khăn kỷ niệm của em không?

Nhiều khăn kỷ niệm quá, tôi đâu có nhớ khăn của ai, còn hay mất, nhưng cũng ừ đại:

- Anh xếp cất trong ba lô.

- Đâu đưa em coi.

- Cái ba lô kia cà, cái này anh chỉ đựng ít đồ để vượt sông cho nhẹ.

- Lâu lâu anh có lấy ra xem không? Đừng có giặt nghe!

- Giặt mất mùi sao?

Đâu có thời giờ mà nói chuyện nọ chuyện kia. Thảo bỗng nổi giận:

- Anh tệ lắm.

- Sao?

- - Bảo móc em ra mà cứ hứa cù lần.

- Ở đâu cũng công tác cách mạng chớ khác gì, em.

Thảo sụt sùi khóc. Tôi biết cái ngón con nuôi của các bố chú rồi. Ông nào cũng bỏ cái ngón "tồn liu", "liu tồn" đó thôi.

- Con Thanh bị bắt với ông Tám Nghi rồi, anh có hay không ?

- Trời đất !

- Xe tăng càn rồi lính moi bắt ở trại Bà Huệ.

- Còn ông Năm Lê?

- Ổng đi hội nghị trên khu nên thoát. Ông Sáu Gấm bị B52 chết ở Dầu Tiếng, ông Hai Phần (Trần Hải Phụng) đau tim về R... Anh cứu em đi. Không thôi mai mốt chú Tám Quang về Rừng Sát, chú bắt em theo là hết gặp đó.

- Cách mạng thành công, mình gặp nhau trong vinh quang.

- Vinh quang gì, mấy chú kỳ thấy bà.

- Chú nào, có chú, chớ chú nào cũng kỳ hết sao?

- Chú nào cũng như chú nào!

( "Chú " chỉ khác "chó " có chữ "u" thôi)

- Sao anh không hứa với em đi? -Thảo gắt.

- Em không sợ "chú Tám" bỏ tù anh sao?

- Hứ! Em muốn có con với anh ngay bây giờ nè.

Mép bờ giao thông hào phút chốc hóa thành thiên thai. Khi vác xe đạp ra tới đường, tôi tưởng đã xa trần gian một thế kỷ. Thảo cứ nắm chặt lấy tay tôi:

- Em không cho anh đi ! Em không cho anh đi. Em sẽ theo anh luôn!

Nắng chiều vàng nhạt lấp loáng trên mặt sông. Đường trần gian lồi lõm gập ghềnh. Trần Thị Thanh Thảo của ba mươi năm xưa giờ còn sống hay chết? Gót Chàng, Phú Trung, Bến Chùa, Bến Súc và... là những mảnh đất từng in bóng hình em bên anh.

Ra khỏi thiên thai lại vào thiên thai khác. Cái sân gạch của dì Ba ấm nắng, tôi đã bước qua vài lần. Lần này không ngại chân. Khánh đã đứng ở cửa tươi cười:

- Em đợi anh từ hôm qua tới nay. Dượng bảo ra đón anh.

Bàn ghế, mọi trang trí trong nhà vẫn còn y nguyên. Chỉ có Khánh là thay đổi. Nàng chưng diện hơn lần trước tôi đến.

Khánh nắm tay tôi lôi vô và ríu rít nói:

- Anh không nhớ em gì hết... Anh ở lại đây chơi vài ba ngày coi có được không... Nhà em cũng là nhà anh... Má em thương anh lấm, bộ anh không biết hay giả đò không biết?

Tôi đáp:

- Chỗ tổng hành dinh tư lệnh mà em nói như đùa.

- Xí tổng hành... Chòi chớ dinh gì! Đây là nhà của em! Ổng ở đậu chớ nhà gì của ổng.

- Nói ngang như em thì mười cái đầu anh cũng bay.

- Anh sợ ổng chớ em hổng ngán ổng đâu. Ổng có vợ có con, vợ ổng là bạn của má em, vậy mà ổng còn lem nhem với má em. Tại tui em thương má nên mới để ổng ở đây chớ nếu không thương má thì tụi em tống ổng ra rồi.

Tôi đưa tay bịt miệng nàng. Nàng cắn tay tôi. Tôi để yên cho nàng cắn. Mấy khi da thịt trần tục được răng ngọc nàng tiên ngoạm, êm dịu phải biết.

Nàng kéo ghế cho tôi ngồi, rồi kề sát mặt thủ thỉ:

- Mỗi khi đi ngang qua giường liếc thấy hai cặp chân ló ra vách mùng, em tự hỏi: sao anh với em không được làm như vậy. Em ao ước được nằm kề bên anh. Cuộc đời ngắn ngủi, nhất là trong chiến tranh. Anh có nhìn thấy chung quanh đây không, tất cả đều bị sát phạt - nàng pha tiếng Pháp- Chỉ còn cái lõm này thôi. Nay mai rồi tới phiên nó. Lần tới anh về sẽ không biết mộ em ở đâu mà tới khóc.

Khánh rời ghế, nàng bước lại ngồi trên đùi tôi, áp mặt sát mặt tôi:

- Anh hứa đi, anh yêu quý của em!

- Ừ... ờ...

Bỗng có tiếng guốc từ trong buồng đi ra, rồi tiếng nói:

- Sao dám chặn khách của tôi vậy cô?

Khánh quay lại:

- Ai gặp trước làm việc trước chớ ông Tư Lệnh.

Tôi nâng Khánh dậy và đứng lên chào kính:

- Anh Ba khỏe?

- Sao coi cậu hốc hác vậy?

- Da, sáng tới giờ chỉ có nấm mối với lá lốt dồn bụng.

- Hậu cần đâu?

- Họ bị B52 tán hoán hết rồi!

- Thằng Đồng chết lãng nhách! -ông Tư Lệnh vừa nói vừa ngồi đối diện tôi- Con vô nấu món gì cho anh con ăn - rồi quay lại tôi- Tháng Châu Thái Hùng này lộng quá lắm. Nó bắt chủ lực quân xay lúa giã gạo ăn như du kích à? Thôi việc đó để tao tính sau. Bây giờ tính việc trước mắt.

Ông Tư Lệnh vừa dứt lời thì bà "chánh ủy" xuất hiện. Áo lụa trắng, da thịt nõn nà, tóc tai không mấy vén khéo. Bà bước lại ôm chầm lấy tôi rên rỉ, khóc lóc:

- Sao con ốm tong ốm teo vậy con. Tụi nó ăn hết gạo để con húp cháo phải không con? Quần áo con sao rách rưới vầy há con? Hu hu...

Bà khóc thiệt, không phải bôi cù là vào mắt như Hồ Chủ Tiệm khóc Dương Bạch Mai.

- Đánh giặc mà chịu đói chịu khát, còn ông ngồi nhà ngày nào cũng cơm bưng nước rót mà không biết lính sống cực khổ ra sao. Mà hở cái là hò hét "xung phong lên" ! Lại còn xúi con người ta vác mút cơ tông đánh đồn xây bằng gạch đá. Súng gì không bắn được phải tháo dây lưng quần con gái giật cò.

Bà "chánh ủy" bù lu bù loa, tố khổ giùm cho lính. Tôi nghe thiệt mát bụng. Nếu trong cuộc kiểm thảo với Tám Quang thì chúng tôi không đời nào dám hé môi nói về những đòn tàn nhẫn đó. Ông Tư Lệnh ngồi nghe, cặp môi giựt giựt. Có lẽ ông biết bất cứ chống đỡ cách nào ông cũng bị bà "chánh ủy" cả vú lấp miệng... ông ngay, nên quay sang:

- Con Khánh, con Ngọc, đứa nào vô buồng lấy cái sắc cốt ra cho dượng chút. Hồi còn trẻ, tôi cũng đánh giặc phong trần như nó vậy thôi.

- Nhưng hồi đó bom đạn ít.

- Bà đi vô nấu món gì đặc biệt cho nó ăn.

Bà "chánh ủy" coi hung dữ nhưng cũng biết phục thiện, nhưng trước khi đi vào bà còn ra lệnh cho ông Tư Lệnh:

- Ông để nó ở đây cho tôi, đừng có xua nó đi sớm nghe !

- Chuyện người ta khẩn cấp chớ chuyện nấu cơm sao!

-Xí! Chuyện gì các ông cũng khẩn cấp hết á ! Tụi nó chết chớ mấy ông tư lệnh tư lọt có trầy miếng da nào.

(Bà "chánh ủy " rủa vậy nên sau này ông Tư Lệnh tiêu dên không hốt được miếng thịt).

Tôi định thừa lúc rỗi sẽ hỏi anh Ba về vụ ông Sáu Di thọ nạn ở Long Nguyên cho ra ngô ra khoai như thế nào, nhưng cuối cùng tôi nghĩ lại, không nên hỏi làm gì.

Một chốc yến tiệc dọn ra. Thôi thì đủ thứ đồ ăn do ba em Mai, Khánh, Ngọc chế biến dưới sự điều khiển của dì Ba, ngoài ra còn đồ hộp Sài Gòn. Dì Ba thương tôi thiệt tình chớ không phải lợi dụng. Thật ra tôi có gì để dì lợi dụng? Dì muốn tôi ăn "rắp ben" cả những ngày thiếu thốn vừa qua, nhưng có hai nàng ngồi bên cạnh nên tôi cũng chỉ "hử như mèo" tỏ ra đây cũng là kẻ hào hoa phong nhã chẳng kém dân Sè Goòng.

Cơm nước xong, chỉ còn tôi và Tư Lệnh. Anh móc bản đồ trong sắc cốt trải ra. Chỉ rất nhanh bằng mũi viết chì. Mắt tôi thu nhận chưa kịp thì anh đã xếp lại và bảo:

- Về nhà kiện toàn ngay đơn vị. Đường hành quân rất dài. nhưng kỳ này vũ khí thật tối tân sẽ tới tay các cậu. Đây là trận chiến cuối cùng.

Tôi tưởng sẽ có một cuộc pháo kích Đồng Dù quy mô hơn, chàng ngờ đó là trận tổng công kích vô cùng đẫm máu chỉ còn vài tháng nữa, mà cái chết của tên đại tướng bần cố nông là điềm gở báo trước cho lão Hồ. Trời nhá nhem tối, tôi đứng dậy cáo từ.

Dì Ba níu kéo, Mai Khanh khẩn khoản. Ngọc đứng ở cửa buồng lặng thinh. Ông Tư Lệnh bảo:

- Thôi để cho người ta đi, khóc lóc cái gì?

- Ông cô con đi lính đâu mà ông thương?

Khánh thực tế hơn, để cho ông bà đấu khẩu, nàng lôi tay tôi ra trước sân, đứng bên bụi bông trang trong bóng tối vừa phủ xuống.

- Anh hứa đi rồi em cho anh đi.

- Hứa thì dễ lắm em à ! Nhưng giữ lời hứa là chuyện khó.

- Sao lại khó? Chỉ khi nào anh không yêu em thì lời hứa mới khó khăn thôi.

Tôi nói nước đôi (như Nixon nói trong bài lễ nhậm chức tổng thống mà đài BBC Luân Đôn nhận định là một cách nói nước đôi tài tình. Nghĩa là người nghe có thể hiểu thế nào cũng xuôi cả):

- Anh yêu em hay không yêu em, em biết rồi. Còn việc. . . đó thì phải từ từ.chứ không thể nhanh chóng được.

- Em chỉ muốn em là hôn thê của anh thôi.

Có lẽ Mai đứng bên trong nghe tới câu đó nên sợ "cuộc chiến kết thúc bất lợi cho phe ta" nên lên tiếng... ho. Và đó là cơ hội giúp tôi trì hoãn.

- Có người tới.

- Tới tới! Chị Mai cũng yêu anh nhưng má định gả em cho anh.

Mai lớn tuổi hơn Khánh. Mai đằm thắm hơn. Còn Khánh thì "à la Saigonaise" nên cử chỉ rất là hiện sinh.

- Thôi đành hẹn kiếp sau vậy -Tôi nói thầm trong bụng- Anh là một tên lính lê dương không biết đâu là nhà, sanh vô gia cư, tử vô địa táng, em yêu làm gì cho khổ.

o O o

Chiến trường ngày càng trở nên ác hệt. Đất Củ Chi, cửa ngõ của Sài Gòn không còn chỗ nào yên ổn để dưỡng quân. Chúng tôi phải dạt qua Trảng Bàng ở đậu Chín Hung (cháu ông Mười Huệ, Bến Tre), lắm lúc phải lên tận Rừng Tre, Cầu Xe, Trảng Cỏ để dung thân. Anh Cả Đỏ và Tia Chớp Nhiệt Đới liên tục "bủa lưới phóng lao" chúng tôi. Không ngày nào là không có tiếng bom pháo nổ bên tai.

Một hôm tôi và Tư Nhựt ngồi ngoài rừng uống trà bàn về chuyện hai cặp oan ương Đoàn Tâm, Út Siêng và Vũ Ba, Năm Đang.

- Tội nghiệp hai ông Tâm và Ba, bốn mươi tuổi đầu mới lên xe hoa.

- Giỡn cha ! -Tư Nhựt nói- ông Vũ Ba góa vợ, còn Đoàn Tâm mới trai lơ. Trai lơ mà gặp cái "mang cá mè nhóp nhép" của bà út Siêng thì mê tít!

- Cá mè gì! Chồng bả đi Côn Đảo cả chục năm rồi. Để cái mang cá mè nó nhóp nhép hoài tội nghiệp.

Tư Nhựt nói:

- Thôi thì xáp được cặp nào mừng cặp nấy cho đời đỡ lạnh. Để như tôi đây "cám treo để heo nhịn đói"! Một năm trời về hạ được cái đồn Thầy Mười rồi làm "cú đứng" ngoài vườn.

- Ê tôi không có kinh nghiệm nên thua ông.

- Bộ phò mã mà cũng gian nan vậy à?

- Phò mã chưa có áo mão nên còn đứng dựa bụi bông trang! Ê, cú đứng có hay không ta?

Tư Nhựt trút chung trà vào miệng nuốt ực, rồi vừa sặc ho liên miên vừa nói rướn:

- Làm bậy đõ ghiền chớ đã điếc gì!

Bỗng thằng Thưng chạy vô hớt hãi:

- Tụi tôi bắt được một con "canh tơ" (indicateur: tên chỉ điểm).

Tư Nhựt đứng dậy gầm lên:

- Lôi đầu đem bắn nó đi. Mình bị B52 là vì tụi này.

- Đâu đem vô đây coi! -Tôi bảo.

Nó ngất xỉu ngoài ven rừng.

Tôi chạy theo Thưng. Được lệnh Tư Nhựt, Thưng vừa đi vừa lên đạn AK rong róc. Ra tới nơi, thấy một nàng nằm dựa gốc cây, mắt trợn ngược. Tôi kêu lên:

- Là! Em đi đâu đây?

Không thấy tiếng đáp, tôi bảo Thưng:

- Đi kiếm chút nước. Không phải "canh tơ" đâu em ! Xã đội phó xã Mỹ Hưng đó.

Sẵn bi đông bên lưng, Thưng vạch miệng Là rót nước, còn bao nhiêu rưới lên mặt. Giây lâu Là hồi tỉnh. Mắt nàng nhìn tôi trân trân:

- Anh đi cứu dượng Ba mau.

- Dượng Ba nào?

- Dượng Ba tư lệnh chớ dượng Ba nào?

- Ở đâu?

- Ở chỗ cái hầm... hầm... - Là quơ tay và tắt tiếng.

Tôi hiểu ngay đó là cái hầm ở gốc cây... kỷ niệm khi tôi về Củ Chi lần đầu tiên, nàng dẫn tôi đi "nghiên cứu" trận địa.

Tôi trở lại gặp Tư Nhựt. Chỉ trong vòng 15 phút, đích thân tôi dắt một đại đội đi cứu chúa. Tư Ếch và Năm Đầu Ban cùng đi với Là nhưng bị cảnh vệ giữ lại ở ngoài rìa rừng. Bây giờ kéo ngọn dắt chúng tôi chạy.

Một cuộc chạy đua mù mịt, liền sáu tiếng đồng hồ. Tôi không cần biết có bao nhiêu lính rụng lại phía sau. Chúng tôi theo con đường cũ của Là vừa vạch ra. Sau này Là cho tôi biết nàng đã ra Sa Nhỏ, qua Cỏ ống thì đồng bào bảo đơn vị đã đi về hướng Cầu Xe. Nàng tới Cầu Xe thì người ta lại cho biết chúng tôi đã biến về phía Trảng Cỏ. Nàng phóng tới Cây Da thì gặp C3 đang đào công sự ở đó. Họ cho biết ban chỉ huy D ở trên Trảng Sa.

Băng qua lộ 6 xuống Rừng Tre, chúng tôi đến nơi, ghé quân y Tư Chuyền bắt thêm một y sĩ mang theo bình dưỡng khí .

- Ổng ở dưới đó mấy ngày rồi? -Tôi hỏi Là.

- Hơn hai ngày.

- Ai đưa ổng tới đó vậy?

- Còn hỏi nữa!

- Cách đây mấy hôm anh gặp ổng ở bên kia sông.

- Ổng mới chạy B52 qua đây. Đến nhà mình lúc nửa đêm, đập cửa hỏi hầm. Em dắt ông đi ngay ra đó, chớ đâu có hầm nào nữa.

- Ai xuống với ổng?

- Một cần vụ thôi. Ổng vừa xuống thì sáng hôm sau tụi nó chụp ngay trân. Đóng chốt luôn không rút. Anh phải quạt tụi nó thì mới móc ổng lên được.

Tôi kêu thằng Xướng chặt tre làm cáng. Lúc đi hối hả không nhớ gì hết. Chỉ có "con buồi" là không quên bỏ lại thôi.

Trời lại mưa mới khổ chớ!

Trực thăng quần trên đầu. Chúng còn chốt ở đó. Tư Ếch và Năm Đầu Ban thổ địa dắt đường. Tôi bàn kế hoạch qua loa rồi cho pháo. Cứ bắn già vào đội hình của chúng chớ không cho bộ binh xung phong. Tụi Mỹ chỉ phản công yếu ớt không có pháo Đồng Dù trả hỏa. Tôi có linh tính là ông Tư Lệnh đã thối ra ma rồi. Ba ngày ở dưới đó chịu sao thấu. Cũng may chiều tối hôm đó chúng rút toàn bộ. Trực thăng Chinook tới câu luôn cả bùng nhùng và công sự xi măng. Đại bác được câu lên sau cùng. Như vậy chúng đã bỏ chốt, chứ nếu chúng thay quân, chốt tiếp, thì ông Bốn, Năm, Mười Xu cũng lìa đừng nói Ba Xu.

Cho trinh sát tới trước dò xét an ninh rồi tôi ra lệnh công binh tới tìm miệng hầm. Trời mưa lầy lội lại thêm xe tăng càn nhẹp cây cối, dấu tích cũ không còn nguyên nên mãi một tiếng đồng hồ sau cả tiểu đội bới móc mà cũng không tìm ra. May nhờ Là nhớ cái cây có chừng hai bên miệng hầm kỷ niệm nên tìm thấy khung gỗ ló cạnh. Cũng may là xe tăng càn ngang mà không sụp. Cái nấp hầm thật chắc.

Thằng Xướng tay móc được cái khoen dây chì rồi ra sức lôi bật lên. Một tiếng "ồ" vang lên. Đó là không khí tràn xuống hầm.

Tôi rọi đèn pin. Thằng Xướng vọt nhanh xuống hầm, rồi trồi lên, nhắm mắt hả họng "ngộp quá!". Nó lại một hơi dài rồi giật cái đèn pin trên tay tôi chui xuống. Chừng vài chục giây nó lại trồi ra, báo cáo:

- Hai người nằm dưới bùn. Chỉ mặc quần tiều.

- Em coi còn cái ngách nào dưới đó không?

- Có nhưng ổng chỉ xuống có hai người thôi.

Xướng lại nói:

- Ngộp quá, hôi thối chịu không nổi.

- Vô coi ông còn thở không?

Xướng lại chui rồi ló lên. Tôi quát:

- Còn thở không?

- Còn.

- Lôi ra miệng hầm ngay. Lôi anh Ba trước.

- Chân ổng quay ra ngoài.

- Cứ nấm lôi đại. Mau lên kẻo trực thăng trở lại thấy đèn, nó bắn bỏ mạng.

- Anh kêu đại liên chuẩn bị, hễ nó tới thì chơi .

Xướng ném trả tôi cái đèn pin rồi thụt vô hang. Ỳ ạch lui ra, chui vô hai ba lần, nó lắc:

- Nặng quá, bùn trơn nắm trợt lớt không lôi được. Anh tìm cho em sợi dây.

Nhờ sợi dây nịt da (như sợi dây lưng quần cô dân công) thằng Xướng lôi được chân ông Tư Lệnh ra miệng hầm. Tôi rọi đèn thấy hai bàn chân xanh lét. Thằn Xướng leo lên rồi hai ba đứa nắm sợi dây nịt rút lên, làm như con nít đẻ ngược, hai chân ra trước, cái đầu ra sau.

Thân người ông lên tới đâu chúng tôi nâng đỡ tới đó và xếp hai tay ông vào bên hông để khỏi vướng miệng hầm vốn rất hẹp, chỉ vừa thân người lách nghiêng’ mới lọt. (Vậy mà những tên nhà báo bất lương dám viết rằng ông Tám Lê giải phẫu thương binh, đỡ đẻ dưới hầm, làm sao đàn bà chửa và thương binh xuống hầm được. Bọn này ở đâu, hãy trả lời giùm).

Lên được trên mặt đất rồi thì mọi chuyện đều dễ dàng. Ông Tư Lệnh đã tái sanh.

Nằm trên mặt đất, ông Tư Lệnh... thật thảm thương!

Ông đã sống sót bên cạnh ông Sáu Di, nay lại chết hụt lần nữa. Nhưng lần sau Mậu Thân ông chết thật. Không như cô Thiên Lý chết dưới sông được chúng tôi cứu sống và về thành.

Y sĩ làm việc một chốc, dượng Ba tỉnh dậy. Tôi cho khiêng đi ngay về Trảng Cỗ để quân y tiếp tục săn sóc.

Húp xong muỗng sữa đầu tiên, ông hỏi:

- Ai đưa tôi xuống hầm vậy?

Tôi đứng cạnh đó không biết trả lời sao cho tiện. Vì có lẽ ông chưa lãng trí để có thể quên ai là người đã ký lệnh. . . với hai lằn gạch đậm đen mới hôm nào.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 102057
Has thanked: 35654 times
Have thanks: 49460 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 4th, 2018, 2:13 pm
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: 2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Quyển 1-7)

Postby DaMinhChau » August 18th, 2018, 11:20 pm


Chương 81

Những người con gái mang danh hiệu anh hùng rởm
và đạo quân đầu tóc Củ Chi
được treo bảng vàng danh dự trong nhà .




Cái việc làm bịp bợm của tên tướng đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh "phong cho Nguyễn Thị Định là phó tư lệnh Quân Giải Phóng" và danh hiệu dũng sĩ (rởm) do ai bày đặt không rõ đã kéo theo được tử sĩ đàn bà con gái. Tội nghiệp thay cho những cô em ham làm tướng ếch, tướng nhái mà vỡ bụng nối đuôi nhau rửa chân lên bàn thờ. Sau đây là một số chị em ta tôi có biết hoặc có nghe "danh"

Đứng đầu bảng vàng rởm là nàng Tư Bé, huyện đội phó, 19 tuổi, một cô gái cộc kệch quê mùa ở Bàu Trân đánh xe bò, cha mẹ không cho đi theo du kích, nhưng bé ham danh hiệu dũng sĩ, nên một đêm trốn gia đình thoát ly. Trong lúc đám dũng sĩ rởm tan hàng, bọn huyện ủy không còn ai để làm "công tác chính trị" nên đã bơm cô bé chăn bò lên làm huyện đội phó. Tội nghiệp thay, nào biết gì chiến thuật quân sự, nên lớ ngớ đã bị Mỹ đuổi bắn chết ở Đồng Lớn năm 1968 ít lâu sau Mậu Thân.

Mang số hai, ngay sau cái ngày kỷ niệm đó, cô Bảy Nê, đội trường du kích Củ Chi được tên trưởng phòng chính trị Quân Khu Tám Quang, tay lẻo mép số một, phong cho danh hiệu "đội dũng sĩ" đã bị Nhân Dân Tự Vệ bắn chết trong trận đột nhập ấp chiến lược Cây Bài thuộc xã Phước Vĩnh Ninh năm 1969, sau khi lên thay cho cô Tư Bé trong chức vụ huyện đội phó. Cô có ý trả thù cho em trai là thằng Lợi trinh sát tiểu đoàn của tôi bị xe tăng bắn chết trên đường đi đánh trận Tân Quy, nhưng thù em không trả được mà lại gặp em ở tuyền đài.

Cầu thủ số ba là xã đội phó tên Là, người bạn gái thân mến của ông Thiên Lôi, sau khi Năm Thuận rút êm đi câu tôm bán lấy tiền nuôi vợ con ở ngoài ấp chiến lược Suối Cụt thì Là được ông bí thư Tư Thiên. phong chức xã đội trưởng. Nàng con gái mới hai mươi tuổi bị xe tăng ủi nhẹp hầm cùng với một số du kích xã nhà Phú Mỹ Hưng, không biết mồ mả ở đâu, cũng như chồng của chị ruột của nàng (Lụa) đi dân công Bình Long biệt tích không biết ngày giỗ quải. Với cái chết của nàng cùng ông bí thư Tư Thiên coi như xã Phú Mỹ Hưng không còn người lãnh đạo.

Kế theo là cô em Út Thành (số bốn), trẻ hơn Là một tuổi quê ở Trung Lập Thượng, được ở trên khen thưởng thành tích khiêng thương và cũng chết trong lúc tải thương trận Suối Cụt năm 1967.

Số năm thuộc về cô gái tên Năm, quê ở Bến Cỏ, thị xã Phú Hòa Đông không chết, nhưng bị thương tàn tật suốt đời bỏ Củ Chi về Sài Gòn (sau có gặp lại tôi ở Châu Đốc) . Đây là một người con gái đẹp, nước da trắng, có đôi chân vũ nữ, nhưng tiếc thay...

Tiếp theo dòng nữ nhi lên bàn thờ là cô Thu (số sáu), y tá 20 tuổi bị pháo bắn chết.

Cô Hiền (số bảy) bị Mỹ khui hầm bắt sống.

Cô Lan (số tám) nhân viên điện đài phòng tham mưu bị Mỹ đánh chất nổ.

Cô Huê y tá (số chín) bị pháo bắn chết.

Cô Lan chị 18 tuổi (số mười) và cô Lan em 16 tuổi (số mười một) bị chôn sống cùng với mười hai nhân viên ban tham mưu quận trong xóm Bà Huệ trước cô Út Hương vài tuần. Út Hương là nhân viên văn phòng K30 hậu cần Quân Khu bị biệt kích bắn chết trên đường tải gạo Bến Chùa xã Thanh An, mười hai người chết chụm.

Út Mến chết chung với xã đội trường Là, nhưng mười ngày sau mới biết, trong lúc đó bé Hạnh, cứu thương quận Nam Chi (Củ Chi phía Nam) bị thương rồi bị bắt sống.

Duộc "dũng sĩ" này còn dài dằng dặc, nhưng đại khái cái chết cũng giống nhau, nên xin tạm ngưng... (pháo bắn chết, xe tăng, biệt kích, lựu đạn du kích...) để sang các bức tượng vọng phu bằng đất bùn của Củ Chi.

Cô Lụa, chị cô Là, con của má Hai ở Phú Mỹ Hưng, có chồng đi dân công Bình Long mất tích. Chị Tám Khỏe cũng đồng số phận nhưng chị có tới bốn đứa con. Mặc dầu con đông, nhưng chị còn đẹp gái. Thầy chú ngắm nghé cũng bộn, nhưng chỉ có chàng Ba Tố- D phó - à lọt mắt xanh của chị thôi. Ăn ở với nhau không chánh thức (vì giấy báo tử ông chồng đi dân công Bình Long chưa về, hoặc không bao giờ về), nhưng ai cũng coi đó là một cặp uyên ương. Lửa đang nồng, duyên đang đượm thì D phó Ba Tố cùng toàn bộ ban chỉ huy D8 lãnh một trái bom đìa tại An Phú. Chi Tám vừa khóc chồng chưa khô nước mắt lại phải khóc chồng. Phải chăng đàn bà con gái Củ Chi có nhiều nước mắt nhất thế giới?

Đau khổ nhất là chị Út Việt có chồng là đại đội trưởng cối 120 ly của D8. Vợ chồng mới cưới chưa hết tuần trăng mật thì anh Út lãnh một quả dưa hấu của cô hàng B52. Tội thay cô vợ trẻ ở xã An Nhơn Tây trở thành góa bụa mà không xây được mộ chồng.

Cô Mười có chồng là đại đội phó công trường 5 xác bón cây rừng ở Bình Long, trong lúc nàng là gái một con, còn hơ hớ thanh xuân, biết bao nhiêu ông cán tò vè... mà không ưng để về Sè Goòng lấy lính.

Chín The, chị ruột Mười, chồng chết hồi chín năm, sau lấy Sáu Phấn chính trị viên D H6 rồi cũng đến phiên theo ông theo bà năm 67, vì Mỹ đánh hầm ở Xóm Bưng. Đời bà hai lần làm vọng phu, lần trước chỉ tám năm, lần sau muôn năm !

Chín Kiểu cũng có chồng chết trong chín năm, nhưng gặp đại úy Hai Giả. Đau khổ thay, Hai Giả bị kỷ luật về chuyện tình ái lăng nhăng với bà, nên bị đày đi Thủ Đức rồi chết ở đây, trong hầm bí mật quốc tế, do lính Đại Hàn khui và ném tặng một cặp vú sữa made in USA banh xác.

Trong lúc chị Ba và chị Năm (chị ruột của Bảy Mô) đều chịu cảnh phòng không chiếc bóng, nhưng anh Ba chết trong chín năm, chịu cảnh góa bụa tới già, còn Năm Mai thì ôm con nhỏ lúc tuổi thanh xuân. Anh Năm lên bàn thờ không biết ngày nào.

Chị Hai Nguyện cùng quê với Năm Mai là Gót Chàng, chồng E trưởng Năm Tiều. Hai vợ chồng chê đất Củ Chi khó ở nên chỉ trong năm 70, kẻ trước người sau cách nhau vài tháng, rủ nhau xuống xin nơi xây tổ ấm đất Diêm Vương.

Hai Xót, Hai Tràng đều ca bài Hòn Vọng Phu chín năm. nhưng Hai Tràng thì yên phận thường dân, còn Hai Xót thì bị cách mạng phong cho chức khu ủy cặp bồ với Chín Lộc mắt toét, trướng quân báo khu.

Tám Mang có chồng chưa cưới là Năm Hoa, sắp cưới thì Hoa bị thương cụt cả hai chân. Cô nàng sợ cách mạng quy cho mất lập trường nên không dám từ hôn, nhưng không xáp vô nữa. Chàng ta buồn tình "dông" lên R. Hai năm sau cô em đẹp duyên cùng Hai Đồng, tham mưu trưởng 68 (to lắm), nhưng lại ở góa vì đức lang quân bị Mỹ bắt sống ở Sóc Lào.

Như vậy, kể ra cũng chưa bi thảm bằng nàng Hai Chạnh ở Ba Sòng. Chồng sắp cưới là thằng Chi, trung đội trưởng của D tôi, bị pháo Trung Hòa bắn chết trong trận pháo kích do tôi chỉ huy, tại Gò Nổi Trên. Sau đó lại tái giá với Tư Đồng ở F100 (công tác thành). Anh chàng này cũng văng dên trong Mậu Thân ngày Tết.

Hai chị em Ba Lội và Tư Thêm đều góa bụa. Chị Ba có chồng là Tôn Sứt, cán bộ của tôi, chết năm 67 lúc hai người đang sắp hát tình ca phối ngẫu. Còn anh Tư đã có một con với chị Tư nhưng anh không giận hờn vợ con gì hết mà lại đi Bình Long không về.

Ba Cấm, Bắc Kỳ di cư ở xã Trung Lập, rất đẹp, có chồng là Tư Bình, C phó của tôi, anh chàng chết ở trận Rừng Tre (tôi cũng suýt chết) trong lúc cô nàng mới 20 tuổi, chẳng bằng Bảy Lợi được một cục "để trên đầu trên cổ với người ta" rồi chồng mới thăng thiên.

Tuy vậy cũng còn biết ngày để giỗ quải còn hơn là chồng cô Hai Điển, 22 tuổi, có một con nhưng chồng công tác trên R, không rõ công tác gì (có lẽ đi săn thịt rừng phục vụ các tên đầu bò chăng ?) mất tích luôn (hay bị voi dày chết ?)

Cô Tám Lệ ở Đồng Lớn xã Trung Lập, có chồng là Bảy Phúc làm quân báo khu bị khui hầm năm 66. Xin độc giả nhớ tên người con gái xinh đẹp này để về sau còn tái ngộ.

Đặc biệt nhất là cô Út Xè, 22 tuổi mà đến ba đời chồng. Cứ ông này rơi càng tỏm, ông khác lại xung phong bịt lỗ châu mai, lại rụng luôn ống điếu, đến ông thứ ba là Út Hùng - B phó trinh sát D8-, quê ở Xóm Ràng xã Trung Lập cũng rớt giò heo luôn. Mỗi ông cách nhau trên dưới một năm.

Cô Hai Lớn, 23 tuổi nhà ở Xóm Ràng xã Trung Lập, chồng là Hai Huyền chết trong trận Bàu Dưng.

Cô Hai Chân, một con, xóm Trung Hưng, chồng là biệt động thành F100 chết trong trận Mậu Thân.

Đau đớn nhất là vợ ông Chín Câu - phó chính trị viên D -, cậu của Bảy Mô, tập kết về gặp vợ (đã ba con, thêm một thằng cu nữa) nhưng lại bị pháo bắn chết ngay sân nhà.

Cô Ba Lóng có chồng là Ba Hỹ bị biệt kích Lệnh bắn chết trong nhà năm 66.

Ba Bảnh, hai con, bán quán ở Sa Nhỏ chồng bị Mỹ bắt.

Út Siêng, hai con, ở Đồng Lớn chồng bị bắt, sau đụng ông chính trị viên D Đoàn Tâm trong lúc ở Xóm Thuốc.

Cái gáo Hai Hương đã sút cán từ lâu, bỏ trống nhưng không có "cán" mới tra vào.

Hai Cảnh có chồng ở công trường 9 chết mất tích.

Vợ Bảy Sơn và vợ Hai Khứ âm thầm chia buồn với nhau. Bảy Sơn xã đội trưởng Phước Hiệp chết trận ở Suối Cụt năm 68. Hai Khứ lên thay chết năm 69 vì lính E69 sư đoàn 5 khui hầm bắn chết trong lúc Hai Định, ấp đội trưởng Vườn Trầu bị Mỹ bắn chết năm 68 bỏ lại vợ và một bầy con

Thằng Ngọc, 20 tuổi, chết ở Tua Đồng Chùa bỏ vợ chưa cưới, là anh ruột của Lan đầu quăn. Ngọc có lần đèo xe đạp cho tôi đến Suối Cụt (ghé nhà ăn giỗ )

Cô Tư Lan, người yêu của "dũng sĩ" Năm Cội chết không rõ nguyên do năm 1966. Cội chết 67.

Hai Lắm - B phó C3 Dl - chết trận ở Suối Cụt năm 67 bỏ vợ hưởng tuần trăng mật một mình.

Năm Lê gốc ở Xóm Chùa xã Tân An Hợi, C trưởng C3 D7 chết ở Rừng Tre năm 68, bỏ lại một vợ một con. Tuy vậy cũng còn "vinh quang" hơn ! Thà là chết ở chiến trường còn hơn chết ở trên giường thê nhi như câu hò lơ trong kháng chiến. Ông Mười Thương chính trị viên xã đội Tân Phú Trung đi về thăm vợ là Tư Nguyễn ở xóm Cỏ Ống xã Lộc Hưng dẫm phải lựu đạn gài của đồng chí ta mà phèo ruột.

Út Hùng B trưởng thông tin chết chồng. Bảy Kỉnh chết năm 68. Ba Xưa có chồng là B trưởng trinh sát chết tại Rừng Làng. Cùng hàng B trưởng của Dl tôi có Ba Quyết, anh của nàng út Quắn ở xóm Dân Hàn. Quyết ra trận rất gan dạ. Vào trận Tân Quy bị bắn vỡ sọ ngay phút đầu khai chiến bỏ vợ và con trai ba tuổi. Nàng tái giá với Sáu Cương, vui duyên với ông C phó này được ngót một năm thì ông lại chết trong một chuyến về thăm vợ.

Cô Mỹ Linh, 20 tuổi ở Bến Cỏ, có chồng đi công trường 9 biệt tích.

Đau đớn nhất là chị Út Lan, chồng là Bảy No, D trưởng D7. Chị mới 21 tuổi rất đẹp, chưa có con, bị cấp trên ghen ghét nên điều anh ra Rừng Sát bỏ vợ phòng không. Anh bị giang thuyền bắn chết trên sông Lòng Tào năm 67.

Nhưng chưa đau khổ bằng Tư Nhựt và Sáu Thưa D trưởng Dl (tôi là tham mưu trưởng). Hai anh em cột chèo chết hết để hai chị em ruột nhỏ lệ canh chầy khóc phu quân bất tái lai vào lúc nửa chừng xuân thắm. Tư Nhựt bị bọn đầu bò phong chức E trưởng và phóng vào Sài Gòn, còn Sáu Thưa bị biệt kích bắn chết ở Bến Chùa.

Vợ Năm Thơm C trưởng và vợ thằng Mẫm C phó cùng chịu tang một lúc vì hai đức lang quân chết cùng một loạt FM ở trận Vườn Trầu.

Độc giả chịu khó đọc thêm một giờ đồng hồ nữa. Trí nhớ của tôi còn khá, tôi cố gắng ghi lại giùm cho bọn vô ơn Việt Cộng, kẻo chúng cho đám tử sĩ này vô một "túi mất tích" không thèm gửi giấy báo tử cho gia đình vợ con họ

Kẻ sợ pháo nhất thế giới là ông huyện đội trường Tám Giò, nhưng oái oăm thay ông lại chết vì một trái pháo lẻ (còn gọi là pháo mồ côi), nghĩa là chỉ bắn có một trái mà trúng ngay ông ta, ở Bố Heo xã Lộc Hưng. ông bỏ lại vợ và một bầy còn. Còn ông bí thư quận ủy là Một Sơn (tự là ông Thợ Thiến vì ông bí thư là cùng nghề với đồng chí tổng bí đao ngày nay), lại bị xe tăng đào hầm đánh chất nổ. Không nhớ anh đi trước hay em.

Trong các bà góa có một bà lớn... nhất. Đó là Út Lịa, chồng làm tới trung đoàn trưởng, nhưng mà bom đạn nào có nể ai. Ông quan năm đầu bò phơi xác ở trận Rừng Tre trong một cuộc ác chiến với Mỹ. Mỹ đâu có gà tồ phải không ông? Đến đại tướng kỳ lô nó còn chơi gục nữa là cỡ nhép như ông!

Sáu Uya (cái tên Huế kỳ quặc) chính trị viên D D8 chết năm 68. Ông quan năm chết ông quan tư cũng nối gót theo sau. Đó là Năm Thủ (người thay tôi chỉ huy H6), một anh chàng gan phủ mình, dám sô lô một mình một quả bom đìa ở An Phú

Buồn tình nhất là Tám Lệ, một thằng bạn thân thiết của tôi ở Hà Nội. Về Nam, cưới vợ đẹp, giàu, có xe Peugeot cỡi nhong nhong khắp Phú Hòa Đông . Hắn đẹp trai như tài tử xi nê ma. Trước khi vào Mậu Thân ở trên phong chức hắn phó chánh ủy trung đoàn Mũi Nhọn do Tư Nhựt làm E trưởng. Cả hai cùng bị nướng ròn. Lệ bỏ vợ đẹp con ngoan: không biết có đồng chí cán nhớn nào "giúp đỡ" hay không ?

Năm 68 là năm Lửa Thiêu đám giặc Đỏ. Quan năm, quan sáu chết lổm nhổm. Tư Quân- E trướng E268- chết ở Bàu Tre. Vợ Năm Re có đến nhưng mả nhiều quá mà không có mộ bia không biết mộ chồng, nên khóc giọt nước mắt quốc tế ca rồi trở về. Vậy cũng trọn nghĩa tào khương.

Quan lính chết nhiều đã đành, đám xã đội cũng góp phần không nhỏ. Ở trên độc giả thấy dăm bảy trự, sau đây một số khác, tôi suýt quên. Sau Tám Giò huyện đội, đến Hai Khứ, bây giờ đến Ba Coi xã đội trưởng Nhuận Đúc, Năm E thay Tám Giò, đến Bảy Đạo, Ba Cà, Ba Lá quận ủy viên, Hai Đời bí thư xã Trung Lập, Tư Mạnh trợ lý tham mưu quận (biết quái gì mà tham mưu). Đám quận đội và quận ủy chết sạch. Sau này phải chia Củ Chi làm hai: Nam Chi và Bắc Chi.

Chị út, vợ của út Đầu Đỏ (tên thật lạ) quản lý D7 Củ Chi bị Mỹ bắt ở Xóm Trại Giàn Bầu. Kế đó là nàng Út Hương (chúng tôi gọi là ốc Hương) vợ Hai Khởi tham mưu quận đội, sau lên D trưởng của D268. Khởi cấy rau muống ở ngã tư Quán Giắt, Thanh Hóa. Về trong này thím xực thêm nàng ốc nên bị khai trừ đảng nhưng chàng không nao núng, chỉ sợ Mỹ xơi tái thôi. Mà thật, sợ cũng không khỏi. Khởi bị khui hầm năm 69.

Vợ Năm Cao ở Ba Cụm. Cao là C phó C3 D1 của tôi. Cao chết năm 66 ở Cỏ Ống xã Lộc Hưng. Đến đây tôi đã kể được 64 sự tích "vọng phu Củ Chi", xin rán kể đến chẵn một trăm thì ngưng.

Vợ Út Sương ở ấp chiến lược Cây Bài, Sương là C trưởng, sau vì ban chỉ huy D khuyết được đề bạt là phó chính trị viên D, chết năm 68.

Vợ Năm Thơi ở Trảng Cỏ, Thơi là D trưởng D2 E Quyết Thắng chết năm 67 ở Bàu Lách.

Vợ Ba Nhẫn ở Trung Hưng, Nhẫn là D trưởng E Quyết Thắng chết năm 67 ở An Nhơn Tây. Nhẫn có vợ con ở Trung Hưng nhưng còn quơ con bé Trang (con gái Hai Tràng ở Gót Chàng). Sở dĩ hắn xơi tái được cô bé này là vì hai đứa thường trốn chung hầm bí mật ở Gò Đình. Hắn già rơ nên bỏ ngón hoài, con nhỏ chịu hết nổi đành xuôi tay cho chàng nuốt. Một bữa Mỹ ruồng, con nhỏ xuống hầm không được vì cái bụng to chừng đó má nó mới hay, thì sự đã rồi. Nhẫn chết lãng nhách. Lần đó hắn kéo tiểu đoàn về An Nhơn, Mỹ càn vừa rút, hắn cùng một C trưởng, một quản lý đi moi tìm đồ hộp. Chẳng ngờ bị lựu đạn nổ chết cả ba. Đó là cú phục hậu của du kích An Nhơn đối với hắn, kẻ đã cậy quyền ỷ thế quơ mất cây nhà lá vườn của bọn địa phương. Thời kỳ này tôi làm E phó kiêm tham mưu trưởng.

Vợ Tám Thôn. Thôn là phó chính trị viên D đặc công của Gia Định 4, chết năm 69 ở Gò Đình xã Nhuận Đức.

Vợ Út Xiềng ở bến Chùa xã Thành An. Xiềng là C phó chết ở Bàu Lách năm 67.

Vợ Sáu Ly ở Bàu Trâu xã Phước Thành, Ly là C phó chết năm 68.

Vợ thằng Quảng du kích Trung Hưng xã Trung Lập, chết năm 66.

Vợ Tư Linh (người Hà Nội), Linh bạn tôi, trưởng ban binh vận khu bị bắt 69.

Vợ Ba Thụy ở Thủ Đức, Thụy trưởng ban đặc công H11 phân khu 1, bị Mỹ khui hầm bắt năm 69 ở Gò Nổi.

Vợ Năm Thêm ở Sài Gòn. Thêm cấp bậc đại úy E Mũi Nhọn chết năm 68.

Vợ Sáu Nam ở Trảng Cỏ xã Đôn Thuận , Nam phó chính trị viên E368 bị pháo chết ở Sa Nhỏ.

Vợ Sáu Đồng ở An Phú, Đồng C trưởng C4 D7 chết năm 68 trận phá vây Vườn Trầu.

Vợ Năm Rỗ xã Phước Hiệp, Rỗ là xã đội trưởng (thay cho Hai Khứ) mới cưới vợ xong, ẵm vợ không ẵm lại ôm cà nông 155.

Vợ Bảy Điếc, Điếc bí thư xã Phước Hiệp bị Mỹ bắn chết năm 68.

Vợ Tám Thế, Thế vốn là C trưởng C3 D7 về làm quận đội phó Nam Chi bị bắn chết 68.

Vợ Út Thành, Thành quận trưởng Nam Chi, Thành theo gót Năm E, sau này tới tên Năm Ngó làm quận đội trưởng.

Chín Nữa, có vợ là cô giáo, là dượng của tôi. Ông là C trưởng C trinh sát Quân Khu bị xe tăng bắn chết dưới hầm cùng năm đội viên trinh sát ở Bàu Lách, bỏ vợ và hai con, trai 10 tuổi, gái 7 tuổi.

Mười Long, trợ lý D Quyết Thắng, mới cưới vợ là cô Nguyệt cứu thương, chết năm 68 ở Hóc Môn. Nguyệt là con nuôi của "hạm" Năm Lê (sẽ kể tiếp).

Sáu Lễ phó ban Quân Khu chết ở Bàu Nổ xã Thành An năm 68.

Cô Sáu Niêm (chị của Bảy Lội) có chồng là đặc công F100 chết 68.

Ba Xây xã đội trường An Nhơn Tây bị bắt sống năm 66 bỏ vợ và một bầy con.

Huỳnh Thành Đồng, tham mưu phó Quân Khu chết lãng nhách ở Trung An vì thằng Châu Mèo Đái, có vợ ở Bến Tre, chưa có con.

Cô Hai Việt, nhà ở xóm Cỏ Ống, chồng đi công trường 9 chết ở Bình Long.

Vợ Bảy Theo ở Phú Hòa Đông, Theo là C phó chết ở Rừng Tre năm 68.

Cô Thu và Ba Quản Lý (hai vợ chồng đã cứu tôi dưới địa ở H6) chết vì một trái pháo Đồng Dù lúc cô Thu đang có thai năm 66.

Vợ chồng thằng Út và con gái nhân viên sản xuất của H6 chết dưới hầm năm 66.

Độc giả thân mến! Tôi xin kể tiếp mười trường hợp nữa cho chẵn một trăm.

Vợ Sáu Gấm, Gấm là cán bộ phòng chính trị Quân Khu chết năm 66 ở Đồng Cà Tông, Dầu Tiếng vì B52.

Vợ Sáu Mành và Hai Bi, Mành và Bi bị cá rô rỉa năm 65 cùng một lúc.

Vợ chồng Bảy Phúc, quân y sĩ, bị Mỹ bắn chết năm 66 tại Rừng Làng.

Út Đức, trợ lý tham mưu quận về thăm vợ ở Tân Thành Đông bị lính bót bắn chết năm 66.

Vợ Năm Nhân ở xóm Cây Dương xã An Tịnh, Nhân là quận đội trướng quận Trảng Bàng bị bắn chết năm 67.

Trường, quận đội trường Trảng Bàng bị mìn nổ chết năm 69 (không rõ Trường quê quán ở đâu).

Sau đây là ba trường hợp đặc biệt: Hai tên to đầu nhất Quân Khu, nói rõ hơn là toàn Bộ Tư Lệnh Quân Khu chết chung một lỗ trên đường về nhậm chức gì đó chánh phủ ma của Huỳnh Tấn Phát.

Trần Đình Xu, tự Ba Xu, tự Ba Dính, tư lệnh Quân Khu IV Việt Cộng.

Nguyễn Xuân Trường tự Tư Trường, không biết tí nào quân sự, chính ủy Quân Khu. Cả hai đạp trúng bãi mìn. Cả đoàn tùy tùng gồm hai mươi người đều tan xác, không nhặt được một miếng thịt.

Nhưng trường hợp sau đây mới là đặc biệt nhất: Anh chàng Tám Lùn, đội trưởng đội liên lạc hỏa tốc của quận Nam Chi. Anh ta bị lính trong tua Cầu Rạch Láng The bắn văng mất "cây súng ngắn K54 và hai viên đạn". Anh ta không chết, vợ anh ta không góa chồng. Nhưng đối với vợ anh ta thì anh ta có khác gì đã chết. Còn chị Tám không góa chồng có khác gì góa chồng?

Trường hợp thứ một trăm này thật khó phân xử. Không biết có nên xếp chị Tám vào chung với đội Vọng Phu Củ Chi hay không? Xin độc giả cho biết tôn ý. Và còn rất nhiều, nhiều lắm, nếu kể ra phải nguyên một quyển.

Cán bộ chết sạch đến nỗi phải đưa một cô bé nấu bếp không biết bắn súng lên làm quận đội phó. Đó là cô Bảy Phán từng nấu cơm cho Tám Giò. Một cậu thanh niên mới vô đảng là Mười Nguyên, lên làm bí thư quận ủy. Cậu chiến sĩ bị trúng thương ở trận Gò Nổi, bị Năm Tiều hăm bắn bỏ (tên là Cao Hoài Nở) được đưa lên làm trưởng ban chính trị trung đoàn. Bộ Tư Lệnh Quân Khu chỉ còn có Hai Phón (tức Trần Hải Phụng) nhờ trốn ở Cao Miên nên mới sống sót.

Tôi viết chương này để mọi người thấy sự hy sinh dã man dân miền Nam của bọn Hà Nội, nhằm đạt kỳ được tham vọng của chúng. "Chúng mày chết bao nhiêu mặc kệ để đón bác Hồ dzô!" Và miễn trong những xác chết thê thảm đó không có cái nào là con cháu vợ chồng, ông nội ông ngoại của bọn thằng Duẩn, thằng Chinh, thằng Giáp... thì chúng mày tha hồ đi vô nghĩa địa Giải Phóng Miền Nam.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 102057
Has thanked: 35654 times
Have thanks: 49460 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 4th, 2018, 2:13 pm
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: 2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Quyển 1-7)

Postby DaMinhChau » August 25th, 2018, 3:49 pm


Chương 82

Mất đất, mất dân, mất mạng và mất tinh thần.





Sau khi duyệt qua đạo quân đầu tóc Củ Chi, xin mời các bạn trở lại chiến trường Củ Chi. Từ khi ông tư lệnh Ba Xu chết hụt dưới hầm của cô xã đội phó, D1 Quyết Thắng của tôi càng ngày càng tổn thất. Nhưng sự tổn thất nặng nề nhất là mất đất. Nói rõ ra là không còn chỗ đóng quân. Dù giữ bí mật đến đâu cũng không dám ơ lại ba ngày. Bom, pháo, xe tăng, B52 đến liền liền. Trước đây ba ngày một tiệc nhỏ, bảy ngày một tiệc lớn, bây giờ ngày nào cũng có tiệc... máu. Nếu dân đi hết ra ấp chiến lược mà vườn ruộng còn nguyên thì chúng tôi vẫn sống khoẻ ru, đằng này dân đi mà đất đai cũng mất. Cuối cùng là mất tinh thần và mất tin tưởng.

Qua hai cuộc càn vĩ đại Cedar Falls và Manhattan, sư đoàn 25 Mỹ (Chớp Nhiệt Đới) chỉ mới khai quang từ rạch Thai Thai (tức Bến Được) thuộc xã Phú Mỹ Hưng tới xã Nhuận Dức (quê hương của Năm Cội) và xã Phú Hòa Đông biến khu vực này thành vùng tử địa không còn dân cư. Thời gian đó tình hình của Củ Chi hãy còn kha khá, nhưng bây giờ, cuối năm 67 (sắp vào Mậu Thân), thì tình hình rất tồi tệ. Mỹ đã đánh lên tới bắc Lộ 6 tức vùng Trảng Cỏ, Bời Lời.

Còn bên kia sông Sài Gòn thì sư đoàn 1 (Anh Cả Đỏ) kẹp Bộ Tư Lệnh Quân Khu 1 trong hai quận Bến Cát, Dầu Tiếng. Mỹ từ Dầu tiếng đánh xuống, từ Bưng Còng đánh lên và từ sông Thị Tính đổ qua bằng mọi thứ chiến thuật, xe tăng càn ủi, thả biệt kích, cụm quân ở Rạch Kiến hoặc Bưng Còng, có khi một cuộc càn quét kéo liên miên hàng tháng liền trên vùng đất Thanh Tuyền làm cho Bộ Tư Lệnh Quân Khu IV như một bầy chuột bị cháy đồng.

Trước kia Quân Khu gồm bảy tỉnh, đất đai quá rộng lớn, một Bộ Tư Lệnh không chỉ huy nổi. Liên lạc chậm trễ còn hơn thời vua Minh Mạng. Ngày xưa chạy ngựa nhưng không bị bom pháo chọn đường, còn bây giờ "ra ngõ đụng bom", cho nên Quân Khu phải chia thành năm Phân Khu. Phân Khu 1 gồm các quận Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cát, Dầu Tiếng, Gò Vấp, Hóc Môn và phần đất nội thành Sài Gòn gồm cả từ quốc lộ 1 đi xuống. Phân Khu 5 nằm phía bên kia sông Sài Gòn dọc theo quốc lộ 13 bao gồm Thủ Đức, Dĩ An, Lái Thiêu, Nhơn Trạch. Phân Khu 4 là địa phận Rừng Sát, do tên lẻo mép Tám Quang về làm chánh ủy.

Chúng tôi vẫn còn ở nguyên đất cũ dưới quyền ông Năm Lê, nay được đề bạt phó tư lệnh kiêm tham mưu trướng. Trước kia ông thụt trong hầm Đờ Cát Tri ở trại Bà Huệ (nhà của xã đội trướng Ba Xây bị bắt trong cuộc càn Cedar Falls), bây giờ ông phải vọt qua sông cùng với đám bầu cua của ông với các cô con cháu nuôi, trừ Tám Nghi và cô Hiền bị moi hầm bắt sống.

Bây giờ tình hình cấp bách và "chết như nháy mắt" không còn có thể nhởn nhơ nhậu nhẹt thành lập hội ve chai chống Mỹ như năm ngoái. Làm việc gì cũng như giật chạy, kể cả làm tình. Chỉ dăm ba câu nhiệt đới, hôn nhanh hít chớp chứ không có ở đó tình ca liên khúc mùi mẫn được.

Nếu ngày xưa trong Cải Cách Ruộng Đất, đảng ta hô to khẩu hiệu tiếu: "Tựa hẳn vào giai cấp bần cô nông, đoàn kết với trung nông lớp dưới, lôi kéo trung nông lớp trên, cô lập phú nông và tiêu diệt địa chủ" (một đảng do những thằng ngu đứng đầu, ngày nay còn sót lại một thằng thợ thiến heo làm tổng bí thư) thì ngày nay ở cái đất Củ Chi này, chúng tôi cũng phỏng theo đường lối của đảng mà nêu lên khẩu hiệu "Tựa hẳn vào gạo để nấu cháo húp, đoàn kết cá mòi hộp, lôi kéo đậu phộng kho, cô lập thịt heo thịt bò, ra sức tìm thịt rừng và triệt để khai thác đồ hộp Mỹ vứt lại sau các cuộc ruồng".

Ban đêm các cơ quan phải đi tìm gạo mà mua lấy của dân vì ông Bảy Hốt, tổng cuộc lúa gạo Quân Khu đã bị Mỹ hốt, con đường vận tải gạo qua sông Sài Gòn bị giang thuyền chặt đứt, may lắm một tháng mới có một chuyến, nhưng gạo chỉ để các ông lớn xơi chớ đâu tới đám cò con. Cơ quan nào cũng tự tổ chức lấy những chuyến vượt sông qua Củ Chi đến các vùng quen cũ như Sa Nhỏ, Trung Hòa, Cỏ Ống v.v... để làm những cú vét và lén lút tha về ổ giữa đêm. Nhiều cô gái không biết bơi cũng phải buộc phao ni lông thả xuống sông, đeo chắc rồi nhờ các chàng trai lôi qua. Để đền ơn đáp nghĩa, các cô phải bù lại bằng nọ kia...

Nhiều khi không may, bơi qua mới nửa sông lại đụng giang thuyền. Thế là làm ma đói. Nếu thoát khỏi giang thuyền thì trên đường cõng gạo về lại gặp biệt kích, bộ binh, Mỹ cụm, hoặc pháo, hơn nữa, lãnh dưa hấu bầy. Thời buổi này B52 như cơm bữa. Ban ngày ban đêm gì đất đai cũng gồng mình hứng dưa hấu, đất rung khe khẽ xa xa hoặc đất sàng như sấp sụp dưới chân là chuyện không phải khó tìm chung quanh đồn điền Michelin dài xuống đồng Cà Tông, qua Long Nguyên, Bà Tứ v.v... Vì lẽ đó mà ở Hà Nội có cái đám ma lén lút của ông đại tướng và một cái hòm chôn không có xác và có một ông đại tướng khác thay vì khóc lại cười vì nhờ ai mà địch thủ của ông ta vắng mặt trên cõi đời này, nhất là trong các hội nghị của Bộ Chính Trị.

Hẳn ta từ Hà Nội đi máy bay vô Nam Vang. Ngồi trực thăng xuống Mi Nốt, đi theo con đường đạo chích vô đất R. Và từ R xuống Long Nguyên kiểm tra công tác chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân. Cái hầm của hắn trú ẩn còn kiên cố hơn cả hầm của Đờ Cát mà trước kia hắn chỉ huy cuộc tấn công ở Điện Biên. Cái hầm Đờ Cát do máy móc đào và xây cất. Còn cái hầm của hắn do một trung đoàn công binh (do Tư Cường chỉ huy) kiến thiết, có thể chống cả bom B52. Thật vậy, B52 rắc bom gần đó, hầm không hề hấn gì. Chờ khi ngài đại tướng (cướp) ló đâu ra khỏi miệng hầm thì búa sấm sét của Thiên Lôi mới giáng xuống ngay sọ. Hắn chết không kịp nói một tiếng. Quả thật hoàng thiên đoản mạng tên gian hùng.

Ở ngoài Hà Nội, trước khi Hồ chủ tiệm á khẩu vì nghe tin thảm bại Mậu Thân, "người" đã kêu vợ "chú nó" tới ăn cơm tối với bác gọi là đền đáp cho sự hy sinh đức lang quân mẹ đĩ trong lúc báo Nhân Dân báo tin rằng tên cướp chết ở viện 108 (tức bệnh viện Đồn Thủy cũ) vì đứt mạch máu.

Trong tình hình sôi bỏng này, Sáu Đoàn Tâm- chính trị viên quê D đi Quân Khu mang chỉ thị về. Hắn trình bày cho tôi và Tư Nhựt nghe. Hắn nói lòng vòng làm cho tôi sốt ruột, quát:

- Đồng chí nói thẳng cho chúng tôi biết ý đồ ở trên là gì?

Hắn cười nhăn răng như khỉ ăn bần:

- Thì cứ xốc tới ! Nắm thất lưng Mỹ mà đánh!

- Xì! Chuyện đó xưa rồi! - Tư Nhút ngoách ra nói với giọng bất mãn.

Sáu Đoàn Tâm tiếp ngay:

- Nhưng qua các trận Cây Trắc, Bàu Trâu , Lộ 6 v.v.. mình đều thấy đâu dễ gì nắm thắt lưng "Anh Cả Đỏ" ! Nếu cứ tập trung D mà đánh thì thất bại.

Tư Nhựt nói như than thở:

- Quân số của mình hao hụt nặng quá. Sau các trận Dầu Bà, Rừng Tre, Cầu Xe, Trảng Cỏ ở trên chỉ thị bổ sung cho mình có chục rưỡi lính cò mửa thì làm sao? Lính bị thương hơn hai phần ba không phải vì chiến đấu mà vì bom pháo trực thăng. Hằng ngày các đại đội báo cáo quân số, đều ở trong tình trạng súng thừa lính thiếu. Năm ngoái CKC không đủ cho lính cầm. Còn năm nay đến AK mà cũng dư, không có người cầm. Tệ hơn nữa loại trung liên dĩa của Liên Xô mà phải chôn, vì loại này cần đến hai người tiếp đạn. Nay mình chỉ còn xài có RPD vì nó chỉ cần có một xạ thủ chính và một xạ thủ phụ kiêm tiếp đạn thôi. Tôi đành phải chấp thuận cho họ chôn bớt chớ làm cách nào khác được.

Những điều Tư Nhựt than thở tôi đều biết cả. Làm tham mưu trưởng mà không biết cái tình trạng đó thì còn biết cái gì nữa. Tôi đau lòng lắm. Mỗi khi cho chôn một khẩu súng thì chẳng khác nào chôn một chiến thương. Chôn sống! Đúng vậy. Chôn súng là chôn sống chứ còn gì nữa. Chỉ có bọn Hà Nội mới không biết nên cứ hò hét: thừa thắng xông lên. Có thắng đâu mà thừa!

Càng ngày càng phải chôn thêm súng phóng lựu (trom blom), mìn, chỉ trừ B40 là còn giữ lại. Nếu chôn cả loại này nữa thì lính chỉ còn trên răng dưới dế gặp xe tăng chỉ còn cắn nó thôi.

Tôi nói đỡ vớt:

- Mình còn D7 của Bảy Nô cũng có bạn!

Tư Nhựt chửi thề rùm trời và bảo:

- Thằng cha đó mắc con vợ bà chằng không dám ra trận. Thầy không nhớ lần mình rủ nó đánh trận Bàu Đúng, nó đồng ý rồi sau chạy rót sao? Còn D2 của Ba Thụy thì ém lút ở Gò Môn (Gò Vấp - Hóc Môn) phân tán ra thành du kích. Lính tráng trở thành lại cái hết rồi đánh đá gì ! Nay chỉ còn có D1 mình với Q16 thôi, nhưng Q16 là lính Bắc vô đây không xoay trở như mình được. Thầy không nhớ trận Bàu Trâu họ phối hợp với mình mà rút chạy trước, đến chừng kiểm thảo toàn trận, thằng Ba Đức của mình nổi nóng đập lộn với họ hay sao? Đó là đơn vị anh hùng Điện Biên mà còn vậy, huống gì ba thằng du kích mình lôi đầu lên cho cầm súng AK trong đơn.vị.

Sáu Đoàn Tâm sợ Tư Nhựt nổi khùng bới móc thêm mà lở lói cái danh hiệu anh hùng Điện Biên nên móc túi lấy ra một tờ giấy quyết định của khu cho tôi về làm trưởng ban chính trị quận đội Củ Chi và đồng chí Tư Nhựt đi dự đại hội thi đua R, và các đồng chí Út Đức, Hai Mạnh cũng có quyết định thuyên chuyển.

Tôi ngồi chết trân.

Tình hình này mà mất một số cán bộ như vậy thì còn làm ăn gì được nữa!

Đoàn Tâm mỉa mai tôi:

- Tôi nghe cấp trên chuẩn bị thành lập trung đoàn và giao cho "thầy" chỉ huy đó!

Tôi suýt xài nho "con cặc" nhưng tốp kịp. Đụ mẹ, tiểu đoàn chỉ cỏn hơn 150 lính mà nói chuyện thành lập trung đoàn, chắc bắt mấy gốc cao su cầm súng?

Tôi biết trong ruột Đoàn Tâm. Từ ngày nguập với bà Út Siêng thì tìm cách xin ra khỏi ban chỉ huy D. Út Siêng là bí thư xã Trung Lập, lại là em út của các bà Năm Đang, Hai Xót, đang có chân trong khu ủy lại cho các anh vái lỗ tai thì xin gì mà chả gật. Thế nên cuối cùng một thằng chính trị viên D của quận đội lại ra làm trưởng ban chính trị quận đội với lý do là "đau dạ dày"!

Tôi biết cả, nhưng không thèm nói ra. Hắn ra khỏi D, tôi và Tư Nhựt càng dễ làm việc và lính càng khoái. Hắn chế tôi, tôi cũng đâu cớ chịu im. Tôi nói:

- Nay mai, đội dũng sĩ diệt Mỹ toàn miền thành lập, sẽ mời đồng chí về làm chánh ủy đó đồng chí à !

Tư Nhựt nói công khai:

- Nếu chọn chiến sĩ thi đua thì thầy Hai xứng đáng hơn tôi. Vậy tôi đề nghị ở trên xét lại.

Tôi đã ớn ba cái danh hiệu anh hùng, chiến sĩ thi đua này từ ngoài Bắc kia, cây kim bỏ vô hộp quẹt cũng báo công chấm điểm.

Tôi cũng đã từng đeo bông hồng to tổ bố cấp sư đoàn, rồi về R làm anh hùng phá sân bay Biên Hòa, nay không ham nữa nên nói:

- Anh nên đi đi anh Tư à. Ở trên sáng suốt chỉ định anh là đúng đó. Anh đã chiến đấu bảy năm qua trên đất Củ Chi này rồi, còn tôi chân ướt chân ráo mới có ba năm.

Tư Nhựt ngắt lời:

- Ba thì ba, nhưng công lao huấn luyện, tác chiến, tham mưu, tổ chức của thầy ở D1 này là số một, tôi không bì kịp đâu. Tôi là D trưởng nhưng có biết mẹ gì công tác quân sự, chỉ đánh càn ăn may thôi. Thằng lơ xe đò này nay có khả năng ít nhiều chỉ huy D1 là nhờ thầy nhiều lắm. Tôi mà đại diện Quân Khu đi R thì tôi mắc cở với anh em cán bộ A, B, C và lính lắm.

Tôi nhất quyết gạt ngang:

- Anh làm anh hùng thì đó là danh dự cho D1, mỗi đứa góp cho anh một chút và anh là tiêu biểu cho D mình. Anh đừng từ chối nữa.

Tư Nhựt không có học trường nào nhưng rất thông minh và gan dạ, lại gương mẫu không lem nhem bất cứ thứ gì. Nhiều lần giữa đêm thanh vắng y tâm sự với tôi và gọi tôi bằng thầy. Tôi bảo đừng xưng hô như thế anh em cán bộ không đồng ý. Y bảo:"Thử hỏi thầy không đáng tôi gọi bằng thầy hay sao? Thằng nào dám thắc mắc?"

Một con người như vậy mà bị cấp trên đút vô lò lửa Mậu Thân đành đoạn. Đi dự đại hội về, Tư Nhựt được phong làm trung đoàn trưởng trung đoàn mũi nhọn của Quân Khu (cũng là của R) đánh vào Sàigòn. Thử hỏi sống sao nổi? (sẽ kể sau). Chính tôi làm báo công (tôi biết cách) cho Tư Nhựt mang đi R. Làm xong, tôi đọc cho y nghe. Y ôm tôi khóc ròng. Nhựt là lơ xe đò, học ít, càng không biết khoa học quân sự. Không biết ai đưa Nhựt lên làm tiểu đoàn trưởng ngang xương nắm sinh mạng cả mấy trăm chiến sĩ. Khi tôi về làm D phó kiêm tham mưu trưởng, Nhựt hơi gờm tôi, sợ tôi vượt hơn y. Nhưng công tác một thời gian, y mếntôi và thú thật, tôn tôi lên làm thầy. Tôi thật tình không dám nhận. Khi ở trên kêu bầu chiến sĩ thi đua, y đề cử tôi, nhưng tôi từ chối và đề cử ngược lại và làm báo công cho y. Y nói:

- Tôi chưa từng thấy ai cao thượng như thầy đó, thầy Hai. Ở cái xứ này người ta toàn tranh công và dẫm lên đầu nhau để lên chức, chứ không ai như thầy tự hạ mình xuống để nâng bạn mình lên.

Y biết những trận nào do ý kiến của ai mà thắng, nay trong báo công đều bồi cho y. Tôi hiểu con người thành thật của Tư Nhựt nên không nói nhiều:

- Anh cứ yên tâm! Chúng ta là một! Thành tích của tôi là của anh, anh Tư à!

Tư Nhựt đi xong, tôi dắt tiểu đoàn sang đất Trảng Bàng để mong tìm thấy một vài ngày an bình mà chấn chỉnh tổ chức. Một mặt tôi cho người về kiến trúc căn cứ ở Rừng Tre, Lộc Thuận. Cái việc bị xe tăng Đồng Dù đẩy lên tận Trảng Cỏ, Sóc Lào, Bà Nhã chỉ còn là thời gian. Xe tăng hằng ngày thọc lên tận Hố Bò, rề xuống An Nhơn coi như chỗ không người. Chúng đã ủi láng hết rừng rú từ Cổng Bông Giấy vô tận Bàu Đưng, quân y của Tư Chuyền đã bỏ Hố Bò vọt lên Lộc Thuận hay Rừng Tre gì đói tôi không còn liên lạc. Mạnh ai nấy tìm đường sống.

Chạy qua đất Tây Ninh để tựa lưng hai thằng Năm Sơn và Chín Hung D14, nhưng sang đây lại gặp Ba Tới kêu giọng ve sầu:

- Cho ở đậu đất nhưng không phát gạo đâu nhé. Tụi này cũng đang lâm nguy. Tụi Mỹ đánh liên miên. Ban ngày chưa đủ, nó còn tranh thủ ban đêm.

Hắn cười nhe bộ răng xếu xáo trông càng bi quan:

- D14 của tao (ông ta lớn hơn tôi chừng một con giáp dân kháng chiến chín năm) bị sát nhập vô E268 rồi, đâu còn phối hợp với mày. Riêng tao bị thiến nửa cái bao tử, ngày ăn có một chén cơm!

- E268 ở chỗ nào?

- Ở ngoải vô. E này cũng anh hùng Đê Bê (Điện Biên) thuộc nòi 308.

- Thôi đi ông nội, Q16 cũng anh hùng Đê Bê nhưng chán lắm. Ở trên cho tôi một cán bộ làm D phó là Năm Triêm. Ông này cũng là dân kháng chiến hai mùa hết xí quách rồi, lại vừa vượt Trường Sơn vô tới, mặt mày vàng lườm như nghệ. Nếu đụng một trận với Mỹ là bành tô ngay.

Tôi hiểu tâm lý nên cho anh đi móc vợ vô sum họp để rửa chân leo bàn thờ nay mai không gặp mặt. Thật vậy, mười năm, bà chỉ đã ăn trầu, trở thành mẹ chiến sĩ. Còn Năm Triêm chỉ đánh có vài trận là vô nhị tỳ.

Tôi cho D bố trí thành thế phòng ngự vòng tròn. C1 giữ mặt đồng ruộng Lộc Thuận, ngó qua Sa Nhỏ và Cỏ Ống; C2 giữ mặt Cầu Xe và Lộ 6; C3 ngó qua Ba Cụm; C4 giữ phía sau đường 15 và Bùng Binh, còn quân y, trinh sát, liên lạc văn phòng ở giữa rún.

Phân Khu bổ xuống 80 tân binh miền Bắc, cho D khác nào đó húp cháo loãng. Nghỉ dường quân nhưng nào có nghỉ dưỡng được ngày nào. Mỹ đuổi theo, chúng tôi phải nghinh chiến, bắn cháy ba xe tăng, trực thăng tới đánh luôn tại Trảng Dầu. Chúng bắn hỏa tiễn. Chợ Suối Sâu gồm phố xá sầm uất, nhà máy xay lúa, tất cả cháy rực trời. Đồng bào chửi cha giải phóng báo đời.

Kéo về Bà Nhả, bị dân đuổi đi không cho đóng quân, không bán gạo. Không kể tình cá nước mẹ gì ráo trọi. Chúng tôi ở ngoài rừng không có nước nhưng không dám vô xóm xin sợ lộ bí mật, gặp Phượng Hoàng kêu Mỹ tới là chết cháy, nên đi tìm đầm hoặc suối trong rừng thời may gặp một cái giếng lạng, thò đầu xuống thấy lấp loáng trắng nhưng sâu lắm. Tôi cho trinh sát tuột xuống xem xét. Trời ơi! Đó là xương người. Xương của Cao Đài, hồi 45 các ông nội Tô Ký và Hai Bứa giết họ ném xác xuống đây. Quả báo! Bây giờ lính các ngài tới, có nước mà không dám uống.

Nhờ có thằng Đức, C trưởng C2, là dân Trảng Bàng thuộc xóm làng nên dắt đi tìm dân gặp Tám Bụng, làm xã đội trưởng không nhớ là xã nào. Bụng là em ruột của Năm No, E phó thuộc công trường 9 của Năm Sài Gòn. No mất tinh thần sau các trận Bình Long, Bình Giả bỏ về nhà làm vườn, bị khu đòi lên hạ chức còn C phó hụ hợ ở trường huấn luyện tân binh, ăn nói trật đường rầy không kể gì Đảng Bác.

Tôi hứa cho Bụng một cây AK còn CKC có sức vác bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. Nhưng Bụng chỉ lấy AK chớ du kích đâu có ngoe nào mà đòi CKC?

Ở đâu cũng không yên vì không còn nhân tâm. Dân ghét giải phóng ra mặt. Tây Ninh chỉ còn rừng có dân mà cũng như không, bộ đội của dân mà dân bỏ đói, giải phóng đi tới đâu dân chạy tuột quần đến đó. Dân không che chở quân nên quân cứ ăn dưa hấu liên miên.

Một lần trôi dạt luôn năm địa điểm liền trong ba ngày. Rừng Tre, Trảng Cỏ, Trảng Sa, Sóc Lào. Vừa đến Sóc Lào thì phải đi ngay vì có đầm già tới liếc. Phải cấp tốc hành quân. Từ chạy đến chạy.

Chạy lòi mắt cá
Chạy lả xương mông
Chạy không gạo nấu
Chạy đứt ruột cùn
Chạy tàn chạy mạt
Chạy khạc ra tro
Chạy ho ra bụi
Chạy lủi vô bờ
Chạy lờ con mắt
Chạy thắt ống chân
Chạy sưng cần cổ
Chạy lỗ máu đầu

Đến đóng ở Xóm Suối ngang Trảng Dầu Bà. Xe tăng không đến mà phản lực rắc bưởi ngọt, C2 của thằng Đức bị trúng giữa đội hình. Lính chết chung một hầm. Một hầm khác không trúng nhưng bị sức ép, đạn B40 nổ dưới hầm. Thật là họa vô đơn chí. Phải dùng hơn một B để tải thương, một B đào hầm... chôn tử sĩ. Còn lính đâu mà đánh giặc. Trời ơi, bom napalm nó cháy không có nước nào tưới tắt được.

Xác chiến sĩ đen thui "tay coi đồng hồ". Có những chiến sĩ tay chân cong queo, mặt mày cháy đen, tóc tai trụi lủi, mà cặp mắt còn nháy lia, miệng mấp máy: "Thủ trưởng ơi! Xin bắn em một phát cho sướng cái thân!"

Hai dòng lệ lăn tròn. Mùi da thịt khét nghẹt.

Củ Chi có hơn 200 miles địa đạo và bác sĩ Tám Lê giải phẫu dưới hầm hiện ở đâu. Đụ mẹ thằng Duẩn, thằng Giáp nói láo. Chúng giết dân Nam Kỳ tươi tốt như thế đó. Dân Nam Kỳ hãy nhớ những hình ảnh này.

Có 200 miles địa đạo mà Củ Chi không liên lạc nhau được, phải chia thành hai quận Nam Chi, Bắc Chi, ngay cả xã cũng không còn nguyên.

Trung Lập đẻ ra Thượng và Hạ, An Nhơn nứt ra Đông và Tây, Phú Hòa Đông thêm Phú Hòa Tây. Hố Bò, An Phú, Phú Hòa, Bến Mương, Rừng Làng, Bàu Lách, Bàu Đúng xưa là tổ ấm của các hội ve chai chống Mỹ, là nệm êm của các cặp dũng sĩ nam nữ mùi mẫn, nay là bãi ỉa của lính Mỹ.

Mỗi lần vặn đài lên nghe: "Củ Chi đất thép thành đồng", lính làu bàu chửi lại. Một hôm thằng Đồng Đen đá luôn cái radio bay lên ngọn cây. Lính dọa kỳ này gặp cô nhà báo Nhã Nam sẽ bắt trói, nấu chì đổ vô miệng cô ta. Đám lính khác đòi thọc ma trắc vô suối bà Cả... Bảy. Nhưng có đứa bảo cô ta lại... đực, có suối đâu mà thọc.

Tình hình đã bi đát lại càng bi đát thêm. Con ngựa chiến Thiên Lôi này chỉ được chủ ném cho vài cọng cỏ cháy mà cứ ủi chạy không ngừng. Một buổi sáng tôi nằm mê man vì đêm qua đào hầm quá mệt, thì thằng Thuận đập võng tôi:

- Anh Hai! Anh Hai. Dậy có khách.

- Khách nào? Kốt ta pít I hay II?

- Em không quen.

Tôi nghĩ thầm chắc là Ba Châm hoặc Năm Tiều mà trẻ nhỏ thường gọi là ông già Kốt ta pít là tên nhân vật bảo thủ trong phim Liên Xô.

Tôi uể oải ngồi dậy. Thằng Thuận giục:

- Anh cho ổng vô không? Cảnh vệ đang giữ ở ngoài.

Tôi gật. Một chập sau, quả thật nó dắt một ông già đầu trọc lóc lún phún xám tro vô tới. Tôi vọt xuống võng, chạy lại nắm tay:

- Anh Tám ! (Tám Hà chớ không phải Tám Quang).

- Thầy Hai khỏe chớ? Lâu nay không gặp nhau.

- Anh xuống đây chắc có chuyện gì quan trọng lắm.

- Cần tới chú mày đây!

(Tôi nghĩ bụng: Việc gì cũng được, xin chớ bắt con làm anh hùng giả, đọc diễn văn thiệt như năm trước. À, trà ông Sáu Di đâu còn mà khen tôi!)

Tám Hà mặc quần tiều, mình mẩy lấm mem. Tôi kêu trẻ xách nước cho ông rửa chân rửa mặt. Dù hèn gì cũng thể, dù bể cũng còn kêu cạch cạch, tôi kêu trẻ pha trà và chạy đi kiếm đồ nhậu. Anh Tám cười với cái miệng móm sọm và cặp mắt hom hem:

- Chú em được tôi đãi mấy mắt me chua trước khi lên đường ra bộ binh, bây giờ cứ lấy me chua mà đáp lễ, chớ làm to chuyện.

- Me cũng không còn, để tôi bảo chúng đi bắt con dọc về nấu với măng le.

- Chà ! Sắp Tết Mậu Thân nên chú đãi tôi thịt khi hả? Ăn thịt khi xui lấm đó chú em! (mà xui thật chớ chẳng đùa)

Uống trà được vài tuần, anh móc trong cái sắc vải lấm mem một tờ giấy xếp nhỏ :

- Còn đây, tưởng mất rồi chớ ! -Anh nheo nheo cặp mắt rồi lấy kiếng đeo lên cười hóm hỉnh- Thời buổi này cái gì cũng có thể đánh rơi được hết, kể cả bản thân mình chú em à!

Tôi mời anh điếu Capstan thứ hai. Anh xua tay, đùa:

- Xa xí phẩm! Hì hì... Để chút nữa tôi sẽ lấy nguyên bao bỏ túi về dọc đường. Thuốc này hút cho sang chớ không ăn nhập gì hết. Thuốc Cẩm Lệ xứ tôi kìa mới đã, kéo một hơi là tê cả mình.

Nói là xa xí phẩm là anh chế giễu tụi thượng cấp thôi, chớ anh cũng rút một điếu.

Tôi bật Zippo cho anh đốt. Anh vừa phì phà vừa bảo:

- Cậu đọc cái quyết định này rồi thi hành ngay.

Đọc xong, tôi kính cẩn:

- Thưa đồng chí phó phòng...

Anh xua tay:

- Lên chức rồi! Lên chức rồi, chú không hay sao? Tám Quang đi làm chánh ủy, tôi "bị" đôn lên làm trưởng thay cho y.

Anh Tám lại mỉa mai. Tám Quang hồi kháng chiến chống Pháp cấp dưới của anh, ra Bắc được đi Trung Quốc về nước thăng trung tá, trong lúc anh đã là trung tá từ lâu (1956), nhưng khi về Nam, Tám quang lại được phong trưởng phòng, anh là phó . Lúc nào anh cũng có giọng châm biếm rất tế nhị. Anh nói:

- Tôi đang làm sĩ quan liên lạc đó ông thầy pháo à !

- Ban chỉ huy D như vậy là chỉ còn có Hai Mạnh và Năm Triêm thôi sao anh? Hai Mạnh già yếu, còn Năm Triêm mới về còn đeo con ma sốt rét Trường Sơn.

- Cậu cứ lo cho thân cậu đi. Mấy vụ khác ở trên đã tính toán xong cả rồi. Ngoài Bắc đưa vô một lô úy, tá, có cả vầy... vầy nữa mà. Bộ Tư Lệnh Quân Khu đã được tăng cường. Phó tư lệnh có đến hai, ba ông mới. Tham mưu phó cũng bốn, năm. Phó phòng cũng sáu, bảy ông. Phó nhiều lắm. Toàn là thứ dữ học bên Tây bên Tàu mới về.

Bỗng anh hỏi bất ngờ:

- Sao chú không lập gia đình đi. Hừ! Chú giấu tôi hoài. Nữ dũng sĩ cáp với anh hùng pháo binh đẻ ra dũng sĩ anh hùng con phục vụ quân đội. Sao! Chừng nào tôi được uống "chung rượu đào" của chú?

- Chắc chưa đâu anh Tám à !

- Băm bốn, băm lăm rồi còn chưa thì chừng nào, không sợ cha già con muộn sao?

- Già rồi, còn sợ già gì nữa anh Tám. Lấy vợ thời buổi này...

Tôi thuật lại việc Tư Nhựt về nhà sau trận hạ đồn Thầy Mười... Anh Tám cười hắc hắc.

- Thì Mỹ chơi phản lực mình cũng phải chớp nhoáng chứ chú em!

Sau bữa nhậu đạm bạc, anh Tám bắt tay tôi từ giã. Anh bảo:

- Tình hình sắp tới vô cùng ác liệt. Anh em mình thử xem thời vận thế nào. Cậu đi sớm nhé!

Rồi chia tay. Tưởng đó là lần cuối cùng của hai anh em tôi.

Anh em nghe tôi được quyết định đi nhận nhiệm vụ khác thảy đều buồn. Chúng nó đến than thở, rầu rĩ, hứa hẹn, đủ thứ tình cảm buồn vui.

Thằng Đức, C trưởng, ôm tôi khóc ròng. Tôi cũng không cầm được nước mắt. Nó nói:

- Thầy đi thì Quyết Thắng sập tiệm luôn đó thầy ơi!

Quả thật trong Tết Mậu Thân, cả tiểu đoàn chết sạch, cả ban chỉ huy lẫn liên lạc cần vụ cận vệ quản lý nuôi quân.

Dù tôi còn ở lại cũng chẳng cứu nổi mà cũng chết luôn. Vì cái chiến thuật đui mù của tụi Hà Nội. Thằng Võ Nguyên Giáp may mà không vô đây, chớ nếu vô tì nó sẽ không còn manh giáp.

Từ pháo binh ra bộ binh, bây giờ lại trở về pháo binh. Sau ba năm dẫm nát đất Củ Chi "Anh Cả Đỏ" và "Tia Chớp Nhiệt Đới" đã bủa lưới phóng lao cả trăm lần nhưng phóng hụt tên Thiên Lôi, đã cho Phượng Hoàng vồ cả ngàn lần nhưng tên Thiên Lôi vẫn còn sống sót.

Tên Thiên Lôi đã quất ngược lại thủng lưới Anh Cả Đỏ và đập con Phương Hoàng Nhiệt Đới quẹo cổ bao nhiêu lần từ Cây Trôm dài lên Suối Cụt, Suối Trâu, Trảng Dầu, từ quốc lộ 1 vào các ấp chiến lược Cây Trâm, Cây Bài, xe tăng cháy khắp Củ Chi. Ở Cây Trắc, Phú Hoà Đông, Lộ 6, Sa Nhỏ, Cỏ Ống, Ràng, Bàu Trâu, Rừng Làng, Trảng Cỏ máu tên Thiên Lôi đổ ở Tân Quy, ở Cây Trắc, Cây Trâm v.v... Khắp người Thiên Lôi đều mang "huân chương" của Bác Đảng, kể cả trong háng, trừ chỗ "quý nhất" của con người. Đôi lần chết hụt, một lần hết thở dưới địa....

Cả trăm địa danh có bom nổ, đạn cháy, dấu chân Thiên Lôi, Đôn Thuận, An Phú, Lách Bàu Đưng, Bình Mỹ, Thạnh Lộc, Trung An, An Phú Đông, cầu Bà Bắp sát thị xã. Từ Hậu Nghĩa sang Bình Dương, Tây Ninh đến biên giới Miên Việt... Từ B52, pháo 105, 155, 175, rốc-kết, cà nông 37, lựu đạn, mìn...thứ nào Thiên Lôi cũng có nếm qua ít nhiều hoặc đội chính diện.

Cây cỏ cháy khôn không còn cái lá, đất tun hút hố bom đìa, xóm làng bào láng, đi đứng toàn ban đêm, không còn địa hình địa vật, chỉ xem hương với sao trời.

Kể không hết gian lao chết chótc của đơn vị, của quê hương và của bản thân, nhưng tên Thiên Lôi này không màng "thành tích". Một đêm vứt súng bỏ đi ...(1970).

Xin trở lại thực địa tang tóc bi thương của Quân Khu IV trước thềm Mậu Thân 68. Tôi được đưa trở lại chỉ huy H6 kiêm luôn D89 của Quân Khu.

Tôi nhớ mãi lời động viên của anh Tám Hà:

- Cậu về đó (H6 và D89) bây giờ vui lắm. Nhưng nhớ đừng có "nhởn phố" Bến Chùa nghe. Tụi Mỹ nuôi cho mập rồi giết thịt đó chẳng phải nó đui đâu. Không khéo lại bị hốt một cú như ở chợ Long Hoa năm 64 đó.

Tôi thấy lính còn thưa quá thưa nên không đem thằng Thuận làm cận vệ nữa, chỉ lấy một AK hộ thân rồi một mình một ngựa đáo lai Củ Chi đất bùn. Tôi gặp Năm Tiều đốc chiến và ban bộ ở gần nhà Tư Thêu, má con Tiền. Bé Tiền bất ngờ gặp tôi kêu la bài hãi:"Má ơi! Cậu Hai về!".

Tư Thêu ra cửa thẹn thùng. Năm Tiều bảo:

- Kìa, trông nó về! Nay nó về sao đứng đó không chạy ra hun nó một cái!

Tôi được đàn bà goá yêu cũng đông như con gái. Trời ơi! Vợ con đồng chí bất hạnh bỏ lại cho mình, thì làm sao mình từ chối?

Sau này, trước khi lao vào lò lửa Mậu Thân, Tư Nhựt cũng trối trăn giao vợ con lại cho tôi. Thảm não vô cùng.

Đêm đó Tư Thêu than thở với tôi:

- Anh qua bên đó, chắc em phải dắt con qua ấp chiến lược, chớ ở đây còn ai? Mẹ con em làm sao sống nổi (với bom đạn)?

Tôi lấy đi một ít quần áo, còn để lại mấy bộ, ý cho nàng hiểu rằng tôi còn trở về. Bụng tôi không đành để nàng đi, tuy rằng tôi chẳng dám hứa chắc điều gì, bởi vi không có cái gì chắc chắn trong cao điểm chiến tranh này.

Nước mắt, cái đó tôi đã quen nhìn, quen nếm rồi, nhưng lần này hơn cả lần mẹ con nàng Mười và bé Hoàn, mẹ con Tư Mai và bé Liên, tôi vô cùng bịn rịn, vì linh cảm ra đi là không có dịp trở về gặp mẹ con nàng nữa.

Nấn ná rồi cũng phải chia lìa.

Mất một đêm, hai cần vụ của Năm Tiều mới đưa tôi băng qua Rừng Tre, ra đường 15 ra Bùng Binh. Thời may gặp đuôi tôm của hậu cần. Nghe tiếng léo nhéo, tôi nhận ra Tư Thê, anh thiếu uý chăn bò, đến nay sau năm năm tải gạo cũng chưa lên được trung úy, mà có lên thì cũng chỉ huy cái đuôi tôm mà vẫn không xoá được danh hiệu thiếu úy chăn bò.

- Ê, cho thầy Hai đeo đuôi tôm được không? - Thằng Gàu cận vệ hỏi Tư Thê.

- Gạo bị cháy khét ngú, ăn không vô, lính chửi tắt bếp.

Nghe Tư Thê trả lời ăn trét, Gàu lại quát:

- Thầy Hai có công lệnh gấp, cho đi ké được không ông thiếu uý?

- Tụi nó bỏ bom napalm cháy cả kho.

Cả bọn cùng cười. Một anh lính trong ban vận tải giải thích:

- Ổng ăn bom đìa ở An Phú chết hụt nhưng bể màng nhĩ đó các ông ơi! Có đi thì nhào xuống đi, gấp cũng như huỡn thôi.

Hai cậu cận vệ dưa tôi sang sông và hỏi:

- Thầy biết chỗ Sáu Phấn ở không?

- Ở Đường Long chớ đâu. Tao rành hồi chín năm lận mà.

- Nhưng bây giờ B52 phá hết rừng, thầy không tìm ra đường đâu. Phải qua Bến Súc lên Phú Bình qua sông Thị Tính rồi lên Long Nguyên chưa qua suối Xuy Nô phải không? Tụi H7 (thông tin) mới ăn B52 trên đó. Củ Chi minh bây giờ Mỹ chê rồi nên nó qua bên này sông.

Thằng Gàu nói:

- Nhưng ông Sáu Phấn vừa dời tuốt lên Thanh Điền. Phải qua suối Xuy Nô, qua lộ 7. Đám ông Tám Lê bị B52 trong trận càn Manhattan đã vọt lên Bàu Nổ tới nay không biết có đi nữa không? Chú Năm dặn tôi đừng có dắt thầy đi ngã Bến Chùa mà thầy ghé lại là nguy lắm!

- Sao vậy? - Tôi hỏi chơi chứ dư biết tại sao.

Vì đi ngang đó tôi sẽ ghé vào quán nước đá ba con thỏ bạch Mai, Khánh, Ngọc và quán thịt nướng má con Rớt. B52 nó rắc mầm sống mới không biết giờ nào mà né.

Hai cậu đưa tôi đến hang cọp Năm Lê rồi trở về. Cái hang này còn mới toanh không được hoàn chỉnh như cái hầm nhà Ba Xây ở Trại Bà Huệ. Tới đây mà không gặp Tám Nghi để tâm sự thì thật buồn. Cô Hiền cũng bị moi hầm bắt chung với nó.

Năm Lê lên chức tư lệnh phó Quân Khu kiêm tham mưu trưởng nhưng cái mặt càng xanh lướt và càng dài ra. Tay chân nghều ngoào như tay vượn sở thú. Cái hầm của ông ta ở ắt phải sâu tới âm phủ và nắp phải cao tới ngọn cây.

Ông có vẻ không vui. Đãi cơm và rượu tôi, ông nói:

- Vừa ăn vừa làm việc. Bây giờ không có rảnh rang như hổi ở bển được. Mày về làm lại cái H6 và chỉ huy luôn cái D89 giùm tao chút. Tụi nó phá nát hết công lào của mày ở H6. Mày ra bộ binh, tao biết là thằng Năm Thủ về thay không được nhưng phải bắt mày đi. Bắt đi rồi trả về. Tao chỉ huy cũng chẳng ra thằng chỉ huy máu đẻ gì hết - ông thần giận dữ- Thằng Hai Giả không làm gì được trong ba năm trời nhưng còn khá hơn thằng Năm Thủ. Thôi bỏ chuyện đó đi, bây giờ tao cho mày biết là trung đoàn 15 của Anh Cả Đỏ đang xẻ Bến Cát như xẻ khô. Dọc hai bên Suối Cát nói ủi hai con đường rộng cỡ một cây số y như đường ủi dọc đường 9 sông Bến Hải vậy đó. Tụi liên lạc hoả tốc của mình bị cá rô rỉa lúc cắm đầu băng qua khoảng trống đó. Mười lăm phút thôi, nhưng là mười lăm phút cảm tử. Ban đêm trực thăng vừa soi trên mặt sông Sàigòn vừa soi trên hai con đường đó để kiểm soát những cuộc hành quân của mình từ Dầu Tiếng xuống. Xẻ ngang xong nó đang cắt dọc như vẽ bàn cờ theo kiểu Nhuận Đức bên Củ Chi. Nó bỏ Củ Chi vì bên đó nó coi như đã làm cỏ xong rồi, thỉnh thoảng có ngọn cỏ nào lú lên, nó phát qua là xong. Bây giờ nó sang bên này!

Anh thở dài:

- Ở trên đưa xuống một lô úy tá nhưng họ lớ quớ không quen chiến trường, chỉ tổ làm mồi cho B52 thôi. Đám này vô tới đây mới thấy chiến tranh không phải giơ cái lập trường ra mà chọi được. Nhiều cậu đã mất tinh thần ngay. Đấy như cái anh Mười Thứ cũng đi học Liên Xô về vô đây chỉ D1 bộ binh không xong, cho về làm quận đội trưởng càng nát bét. Mấy cậu bên Củ Chi vừa qua đây báo cáo, cậu ta về nhậm chức bèn gửi công văn triệu tập tất cả xã đội trưởng đến để y huấn thị như kiểu chánh quy. Cả tháng sau không có ma nào tới cả. Tới sao được với tình hình này. Cậu ta nổi xung gửi công văn thúc giục rồi quở trách nhưng chẳng ông xã nào tới . Liên lạc cho cậu ta biết là đường giao thông giữa các xã, và giữa các xã với quận đã bị chặt đứt hết. Cậu ta đổ quạu:"Sao không ‘nuồn’ dưới tầng ba địa đạo xuyên qua đít Đồng Dù?" (tôi bịt miệng quay ra cười). Cậu thấy tai hại chưa? Chính Trung Ương cũng hiểu như anh Mười Thứ hiểu (và toàn thể thế giới cũng như vậy), chớ đâu biết rằng địa đạo chỉlà một thứ bịa đặt. Còn địa đạo thiệt thì bỏ ngập nước, sụp lỡ từ bốn, năm năm nay rồi. Cậu đã từng hiểu địa đạo trong vườn nhà ông Hai Lễ và Năm Giáo ở Bến Mương một lần rồi và chính ông Tư Lệnh cũng đã nếm mùi địa rồi phải không? Nếu cậu cứu trễ vài tiếng đồng hồ thì ổng sẽ ra sao?

Có lẽ cảm thấy đi hơi xa đề, nhưng Năm Lê vẫn nói tiếp:

- Cả ban chỉ huy pháo binh (H6) vừa rồi lãnh nguyên trái bom đìa ở An Phú là vì không chịu di dân qua sông. Mày thấy địa đạo hầm hố đào sâu mấy thươcmà bám trụ? Là cán bộ quân sự không lẽ tụi nó không chịu hiểu bom đìa khoan chín thước, bom 250 bốn thước? Đánh địch phải hiểu thằng địch nó có nanh, có càng ra sao, chớ không phải giơ cái lập trường cải cách ruộng đất ra mà được. Anh B (tư lệnh) bảo hiện giờ chỉ có mày là xây dựng lại được H6 để ứng dụng cho chiến trường sắp tới thôi. Pháo binh sẽ đóng một vai trò quyết định. Mày có xem phim "Đánh chiếm Bá Linh" của Liên Xô chắc mày thấy vai trò của pháo binh Liên Xô?

- Dạ , em hiểu.

- Nay R cho thêm hai CH12 tức là hoả tiễn dàn mướp của Nga, Sáu Phấn không sử dụng được. Thằng Đặng Quanh Long (tức Tám Quang) ít có khen vậy mà nó khen mày. Tao biết D1 mến phục mày và mày cũng thích ở đo, nhưng tình hình này trong hàng cán bộ huấn luyện tác chiến không có ai bằng may. Thôi, nói vậy là mày rõ rồi. Lo về chỉnh đốn lại cái H6 và D89.

Tôi nói vài câu quyết tâm rồi rút lui. Ra ngoài gặp đám bầu của ông tham mưu trưởng, trong đó có Sáu Thân cấp thượng úy tới thay điếu đóm cho Tám Nghi. Sáu Thân mặt vàng lườm, bụng bin rỉn như chói nước.

Y kêu vài ba cậu lại giới thiệu:

- Đây là thằng Hai Lôi. Tôi biết nó hồi 53. Lúc đó nó mới ra trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn, về tiểu đoàn 307 của tôi - Sáu Thân hỏi tôi- Còn cây cạc-bin của con trai Bảy Viễn tặng cho cậu đâu rồi?

- Ra Bắc người ta tịch thâu.

- Nhớ lại hồi 52, trận đánh Hoà Hảo mình chết như rạ, mà nó cũng trắng đồng, ghê quá. Nhưng so với bây giờ là... chẳng nghĩa lý gì!

- Sao anh bịnh mà không nghỉ trị bịnh lại về đây, anh Sáu?

- Về đây dưỡng bịnh đó chú em. Chứ ở trên đó bịnh gì cũng có một thứ thuốc thôi.

- Rễ bồ hòn hả?

- Không, vitamin "B" ! há há ...!

- "B12" gửi mua thiếu gì. Để tôi tìm mối mua cho anh.

- Không, B52 khỏi phải mua!

Một cậu liên lạc bảo tôi:

- Chú Năm (Lê) bảo anh vô chú dặn gì thêm.

Tôi trởi lại, Năm Lê đưa cho tôi cái bản đồ Sàigòng tỷ lệ 1/2500, dặn ba điều bốn chuyện và bảo:

- Mày không được nói với ai một câu nghe chưa! Tuyệt đối, tuyệt đối và tuyệt đối.

- Dạ.

Tôi xếp nhỏ tấm bản đồ lại nhét vào xắc-cốt rồi quay ra.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 102057
Has thanked: 35654 times
Have thanks: 49460 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 4th, 2018, 2:13 pm
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: 2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI (Quyển 1-7)

Postby DaMinhChau » September 23rd, 2018, 10:25 pm


Chương 83




Lại bị đưa trở về Củ Chi chuẩn bị bàn đạp vọt vào lò bát quái Mậu Thân 68

Tôi về H6, anh em sống sót đều ôm tôi khóc ròng. Nhất là Sáu Phấn, anh không nói ra lời. Còn tôi, tôi tưởng anh đã già hàng trăm tuổi. Mới xa nhau một năm mà đầu anh bạc ráo trơn, má cóp, mắt trũng sâu như hai hố bom đìa.

Một anh nào nói:

- Anh Sáu bữa nay ra khỏi hầm là mặt trời sắp bể hai rồi đó anh à .

-Sao vậy?

- Ảnh không có lên. Cần gì ảnh gọi liên lạc hoặc tụi tôi tới báo cáo xin chỉ thị.

Tôi biết sáu Phấn là người mộc mạc, chân chất, nhưng không có khả năng tác chiến hoặc lãnh đạo một tiểu đoàn. Ở trên giao thì anh không dám từ chối. Anh thích ở nhà làm việc lặt vặt hơn tới cơ quan H6.

Từ ngày Mỹ lùa cả heo lên trực thăng Chinook anh càng thất thần. Xa vợ con anh càng như mất hồn.

- Anh có được tin gì chị Sáu và cháu bé không anh Sáu?

- Bặt luôn từ ngày tôi qua sông.

- Chú Tám (Cần) có gặp anh không?

- Ổng cũng đi đâu mất luôn. Chắc ra ấp chiến lược chớ gì! - Biết tôi hỏi lòng vòng để dò xem tin tức mẹ con bé Hoàn, anh nói luôn- Cả dì Mười nó tôi cũng không gặp mà cũng không có chút tin tức gì.

Có lẽ anh biết mà giấu tôi đó thôi, nên tôi cũng vờ như không biết, chứ thực ra trong lúc hội bàn đào trước khi xuất phát đánh Tân Quy, người ta đã cho tôi biết cô nàng đã lấy sĩ quan Sài Gòn.

Và Năm Tiều đã khuyên tôi: "Đừng vì con nhỏ đó mà liều mạng!"

Sáu Phấn lôi tay tôi về hầm. Hầm của anh là một cái núi con. Tôi có cảm tưởng là anh đã đào một ngàn thước khối đất để móc cái lòng và đắp nấp hầm này. Nhưng trớ trêu thay, Sáu Phấn không chết vì bom đạn mà vì những quả lựu đạn con con sau này.

Sáu Phấn lụm cụm một hồi mới lôi ra hai ba món gói rất kỹ. Một chai đế, hai cái ly cối và một gói vuông vuông ràng rịt rất kỹ.

- Đây là chai rượu gốc và cặp ly ở nhà, vợ tôi bảo tôi mang theo trước khi bả từ giã đi xuống Phú Hòa Đông. Bả dặn chừng nào gặp thầy Hai mới được uống. Trời, vợ tôi nó cũng mến thầy và mong thầy trở thành tía con Hoàn cho bả vui, nhưng mãi tới nay, đôi chim con Bắc con Nam, biết bao giờ gặp lại. Bụng tôi cũng muốn thầy ừ một tiếng để dì Mười nó có nơi nương tựa.

Sáu Phấn nghẹn ngang, mà tôi cũng rưng rưng. Quả thật có lúc tôi cũng muốn bước tới cho xong, để lang bang mãi khó lòng qua! Mười không có văn hóa cao nhưng làm vợ thì chắc là vẹn toàn.

Tôi nói như bao nhiêu lần tôi nói với các cô bạn:

- Tình hình này có vợ con vướng bận quá anh Sáu à ! Để dứt chiến tranh đã.

- Cái cuộc chiến tranh này kéo dài còn hơn chín năm nữa đó thầy Hai.

Sáu Phấn vừa nói vừa mở cái gói ra. Bên trong là những chú tôm khô đỏ au, bóc vỏ thật sạch.

- Tôi cất đã...lâu lắm. Có đến cả năm cũng nên. Dầu cực ăn mấy cũng không ăn.

- Để lâu vậy nó mốc hết anh Sáu.

- Lâu lâu tôi đem ra phơi rồi gói lại.

Hai anh em ngồi nhâm nhi tôm khô rượu đế.

- Đế Sa Nhỏ sao sánh kịp, thầy Hai ! Cái này là của vợtôi kháp lấy. Thầy đi mệt, uống cho đã đi rồi ngủ. Lạy trời đêm nay đừng có B52 để hai đứa mình ngủ chung và tâm sự và bàn công tác.

Tôi nghe lạnh lẽo quá chừng. Dù uống nửa chai lít mà cũng không đánh tan được cái khí âm bao chặt lấy hai đứa.

- Tụi nó chết hết rồi, chỉ còn có mình tôi thôi thầy ạ . Trời, bốn đứa: Năm Thủ, Sáu Uya, Ba Tố, Ba Dứa lãnh một trái bom đìa, không lượm được một miếng da. Kỳ đó họ phân công tôi ở nhà, xong công tác về sẽ múa ve chai một bữa. Dè đâu có đi mà không có về ! Mồ mả cũng không biết đâu. Nhưng phải vậy thôi đâu, để mai tôi dắt thầy ra thăm mả thằng Tôn Sứt và hai cậu cận vệ của nó. Ba thầy trò nằm bên nhau, chết như một tổ tam chế. Thầy coi đó, thầy vắng có một năm mà trở về trống bao nhiêu chỗ (còn tôi, chết hụt bao nhiêu lần?). Thầy đi có vài bữa thì hai vợ chồng Ba Tâm và con Thu (cứu tôi dưới hầm) lãnh một trái 155 của Đồng Dù. Năm Dị chết và thằng Đỏ cụt hai giò. Tôi tội nghiệp nên cho nó đi R chữa bệnh (tôi không buồn hỏi cụt hai giò bằng cách nào). Khi qua đây, Tư Kỹ- C phó trinh sát, với thằng Tâm, thằng Lan qua trắc pháo đi nghiên cứu Dầu Tiếng bị phục kích chết mất xác ở Làng 8. Thằng Đức - B phó trinh sát, mất tinh thần xin về hậu cần. B trinh sát nay chỉ còn bốn đứa. Tụi Mỹ đánh rát quá tôi phải vọt qua sông. Cả D8 cùng đi theo. H6 chia làm hai bộ phận: ông Năm Thủ ở bên Củ Chi, thằng Tôn (Sứt) ở bên Bến Cát, nhưng rốt cuộc cũng chết hết. Mười mạng đi dứt trong mấy tuần lễ. Bên này thằng Tôn và Năm Đùng nhờ quận đội Bến Cát cho đất từ Rạch Bắp lên Bưng Còng nên còn ngoi ngóp thở được. Cuộc càn sơ sơ của tụi Mỹ vừa rồi lại giết luôn thằng Tôn và hai cận vệ. Rồi thằng Tám Mau phó chính trị viên D, một chị nuôi và hai thằng liên lạc bị một trái pháo mồ côi của Lai Khê bắn qua. Cả cái H6 bây giờ chỉ còn tôi và Năm Đùng. Còn D8, thằng Mười và Tư Cư làm sao gánh nổi?

Sáu Phấn nói một hơi như tụng kinh sám hối không dứt đuôi. Nghe Sáu Phấn "báo công một năm thành tích của H6" mà tôi bủn rủng cả tay chân. Nhìn cái mặt gầy trờ xương và dài sọc của hắn tôi càng tê tái tâm can. Tôi được Năm L6e xách cổ ném về đây là để củng cố lại H6, nhưng chính cái gốc cây đã tróc thì làm sao vun xới cho nó lên xanh? Muốn đứng vững phải có đất chắc dướ chân. Ở đây đã mất đất, mất người và người còn lại (như Sáu Phấn) thì mất tinh thần, thì tôi làm gì được? Tôi bảo Sáu Phấn:

- Bây giờ anh đang làm gì?

- Ngày nào cũng chỉ đôn đốc đào hầm để trốn B52 chớ còn làm gì nữa thầy?

Tôi nghĩ: B52 bây giờ là một cái dịch. Nó bỏ không sót chỗ nào. Trước kia còn có cái lệ buổi sáng chống B52, trưa chống pháo , còn bây giờ không có lệ gì nữa. B52 bỏ cả lúc nửa đêm.

Tôi ngồi uống rượu với Sáu Phấn mà bụng rối như tơ vò, nhưng bên ngoài cố làm tỉnh như kiểu Khổng Minh toạ lầu. Tôi nói theo công thức Sáu Di để an ủi bạn:

- Ở trên đã có kế hoạch đánh lớn. Anh đừng lo!

Rồi tôi hỏi thăm vợ con anh. Sáu Phấn lắc đầu:

- Thầy với dì Mười nó thì không biết còn gặp lại không, chớ vợ tôi thì kể như hết mong rồi!

(Mà thật! đó là lời trối của Sáu Phấn, viên đại úy 42 tuổi mới có con oe oe)

Đang nói chuyện liên miên, bỗng có tiếng oang oang từ trên trời vọng xuống, từng tiếng nghe rõ như radio:

"Nghe đây! Nghe đây! Tôi là Võ Văn Phán, cấp bậc thiếu tá, nguyên là trung đoàn phó tập kết trong sư đoàn 338 của thiếu tướng Tô Ký ở Xuân Mai, về Nam năm 1964, nhận lãnh chức vụ tham mưu phó Quân Khu I..."

Gió tạt nghe không rõ, một lúc máy bay mới quay trở lại, tiếng loa lại tiếp:

"Hỡi.. anh em giải phóng hãy trở về với chính nghĩa Quốc Gia!"

Tôi thấy mặt mày Sáu Phấn tái ngắt. Anh lắp bắp:

- Bỏ mạng rồi thầy Hai ơi!

- Cũng thường thôi anh Sáu. Cái mửng này tụi nó cứ chơi hoài ở ngoài Trường Sơn chứ phải mới đây sao?

- Nhưng mà thằng Bắc Kỳ này có tới đây. Nó làm tham mưu trưởng mà ! Phải dời đi mau mau không thì B52 tới ngay. Loa dứt là bom tới đó.

. Nếu nó tới thì mình đi cũng không kịp.

- Thầy có nên nó ở ngoài Bắc không?

- Có chớ. Mặt nó đen sì, môi thâm. Kên lập trường dữ lắm Mẹ kiếp lập trường bây giờ hành lập bò . Hôm trước tôi nghe nó bị trực thăng chụp ở Cầu Xe, tôi có đánh dấu hỏi. Tại sao chụp ngay chóc hầm nó và không có bắn dọn bãi? Đó là con vợ nó báo cho lính tới thôi.

Sau này cũng có một vụ khu hầm tương tự. Đó là trường hợp Hùynh Minh Đạo, tham mưu trưởng kiêm quận đội phó Củ Chi. Lính đổ ngoài đồng rồi đi thẳng vô ngay nắp hầm cạy lên trúng phóc, móc anh chàng lên mặt mũi thật sạch sẽ.

Nghe dứt lời của loa, Sáu Phấn hỏi tôi:

- Bây giờ tính sao thầy Hai?

- Chạy không kịp đâu anh Sáu. Rủi nửa chừng mà B52 tới hoặc pháo giã mình không có công sự, cứ lêu bêu trên mặt đất thì càng nguy. Chi bằng bám trụ ở đây. Rủi ro thì "cò ỉa miệng chai" ai nấy lãnh. Tử sanh hữu mạng thôi chớ biết làm sao bây giờ anh Sáu!

Thấy tôi có vẻ tỉnh táo, Sáu Phấn cũng bớt hoảng hốt. Sự thực ra tôi đâu có gan gì đến nỗi nhưng bên ngoài cứ làm tỉnh. Mình là chỉ huy mà tỏ ra rối ren thì cả đơn vị mất tinh thần.

Tiếng loa tạt đi xa dần rồi biến mất. Tôi bảo Sáu Phấn gọi hai cậu cận vệ tới chia bài đánh tu-lơ-khơ để bớt lo lắng. Thấy mấy cậu bé tôi càng nhớ thằng Đỏ. Tội nghiệp một trái pháo ban mai giết hai vợ chồng cô Thu và tiện mất hai chân cậu bé. Trong các cậu cận vệ, nó thương tôi nhất.

Tôi đã có ý chờ con Thanh, con Nữ, con của vợ Sáu Phấn và chị Chín Kiểu lớn lên sẽ cưới một đứa cho nó. Nhưng bây giờ tật nguyền như vậy ai mà ưng. Cũng như Năm Hoa bị Tám Mang ngó lơ vì mất cặp chân.

Ván tu lơ khá giả tạo không có tinh thần, nhưng cũng trấn tĩnh phần nào được bốn thầy trò. Rồi tới khuya, lăn ra ngủ quên mất pháo và B52.

Nhưng tới sáng thì trực thăng đáp tới ầm ì. Sau này người ta còn đồn rằng có hai anh lính của K30 tức hậu cần Quân Khu bất mãn vì cấp trên bắt vác gạo, chạy đuôi tôm qua sông Sài Gòn và đánh xe bò liên tục ba năm, chết hụt không biết bao nhiêu lần mà không được lên chức nên "mần một cú" cho bõ ghét.

Nhưng phần lớn dư luận cho rằng chính Bảy Phán là nhân vật chính của tấn thảm kịch này. Bảy Phán mới biết rõ cơ sở kho tàng và hầm bí mật cùng nhân viên, xã đội trong vùng Bến Chùa.

Trận này lính Dầu Tiếng phối hợp quân Mỹ đánh cú rất độc địa. Nhà nào có hầm cũng bị sục sạo không sót một gốc cột. Nhiều cán bộ thuộc K1O, K20, K30 tông nắp hầm chạy ra bìa rừng bị trực thăng bắn chết hết. Xác đếm được đến cả trăm, nằm lển nghển ngoài bìa rừng, sình thúi năm sáu ngày sau không hết. Lần đó quận đội phó Sáu Hòa, cô nàng xinh đẹp nổi tiếng vùng Bến Cát, cũng bị thương, nghe đồn là chết ngoài bìa rừng. Đau đớn thay cho... ông Thiên Lôi!

Đó là mặt trên bờ. Còn dưới sông thì có giang thuyền Bình Dương, rải dài từ Bến Chùa tới Thanh An, một đoạn đường dài ba cây số, như đăng chận cá. Ngoài ra, Mỹ còn đổ quân trên đường 14 từ Thanh An đến suối Gò Gấu, xa xa có cụm canh chừng, ai ló ra đều bị chúng vớt hết. Trong lúc đổ thì trực thăng đổ quân giữa rún cho lính lục soát từng nhà, bù-nốc rà sát ven rừng tỉa từng phát.

Các kho gạo, kho thuốc men bị khui và thiêu hủy. Hại thay lại là thời điểm quan trọng. Các nguồn dự trữ này là để phục vụ cho Tết Mậu Thân.

H6 ở ngoài vòng nhưng cũng có thiệt hại vì một số nhân viên đi dạo phố Bến Chùa để rửa mất, bị kẹt trong vòng vây mất năm, sáu chú.

Sáu Phấn lo âu bạc hết cả đầu là phải. Sau khi các thứ quân rút, B52 tới. Vui vẻ như thế nào, dù các bạn không nếm mùi cũng tưởng tượng ra. Những trái bom nổ chụp xuống đầu với độ là những miếng bom "giao" với nhau thành một tấm lưới mênh mông chụp xuống mặt đất rộng vài cây số vuông, và mỗi lần chụp cách nhau chừng 30 giây hoặc không cách nhau giây nào.

Một con dế nằm trong lưới này không trúng miếng cũng tức thở mà chết nữa là người. Mà dù có sống sót thì cũng điếc Nhiều anh chàng đã phát điên vì đứt thần kinh hệ.

Tôi ở với Sáu Phấn độ ba tháng. Việc đầu tiên là tôi cho xây ba căn cứ khác nhau, mỗi căn cứ cách nhau từ một đến hai ngày đường. B52 chỉ bay mất năm phút. Hễ có tin B52 là chuồn sang căn cứ mới. Có cơ quan (không nhớ là K nào) cũng được tin Liên Xô cho, hộc tốc chạy. Không hiểu tin vịt hay mật mã sai "cốt" mà vừa đến nơi lại lãnh B52 nguyên gói. Có đám què quặt lê lết ở sau lại không sứt miếng da! Thiệt buồn cười ra... nước đái!

Một hôm trong một bữa nhậu đế tôm khô, Sáu Phấn tâm sự với tôi:

- Thầy biết tại sao thầy lại trở về đây không?

- Tại nhu cầu cách mạng!

- Không phải đâu! Tại thăng Phấn này.

Tôi trố mắt nhìn anh. Anh tiếp:

- Tôi đã làm đơn gởi cho ông Năm Lê. Tôi đã nói thẳng nếu ở trên không trả thầy về H6 tôi sẽ từ chức.

- Giỡn hoài anh!

- Tôi nói láo cho pháo ăn tôi. Thầy có muốn coi bản lưu không? Ký tên Sáu Phấn chính trị viên D rõ ràng!

Rồi bỗng anh nghẹn ngào:

- Nếu tôi có bề gì thì thầy săn sóc giùm vợ con tôi. Con bé mới một tuổi rưỡi.

Tôi kêu lên:

- Có việc gì mà anh trối trăn như vậy, anh Sáu?

- Tôi linh tính là lần xa vợ con này tôi không còn gặp lại nữa!

Trước đây mấy hôm tôi bảo mấy cậu trinh sát tìm mua cho tôi ba con gà để tôi cúng mộ ba thầy trò Tôn Sứt, một việc làm nhân nghĩa và đúng tục lệ ông bà, như tôi đã làm đối với Huỳnh Thành Đồng ở Trung An khi xuống đánh đồn Thầy Mười.

Tôn Sứt, Bùi Khanh, thằng Sâm ở trên R có biết bao kỷ niệm với tôi. Nó đánh trận Bổ Túc bị thương sứt tí mô , nên thành danh Tôn Sứt. Nhưng các cô vẫn yêu cái chỗ sứt duyên của nó. Nhưng chưa kịp cưới nhau thì đã mạng vong bỏ vợ góa lại trần gian.

Mặc dù có ý định cúng tế như vậy nhưng thấy Sáu Phấn bi quan quá mức, tôi không dám bày ra nữa. Sợ làm cho anh rầu, sụp luôn không ngóc dậy nổi, nên dẹp bỏ ý định đó.

Tôi thấy lúc nào anh cũng đăm chiêu hoặc thở dài sườn sượt. Tôi có cảm giác anh là con rùa không dám ló đầu ra khỏi vỏ. Tôi bảo:

- Để tôi đến ở với anh cho vui và dễ bàn tính công việc.

Anh mừng rỡ chấp nhận ngay:

- Lâu nay tôi cũng muốn đề nghị với thầy như vậy mà không dám nói ra.

Nhưng tôi chỉ ở với anh một thời gian ngắn. Trong thời gian này tôi ra lệnh cho mỗi chiến sĩ đào hố cá nhân hình chữ L mỗi cạnh năm thước, sâu một thước rưỡi. Bảo đảm sống trước đã rồi sau đó mới chiến đấu. Ngoài ra tôi còn chỉnh đốn kiện toàn lại ban chỉ huy D và các ban chỉ huy C, B, A và các trợ lý bảo vệ, tham mưu, hậu cần, và phỏng theo kiểu tổ chức của 307 hồi xưa mà tôi học được hồi còn .

Một hôm lại có lệnh khẩn gọi tôi đến gặp Năm Lê. Đi ngay không có thì giờ chuẩn bị. ở đó mà rù rờ, B52 từ Guam tới mất 28 phút, từ Utapao mất có 15 phút. Chậm chân sao kịp? Gặp tôi, Năm Lê nói ngay trong tiếng cười hề hề :

- Tao đâm ra sợ mày đó Lôi.

- Sao vậy anh Năm?

- Mày như con ngựa bà chạy khấp. Bây giờ tao nói ngay nhé. Các bà già trầu và mấy lão guốc vông áo bà ba lại đòi trả mày về Củ Chi cho mấy ông bả nghỉ ngơi ăn trầu xỉa thuốc.

- Đơn vị nào anh Năm?

- Quận đội.

- Trời đất?

- Vì mày rành đất Củ Chi và nhân dân các xã. Chớ để ông Bắc Kỳ Thứ thì hỏng cả. Ổng kêu mấy chục xã đội trưởng lên trình diện, chẳng thằng nào léo tới làm ổng nổi cáu. Mẹ kiếp, chỉ huy du kích, xã đội còn khó hơn chỉ huy một binh đoàn. Muốn triệu tập một ban chỉ huy xã đội phải bò dưới gầm giương nó coi nó đéo vợ nó mấy cái đêm đó. Nếu nó làm tới hai ván liền thì đừng hòng nó đi họp vì nó lỏng đầu gối, nhưng nó đổ thừa là nó bận việc nọ việc kia toàn là việc đảng không hè. Còn nằm trong hang mà đánh công văn triệu tập thì tới năm Tý năm Dần nó mới tới cho. Lôi à ! Mày đừng có phiền anh Năm mày nhé ! Không phải ý kiến của tao điều động mày, mà là mấy bà già trầu ngoáy và mấy lão xỉa thuốc ông Tề kia, nhưng kể ra họ cũng sâu sắc lắm. Họ biết hiện giờ chỉ có mày mới khiển nổi đám dũng sĩ Năm Cội, Bảy Mô, Bảy Nê và giúp luôn cả cái Q16 bết bát nữa. Như tao đã nói với mày lần trước là hiện giờ ở trên đang sửa soạn... vậy đó. Và Củ Chi sẽ là bàn đạp cực kỳ quan trọng, Nếu không có Củ Chi vững mạnh thì không nhảy vọt được. Nếu thằng Tám Giò chưa chết thì tao cũng đề nghị khu ủy thay thế nó. Chứ chiến trường mới nó không kham. Cứ lọ mọ với ba cái hầm và bom lép thì Mỹ nó ăn gỏi hết.

Tôi còn nói được gì? Năm Lê tiếp:

- Mày không phải trở lại H6. Cần gì tao cấp cho đủ hết, rồi thằng Nông và thằng Quyết đưa mày đến anh Ba (Xu) ngay. Ảnh cũng cần gặp mày để chỉ thị cho việc gì đó. Chỉ có hai cậu này mới được dẫn khách vào căn cứ của ảnh mà thôi. Và khách phải do tao chấp thuận. Thôi, vậy đi, không còn nhiều thì giờ nữa.

Thế là tôi đi theo hai cậu liên lạc đi đến căn cứ ông Tư Lệnh.

Chắc ổng đã rời khỏi cái nơi êm ấm của dì Ba rồi từ sau lúc Hai Phán leo lên trực thăng.

Tội nghiệp các nàng thỏ bạch của tên Thiên Lôi. Tay ngọc chân ngà môi son má phấn giờ này không biết còn ở đó hay là trôi dạt nơi nào. Ra rừng làm sao mà kham nổi?

Đã hai lần gặp Năm Lê. lần nào tôi cũng định hỏi về cái tai nạn của ông Sáu Di, những lần nào sắp hé môi rồi cũng ngưng. Có hỏi ông cũng không nói thật mà lại quở mình là đằng khác.

Nhưng thời may trên đường đi gặp Hai Ninh ở H6, anh này là một trong các nhân vật rõ cái tai nạn trên kia.

Tôi bèn mời anh ta điếu Capstan và lôi tay ngồi lại trên một thân cây bị xe tăng ủi lật.

- Sao coi bộ không vui vậy bồ nhà?

- Vui mẹ gì được. Mới đội một phát lát da đầu coi đây !

Hai Ninh mọp xuống vò vò đầu.

- Ê, vụ đó có thật không ta?

Tuy tôi không nói "vụ đó" là vụ gì nhưng Hai Ninh cũng hiểu là vụ gì. Hai Ninh ngó dáo dác. Thấy hai cậu liên lạc đứng xa xa bèn rỉ tai tôi:

- Thật 100% rồi chớ còn gì nữa.

- Tôi không tin chút nào.

- Tao đích thân gói uy lông.

- Rồi làm sao đưa về Hà Nội?

- Tao chỉ chịu trách nhiệm đưa về tới Minốt thôi, còn từ đó ra Hà Nội ai biết được.

Tôi thầm nghĩ: mấy ông nội Miên đỏ dám chê thúi vứt bờ vứt bụi lắm!

Hai Ninh đứng dậy bắt tay tôi và dặn:

- Đừng có nói tùm lum nghe cha nội. Đứt đầu rán chịu lấy.

- Ai mà nói ra làm gì để đứt cái đầu... Nhưng đầu nào?

Hai Ninh cười nhưng không dám cười bình thường, chỉ một nửa, như cửa vừa hé bỗng khép lại. Bây giờ tôi mới để ý thấy cái miệng của hắn hơi méo méo, bèn hỏi:

- Ê cái miệng của cha sao vậy? l

- có sao đâu?

- Bộ cha không có rọi kiếng sao?

- Chạy đứng lại không được mà ở đó rọi kiếng.

- Góc mép trái hơi lệch đó nghe cha. Có cần điều chỉnh thì tôi lấy thước lô-ga-rít của pháo binh tôi sửa lại cho đúng hướng đúng tầm, chớ để vầy phóng trật mục tiêu hại thường dân lắm !

- Giỡn hoài nhà pháo, thôi để tôi đi.’ -Nói xong hắn quay đi.

Nhưng tôi níu lại thầm thì:

- Ê cái vụ "nhánh cây" có thiệt không tía nó?

- Nhánh cây gì? -Hai Ninh gắt.

- Lịch sử Việt Nam sẽ ghi cái nhánh cây đó, mà ông là một trong mấy người chứng kiến! Ngồi xuống nghỉ chân chút nữa đi. Tôi có đế và tép khô nề, bẻ nhánh lá giang chua làm đỡ vài hớp cho nóng máy. Bây giờ còn sớm, ông qua suối Xây Nô cá rô nó rỉa tiêu trên như Chín Mành đó.

Nghe tôi "dọa" Hai Ninh cũng lưỡng lự. Tôi bèn lôi tay hắn rề lại gốc cây bật rễ có cái lỗ tun hút.

- Có gì thì hai anh em mình chui xuống đây cũng đủ mà ! -Vừa nói tôi vừa móc tép khô ra đưa cho hắn ba con.

- Ở đâu có thứ ngon này?

- Ở đâu có thì thôi.

- Mày đi đâu cũng no như cưỡng. Em út bu đen phủi không hết. Vụ con gái ông Ba mày định ngâm tới chừng

- Tôi có định gì đâu?

- Người ta đồn rùm, nói mày sẽ cưới con nhỏ giữa.

- Không có đâu cha nội. Chỗ quan quyền người ta sang trọng, mình là bần cố nông vô đâu xứng.

- Mày là "bần cố nội" tao chớ bần cố nông! Bần cố người ta lên chức rần rần sao bần cố nội mày đứng chựng ở đó?

- Thôi đi ông.. . Nè , làm hết bình toong này mới đi nghe.

- Làm hết nhiêu đó có lết chớ đi sao nổi.

- Có ba cái đế vô rồi, B55 cũng không ngán nữa là B52, B53.

Hai Ninh không có chân trong hội ve chai chống Mỹ của tụi tôi nên mới làm sơ sơ mặt đã đỏ ké ! Tôi một ngụm, hắn một ngụm chớ đâu có ly tách gì. Mỗi lần cầm chiếc bình toong, hắn sục sạc coi còn bao nhiêu rượu, rồi lắc đầu hai ba cái mới uống, uống xong nhăn mặt quẹt miệng lia.

- Mày chơi ác quá !

- Hừ, uống rượu mà làm như uống thuốc Bắc vậy cha nội. Đây là vũ khí chống B52 kết quả nhanh nhất. ê... Trận đó đất đã "gung ghinh" tới ông chưa?

Hai Ninh nhìn tôi mắt đỏ ké, ngẫm nghĩ một hồi mới nói:

- Thằng Mỹ nó đui, chớ nếu nó rắc tới chút nữa là cái hầm của Tư Cường tiêu hết. ...

- Tư Cường nào? -Tôi biết mà còn làm bộ hỏi.

- Tư Cường công binh. Chính ổng chỉ huy làm cái hầm đó .

- Vậy à? Để làm gì mà... dữ vậy?

- Hừ, mày cứ dụ khi tao làm bộ hỏi bí mật hoài.

- Tôi làm bộ chớ tôi biết hết trơn rồi cha ơi. Chưa chắc cha biết rõ băng tôi. .

Hai Ninh trợn mắt:

- Mày biết cái con củ cặc họ! Tao ở ngay đó mà biết thua mày à?

- Ông biết thằng bí thư của "ổng" là ai không?"

- Là ai?

- Nó là bạn tôi, đậu phó tiến sĩ bên Liên Xô mới về.

- Mày nói nó là thằng Ba T... chớ gì?

- Còn ai vô đó.

- Trật lất. Xuống đây ông có "bí" mới rồi.

- Không có bí mới nào hết. Cũng thằng T... đó thôi. Ông cần biết thì tôi nói rõ tên cúng cơm và lý lịch của nó cho ông nghe. Xuống đây nó có gặp tôi nhậu một đêm nữa mà ! -Tôi tháu cáy hắn một hơi luôn.

Hắn đành chịu thua:

- Nếu vậy thì chắc tôi lầm. Vì trong đám tùy tùng có đến năm bảy đứa cả Nam lẫn Bắc, tôi không biết đứa nào.

Tôi thắng thế bồi thêm:

- Thằng nào trắng trẻo mặt tròn, đẹp giai giống như ông cụ Mao là bí thư của ổng đó. Nó là thành phần địa chủ, nhưng đầu hàng bần cố nông sau Cải Cách Ruộng Đất nên được ổng cho đi gần để ổng truyền lập trường cho sau này có thể làm chánh ủy một Quân Khu như ông Trần Độ vậy. Tướng Trần Độ ngày xưa cũng chỉ là kẻ xách dép cho đồng chí Trường Chinh thôi. Nhưng khi về Hà Nội, ổng làm tới chánh ủy đại đoàn 308 và sau 1955, làm tư lệnh kiêm chánh ủy Liên Khu 3. Hễ gần mặt trời thì sáng láng, ông ơi!

Thấy tôi nói thông suốt, Hai Ninh lơ mơ nói:

- Chắc vậy tôi hiểu lầm.

Tôi thừa thắng đẩy tiếp:

- Đi bên cạnh ổng có hai thằng bí. Bên trái là thằng T... bạn tôi, bên phải là một anh Bắc Kỳ. T... là bí thư chính trị văn hóa, thằng kia là bí thư quân sự.

- Vậy là đúng rồi! -Hai Ninh vỗ đùi đánh bép- Hôm bữa đó ổng đứng ở giữa, bên cạnh ông là anh Ba mình, còn bên trái là ai tôi quên mát, nhưng ngay đằng sau là hai cậu bí thư. Vậy mà nhánh cây không xọt ai hết, nhè ổng mà xọt ngay chóc. Tôi nghe một cái "pực" thì thấy ổng ngã ngửa ra đất. Anh Ba mình xốc ổng lên. Tôi cũng bu lại nhưng bị ảnh quát nên lùi ra . Chung quanh "ổng" có chừng năm sáu người thôi chớ không nhiều. Anh Ba hoảng hốt la lên mà đâu có ai hiểu ổng ra lệnh gì. Không có y tá y tướng gì bên cạnh ráo hết. Vì mới dưới hầm bước lên bịnh gì mà đề phòng. Trời! Óc của ổng dính đầy tay anh Ba. Chính tôi cởi cái áo của anh Ba bọc cái đầu ông lại chớ ai. Trời! ổng không nói được tiếng nào rồi đi xuôi. Tôi lén bước lại nhìn, mặt ông ngày thường nước da đồng điếu mà đã đổi ra xanh lét như da rắn lục cườm thấy ghê hết sức.

Tôi lắc đầu:

- Ông nội định đẩy cây thoa mỡ bò với tôi hả?

Hai Ninh sửng cồ:

- Tao đẩy mày té vàng té bạc gì hả thằng Thiên Lôi?

Tôi cười nhạt:

- Đi bên cạnh ổng phải là tư lệnh hoặc chính ủy. Ổng đến đâu như vua xuất cung nhất đẳng quân thần phải nghinh tiếp. Tướng nhèm chưa được tới gần ổng nữa là thiếu tá cỡ ông. Thôi đi ông nội con nít, ông đừng có đặt chuyện kể cho oai.

Hai Ninh cười khè khè mà không có vẻ giận dỗi, nói:

- Đúng thiên Lôi, mày nói đúng. Cỡ tao còn lâu mới được đứng cách ổng một cây số chớ làm gì được nhìn thấy mặt rồng. Nhưng tao cho mày biết nếu không có tao sẽ không nên việc gì cả.

- Khỉ khô ! Thiếu tá Ninh ổng coi như rác.

- Nè. tao nói cho chú em mày biết là chỉ có tao vô được cái hầm đó thôi. Để chi mày biết không?

- Để hốt rác và chùi đít ổng ỉa?

- Tầm bậy! Mày nên nhớ là trong đó có điện. Nhưng điện không quan trọng bằng điện đài -Hai Ninh vỗ ngực- Tao gắn, tao dựng, tao thử phát đi, tao thử bắt tin, bắt mật mã từ Hà Nội đây cu con ơi. Đây là tổng hành dinh của bộ tổng tư lệnh mày nghe rõ chưa? Không có thằng Hai Ninh này, tư lệnh tư lọt đều điếc và câm chớ làm được mẹ gì, chỉ huy được ai?

Tôi vẫn lắc:

- Ổng vô đây là toàn quyền quyết định như nguyên soái trấn biên cương, không cần phải xin chiếu chỉ triều đình. Ổng cần gì mà phải liên lạc với Hà Nội?

- Tao hổng biết. Nhưng chính điện đài dưới hầm bắt được mật mã Hà Nội. Nhưng nếu không cần xin lệnh ở ngoải thì ông phải liên lạc với R.

- R nào nữa? Ổng là tía của R, lại phải xin lệnh của mấy ông Chín Vinh, Sáu Nam à ?

- Củ cặc họ ! Mầy nói ngang tao không nói nữa.

Thấy Hai Ninh hơi tự ái, tôi vuốt nhẹ:

- Tôi công nhận là ông có xuống đó gắn điện đài, nhưng ông nói ông Sáu xin lệnh ở Hà Nội và liên lạc với R là không đúng, nên tôi phải cãi chớ.

- Không liên lạc với R thì ổng cũng liên lạc với các cánh quân để chỉ huy chớ!

- Cánh quân nào? Tôi thấy ở đây có cánh quân nào có mật mã đâu, chỉ có bộ đàm thôi.

Hai Ninh hơi giật mình nên rút lại:

- Tao hổng biết! ừ thì tao nói láo. Nãy giờ tao nói láo hết thảy. Mày đừng có nhớ làm gì. Mày có kể lại với ai thì đó là do mày biết, chớ không phải tao nói nghe chưa. Mày đổ thừa cho tao, tao chối đấy.

Tôi làm thuận, sợ ông bạn già giận nên hồi lâu mới tìm cách trấn tĩnh hắn:

- Nói thiệt chớ tôi không biết gì hết. Tôi chọc anh kể nghe chơi.

- Chơi! Chuyện vậy mà mày cho là chơi à?

- Chiến tranh mà anh Hai. May ai nấy nhờ, rủi ai nấy chịu, chớ ai muốn ông Sáu thọ nạn làm chi. Mà rủi ổng chết rồi, cũng không nên giấu làm gì. Trước sau rồi thiên hạ cũng biết, không phải ở trong Nam này biết mà thôi đâu mà ngoài Hà Nội người ta cũng biết. Và biết rồi.

Hai Ninh ngớ ra:

- Sao mau vậy được?

- Tôi không biết bằng cách nào, nhưng ngoài đó đã biết hết rồi. Hiện Củ Chi cũng biết. Cái gì mình càng giữ bí mật thì càng bật mí. Anh có nghĩ rằng Bảy Phán nó biết không? Nếu nó biết thì Mỹ cũng biết. Mỹ biết thì cả thế giới biết chớ bịt sao được?... Hiện giờ có cả lô trung tá, đại úy từ ngoài Hà Nội vào để tăng cường cho Quân Khu mình. Tôi có dịp gặp một vài người ở Q16 và E268 mới tới bổ sung. Trong câu chuyện chuyên môn họ trao đổi với tôi, họ có ló mòi, do đó tôi đoán là ngoài Hà Nội trong hàng tướng tá đã biết cái tin này.

(Quả thật tôi đoán không sai, chừng sáu tháng sau cái chết của Sáu Di, báo Hà Nội đăng cáo phó đại tướng Nguyễn Chí Thanh đau tim, đảng hết lòng cứu chữa nhưng không khỏi. Rồi sau báo Nhân Dân đăng tin Hồ chủ tịch một cơm bà Nguyễn Chí Thanh. .. Hai cái tin này đủ xác nhận chuyện gì rồi! Bọn Công Sản thường hay giấu như mèo giấu... Nhưng chúng giấu rồi chính chúng bới ra!)

Tôi cố phục rượu ông trưởng ban H7 (tôi trưởng ban H6, ngang cấp nhau mà ! Nên ông ta không ngại lắm). Tôi bảo:

- Hồi nãy anh nói Mỹ đui là sao anh Hai?

- Thôi thằng cu con, đừng có dụ nai tơ lên nó đục gân.

- Ông mà "nai tơ" hả? ông đục gân tôi thì có. Thôi dẹp cái vụ kia đi, ông kể cho tôi trận B52 nghe để tôi rút kinh nghiệm chút.

- Rút kinh nghiệm cái con... bà gì. Nó rắc trúng thằng nào thằng ấy chịu chớ kinh nghiệm gì. Bộ mày chưa đội sao mày hỏi tao?

- Đội nhưng mới vỡ lòng chừng ba bốn trận thôi, sao bằng anh đã lên đại học.

Hai Ninh nổi quạu ngay:

- Thằng Sáu Huỳnh gần đây cho tin vịt hoài.

- Sao vậy anh?

- Nghe theo nó chạy hộc gạch, rồi chẳng có đếch gì cả . Tệ hơn nữa, chạy đến nơi lại đút đầu ngay trận cho nó nện trúng ngay chóc. Mới vừa rồi đây, tụi tao bị một cú rục tùng. Còn chút nữa tao cũng xí lắt léo rồi.

- Hèn chi cái miệng của anh hơi lệch cán cân.

- Giỡn hoài mày! Kỳ đó nếu thằng Mỹ nó rải tới thêm một tấm.thảm nữa thì rụm cả hầm. Nhưng không hiểu sao nó lại rải ngang.

- Anh nói sao tôi không hiểu gì hết.

Hai Ninh ngồi xổm xuống đất lấy que vẽ nguệch ngoạc :

- Vậy nè! Thay vì kéo dài ra nó lại mở rộng mày hiểu chưa? Trước đây thì nó cũng rải liền mí như đợt trước rải xong, đợt bắt từ mí mà rải tới, đợt ba rải tới nữa, như vậy thành tấm thảm hình chữ nhật dãy dọc. Không biết sao mấy chục trận gần đây nó lại rải bề ngang. Nghĩa là ô đầu tiên ở đây, ô kế là bên phải, ô kế là bên trái hoặc bên phải không ai đoán được. Rồi ô kế cũng không biết bên nào để mà chạy. Chạy nhanh cũng có thể kịp. Hoặc chạy tới, chạy lui hoặc tạt qua phải, hoặc qua trái. Có khi liều mạng, ‘chạy tới chỗ nó vừa "trải xong, mình ngồi". Nhưng bây giờ nó rải loạn xị không có lề lối nguyên tắc gì nữa, nó rải.cả trên ô nó vừa rải. Cho nên tốt nhất là năm mím dưới hầm mà cầu Trời khẩn Phật thôi.

- Thằng Mỹ nó linh động lắm anh Hai à ! Đánh với nó bằng bộ binh cũng vậy chớ không riêng gì B52 mà thôi đâu. Pháo binh còn ác nữa. Có khi nó bắn cả trăm, cả ngàn, cả chục ngàn trái. Có khi chỉ một trái. Một ngàn không trúng ai mà một trái lại chết cả hầm.

- Thôi tao đi nhé Trễ rồi !

- Gì mà gấp vậy anh! Còn chút dưới đáy bình toong và mấy con tép, anh làm một cái cho ngọt rồi chia tay. Coi như mình ăn Tết con khỉ già rồi đó anh Hai.

- Đường dây vừa làm xong, nó bỏ tiêu hết rồi.

- Nó nào?

- B52 chớ nó nào. Ở trên bảo phải làm nhanh cho kịp.

- Kịp gì?

- Kịp gì ai biết kịp gì. Nhưng không có cái đéo gì trong tay hết trơn, báo cáo lên, ở trên bảo khắc phục. Dây điện chớ phải dây chuối đâu mà khắc. Tao cần năm chục ngàn thước mà chưa có thước nào.

- Vậy anh chọc cho Mỹ ném xuống cho anh như Khổng Minh lấy tên của Tào Tháo vậy.

Trời chiều ráng mọc đỏ ối. Rừng thẫm lại trông rất thê lương. Một thằng bạn già trông càng thê lương hơn. Hai Ninh cắm cúi đi. Tôi ngó theo. Tưởng đó chính là mình, mình sẽ như thế, không lâu.

Hai cậu liên lạc Nông và Quyết mắc võng toòng teng dưới một thân cây đổ nằm ngủ ngon lành. Ở đây vào thời điểm này là vậy. Ăn nhậu, chơi bời, hò hét, ngủ nghê được phút nào hay phút ấy, để rồi biết đâu trong nháy mắt tan xương.

Ai ngờ một ông đại tướng hét ra lửa như Sáu Di mà chết như một con vịt bị phang vỡ sọ ngay trong ao nhà .

Ba mươi năm qua, 1967-1995, bây giờ khi ngồi viết những trang hồi ký này tôi vẫn còn nhớ nguyên câu chuyện kể của Hai Ninh và lời dặn "đừng cho ai biết". Thiên hạ đã biết cả rồi. Nhưng có lẽ còn một điều chưa ai biết. Một cái dấu hỏi nghi ngờ. Có bàn tay bí mật nào theo dõi hắn ta từ Hà Nội vào tận đây để thừa cơ hạ thủ chăng?

Cái gì mà Cộng Sản chẳng dám làm. Chúng giết Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn và những ai khác nữa, thì sợ gì mà không chơi tên Sáu Di. Tên này nhờ Hồ nâng đỡ có vẻ lấn lướt ông đại tướng Quảng Lạc kia. Thù hận của những kẻ có súng ống em út trong tay bộc phát ghê gớm. Staline giết Kirov bằng tay một tên Bolchevik khật khùng, ám sát đại tướng Frunze trên bàn mổ. Mao Trạch Đông giết Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài bằng tay mụ đàn bà.

Thì Việt Cộng ngán gì ai mà không dám làm. Nhất là ở giữa rừng sâu, chỉ có cóc nhái mới rõ được. Nhưng đau đớn cho mụ góa răng đen mỏ quạ ở Hà Nội ăn cơm với Hồ chủ tiệm mà chẳng rõ được nguyên do cái chết của chồng mình . Nhưng cũng đáng đời cho một tên cướp. Cái xác hắn không biết có về tới Hà Nội không? Theo nhiều luồng dư luận xầm xì thì hai cái xe thồ xác ông đại tướng đã không đến được Minốt.

Bạn đọc hãy giở bản đồ ra xem sẽ thấy từ Long Nguyên (nơi có cái hầm của Sáu Di) về tới Tây Ninh, qua biên giới Việt Miên là bao xa? Rồi từ đó qua tới Minốt là bao xa nữa. Ít nhất 100km, mà là đường rừng. Và đường rừng nát bét vì B52. Phải qua những điểm nóng và luôn luôn bị trực thăng soi, đuổi, canh chừng không hở của sư đoàn 5 Sài Gòn. Từ Long Nguyên muốn qua biên giới Cao Miên phải qua suối Ván Tám rồi suối Bà Chiêm, xong phải vượt sườn núi Cầu sát đường 14 là cái chốt thường trực của sư đoàn 5. Nếu không qua được núi Cầu phải trở về suối Bà Chiêm để đi lên suối Ngô. Từ đó dưới có thể lên Bổ Túc (chỗ tôi và Tôn Sứt thực tập DKZ). Từ Bổ Túc mới đi Kà Tum. Xong đoạn đường này mới mong qua được Minốt.

Riêng từ Bổ Túc đến Minốt cũng phải mất hai ngày nếu xe đạp êm xuôi không bị bom pháo, lính ruồng ngăn cách. Còn từ Long Nguyên đi Minốt nếu đạp xe trong rừng và không bị bom đạn cũng mất ít nhất bốn ngày. Nên nhớ lúc Sáu Di bị nhánh cây thọt bể đầu là vào cuối năm 1967, tất cả các mặt trận đều sôi động hằng giờ hằng phút. Nếu cố công thồ thì ít nhất phải một tiểu đội xe đạp chạy băng dưới bom đạn.

Một cái xác bó ny lông, phơi sương phơi nắng trong bốn ngày thì sẽ ra sao? Cho rằng cái xác này có được ướp như xác Lê nin đi nữa thì cũng không tránh khỏi ruồi nhặng bu theo và khi đến Minốt thì chắc là...

Một cái nhánh cây lạ lùng!

Nhưng dù ai giết hoặc trời hại tên giặc đầu đỏ mặt vuông miệng quai xách này thì có cũng là một sự may mắn vô vàn cho dân tộc. Vì nếu hắn còn sống thì chính hắn sẽ là tổng bí thư thay cho me xừ Duẩn, chớ không phải anh gà tồ Nguyễn Văn Linh đâu. Hắn là tên tội phạm trong Cải Cách Ruộng Đất và chủ trương ép nông dân vào hợp tác xã . Hắn sẽ còn tàn bạo hơn cả Lê Duẩn chớ không thua chút nào. Hắn thù trí thức, văn nghệ sĩ, nhất là dân Sài Gòn, hắn chửi thẳng vô mặt hồi tôi làm "anh hùng rởm" đọc diễn văn ở đại hội Mừng Công trên R năm 1964.

Viết đến đây tôi bỗng nhớ một chuyện nhỏ về hắn ở Hà Nôi. Hắn có hỗn danh là tên mặt sắt vì mặt hắn đen sì. Trong một buổi tiệc tùng chi đó có các bà phu nhơn thiếu tướng trung tướng đến dự nữa. Bà nào cũng khăn mỏ quạ răng đen mút chỉ, riêng bà Phạm Kiệt lại son phấn quần áo sang trọng. Phạm Kiệt là dân khu 5 được phong thiếu tướng chỉ huy lực lượng công an võ trang đóng tổng hành dinh gần bờ sông Hồng.

Hắn vô sau cùng. Cả buổi tiệc đứng lên. Hắn mặc áo sơ mi lụa trắng cho phản xì nước da lãnh đạo của hắn, không đeo lon gáo gì cả. Huấn từ xong, hắn đảo mắt qua các bà phu nhơn. Bà của hắn thì cú sụ như bà cán gáo già cóp. Bên cạnh đó lại là bà Phạm Kiệt mặt hoa da phấn rực rỡ tương phản vô cùng. Hắn bèn trỏ mặt bà ta và bảo tướng Phạm Kiệt:

- Vợ anh ăn mặc như một con đĩ!

Cả bữa tiệc sửng sốt vì lời "thân ái" của một ông đại tướng và là lãnh tụ đảng. Riêng bà Kiệt xấu hổ bỏ đi ra khỏi phòng tiệc, trong lúc hắn vẫn tiếp tục xỉ vả bà ta và rêu rao bốn đức tính cần kiệm liêm chính.

Hắn cũng ghét Võ Nguyên Giáp, đến không nhìn mặt nhau. Hắn càng ghét văn nghệ sĩ, nhất là Nhân Văn Giai Phẩm, cho họ là những tên phá đám. Trong lúc Nhân Văn Giai Phẩm bùng nổ to, một lần hắn đến huấn từ cho văn nghệ sĩ ở viện mạ kền của Hoài Thanh hô hào chống Mỹ , hắn cương:

- Dù phải chống Mỹ đến một triệu năm chúng ta cũng chống.

(Hồ chủ tiệm có nói... "năm năm, mười năm hay lâu hơn nữa ", còn hắn lên tới một triệu năm ! Ghê gớm thay ông đã đại tướng bần cố).

Văn nghệ sĩ tức cười nhưng bụm miệng.

Ra về, đạp xe song song với tôi, Nguyễn Tuân hỏi:

- Ông có nghe đồng chí ấy nói gì không?

- Dạ có chớ.

- Quelle notion de chiffres! Ông ta có khái niệm thế nào về những con số?

- Dạ, triệu năm là một triệu năm!

.... Những chuyện lãng xẹt như thế cũng còn nhiều nhưng ghi ra đây càng thêm mất mặt bầu cua của đảng. Xin trở lại chuyện Củ Chi. Ủa, không phải! Củ Chi đã mất sạch rồi. Bây giờ tôi đang ở Bến Cát trên đường về yết kiến ông tư lệnh Ba Đình, tức là Ba Xu, nghĩa là "Ba Đình giá có Ba Xu". Đâu mà rẻ hơn cá ươn thế, ít nhất cũng năm, sáu xu, một cắc chớ?

Thằng Nông và thằng Quyết dẫn tôi đi, vì B52 càn tan tành, tôi không nhận ra đây là đâu. Thằng Quyết bảo:

- Đây có thể là Đường Long.

- Tại sao?

- Vì mình chưa băng qua trảng Suối Cát. Qua suối đó mình mới lên thẳng Phú Bình.

Mặc cho nó dẫn đi đâu tôi theo đó. Hồi chín năm tôi đã từng ở vùng này và còn trẻ như hai đứa nó, bây giờ trở lại già ngắt mà cách mạng chưa tới đâu. Vậy hồi đó nghe mấy câu chúc Tết của cụ Hồ, các ông to bà nhỏ đọc rung đùi muốn đứt võng. Ai cũng mơ tưởng:

Chúng ta cùng đồng chung một ly đào
Tết này ta tạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy

Rượu đào không. Sum vầy cũng không mà chỉ có máu đào con khỉ Mậu Thân và ly tán tang thương thôi cụ ạ !

Tôi sốt ruột về Củ Chi nên thay vì chờ tối để băng qua Suối Cát như Năm Lê dặn, tôi bảo hai cậu cứ dắt tôi chạy càn. Chỉ chừng hai cây số trống thôi mà mệt muốn đứt hơi như lúc đoàn ăn trộm vượt ngọn sông Bến Hải. Qua cú chạy việt dã này tôi mới thấy sức lực của tên Thiên Lôi bắt đầu sa sút như Chí Phèo sau một trận say đã cảm thấy mùa thu của đời mình.

Lúc mặt trời sắp lặn thì chúng tôi tới bìa một khu rừng. Đứng lại lấy hơi, xong tôi hỏi đây à rừng nào? Thằng Quyết lắc đầu:

- Rừng nào cũng như rừng nào, em không biết. Anh coi đó cây không còn lá làm sao nhớ tên được.

Tôi mới nhận ra. Cành cây khẳng khiu, chơ vơ không có lá. Dưới gốc lá khô đơm vun mà không có dấu chân người.

- Nó rải hóa học hồi nào vậy tụi bay?

- Em đâu biết. -Thằng Quyết nói- Anh đứng đây, em và thằng Nông vô báo với trạm gác.

- Đi mau kẻo biệt kích nó chơi tao.

- Ở đây là bảo đảm anh không có thứ đó. Nhưng anh phải đứng xích lại đằng kia, đừng đứng ở mối đường làm lộ bí mật.

- Cái thằng!

Nó dạy tôi. Nhưng tôi cũng nghe lời nó mà di chuyển cách đó chừng một trăm thước. Vừa đứng yên thì gặp mấy cô tíu tít đi qua. Một cô reo lên:

- Anh Hai đi đâu lạc đây?

- Nhỏ nào đó?

- Em đây, anh không nhớ à?

- Em nào cái bụng thè lè vậy?

- Trời ơi? Anh không nhận ra em sao? Lam nè!

(Nói vậy chớ sao tôi không nhận ra. Hai chiếc nhẫn có khắc chữ "L" má nàng đem vô cho hai đứa ở Ràng mà! Quên sao được, nhưng thấy nàng đang mang bầu tâm sự nên tôi đóng kịch cho qua đi cái tâm sự não nề).

Lam đứng lại quay ngang, còn cô kia thì vui vẻ:

- Bộ anh Hai quên em rồi hả?

- Thảo, ủa không... Đứa nào anh nhớ mài mại.

- Quỷ anh chớ nhớ mài mại nữa!

- Anh oánh giặc riết rồi chỉ còn nhớ Mỹ.

- Đào hầm chung với em mà quên được à nghen.

- Em Lan hả? Nhiều Lan quá...

- Không, em là Phượng.

- À nhớ rồi ! Kỳ đào hầm gặp xương Cao Đài ở dưới gốc trúc. Vậy mà anh tưởng em... Mai ở trên trảng Đồng Rùm.

- Đồng Rùm ăn B52 nát tan hết rồi.

- Sao đi qua đây chỗ nào cũng nghe cũng thấy cũng đội B52 hết vậy cà? Chắc anh phải lộn về Củ Chi quá ! Mà em vô cơ quan hồi nào vậy?

- Lâu rồi. Em có lên R mới biết Đồng Rùm bị B52 đó chớ. Sông Bà Hảo bây giờ không qua được. Lò Gò Xóm giữa Kà Tum Kà Tiếc gì em đều có đi hết. Bây giờ em mới ở luôn trong cơ quan, khi nào em mời anh ghé chơi.

Còn một cô nãy giờ đứng ngó tôi, thấy cô Phượng dứt lời mới xen vô:

- Còn em nữa, nhớ hay quên, ủa ủa nữa coi! Quỷ anh đâu á !

- Anh xin lỗi là quên tuốt rồi.

- Anh mà nhớ ai làm chi.

- Ai đâu tự giới thiệu coi.

- Thơm nè.

- À Thơm...

- Thơm nào? Để em nhắc cho. Hồi anh trên R về, vô K29 gặp chú Tám Quang và chú Tám Hà ở Gót Chàng. Vừa tới nơi bị đầm già liếc bắn rốc kết nhớ chưa?

- Nhớ rồi. Còn Thảo đâu?

- Nó theo chú Tám Quang đi Rừng Sát rồi. Còn em mắc đi học y tá trên R, nếu không chắc cũng dính vô đó.

- Không dính vô đó thì dính chỗ khác.

- Thôi đi tụi bay ơn -nàng Lam giục.

- Ừ đi thì đi !

Lam không chào hỏi tôi thêm câu nào. Có lẽ nàng đau khổ. Nhưng tôi hiểu nàng. Kỳ đó sau khi về H6 nàng được phân công đi cơ quan khác. Ít lâu sau tôi ra chỉ huy bộ binh, coi như đã đứt đoạn tơ lòng. Rồi thời cuộc dồn dập ào ạt xua tới, tôi đâu có nghỉ ngơi phút nào. Hơn nữa tôi là con ngựa bà không muốn trao dây cương cho riêng một ai cầm giữ... Bây giờ thì nàng đã yên nơi. Có lẽ chiếc nhẫn nàng đang đeo kia, có chữ "L" là tên Lam (thay vì tên Lôi), còn chiếc kia cũng mang chữ :’L" là tên "Lôi" (thay vì tên "Lam") hiện đang trên tay của Là (cũng là "L") chớ không có trên tay nàng mà cũng không có trong túi tôi.

Thôi vậy cũng là êm đẹp. Nàng đã có chồng và sắp có con. Tôi càng mừng chớ không buồn và trách móc gì hết (tại duyên phận chúng mình nó như thế Lam à !)

Hai thằng nhóc trở ra. Một cậu đi trước dắt đường. Còn đứa đi sau thì vừa đi vừa sụt lùi khỏa lá cây nguyên lại như cũ. Nhưng làm sao tránh được dấu chân trên lá nát. Biệt kích Kangoroo ở Trường Sơn đi bằng gậy, nó phóng những bước da ba, bốn thước, chớ còn bước thường như mình đây thì lá nào còn nguyên? Tụi Mỹ nó tinh vi lắm, thấy một lá nát là nó dò tìm dấu ngay.

Cây rừng trụi. lá. Không khí hắc mùi hóa học. Tôi đoán chắc chúng khai quang khu này ngót một năm nên mùi hóa học hơi phai đi, chớ nếu còn mới thì thở vào sẽ nghe khô phổi như ở Trảng Cỏ mấy năm trước.

Thằng bé chỉ khỏa sơ một khúc đường rồi đi xõng lưng. Con đường mòn càng sâu vào trong càng rõ rệt, không có quân ngũ nào khỏa lá cho kịp. Kẻ ra người vào liền xì chớ có phải một hai người thôi đâu.

Một cái giếng được đậy nắp gỗ rất kín. Chắc là đề phòng hơi hóa học. Tôi biết gần đến nơi rồi.

Ông Tư Lệnh từ sau ngày được bọn tôi cứu khỏi "địa đạo", ở Phú Mỹ Hưng càng lặn sâu, lặn kỹ. Ông không còn đóng chốt ở nhà dì Ba nữa là phải lắm. Nếu diên trì ở đó thì chắc chắn không thoát trận chụp của Võ Văn Phán vừa rồi. Ông ấy có tính cẩn thận và phòng xa, tôi biết từ hồi chín năm. Tuy ít khi bị bom, nhưng bao giờ ông cũng bắt nhân viên đào hố cá nhân. Cả hai bà phu nhân (vợ ông và vợ Tô Ký) cũng phải đào. Hai bà mới được một cái hố cạn như mèo quào, cho nên kỳ đó thằng bé Lôi mới ngồi chắn miệnghầm mà bị miểng bom chạm vai cũng ở vùng Long Nguyên Bà Tứ này. Bây giờ ông đâu có được nghênh ngang cưỡi ngựa đi từ đây xuống tận Bến Súc để quan sát trận địa như hồi 1947 nữa.

Đối với Mỹ ngày nay, thằng Tây hồi chín năm chỉ là một đám trẻ con. Nếu Mỹ bây giờ là Tây thời đó thì nó đã bị chúng tôi xơi tái dễ dàng. Nhưng khổ vậy, Mỹ là Mỹ chớ không phải là Tây, càng không phải là con hổ giấy như Mao xếnh xáng nói.

Gặp lại anh Ba mình kỳ này coi bộ ảnh xuống gà quá cỡ. Vừa gầy vừa xanh và cặp mắt mất thần, bộ râu quai nón rất đẹp ngày xưa nay đã thành cái chổi xể rối ren như đầu óc của ông vậy, còn tóc thì một bên trắng một bên tro. Làm tướng như ông khổ thật mà rồi chết uổng thân, lon gáo ai mang, ông chỉ được đứng ở Ngã Ba Chú Ía gác đường cho các đồng chí "nhớn" đến thăm em (có đường đeo bảng hiệu Trần Đình Xu ở Sè Goòng thay đường Phát Diệm cũ).

Anh nói ngay:

- Khu ủy (chớ không phải Quân Khu) điều động cậu về làm quận đội trướng Củ Chi, và thường vụ khu ủy đã đồng ý.

Tôi không hỏi lý do lý diếc gì, chỉ hỏi cho có lệ:

- Anh Ba chỉ thị tôi về đó phải làm gì trước nhất?

Anh không trả lời mà hỏi lại tôi:

- Cậu có rành loại hỏa tiễn giàn mướp Liên Xô không.

- Dạ, tôi có dùng nó gác trên bệ DKZ 75 để bắn từng phát thẳng vào mục tiêu cố định. Đó gọi là trực xạ. Chớ không bắn vào mục tiêu rộng lớn. Đó gọi là gián xạ, nghĩa là bắn vòng cầu vào các khu quân sự, như sân bay hoặc kho quân nhu.

- Vậy không dùng để pháo kích Đồng Dù hoặc Trung Hòa được à?

- Dạ, đó không phải là loại vũ khí để pháo kích. Chỉ dùng nổ để bắn xe tăng, tàu, lô cốt...

- Sao vậy?

- Dạ, bắn gián xạ thì độ tản mác của nó rất lớn. Có thể sai biệt từ 800m đến 1000m, cho nên chúng tôi chỉ bắn mục tiêu trong vòng một cây số, còn xa hơn thì không bảo đảm chính xác. (Nói rõ ra là pháo kích trật lại chỉ chết dân).

- Vậy thì mình hì hục tải xuống đây, cất giấu chỉ toi công.

Nhưng có lẽ ông Tư Lệnh cảm thấy không nên nói vậy trước mắt thuộc cấp, nên trớ qua bằng một giọng hằn học :

- Các cậu quan niệm vũ khí vô sản còn nặng mùi tư bản lắm, phải sửa đổi mới được, còn không sẽ đi chệch lập trường.

- Dạ!

Tôi nói nhỏ rí. Bụng nghĩ không nên cãi lại. Có lẽ ông Tư Lệnh cũng không rõ khả năng và tác dụng của loại hỏa tiễn này. Ông Tư Lệnh đã vượt qua được cơn chới với, ngon trớn tiếp ngay:

- Các cậu cầm quân không nên chỉ thấy có tiếng nổ và xác địch. Có khi không có tên địch nào chết mà một tiếng nổ có tác dụng hơn cả trận đánh lớn. Cậu thử tướng tượng một trái hỏa tiễn phóng vào đô thị, dù không trúng cứ điểm quân sự, nhưng tiếng nổ của nó ảnh hưởng tới tinh thần đồng bào bao lớn? Dù phải hy sinh vài người, vài chục người dân thì cũng tốt như thường. Chiến tranh vốn là như thế mà ! Kỳ rồi cậu pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù hy sinh một B trưởng và vài cậu du kích phải không? Không tính sự tổn thất của địch là bao nhiêu, đạn cà nông nổ tung, trực thăng, xe tăng bị cháy v.v... Chỉ có cái vang âm của những trái pháo của cậu mà thôi. Nó to lớn cỡ nào cậu có biết không? Nó bay vô tới Sài Gòn và sang tận nước Mỹ kia đấy. Rồi ba thằng kép Mỹ, ba con đào Mỹ phản chiến nó sẽ nhao nhao lên... Cậu có biết con đào lủng của Mỹ nó sang tận Hà Nội chiêu hàng phi công Mỹ ở Hỏa Lò không? Hàng chục triệu dân Mỹ đang chống chính phủ Mỹ. Mình đánh bao nhiêu trận, chết bao nhiêu lính cũng không đạt được kết quả đó cậu ạ. Cậu rõ chưa nào?

- Dạ rõ ạ !

- Vậy thì giàn mướp giàn bầu giàn bí gì cũng chơi ráo. Miễn cho nó nổ được trong đô thị thì đó là thắng lớn. Chiến tranh là giết người. Bên nào giết nhiều thì bên đó thắng.

Tôi làm thinh. Từng sử dụng các loại pháo ở Hà Nội tôi biết rõ... Nhưng còn dám nói gì khi ông Tư Lệnh đã bảo như thế. Nghĩa là còn có nước thi hành. Bố thằng nào dám lý luận khác với ông.

Ông Tư Lệnh nói thêm:

- Bây giờ cậu về Củ Chi làm quận đội trưởng nhưng tôi giao quyền cho cậu điều động các D của Quân Khu hiện ở Củ Chi, kể cả Q16, nhằm phục vụ một việc. Là pháo kích một lần nữa Trung Hòa và Đồng Dù. Nhưng lần này dùng hỏa tiễn giàn mướp chơi tụi nó.

- Dạ!

Ông giơ tay chặn ngang:

- Cậu phải đem nó vào ấp chiến lược Cây Bài để bắn tụi trực thăng, hạ tại trận ít nhất vài ba chiếc. Cây Bài ở sát Đồng Dù không xa hơn một cây số. Vậy bắn trực xạ được chứ?

- Dạ được ạ !

(Được nhưng không về được đứa nào. Cũng như pháo kích sân bay Biên Hòa xong, đội đặc công 69 của Huỳnh Thành Đồng sống mây thằng, súng vác về được mấy cây?)

Ông lại tiếp:

- Đó là việc thứ nhất. Còn việc thứ hai là tập trung tất cả du kích, dũng sĩ tái lập lại D7 Củ Chi theo biên chế chánh quy, cũng do cậu chỉ huy luôn. Ngoài cậu ra tôi không thấy có ai làm hai việc đó kết quả. Cậu nghe rõ chưa?

- Dạ rõ ạ!

- Việc thứ ba là giúp cho hậu cần Quân Khu cất giấu đạn pháo và một số đầu đạn hỏa tiễn DKB để chuẩn bị kế hoạch mới của R do Quân Khu đảm nhiệm phần lớn, trong tương lai rất gần. Cậu lập lại cho tôi nghe cả ba công việc đó xem nào.

Tôi lập lại ron rót như trả bài.

Vừa đến đó thì một cô gái xuất hiện. Cô đến đeo vai ông Tư Lệnh, nhõng nhẽo:

- Ba, ba ăn cơm chưa để con dọn lên?

Ông trỏ vào tôi bảo:

- Con hỏi anh này thì rõ ? Con biết ai đó không?

Cô bé lắc đầu. ông bảo:

- Không có ảnh, con không ra đời được, đừng nói chi ngày nay làm y tá.

Rồi quay lại tôi, ông tiếp:

- Con nhỏ hồi má nó có bầu, nhờ mày đỡ miếng đạn đó Lôi. Bây giờ bây lớn đó.

- Dạ .

- Nó vừa học xong lớp y tá tao kêu về đây. Để ở trên đó B52 nhộn nhạo quá trời.

Cô bé bưng cơm lên. Vừa cầm đũa, ông hỏi tôi:

- Còn vợ con mày chưa tính sao Lôi? Tình anh em tao hỏi thiệt, mày đừng phiền tao nhé !

- Dạ,. bận công tác luôn, có lúc nào nghỉ đâu anh Ba!

- Còn vụ mấy đứa nhỏ cửa dì Ba (ông kêu bằng dì Ba, sợ lộ bí mật với con gái), mày không chấm đứa nào à?

- Dạ, em đâu dám chê, anh Ba, nhưng người ta chân guốc chân giày chớ đâu có đi dép cao su uống nước giếng như mình mà vô được, anh Ba!

- Vậy tao nghe chúng nó nói với nhau, con Khánh nó nói mày đã hứa với nó rồi.

- Dạ, em đâu có hứa.

- Mày giấu tao hoài!

- Dạ, em không có hứa, chớ em đâu có dám giấu anh Ba.

- Vậy tao hỏi thiệt, mày không có để ý đứa nào sao? Nếu có, con nhỏ ở cơ quan nào, tao tạo điều kiện cho hai đứa ở gần nhau.

- Dạ, thưa thiệt anh Ba, em không có ý định gì hết.

- Mày đã 34, 35 gì rồi mà chần chờ hoài sao được. Cha mẹ già cần có cháu bồng. Mày rước bà già vô kỳ đó có vui không?

- Dạ vui chớ, thưa anh Ba.

- Còn vụ thằng em mày, thôi dẹp đi. Không có bày đặt vận động cái gì hết. Thằng Chín Lộc chọc cứt không nên lỗ ở đây nó có làm ra trò gì đâu. Tao cho nó về trên R rồi.

Tôi sợ thon thót khi ông nhắc tới thằng em đại úy Thủy Quân Lục Chiến của tôi, may quá ông gạt sổ rồi. Nhẹ cái thân tôi.

Trước khi từ giã, ông bất tay tôi, còn căn dặn:

- Rán cẩn thận nghe "em"! (một lần duy nhất ông gọi tôi bằng tiếng ấy). Nếu có để ý nơi nào cho tao hay, tao giúp được gì sẽ giúp.

Tôi bước lên khỏi hầm, đầu óc lâng lâng. Một ông tư lệnh Quân Khu ở dưới hầm sâu hai thước trong một khu rừng trụi lá vì hóa học. Bên cạnh có một đứa con gái đẻ ra và lớn trong chiến tranh. Hình ảnh đó không bao giờ phai nhạt trong đầu tôi. (Không biết sau cái chết bất ngờ của ông Sáu, anh Ba cho con gái về coi sóc món ăn thức uống cho cha, hay vì bể ổ với dì Ba mà chị Ba cho con gái về đây kiểm tra ông bố?)

Tôi bảo thằng Nông và thằng Quyết tìm chỗ cho tôi nghỉ tạm qua đêm. Chúng bảo:

- Đêm là giờ của đám cô hồn tụi em mà nghỉ gì anh . Anh ra Bến Chùa có thủ trưởng chúng em ở đó chờ!

Thế là ba chân bốn cùng tôi theo chúng ra Bến Chùa. Cái khu phố tử địa nhưng đối với những kẻ gan cóc tía thì coi đó là khu nghỉ mát hòa bình và tình ca tươi mát. Chín Nữa đã phục kích sẵn ở đó.

- Hề hề... Tao bảo tụi nó, mày làm xong việc với anh Ba thì đưa về đây cho tao.

Tôi có ông dượng thiệt bảnh. Đi đâu cũng gặp. Đánh trận nào cũng bị thương, nhưng không chết, cũng không cưa cắt gì hết. Và chuyện gì dượng cũng giễu cợt được hết.

- Mày có định làm rể ông Tư Lệnh không?

- Thôi dượng ơi! Đầu quăn tóc rối đâu có hợp với cách mạng.

- Không! Tho nói là con gái ruột của ông kia chớ không phải Tam Nương trong quán nước đá. Này! -Dượng vừa nói vừa chỉ tay vào nhà dì Ba- Mày có muốn ghé thăm em này không?

Tôi lắc.

- Vậy thì em kia! -Dượng trỏ tay về phía quán em Lụa.

Tôi làm bộ:

- Em nào ờ đó, dượng?

- Thằng? Mày giấu tao hoài may. Tao đánh giặc thua mày chớ cái món đó mày phải tôn tao làm sư phụ nghe mày!

Liệu bề không chối được, tôi bèn khai thiệt.

- Duyên chị tình em. Vậy khỏi lo thất nghiệp mày ạ. Cũng như tao vậy thôi, hai chị em con B. con T. tao tém luôn một lúc.

Tôi nói;

- Đúng ra thì tôi gặp con em trước rồi cô chị sau.

- Không, tao nói là tao tém cùng "một lúc", mày nghe rõ chưa, nghĩa là...

- Vậy mà... được sao dượng?

- Vậy mới tài chớ may... Hì hì, tao hỏi thiệt nghe, mày có thấy rõ tiểu thư của ông Tư Lệnh chưa? Nó giống bả nên y hệt đầm lai. Nhưng mà ở gần ổng, bố thằng nàocũng không dám mó.

- Dượng nói vậy chớ tới chừng nó lên cữ thì nó theo, như con gái ông Sáu Nam trên R chạy theo tôi, chớ cần gì phải o.

- Vấn đề là mày có OK Sa lem nó hay không thôi. Tao chắc ông Tư Lệnh gật liền.

Vừa nói hai dượng cháu đã tới gần quán cô Lụa. Chín Nữa kéo tôi đứng lại rù rì:

- Bây giờ còn sớm, lính mình còn bồi dưỡng trong đó, mày vô cái là lộ mặt địa ra ngay. Để tao đi xích hầu. Tao móc con Rớt ra. Rồi mày liên lạc với má nó, đặt kế hoạch nội công ngoại kích đêm nay úp đồn.

- Bây giờ là hơn 10 giờ rồi dượng.

- Ờ thì càng khuya gà "vô đĩa" càng êm chớ sao mày tụi!

- Trời? Dượng biết cả con Rớt nữa sao?

- Mày quên rằng tao hiện là trưởng trinh sát của ông tham mưu trường, tai mắt tao ở khắp nơi nghe mày.

- Vậy dượng đặt kế hoạch cho tôi đi.

- Kế hoạch mẹ gì. Mày đã có nội ứng sẵn rồi. Si nhan là nó úp vô cái một, còn tao cũng lo hạ cái lô cốt của tao.

- Vậy à?

- Chậc! Mày nên nhớ là đời chiến chinh vui nhờ cái "lá xanh" ấy (bản nhạc nổi tiếng "Lá Xanh" của Hoàng Việt sáng tác năm 1948 ở Tháp Mười). Nếu không oánh Mỹ sao vô? Nhưng mà mày có sẵn "chứng minh thư nhân dân" đó không. Nếu không, tao cho.

Tôi có trong bóp nhưng làm bộ ngây thơ:

- Dạ chứng minh thư tôi bỏ lại ngoài Hà Nội rồi.

- Nè, tao cho một hộp để phòng thân. Nếu muốn khỏi bi nắm đầu thì đi đúp-li-ca-ta nghe chưa? -Dượng vừa nói vừa móc sắc cốt- Đây là loại đờ luých, tao gởi mấy con nhỏ quân báo mua ngoài Sè Goòng đó nghe mày... Thằng Tôn chết ở đó. Còn Út Lịa, Năm Thủ, Sáu Uya nằm bên kia... Tao cũng nằm đây thôi -Dượng bất thần trỏ tay nói-Không biết ở dưới kia tụi nó có cần không tao gởi cho vài lố.

Mấy hôm sau tôi về tới Củ Chi. Một mình đổ bộ xuống Đồng Sởi băng qua Xóm Chùa. Nhờ Sáu Mã Tử và Năm Đầu Ban của cô Lan xã đội kiêm bí thư (thay cho ông bố) đưa tôi ra Sa Nhỏ.

Tôi vô quán đãi các cậu một bữa khô mực la de rồi chia tay. Chẳng ngờ chủ quán là má Bảy ở xóm Thuốc Súng sống sót sau một trận B52 cùng với ba cô con gái ra đây bán quán sống vất vưởng qua ngày. Chỉ cách có mấy tháng mà nay gặp lại thấy mà đầu bạc trắng. Má mừng rỡ.

- Tao tưởng mày về bên Bến Cát ỡ luôn với con Sáu Hòa rồi !

- Quê hương con là đất Củ Chi. Đi đâu rồi cũng về chớ má !

Sáu Mã Tử nhạy miệng:

- Ảnh bây giờ là... (nhưng bị tôi trợn mắt nên tốp).

Sáu Mã Tử và Năm Dầu Ban đưa tôi luôn tới văn phòng quận đội ở Đồng Lớn. Đó là một cái chòi xơ xác. Từ ngày Tám Giò chết, Mười Thứ lên thay, du kích tản mác không làm sao chỉ huy được.

Thấy tôi về, anh em mừng lắm. Năm Đầu Ban nói ngay:

- Đây là ông Quận mới của mình.

- Người ta nghe trước chú mày rồi.

- Có đường "dây luộc" nào oánh mau vậy?

- Hễ ảnh vừa được quyết định là tụi tôi biết ngay. -Hai Văn tiếp.

- Ông Mười Niên Xô vừa mới hui nhị tỳ.

Tôi kêu lên:

- Ổng chết vì nghiệp gì? Bom hay pháo?

- Ổng không chết vì bom pháo nhưng đối với tụi tôi ổng không phải là người chỉ huy.

- Các cậu đừng nói vậy. Ổng quen chỉ huy quân chánh quy chớ không chịu tác phong du kích. Nay ở trên cho ổng ra làm tham mưu trưởng E268, rồi ông sẽ chơi tụi Mỹ cho coi.

Dù tôi có lời ngăn chặn như vậy, các nhân viên vẫn chế giễu ông quận Thứ. Cô Bảy Phán, người nấu bếp thời Tám Giò, bây giờ đã lên chức y tá, ôm chầm lấy tôi, áp mặt vào ngực tôi rủ rỉ:

- Nghe anh sắp về, em không ngủ nghê gì được.

- Em chuẩn bị nấu món gì cho anh bồi dưỡng kẻo qua bên đó thiếu chất quá.

- Em có nhốt sẵn một chục con chuột ú núc. Em sẽ quay chão đãi anh.

- Chuột ăn hóa học, mình ăn vô bị cùi cả đám.

- Lâu nay tụi em ăn, cù hết rồi sao?

- Bố náo! Bố náo! Ai nại đãi thủ trưởng thịt chuột như thế.

Tôi ngoái nhìn lại thì thấy cậu Hồng liên lạc của quận đội . Mọi người cười cái rần. Rồi mạnh ai nấy góp chuyện chế giễu ông thủ trướng cũ của họ. Nàng y tá Phán bắt đầu:

- Anh Hai nghĩ coi, em nớn thế lầy mà ông kêu em bằng con nủng lầy nủng lọ.

Hai Văn tiếp theo:

- Ổng chửi địt bố mấy thằng Mặt Trận.

- Tại sao vậy?

- Ổng triệu tập ban chỉ huy xã đội cả tháng không ông nào đến. Ổng kêu em đến hỏi ný ro. Em bảo là đường liên lạc bị Mỹ cắt không ai đi được. Ổng trợn mắt: "Sao mở đài ra tôi nghe Củ Chỉ địa đạo thôn niền thôn xã niền xã, mà ngay cả ở An Nhơn An Phú chúng nó không sao nuồn tới đây được nà gì? Nại còn nói địa đạo xuyên qua sông Sài Gòn nữa cơ. Rõ bố náo. Địt bô mấy thằng Mặt Trận Giải Phóng nừa chúng ông. Nghe mê ny. Khi vào tới đây nó bỏ chúng ông, cá rô cá nẹp, bù nóc bay tua tủa trên đầu, xe tăng chạy hàng đàn trên mặt đất, cả cái Đồng Nớn không có một cái hố để chui, mà bảo nó địa đạo thần thánh! Thần thánh cái mả mẹ chúng nó!"

Hai Văn vừa "tường thuật" vừa ra bộ, cả bọn cười lăn chiêng.

Cậu Minh thư ký đánh máy chêm thêm:

- Tên ổng là Nguyễn Văn Thứ mà ông chỉ ký số 10 và chữ Thứ bằng tiếng gì em không đọc được, em hỏi, ông bảo đó nà tiếng Niên Xô, các cậu các cô còn khướt mới sang được bên đó . Ổng kêu chị Phán là con lủg, còn chúng em thì xây nố cố no nẩn quẩn trong nhà chẳng nàm ra cái tích sự gì. Chị Phán tức nên có cự lộn với ổng: "Nè chú Mười, chú là người lớn, chú ăn nói nên cẩn thận một chút, dân Củ Chi này dữ lắm đó, chú chạm tự ái họ, họ không chịu đâu. Còn vụ địa đạo, không phải tụi tôi nói trên đài, chú có thắc mắc thì gởi thư lên luật sư Nguyễn Hữu Thọ chớ đừng mắng mỏ bông lông thằng này thằng nọ trước mặt chúng tôi".

Tôi cũng tức cười. Nhưng đáng cười nhất là đám lãnh đạo Hà Nội. Chúng không hiểu cuộc chiến tranh này nên xài phí cán bộ một cách oan uổng. Tội nghiệp cho cả lô úy tá được gởi vô đây chuẩn bị cho Tết Mậu Thân. Họ có biết gì đâu, ngờ nghệch trước vũ khí tối tân của Mỹ và chết mất xác. Ba trăm ngàn cán bộ và cán binh mà chúng nhìn nhận là có thật và chính là do sự ngu xuẩn, tàn bạo của chúng.

Tối hôm đó tôi ngồi làm việc với Hai Văn về tình hình các xã đội và lực lượng du kích. Hai Văn tỏ ra rất bi quan, nhưng tôi bây giờ lại đóng vai thượng cấp, cũng như Năm Lê, Ba Đình đối với tôi, nên tôi nói đủ cách để kẻo níu tinh thần hắn lại để khỏi sa hầm.

Sáng thức dậy, tôi cũng chưa dám ra sân. Em Phán nằm bên cạnh còn ngủ mê mệt. Đêm hôm qua em khóc hưng hức trách móc đủ thứ: nào là anh không thương em, nào là anh ngó đâu đâu không thèm ngó đây v.v... Nên tôi phải ngăn dòng lệ thảm của nàng. Trời hỡi, ngủ một hầm ba, bốn người, lại nằm võng mà tên Thiên Lôi này cũng rán sức già phụng sự em trong không khí hãi hùng, sợ lộ bí mật các em khác hay (mà chúng hay hết), thì còn gì uy tín của ông tân quận trướng cái Củ... Chi! (nhưng chắc cục uy tín vẫn còn nguyên, không sứt mẻ tí nào).

Cho nên sáng dậy hơi uể oải. Sức khỏe tên Thiên Lôi này bắt đầu xuống chút đỉnh. Tôi vừa ló đầu lên thì nghe giọng rau muống om xòm:

- Mấy thằng nởm kia, có nhanh nên không? Cá nóc (trực thăng OH6A) nó rà bên Ba Sòng mà chúng bay cứ tà tà đi rạo bờ hồ thế.

Bảy Phán vọt lên cười khéc khéc:

- Bờ hồ nào chú Mười?

- Tao nói nà Bờ Hồ ngoài Hà Nội kia, con nủng!

Đoán chắc đây là Mười Thứ nên tôi niềm nở:

- Anh đi đâu về sớm vậy anh Mười?

- Ông nà ông Nôi đấy phải không?

- Dạ phải.

Mười Thứ bắt tay tôi. Tôi lôi y vô nhà. Nghe tiếng mà chưa gặp lần nào. Tội nghiệp! Đúng là dân chánh quy, đầu đội nón cối của quân đội miền Bắc, chân đi dép râu, quân phục cứt ngựa xốc xếch, áo sút nút còn quần ống cao ống thấp. Mười Thứ lắc đầu:

- Bố tiên sư, mình đi cho sớm để khỏi bị chúng rà, thế mà mới nú ra nà đã đụng đầu.

- Anh đi đâu, tôi cho giao liên dắt đường, đi một mình rủi bị nó rượt biết đâu mà chạy. Ở bên Bến Cát nó dám đáp xuống bắt người kia đấy.

Mười Thứ chưa hết giận mấy thằng nhóc và Bảy Phán, cứ lầu bầu:

- Tôi nói nà nói cái Bờ Hồ ngoài Hà Nội chứ ở đây nàm đếch gì có bờ hồ. Những bàu nà bàu. Bàu Trâm, Bàu Nách, Bàu Tròn, Bàu Vuông... bàu nào cũng có bù nóc tới, chán bỏ mẹ! Ông Năm Dũng, anh hùng Điện Biên, biệt danh Hùm Xám, vô đây chưa chi đã bị cá rô rỉa chết ở Bến Cát.

Mười Thứ béo tròn, trắng mưa như công chức Sài Gòn. Có lẽ anh ta đi chuyến đặc biệt vô đây nên còn nguyên cái mã du học Liên Xô.

Anh ta quay lại tôi:

- Cậu về năm nào? Đi băng tầu nặn hay sao mà áo quần còn tươm tất, súng ống còn mới nguyên vậy? Cậu trông tớ này, mới vô có mấy tháng mà quần áo mặt mũi không còn cái thể thống gì nữa.

Tôi cười:

- Có anh đi tàu lặn, chớ tụi này làm gì có tàu mà đi! Mang gạch bốn tháng đó anh ơi!

Mười Thứ cười giả lả:

- Nói chung trong này bị chiến tranh nhưng sinh hoạt cao quá. Tớ mua được mấy thước vải tê-tô-rông kia để về cho mẹ đỉ. Gớm, hàng đế quốc tốt quá ! Nhưng nếu mình nói ra thì bị quy mất nập trường. Cậu biết quán con Sẩm nai Ba Mầu không? Ối giào, nếu tớ chưa có vợ thì tớ sẽ cua con nhỏ này. Nhưng tớ có con rồi! -Hắn rỉ tai tôi rồi cười ha hả- Nó đẹp còn hơn con đào xi nê Trà Giang của mình ngoài đó... đó.

Trước khi rời chức vụ, Mười Thứ bàn giao công việc cho tôi. Anh ta đóng cửa thật kỹ rồi bảo:

- Đám nhân viên này chả có ý thức giữ bí mật gì hết... Trước nhất mình cho cậu biết nà hiện có hai cơ sở nữ công tác bí mật, một ở Trung Hòa, một ở Củ Chi. Hai cơ sở này nằm im để báo cáo tình hình địch cho ta thôi. Còn hai cơ sở nữa ở Đồng Dù, chờ quân báo Bảy Sơn huấn truyện xong sẽ đánh chất nổ vào câu nạc bộ sĩ quan. Kế đó nà khu ủy chỉ thị cho tôi cung cấp một nực nượng du kích để chuyển một trăm quả DKB xuống Nhuận Đức. Công tác chót nà tập trung du kích xã để kiện toàn D7 và củng cố nại đội nữ dũng sĩ Củ Chi của ông Tám Quang, Tám Queo gì đó !

Tám Quang là trưởng phòng chính trị Quân Khu đó nghe ông bạn!

- Trưởng phòng gì bố náo bỏ mẹ! Địt mẹ, tôi đến đây gọi chúng nó họp, chẳng ma nào tới cả, dũng sĩ cái gì. Trước đây ông nàm ăn với đám này ra sao mà nay chúng bỏ về nhà cả! Chúng coi nệnh nọt của cấp trên chẳng ra cái thứ gì!

Mười Thứ vừa nói vừa "địt" luôn mồm. Đây là lần đầu trong đời tôi nghe một anh Bắc Kỳ có chức cao ăn nói bạt mạng như Mười Thứ. Người thứ nhất là ông Hoàng Thọ. Hoàng Thọ bị Lê Duẩn xử tử lén ở rừng Cạnh Dền. Còn Mười Thứ thì cho ra làm tham mưu trưởng trung đoàn 268 Bắc Việt, nhưng tôi chắc anh ta cũng không thọ hoặc lại cũng kêu than như khi làm quận đội trưởng Củ Chi.

Quân lính ở Củ Chi này là thứ quân hồi vô phèng, thách đại tướng thử vô đây chỉ huy một trung đoàn hoặc cái quận đội này trong vài trận đánh Mỹ rồi ổng sẽ hết kêu gọi thừa thông xông lên!

Mười Thứ giao xong công tác cho tôi như trút được một cái nợ đời. Tôi hiểu anh ta nên không phiền hà cũng không chế giễu gì cả , lại còn xuất quỹ quận đội, lúc đó còn 5000, tặng anh 2000 bỏ túi xài chơi, như một lời cám ơn cụ thể.

Tôi vô cùng nao núng, nhưng chẳng lẽ xin về D1 với Tư Nhựt? Bỏ cái cục nợ này cho ai? Chuẩn bị đánh Sài Gòn, lấy Củ Chi làm bàn đạp quan trọng nhất. Tất cả công việc chuẩn bị cơ sở giao cho Thiên Lôi mà chẳng giao cho một thứ phương tiện gì cả . Trong lãnh vực quân sự, lệnh phải đi đôi với phương tiện: Máy bay xe tăng, tàu chiến, súng đạn v.v.. còn ở đây chẳng có thứ gì ngoài mấy cái địa đạo chết người và đám du kích bất trị!

Bí thư quận ủy: Một Sơn; quận đội trưởng: Tám Giò, hai cái đầu sỏ của quận đều chết. Hai Mỏ thay Một Sơn, Mười Thứ thay Tám Giò, Hai Lôi thay Mười Thứ. Tình hình từ xấu đến tệ. Củ Chi phải chia thành Nam Chi và Bắc Chi vì đường đi lại bị cắt nát.

Bắc Chi gồm các xã : An Nhơn Dông, An Nhơn Tây, An Phú, Phú Mỹ Hưng, Thái Mỹ, Trung Lập Thượng, Phước Thành, Phước Hiệp, Tân An Hội, Tân Thông Hội và Tân Phú Trung.

Nam Chi gồm các xã: Nhuận Đức, Trung Lập Hạ, Phú Hòa Đông, Phú Hòa Tây, Phước Vĩnh Ninh, Trung An, Tân Thành Đông, Tân Thành Tây.

Như ngay một xã cũng phải chia đôi: Trung Lập (Thượng và Hạ), Phú Hòa (Đông và Tây), An Nhơn (Tây và Đông)...

Các bà già trầu Năm Đang, Hai Xót nghe tôi về cũng kéo phái đoàn xách gà vịt tới ăn mừng và khoe công trạng: "Nhờ tụi tôi ông mới về được đây!" Hai nàng Tám Phụng và Tư Bé đòi ở luôn với quận đội cho bảo đảm, chứ đi với hai cô cứ chạy cà còng hoài có ngày bỏ mạng. Khổ cho ông Thiên Lôi này, một nàng y tá Bảy Phán đủ làm cho Thiên Lôi sút cán búa rồi, giờ lại thêm Phụng và Bé, nàng nào cũng mến anh Hai sắp nhỏ hết trơn.

Có đêm nằm giữa hai em, tay chân muốn táy máy mà đâu có dám, cứ hễ vừa thanh đông thì lại bị kích tây. Bị kẹp giữa hai cái đồn Bạch Hạc, súng đã lên đạn mà kẻ thù vẫn ung dung trước mặt kia, không bóp cò được. Thiệt tức dội. Trước đây bị hai chị em Lụa Là, Ua Chia đóng chốt, nhưng tôi còn xoay trở hạ được cả hai.

Đã bị đưa vào thế kẹt, bữa sau lại càng kẹt thêm. Trời đang mưa tầm tã, chỉ có nàng Tư Bé ở nhà, còn Tám Phụng và cô Phán đi công tác. Tôi sai mấy đứa liên lạc đi quán "mua nước mắm bằng cái dài nhôm". Chúng nó biết âm mưu của ông thủ trưởng nên thi hành lệnh ngay.

Tư Bé thổ lộ với tôi rằng nàng đã để ý "chàng" từ ngày nàng Ua đèo tôi về Củ Chi ghé nhà nàng xin nước uống và được ba nàng đãi dừa nạo.

Thiệt là ngồi buồn lại gặp chiếu manh. Trời mưa giúp cho tôi cơ hội trổ tài thầy pháo. Hai đứa đưa nhau xuống hầm.

Lòng hầm ẩm ướt vì mưa dột nên phải mắc võng. Trời càng mưa không khí càng ấm áp. Mấy gốc cột lung lay, ngôi nhà chuyển động răng rắc như sắp đổ với sức nặng trăn trở của hai tay chơi cờ hiếu chiến. Chàng vừa định thọc xe vào cung, còn nàng thì cũng đã ngả sĩ sẵn sàng tiếp đón thì có tiếng kêu:

- Có anh Hai nhà không?

- Không!’ Anh Hai đi công tác Phú Hòa Đông -Tư Bé nhanh miệng.

- Anh Hai ơi ! Anh Hai... quận đội.

- Anh Hai... đi Phú...

Nhưng bước chân đã vào nhà với tiếng quần áo ướt khua rột rẹt đến gần miệng hầm. Tư Bé vội hất tôi qua và sửa sang lại bộ vận vừa quát:

- Anh Hai không có ở đây!

Rồi vọt lên.

Qua đối thoại giữa hai người "nữ dũng sĩ", tôi nhận ra giọng Bảy Mô. Chết một cửa tứ. Hầm không có ngách, chui ngã nào?

- Văn phòng đi đâu hết hả cô Tư?

- Ờ... ờ Đi công tác hết rồi.

Tôi bí quá đành nằm im. Nhưng tôi biết Bảy Mô thông minh, nếu tôi nằm nín dưới hầm thế nào nàng cũng lục lạo, bất gặp. Tôi bèn bước lên, cố giữ sự bình tĩnh:

- À em. Em đi thi đua R về hồi nào vậy?

- Mới dzìa! Sao cô Tư nói anh đi công tác?

- Trời mưa sợ tụi thằng Lệnh đột nhập bất ngờ nên vừa nghe tiếng hỏi là anh lủi xuống hầm.

- Hầm này em biết không có ngách mà !

- Thì lủi đại vậy thôi...

- Xí biệt kích gì dám vô đây?

Thấy mặt nàng "dũng sĩ" hầm hầm, tôi nói lướt ngay:

- Em lên R có vui không? Chắc được bầu anh hùng... dũng sĩ diệt Mỹ rồi hả? Oai ghê. Để anh kêu bầy trẻ mua bánh ăn mừng. Thay quần áo đi em, kẻo lạnh...

Tôi xổ luôn ra phan, nhưng cô em cứ đứng im, tay chân run lẩy bẩy không biết vì mưa hay vì gì khác.

- Kìa em Bảy, xuống hầm thay đồ đi.

Mò xuống hầm một chốc rồi trở lên, mặt nàng càng hậm hực. Bao nhiêu chứng tích của cuộc cờ còn ít nhiều dưới đó đâu đã kịp phi tang.

Nàng nói:

- Má vô lần nào cũng không gặp anh.

- Anh bận chớ phải anh tránh né gì sao em. Mà em cũng đâu có cho anh biết trước.

Tôi kiếm lời dỗ ngọt, rồi cũng qua truông. Đâu phải lần đầu nàng nghi tôi. Của đáng tội, nàng nghi đâu đúng đó.

- Em lên R, hội nghị có đông vui không?

- Cũng được được.

- Có ông nào tên Sáu không?

- Không. Chỉ có ông Mười Khang.

- Mười Khang là ông nào?

- Em không biết, nhưng nói tiếng Bắc lai giọng Nam (tức phó thủ tướng Phạm Hùng), anh ở ngoải mà không biết à?

- Trời ! Biết sao nổi em. Họ thay tên đổi họ liền xì !

Tôi biết ngay cơn bão chính đã qua nhưng còn cái đuôi quất lại:

- Biết vầy em ở luôn trên đó làm gạc đờ co cho cô Ba.

- Cô Ba hào? -Tôi biết là Ba Định nhưng giả bộ hỏi.

Mô làm thinh. Tôi cũng có cách đối phó chớ. Bề gì cũng tham mưu trưởng mà ! Tôi bảo:

- Em về đây thủ văn phòng giùm anh vài ngày, anh có công tác gấp liền bây giờ.

Bảy Mô trừng mắt:

- Anh đi đâu?

- Anh đi vô... Tư Chuyền bàn công việc chuẩn bị nơi chỗ cho chiến thương.

- Gấp gì gấp dữ vậy?

- Sắp vào đợt rồi, em không hay gì sao.. Phải có hầm cho một trăm thương binh kia đấy. Kỳ này nổ to chớ không phải lem nhem như mấy kỳ trước.

Bảy Mô thừa biết trong quân y có hai cô Nga rất bén nhạy, nên hạ giọng:

- Để mai, em đi với.

Thời may, Năm Hồng, quân y sĩ của quận đội ở đâu lót tót tới . Theo sau là hai cô y tá tay xách một con gà.

- Dạ, kính chào anh Hai quận đội.

- Xách gà đi đâu vậy chú em?

Năm Hồng là người Hà Nội, trẻ măng, ở đâu trên R mới đưa xuống nhưng vì sợ súng đạn nên đáng lẽ đưa ra D1, xin về đây.

Năm Hồng sốt sắng:

- Em nghe nói anh Hai ở bên Bến Cát mới về, nên em xách con gà trống này lại.

Tư Bé đứng yếu xìu nãy giờ, chộp được cơ hội lên tiếng ngay:

- Mình liên hoan mừng em Bảy đi R về.

- Úy ! Không được đâu chị Tư. Đây là gà y tế chớ không phải gà nấu cháo!

- Gà y tế là gà gì?

- Em sẽ lấy máu nó tiêm vào người bồi dưỡng cho anh Hai.

Mọi người đều sửng sốt, không biết chuyện gì lạ vậy. Năm Hồng giải thích ron rót:

- Đây là phát minh mới của Trung Quốc, mình đã tiếp thu và thực nghiệm ở Hà Nội rồi. Trong hoàn cảnh thiếu thốn của chiến tranh miền Nam, mình sẽ áp dụng nó với chiến sĩ.

- Em đã thực hành chưa? -Tôi hỏi.

- Dạ, em đã làm cho một số chiến thương cấp cứu rồi. Thay vì truyền bioplasma hoặc nước biển, em tiêm máu gà cho họ. Nhưng phải là gà trống cái mào thật đỏ tươi như con gà này.

Năm Hồng trao con gà cho tôi xem.

- Nó phải khỏe, không có bệnh hoạn gì, như vậy máu mới tốt, tiêm vào chiến sĩ mới mau lành bệnh.

- Kết quả có khả quan không?

- Rất tốt ạ. Máu gà trị được nhiều bệnh lắm, nhất là bệnh thiếu máu. Mỗi con gà có một số lượng máu tiêm cho năm người. Bây giờ em đề nghị anh Hai chọn năm cá nhân xuất sắc của văn phòng để em tiêm ạ.

Tôi ngẫm nghĩ hồi lâu. Trời ơi ! Thời kháng chiến không biết ai phát minh ra cái vụ chích nước dừa xiêm. Sau đó lại lấy phát mình của Liên Xô cấy phi la tốp (Filatov) tức nhau đàn bà đẻ xắt nhỏ phơi khô, mỗi viên to bằng mút đũa, rạch da đem cấy vào. Nó sẽ làm sung sức người già và biến người trẻ thành thần đồng. ở miền Tây Nam Bộ rất thịnh hành vụ cấy này. Nhà báo Phạm Anh Tài (tức Sơn Nam) đã từng viết một bài bút ký "Rủ nhau đi cấy" để tuyên truyền cổ động cho filatov của Liên Xô. Bây giờ lòi ra cái vụ tiêm máu gà cồ vô mạch máu ! Không biết có kết quả gì không?

Tôi bảo Năm Hồng một cách ba phải có vẻ hòa hoãn:

- Khoan đã đồng chí. Bây giờ không có đủ năm người.

Tư Bé nói:

- Ai tiêm thì tiêm, em không dám.

- Đây là phát minh của Trung Quốc chớ phải đùa sao?

- Em sợ tiêm xong em mọc mòng rồi gáy e e thì chết dở !

Cái vụ tiêm máu gà cồ bị đùa cợt bất kể nó là của Trung Quốc, cho nên cuối cùng rồi sanh mạng con gà cũng tiêu tùng nhưng một cách thực tế hơn; mọi người được húp cháo gà ngọt lịm.

Tôi bảo Năm Hồng:

- Lần này, cậu phải lo chỗ cho một trăm chiến thương đó nghe.

- Tay chân đâu mà em đào nổi một trăm cái hầm?

Rùng ! Rùng !

Mặt đất rung rinh nhè nhẹ. Mọi người ló đầu ra cửa ngóng về phía Bến Cát. Bóng dáng B52 xuất hiện mờ trong mây. Những trái bom nhỏ bằng hạt tiêu đen rơi xuống hàng loạt. Tôi liên tưởng đến H6 của Sáu Phấn. Không biết nó nện ở đâu? Những cái mả vừa đắp xong lại bị bới tung lên, còn người sống thì không hốt xác được mà chôn.

Từ một tháng nay ngày nào cũng có vài ba trận giã gạo ở phía Bến Cát. Chúng nó biết vùng đó đã trở thành hậu cứ của Bộ Tư Lệnh và các cơ quan Quân Khu. Củ Chi đã bị bào láng rồi thì tới Bến Cát.

Tội nghiệp cho ông Ba Xu, mới vừa ở trong nhà có bàn tay dịu dàng bắt gió, bây giờ ra rừng bị thở không khí hóa học cay xè. Sau vụ chết hụt dưới địa ỡ Củ Chi, chắc ông không dám chui nữa.

Năm nay là năm khói lửa mịt trời ở Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cát, không có một ngày yên tĩnh. Anh Cả Đỏ và Tia Chớp Nhiệt Đới đuổi riết Q16, E268 Bắc Việt, D1, D7 của Quân Khu. Truyền đơn nở trắng đồng thay bông lúa.

Tôi cần có một quận đội phó để giúp đỡ nhưng không biết đề bạt ai. Bảy Mô đã được đề nghị một lần, nhưng mấy bà già trầu gạt tên nàng trước nhất với lý do: thành phần địa chủ. Việc này làm tôi nhớ lại một người bạn tôi quê ở Hưng Yên, cấp thượng úy, xin kết hôn với cô Đào, con tư sản. Đảng ủy không đồng ý. Hai người lén rủ nhau ra Bãi Cháy hưởng tuần trăng mật rồi tự vận, ngư phủ vớt được xác cả hai.

Ở KI7B cũng có một cặp trai gái tự sát vì không được lấy nhau. Họ tìm hạnh phúc bằng cách chia đôi quả lựu đạn. Cũng vì "đảng quỷ" không cho phép. Nhưng bí ẩn bên trong ít ai biết, đảng ủy có một tên muốn cô nàng mà cô nàng không muốn, chính tên này không cho phép.

Bây giờ tới Bảy Mô. Tôi biết có một đám mây đen phủ trên đầu nên không dám...

B52 cày Bến Cát trong lúc trực thăng quần đảo từ Cầu Xe xuống Ba Cụm, Trường Gà, Cỏ Ống, Ba Sòng, Đồng Lớn như cơm bữa. Có một lần chúng đáp xuống đất và xúc ông thiếu tá Hai Phán, tham mưu phó Phân Khu 1, ở vùng gần nhà "nữ anh hùng Năm Cầu Xe". Rồi ngày hôm sau, trực thăng lại đổ bộ ngoài đồng Sa Nhỏ, lính đi thẳng vào rừng đến ngay chóc miệng hầm, khui lên nắm đầu gọn hơ đồng chí Hoàng Minh Đạo, tham mưu trưởng quận đội và Ngô Phước Tòng, trợ lý ban cán bộ phòng chính trị K20.

Đồng bào xầm xì cho đó là một cuộc dàn cảnh do vợ các ông này đạo diễn cho khỏi mang tiếng là chiêu hồi; xấu mặt chút đỉnh.

Nhưng vẫn chưa hết, một cuộc khui hầm khác được diễn ra không kém phần ngoạn mục. Đó là cuộc khui hầm ở rừng Đồng Lớn, Mỹ bắt được trên mười ông lớn bà bé của hậu cần R. Tuy đó là những màn bi kịch không lạc quan chút nào (Liên Xô có một vở kịch dở ẹc tên là "Bi kịch lạc quan " mà bọn văn nghệ liếm Hà Nội khen hết mức, coi như đây là mẫu mực sân khấu).

Ban ngày không yên, ban đêm cũng chằng được ổn. Đơn vị hành quân thường được Dakota bắn pháo sáng soi đường, hoặc trực thăng xẹt đèn "ló" sáng trưng, con kiến bò trên mặt đất cũng trông thấy. Đã vậy người ngủ trong hầm cũng đâu có chợp mắt được. Máy bay phát loa kêu gọi dân chúng còn cố bám ở lại các vùng Cỏ Ống, Sa Nhỏ, Đồng Lớn, Lộc Hưng ra ấp chiến lược để tránh bom đạn.

Lính Trung Hòa càng lộng hơn. Chúng kéo cả pháo 105 ra khỏi bót, qua Ba Sòng. Sa Nhỏ tập tễnh theo chân ăn cổ bọn "Tia Chớp Nhiệt Đới". Bây giờ Củ Chi là một cánh đồng trống láng te, thỉnh thoảng có vài khóm cây lưa thưa không đủ xây căn cứ.

Một hôm tôi gặp Mười Thứ ở bên Đồng Lớn. Tôi mừng rỡ bắt tay y:

- Sao, ông ra chủ lực thấy phấn khởi chứ?

- Phấn cái mẹ gì! Sư nhà nó, giao cho tôi toàn công tác quái gỡ.

- Công tác gì thế anh Mười?

- Mình phục kích ở Xóm Suối chưa đánh đã bị nó phát hiện (nó trước khác nó sau), nó pháo bay một đại đội. Hiện giờ mỗi C chỉ còn năm mươi tay súng. Bố thằng tham mưu trưởng nào cũng không đánh được.

Tôi giật mình, E268 là chủ lực của khu, trước khi xuất phát lớn lại bị tiêu hao như vậy thì làm sao? Tôi đành tìm cách an ủi anh Mười sắp nhỏ:

- Không sao đâu. Có người về R cho tôi biết cán bộ ta ngoài Bấc vô đông lắm. Mấy trăm cấp úy, trên trăm cấp tá. Có cả tướng, mà tướng lớn nữa đó anh Mười, chớ không phải tướng trung đâu!

- Ông nào lớn hơn ông ...

- Ông nào?

- À, tớ chỉ nói thế thôi.

- Này, ở đại hội mừng công nă m 64 tô í có hân hạn h được bắt tay anh...

Mười Thứ không nói gì, vội vã phang ngang:

- Cao lắm là ông Mười Khang chớ gì!

- Mười Khang nào? -Tôi hỏi.

Mười Thứ rỉ tai tôi, rồi bảo.

- Vào thay ông kia đấy.

- Ổng về Bắc công tác nông thôn tiếp... Ổng giỏi về hợp tác xã mà !

Mười Thứ lại rỉ tai tôi:

- Đừng có nói với ai hết nhá.

Tôi gật đầu, làm bộ ngạc nhiên không biết gì về vụ Sáu Di chết ở Long Nguyên.

Cán bộ ngoài Bắc mới vô, lạ nước lạ cái kiểu như Mười Thứ, đến đất Củ Chi, lại phụ trách công tác phức tạp là quận đội, phần lớn không làm được việc gì. Họ đâm ra bất mãn hoặc chê dân Nam Kỳ vô kỷ luật. không chỉ huy được. Một số xin thôi công tác, một số chết lãng nhách trước sự mỉa mai của đồng bào "sinh Bắc Tử Nam".

Chết cho Nam Kỳ , nhưng chết như thế nào cho đáng cái chết. Chỉ một số ít thích nghi được với chiến trường, chịu khổ, chịu nguy nhưng rồi cũng lớ ngớ nên cũng bị bắt, bị khui hầm hoặc chết mà không ai báo cáo về trên.

Thử tưởng tượng một em bé 16, 17 tuổi đang học cấp hai ở miền Bắc, bỗng nhiên bị lùa vào Trường Sơn đi giải phóng miền Nam. Chúng có biết gì là bom pháo, sốt rét, nên chết thảm thương. Khi gần xảy ra Mậu Thân, những đơn vị thiếu niên này bị đưa vào Trường Sơn, không có súng. Chỉ tay không, hộc tốc đi đêm đi ngày, vô cho kịp Tết. Nhiều đơn vị vô tới trường tân binh của Lê Xuân Chuyên (em nuôi Trần Độ, hồi chánh Mậu Thân. Năm 1975 Việt Cộng vô Sài Gòn bắt đem ra Hà Nội xử bắn, gởi trả ba lô về cho vợ ở Hàng Xanh). Vô tới đây chỉ học động tác cơ bản vài tuần rồi bổ sung cho các đơn vị, phần lớn là đến Củ Chi, lò nướng BBQ vĩ đại nhất của Bác Hồ.

Nhiều cậu cầm súng không nổi vì ốm yếu, bệnh hoạn nhưng vẫn phải đi. Tôi đã xin được hai trăm "tay súng" kiểu này để trấn thủ Củ Chi trong tết Mậu Thân.

Ông Mười Thứ tâm sự với tôi:

- Quân đội ở đây là thứ không nghe lệnh cấp trên, coi cấp trên như thảo giái!. Mình vừa ra lệnh vừa lạy mà chúng vẫn không thi hành. Chỉ huy một anh du kích còn khó hơn chỉ huy một đại đội chính quy. Tôi xin chịu! ông đến lãnh chức quận trưởng thay tôi bằng cho tôi cục vàng.

Lôi tôi còn biết khuyên dứt làm sao được. .

Hôm tôi tổ chức tiệc tiễn anh Mười rời cơ quan. Tôi nói cho anh em cơ quan đỡ buồn:

- Ở trên vừa thành lập trung đoàn, đồng chí Mười Thứ được đưa ra làm tham mưu trướng trung đoàn. Chúng ta sẽ sát cánh chiến đấu với trung đoàn mới này và luôn luôn coi đồng chí Mười Thứ là cố vấn của quận đội ta.

Sự thực Mười Thứ ra trung đoàn 168 vừa thành lập, quân số chừng chục rưỡi anh lính vịt xiêm như độc giả thấy ở chương trước. Rồi cái trung đoàn này tan biến đâu mất không nghe đánh đếm ở đâu.

Còn Mười Thứ kể từ đó tôi cũng không gặp lại nữa.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 102057
Has thanked: 35654 times
Have thanks: 49460 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 4th, 2018, 2:13 pm
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Previous

Return to History & Culture Of VietNam | Lịch Sử & Văn Hóa Việt Nam

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests