Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Love long stories ... | Những mẫu truyện dài tình cảm ...

Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Postby DaMinhChau » April 18th, 2017, 12:11 pm


Buồn Vui Đời Thuyền Nhân



Lâm Hoàng Mạnh

Trăn trở và Ước mong

Tặng mợ và các con.


Lâm Hoàng Mạnh là một thuyền nhân và tập hồi ký Buồn Vui Đời Thuyền Nhân kể về cảnh ngộ mà bản thân người viết đã trải. Do đó, tác phẩm chỉ ghi lại một phần hình ảnh cực nhỏ của khu rừng có tên Thuyền Nhân mà Michelle Tauriac từng than dài trong tác phẩm Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism: “Biết đến bao giờ người ta mới hiểu hết những bất hạnh đã xẩy ra quanh danh từ đó.” Nhà văn Pháp Michelle Tauriac thông thạo tiếng Việt, sống nhiều năm tại Việt Nam, từng gặp gỡ nhiều thành phần xã hội từ các cấp lãnh đạo hai miền đến người vơ vất trên vỉa hè các thành phố, người lưu lạc tại các vùng đất xa xôi ở trời Tây nên có cả một kho dữ liệu so với số vốn thực tế trong giới hạn bản thân của Lâm Hoàng Mạnh. Với tầm mức đó, Michelle Tauriac vẫn cất tiếng than như vậy thì không thể đòi hỏi Lâm Hoàng Mạnh phải lấp biển vá trời để vẽ lại mọi nét vui buồn của hàng triệu thuyền nhân.
Nhưng Lâm Hoàng Mạnh có ưu thế trải nghiệm thực tế Việt Nam, kể cả chịu dập vùi giữa biển cả để không chỉ cất lên tiếng nói chứng nhân mà còn là tiếng nói nạn nhân. Vì thế, qua Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, ngưởi đọc không chỉ tới với các cảnh đời lưu lạc mà còn nhiều lần đối diện với đời sống Việt Nam — cũng chính là lời minh giải trực tiếp một phần nguồn cội đưa đến tấn thảm kịch thuyền nhân không riêng trong lịch sử Việt Nam mà là lịch sử chung của nhân loại. Tác phẩm của Lâm Hoàng Mạnh đã đưa người đọc về với nhiều cảnh sống mà chỉ người từng sống tại Việt Nam mới tin nổi là chuyện thực. Chẳng hạn chuyện rất nhỏ xẩy ra tại các cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh:
“… Ở thị xã Thái Bình, cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh rất khang trang. Một Chủ Nhật hè năm 1963, sau khi dạo chơi, hai thằng chúng tôi rẽ vào, mua mỗi thằng một tô phở 5 hào.
Tôi vừa bưng ra đặt xuống bàn, một lỏi tỳ khoảng 6 hay 7 tuổi nhổ ngay bãi nước bọt vào bát phở.
Tát nó à? Nó bé quá, không nỡ. Thôi, xin biếu bố trẻ.
Thằng bạn tôi, số phận chẳng hơn gì.
Vừa lấy thìa húp tí nước dùng, ba ngón tay đen ngòm, toàn đất cát thò ngay vào, bốc luôn miếng thịt bò trong bát, bỏ mồm.
Cũng đành đứng dậy, thôi nhường bố trẻ luôn.
Chiêu này diễn lại đều đều, các chị các cô phục vụ đuổi không xuể vì chúng khá đông…
Cửa hàng ăn phố Hoàng Văn Thụ, thành phố Nam Định cũng có lũ lỏi tỳ kiếm ăn… Chúng tụ tập trước cửa, mỗi đứa một cái vung nồi đất, vừa làm bát xin ăn vừa chơi trò xoay vung coi vung nồi đứa nào xoay lâu nhất…Khách mua bát phở, hai đứa kèm hai bên, chìa hai vung nồi, “anh ơi, chú ơi, ông ơi, chị ơi… cho cháu xin một tí, nước không cũng được.”
Làm thế, bố ai nuốt nổi. Thôi nhường cho mấy bố trẻ.
Kiếp trước chắc nợ các bố, vừa bảnh mắt đã bị ám.”
Thực tế khó tin này đã là chuyện bình thường và phổ biến vì toàn xã hội bị kiểm soát nghiệt ngã về cả chuyện ăn uống hàng ngày của mọi người với tên gọi chế độ tem phiếu.
“Nếu tôi nhớ không nhầm, chế độ tem phiếu bắt đầu từ 1959 hay 1960. Hè năm ấy, bọn học sinh Hải Phòng chúng tôi được thành phố trưng dụng đi làm sổ gạo …
Mỗi ngày đi làm, ủy ban hành chính phường trả công 6 hào, ăn bữa cơm trưa tập thể mất 5 hào, còn dư 1 hào chỉ đủ mua 1 que kem hay 2 bát nước chè xanh. Lương mạt hạng, mặt mũi vẫn phải vui và tươi roi rói. Không đi có mà ăn đất! Đừng có mơ vào đại học hay trung cấp chuyên nghiệp. Lý lịch sẽ ghi: Có tư tưởng và hành động chống đối chủ nghĩa xã hội! Đời mờ! Đời tàn liền!”
Lâm Hoàng Mạnh kể lại chế độ tem phiếu chia người dân làm ba loại tuyệt đối tuân theo các tiêu chuẩn quy định.
Loại 1 gồm cán bộ, viên chức có tiêu chuẩn mua mỗi năm 5 mét vải, mỗi tháng từ 13 ký rưỡi gạo tới 25 ký và từ nửa ký thịt tới 2 ký rưỡi tuỳ chức vụ.
Loại 2 gồm người dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng … có tiêu chuẩn mua đồng đều mỗi năm 4 mét vải, mỗi tháng 13 ký rưỡi gạo và 100 gram thịt.
Tiêu chuẩn dành cho cán bộ cao cấp được giữ kín, còn nông dân và người dân tại các thị trấn được xếp vào loại 3 không có tiêu chuẩn, kể cả trẻ em.
“Tất cả những người này là con số không tròn trĩnh.
Họ bị coi như công dân hạng 2 trong xã hội ……
Nhiệm vụ và quyền hạn của họ cũng như toàn dân Việt Nam, có thể tóm tắt trong 7 chữ vàng: Đóng thuế – Đi lính – Câm cái mồm!
Không tem phiếu, kể cả phiếu vải — động vật nên không cần quần áo?!….
Mỗi xã có một cửa hàng Hợp Tác Xã Nông Nghiệp … chẳng có mặt hàng gì quý giá, chỉ có: cày, cuốc, mai, thuổng, bát đĩa loại phế phẩm, vài phong thuốc lào hạng bét. Thuốc lào Tiên Lãng, Hải Phòng không đến lượt. Đôi khi có nước mắm loại khắm và mặn chát, thỉnh thoảng có cá khô … mua về muối nhiều hơn cá vì nhân viên bán hàng trộn thêm muối để ăn cắp cá …
Năm 1967, chúng tôi sang giảng cho lớp y sĩ xã, thấy các em ăn 1 phần cơm 3 phần sắn khô, có hôm ăn ngô răng ngựa — loại ngô dành cho gia súc, bung lên nở to gần bằng ngón tay cái — với canh rau muống nấu muối …”
Với cảnh sống đó, không có gì ngạc nhiên khi xuất hiện khắp nơi những đám trẻ nhỏ 5, 7 tuổi đã có mọi mánh khoé trộm cắp để kiếm miếng ăn. Thực ra, người lớn cũng không thể giữ nếp sống bình thường và ngay các thành phần được ưu đãi như giáo viên, bác sĩ … cũng phải tìm đủ cách kiếm thêm tiền để có thể mua chui một số thực phẩm:
“Thị xã tôi, Hoà Bình, thời ấy có 4 nghề kiếm tiền:
1– Vào rừng chặt gỗ, bương, nứa, cây chít (làm chổi quét), kiếm củi…
2 – Trồng rau, nuôi lợn.
3 – Đan cót.
4 – Cạo nứa.
Chủ nhật, đàn ông, thanh niên vào rừng như chảy hội. Đàn bà ở nhà lột cật nứa, bện chổi chít. Trẻ con đan cót. Ngày thường, hết giờ làm việc, cơm xong cả nhà làm cật lực cho đến khuya. Bốn nghề thật vất vả, nhưng vào rừng chặt gỗ, cạo tinh nứa, theo tôi, khốn khổ nhất …
Tiếng dao cạo vào tinh nứa, két két, ghê tai, sợ lắm, răng như muốn rụng. Đàn ông phải khỏe, dai sức mới làm nổi nghề này. Người ngả về phía trước, hai tay cầm lưỡi dao nghiêng 35-40 độ, kéo cật lực về phía sau, tinh nứa mới bong ra từng phoi xanh xanh cuộn tròn rơi xuống đất. Giống hệt anh thợ bào gỗ. Mùa hè, may-ô quần đùi, “của quý” trong quần các bố cứ lắc lư, lên xuống, ngang dọc theo nhịp kéo dao. Có anh bác sĩ, gia đình ở quê Thái Bình, lương gửi về nuôi vợ con, cũng tham gia hội cạo nứa. Trông thấy anh cạo, có người đùa, phong chức trưởng khoa Đầu Gật Gù, Dái Lắc Lư…”
Sự ngột ngạt không chỉ ở mức cùng cực của đời sống áo cơm mà trùm phủ đời sống tinh thần và tình cảm mọi người, ngay giữa các đồng nghiệp trong cùng một cơ quan:
“Năm 2004, chúng tôi về Việt Nam … nhân tiện lên thăm anh em bệnh viện cũ … Bác sĩ Đinh Tất Thắng, đồng nghiệp cũ mời chúng tôi bữa cơm mừng tái ngộ sau một phần tư thế kỷ xa cách.
Trong buổi hàn huyên, Thắng cười, kể:
– Anh chị còn nhớ y tá Tiêm không?
– Nhớ chứ. Cô Tiêm, phòng Đón Tiếp khu Đa Khoa, gần nhà mình chứ gì?
– Phải. Hè 1980, công đoàn tổ chức lợp nhà giúp Tiêm, trong lúc rỡ mái, em nhặt được túi vải buộc kỹ lắm, giấu ở xà ngang. Mọi người tán “Chết nhá, phen này giàu to.” Ai cũng tưởng quỹ đen giấu chồng, ai ngờ, sổ tay của y tá Tiêm theo dõi gia đình anh chị năm 1978, 1979. Cuốn sổ ghi, ai đến chơi, ngày giờ, cả biển số xe đạp. Anh chị biết không, có cả biển số xe đạp của em và bác sĩ Đắc…
Thắng cười, tiếp:
– Hồi anh chị đi Hong Kong, cả bệnh viện đồn ầm, anh là gián điệp nhị trùng của Mỹ – Trung Quốc nằm vùng. Cô Tuyển bên Nhà Trẻ, cô Thoan bên Kế Toán, cô Lan bên Dược kể nhiều đêm trước đó đã nấp trong bụi chuối sau nhà, rình anh chị bị muỗi đốt quá chừng vẫn phải ngồi im không dám động đậy, sợ lộ.”
Cùng với chuyện nghe qua lời kể đó là chuyện đã xẩy ra với bản thân mà Lâm Hoàng Mạnh còn nhớ cả ngày giờ:
“Sáng sớm ngày 9 tháng 4 năm 1979, phòng tổ chức mời vợ tôi lên. Cuộc gặp mặt gồm Bùi Đình Phảng, bí thư đảng ủy, Nguyễn Đình Mão, phó bí thư kiêm bệnh viện phó, Nguyễn Gia Hòa, đảng ủy viên, trưởng phòng Tổ Chức Hành Chính cùng một số nhân viên …
Sau vài lời rào đón, Nguyễn Đình Mão bảo vợ tôi:
– Việt Nam và Trung Quốc đã xảy ra chiến sự, Chúng ta đang chống quân bá quyền, bành trướng Trung Quốc. Chị là người Việt, nhưng chồng chị là người Hoa. Chúng tôi đang giải quyết anh ấy nghỉ chế độ mất sức. Còn chị muốn tiếp tục công tác, chị phải làm đơn ly dị và trả lại 3 cháu cho anh ấy, nộp cho chúng tôi.
Vợ tôi bàng hoàng … Thấy vợ tôi im lặng, trưởng phòng tổ chức Nguyễn Gia Hòa an ủi:
– Chúng tôi muốn giúp đỡ, cho chị lối thoát chứ không có ý gì khác.
Huỳnh Như Thùy, nhân viên phòng tổ chức, nhắc:
Chị nghĩ kỹ đi, đừng để mất cơ hội. Viết xong nộp cho tôi.”
Khó mường tượng nổi mức mở rộng cỡ đó về trách vụ của một cơ quan công quyền, cũng khó mường tượng nổi mức băng giá con tim của những người vẫn hàng ngày quần tụ bên nhau, và càng khó mường tượng nổi tính đạo lý của hành động cắt đứt tình vợ chồng, xoá bỏ tình mẹ con… để có thể gọi đó là cơ hội may mắn, lối thoát an lành.
Tôi bỗng nhớ tới một cô gái thuyền nhân Việt Nam đã có 30 năm định cư tại Đức qua nhắc nhở của tạp chí Del Spiegel nhân dịp kỷ niệm ngày các thuyền nhân Việt Nam xuất hiện tại đất nước này — ngày 3 tháng 12 năm 1978.
Vào một ngày tháng 10 năm 1978, cô gái vừa tròn 18 tuổi phải gạt nước mắt rời cha mẹ, rời thành phố Sài Gòn bước lên chiếc thuyền cũ nát không biết sẽ đưa mình tới đâu. Dù vậy, nếu không kể nỗi buồn gia đình chia lìa do cha mẹ phải hy sinh ở lại thì cô gái vẫn gặp nhiều may mắn. Trước hết, cô may mắn ra đi trong tư thế hợp pháp do có gốc người Hoa và cha mẹ gom nổi số vàng 60 lượng theo đòi hỏi để cô có bốn anh chị em cùng đi. May mắn hơn là vào lúc con thuyền bị nghiêng ngả giữa biển cả lại gặp một con tàu tỵ nạn lớn hơn. Nhờ thế anh chị em cô thoát chết và tìm được một góc trú ẩn, dù thêm số người từ con thuyền nhỏ, con tàu phải chở tới 2054 người. May mắn lớn nhất là khi hơn hai ngàn thuyền nhân trở thành tù nhân trong căn nhà tù nổi ngoài cảng Kelang Mã Lai đang chờ chết do đói khát và đã chịu đựng quá dài cảnh ban ngày nắng như đổ lửa, ban đêm lạnh buốt thấu xương thì cảnh ngộ của họ được loan truyền qua nửa địa cầu. Một chính khách Đức đã vận động chính quyền gấp rút chấp thuận đưa họ tới Đức định cư, đồng thời gấp rút chuyển cho họ các điều kiện tối thiểu để duy trì hơi thở.
Do đó, 7 giờ sáng ngày 3-12-1978, cô gái có mặt trong số 163 thuyền nhân Việt Nam đầu tiên bay tới Hanover. Khi cô run rẩy đặt chân xuống sân bay Langenhagen giữa cái lạnh mùa Đông, nhân viên tiếp cứu choàng lên vai cô tấm mền dạ cũ màu nâu của Hội Hồng Thập Tự Đức có in 3 chữ DRK. Tấm mền mỏng sờn cũ này kể từ ngày 3-12-1978 trở thành vật bất ly thân của cô và có thể sẽ ở bên cô tới phút cuối đời. Vì cho tới năm 2008, khi kỷ niệm 30 năm định cư tại Đức với cuộc sống vững vàng và đang bước qua tuổi về chiều, cô vẫn không rời tấm mền đã thực sự mòn cũ. Cô không bao giờ giải thích, nhưng tôi nghĩ tới làn hơi ấm từ tấm mền thấm vào cơ thể cô và cảm giác bình an dấy lên giữa phút giây đầu tiên đối diện với cuộc sống chan chứa yêu thương. Có lẽ suốt 45 ngày dài quằn quại thoi thóp vì nắng mưa đói khát trên biển cả lạnh lùng, cô đã triền miên ước có một phút giây êm ả nồng đượm tình người. Ao ước đó trở thành hiện thực khi một bàn tay xa lạ choàng lên vai cô tấm mền sờn cũ. Tấm mền với làn hơi ấm đã là biểu tượng cụ thể của tình người nên cô không dám từ bỏ. Bởi thực tế đã cho cô thấy cuộc sống tàn khốc ra sao khi tình người vắng thiếu.
Tự nhiên tôi gặp lại cảm giác từng có khi đón nhận vòng tay, nụ cười của bằng hữu, của người thân vào những lần tôi rời khỏi nhà tù. Kể cả khi đặt hai bàn chân trần trên mặt đường nhựa nóng cháy, tôi vẫn thấy toàn thân mát dịu với một cảm giác êm ả tuyệt vời trùm phủ. Những lúc đó, tôi không thể nào lên tiếng, chỉ có nổi nụ cười lặng lẽ trước mọi cử chỉ, mọi lời chia vui, trong khi một ý nghĩ luôn hiện đến là đoá hoa tình người đang toả hương cực độ và trấn áp hết thẩy mọi lo buồn, mọi hiểm hoạ vẫn hiện diện đầy rẫy khắp nơi. Từ đây, một ước mong và một nỗi ray rứt đã hiện hình để trở thành gánh nặng triền miên. Tôi ước mong có thể kéo dài được thời gian toả hương cực độ của những đoá hoa kia, đồng thời không thể ngừng thắc mắc về những cảnh sống cay nghiệt đang tiếp diễn. Quyết định không bỏ tấm mền cũ của cô gái khiến tôi nghĩ cô cũng có cùng ước mong tôi đã có và lập tức khơi dậy thắc mắc đã trở thành gánh nặng của tôi.
Đã nhiều đêm, tôi không chợp mắt nổi vì tấm bia tại Jakarta tưởng niệm các nạn nhân vùi thây giữa biển cả bị đục vỡ. Tấm bia không còn là tấm bia mà hiện ra trong hình vóc một con người với phần bia bị đục vỡ trở thành cặp mắt mở lớn hướng về phía trước trống rỗng mịt mù. Cặp mắt như hố thẳm với cái nhìn khẩn nài đau đớn từ một chiều sâu vô tận đặt tôi vào giữa vùng âm vang thảm thiết của những tiếng gào tuyệt vọng. Tôi không dập xoá nổi âm vang những lời cuối trong một lá thư tuyệt mệnh gửi cho người chị gái: “Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tỵ nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu.” Người viết là Nguyễn Văn Hai 27 tuổi, treo cổ tại Trại Cấm Whitehead Hong Kong đêm 16 tháng 2 năm 1990.
Âm vang những lời cuối ấy trở thành dòng suối cuồn cuộn dồn lên không biết bao nhiêu cái tên, bao nhiêu nấc nghẹn, bao nhiêu con người đột ngột hiện ra … Đây là Lâm Văn Hoàng với hình vóc còn chưa hết nét trẻ thơ vì chỉ vừa 22 tuổi. Cái hình vóc ấy đã từ đỉnh cao một vách đá trại Pulau Bidong, Mã Lai lao thẳng xuống biển khơi vào tháng 1-1991. Ngọn sóng cuốn trôi thân xác chàng trai lại bùng lên ngọn lửa cuồng loạn thiêu đốt những thân xác quằn quại với những cái tên Trịnh Thị Kim Hương, Lưu Thị Hồng Hạnh … Kim Hương 28 tuổi tự thiêu tại Trại Galang, Nam Dương ngày 30-8-1991. Hồng Hạnh 16 tuổi tự thiêu tháng 2-1993 với chi tiết “không có ai là thân thích” nên Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ không cho hưởng quy chế tỵ nạn. Ngay cạnh trường hợp Hồng Hạnh là trường hợp Hoàng Thị Thu Cúc hoàn toàn trái ngược. Thu Cúc có cha bị chết trong trại tù, gia đình bị tịch thu nhà cửa, cưỡng bách đi Khu Kinh Tế Mới nên 5 anh chị em phải tìm đường vượt biên. Các chi tiết cụ thể đó vẫn bị gạt bỏ khiến Thu Cúc đã tự treo cổ tại trại Sikiew Thái Lan tháng 12-1992 khi vừa 26 tuổi.
Cảm giác đến với tôi vào những đêm khuya đối diện tấm bia bị đục vỡ luôn là cảm giác ngộp thở. Vì dòng suối âm vang cuồn cuộn khiến tôi bị vây nghẹt giữa không biết bao nhiêu cái tên, bao nhiêu tiếng gọi cất lên từ nhiều địa phương Thái Lan, Mã Lai qua Nam Dương đến Hong Kong … Tôi không thể nhớ hết những cái tên, những trường hợp xẩy ra, nhưng luôn dừng lại với mấy lời cuối của người thanh niên 25 tuổi tên Nguyễn Ngọc Dũng. Ngày 3-5-1993, Nguyễn Ngọc Dũng tới trước văn phòng Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ trại Sungei Mã Lai tự tay đâm mũi dao nhọn vào giữa trái tim mình và gục chết bên dòng chữ: “Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng mà vì muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác.” Nguyễn Ngọc Dũng tự huỷ mình để tạo một tiếng gào kêu gọi sự cảm thông với cảnh ngộ bị đoạ đày của đồng loại trong cảnh sống vắng thiếu tình người.
Lời kêu gào vẫn cất lên, nhưng được đáp ứng ra sao?
Ngày 22-8-2007, tại đại hội Cựu Chiến Binh Mỹ ở Kansas Missouri, tổng thống Bush nhắc đến cuộc chiến Việt Nam qua một câu tóm gọn: “Bất kể bạn ở vị thế nào trong cuộc tranh luận thì cái di sản Việt Nam đã hỉển lộ vẫn chính là cái giá phải trả cho cuộc triệt thoái quân đội Mỹ bởi hàng triệu người vô tội mà những nỗi thống khổ của họ đã tạo thêm cho ngôn ngữ chúng ta các từ mới như “thuyền nhân”, “trại cải tạo” và những “cánh đồng chết”…. ([1])
Phát biểu ngắn gọn gợi nhắc thực tế Việt Nam sau ngày 30-4-1975 cũng bày tỏ nỗi tiếc xót về hậu quả một hành động sai lầm di hoạ cho những con người nhỏ bé vô tội, và ý muốn cảnh báo về một sai lầm tương tự. Dù là người xa lạ, ông Bush cho thấy không hoàn toàn vô cảm trước những thống khổ mà người dân Việt Nam gánh chịu quanh hai tiếng “thuyền nhân” — bao gồm cảnh ngộ buộc mọi người phải rời bỏ quê hương và những thảm nạn trên biển cả mênh mông luôn chứa đầy tai hoạ bão táp, hải tặc và cả thái độ lạnh lùng của những người ngoại cuộc nhẫn tâm…
Nhưng sự bày tỏ một chút tình đồng loại ấy đã lập tức bị phản bác bởi những người đang ở vị thế quyết định số phận mọi con dân Việt Nam. Ngay sau ngày 22-8 cho tới cuối tháng 9-2007, báo chí Việt Nam liên tiếp phổ biến nhiều bài viết và phát biểu chê bai ông Bush sai lầm và xuyên tạc. Trên báo Quân Đội Nhân Dân ngày 31-8-2007, tướng Nguyễn Đình Ước viện trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam phát biểu “nạn thuyền nhân là chuyện có thật” nhưng nguyên nhân vì “sau chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề mà Việt Nam còn bị bao vây, cấm vận về kinh tế.” Viên tướng này diễn tả xã hội Việt Nam hoàn toàn tốt đẹp, không có chuyện bức chế bất kỳ ai, không có nỗi thống khổ nào và khẳng định nạn thuyền nhân là “âm mưu hậu chiến của Mỹ ”, bởi sau khi cấm vận gây khó khăn kinh tế cho Việt Nam, “họ lại kích động, đưa ra viễn cảnh thiên đường ở bên ngoài gây nên tình trạng có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”
Nguyễn Đình Ước và những cây bút cuồng nhiệt đả kích lời phát biểu của ông Bush đã cho thấy họ không hề động tâm trước sự việc xẩy ra cho chính đồng bào của mình mà ngược lại còn kết buộc các nạn nhân tự chuốc tai hoạ bởi nghe lời ngoại nhân kích động, bỏ đất nước ra đi. Nếu cứ giả dụ những người này nói đúng thì phải biện giải ra sao về lý do Việt Nam viện dẫn để đòi phá bỏ tấm bia tưởng niệm tại Jakarta, khi tờ Jakarta Post ngày 20-6-2005 loan báo Chủ Tịch CSVN Trần Đức Lương yêu cầu Nam Dương “khẩn cấp đập tượng đài” trên vì “nó xúc phạm tới Việt Nam.” Tấm bia xúc phạm Việt Nam như thế nào khi chính quyền Việt Nam khẳng định các nạn nhân chết thảm chỉ vì “chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài?” Vả lại, bày tỏ tình cảm xót thương nhớ tiếc những người cùng huyết mạch đã khuất có thể là hành vi gây tổn hại uy danh dân tộc chăng?
Mọi nguyên tắc đạo lý trên trái đất này đều không chứng minh cho kiểu suy diễn đó, nhất là khi hết thẩy người đã khuất đều là nạn nhân vô tội đáng thương, trong số có không ít trẻ thơ và những người vợ, người mẹ chân yếu tay mềm. Bằng cách nhìn nào thì cũng phải khẳng định tấm bia đó chỉ gợi nhắc tội ác của những kẻ đã biến hàng loạt người vô tội thành nạn nhân trong tấn thảm kịch thuyền nhân, và bất kể là ai, nếu còn mang trái tim con người sẽ không bao giờ tránh khỏi xót xa trước cảnh tượng ngọn lửa điên cuồng trùm phủ thân hình nhỏ nhoi yếu đuối của một cô bé mới 16 tuổi như ngọn lửa hoả thiêu thân xác cô bé có tên Lưu Thị Hồng Hạnh.
Bỏ qua mọi lý lẽ để chỉ nhìn vào thực tế xảy ra quanh hai tiếng “thuyền nhân” sẽ không thể quên trường hợp con thuyền mắc cạn tại một hòn đảo trong quần đảo Trường Sa và trường hợp chấm dứt binh nghiệp của một hạm trưởng hải quân Mỹ.
Theo Washington Post ngày 29-03-1989, hạm trưởng hải vận hạm USS Dubuque cho biết sẽ rời Hải Quân sau 26 năm phục vụ, dù ước nguyện của ông là được sống trọn đời với biển cả. Ông phải chọn điều này vì ngày 24-02-1989, toà án quân sự Mỹ đã tuyên xử ông thiếu xót trách nhiệm và ông tin rằng bản án thực sự chấm dứt binh nghiệp của ông. Trên thực tế, ông bị ngưng chức hạm trưởng, bị truy tố ra toà từ ngày 27-08-1988, và các phiên xử kéo dài 2 tuần lễ khởi từ trung tuần tháng 2-1989 đã kết thúc với bản án trên. Lý do là ngày 9-06-1988, hải vận hạm USS Dubuque gặp một thuyền tỵ nạn Việt Nam lênh đênh giữa biển. Các thuyền nhân cho biết thuyền bị hư máy trôi giạt đã 18 ngày khiến có hơn 20 người bị chết. Còn lại trên thuyền lúc đó có 83 người gồm nhiều phụ nữ, trẻ em, hết thẩy đều kiệt sức. Nhưng lời khẩn cầu hải vận hạm USS Dubuque cứu vớt bị từ chối. Vị hạm trưởng chỉ hạ lệnh chuyển qua con thuyền một số thực phẩm và nước uống đủ dùng mấy ngày rồi tiếp tục ra đi, bỏ mặc con thuyền bập bềnh tại chỗ.
19 ngày sau, ngày 28-06-1988, con thuyền được một tàu đánh cá Phillipines cứu đưa vào bờ thì đã có thêm 31 người bị chết và số người sống sót kể lại phải qua những ngày khủng khiếp là duy trì hơi thở bằng cách nhai nuốt chính thân xác các bạn đồng thuyền đã chết. Tin về cảnh ngộ 52 thuyền nhân sống sót loan truyền khắp mặt báo chí và Bộ Quốc Phòng Mỹ tức khắc ra lệnh truy tố vị hạm trưởng.
Trước toà, vị hạm trưởng viện lý do cần hoàn tất nhiệm vụ nên không dám bỏ thời gian cho việc tiếp cứu. Nhưng quan điểm của toà là không có lý do nào biện giải cho hành vi làm ngơ trước cảnh lâm nguy của đồng loại.
Bản án đã khẳng định vị thế tột cùng của tình người và gợi nhắc một trường hợp từng xẩy ra 10 năm trước đó. Một ngày tháng 4-1979, con tàu là chiếc ghe đi biển mà ngư dân gọi là “3 lốc đầu bạc” chở 130 thuyền nhân rời đảo Hòn Tre ngoài khơi Nha Trang vượt Biển Đông. Sau ba ngày êm ả, một cơn bão bất ngờ ập tới giữa đêm. Cơn bão khiến con tàu điên đảo quay cuồng, sau đó hoàn toàn mất phương hướng. Giữa lúc nguy cấp, người trên tàu bỗng thấy có ánh đèn loé lên từ một khoảng không xa. Tài công lập tức hướng về phía đó với hy vọng là một hòn đảo Philippines.
Không may, con tàu mắc kẹt đá ngầm lúc tới cách hòn đảo chỉ hơn trăm thước. Lâm cảnh vô phương tiến thoái, một nhóm người quyết định lội vào đảo tìm sự tiếp cứu. Vừa đặt được chân lên bãi cát, nhóm người bỗng nghe tiếng loa phóng thanh bằng tiếng Việt ra lệnh: “Tất cả đứng lại!”
Cả nhóm chết sững đứng im, nhưng thầm an ủi nhau nếu bị bắt trở về đất liền thì dù phải đi tù vẫn bình yên, khỏi vùi xác giữa biển cả. Ý nghĩ đó không thành thực tế. Vì nhóm người đứng thẳng hàng với hai tay đưa lên trời đã lập tức trở thành những tấm bia cho hàng loạt đạn từ trong bờ xối xả bắn tới. Gần 20 mạng người gục ngã trong chớp mắt, chỉ còn ba người thoát chạy trở lại được con tàu.
Do mắc kẹt đá ngầm, con tàu không thể nhúc nhích nên đành đưa hết đàn bà trẻ nít lên mui, hướng vào đảo quỳ khóc xin tha mạng. Cảnh tượng đó diễn ra lúc trời đã rạng sáng giúp mọi người thấy rõ trên đảo nhiều toán bộ đội tới lui nhộn nhịp và vợ con họ đứng chen lấn nhìn ra con tàu.
Đám đàn bà trẻ nít trên tàu la khóc lớn hơn xin cứu giúp. Nhưng đó cũng là lúc mà đủ loại súng nối nhau nhả đạn vào đám đàn bà trẻ nít đang uốn mình cúi lạy trên mui tàu…
Các chi tiết về giây phút cuối cùng của con tàu do một nhân chứng sống sót kể lại:
– “Chúa ơi cứu con với!”
Tiếng thét đau đớn, hãi hùng của người phụ nữ nằm sát cạnh tôi, cùng lúc với một dòng nước ấm văng vào mặt khiến tôi phải lấy tay vuốt mặt và bàng hoàng nhận ra toàn là máu. Máu nóng đã ập vào mặt tôi từ người phụ nữ bên cạnh. Tôi ngẩng đầu lên một chút để nhìn. Người phụ nữ oằn oại với vết thương bên đùi vỡ toác, máu tuôn xối xả …
Đạn vẫn tiếp tục nổ, tiếng la hét, kêu gào của những người bị trúng đạn quyện thành một thứ âm thanh hỗn loạn đến rợn người … Trước mặt tôi, chung quanh tôi, máu thịt văng tung tóe, thây người nằm la liệt … Thần kinh tôi tê cứng vì sợ hãi khiến tôi muốn khụy xuống, nhưng bản năng sống còn thúc tôi phóng xuống biển vừa lúc một cơn sóng chụp tới cuốn tôi rời xa con tàu.”
Kẻ may mắn được sóng cuốn đi, sau đó được xô tới bên một chiếc thuyền câu cũng đang dật dờ trên mặt biển:
“Thoạt đầu, tôi cứ tưởng bộ đội hạ quyết tâm đuổi tận, giết tuyệt nên không dám bơi lại gần. Nhưng nhìn kỹ, tôi nhận ra chiếc thuyền hoàn toàn im lặng, không có sự di động của bất cứ người nào trên thuyền. Tôi hơi vững tâm, cố bơi lại gần. Nắm được be thuyền và leo lên thì tôi thấy có người trên thuyền, nhưng mọi người đang nằm ở tư thế ẩn nấp. Thấy tôi leo lên, họ sụp lạy, xin tha mạng. Tôi không có thời giờ giải thích gì cả, bật ngửa ra nằm bất động …
Sau khi đã hoàn hồn và hỏi chuyện nhau, tôi mới vỡ ra họ cũng trôi giạt vào đây và cũng bị bắn. Thuyền của họ xuất phát từ Phước Tỉnh, Bà Rịa, có 13 người gồm 11 người đàn ông và 2 đứa trẻ, bé chị 9 tuổi, cậu em 6 tuổi. Cha của hai em bé này đã bị bắn vỡ đầu nằm chết ở mũi thuyền, một thanh niên khác bị bắn nát phần vai hai bên, đang nằm thoi thóp dưới hầm máy.”
Con thuyền là một thuyền câu dài vỏn vẹn 6 thước, rộng 2 thước cứ dật dờ trôi nhưng tiếp đó đã nhận thêm 4 người khác thoát chết từ con tàu bị mắc cạn để ấp ủ 16 mạng người, sau khi anh thanh niên bị thương trút hơi thở cuối. Điều kỳ lạ là 16 người trong số có hai đứa trẻ đều còn thoi thóp tới ngày thứ 30 lênh đênh trên biển khi được một tàu buôn Nhật Bản phát hiện. Vị thuyền trưởng người Đại Hàn từng được nhắc nhở sẽ bị đuổi việc nếu vớt người vượt biên. Nhưng trước chiếc thuyền câu nhỏ với 16 túi da bọc xương đang hấp hối, ông đã chọn chấp nhận mọi hậu quả, lệnh cho thủy thủ đưa họ lên thuyền cấp cứu rồi chở họ tới cảng Okinawa.
Hơn 30 ngày trước, hai con thuyền chở 143 người lúc này chỉ còn vỏn vẹn 16 người. Nỗi gian khổ của họ được báo chí Nhật Bản và quốc tế kể lại nhiều ngày kèm theo hình ảnh những con người chỉ là những bộ xương với hộp sọ nhô cao.
Hành động quay lưng không cứu người lâm nạn của vị hạm trưởng hải vận hạm USS Dubuque gây ra cái chết cho 31 người đã khiến Bộ Quốc Phòng Mỹ lập tức quyết định đưa ra toà xét xử ngay sau khi báo chí loan tin. Trong khi đó, những kẻ nhẫn tâm tàn sát 120 mạng người vô tội gồm nhiều phụ nữ và trẻ thơ đang khốn đốn giữa sóng gió cho tới nay hơn 30 năm sau vẫn hoàn toàn thoải mái.
Không biết bao nhiêu thắc mắc đã được đưa ra nhưng đều rơi vào hư vô. Nhưng, những thắc mắc đó chắc chắn vẫn sẽ vang lên mỗi khi có ai nhắc đến hai tiếng “thuyền nhân” để gom lại thành một thắc mắc cuối cùng: Những kẻ đã ra lệnh bắn giết người ra đi và những kẻ thản nhiên thi hành lệnh bắn giết đó còn có thể gọi là con người được không?
Trong Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, Lâm Hoàng Mạnh lập lại cùng thắc mắc khi kể về một tai hoạ tương tự đe doạ con thuyền trên đó có gia đình anh:
“Trưa ngày 18-6-1979, vợ con tôi cũng như nhiều phụ nữ và trẻ con khác say sóng, nôn mửa, nằm bệt dưới khoang. Tôi đang loay hoay lau chùi dọn dẹp, lấy thuốc chống say cho vợ con, bỗng nhiên nghe tiếng loa phóng thanh oang oang:
– Không được vi phạm hải phận của chúng tôi.
Tất cả mọi người choàng tỉnh. Tôi vội lên sạp thuyền xem sự thể ra sao. Một tàu chiến hải quân Trung Quốc đang dần dần áp sát thuyền chúng tôi. Trên boong tàu, thủy thủ Trung Quốc trong quân phục hải quân, lăm lăm tiểu liên, một dàn đại liên, đại bác chĩa nòng vào thuyền. Một sĩ quan tay cầm loa phóng thanh nói bằng hai thứ tiếng Việt và Quảng rất rành rọt:
– Yêu cầu thuyền không được xâm phạm hải phận chúng tôi. Phải rời ngay hải phận, không sẽ bị tiêu diệt.
Tôi không thể tin được tai mình.
Đây là đồng bào, đồng chí của tổ quốc Trung Hoa vĩ đại của chúng tôi ư?
Mới ngày 15-6 khi chưa rời bến Máy Chai, chúng tôi vẫn được chính quyền Đặng Tiểu Bình trên đài phát thanh Bắc Kinh khoác cho chiếc áo “Hoa kiều yêu nước” với biết bao mỹ từ tươi đẹp, kêu gọi hồi hương. Giờ đây thuyền chúng tôi mới mấp mé hải phận “tổ quốc vĩ đại, thân yêu”, chính hải quân của Đặng Tiểu Bình đe dọa nổ súng, tiêu diệt nếu thuyền không rời xa lãnh hải.
Hơn 200 người trên thuyền là người dân vô tội, đàn bà trẻ con, không tấc sắt trong tay.
Khi tàu hải quân Trung Quốc áp sát, chúng tôi già trẻ lớn bé hơn 200 người đứng lố nhố trên sàn thuyền. Tất cả đăm đăm nhìn bọn họ. Những mũi súng máy của lính hải quân chĩa thẳng vào chúng tôi như sẵn sàng nhả đạn.
Trước khi ra đi, chúng tôi thường nghe BBC Việt ngữ, anh Đỗ Văn đưa tin, rất nhiều thuyền tỵ nạn gặp tàu nước ngoài đuợc cứu trợ, đưa đến nơi an toàn. Không ngờ, thuyền chúng tôi gặp tàu hải quân Trung Quốc, họ không cứu giúp lại tìm cách đẩy chúng tôi ra xa hơn giữa trùng dương nguy hiểm.
Họ là ai? Họ chính là người Trung Quốc, là đồng bào, trong huyết quản họ và chúng tôi có chung dòng máu Trung Hoa. Sao họ tàn ác đến như vậy?
Họ là người hay loài mãnh thú?”
Thắc mắc mà Lâm Hoàng Mạnh lập lại có lẽ không còn cần trả lời. Nhưng từ đây lại dấy lên một thắc mắc rất cần được trả lời: Tại sao loài mãnh thú có thể tồn tại lâu như vậy ở vị thế đè đầu cưỡi cổ con người?
Tôi không tin có một loài thú nào dù hung dữ tới đâu lại đủ sức khống chế một cộng đồng dân tộc từng đạp bằng mọi hiểm hoạ gian nguy cùng cực để tồn tại suốt hơn bốn ngàn năm. Quá trình đó đã biểu hiện cụ thể một ý chí bất khuất và truyền thống bảo toàn các giá trị tất yếu của cuộc sống gọi là cuộc sống con người. Ý chí và truyền thống đó chắc chắn không bao giờ tàn lụi. Vậy do đâu cả một cộng đồng dân tộc đã phải khoanh tay gục đầu trước nanh vuốt của chỉ một bày ác thú?
Hàng loạt dấu hỏi quay cuồng với hàng loạt giải đáp nhưng mỗi giải đáp lại khơi thêm nỗi hoang mang ngờ vực khiến trước mắt tôi bỗng hiển hiện một rừng dấu hỏi nhảy múa điên loạn và chập chờn chuyển hoá thành đủ thứ hình thù. Dù chưa từng vượt biển, chưa từng đặt chân đến một hòn đảo nào, tôi bỗng thấy mình đang đứng giữa quần đảo Trường Sa và những dấu hỏi mịt mù đã biến thành một đám người say mê nhả đạn với nét mặt hả hê trước những thân hình nạn nhân gục ngã. Rồi tôi lại nghe vẳng lên giọng kể trĩu nặng ưu tư của Lâm Hoàng Mạnh về vài cảnh sống của một số thuyền nhân khi đã rời xa hẳn những con thuyền:
“Chuyện ly hôn của người Việt trở thành đề tài nóng bỏng. Tôi quen một số gia đình cũng bị hút vào vòng xoáy này. Đến chơi, khi hỏi chuyện thật hư, có gia đình, không những không ngượng, cô vợ còn cười tươi, bảo “quanh đây ai cũng đều thế cả, chỉ có gia đình anh chị chưa làm thôi. Em á, không những làm, em còn xúi người ta. Tội gì không làm, chết ai đâu? Đây này, chúng em ra tòa ly dị. Có giấy ly hôn hẳn hoi, ông xã lấy cớ thăm con, vẫn ngủ ở nhà đấy chứ. Chỉ khi nào council cho người đến kiểm tra mới“tạm sơ tán” thôi…
Đấy, ông xã nhà này vẫn đi làm đều, chỉ phải đóng thêm chút thuế, theo diện độc thân, còn em và tụi trẻ bây giờ khỏe re, lĩnh tiền trợ cấp single parent cao, tiền nhà khỏi phải đóng, các cháu được miễn phí bữa trưa. Sướng chưa! Anh chị còn chần chừ gì nữa mà không làm….”
Tôi ngán ngẩm ra về và từ đó ít giao lưu. Chỉ vì một chút lợi ích vật chất, họ đã cắt luôn dây thần kinh xấu hổ, làm những điều không thể chấp nhận đối với lương tâm, đạo đức của người bình thường …”
Lâm Hoàng Mạnh không chỉ ưu tư trước cảnh sống này mà còn đưa người đọc tới nhiều vùng đất Việt Nam cũng như Anh quốc cùng nỗi trăn trở về khoảng thời gian tồn tại khó biết ra sao của những câu ca dao đã có hàng ngàn năm tuổi như:
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con …
Tôi không còn theo kịp mức chuyển hoá của khu rừng dấu hỏi nữa, dù vẫn tin chắc ý chí bất khuất và truyền thống bảo toàn các giá trị tất yếu của cuộc sống con người chẳng bao giờ rời xa tim óc mọi người Việt Nam ở bất kỳ nơi đâu. Mọi nguyên do thống khổ dẫn tới hai chữ “thuyền nhân”, mọi tai ương thảm nạn khắc hoạ thành hai chữ đó có thể ghi dấu mãi một đoạn đường ngập tràn những não bộ tối tăm, những con tim dã thú, nhưng trong diễn trình lịch sử, mọi đoạn đường luôn chỉ là một bước thăng trầm không thể kéo dài mãi mãi.
Tôi bỗng nhớ tới giọng ca từng là thần tượng một thời của lớp tuổi chúng tôi từ thập niên 1950, nữ ca sĩ Hy Lạp Nana Mouskouri. Nana Mouskouri cuốn hút không chỉ do giọng ca mà còn qua nhiều lời ca vẫn thường bất ngờ vẳng lại:
Quand tu chantes je chante avec toi, liberté
Dans la joie ou les larmes je t’aime
Les chansons de l’espoir ont ton nom et ta voix
La chemin de l’histoire nous conduira vers toi
Liberté, liberté …
Tôi rời những trang hồi ký của Lâm Hoàng Mạnh trong ước mong được nghe lời ca trên vang dội mọi nẻo đường Việt Nam qua một dàn đồng ca, dù dư âm giọng ca của Nana Mouskouri vẫn ngọt ngào quyến rũ.


Virginia May 20, 2011.
© UYÊN THAO


IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80825
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46238 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 26th, 2017, 1:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Postby DaMinhChau » April 18th, 2017, 12:13 pm


Lời nói đầu


àng năm, cứ đến ngày 17 tháng Hai dương lịch báo chí Việt ngữ trong và ngoài nước nhắc lại cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, nhưng hầu như người ta quên những nạn nhân của cuộc chiến bẩn thỉu ấy. Trong số những nạn nhân ấy có chúng tôi, trên dưới 1 triệu người Việt gốc Hoa, những người lao động bình thường, định cư nhiều đời, sống rải rác từ 6 tỉnh biên giới Trung-Việt đến các thành phố lớn Hà-nội, Hải phòng, Nam Định, Quảng Ninh… Bắc Việt nam, đã bị tập đoàn Lê Duẩn bài xích xua đuổi, triệt đường sống. Không còn con đường nào khác, chúng tôi phải ra đi, rời bỏ mảnh đất sinh ra, lớn lên, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi phần mộ ông bà cha mẹ đã yên nghỉ để làm người tỵ nạn.
Cuộc chiến chấm dứt đã 32 năm có lẻ, hai nước đã bình thường hóa quan hệ từ năm 1992, chủ tịch Trung Hoa, Giang Trạch Dân, đã tặng chính phủ Việt nam 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng đến tương lai”. Hậu quả cuộc chiến tranh bẩn thỉu ấy vẫn còn, tuy nỗi đau thương, khốn khổ, tủi nhục, ê chề đã thành sẹo, trong từng con tim khối óc người Việt gốc Hoa, nạn nhân cuộc chiến, chúng tôi có thể tha thứ nhưng không bao giờ quên, đang định cư rải rác trên toàn thế giới.
Một số bà con tin lời mật ngọt đã về “Trung Hoa Vĩ đại” qua đường biên giới. Tất cả đều được đón tiếp “nồng hậu” bằng cách đưa tuốt về những vùng đồi núi hoang dại, được đối xử thật bình đẳng, cho vào chiếc rổ “Hoa kiều hồi hương”, vàng thau lẫn lộn, không phân biệt kĩ sư, bác sĩ hay giáo viên, họ giao cho mỗi người một chiếc cuốc và những bộ quần áo xanh đồng phục, sống trong một khu, gọi là trang trại, được phong chức “công nhân nông trường” với mức khoán làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, không làm… nghỉ ăn. Sau 32 năm, nhiều gia đình vẫn không được nhập quốc tịch.
Ở Việt nam, người ta gọi chúng tôi là “người Hoa, anh Ba Tầu, chú khách”, có người độc miệng còn gọi “quân Tầu ô.” Hồi hương về Trung quốc, dân bản xứ gọi, “Dzit-nàm nhằn”, thân phận người Việt gốc Hoa đau khổ, ê chề không tổ quốc, không quê hương dưới 16 chữ vàng của hai quốc gia cộng sản “núi liền núi, sông liền sông” như thế đó.
Đa số theo đường biển, số phận tùy thuộc vào may rủi, trong đó có gia đình tôi. Làn sóng người Việt gốc Hoa miền Bắc chạy trốn cộng sản Việt nam theo đường biển tìm chân trời tự do, tuy không bị hải quân cộng sản truy đuổi giết hại trong đó có ông Chu Tử, một nhà văn lẫy lừng của nền văn học Việt nam, không gặp hải tặc, gian nan như bà con miền Nam, nhưng những cơn giông bão cũng đã cướp đi sinh mạng nhiều người vô tội. Gia đình tôi may mắn đã đến được Hương Cảng, cửa ngõ chân trời tự do vào ngày 31-7-1979.
Cảm ơn Người, cảm ơn đời, cảm ơn sự giúp đỡ vô tư của nhân dân và chính phủ Vương quốc Anh, những người thày giáo Anh ngữ và những người bạn Ăng-lê đã cưu mang, giúp đỡ chúng tôi với tấm lòng nhân đạo, hào phóng, vô tư trong những tháng năm đầu tiên của đời tỵ nạn.
Nhân đây xin cảm ơn các bạn Tưởng Năng Tiến, Phùng Tường Vân -cố luật sư Lại Tình Xuyên-, nữ sĩ Phạm thị Hoài, hai bác Uyên Thao và Trần Phong Vũ đã động viên giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành cuốn sách.
Lâm Hoàng Mạnh
London, xuân Tân Mão.
17-2-2011 kỷ niệm 32 năm cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80825
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46238 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 26th, 2017, 1:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Postby DaMinhChau » April 18th, 2017, 12:14 pm


1. Thời điểm 1979


Đang thiu thiu ngủ, vợ tôi lay lay vai, thì thào:
– Mình ơi, hình như có trộm.
Tôi tỉnh hẳn.
Có tiếng sột soạt rất nhẹ phía sát tường cửa sổ.
Lấy chiếc đèn pin ở đầu giường, ra khỏi màn, tôi bước thật nhẹ bằng đầu ngón chân, đến sát cửa sổ, lắng nghe. Ghé mắt qua khe cửa, cây nhãn sừng sững trong bóng đêm, thỉnh thoảng một làn gió nhẹ lướt qua, xào xạc. Đứng im khá lâu, không thấy tiếng động lạ, vào giường, tôi nói nhỏ:
– Không phải đâu, gió đấy.
Vợ tôi thì thầm:
– Mấy đêm nay rồi, cứ giờ này em nghe thấy tiếng gì lạ lắm.
Đồng hồ điểm 11 giờ đêm, tôi nói nhỏ:
– Thôi ngủ đi, mình có quái gì mà trộm mò vào.
Chuyện ấy xảy ra đã một phần ba thế kỷ, tháng 3-1979, mãi sau này về Việt nam thăm bạn cũ, tôi mới biết nhiều đêm có kẻ rình rập nhà tôi. Không phải trộm, chính các cô cậu y tá, dược tá, hộ lý, kế toán, nhà trẻ… đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong bệnh viện, theo chỉ thị của phó bí thư đảng ủy, kiêm phó giám đốc, Nguyễn Đình Mão, đêm đêm thay nhau rình mò chúng tôi xem có đào hầm chôn mìn, chất nổ hay moi vàng bạc của qúy dưới nền nhà hay không.
Năm 2004, chúng tôi về Việt nam sang cát cho bà ngoại các cháu, nhân tiện lên thăm anh em bệnh viện cũ. Đa số đã về hưu, một số đã trở về cát bụi, bác sĩ Đinh Tất Thắng, đồng nghiệp cũ mời chúng tôi bữa cơm mừng tái ngộ sau một phần tư thế kỷ xa cách.
Trong buổi hàn huyên, Thắng cười, kể:
– Anh chị còn nhớ y tá Tiêm không?
– Nhớ chứ. Cô Tiêm, phòng Đón tiếp khu Đa khoa, gần nhà mình chứ gì?
– Phải. Hè 1980, công đoàn tổ chức lợp nhà giúp Tiêm, trong lúc rỡ mái, em nhặt được túi vải buộc kỹ lắm, dấu ở xà ngang. Mọi người tán, “Chết nhá, phen này giàu to.” Ai cũng tưởng quỹ đen dấu chồng, ai ngờ, sổ tay của y tá Tiêm theo dõi gia đình anh chị năm 78, 79. Cuốn sổ ghi, ai đến chơi, ngày giờ, cả biển số xe đạp. Anh chị biết không, có cả biển số xe đạp của em và bác sĩ Đắc, thế có lạ không?
Thắng cười, bảo:
– Hồi anh chị đi Hong Kong, cả bệnh viện đồn ầm, anh là gián điệp nhị trùng của Mỹ-Trung quốc nằm vùng. Cô Tuyển bên nhà trẻ, cô Thoan bên kế toán, cô Lan bên dược kể, nhiều đêm nấp trong bụi chuối sau nhà, rình anh chị bị muỗi đốt quá chừng vẫn phải ngồi im không dám động đậy, sợ lộ.
Y tá Linh, vợ Thắng nhanh miệng:
– Lão Mão ra lệnh đấy. Hồi ấy tụi chúng nó đang đối tượng đảng. Nhờ chuyện này, sau khi anh chị đi, bọn chúng được kết nạp, đi học y sĩ và dược sĩ một loạt.
Vợ tôi hỏi:
– Con Tiêm và mấy đứa bây giờ ở đâu?
Cô Linh cười:
– Tiêm nghỉ mất sức lâu rồi, còn mấy đứa kia cũng nghỉ một cục (1), bỏ cả sinh hoạt đảng chạy chợ, có hai thằng con, đều nghiện.
Vợ tôi bồi thêm:
– Đáng đời quân tay sai. Làm điều bất nhân làm sao khá lên được.
Từ cuối năm 1978, nhiều gia đình người Hoa rục rịch chạy về “tổ quốc vĩ đại”. Bản tin thời sự đài truyền hình Việt nam thường xuyên đưa cảnh người Hoa vùng biên giới Lạng-sơn, Lào-cai, Móng Cái…. hồi hương qua các cửa khẩu. Người gồng kẻ gánh, xe đạp, xe bò chất đầy đồ, tay xách nách mang, nồi niêu xoong chảo, người già trẻ con dắt díu nhau từng đoàn, từng đoàn nhếch nhác, khổ sở chẳng khác cảnh chạy loạn năm 1946 khi toàn quốc kháng chiến. Gia đình tôi rất hoang mang, rối bời, không biết nên về hay nên ở.
Ngày 17-02-1979, Đặng Tiểu Bình “dạy cho Lê Duẩn bài học” bằng cách tổng tấn công chớp nhoáng trên 600 km đường biên giới. Cuộc chiến tranh chấm dứt sau hơn một tháng, hai bên thiệt hại nặng nề nhưng đều tuyên bố chiến thắng to lớn, vang dội! Cửa khẩu vùng biên đóng cửa, trong khi đó trên mọi phương diện truyền thông -báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình- toàn quốc công khai tuyên truyền bài xích, xua đuổi bằng cách đưa tin người Việt gốc Hoa làm gián điệp, làm chỉ điểm, làm tay sai giúp quân Trung-quốc tấn công những cơ sở bí mật của Việt nam, để kích động thù hận.

Image


Image


Vùng biên giới, từ cụ già tóc bạc phơ đến các cháu học sinh người Việt, hễ gặp người Hoa đều chửi thẳng vào mặt, “quân Tầu sao chưa cút về nước?” Có người còn bảo “ở lại làm gián điệp hả.”
Sức ép tâm lý vượt qua sức chịu đựng, vì thế nhiều nơi người Hoa ra đi trắng cả một vùng như đảo Trà Cổ, thị xã Móng Cái không một bóng người.

Image

Image

Image

Image



Từ tháng 4-1979 chính quyền Hà-nội, Hải-phòng và những tỉnh đông người Hoa họ trưng bày triển lãm: “Quân và Dân Ta Đánh Thắng Bọn Bành Trướng Bá Quyền Trung Quốc Xâm Lược”.
Triển lãm treo rất nhiều ảnh người Việt gốc Hoa làm gián điệp. Chuyện người Việt gốc Hoa làm gián điệp có hay không? Thật hư ra sao? Xin trả lời Có và cũng có thể Không (đúng) như những gì các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước đã đưa tin.
Trong những ngày tháng khốn khổ, khốn nạn tìm thuyền vượt biển, vô tình tôi đã gặp “hai tên gián điệp người Việt gốc Hoa” từng bị tập đoàn Lê Duẩn dán ảnh truy nã toàn quốc.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80825
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46238 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 26th, 2017, 1:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Postby DaMinhChau » April 19th, 2017, 12:18 pm


1. Thời điểm 1979 (tt)


Sự thật về hai “tên gián điệp” này như sau:
Tên gián điệp thứ nhất:
Voòng Tắc Quay -Vương Đức Quý-, là một thanh niên khoảng 25 tuổi khi tôi gặp vào đầu tháng 5-1979. Nếu còn sống anh lúc này cũng gần 60 tuổi.
Anh ta và tôi đã đóng tiền thuyền cho lão Ké chủ thuyền. Tôi chẳng biết tên thật của lão ta, chỉ nhớ nhà lão ở trong một ngõ nhỏ, khu An Dương, Hải Phòng, đã từng sống ở Lạng Sơn theo như lão ta khoe.
Tôi và anh ta khá thân nhau vì cùng cảnh ngộ vả lại sắp cùng thuyền.
Vương Đức Quý it nói, vẻ mặt lúc nào cũng buồn, như tất cả chúng tôi, vui làm sao nổi khi sắp phải lênh đênh trên biển, sống chết cách nhau có sợi tóc. Một buổi tối, sau khi đi họp tại nhà lão Ké định ngày xuất phát, đi qua Nhà Triển lãm ngay gần bờ Sông Lấp – tôi quên tên phố-, tôi rủ anh ta vào xem triển lãm. Khi đến phòng trưng bày tội ác có rất nhiều ảnh người Việt gốc Hoa làm gián điệp trong đó có ảnh Vương Đức Quý khổ 24×30 đen trắng to tướng treo trên tường. May quá, tối hôm ấy vắng khách, tôi vội kéo anh ta ra ngoài, nói nhỏ:
– Đi mau, họ đang treo ảnh bắt cậu.
Mặt anh ta cắt không còn hột máu, lắp bắp:
– Anh cũng định bắt em?
– Cái thằng, tao bắt mày để lĩnh thưởng à? Sao nghĩ về anh xấu thế!
Ngồi xuống ghế đá trong bóng tối, anh ta kể cho tôi câu chuyện “làm gián điệp” mà tôi tin, đến cả hôm nay, là thật.
Gia đình Voòng Tắc Quay ở Lạng Sơn. Trong lúc cơm sôi lửa bỏng -quân Trung Quốc chuẩn bị tấn công- thì vợ Quay sắp đến ngày chuyển dạ. Vợ chồng anh và cha mẹ hai bên gồng gánh lôi thôi lếch thếch chạy về “ông nội” như hàng ngàn người Hoa vùng biên giới. Đang chạy loạn thì vợ Tắc Quay đẻ! Tắc Quay đưa vợ vào hang đá gần đó, hy vọng vài ngày nữa sẽ đi tiếp. Gia đình hai bên đành phải chia tay, hẹn nhau ở địa chỉ một nhà đã hồi hương mấy tháng trước.
Số phận thật khốn nạn, ngay tối hôm sau chiến sự xảy ra. Cơm nắm, muối vừng sau 3 ngày thì hết nhẵn, vợ đói, con khát sữa, Tắc Quay liều mạng quay về nhà cũ kiếm xem có gì để nuôi vợ đẻ.
Đang lục soát, mò mẫm bị dân quân tóm, trói giật cánh khuỷu như trói khỉ, điệu về bộ chỉ huy tiền phương của “Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng.”
Khai gì thì khai, nói gì thì nói, họ không tin, không nghe, tống ngay Voòng Tắc Quay lên xe thùng bịt kín đưa về xuôi với quy kết “gián điệp người Việt gốc Hoa làm do thám!” Tội này nhẹ cũng mọt gông, nặng dựa cột! Nói láo, bom đạn khét mù, đẻ đái gì lúc này! Gián điệp nỏ mồm, nhất là thằng này, tiếng Tàu tiếng Việt nói ào ào! Thằng này nằm vùng lâu năm, nay mới bị bắt quả tang. Thế là Voòng Tắc Quay thành gián điệp Trung Quốc nằm vùng 100%!
Đáng đời “thằng Tàu phù”, nhiều người Việt chửi thẳng vào mặt Tắc Quay khi bị giải đi!
Chiến sự lan rộng, nơi giam Tắc Quay có nguy cơ bị tấn công. Trong lúc nhộn nhạo, Tắc Quay và hai, ba người cùng cảnh đã đào tẩu, chuồn một mạch, vừa đi bộ vừa chạy và ăn cắp áo quần dân địa phương để thay đổi hình dạng đến Thái Nguyên. Chả biết trời xui đất khiến thế nào anh ta gặp ông Mềnh –Minh- ở ngay giữa chợ, bạn cũ của gia đình ở Thái Nguyên, cũng đang chuẩn bị chuồn khỏi Việt Nam, đã giúp Quay xuống Hải Phòng tìm lão Ké. Lão Ké cho nợ tiền thuyền, nhưng với điều kiện ra nước ngoài phải trả lại cả lãi gấp đôi. Quay gật đầu lia lịa và cảm ơn rối rít, trở thành tên đầu sai cho lão, không công ngoài hai bữa cơm chính. Tôi hỏi:
– Sau đó có gặp lại vợ con không?
– Em chẳng biết tin gì.
Nói xong, Quay khóc nức nở như đứa con nít.
Tôi không biết Voòng Tắc Quay còn sống hay đã là người thiên cổ trong bụng cá ở biển Đông, bởi sau khi phát hiện lão Ké ma cô, mua 3 chiếc thuyền để đưa người đi như đi du lịch, tôi rút lại tiền đi tìm thuyền khác. Chúng tôi chia tay nhau. Từ đó không gặp lại. Những ngày ở Kho Đen, tôi ngóng tìm Tắc Quay mà không thấy. Tôi tự hứa với lương tâm, nếu có dịp tôi sẽ đưa chuyện này ra ánh sáng để thanh minh cho những nỗi oan trái của các người đồng hương thấp cổ bé họng, bị cả Việt Nam và Trung Quốc dùng làm con tốt đen trong cuộc chiến bẩn thỉu, khốn nạn, đê tiện.
Tên gián điệp thứ 2:
Người này tên là Lý A Sáng - Lý A Sinh. Tôi gặp anh ngay tại bờ biển Bắc Hải khi thuyền chúng tôi hỏng phải ghé sửa. A Sáng có nước da khá sạm, đôi mắt sáng, nhanh nhẹn. Tôi đang ngồi trong chiếc lán bằng 3 mảnh áo mưa ghép lại thì anh ta mạnh dạn đến hỏi tôi có bán chiếc mũ cối không. Buồn ngủ lại gặp chiếu manh, tôi vội hỏi:
– Cậu không đùa đấy chứ?
– Em đâu dám đùa.
– Tớ hỏi thật, tại sao cậu lại định mua chiếc mũ cối cà tàng của tớ?
Kéo tôi ra bờ biển, cậu ta thì thầm:
– Em mới trốn từ nông trường ra đây, nay muốn sang Hong Kong, nhưng chẳng còn giấy tờ gì của Việt Nam.
Tôi cười:
– Tớ thì hơn gì cậu.
Khuôn mặt cậu ta đau khổ:
– Nhưng anh còn rất nhiều thứ mang từ Việt Nam. Nghe nhiều người bảo, a-sề (cảnh sát) Hong Kong sẽ đuổi về nếu biết ai đi từ Tài-loọc (Đại lục). Anh bán cho em đi, cả chiếc va-li cũ nữa.
– Nói thật, tớ cũng đang cần tiền mua đồ ăn cho các cháu. Cậu hỏi, tớ bán tất, kể cả chiếc áo len. Thế cậu trả bao nhiêu?
– Anh tính bao nhiêu?
– Tùy cậu, chỉ biết là gần hai tuần thuyền tớ sửa ở đây, chủ thuyền chỉ phát gạo còn thức ăn phải tự túc.
Cậu ta đưa tôi 5 Tệ để đổi lấy chiếc mũ cối cà tàng, chiếc va-li cũ rích và chiếc áo len đã thủng vài lỗ. Nhờ số tiền ấy các con tôi đã có những bữa cơm có thêm tôm, cá với gạo mọt mua chui từ Việt Nam mà chủ thuyền phát. Cuộc buôn bán chóng vánh đã đưa chúng tôi gần nhau. Cậu ta kể:
– Gia đình em làm nghề buôn thuốc Bắc từ Vân Nam về Việt Nam, khi “rục rịch”, gia đình “té” liền ngay cuối 78. Qua Trung Quốc chúng em được đối xử tốt lắm. Ăn nghỉ tại khách sạn. Anh nghĩ, tuy là dân buôn lậu nhưng có bao giờ được ăn ngủ ở khách sạn đâu. Hàng ngày có cán bộ của tỉnh đến hỏi chuyện, ông ấy biết tiếng Việt còn thạo hơn em, (A Sáng nói còn trọ trẹ, kiểu như “đồng bào” thành “tồng pào”, “tờ báo” thành “tờ páo.”) Em khai tất tần tật, có gì khai nấy kể cả chuyên theo a-pá (cha) và pằng-dẩu (bạn) đi buôn thuốc Bắc lậu. Cán bộ ấy vui lắm chứ không bắt bẻ và chẳng bao giờ hỏi tại sao. Sau 3 tuần, em được họ đưa đi bằng xe com-măng-ca đít tròn (2) đưa đến một cơ quan trong thành phố. Em được chiêu đãi cơm rất thịnh soạn.
Cậu ta nuốt nước miếng, nói tiếp:
– Có đến bẩy, tám món. Em được hút ba con 5, uống trà ô-long… Sau khi nghỉ ngơi, tắm rửa xong em được 3 cán bộ mặc quần áo kiểu Tôn Trung Sơn (thuộc loại cốp to) gặp gỡ thân mật và nói: “Đồng chí Đặng Tiểu Bình và các cán bộ cao cấp khác rất hoan nghênh những Hoa kiều yêu nước đã hồi hương và mong các đồng chí đóng góp sức nhỏ bé của mình cho quê hương đất nước.” Anh cán bộ ngồi giữa bảo, từ ngày mai em sẽ về ở trong khu mới, còn vợ con em vẫn ở khách sạn. Em được đưa về khách sạn, hôm sau từ biệt vợ con, em lên xe theo họ. Đến đấy, họ bắt em tập trườn, lăn, bò, toài, tập võ, đâm lê, đánh kiếm, tập bắn súng. Em biết thế là đời em tiêu rồi! Nhưng vợ và 2 đứa con em đang bị làm con tin ở khách sạn. Sau 4 tuần tập luyện, em gặp 10 đồng hương cùng tuổi ở các tỉnh biên giới và em được chỉ định làm đội trưởng. Trước khi chiến sự xảy ra, em đã phải đưa một tổ thám báo theo đường buôn lậu, con đường mà em thuộc như lòng bàn tay xâm nhập Việt Nam nhiều lần. Chiến sự bùng nổ, tất cả tiểu đội em giải tán, mỗi người về một đơn vị trong đoàn quân Trung Quốc.
Tôi hỏi:
– Cậu có tham chiến không?
– Có chứ, dẫn đường, đánh nhau, phiên dịch… làm đủ cả.
Im lặng, rút bao thuốc Đại Tiền Môn, cậu ta rít một hơi dài.
– Chán lắm anh ạ, em là gián điệp bất đắc dĩ. Em biết em đã ăn cơm gạo, uống nước của Việt Nam, nay lại đưa quân Trung Quốc về bắn giết bà con mình. Em đúng là con chó!
Rồi cậu ta chém bàn tay vào không khí, nói to:
– Không, không bằng con chó!
Tôi hỏi:
– Thế làm sao mà cậu chuồn được?
– Dài dòng lắm anh ơi! Chiến tranh kết thúc, gia đình em họ cho chuyển về nông trường chè. Cả họ mạc hai bên góp tiền để em trốn đi, lấy cớ mua nông cụ cho nông trường. Thôi, miễn là hôm nay em ra được Pắc-hổi (Bắc Hải) này và đã đóng tiền thuyền, mai thuyền em nhổ neo. Anh đừng có nói với ai. Zdit-nàm-nhằn (người Việt Nam) mà biết, họ “trảm-cô-thầu” (chặt đầu) em đấy.
Tôi hứa và đã giữ kín chuyện này hơn 30 năm.
Lý A Sáng, anh ở đâu trên trái đất này?
Xin thông cảm cho tôi đã không giữ trọn lời hứa, vì cộng đồng Minh Hương chúng ta mà tôi đã thất hứa. Anh hãy coi đây là lời tạ lỗi!
Hôm nay vì lợi ích của tất cả cộng đồng người Việt gốc Hoa ở trong và ngoài nước, tôi buộc phải viết ra để mọi người hiểu: Tắc Quay, A Sáng và những người như anh đã bị dính giữa hai làn đạn của cuộc chiến tranh bẩn thỉu giữa hai đồng chí cộng sản, để bà con người Việt thông cảm và tha thứ lỗi lầm của những người đó.
Thời điểm này, tập đoàn Lê Duẩn ra sắc lệnh cấm người Hoa làm việc trong 7 ngành nghề: y tế, giao thông, lương thực & thực phẩm, giáo dục, kinh tế (ngân hàng, tài chính), ngoại giao và văn hóa.
Ai đang làm bắt phải thôi việc, làm chúng tôi nháo nhào bán tống bán tháo đồ đạc chạy cho mau. Chú tôi, đảng viên cộng sản khóa 3-2-1960, phó thư ký công đoàn Cảng đã buộc phải làm đơn xin ra khỏi đảng, bắt về hưu non. Thím tôi cũng bị nghỉ mất sức. Con gái ông, y sĩ cũng bị thôi việc, tình cảnh khốn đốn, nhà 8 miệng ăn, không ai có việc làm, cứ đà này chắc chết đói.
Nước đến chân rồi! Chết đến đít!
Phen này chậm chân chắc tiêu đời!
Chợ Sắt đầy người bán các thứ đồ đạc của người Hoa chạy loạn, đủ loại thượng vàng hạ cám, nhưng toàn đàn bà Việt bán. Họ là vợ, con của người Hoa, trong đó có cả thím tôi, vợ tôi tham gia chợ cóc đó từ tháng 5-1979 cho đến trung tuần tháng 6-1979!
Tôi yêu văn chương từ thuở học primary Pháp thuộc, càng lớn càng nghiện mua sách, cho nên tôi có số sách thật khổng lồ, nay đem sách đi bán chắc chắn sẽ góp một phần không nhỏ cho chi phí chuyến đào tẩu. Đau đớn lắm, những tác phẩm quý của tất cả các tác giả Đông Tây in bằng tiếng Việt từ thời Pháp cho đến 1978, vài ngàn cuốn. Tôi phải cho vào bao tải chở bằng xe đạp nhiều lần, bày bán ngay trước cửa hiệu sách của thị xã. Anh cửa hàng trưởng -tôi là khách hàng mua đã 15 năm từ khi ra trường- nhìn tôi ứa nước mắt. Anh biết tôi yêu sách như yêu vợ, yêu con, như máu thịt của tôi mà những ngày này tôi phải cắt từng miếng thịt bán cho thiên hạ lấy tiền, đưa vợ dại con thơ chạy trốn!
Sao oan nghiệt thế! Các giáo viên cấp 3, giáo viên trường trung cấp sư phạm 10+2, bạn tôi, học sinh khoa Văn, học sinh cấp 2, 3 của tỉnh và thị xã nghe tin đến mua ào ào như tằm ăn rỗi. Họ rất ngạc nhiên, sao tôi kiếm đâu ra những cuốn sách quý và hiếm như vậy. Xin kể vài đầu sách: Tất cả tiểu thuyết, truyện ngắn của Tư lực Văn đoàn, Thơ Mới in từ thời Pháp thuộc mà giai đoạn ấy cấm đọc, cấm tàng trữ! Tôi có cả cuốn Cửa mở của Trần Việt Phương (cấm lưu hành), cuốn Bông Hồng Vàng của nhà văn Nga Konstantin Paustovsky do Vũ Thư Hiên dịch từ tiếng Nga, những cuốn này bói không ra. Nghĩa là tôi toàn sách “độc” nên bán chạy hơn tôm tươi. Giá bán không rẻ, thậm chí đắt và rất đắt, bởi tôi biết giá trị thật của nó. Chỉ trong 4 ngày tôi bán được hơn ngàn cuốn sách. Riêng những cuốn tự điển Trung Việt của Văn Tân, Trung Hoa đại từ điển và một số thơ Đường, Tống bằng chữ Hán tôi cho các cậu các dì làm giấy vệ sinh, vì ở Việt Nam lúc ấy loại này cũng hiếm lắm!
Đã bị quả đấm bằng trời giáng,- bài xích, xua đuổi -, của chính quyền, nay thêm cái đạp là đồ đạc bao nhiêu đời, bao nhiêu năm ki cóp bán đi như thể bán đổ bán tháo, gần như cho không, vì những tin đồn thất thiệt có phần do kỳ thị, bài Hoa nên không ai mua.
Tôi không biết ở miền Nam thời ấy ra sao, còn miền Bắc nghèo lắm, mọi thứ đều thiếu, thiếu từ cái nồi, cái bát, cái xe đạp đến manh quần tấm áo, bởi vì mọi thứ đều bán theo phân phối của chế độ mậu dịch. Mua chiếc xe đạp cũng phải lên công an xin giấy đăng kí xe, mua chiếc đài thu thanh đều phải lên ty bưu điện xin giấy sử dụng, ai không có sẽ bị phạt, nhẹ bằng tiền, nặng tịch thu. Ngày nay báo chí gọi “thời kỳ bao cấp”, có người bảo,“ thời kỳ ngăn sông cấm chợ”. Nhưng cấm như thế nào, ngăn ra làm sao, chắc nhiều người đã quên, lớp trẻ hẳn khó biết.
Ai đã từng sống dưới thời bao cấp mới thấy mấy tấm bánh chưng, khoanh giò lụa, đĩa nem rán, bát măng ninh chân giò, đĩa xôi gấc… đặt lên ban thờ cúng tổ tiên ngày Tết là hàng cao cấp, nếu như không nói là hàng xa xỉ. Bởi vì chế độ tem phiếu khắc nghiệt lắm. Tôi biết rõ vì tôi là người trực tiếp làm tem phiếu, xin ghi lại để tham khảo.
Nếu tôi nhớ không nhầm, chế độ tem phiếu bắt đầu từ 1959 (hay 1960?). Hè năm ấy, bọn học sinh Hải-phòng chúng tôi được thành phố trưng dụng đi làm sổ gạo vì “văn hay chữ tốt”. Mỗi ngày đi làm, ủy ban hành chính tiểu khu (phường) trả công 6 hào/ngày, ăn bữa cơm trưa (tập thể) mất 5 hào, còn dư 1 hào chỉ đủ mua 1 que kem hay 2 bát nước chè xanh. Lương mạt hạng mặt mũi vẫn phải vui và tươi roi rói.
Không đi có mà ăn đất! Đừng có mơ vào đại học hay trung cấp chuyên nghiệp. Lí lịch sẽ ghi: có tư tưởng và hành động chống đối chủ nghĩa xã hội! Đời mờ! Đời tàn liền! Xin đi làm bốc vếch -công nhân bốc vác cảng- cũng không xong!
Chế độ tem phiếu chia làm ba loại:
1-Cán bộ công nhân viên chức
2-Nhân dân thị xã và thành phố
3-Nông dân, kể cả nhân dân ở thị trấn
Ngoài ra còn loại tem phiếu dành cho cán bộ cao cấp từ chuyên viên đến lãnh đạo ty sở, từ tỉnh ủy viên đến bộ trưởng. Tiêu chuẩn này cũng có nhiều loại, tôi chỉ biết sơ sơ, nghe hơi nồi chõ, thực tế ra sao xin nhường cho bạn nào biết, viết tiếp cho hoàn chỉnh.
1- Cán bộ công nhân viên chức
Người làm trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước, bao gồm bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, nhà văn… (những người lao động trí óc nói chung), lao động chân tay, cán sự từ bậc 1 đến bậc 4; từ bậc 5 trở lên là chuyên viên hưởng tiêu chuẩn khác. Tất cả hưởng tiêu chuẩn giống nhau:
– Vải 5 mét/năm
– Gạo từ 13 kg 5 đến 25 kg/tháng (tùy thuộc lao động nhẹ hay nặng)
– Thịt từ 500 gr đến 2,5 kg/tháng (tuỳ thuộc tính chất nghề nghiệp)
– Đường từ 500 gr đến 2 kg 500/tháng (tuỳ thuộc tính chất nghề nghiệp)
– Đậu phụ 1 kg/ tháng
– Nước mắm 500 ml/tháng
– Cá tươi hoặc cá khô 500 gr/tháng.
2- Nhân dân thành thị
A- Người lớn
– Vải 4 mét/năm
– Gạo 13,5 kg/ tháng
– Thịt 100 gr/tháng
– Đường 100 gr/ tháng
– Đậu phụ 500 gr/tháng.
– Nước mắm 500 ml/tháng
– Cá tươi hoặc cá khô 500 gr/tháng.
B- Trẻ em từ sơ sinh đến 15 tuổi
– Vải 4 mét/năm
– Gạo tùy thuộc vào tuổi từ 5 kg đến 12 kg/tháng
– Thịt 300 gr/tháng cho trẻ dưới 5 tuổi. Từ 6 tuổi như người lớn
– Đậu phụ và nước mắm như tiêu chuẩn người lớn
– Cá tươi hoặc cá khô 300 gr/tháng.
3- Nông dân và dân thị trấn
Không có một thứ tiêu chuẩn tem phiếu nào, kể cả trẻ em. Họ cũng không được cấp giấy chứng minh thư. Tất cả là con số không tròn trĩnh. Họ bị coi như công dân hạng 2 trong xã hội. Theo cương lĩnh của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nông dân là thành phần nòng cốt của chính quyền vô sản, nhưng người nông dân một nắng hai sương, người làm ra thóc gạo, làm ra mọi của cải vật chất (chính) để nuôi quân, nuôi dân và cán bộ nhân viên nhà nước như chúng tôi thì bị bỏ rơi, loại khỏi cuộc chơi của xã hội. Nhiệm vụ và quyền hạn của họ cũng như toàn dân Việt Nam, có thể tóm tắt 7 chữ vàng: Đóng thuế- Đi lính- Câm cái mồm!
Không tem phiếu, kể cả phiếu vải, động vật nên không cần quần áo? Mỗi xã có một cửa hàng Hợp tác xã Nông nghiệp, gọi thế cho oai chứ trong cửa hàng chẳng có mặt hàng gì quý giá, chỉ có: cày, cuốc, mai, thuổng… (dụng cụ lao động dành cho nông dân), bát đĩa loại phế phẩm, vài phong thuốc lào hạng bét, thuốc lào Tiên Lãng, Hải Phòng không đến luợt, dầu hỏa, muối, đôi khi cũng có nước mắm (khắm và mặn chát), thỉnh thoảng có cá khô (cá mòi, cá chuồn, cá trích… chứ làm gì có cá thu, cá nục) mua về muối nhiều hơn cá do nhân viên bán hàng trộn thêm muối để ăn cắp cá.
Tiêu chuẩn phân phối xem ra đối với chúng tôi cũng sống nổi nếu như mua được hết số tem phiếu. Tuy có tem phiếu nhưng đâu có hàng hoá, may lắm chỉ mua được 50%. Tem phiếu in tháng, hết tháng hết giá trị. Từ năm 1962, tiêu chuẩn gạo bắt đầu phải độn ngô hay bột mỳ từ 30% lên dần 50%, có kỳ 70%, ở miền núi còn độn sắn (củ mỳ) khô, đến năm 1982 cửa hàng lương thực chỉ có 100% hạt bo bo bán cho dân. Năm 1967, sang giảng cho lớp y sĩ xã, thấy các em ăn 1 phần cơm 3 phần sắn khô, có hôm ăn ngô răng ngựa (loại ngô dành cho gia súc, bung lên nở to gần bằng ngón tay cái) với canh rau muống nấu muối, cà muối. Vì thế cô hàng gạo, chị hàng thịt, bà bán cửa hàng bách hóa thời bấy giờ có giá lắm, oai hơn cả kỹ sư, bác sĩ, thày giáo, nhà văn…!
Nhân đây tôi xin kể một số chuyện thật ở tỉnh tôi mà tưởng như chuyện tiếu lâm trong thời kỳ tem phiếu.
Chuyện thứ nhất:
Tháng 5 năm 1970, trong một cuộc đại hội công đoàn thường niên của tỉnh họp tại trụ sở Mặt Trận Tổ Quốc tỉnh Hoà Bình. Gần 100 đại biểu thuộc các cơ quan ty ngành trong tỉnh đến dự. Trong lúc nghỉ giải lao, một bác bảo vệ cơ quan từ phòng thường trực cầm cái bát to đi đến bàn uống nước của đại biểu ở hội trường, rót nước trà vào bát. Bác đến gần đám đông đứng quanh ông Quách Hy, chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh, đặt bát nước xuống bàn, móc túi áo lấy ra một gói giấy nhỏ, chậm rãi mở ra như cố tình để mọi người xem. Người ta tưởng bác lấy viên thuốc, nhưng không, đấy là các ô tem phiếu thịt, cá, đậu phụ… đã cắt sẵn từng tháng theo tiêu chuẩn. Bác thong thả bỏ vào bát nước, thò ngón tay trỏ vào lòng bát, ngoáy đều tem phiếu đang nổi lều bều như thể cho tan trong nước, rồi bưng lên miệng, uống một hơi. Tất cả mọi người trố mắt ngạc nhiên, tưởng ông già này mắc bệnh tâm thần. Bác tỉnh bơ, khà một tiếng sau khi uống hết nước, nói bâng quơ:
– Các loại tem phiếu không mua được thì hoà vào nước uống cũng có đủ chất có phải không bác lãnh đạo?
Mặt Quách Hy tím lại, không ngờ lão bị chính nhân viên mình chơi sỏ. Cơ quan công đoàn và Mặt Trận Tổ Quốc là cơ quan bảo vệ quyền lợi và chăm lo đời sống cho cán bộ công nhân viên chức, nhưng đã không làm tròn nhiệm vụ. Tem phiếu nhà nước phát cho cán bộ công nhân viên chức cũng chỉ là những mảnh giấy lộn, vì mấy ai mua hết tiêu chuẩn tem phiếu.
Sáu tháng sau, người ta thải hồi ông.
Chuyện thứ hai:
Hôm ấy, khoảng 10 giờ sáng tháng 7 năm 1972 tôi có việc đi qua thị xã. Một người đàn bà Mường có tuổi, đứng trước cửa cửa hàng lương thực thực phẩm Phương Lâm thị xã Hoà bình, miệng gào to:
– L. ơi là l.! L. người ta đẻ ra cán bộ thì được mua đường mua sữa, l. của tôi chỉ đẻ ra nông dân nên ốm đau muốn mua lạng đường cũng không được. Bất công quá! Giời ơi là giời! L. ơi là l.!
Bà ta một tay kéo váy lên ngang gối, tay kia vỗ bành bạch vào bẹn, gào lên điệp khúc “không mua được đường vì l. bà đẻ ra nông dân”. Chỉ một thoáng, hàng trăm người hiếu kỳ xúm lại, đứng vòng trong vòng ngoài xem vở bi kịch thời kỳ bao cấp.
Cái thời bao cấp khốn khổ như thế đấy.
Cha mẹ đến thăm con cháu làm việc ở thị xã, thành phố, bao giờ trước khi đi cũng chuẩn bị dăm bơ gạo, chục trứng gà. Ai giàu hơn thì đôi gà nhốt trong lồng, rồi cơm đùm cơm nắm, tay xách nách mang lên đường thăm. Sau khi trình giấy thông hành kèm theo đơn xin và giãi bầy lí do vì sao có gạo, có trứng, có gà với trạm kiểm soát thuế vụ, các cụ mới được vào (khu cách ly) thị xã hay thành phố thăm con cháu.
Con cháu mừng mừng tủi tủi khi được gặp ông bà cha mẹ và trách khéo, sao đường đã xa, tầu xe khó khăn bố mẹ tuổi cao, lại còn đem cả gạo cả gà ra thế này, vất vả khổ sở lắm. Các cụ gạt phắt, nói dối rằng, quà nhà quê chả có gì ngoài mấy bơ gạo mới và dăm quả trứng, gà nhà nuôi đem làm quà. Nhưng thật ra đó là tiêu chuẩn ăn của các cụ trong những ngày thăm con thăm cháu. Các cụ hiểu lắm chứ, tiêu chuẩn gạo thịt chưa đủ cho chúng, nay tự nhiên có khách chúng lấy đâu ra mà đãi, đong chui có mà chết tiền, lương chúng 3 cọc chỉ có 2 đồng, xoay ngang xoay dọc vẫn thiếu. Sống ở thành thị cái gì cũng phải mua, từ nắm lá chè tươi đến rau thơm quả ớt đều là tiền, tiền không à!
Muốn chơi dăm bữa nửa tháng với thằng cháu đích tôn cũng không dám vì thấy chúng tốn kém quá, muốn đem về quê, cháu còn quá nhỏ cần sự chăm sóc của bố mẹ nó. Vì thế, chả cụ nào có thể ở lại thăm con cháu một hai tháng được, chỉ dăm bữa nửa tháng lấy cớ phải về, vì đến vụ cày, bừa, làm cỏ bỏ phân… -hợp tác xã đang chờ.
Chế độ tem phiếu đã hình thành một bức tường vô hình nhưng cực kỳ hiệu quả để giám sát và ngăn cách tình cảm cha con, vợ chồng và họ mạc giữa nông thôn và thành thị, ngăn chặn được nguy cơ biểu tình chống đối của người dân.
Trong một xã hội, sự giao lưu của cộng đồng không thể không có, người nông dân không sản xuất ra vải, quần áo, giày dép… thì họ có thóc gạo, có con lợn, con gà, mớ rau… đem ra để đổi chác (bán và mua) lấy những thứ họ cần. Nhưng ở chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời bấy giờ điều đó không được phép, bị coi là mầm mống của chủ nghĩa tư bản cần phải tiêu diệt, ngày nay người ta thường nhắc lại với cụm từ “Thời kỳ bao cấp”, có nhà báo nói toạc móng heo, “Thời kỳ ngăn sông cấm chợ.” Ngăn sông như thế nào, cấm chợ ra làm sao, nhiều bạn trẻ chưa hình dung ra những biện pháp quái đản của những người thực hiện chính sách độc nhất vô nhị ấy.
Muốn ngăn sông cấm chợ, người ta phải đặt rất nhiều trạm kiểm soát kiêm thuế vụ ở ngay những trục đường chính sát ranh giới giữa thành thị với nông thôn. Trạm này có hai chức năng:
1) Kiểm tra giấy tờ người đi lại.
2) Kiểm tra hàng hóa và thu thuế.
Một điều rất đáng ngạc nhiên, thời bấy giờ, cán bộ nhân viên ngành thuế vụ, hầu như 90% người Nghệ An, quê hương của chủ tịch Hồ Chí Minh!
Quyền hành quá lớn biến cán bộ công chức ngành thuế trở thành những ông vua con, tác oai tác quái khiến dân địa phương rất căm ghét, vì thế có rất nhiều bi hài kịch diễn ra trong suốt thời kỳ ngăn sông cấm chợ. Dân chúng ghét đến mức không cô gái nào muốn kết hôn với dân xứ Nghệ, dù không làm phòng thuế, gia đình ngăn cấm nếu cô gái nào chót yêu. Họ thường phải về quê lấy vợ. Để chỉ người Nghệ An, người miền Bắc gọi họ là dân Trọ Trẹ, phân biệt với người Lục Tỉnh miền Nam. Đó là sự thật, một sự thật đau lòng. Nếu bạn đọc là người Nghệ An, xin lượng thứ khi tôi viết những dòng này. Đây là một thời kỳ lịch sử cũng như người Hoa bị kỳ thị. Nhân đây tôi cũng xin kể vài câu chuyện có thực trong đời thường.
Văn Điển, vùng nấu rượu có tiếng, tuy không ngon bằng rượu làng Vân, nhưng nơi đây là trung tâm cung cấp rượu lậu cho Hà NộI và thị xã Hà Đông. Ai cũng biết rượu Văn Điển bán chui tất nhiên trạm thuế cũng biết để tịch thu, phạt tiền. Sau nhiều lần mất hàng, các bà các chị nghĩ ra một chiêu khá độc đáo.
Ngày nào cũng như ngày nào, trạm thuế đều thấy các bà chị quang gánh đi chợ mà chỉ lèo tèo vài cân khoai lang, dăm quả bí, quả bầu, ít rau đay, rau mồng tơi… nhưng bà nào cũng bụng to vượt mặt như người sắp đến kỳ ở cữ. Chiều chiều tầm bốn năm giờ lại thấy các bà các chị này về, quang gánh đầy những hàng trên phố, nhưng đặc biệt bụng hết to, cứ như ra tỉnh sinh đẻ không bằng.
Cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng ra, vì thế chiêu đựng rượu vào dạ dầy bò, bong bóng lợn đã thuộc sạch phơi khô rửa kỹ đút vào áo, giả trang bà chửa, bị bại lộ. Bị tịch thu nhiều lần, ức lắm, các bà các chị nghĩ kế phải cho bọn trạm thuế mất mặt và tẩn cho chúng một trận để bù những thiệt hại.
Hôm ấy, lại những bà những chị bụng to lũ lượt kéo đi thành đoàn, nhưng lần này cách không xa lại có một đoàn nam giới đi sau, có người còn mang cả đòn gánh. Qua trạm kiểm soát, ba tay thu thuế đứng chặn ngay cạnh cây tre chắn ngang, hỏi bằng giọng xứ Nghệ:
– Cạc bả cạc chỉ đẩu dzậy?
– Thưa cán bộ, chúng tôi đi chợ.
– Cọ rưởu lẩu khổng dzậy?
– Cán bộ cứ đùa, chúng em làm gì có.
– Không cọ đủa. Cạc bả cạc chỉ ghê lẳm, giẩu rưởu vảo bủng giả lảm bả bầu. Thổi biệt điểu, bỏ ra khổng chụng tổi khạm được đửng cỏ trạch.
Các bà các chị biết bọn này trúng bẫy cò ke, lớn tiếng:
– Chúng tôi làm gì có rượu giấu trong bụng mà các ông bắt bỏ ra. Không tin các ông cứ khám đi.
– Khổng cọ nhiệu lởi, cọ bõ ra khổng?
– Không có sao mà bỏ ra được.
Ba tên đưa mắt cho nhau ra dấu hiệu khám một người có vẻ khả nghi nhất. Chưa kịp sờ vào vạt áo, tất cả các bà các chị đồng loạt vén tất cả vạt áo lên và kéo trễ cạp quần xuống, đồng thanh kêu:
– Đây khám đi, khám đi!
Ba tên mặt đỏ như vừa bị cái tát trời giáng khi nhìn thấy tất cả những cái bụng chửa căng cứng của các bà các cô. Ngay lập tức nhóm đàn ông cũng vừa ập đến vừa chửi vừa giơ nắm đấm đe dọa.
Cứ tưởng như mấy lần trước các bà chứa rượu và dạ dày bò, bong bóng lợn (sau khi đã thuộc kỹ) rồi giấu vào bụng giả làm bà chửa. Ai ngờ hôm nay tất cả bà chửa thật, làm cho bọn phòng thuế một bữa bẽ mặt.
Chuyện vỡ lở. Một đồn 10, muời đồn 100, chả mấy lúc tin xấu này lan nhanh toàn tỉnh. Trạm kiểm soát này phải đóng cửa. Gần năm sau, một trạm mới ra đời cách trạm cũ hơn cây số.
Sau cải cách ruộng đất và cải tạo tư bản và công thương nghiệp làm mất lòng dân, nhiều nơi có nhưng cuộc nổi dậy lẻ tẻ. Muốn đàn áp, chính quyền đưa ra hai chính sách: Quản lí hộ khẩu và quản lí lương thực thực phẩm một cách thật chặt chẽ. Bởi vì, muốn nổi loạn thì phải tụ tập đông người và phải có lương thực thực phẩm. Có thực mới vực được đạo. Quản chặt hai điều này là giảm được 90% mối họa.
Quản lí lương thực như đã kể, bây giờ tôi xin kể về quản lí nhân khẩu. Thuộc tính của chuyên chính vô sản.
Bắt đầu từ năm 1956, một tổ 3 người của công an khu phố (phường) đến từng gia đình đưa mẫu khai, hướng dẫn thật tỉ mỉ cách khai lí lịch từ 3, 4, 5… đời, rồi trả lời các câu hỏi trong mẫu khai: có ai di cư vào Nam, có ai làm việc cho chế độ cũ, có ai đang ở nước ngoài. Họ làm thật từ từ, không vội vã, từng bước chắc chắn cho đến khi không còn điều gì nghi ngờ nữa, rồi cấp cho một sổ bìa màu vàng ghi rõ “Sổ hộ tịch” (bây giờ là “Sổ hộ khẩu” mầu đỏ). Tất cả thông tin ấy được lưu trữ trong hồ sơ tối mật.
Nông thôn khác, bởi vì người trong làng, trong xã sống chung mấy đời nên biết rõ hoàn cảnh của nhau, thuộc lòng như trong làng có mấy cây đa, bao nhiêu đình, chùa, miếu mạo, vì thế việc làm hộ khẩu nhanh và rất gọn. Nông dân không được cấp sổ hộ tịch, danh sách từng gia đình được ghi đầy đủ trong “Sổ nhân khẩu” để ở UBND xã. Không như dân thị thành là dân tứ chiếng, khắp nơi đổ về, nguồn gốc chẳng rõ, phải bới lông tìm vết cho rõ ngọn ngành để còn quản lí.
Có đầy đủ tài liệu trong tay (tốt, xấu) nhưng vẫn chưa an tâm, chính quyền đặt ra một điều luật nữa: Đi qua đêm phải báo ủy ban xã bằng cách phải xin giấy thông hành. Đến nơi thăm chủ nhà cầm giấy thông hành ra phường xã, khai tạm trú cho khách. Luật khai báo này ra đời từ 1958 kéo dài cho đến hôm nay chưa có dấu hiệu xóa bỏ. Có nghĩa là mỗi một làng xã, một khu phố, người dân được “chăm sóc” một cách chu đáo bởi cơ quan chính quyền địa phương (phường, xã). Nếu so sánh mỗi xã, phường như một trang trại chăn nuôi gia súc thì mỗi UBND phường xã chính là ông chủ trang trại. Chủ phải biết chính xác số gia súc đi đâu, ở đâu và không được để xổng chuồng chạy rông. Xổng chuồng, có tội với Đảng và chính phủ!
Nhìn bề ngoài, ít ai nhận ra đây là một nhà tù khổng lồ không dây thép, không vách tường bao quanh và cũng chẳng có song sắt. Chính quyền cộng sản đã biến từng xã, từng phường thành một ấp chiến luợc vô hình, kín đáo để quản lí sự hoạt động hàng ngày của từng người dân. Ấp chiến lược này hoạt động hiệu quả và ít tai tiếng hơn ấp chiến lược của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Ai cũng biết chuyên chính vô sản là ghê gớm lắm, độc địa lắm, nhưng hỏi độc địa, tàn bạo ở chỗ nào, ra sao và bắt đầu từ khi nào, tôi tin ít người trả lời một cách thỏa đáng. Nhân đây tôi xin dẫn chứng một chuyện thật 100%.
Hè 1963, tôi đến thăm anh bạn chí cốt từ nhỏ, giáo viên dạy Trung Văn cấp II, cũng đang nghỉ hè, sống ở Dư Hàng. Nhà anh đang có thợ cắt tóc rong đến theo thường lệ. Người thợ cắt tóc rong này rất trẻ, khoảng trên dưới 30, tay kéo bấm tanh tách có vẻ rất chuyên nghiệp, vừa cắt vừa kể chuyện tào lao, tuy không bổ ích nhưng lý thú làm mọi người thấy thú vị.
Thằng bạn tôi bảo “Anh ấy kiến thức rộng lắm, tiếng Pháp làu làu, chả có xí xố xì xộ vài câu mách qué như tao với mày đâu.” Anh ta cắt tóc rong làm kế sinh nhai, độ nhật qua ngày. “Đừng có coi thường!”- “Cái thằng, tao là cái đinh gì mà dám coi thường ai.”
Thấy tay nghề anh rất khá vả lại giá rất bình dân, 3 hào, tôi cũng ngồi vào chiếc ghế xếp bằng vải để anh húi.
Từ đó tôi làm quen với anh và thằng bạn cố tri đưa tôi đến nhà anh ở ngõ Chợ Cột Đèn, đường Trại Cau.
Câu chuyện đời anh thật đau thương, day dứt trong tôi mãi đến hôm nay.
Anh tham gia kháng chiến chống Pháp khi anh đang học tú tài. Anh làm liên lạc cho cấp tiểu đoàn. Hòa bình lập lại, về Hải Phòng, gia đình anh đã di cư vào Nam, để lại cho anh một căn nhà hai tầng ở Đình Đông. Khi anh xuất ngũ thì căn nhà đã có người chiếm -thuê-. Anh đem đầy đủ giấy tờ để xác định quyền chủ nhân. Công an và chính quyền khu phố xác nhận anh là chủ nhân của ngôi nhà.
Nhưng vì có người đang ở -thân nhân của trưởng đồn công an khu phố-vả lại nhà nhiều phòng, họ đề nghị hãy tạm sử dụng một phòng vì anh chưa có vợ. Các buồng còn lại cho thuê và trả tiền hàng tháng là 3 đồng. Khi nào họ tìm được chỗ ở mới sẽ dọn đi, trả lại nhà cho anh.
Anh đành chấp nhận vì không thể làm gì hơn.
Năm 1958, xin vào trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, anh tính bán căn nhà lấy tiền chi tiêu cho 5 năm đèn sách. Nhưng người thuê nhà không mua. Sao lại mua, khi chỉ phải trả có 3 đồng 1 tháng! Anh đuổi họ để lấy lại nhà bán cho người khác. Họ cũng không đi vì trong bản ký kết có ghi “khi nào tìm được chỗ ở mới”, hiện nay chưa tìm được.
Cãi nhau, đưa nhau ra khu phố nhiều lần. Thất bại về phần anh.
Uất quá, anh đi tìm người mua gạch, mua ngói, mua cánh cửa v…v.., anh gọi đoàn thợ đến phá ngay căn nhà khi vợ chồng thuê nhà về quê ăn giỗ.
Anh bị bắt, tống giam.
May thủ trưởng cũ biết, can thiệp nên anh được tha. Nhưng hồ sơ lý lịch của anh được chính tay trưởng đồn công an phê: Có tư tưởng và hành động chống phá chủ nghĩa xã hội!
Đời anh tiêu rồi! Sống lay lắt trên chính quê hương mình!
Thời bấy giờ tốt nghiệp cấp III là của quý. Tỉ lệ mù chữ ở miền Bắc 80%. Năm 1956 cụ Tôn Đức Thắng -phó chủ tịch- nước làm Trưởng ban Bình dân Học vụ Trung ương. Tất cả học sinh cấp II và III phải gia nhập đoàn quân diệt dốt. Tốt nghiệp cấp II (lớp 7) vào trường Trung cấp Sư phạm học 2 năm đã thành thày cô giáo cấp II -dạy từ lớp 5 đến lớp 7. Tốt nghiệp phổ thông vào Đại học Sư phạm, học 2 năm ra trường là thày cô giáo cấp III -dạy tư lớp 8 đến lớp 10).
Thế mà anh có bằng cấp III xin làm chân loong toong cũng không xong.
Anh đành học nghề cắt tóc. Có nghề trong tay, xin mở quán cóc đầu ngõ để độ nhật cũng bị từ chối. Anh đành vai đeo chiếc ghế vải, tay xách hòm đồ bằng gỗ có hàng chữ: “Cắt tóc” thật bay bướm, đầu đội mũ tầu phở đi vào các làng phụ cận như Chùa Chiếu, Dư Hàng, Quán Nải… để kiếm ăn.
Nếu chỉ có thế cuộc đời anh vẫn chưa thật bi đát.
Chả biết duyên trời xe thế nào, hôm ấy anh vào khu Chùa Chiếu, đến nhà bác Thông như thường lệ để cắt tóc. Vô tình nhà có giỗ cụ cố, cả họ mời anh ngồi xuống dự bữa cơm với con cháu và họ mạc.
Nể quá, anh ngồi. Không ngờ anh lọt vào cặp mắt xanh của chị Vường.
Sau khi xưởng cưa của bố bị công hữu hóa, chị Vường được làm nhân viên kế toán của xưởng. Một thời gian tìm hiểu, chị chẳng nghĩ đến cái lý lịch bất hảo của anh và gia đình chị cũng không phản đối. Chị lên cơ quan xin giấy chứng nhận chưa có chồng để đi đăng ký kết hôn.
Cơ quan không cấp giấy. Chị và trưởng phòng tổ chức, thủ trưởng cơ quan đấu lý nhau.
Cuối cùng chị tuyên bố:
– Các ông có cấp giấy không thì bảo. Tôi gái chưa chồng, anh ta trai chưa vợ. Chúng tôi yêu nhau, không ai có quyền ngăn cấm. Bố tôi cấm cũng không được, huống chi các ông. Tôi sẽ kiện các ông vi phạm Luật Hôn Nhân và Gia đình 1958.
Được lắm con! Cho chúng mày đói rã họng ra xem có yêu nhau mãi không! Một túp lều tranh với hai trái tim vàng mà không có cuộn giấy bạc thì xem vuông tròn được mấy hôm!
Chị được cấp giấy và bị thải hồi sau khi anh chị làm bữa cơm thân mật ra mắt gia đình.
Con trai tay giám đốc yêu thầm nhớ vụng chị nhưng chị từ chối.
Anh vẫn theo nghề cắt tóc rong, chị đi bán rau ở chợ Cột Đèn. Nghèo nhưng anh chị rất hạnh phúc. Tôi rất quý trọng anh chị.
Một lần, sau bữa cơm rau đậu với gia đình, chị cười:
– Chú cẩn thận đấy, nhà trường mà biết chú quan hệ với anh chị thì chỉ còn cái nuớc bán sấu giầm, thuốc ê thôi.
Anh chị cấm tôi không được viết thư và anh chị cũng không viết thư cho tôi. Tôi biết anh chị cố gắng giữ gìn“trong sạch lý lịch” và “sinh mạng chính trị của tôi.”
Sau khi ra trường. Tôi công tác xa, ít khi có dịp gặp lại.
Năm 1968, tôi đưa bạn gái -vợ tôi sau này- đến thăm anh chị, nhưng anh chị đã dọn đi nơi khác.
Tên anh là Nguyễn Gia Hoàng và chị là chị Vường (tôi không biết họ). Nếu còn, anh chị đang bước sang ngoài tuổi 80.
Chuyên chính vô sản như thế đấy!
Ngoài ra Đảng và nhà nước tuyên truyền tuyệt đối đề cao cảnh giác, gây sự nghi ngờ, đố kỵ lẫn nhau trong cộng đồng, theo kế sách chia để trị.
Xin kể một chuyện có thật về tính đề cao cảnh giác, nhân vật chính là tôi.
Ra trường cầm quyết định của Bộ lên công tác tại tỉnh Hòa bình, tôi được ty phân công về bệnh viện tỉnh, nhưng chiến tranh leo thang, máy bay Mỹ hàng ngày bắn phá ác liệt thị xã, bệnh viện phải sơ tán vào rừng. Đang sống ở Hà Nội, nay chui ngay vào rừng sâu, đèn dầu nước suối, mở mắt núi cao trước mặt, xung quanh rừng xanh vắt muỗi, rắn rết, thú dữ. Chiều thứ Bảy của tuần thứ 2, buồn quá tôi theo xe bệnh viện ra thị xã cho khuây khỏa. Trên đường, tôi hỏi anh lái xe được biết ở thị xã chiều nào cũng có đổi tem gạo lấy bánh mỳ theo tỉ lệ 1 kg tem gạo đổi được 4 chiếc bánh mỳ 250 gr và phải trả 4 hào tiền công. Xuống xe ở trung tâm thị xã, trời xâm xẩm tối, tôi đi dọc theo đường quốc lộ 6 xuống ty lương thực, gặp một người đàn ông khoảng 45 tuổi, tôi lễ phép hỏi:
– Bác làm ơn cho tôi hỏi, chỗ đổi bánh mỳ ở đâu?
Người đàn ông này không trả lời, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi lại từ chân lên đầu một cách rất chăm chú, buông ra một câu hỏi đầy nghi vấn:
– Anh ở đâu?
Hôm ấy tôi mặc bộ quần áo lính do thằng bạn cho, mũ cối mất chóp, chân di dép lê, trông thật khả nghi, trí thức chẳng ra trí thức, dân chẳng ra dân, lính chẳng ra lính. Thôi, thằng cha này nghi mình gián điệp nhẩy dù rồi. Được, cho tay này một bài học để chừa cái thói ai cũng là gián điệp. Tôi thủng thẳng:
– Tôi ở đây.
– Ở đây sao không biết chỗ?
– Ông này hay thật, không biết tôi mới hỏi, chứ biết tôi hỏi ông làm gì?
Nói xong tôi đi thẳng, đi được vài bước quay đầu lại, thấy ông ta đi theo. Được, đã thế cho mày chạy thi một mẻ. Tôi rảo bước như thể muốn lẩn trốn. Y lẵng nhẵng theo cách tôi khoảng 10 mét, rồi đột nhiên y rẽ vào một nhà ngay sát bên đường. Chỉ thoáng một lát có hai người đàn ông trong nhà theo ra đi rất nhanh về phía tôi. Thấy nhà ông trưởng ty y tế cách khoảng 30 mét, tôi quay đầu lại nhìn ba người như thể thách thức rồi cắm đầu chạy thục mạng. Họ chạy đuổi theo. Đến trước cửa nhà ông trưởng ty, tôi đứng lại lấy tư thế, rồi nói to:
– Cháu chào bác trưởng ty.
Ông đang ngồi uống nước và đang ghé sát tai vào chiếc đài Xionmao Trung Quốc ngay gian giữa, thấy tôi, ông ngửng lên, vẫy tay bảo:
– Cậu vào đây uống nước.
Tôi vừa ngồi xuống ghế, cả ba người kia cũng vừa chạy đến trước cửa. Vừa thở hổn hển vừa giương 6 cặp mắt đầy ngạc nhiên, vì không hiểu sao cái thằng giời đánh thánh vật kia lại chạy vào nhà ông trưởng ty y tế được! Trưởng ty tôi là người khá nổi tiếng, vì trước khi theo kháng chiến, ông mở trường tư thục nên cả thị xã ai cũng biết mặt biết tên. Thấy ba người vừa thở vừa chỉ chỉ chỏ chỏ, trưởng ty đi ra cửa hỏi:
– Có chuyện gì đấy các bác?
Người mà tôi gặp đầu tiên, lấy tay chỉ vào tôi ra ý hỏi.
Ông cười:
– Anh này chứ gì? Bác sĩ mới về nhận công tác đấy!
Ba người kia quay ra mắng nhau:
– Chỉ tại lão Minh khỉ gió này mới nên chuyện.
– Thì ai ngờ tay này nghịch thật.
Cả ba lủi thủi đi về. Là cựu hiệu trưởng, ông hiểu sự việc, đến gần rồi vỗ vào vai tôi, cười nhân hậu, bảo:
– Là cán bộ rồi đấy. Thôi trò quỷ sứ đi, anh bạn trẻ.
Quản lí hộ khẩu đã củng cố địa vị độc tôn của chính quyền vô sản một cách có hiệu quả, chính vì thế dù ngày nay đã cởi mở, xóa bỏ thời kỳ ngăn sông cấm chợ, kinh tế tư bản đang phát triển, con người đã phần nào được cởi trói, nhưng nhà nước không bao giờ bỏ quản lí hộ khẩu cũng như không bao giờ bỏ điều 4 trong Hiến pháp.
Thời kỳ bao cấp thiếu thốn đủ thứ, kể cả giấy đi vệ sinh cũng tìm không ra, mua không có, chứ đừng nói những thứ cao siêu như sữa tắm, sữa gội đầu, các loại lotion dành cho phái đẹp bán đầy các cửa hàng, tung bao chiêu để dụ khách như bây giờ vẫn ế. Có nghĩa là có bất cứ cái gì dù second hand, third hand hay fourth hand… đều bán được hết. Cái thời có chiếc xe đạp cà tàng cũng phải lên đồn công an xin đăng kí, có chiếc đài thu thanh cũng phải lên ty sở bưu điện xin giấy mới được quyền sử dụng. Khi mở đài phải mở thật to để mọi người biết đang nghe gì, không phải vì khoe của, chớ có vì pin yếu, ghé sát tai vào đài mà nghe, chắc chắn được công an hỏi thăm liền. Nhẹ cảnh cáo, nặng tạm giam vài ngày và chiếc đài kia bị tịch thu. Nghe đài địch hả? Đài BBC phát thanh tiếng Việt tối phản động, nhất là tay Đỗ Văn giọng ngọt ngào, truyền cảm, ấm lắm, nhưng toàn phát những lời lẽ độc hại. Tôi có nghe trộm đài BBC từ năm 1960, đã lắm.
Hồi xưa, cộng sản Việt Nam ghét cay ghét đắng Đỗ Văn, thề tóm được sẽ trị cho ra bã! Không biết người ta đã tóm được bác chưa hay bây giờ đang trải thảm đỏ nồng nhiệt mời bác về mở vài” “cua” tiếng Anh cho con các cốp trước khi du học?
Thiếu thốn như thế đấy, ấy thế mà đồ đạc người Hoa bán ra bị chê ỉ chê eo, rất khó bán. Tìm hiểu, do kẻ xấu đồn thổi. Ai đồn thổi? Kế sách của Lê Duẩn? Chính quyền khu phố? Công an? Hay những người quá khích? Thực hư đến nay chưa có câu trả lời, nhưng những lời đồn ác độc này đã gây khốn đốn cho người Hoa rất nhiều trong thời kỳ ấy.
Lời đồn thổi nhanh như cơn lốc bay vào tai tất cả những người dân lao động Việt Nam từ thành phố đến tận các bản làng hẻo lánh, với nhiều lời ác ý và rất vô lý mà họ vẫn tin, như tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính phủ. Đồ đạc của của người Hoa rao bán được những kẻ xấu đồn thổi như sau:
– Chớ có mua, bọn Tàu thâm lắm, chúng bôi a-xít vào trước khi bán, mang về dùng chỉ có hỏng thôi, không những thế còn độc hại nữa! A-xít độc lắm đấy!
– Chớ có mua nhà của chúng, chúng chôn mìn ở dưới lòng nhà, mua vào có ngày nổ tung, chết cả nhà. Rẻ chả bõ, mạng người quý hơn chứ!
Căn nhà 2 tầng của gia đình bạn thân của ông chú tôi ở mặt đường rất tiện việc buôn bán ở Hàng Kênh, giá bét nhất cũng phải vài chục nghìn đồng. Tiền lương hồi ấy thấp lắm, bác sĩ, kỹ sư lương khởi điểm có 60 đ/tháng, ra trường làm việc 14-15 năm lương trong khoảng 70 đến 85 đ/tháng, thịt lợn mua chợ đen 20 đ/kg, gạo lên xuống bất thường nhưng cũng từ 22 đến 25 đ/10 kg. Ngôi nhà ấy có từ thời Pháp, ấy thế khi rao bán, bao nhiêu người đến xem ưng lắm, đồng ý mua với giá 10 ngàn (thuộc loại giá bèo), chả biết thế nào, hẹn đến chồng tiền nhưng 10 người hẹn thì đến 11 người đi mất hút.
Cuối cùng, sắp đến ngày thuyền nhổ neo, gia đình ông bạn chú tôi phải bán cho tay trưởng đồn công an khu phố ở sát vách với giá 1 ngàn 700 đồng! Thì ra tay cảnh sát này đe dọa tất cả, hễ ai đến mua nhà của ông Cảnh là đồng lõa, tiếp tay cho bọn phản động sẽ bị xử lí.
Đấy, chúng cướp không như thế đó!
Ngôi nhà này bây giờ có giá bèo nhất cũng phải 2000 đến 5000 Mỹ kim/ mét vuông chứ chẳng thấp hơn, trong khi đó diện tích không dưới 150 mét! Thảm chưa!
Như đã kể, sách tôi bán đắt hơn tôm tươi, hơn cả thịt bê mới thui, ấy thế mà mấy thứ đồ đạc như xe đạp, máy khâu, giường tủ bàn ghế, quạt điện, nồi niêu xoong chảo… rất khó bán.
Không biết sao, nhiều y bác sĩ trong bệnh viện biết chuyện tôi bán đồ bị ế, nên đã thì thầm với các cô y tá, hộ lí đang thiếu đồ đến nhà tôi để mua những thứ cần dùng. Thật may! Các anh chị đồng nghiệp đã ngầm cứu giúp tôi, mãi sau này tôi mới biết.
Thời buổi ấy, người ta không nhân tiện dậu đổ bìm leo, chó iả trèo là tốt lắm rồi, không những thế mà anh chị ấy còn giúp ngầm!
Nhân đây tôi xin thành thật cảm tạ tấm lòng nhân ái các anh chị đã dành cho gia đình tôi. Lãnh đạo Đảng và chính quyền bệnh viện mà biết cũng phiền! Vì thế so với nhiều người, tôi là diện may mắn lắm, tuy đồ đạc bán gần như cho làm kỉ niệm. Nghe tin về giá cả tiền đóng cho chủ thuyền, số tiền tôi có trong tay cũng hòm hòm để trả tiền thuyền cho cả nhà. Thế là chúng tôi đóng gói những gì có thể mang đi, số còn lại không bán được chuyển về quê vợ, gia đình tôi về Hải Phòng tìm thuyền đi Hong Kong như hàng ngàn người Hoa các tỉnh trên miền Bắc để đào tẩu!


Ghi chú:
1) Từ năm 1982, kinh tế Việt nam bên bờ vực sụp đổ, chính phủ giảm biên chế, người nghỉ việc được trợ cấp 1 lần, tính theo thâm niên, mỗi năm được lĩnh 1/ 2 tháng lương Lĩnh một lần, quen gọi “về một cục (tiền)”.
(2) Thời ấy Trung quốc có hai loại xe hơi dành cho cán bộ cấp tỉnh, đít tròn và đít vuông. Com-măng-ca đít tròn sang hơn, dành cho cán bộ cáo cấp hơn.

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80825
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46238 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 26th, 2017, 1:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Postby DaMinhChau » April 20th, 2017, 10:53 pm


Chương 2

Chuyện nhà & Chuyện nước



Sáng sớm ngày 9 tháng 4-1979, phòng tổ chức mời vợ tôi lên. Cuộc gặp mặt gồm Bùi Đình Phảng, bí thư đảng ủy, Nguyễn Đình Mão, phó bí thư kiêm bệnh viện phó, Nguyễn Gia Hòa, đảng ủy viên, trưởng phòng Tổ chức Hành chính cùng một số nhân viên Phạm Trọng Tới, Huỳnh Như Thùy, Giang Bình.
Sau vài lời rào đón, Nguyễn Đình Mão, phó bí thư kiêm phó giám đốc, bảo:
- Việt nam và Trung quốc đã xảy ra chiến sự. Chúng ta đang chống quân bá quyền, bành trướng Trung quốc. Chi là người Việt, nhưng chồng chị là người Hoa, chúng tôi đang giải quyết anh ấy nghỉ chế độ mất sức, còn chị muốn tiếp tục công tác, chị phải làm đơn ly dị và trả lại 3 cháu cho anh ấy, nộp cho chúng tôi.
Vợ tôi bàng hoàng, không thể tin vào miệng của kẻ tự nhận thay mặt đảng và lãnh đạo dám nói những điều bất nhân, bất nghĩa đến như vậy. Thấy vợ tôi im lặng, trưởng phòng tổ chức Nguyễn Gia Hòa an ủi:
- Chúng tôi muốn giúp đỡ, cho chị lối thoát chứ không có ý gì khác.
Huỳnh Như Thùy, nhân viên phòng tổ chức, nhắc:
- Chị nghĩ kỹ, đừng để mất cơ hội. Viết xong nộp cho tôi.
Chuyện này đã từng xảy ra ở bệnh viện tôi.
Năm 1967, Ty y tế Hòa bình có 6 y sĩ người Campuchia, trong đó có y sĩ Trần Bình, -tên Campuchia tôi không rõ-, ở Bệnh viện Chống Lao bên xóm Rè, xã Thịnh Lang, là bạn thân của tôi. Tháng 5-1970, Quốc Vương Norodom Sihanouk bị Lon Nol lật đổ trong khi viếng thăm Paris, chính phủ Việt Năm Dân Chủ Cộng Hòa đưa tất cả người Campuchia sống ở Bắc Việt hồi hương. Trần Bình về Campuchia nhưng vợ Trần Bình ở lại, làm việc tại bệnh viện.
Từ khi Trần Bình về nước, Nguyễn thị Thoa không nhận được một lá thư nào của chồng cũng như tiền trợ cấp nuôi con.
Năm 1977, biên giới Việt nam-Campuchia đụng độ, quan hệ hai nước căng thẳng, cuối năm 1977, lãnh đạo bệnh viện gọi Thoa lên văn phòng, bảo, “trả con cho Trần Bình, có người đưa sang Campuchia. Thoa có quyền ly hôn và tái giá.” Tôi là bạn thân duy nhất của vợ chồng Bình, Nguyễn thị Thoa đến nhà tôi vừa khóc vừa kể và hỏi ý kiến. Chuyện này chịu, tôi không thể đưa ra một lời khuyên, tùy Thoa lựa chọn.
Đột nhiên, xẩm tối ngày mồng 4 tết nguyên đán 1979, một đoàn ba xe ô-tô sang trọng biển số ngoại giao ghé thăm, đỗ chật sân bệnh viện. Ban lãnh đạo ra đón tiếp mời vào phòng khách.
Tất cả ngỡ ngàng, y sĩ Trần Bình, bây giờ là bác sĩ thứ trưởng Bộ Y tế Campuchia sang thăm hữu nghị Việt nam, nhân tiện ghé thăm Hòa Bình tìm vợ và con gái. Thoa nghe tin, hớt hơ hớt hải đến nhà tôi hỏi ý kiến. Thoa đã đi bước nữa, tình cảnh trớ trêu, nhưng biết làm sao, không phải lỗi của Thoa.
Thoa khóc, tôi bảo, “Mình cũng đang sống dở chết dở chuyện người Hoa, không thể giúp gì được. Bình bây giờ, thứ trưởng của Campuchia, không còn là Trần Bình ngày xưa nữa.”
Tuy Trần Bình tha thứ tất cả, Bình bảo với lãnh đạo bệnh viện, do hoàn cảnh chiến tranh, khuyên Thoa quay về hưởng cuộc sống đoàn tụ, an nhàn, sung sướng. Thoa không quay lại, trả bé Trần Thu Hoa cho chồng, yên phận với người chồng thứ hai, công nhân lâm nghiệp nghèo khổ.
Chuyện vợ chồng Bình-Thoa năm xưa, bây giờ lãnh đạo bệnh viện lập lại kịch bản với vợ tôi.
Nhà tôi uất lắm, trả lời vỗ mặt:
- Các anh muốn làm gì thì làm, tôi thà mất việc chứ không làm đơn bỏ chồng, bỏ con.
Nói xong, đùng đùng đứng dậy bỏ về chẳng thèm chào ai. Tuần trước, tôi đang nghỉ phép, cậu Phạm Trọng Tới đến nhà bảo:
- Mời ông sang bệnh viện, ông Hòa muốn gặp.
Đang dọn dẹp, tôi bảo:
- Ơ hay, tôi đang nghỉ phép cơ mà.
- Ông nghỉ bù ngày khác, ông Hòa đang cần gặp gấp.
- Có chuyện gì mà gấp.
- Tôi không biết.
- Thôi được, anh cứ về, tôi sẽ đến.
Đến phòng tổ chức, tôi hỏi:
- Có chuyện gì mà ông cho cò Tới đến mời tôi.
Phạm Trọng Tới có biệt danh cò Tới vì tính cách nịnh bợ cấp trên như tên cò mồi bến xe.
Ra vẻ tử tế, Nguyễn Gia Hòa rót chén nước, giơ tay chỉ vào chiếc ghế, bảo:
- Anh cứ ngồi uống nước đã, chúng tôi muốn nhờ anh khai lại lý lịch.
Vẫn đứng, tôi bảo:
- Tưởng gì, chứ lý lịch tôi bác sang phòng tỗ chức ty thiếu gì. Bác biết tôi đang nghỉ phép, nhỡ đi Hải phòng thì làm sao?
- Tôi biết anh đang ở nhà nên mới phiền.
- Thôi được, bác muốn gì, làm luôn đi.
Lão ta lấy tập giấy kẻ, cỡ A4 trong ngăn bàn, cầm bút, vừa hỏi vừa cắm cúi ghi ghi chép chép. Ngồi xuống ghế đối diện, tôi chửi thầm, “Đồ ngu, mày lừa thế nào được tao.” Hơn 2 giờ “hỏi cung”, y đưa tập giấy và bút bi cho tôi:
- Anh ký vào đây.
Tôi cười khẩy:
- Ông nghĩ tôi ngu đến mức ký vào tờ giấy này? Ký xong, chốc nữa ông viết thêm đủ thứ bậy bạ để tôi đi tù hả?
Mặt y đỏ bừng, bảo:
- Ơ hay, mấy tiếng đồng hồ của tôi mất công toi à?
- Đó là chuyện của ông. Ông biết, trình độ tôi hơn ông, chữ tôi đẹp hơn chữ ông. Tôi có mù chữ đâu mà cần ông viết hộ.
Tôi giằn giọng:
- Xin lỗi nhé, cái trò của ông rẻ tiền lắm.
Đứng lên, bước ra khỏi cửa, huýt sáo, ngoái đầu lại, giọng khinh bạc, tôi bảo:
- Tôi sẽ nghỉ thêm nửa ngày nữa đấy.
Cả bệnh viện đồn ầm chuyện này, ai cũng chê Nguyễn Gia Hòa ngu, giở trò khốn kiếp, khen tôi “rất cảnh giác.” Tình huống gấp rồi, gia đình tôi không còn chỗ dung thân. Tôi buộc phải làm đơn thôi việc, nghỉ theo chế độ mất sức, đang chờ thủ tục. Vợ tôi cũng có thể bị thôi việc bất cứ lúc nào.
Mấy tháng nay, thị xã Hòa bình, mọi người đồn ầm tin khủng khiếp, chính phủ đưa tất cả người Hoa vào khu tập trung ở tỉnh Lâm-đồng khỏi làm nội ứng cho quân Trung quốc xâm lược.
Ngay tối hôm ấy, bác sĩ Nguyễn Đức An, giám đốc bệnh viện đến nhà tôi, nói nhỏ, “Ông bà nên đi Hong Kong”. Chúng tôi biết nhau từ năm 1965 khi anh là trưởng khoa ngoại.
Tôi hiểu, anh ở thế kẹt, không thể giúp gì được, dù anh đang giữ chức giám đốc. Lời góp ý của anh xuất phát chân thành của người bạn, người anh.
Hai hôm sau, bác sĩ Vũ Như Đắc trưởng khoa ngoại, bác sĩ Đỗ Bình Dương trưởng khoa sản, ghé thăm, nửa nạc nửa mỡ, bảo, “còn chờ gì nữa, người Hoa ở Hà nội đua nhau đi Hong Kong ầm ầm.”
Năm 2004, đến thăm bác sĩ Nguyễn Đức An, đã về hưu, ở Hà nội, tôi hỏi, “Vì sao lãnh đạo các anh lại đối xử cạn tàu ráo máng với chúng tôi thế?” Anh bảo, chủ trương của tỉnh ủy, anh không thể giúp gì được.
Lạ thật, tôi chỉ là một công chức quèn, tại sao tỉnh ủy lại có chủ trương triệt hại gia đình tôi? PhảI chăng họ chấp hành nghiêm túc chỉ thị của trung ương đảng, của Lê Duẩn xua đuổi bài xích người Việt gốc Hoa dù chỉ là người dân lao động hay cán sự quèn?
Vợ chồng tôi quyết định đi Hong Kong, không thể ở lại được nữa, gấp lắm rồi. Nhưng phải giữ bí mật tuyệt đối kể cả với gia đình vợ, bởi vì những chuyện đau lòng đã xảy ra với gia đình anh Cao Toàn Phương và Chu Ứng Tường, người Hoa ở thị xã, dạy tôi bài học cảnh giác, bí mật với tất cả mọi người xung quanh.
Hai anh Cao Toàn Phương và Chu Ứng Tường đều là lái xe lâu năm của Công Ty Vận Tải Hòa Bình. Cả hai buộc phải nghỉ mất sức. Anh Phương tuyên bố sẽ đi Canada vì có bà con bên đó. Anh Chu Ứng Tường bảo, đến Hong Kong sẽ xin đi Mỹ.
Tin hai anh xin định cư Mỹ và Canada đồn ầm thị xã. Lập tức công an, chính quyền khu phố gây phản ứng. Đầu tiên, tên phó đồn công an đến nhà, đe: “Từ nay, anh chị đi khỏi khu vực phải trình báo.” Tự nhiên gia đình anh bị quản thúc, khu phố theo dõi 24/24.
Nhà cửa, đồ đạc giường, tủ, xe đạp, máy thu thanh…. bán không ai mua, ai cũng sợ mua đồ người Hoa. Trong khi đó cha mẹ, anh em nhà vợ nghe tin, từ quê lên chia tay, ở lỳ vài tuần, người xin xe đạp, người xin chiếc tủ… làm kỷ niệm. Đồ đạc chẳng còn gì bán để trang trải tiền thuyền. Có nghĩa, các anh chỉ có con đường duy nhất, ra đi với hai bàn tay trắng. Không có tiền nộp, chủ thuyền nào cho đi nhờ.
Đến thăm các anh, tôi hiểu rõ thảm cảnh của gia đình, vì thế vợ chồng tôi quyết giữ bí mật đến giờ phút cuối. Gia đình anh Chu Ứng Tường kẹt lại, không đi được, vì không đủ tiền.
Năm 2004 tôi đến thăm anh.
Kể chuyện cũ, anh thở dài, bảo, “mình chết kẹt chỉ tại cái mồm.” Còn tôi tung tin nghỉ mất sức, chuyển về quê vợ sau khi có sổ trợ cấp.
Sáng sớm ngày thứ Bẩy 26-4-1979 sau khi bán gần hết sách vở và đồ đạc, tôi đưa vợ và 3 đứa con ra bến xe đi Hà-nội cùng lá thư và địa chỉ gia đình nhà chị Chương hẹn chiều mai tôi sẽ đến đón.
Thu dọn nốt những thứ lặt vặt, đóng vào 3 chiếc hòm gỗ, gửi hàng xóm. Mọi chuyện coi như xong, gần 2 giờ chiều tôi lên phòng Tổ chức, gặp ngay Giang Bình cán sự hành chính đang hút thuốc lào. Tôi nói:
- Bác cho tôi giấy giới thiệu lên đồn công an cắt hộ khẩu.
Rít xong một hơi thuốc, phả làn khói xanh qua hàng răng vàng ố, mở ngăn kéo, lấy sổ giấy giới thiệu, lão cầm bút nắn nót, chậm rãi viết như học trò cấp I, tôi bảo:
- Bác cứ ghi, cắt hộ khẩu theo đơn xin di chuyển.
Lão không ngờ đấy là trò lừa, đơn di chuyển của tôi xin đi Hong Kong, đâu có về quê vợ như lão vẫn tưởng. Cầm tờ giấy giới thiệu: Cắt hộ khẩu theo đơn di chuyển, tôi mừng vô hạn. Nhưng chưa xong, còn việc nữa, làm sao lấy giấy cắt hộ khẩu đi Hong Kong ở đồn công an thị xã mà bệnh viện không biết, dù có biết, phải hết giờ làm việc, tránh lôi thôi, khó dễ.
Từ đầu năm 1979, chính phủ Việt nam có văn bản chính thức cho phép người Hoa đi nước ngoài, thành phố đông người Hoa như Hà-nội, Hải-phòng, Nam Định, Quảng Ninh… ai cũng biết, riêng tỉnh Hòa Bình không ai dám bàn tán công khai.
Tôi được gia đình ông chú ở Hải phòng gửi cho, vẫn dấu kín, giờ có giấy giới thiệu trong tay, tôi cầm theo thông tư đó, đến đồn công an kèm đơn xin đi Hong Kong. Tôi đứng vơ vẩn ngay sát chợ Phương Lâm gần đồn thị xã chờ cuối giờ làm việc.
Nhìn đồng hồ tay, 5 giờ kém 15 phút, tôi bước vào. Người sĩ quan công an phụ trách thường trực hôm ấy, thiếu úy Bùi thị Mến đang thu dọn hồ sơ chuẩn bị nghỉ, sắp hết giờ làm việc.
Sau khi nghe tôi trình bày và đưa giấy giới thiệu, đơn xin đi Hong Kong, thiếu úy Bùi thị Mến nghẹn ngào, nói:
- Chắc anh không nhớ, chứ em quên ơn anh sao được. Cách đây 4 năm, nửa đêm anh và bác sĩ Dương đã đi xe cấp cứu về bệnh viện Tân Lạc mổ đẻ cứu mẹ con em.
Mừng quá, gặp quý nhân phù trợ còn gì nữa!
Tôi vui lắm, bảo:
- Thôi bây giờ đến lượt em giúp anh chị và các cháu, anh cũng không bao giờ quên ơn này của em.
Mắt thiếu úy Mến ngấn lệ:
- Vâng, em sẽ giúp.
Cô lấy tập giấy chuyển hộ khẩu, vừa viết vừa nói:
- Đây là chủ trương của đảng và chính phủ, chúng em chả biết làm thế nào, có phải người Hoa nào cũng phản động đâu.
Đưa cho tôi tờ giấy, cô bảo:
- Anh phải thu xếp đi ngay, hết giờ em phải báo cáo ty, họ sẽ cử người đến bệnh viện khám nhà đấy.
Bắt tay tôi bằng cả 2 bàn tay, nghẹn ngào cô nói:
- Chúc anh chị và các cháu lên đường bình an, may mắn.
Mắt tôi cũng ngấn lệ, mũi cay xè, tôi xiết chặt tay cô, cám ơn rồi vội vã ra cửa.
Căn nhà trong khu tập thể tôi bán rẻ gần như cho không, có 300 đồng, từ mấy hôm trước cho Nguyễn Văn Đức, nhân viên nhà giặt, hẹn Chủ nhật giao.
Tôi về lấy chiếc ba-lô, túi xách, khóa cửa hờ không ai biết. Vừa rẽ vào ngõ Gốc Gạo, phường Đồng Tiến, tôi nhìn thấy chiếc xe công an từ thị xã phóng nhanh về phía bệnh viện.
Tôi đến nhà anh bạn thân, Nguyễn Văn Vân, giáo viên trường trung cấp sư phạm tỉnh. Hôm trước, tôi bán cho anh chiếc vô tuyến đen trắng 15 inch, bằng nửa giá làm kỷ niệm, hẹn đêm nay nghỉ nhờ để sáng sau đi Hải-phòng sớm. Bỏ ba-lô, túi xách xuống, tôi bảo anh đến nhà gỡ cần ăng-ten nhân tiện thăm dò hộ tôi.
Gần 2 giờ sau, anh về, bảo, cả bệnh viện nhốn nháo tôi xin đi Hong Kong, vợ chồng tôi ghê thật, bí mật hơn gián điệp. Hai sĩ quan công an đến bệnh viện họp với lãnh đạo.
Người trong khu tập thể bệnh viện, trường y tế đổ sang vây kín, bàn tán, đồn thổi đủ thứ tin xấu xa.
Tôi bỗng nhiên trở thành trung tá đặc vụ nhị trùng của Mỹ và Trung quốc nằm vùng, phụ trách đường 6 mấy chục năm không ai biết, kể cả ty công an. Tôi, kẻ địch thật nguy hiểm chui trong hàng ngũ y bác sĩ bệnh viện, ty y tế.
Ghê gớm chưa! Khủng khiếp chưa!
Người mua nhà của tôi không được nhận nhà dù có giấy viết tay, Nguyễn Đình Mão tuyên bố, tịch thu xung công quỹ. Nguyễn văn Đức mất tiền, ai bảo dại mua đồ người Hoa.
Đức không chịu thua, tịch thu ngay đôi thùng gánh nước bằng inox, vỏ thùng nhiên liệu máy bay Mỹ, một số đồ đạc bán ế tôi cho gia đình vợ gửi nhà hàng xóm.
Sáng sớm hôm sau tôi về Hải phòng đón vợ con tìm thuyền đi Hong Kong.
Về đến Hải Phòng mới thấy lãnh đạo nhiều cơ quan đoàn thể, anh em đồng nghiệp người Việt không nơi nào đối xử tàn nhẫn, đê tiện, khốn nạn với người Hoa như bệnh viện tôi. Trước khi phải thôi việc, lên thuyền đi Hong Kong, bạn bè cùng cơ quan, xí nghiệp có cuộc chia tay tiễn biệt thật cảm động, chẳng ai phải lẩn lút, lừa đảo lấy giấy cắt hộ khẩu như tôi.
Phải chăng ở Hải phòng dân số người Hoa có tới vài vạn, còn tỉnh Hòa Bình chỉ có 26 gia đình trơ trọi trước bọn mãnh thú đội lốt người, tác yêu tác quái thế nào chúng tôi cũng phải chịu.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80825
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46238 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 26th, 2017, 1:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Postby DaMinhChau » April 21st, 2017, 9:25 am


Chương 3

Hải-phòng, những ngày cuối



Người Hoa khắp nơi đổ về Hải Phòng như trẩy hội Chùa Hương, như có đại hội người Việt gốc Hoa miền Bắc không bằng.
Bến Tam Bạc, người đông như kiến và cũng đủ các loại thuyền đánh cá của các hợp tác xã đã quá cũ được thanh lý, thứ đồ thải không dùng, đem ra bán cho người Hoa làm thuyền vượt biển.
Thuyền nhiều như lá tre, đỗ chật bến, mạn thuyền nọ sát mạn thuyền kia, bước sang nhau dễ như đi trên đất liền.
Đông người như thế, vấn đề nhà trọ là điều rất khó khăn, trong khi đó Hải Phòng ít nhà trọ, còn hotel hầu như không có. Đi đâu cũng thấy người giải chiếu nằm la liệt khắp vỉa hè, gốc cây, vườn hoa, nhà thờ, đình chùa miếu mạo. Nghĩa là chỗ nào có thể trải chiếu xuống được là trải liền, miễn sao có chỗ ngồi, chỗ ngả lưng cho mẹ già, cho đàn con nheo nhóc và cho chính bản thân mình.
Hải Phòng nhốn nháo. Hải Phòng lộn xộn!
Hải Phòng nhếch nhách bẩn thỉu, hôi thối.
Các gốc cây đầy nước tiểu và phân người, vỉa hè, đường phố ngập ngụa rác bẩn, chẳng khác gì năm 1954, người các tỉnh đổ về Hải Phòng chờ tầu há mồm đến đón người theo đạo Thiên Chúa di cư vì tin đồn Chúa Giê-Su đã vào Nam vậy.
Vợ tôi và đàn con về trước. Tôi dặn đến nhà chị Chương ngủ nhờ một tối, mai tôi về sẽ tính sau. Gia đình chú thím tôi đã đi Hong Kong từ tháng Tư, sau khi ông chú thứ hai viết thư hỏi có đi không, tôi vẫn chưa quyết định dứt khoát, còn luyến tiếc Việt Nam lắm.
Chị Chương là con nuôi bác gái họ – con chị ruột bà nội tôi- ở Cát Dài. Ai ngờ gần 7 giờ tối, thấy vợ và đàn con tôi đến, anh chị đón tiếp rất lạnh nhạt, chẳng thèm hỏi xem đi đường ra sao, các cháu ăn uống gì chưa.
Khi thấy vợ tôi ngỏ lời xin tá túc một đêm để chờ tôi, cả nhà chị ta phản đối ra mặt, dứt khoát không nghe. Tôi biết vợ tôi chẳng thông thuộc đường phố Hải Phòng cho nên mới dặn đến ở nhờ. Vả lại giữa chị ta và gia đình tôi kể ra cũng khá thân thuộc. Vậy chị ta là ai? Trong lúc nước sôi lửa bỏng ai cũng tránh mặt người Hoa, sao tôi lại bảo vợ con về đó ngủ nhờ một đêm, gây phiền hà như vậy?
Xin thưa, chuyện rất dài dòng về mối quan hệ và lý do khiến tôi có thể phiền đến gia đình chị với ý nghĩ chị phải vui vẻ chấp nhận.
Trận đói tháng 3 năm Ất Dậu 1945, gia đình ông bà nộI tôi mở hiệu thuốc Bắc, khá giả nên đã nấu cháo phát chẩn cho những người đói, nhưng dường như được gần 10 ngày thì hết khả năng, vì gạo quá đắt và khó mua. Mỗi ngày phát chẩn một nồi 30 cháo hoa. Phát vào buổi trưa. Thời bấy giờ nồi thường bằng đồng, để dễ tính, người ta gọi nồi 5, nồi 10 hay nồi 30, có nghĩa là nấu cơm bằng nồi đó, số người ăn (no) trong bữa cơm sẽ là 5, là 10 hay 30. Nồi 30 là loại nồi đồng gần như to nhất mà ông tôi thường dùng để nấu cao xương. Ngày nào cũng nấu một nồi, phát hết thì thôi. Ngày mai phát tiếp. Đến ngày thứ tư, có hai mẹ con người đàn bà quần áo rách như tổ đìa, đứa con gái khoảng 14 tuổi, cả hai gầy nhom mang theo chiếc nồi đất nhỏ đến xin cháo. Cô tôi múc cháo vào nồi, người mẹ run run cảm ơn và đỡ lấy nhưng không đủ sức nữa, ngã lăn xuống đất chết. Đứa bé ôm mẹ khóc không nên lời, tất cả mọi người đều ái ngại, nhưng chẳng biết làm gì. Cảnh người chết đói diễn ra hàng ngày, chỗ nào chẳng có, cho nên thương là thương vậy chứ biết làm sao. Người ta chết trước cửa nhà mình, con gái người ta không biết sẽ đi đâu, sống ra sao.
Bà tôi an ủi đứa bé, hỏi nó xem thân nhân còn ai không. Nó chỉ biết lắc đầu trong nước mắt cùng tiếng nấc.
Hồi ấy, chết đói đầy đường, có đội xe bò của nhà nước nhặt xác người chết đem đi chôn tập thể. Đứa bé đó cố lê theo chiếc xe bò chở xác, nhưng rồi cũng mệt quá đành chịu. Thấy cảnh thật đáng thương, cô tôi bảo với bà tôi, hay nhận nó về làm con nuôi chị Bê. để trông con cho chị. Bà tôi vẫn còn lưỡng lự chưa quyết vì không biết vợ chồng chị Bê có nhận hay không. Cô tôi bảo, nếu chị Bê không nhận, má nhận nó làm con nuôi vậy. Chẳng biết bà tôi nghĩ gì nhưng đã nhận cô bé đó. Thế là từ hôm ấy, cô bé sống trong nhà tôi. Rất may, chỉ sau gần một tuần vợ chồng chị Bê từ Hà Nội xuống, đồng ý nhận cô bé làm con nuôi, đúng nghĩa ra là con ở.
Năm 1953, cô bé đã trưởng thành, hai bác tôi đã gả chồng cho chị và cấp cho chút vốn, coi như tiền công 8 năm, để buôn bán. Chị theo chồng về Hải Phòng. Từ đó chị coi gia đình tôi là ân nhân, là chỗ thân tình. Tôi gọi chị là chị Chương, còn chị gọi tôi là cậu, thân mật như là ruột thịt. Giỗ Tết vợ chồng chị vẫn đến nhà thắp hương và ăn cỗ.
Vợ tôi tức lắm, ứa nước mắt, nói vã bọt mép, gần như lạy chị miễn sao cho đàn con tá túc một đêm thôi, sáng mai dù tôi không về kịp cũng xin tìm nhà trọ chứ không dám phiền thêm. Vợ tôi giãi bày, đêm hôm thế này, đường phố không thuộc, họ mạc đã đi Hong Kong hết, đàn con nhỏ biết ngủ đâu, mai chồng về biết đâu mà tìm. Anh chồng xem ra thấy đuổi vợ con tôi ác quá nên buộc lòng chấp nhận, nhưng với điều kiện, ngày mai dù chồng về hay không về, vợ con tôi phải đi tìm chỗ trọ khác. Vợ tôi gạt nước mắt, chấp nhận.
Sau khi ăn xong phở, rửa qua loa cho các con và xin mượn một chiếc chiếu đôi cũ, trải xuống nền nhà xi măng, mấy mẹ con ôm nhau ngủ một mạch đến sáng.
Đúng như dự tính, tôi về đến nhà chị Chương gần một giờ chiều. Nghe vợ tố khổ, tôi uất lắm, nhưng vẫn cám ơn anh chị đã giúp nhà tôi và các cháu được tá túc một đêm, rồi gọi xích lô đến nhà trọ ở phố Cát Cụt gần phía ngã 3 đường Trần Phú cách bến Tam Bạc không xa.
Chị Chương đã chết trong lòng tôi từ hôm 30-4-1979. Ấy thế, năm 1988, không hiểu vợ chồng chị mò đâu ra được địa chỉ chú tôi, viết thư sang nài nỉ ông bà xin rủ lòng thương, làm giấy bảo lãnh cho hai đứa con gái đang bị nhốt ở trại cấm Hong Kong, nếu không sẽ phải đuổi về! Cả họ chúng tôi không ai trả lời.
Chủ trọ là mụ góa khoảng 50, không con không cháu, nét mặt khó đăm đăm, hễ mở miệng là ầm ầm như thể chửi cha người ta. Tuy thế, mụ có căn nhà khá rộng và mở quán trọ bình dân từ bao giờ tôi chẳng rõ, nhưng phải nói khá lâu, nếu như không nói, rất lâu. Có tất cả 3 phòng cho thuê, gọi là phòng cho oai, thực ra mụ ta kê mỗi buồng hai cái phản đôi, nước mồ hôi, ghét của hàng ngàn khách trọ đã làm màu gỗ mặt phản lên nước đen bóng màu gụ và chiếc màn chung hôi xì, đen xỉn màu bồ hóng. Mụ không tính phòng mà tính đầu người, bình quân lớn nhỏ 1 đồng/ngày đêm, nhưng cấm nấu nướng, cấm tắm giặt. Thuê trọ để nghỉ ngơi và ngủ, mà ngủ đêm tối kị hai vợ chồng son chung một phản.
Không thuê thì cút, già này không cần!
Chán vạn đứa đang van xin tao kia mà tao còn chưa thèm nhận. Chúng bay được ở đây là phúc tổ 70 đời rồi đó con. Ngủ ngoài đường, chỉ một đêm, đồ đạc sẽ bị cướp sạch. Khôn hồn biết điều, đừng có kêu ca phàn nàn đắt rẻ, bà mà nổi máu tam bành đuổi ráo.
Quân Tàu-ô sắp chết đến đít còn lắm chuyện.
Thế đấy!
Lấy tiền người ta chửi xơi xơi vào mặt. Vậy mà phải chịu cắm tăm! Mụ nói có lý, ngủ ngoài đường ngoài chợ, vợ chồng con cái thay nhau thức cả đêm trông đồ, mệt quá, nhỡ ngủ gật, bọn trộm, bọn xấu lấy hết đồ đạc tiền nong, chỉ có con đường ôm nhau nhảy xuống sông!
Tôi may mắn đến gặp mụ đúng vào lúc cả 3 phòng đều hết khách vì thuyền họ vừa nhổ neo chiều qua. Khi tôi hỏi, mụ cũng lại nhắc đúng bài ca mụ thuộc lòng cho vợ chồng tôi như đã từng diễn thuyết hàng chục lần bài diễn văn khó lọt tai này. Nghe xong, nhìn mụ từ đầu đến chân rồi lại từ chân đến đầu, tôi biết mụ này rắn lắm và rất quỷ quyệt cho nên không thể cãi lí với mụ, tôi đành đánh vào tình cảm, nói ngọt. Tôi viện lí do, các con tôi bé quá, ngày nắng không sao, chứ ngày mưa không thể cả nhà bồng bế nhau ra Chợ Sắt ăn ngày 2, 3 lần được. Thôi, bà đã thương thì thương cho chót, chúng tôi xin trả thêm mỗi ngày 1 đồng để bà cho phép nấu cơm ở đây – tôi mua một chiếc bếp dầu hỏa- và xin hứa sẽ giữ vệ sinh, nấu xong sẽ quét dọn sạch sẽ. Còn tắm rửa giặt giũ không dám phiền bà, chúng tôi ra nhà tắm công cộng. Bà ta cao giọng, hỉ hả bảo, nói như anh chị còn nghe được -trả thêm 1 đồng- vả lại tuy thế nhưng tôi cũng hay thương người. Thôi được, tôi đồng ý, nhưng ai hỏi, anh phải bảo, vợ anh là người cùng làng nên mới ưu tiên. Nghe rõ chưa?
Thế là xong khoản chỗ ngủ.
Bây giờ là chuyện tìm thuyền.
Không có máu cờ bạc, tôi không dại gì mang mạng sống của tôi, của vợ con ra cá cược với các chủ thuyền, cả đời chưa biết họ là ai. Nhất là mùa mưa bão ở miền Bắc thường bắt đầu từ tháng Năm kéo dài cho đến tháng Mười dương lịch. Thời gian này là thời kỳ nhiều bão, mà dự báo thời tiết của Nha Khí tượng Việt Nam toàn trật lấc. Chủ thuyền, cò thuyền nói như khướu, ai biết thật hay giả, hay ba hoa bốc phét lừa người nhẹ dạ cả tin. Cho nên tôi phải tìm hiểu thật kỹ về giá cả, chất lượng thuyền như trọng tải, xem ván thuyền dày hay mỏng, đã mục chưa, nếu có máy thì bao nhiêu mã lực, chạy buồm thì mấy cánh, tài cống là người ở đâu… có nghĩa là tôi “quái” hơn rất nhiều bà con người Hoa. Biết mà không dám nói thật nếu ai tò mò hỏi, bởi tôi không muốn bị ăn đòn của bọn cò thuyền ma cô.
Ai đã từng một lần đi tìm thuyền không thể quên những lời đường mật của cò và chủ thuyền. Chúng tôi là kẻ tứ xứ, chân ướt chân ráo lại mù tịt về chuyện thuyền bè, ai cũng muốn biến ngay khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt, cho nên nếu không cẩn thận, cả tin tiêu đời liền. Tôi xin kể những cò và chủ thuyền nói với tôi.
- Anh/chú, yên tâm đi, thuyền tôi đảm bảo lắm.
- Ấy, tài công rất nhiều kinh nghiệm.
- Thuyền tôi tuy không có máy, nhưng buồm tốt lắm, chồng tôi là chủ nhiệm hợp tác xã đánh cá đấy.
- Giá của chúng tôi thế là mềm nhất, không tin cứ đi khảo giá đi.
Tôi xin kể một chuyện có thật tưởng như chuyện tiếu lâm, cổ tích. Sau khi đến Bắc Hải được 3 ngày, chúng tôi nhìn thấy một chiếc thuyền buồm được tầu hải quân Trung Quốc kéo vào bến.
Lên được bờ, tất cả bà con xúm lại đánh hội đồng gia đình chủ thuyền kiêm tài công. Cả nhà 6 người quỳ xuống vái như tế sao, cũng chẳng làm bà con hạ cơn ức. Tí nữa toi mạng. Miệng vợ chồng nó nói ngon nói ngọt, xơn xớt. Không có tầu cứu chắc họ chết.
Tôi đến xem, ôi thôi chính con vợ chủ thuyền này nói với tôi: “Thuyền nhà tôi tuy không có máy…”
Bà con vạch tội vợ chồng chủ thuyền tự nhận dân đánh cá Quảng Ninh nay muốn đi Hong Kong nhưng kẹt không đủ tiền trả cho hợp tác xã, nên nhận thêm bà con đồng hương đi cùng để trang trải. Chiếc thuyền buồm 2 cánh, trọng tải hơn chục tấn, nhận tất cả 70 người, ai ngờ sau khi tàu kéo hải quan Việt Nam cắt dây ở phao số 0 và cũng nghỉ lại một đêm ở Đảo Ngọc. Tờ mờ sáng hôm sau căng buồm ra khơi là đối mặt với tai họa. Hôm ấy tuy trời quang mây tạnh nhưng không có gió, tài công rởm, hơn 2 tiếng đồng hồ thuyền cứ chạy vòng tròn. Chuyện tức cười là cả nhà chủ thuyền kiêm tài công say sóng trước, nôn thốc nôn tháo, nằm lăn chiêng ra sàn thuyền. Bà con định quẳng cả 6 người nhà chủ thuyền xuống biển. Trên thuyền gần như nổi loạn vì cái chết cầm chắc trong tay, người lớn trẻ em đều la khóc. Trời cao vời vợi, biển rộng mênh mông, kêu gào cầu cứu sao thấu. May có vợ chồng A Sềnh -A Thành- trước theo thuyền buôn muối nên cũng biết chút đỉnh. May hơn nữa, 3 ngày trời đẹp không mưa không giông bão nên không đắm. Tầu hải quân chắc nhìn qua ống nhòm nên đã đến cứu trợ.
Cả nhà chủ thuyền xin tha mạng, biếu thuyền cho bà con, “nôn” hơn 30 lạng vàng trả lại. Chúng xin hồi hương. Hôm sau, công an Bắc Hải cho xe tải chở gia đình về nông trường. Vợ chồng tôi hú vía, tí nữa cũng kềnh.
Đi đến một thuyền đang có thợ hàn cánh quạt tầu thủy, nhìn những mối hàn, biết ngay thợ mới vào nghề. Mối hàn phải chồng đều lên nhau như từng lớp vẩy cá, vẩy tê-tê mới đạt kỹ thuật, đằng này mối hàn nham nhở, có chỗ chưa kín. Tôi tự hỏi không biết ra khơi có bị vỡ không. Nhưng tôi nghĩ còn hơn thuyền chỉ có buồm. Tôi hỏi thăm, người ta bảo thuyền của lão Ké và chỉ cho tôi đường tìm nhà lão. Ké theo như dân Lạng Sơn giải thích, là tiếng Thổ chứ không phải tiếng Quảng, dịch nghĩa chính xác rất khó, đại để hiểu nôm na, có gì “cho ké”, “chung” một tí. Còn tên thật tôi không biết. Lão là chủ nhiệm hợp tác xã xe bò khu An Dương, nghe đâu khá to, có đến hơn 20 chiếc, quân số trên dưới năm sáu chục người. Một chiếc xe bò tối thiểu 3 người, một người bò – cầm càng xe kéo – 2 người đi sau đẩy.
Tức tốc tôi đến nhà lão.
Nhà đông ơi là đông, toàn người Hoa từ Lạng Sơn xuống tìm lão. Tôi đến đúng lúc lão đang nhắm rượu. Nghe tôi trình bày, chắc cao hứng vì có men nên lão gật đầu liền. Vì người ta dặn, lão chỉ nhận người Lạng Sơn còn dân tỉnh khác dù nói sùi bọt mép cũng chẳng ăn thua gì đâu. Tôi hỏi giá cả, lão gạt phắt, giúp nhau là chính, đâu có phải buôn người, khi nào thuyền xong, mua hết đồ ăn và các thứ cần thiết sẽ tính bổ đầu từng gia đình. Còn mua bán, sửa chữa đến đâu lão sẽ yêu cầu mỗi chủ hộ góp dần. Nghe đã khúc ruột.
Nhưng thực ra có tên người nhà gặp riêng từng người ra giá. Bóp được bao nhiêu thì bóp, lão chẳng tha, vì vậy chẳng có giá nhất định, thu mỗi người khác nhau.
Nhà lúc nào cũng có vài chục người, trẻ con khóc như ri, sốt cả ruột, đau cả đầu. Đã thế thằng người nhà của lão viết tên từng chủ hộ vào bản “Đơn xin đi nước ngoài” do Ban Ngoại kiều của Sở Công an Hải Phòng cấp, vừa viết vừa đánh vần. Trong khi tầu biển “Trung Hoa vĩ đại” cứ rập rình ngoài phao số không, sẽ cập bến Hải Phòng sớm đón đồng bào hồi hương, gần 3 tuần nay vẫn cứ nói chứ không làm.
Đài phát thanh của cả hai bên lại được dịp tố cáo lẫn nhau, nước nào cũng cố chứng minh là thương dân.
Chửi nhau ngang hàng tôm hàng cá trên mọi phương tiện truyền thông! Chẳng biết có bài học thứ hai nữa không, cứ như mèo vờn chuột trên đài phát thanh cả hai nước, như chuẩn bị choảng nhau đến nơi.
Tình hình này không chuồn nhanh, tiền trong túi chi tiêu như thế này -tiền trọ, tiền ăn, tiền tắm giặt… đủ thứ bà dằm- vài tháng thì hết, chết là cái chắc! Tôi thấy thế, xung phong làm thư ký không lương cho lão Ké. Tưởng lão sẽ gật đầu sái cổ, ai ngờ lão gạt đi không cần. Bởi vì thu tiền thuyền, lão kín lắm, chẳng cho ai biết thu ai bao nhiêu, người nhiều người ít. Thư kí là chỗ thân cận tay chân, không biết nhiều cũng biết chút chút. Lão không ưng, không tin người lạ. Hơn nữa tất cả chủ thuyền đều có mối làm ăn riêng với công an, biến người Việt thành người Hoa. Thế mới kiếm chứ! Võ này trúng mánh nhiều, hơn đứt chuyện minh bạch kia, nên lão đâu có tin tôi. Không ngờ bà con Lạng Sơn kéo xuống rất đông. Biên giới đóng cửa, phải chạy đường biển. Lão mua thêm một thuyền nữa. Lúc này, thấy thằng tay sai làm chậm quá, bảo tôi làm thư kí điền đơn cho bà con giúp lão. Lão hứa riêng, bí mật, sẽ lấy tôi nửa số tiền đã thỏa thuận do giúp lão. Tôi thấy tiện cả đôi đường, vừa chóng nhổ neo lại dành được chút vốn có thể mua vàng cho vợ dắt cạp quần, khi cần có cái bán đi mà đút vào miệng cả nhà ở nơi đất khách quê người.
Được hơn 10 ngày, danh sách hai thuyền đã điền xong, tôi bảo lão lên Ban Ngoại kiều nộp hồ sơ. Theo quy định, có 2 bản, một bản nộp trước, bản giữ lại khi xuống thuyền nộp cho công an đọc lệnh xuất cảnh. Lão bảo chưa vội, bà con còn nhiều người muốn đi, phải mua thuyền nữa. Ai lại bỏ đồng hương thế sao đành!
Trời ơi! Chạy loạn mà cứ như đi du lịch! Tôi nghĩ lão này tham quá, kẹt lại là cái chắc, kẹt là chết.
Vì vậy, tôi xin lại 2 cây vàng tôi nộp trước, đi tìm thuyền khác. Bến Tam Bạc mấy tuần trước đông là thế, nay chỉ còn hơn chục chiếc, người thưa hẳn.
Chết thật rồi! Tôi nháo nhào đi tìm thuyền, chẳng còn tâm trạng nào kén với chọn. Hung tin đang dồn dập, khả năng sẽ đóng đường biển, không cho xuất cảnh. Như đã đóng đường bộ.
Đầu tháng Sáu, nửa đêm hàng chục xe tải bịt kín đi hốt tất cả gia đình người Hoa nằm đường nằm chợ. Sáng hôm sau, tôi từ nhà trọ ra bến tìm thuyền được biết tin khủng khiếp ấy. Lại thêm tin đồn, chẳng biết thực hư ra sao là tin tức và ảnh chụp người Hoa nằm vật vờ, đầu đường xó chợ bị gián điệp chuyển ra nước ngoài. Nước Việt Nam đang bị báo chí toàn thế giới chửi cho mất mặt. Nào bức tử bà con miền Nam có thân nhân là sĩ quan binh lính VNCH phải đi cải tạo, thương nhân bị tịch thu tài sản, bắt đi vùng kinh tế mới, nay lại bức tử người Hoa. Người Việt, người Hoa từ Bắc đến Nam phải vượt biển, nhiều thuyền bị đắm, nhiều thuyền bị hải tặc cướp bóc hãm hiếp. Tội ác ngút trời! Để xóa hết dấu tích, nhỡ có đoàn quốc tế nào đến, theo chỉ thị Hà Nội, công an Hải Phòng nửa đêm hốt trọn gói số nằm đường, không biết đưa đi đâu. Có trời biết! Cộng sản thâm lắm, bí mật lắm! Mai kia có muốn đi chỉ bằng con đường chui -bất hợp pháp- y hệt bà con người Việt ở miền Nam.
Chết thật rồi! Tôi giết vợ con chỉ vì tin lão Ké nên gần 3 tuần suốt ngày đến nhà lão, từ sáng sớm mãi gần 9 giờ đêm mới về gặp vợ con, rồi sáng hôm sau hơn 7 giờ đã phải đến nhà lão Ké làm việc không lương. Mọi chuyện xảy ra có biết gì đâu!
Tôi lo lắm, chẳng dám hé răng, sợ vợ tôi quẫn chí.
Tôi đi dọc bến Tam Bạc, thuyền nào cũng hỏi, may quá thuyền này có lệnh được xuất cảnh từ tuần trước, nhưng chạy thử từ Tam Bạc ra Cát Bà bánh lái gẫy, phải quay về sửa, đang cần tiền trả công thợ. Giá lão này cao lắm, tôi năm nỉ mãi, tất cả chỉ còn có 7 lượng xin nộp hết. Tay chủ thuyền này rất cáo già, nguyên là lái xe Công ty Vận tải 2 Hà Nội, một công ty xe tải rất nổi tiếng – cả xấu lẫn tốt- mà tôi biết rõ thông qua câu chuyện thật 100%.
Tỉnh nào cũng có công ty vận tải quốc doanh, cho nên số lái xe tải của tỉnh cũng gần trăm người bởi vì giao thông vận tải thời chiến ở miền Bắc dựa vào xe là chính. Đường sắt bị Mỹ ném bom phá hủy gần như tê liệt. Đường biển bị phong tỏa, chỉ còn đường bộ là huyết mạch giao thông. Cuối năm 1971, chuẩn bị cho chiến dịch đường 9 Nam Lào, mỗi tỉnh phải đóng góp cho trung ương từ 5 đến 10 lái xe ưu tú tham gia chiến dịch. Cậu Hùng, một trong số lái xe ưu tú của tỉnh tôi được đề cử, nhưng cậu ta từ chối ưu tú. Vì ai mà chả sợ chết. Thế là bị kỷ luật, tịch thu bằng lái, đuổi ra khỏi công ty, có nghĩa là hết đường sống.
Thải hồi không những mất việc, còn mất sổ gạo, các tem phiếu tiêu chuẩn khác, sống cũng như chết. Chả thế thời ấy, hễ thấy ai mặt ngơ ngơ ngác ngác, bạn bè đùa: mất sổ gạo hay sao mà ngẩn ngơ thế!
Nhưng có ai chịu chờ chết đâu!
Đến con giun, xéo lắm cũng quằn cơ mà!
Ba tháng sau, cậu Hùng lái chiếc xe tải có sơn tên Công ty Vận tải Quốc doanh Hà Nội 2 to tướng ở cánh cửa xe. Cậu ta cũng ngông, cố tình trêu ngươi lãnh đạo, đỗ xe ngay trong bãi xe của công ty, vào thăm anh em bạn bè cũ. Ai cũng mắt tròn mắt dẹt phục sát đất và ngấm ngầm ghen ghét. Tin này đến tai lãnh đạo công ty và ty giao thông vận tải. Thằng này bằng lái xe đã tịch thu, không hộ khẩu, không sổ gạo sao lại vào được Công ty 2 thế nhỉ? Mà lại có hộ khẩu Hà Nội? Ty giao thông “máy” cho Ty công an, phục kích để tóm cổ bằng được sau khi cậu Hùng trả hàng ở Điện Biên.
Ba hôm sau, xe tải của Hùng quay đầu về Hà Nội, vừa vào thị xã đã bị công an chặn lại kiểm tra giấy tờ, bằng lái xe. Hùng có đầy đủ giấy tờ và bằng lái xe tải xịn do trung tá Trần Đông, cục trưởng cục đường bộ, ký tên và đóng dấu (3). Kiểm tra thật kỹ, so sánh giữa bằng cũ và bằng mới của Hùng không phát hiện được sai sót gì. Tức hộc máu mà chẳng làm gì được, viên trung uý công an đưa hai bằng lái xe cùng tên họ, ngày tháng năm sinh của Hùng, hỏi một câu thật ngớ ngẩn:
- Tại sao cậu có bằng lái xe thứ hai này?
Hùng là dân lái xe tải lâu năm mà ở miền Bắc người ta có câu “Bụt mà cầm vô lăng, 6 tháng sau không buôn lậu cũng thành giang hồ thứ thiệt”, cho nên cậu thủng thẳng:
- Các anh đi mà hỏi trung tá Trần Đông (4) ấy, sao lại hỏi tôi. Kiểm tra xong chưa, trả lại bằng lái xe cho tôi để còn về Hà Nội.
- Tại sao anh có hộ khẩu Hà Nội?
- Ơ hay, sao lại hỏi tôi, anh phải hỏi chủ tịch Trần Duy Hưng chứ (5). Nào xong chưa?
Lấy lại giấy tờ và bằng lái xe, Hùng nói trống không:
- Chào!
Vừa mở cửa xe, vừa huýt sáo, Hùng lên xe như trêu tức.
“Được lắm, mày sẽ chết với ông! Chạy đường Sơn La, Điện Biên dứt khoát buôn thuốc phiện mới chóng giàu chứ. Bắt được, chúng ông sẽ cho mày dựa cột.”
Hùng chóng giàu thật. Chỉ sau mấy tháng lái xe Đoàn 2, Hùng mua đài, xe đạp mới tinh cho vợ. Không những thế ngày hè nóng bức mang cả quạt cây Hoa Sinh Trung Quốc đưa ra chuồng lợn quạt mát cho lợn. Thời ấy, mấy ai có tiền mua quạt điện huống chi quạt cây Hoa Sinh rất đắt và khó mua. Nghe tổ trưởng dân phố báo cáo làm gì công an thị xã chả tức đến tận cổ.
Hùng biết lắm chứ.
Một tháng sau, Hùng lại chở hàng lên Điện Biên, xe quay về, tổ công an 3 người chặn xe Hùng, nói:
- Chúng tôi kiểm tra xe.
- Xin các anh cứ kiểm tra, nhưng tôi nói rõ, thùng xe chỉ toàn mùn cưa, các anh bắt tôi đổ ra khám không thấy hàng cấm, các anh phải xúc trả lại như cũ.
Ba tay cảnh sát nhìn nhau, nghi Hùng giấu cơm đen trong thùng xe chứa cám cưa. Tổ công an gật đầu đồng ý. Hùng không chịu, yêu cầu lập biên bản kí xác nhận mới chịu cho đổ cám cưa xuống. Chắc chắn 100% có cơm đen nó mới chơi khăm thế. Được, biên bản thì biên bản, chúng ông sợ gì. Mày sẽ dựa cột là cái chắc!
Không ngờ chiếc xe tải 4 tấn Giải Phóng do Trung Quốc sản xuất, đổ hết cám cưa ra chẳng tìm thấy một gói cơm đen nào. Báo hại cho tổ công an một bữa mất mặt và phải thuê 5 người xúc cám cưa đổ lại lên thùng xe! Lái xe Công ty 2 tiếng nổi như cồn như thế đó.
Nộp tiền xong, tôi về quán trọ thuê hai xe xích lô chở tất cả đồ đạc và vợ con ra bến Tam Bạc lên thuyền. Những người trên thuyền tức lắm và tự nhiên ghét gia đình tôi. Họ bảo vì nhận thêm chúng tôi, họ phải dẹp bớt chỗ, suất ăn của họ phải chia cho chúng tôi. Đại để chúng tôi là kẻ đáng ghét. May qua có anh chị Sâm làm ở nhà máy xi măng Hải Phòng, anh chị được nhiều người kính nể, can thiệp:
- Sao lại ghét bỏ cô chú ấy và các cháu bé. Cô chú cũng phải đóng tiền thuyền chứ có đi không đâu. Thôi mỗi ngưòi chịu khó chịu chật một chút, cùng cảnh khốn nạn cả, hay ho gì mà cắn xé lẫn nhau.
Nhờ anh chị mà chúng tôi có chỗ trên thuyền chỉ rộng hơn chiếc chiếu đơn ở mãi tít cuối khoang. Thôi thế là may. Hai ngày nữa có con nước, thuyền nhổ neo.
Vĩnh biệt Việt Nam!
Vĩnh biệt Hải Phòng thân yêu, nơi hè đến phượng đỏ rực trời, đỏ cả những kỷ niệm của tuổi học trò.
Vĩnh biệt! Vĩnh biệt tất cả!
Vĩnh biệt mồ mả tổ tiên! Vĩnh biệt nơi chôn nhau cắt rốn! Vĩnh biệt cả những kỷ niệm vui, buồn!
Thuyền của tôi dài chừng 20 mét, trọng tải 25 tấn. Có buồm và có máy nổ 25 mã lực, thế mà kể cả gia đình tôi là 212 người lớn nhỏ! Đến Bắc Hải, sau 3 tuần sửa thuyền, lão chủ thuyền nhận thêm 22 người nữa với lý do lấy tiền trang trải và thuê tầu kéo. Tổng số thuyền tôi khi đến Hong Kong 234 người! Có nghĩa là nếu vì chuyện gì đó, tất cả mọi người ngồi trong khoang thuyền chỉ đủ chỗ ngồi bó gối!
Đêm 17-6, chẳng hiểu ví lý do gì, chủ thuyền bắt mọi người phải xuống khoang, không được lên boong. Tôi bị ép ngồi bó gối dưới hầm sát máy nổ, ngạt thở tưởng chết sau gần 2 tiếng đồng hồ.
Sáng hôm sau, lão tài cống mới lôi ra một cái cờ đen có hình đầu lâu xương chéo và những hình thù kỳ quái, định kéo lên cột buồm. Tôi hỏi:
- Các bác làm gì thế?
- Treo lên để làm tín hiệu, tầu thuyền nước ngoài trông thấy họ sẽ cứu.
- Nhưng các bác có biết cờ này là cờ của bọn cướp biển không? Treo lên, tầu thuyền nước ngoài tưởng thuyền mình là cướp biển họ không cứu mà còn bắn nữa là khác.
Tất cả đàn ông thuyền tôi tranh cãi hăng lắm, mãi sau họ cho ý kiến của tôi hợp lý. Hú vía, thuyền chạy tị nạn, tự nhiên treo cờ biến mình thành cướp biển! Lạ thật!
Không biết có phải công an Sở Ngoại kiều Hải phòng xúi mua cờ cướp biển để ăn đạn giữa biển Đông hay không? Phải có người xúi khôn xúi dại chủ thuyền mới bỏ tiền mua chứ! Đến nay tôi vẫn chưa hiểu lão chủ thuyền và lão tài cống nghĩ gì lại đi mua cờ cướp biển rồi định dán mác cho mình!
Thuyền đông như thế nhưng chưa kể gạo vài tấn, 7 thùng phi 250kg dầu ma-zút. Nước ngọt 3 thùng phi, nồi niêu xoong chảo của nhà bếp và đồ đạc của các gia dình cộng lại thì đã vượt trọng tải! Mặt nước lúc nào cũng xấp xỉ cách mạn thuyền khoảng 30 cm, sóng to một chút nước ào cả lên thuyền. Chỉ gia đình anh chị Sâm, chủ thuyền và họ hàng chủ thuyền có những xốp hình khối chữ nhật 20cm x 30cm buộc lại làm phao bảo hiểm. Như vậy gần 40 hộ gia đình chỉ có 4 gia đình có phao cứu hộ. Còn chúng tôi, nếu thuyền đắm hay vỡ sẽ được Đại Dương Thần Nữ đón về thủy cung liền! Chúng tôi đã đi biển bao giờ đâu mà biết mua phao cứu hộ, chẳng ai bảo, cũng chẳng nghĩ đến, cứ tưởng lên thuyền như lên xe đò, xe chết máy hành khách xuống, chờ nhà xe chữa xong đi tiếp. Đi biển, thuyền hỏng nhìn thấy tử thần đang vung lưỡi hái đứng ngay trước mặt!
Mới bẩy giờ sáng ngày 15-6-1979, mặt trời đã gay gắt, ba thuyền được xuất cảnh đã neo ngay bến Máy Chai, tất cả chúng tôi phải lên bờ chờ công an ngoại kiều của Hải phòng đọc lệnh. Gọi là bến Máy Chai không phải bến này bán chai mằ gần nơi đây có nhà máy sản xuất chai lọ từ thời Pháp thuộc, năm 1960 đổi tên, Nhà máy Thủy Tinh, nhưng người ta vẫn quen gọi Nhà Máy Chai. Cả bến có mấy cây bàng mới trồng, cao chưa đầy 2 thước, gần ngàn người đứng dưới gốc tránh nắng chờ công an.
Gần 8 giờ sáng, chiếc xa-lan đỗ xịch ngay trước bến, năm sĩ quan công an lấy bàn ghế đưa xuống sát bến. Một bàn kê sát ngay lối lên xuống dưới tán che của cây dù to, một chiếc ghế để giữa.
Năm sĩ quan công an ngoại kiều dưới sự chỉ huy của đạI úy Hùng làm thủ tục đọc lệnh trục xuất (cảnh) người Hoa, tống khứ ra biển Đông.
Thuyền chúng tôi là thuyền cuối.
Gần trưa, nắng như đổ lửa, từng hộ gia đình đọc theo danh sách. Đến lượt gia đình tôi nộp giấy xuất cảnh, hộ khẩu, sổ gạo, chứng minh thư, tem phiếu, thiếu úy Minh hỏi:
- Anh chị phải nộp hết giấy tờ nhà nước Việt nam kể cả giấy khai sinh trẻ em, bằng cấp anh chị có.
Tôi vặn lại:
- Tại sao chúng tôi phải nộp bằng cấp và giấy khai sinh các con tôi?
Đại úy Hùng, người ngồi ghế dưới bóng dâm của tán dù, lên tiếng:
- Đây là quy định, tất cả giấy tờ chính phủ cấp thuộc tài sản quốc gia, chúng tôi phải thu hồi lại.
Anh chị Sâm đứng sau tôi nói nhỏ:
- Cần đéo gì mấy tờ giấy ấy, mạng còn chả thiết, thiết gì đám giấy lộn.
Vợ tôi móc trong túi xách tay lấy hết giấy tờ để lên mặt bàn, tên thiếu úy Minh xem từng giấy, vứt ngay vào chiếc nón đặt ngửa trên bàn, y như đám giấy lộn.
Thế là xong.
Lên thuyền, chúng tôi không có bất cứ giấy tờ tùy thân nào, như đàn gia súc không tên tuổi, không nghề nghiệp, không quê hương bị tống khứ ra biển khơi làm mồi cho cá mập. Tôi cõng thằng con út trên lưng, một tay cầm chiếc can 10 lít nước đun sôi từ đêm qua, một tay xách túi đồ ăn vừa mua ở bến cho bữa trưa, lội qua bùn bước chậm chạp, nặng nề lên chiếc cầu bằng ván lên thuyền. Hai đứa lớn cầm tay mẹ, ngơ ngác bước theo.
Đứng trên sạp thuyền, nhìn xuống bến, cảm giác nao nao buồn khó tả ập đến, từ giờ phút này, chúng tôi là người nước ngoài, không được phép đặt chân xuống mảnh đất Hải phòng thân thương này nữa, nơi tôi sinh ra, lớn lên, nơi mồ mà ông bà cha mẹ tôi vẫn nằm đây.
Thôi thế là hết, thế là xong. Vĩnh viễn xa Việt nam, xa tất cả những kỷ niệm buồn vui. Chúng tôi phải bỏ tất cả, phảI ra đi, đau đớn lắm. Nhìn xung quanh, nắng hè chang chang, gay gắt, không một cơn gió, tôi muốn ngửa mặt lên trời kêu lên:
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗI này?
Làm thủ tục xuất cảnh xong, gần 3 giờ chiều mới có con nước, ba thuyền chúng tôi rời bến Máy Chai do xà-lan công an ngoại kiều Hải Phòng kéo ra phao số Không, tống ra biển Đông.
Hơn 24 giờ lên lênh đênh trên vịnh Bắc Bộ, khoảng 6 giờ tối ngày 16-6-1979, chúng tôi đến phao số Không (Zero), họ cắt dây. Trước khi xà-lan quay mũi lái, tên đại úy Hùng vét hết những đồng tiền Việt trong hầu bao, chúc một câu xanh rờn:
- Chúc bà con lên đường ăn cá, đừng để cá ăn!”
Tất cả chúng tôi căm lắm, chửi thầm.
Đẩy người ta ra biển, sống chết cách nhau gang tấc, thế mà chúng nỡ mở mồm nói gở như vậy.
Sà-lan cảnh sát quay mũi rẽ sóng hướng về đất liền. Tất cả chúng tôi đứng trên sạp nhìn theo. Có lẽ ai cũng như ai, nỗi buồn sâu lắng tận đáy lòng hiện lên nét mặt từng người, tất cả buồn xé ruột, im lặng trong nắng chiều giữa biển khơi.
Tôi đứng trên sạp, vòng tay ôm lấy vợ và 3 đứa con rất lâu để an ủi vợ con hay an ủi chính mình. Tôi biết vợ tôi buồn, buồn lắm lắm, bởi từ giờ phút này, hy vọng được nhìn thấy cha mẹ già, các dì các cậu lần cuối cùng, thăm mảnh đất quê hương nghèo khó, nơi có mồ mả ông bà tổ tiên, nơi có bờ tre, ruộng lúa, con trâu của một thời thơ ấu gắn bó trước khi rời Việt nam chấm hết.
Ngày ấy, không ai dám hy vọng và nghĩ rằng sẽ có một ngày trở về Việt nam thăm quê hương, bởi vì từ tháng 4-1975, những người vượt biên đều bị chính phủ Việt nam lên án, chửi rủa rất tàn tệ bằng đủ những từ xấu xa, bẩn thỉu nhất. Họ gọi tất cả người Việt sống ở nước ngoài là bọn phản động lưu vong, lười biếng bám đít đế quốc, cặn bã của xã hội.
Giờ đây thuyền chúng tôi ra đi theo hướng của bọn lưu vong cực kỳ phản động, vậy ai dám hy vọng có ngày về, trừ khi chế độ ấy sụp đổ.
Trời bắt đầu chạng vạng, màn đêm ập xuống. Chủ thuyền, tài công không dám mạo hiểm ra khơi. Đêm ấy, ba thuyền thả neo gần đảo Ngọc nghỉ lại, sáng mai sẽ ra đi. Khoảng nửa đêm, chúng tôi đang ngủ, bỗng nhiên tiếng xuồng ca-nô từ đâu dội lại, sóng đánh vào mạn thuyền, thuyền tròng trành, chao đảo, tất cả bừng tỉnh, chưa hiểu đầu cua tai nheo, đã thấy 6-7 tên sï quan và lính biên phòng đảo Ngọc từ xuồng máy nhảy lên thuyền, một tay lăm lăm khẩu AK, một tay chiếc đèn pin soi vào mặt từng người chúng tôi với giọng nạt nộ:
- Điện khẩn chúng tôi vừa nhận được (?) có 3 thuyền vượt biên trái phép, tất cả phải ngồi im, chống cự sẽ bị bắn. Chúng tôi kiểm tra giấy tờ!
Làm gì còn giấy tờ tùy thân, lên thuyền tất cả là con số không: Không tên tuổI, không tổ quốc, không nghề nghiệp, chỉ là rác rưởi bị chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam quét ra biển. Bây giờ chúng tôi trở thành kẻ vượt biên bất hợp pháp. Trẻ con sợ hãi, co rúm, bám chặt, nép sát vào cha mẹ. Người lớn ngơ ngác, vừa sợ vừa căm phẫn, nhưng không biết làm gì hơn, đành ngồi yên. Ba tên công an vũ trang biên phòng đứng chặn mũi thuyền và buồng lái, 4 thằng còn lại xuống khoang, soi đèn pin vào mặt từng người, quát:
- Giấy tờ đâu?
- Ai là chủ thuyền?
Khoang thuyền chật ních, tất cả chúng tôi ngồi bó gối, ôm đàn con, ồn ào như ong vỡ tổ, trẻ con khóc thét lên, nhiều cụ già chắp tay cầu trời khấn phật phù hộ độ trì tai qua nạn khỏi.
- Công an ngoại kiều thu hết giấy tờ trước khi lên thuyền.
- Làm gì còn giấy tờ mà kiểm tra.
- Hỏi đại úy Hùng, ông ta là người thu giấy tờ.
- Chủ thuyền đâu?
- Dạ, tôi đây.
- Theo chúng tôi lên gặp ban chỉ huy.
Chủ thuyền, A Sùi-A Thụy- phải theo chúng lên đảo, “thương thuyết” gần một tiếng chúng mới chịu “ăn” 5 chỉ vàng mà chủ thuyền “nôn” ra để chúng tôi được “coi như có giấy tờ, vượt biên hợp pháp!” Số vàng này, sau đó, nhà thuyền lại bổ vào đầu thuyền nhân.
Sáng sớm hôm sau, 17-6, mới gần 5 giờ, mặt trời đỏ như hòn than hồng từ từ nhô dần lên khỏi mặt biển, to tròn như cái nong. Phương đông hửng sáng, giát vàng trên nền trời. Vài dải mây trắng mỏng như lụa vắt ngang, báo hiệu một ngày đẹp trời. Khung cảnh thật đẹp, nhưng tâm trạng đâu mà ngắm bình minh trên biển.
Thuyền nhổ neo giã từ hải phận Việt Nam, bồi hồi khôn tả. Thế là hết. Vĩnh biệt! Vĩnh biệt những kỷ niệm vui buồn, vĩnh biệt mồ mả tổ tiên, vĩnh biệt những ngày xưa thân ái. Vĩnh biệt!
Ba thuyền, chỉ có thuyền tôi có buồm và có chiếc máy nổ 25 mã lực. Tiếng máy nổ bành bạch, đẩy nước, đưa thuyền tôi về phía trước chậm chạp như con ốc sên bò giữa biển khơi. Chậm còn hơn không, đến 2 giờ chiều, hai chiếc thuyền buồm rớt lại phía sau chỉ còn như một chấm nâu trên mặt biển. Tài công, một ông già ngườI Việt, ngoại 60, sâu rượu và khó tính, tất cả thuyền nịnh ông hơn nịnh bố già. Biết tính mạng hơn 200 con người trong tay, ông vòi vĩnh, chẳng ai dám trái ý.
Trưa ngày 18-6-1979, vợ con tôi cũng như nhiều phụ nữa và trẻ con khác say sóng, nôn mửa, nằm bệt dưới khoang, tôi đang loay hoay lau chùi dọn dẹp, lấy thuốc chống say cho vợ con, bỗng nhiên nghe tiếng loa phóng thanh oang oang:
- Không được vi phạm hải phận của chúng tôi.
Tất cả mọi người choàng tỉnh.
Tôi vội lên sạp thuyền xem sự thể ra sao.
Một tàu chiến hải quân Trung Quốc đang áp sát dần thuyền chúng tôi, trên boong tàu, thủy thủ Trung Quốc trong quân phục hải quân, lăm lăm tiểu liên, một dàn đại liên, đại bác chĩa nòng vào thuyền, một sĩ quan tay cầm loa phóng thanh nói bằng hai thứ tiếng Việt và Quảng rất rành rọt:
- Yêu cầu thuyền các ông không được xâm phạm hải phận chúng tôi. Phải rời ngay hải phận, không sẽ bị tiêu diệt.
Tôi không thể tin được tai mình.
Đây, đồng bào, đồng chí của tổ quốc Trung Hoa vĩ đại của chúng tôi ư? Mới ngày 15-6 khi chưa rời bến Máy Chai, chúng tôi vẫn được chính quyền Đặng Tiểu Bình trên Đài phát thanh Bắc Kinh khoác cho chiếc áo Hoa kiều yêu nước với biết bao mỹ từ tươi đẹp, kêu gọi hồi hương.
Giờ đây thuyền chúng tôi mới mấp mé hải phận “tổ quốc vĩ đại, thân yêu”, chính hải quân của Đặng Tiểu Bình đe dọa nổ súng, tiêu diệt nếu thuyền không rời xa lãnh hải. Hơn 200 người trên thuyền là người dân vô tội, đàn bà trẻ con, không tấc sắt trong tay.
Khi tàu hải quân Trung Quốc áp sát, chúng tôi già trẻ lớn bé hơn 200 người đứng lố nhố trên sàn thuyền, tất cả đăm đăm nhìn bọn họ. Những mũi súng máy của lính hải quân chĩa thẳng vào chúng tôi như sẵn sàng nhả đạn.
Trước khi ra đi, chúng tôi thường nghe BBC Việt ngữ, anh Đỗ Văn đưa tin, rất nhiều thuyền tỵ nạn gặp tàu nước ngoài đuợc cứu trợ, đưa đến nơi an toàn.
Không ngờ, thuyền chúng tôi gặp tàu hải quân Trung Quốc. Họ không cứu giúp lại tìm mọi cách đẩy chúng tôi ra xa hơn giữa trùng dương nguy hiểm.
Họ là ai? Họ chính là người Trung Quốc, là đồng bào, trong huyết quản họ và chúng tôi có chung dòng máu Trung Hoa. Sao họ tàn ác đến như vậy?
Họ là người hay loài mãnh thú?
Chủ thuyền bảo, “Chúng tôi, Hoa kiều Việt Nam tỵ nạn đi Hong Kong, vì thuyền mỏng, nhỏ bé, đông người, sợ đắm, chỉ xin được chạy sát bờ, chứ không dám xâm phạm đất liền.” Loa phóng thanh vẫn sa sả đuổi và đe dọa. Tài công đành phải lái thuyền xa bờ, sợ sóng tàu làm thuyền chìm. Tất cả chúng tôi căm lắm, chửi rủa chúng cùng bè lũ Đặng Tiểu Bình thậm tệ sau khi chúng đi xa.
Mùa mưa bão ờ Vịnh Bắc bộ bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10 dương lịch.
Chúng tôi vượt biển giữa tháng 6, đúng mùa giông bão, vì thế hầu hết các thuyền đều gặp bão. Nửa đêm ngày 19-6-1979, thuyền chúng tôi gặp cơn giông.
Gió rít, mưa xối xả, quất từng đợt áo ào như thác đổ lên thuyền. Những đợt sóng lớn đổ ập lên sàn, lòng thuyền đầy nước. Thuyền chao đảo, nghiêng ngả, trồi lên, ngụp xuống. Tôi cùng ba người thi nhau tát nước ngập dưới khoang. Mưa vẫn xối xả, gió vẫn lồng lộn, cột buồm kêu răng rắc như muốn gãy. Các cụ bà trong khoang thắp hương, đốt vàng mã, đốt tiền, thả gạo xuống mặt biển qua cửa sổ, cầu Trời khấn Phật phù hộ độ trì tai qua nạn khỏi. Tiếng trẻ con khóc thét, tiếng gọi nhau í ới, nước tràn xuống khoang, khói hương khói vàng mã của các bà các cụ tạo lên cảnh hỗn loạn xô bồ khủng khiếp trước giờ thuyền đắm. Tất cả các bà mẹ ôm chặt con trong vòng tay, họ đều nghĩ, nếu thuyền đắm, cùng chết chứ không xa nhau.
Thuyền vẫn chao đảo, nghiêng ngả, mũi thuyền chồm lên, chúi xuống như người say rượu vấp ngã trong cơn giông, đàn ông lên hết sạp thuyền ứng cứu.
Tiếng tài công hét trong gió bão:
- Chặt cột buồm mau.
- Rìu ở đâu? Tiếng ai đó thét lên.
Lại có tiếng thét trong gió bão:
- Chặt dây, hạ buồm trước.
- Dao ở đâu?
Chúng tôi hoảng loạn, thuyền sắp đắm, tưởng như vô vọng. Vừa lúc đó một thuyền đánh cá Trung Quốc ào tới, áp mạn thuyền, 2 người đàn ông lực lưỡng nhảy sang tay cầm dây chão bằng ni-lông giúp thuyền chúng tôi áp sát vào thuyền họ. Sau nhiều phút vật lộn, họ đã kéo thuyền chúng tôi thoát ra khỏi cơn giông. Kéo đến gần thị xã Bắc Hải, nhìn thấy ánh đèn biển mới cắt dây. Họ yêu cầu trả công 5 chiếc đồng hồ Liên-xô và 2 thùng phuy 200 lít dầu ma-dzút. Không có họ, chắc chúng tôi đêm ấy đã làm thần dân của Thần Nữ biển Nam Hải, đâu có ngày được tuyên thệ làm thần dân của Nữ Hoàng Elizabeth đệ Nhị tại London.
Thuyền chúng tôi đậu lại, tất cả ngủ vùi, sau một đêm hoảng loạn.
Sáng hôm sau, một chiếc ca-nô hải quân Trung Quốc chạy đến, hai sĩ quan lên làm việc với chủ thuyền. Họ đưa tập giấy, yêu cầu chúng tôi phải khai tên tuổi, nghề nghiệp, số người trong gia đình trên thuyền. Khai xong, họ kéo chúng tôi vào bến.
Bờ biển Bắc Hải đầy người và gần 10 thuyền người Việt đang neo đậu chờ sửa chữa nằm la liệt trên bến. Tôi gặp gia đình chị Thủy, quen từ hồi còn vật vạ ở bến Tam Bạc. Thuyền anh chị xuất cảnh trước chúng tôi cả tháng, tưởng đã đến Hong Kong, không ngờ gặp ở đây, ngay bến Bắc Hải này. Anh chị kể, thuyền cũng gặp cơn giông, được thuyền đánh cá kéo, cũng phải sửa thuyền, 2 tuần trước, xuất bến đi được 2 ngày, va phải đá ngầm, may không đắm, lại thuyền đánh cá kéo về bến. Vừa kể, chị vừa chắp tay như thể vái Trời Phật đã rủ lòng thương, cứu gia đình anh chị tai qua nạn khỏi.
Anh chị dắt chúng tôi về lán. Gọi là lán, thực ra là 4 mảnh vải mưa đem từ Việt Nam, kiếm mấy cái cọc cũ của người xuất bến bỏ lại, buộc túm quây 3 bên làm chỗ che mưa che nắng cho đàn con. Chiếc chiếu đôi trải ngay xuống nền đất làm giường. Anh chị nhường tôi một khoảng đất sát bên, làm lán. Chị bảo, dân đây cũng nghèo, bán bất cứ thứ gì họ cũng mua. Riêng gạo, thực phẩm bán tự do đầy chợ, mua bao nhiêu cũng được, khác Việt Nam ghê lắm. Bến Bắc Hải này đắt nhất là củi đun, tằn tiện ngày nấu 2 bữa cũng mất 50 xu (1 tệ =100 xu). Cuối bãi có xưởng cưa, xẻ gỗ đóng và sửa thuyền nhưng họ không cho dân tị nạn mình kiếm củi và lấy mùn cưa.
Chị ghé sát vào tai nhà tôi thì thào:
- Buổi trưa chúng nghỉ, mấy cháu nhà cô chú có thể lấy trộm mùn cưa và củi vụn được đấy. Mai thuyền anh chị xuất bến, bếp đun mùn cưa anh chị cho, khỏi phải tìm.
Tất cả thuyền chúng tôi đều là thuyền vận chuyển, thuyền đánh cá của các hợp tác xã thanh lý. Đồ thanh lý không đảm bảo an toàn hoạt động, họ đem bán cho chúng tôi. Các chủ thuyền tham rẻ, mua, làm phương tiện chở người vượt biển. Chính phủ và công an ngoại kiều Hải Phòng biết thuyền không an toàn, nhưng làm ngơ. Tính mạng hàng vạn người vượt biển không là gì với nhà nước CHXHCN Việt Nam. Chính vì thế, hầu hết thuyền ở miền Bắc chỉ sau vài ngày trên biển đều phải sửa chữa không thể tiếp tục cuộc hành trình.
Những ngày thuyền tôi sửa chữa ở bờ biển Bắc Hải cũng nhờ hai thằng con đỡ được khá tiền. Chủ thuyền chỉ phát gạo, một thứ gạo mọt mua từ Hải phòng, còn thực phẩm tự túc. Trước khi đi, tôi mua 10 kg lạp-xường dự trữ. Những ngày ở Bắc Hải, ăn nhiều lạp-xường đến nỗi hơn chục năm sau hễ ngửi thấy mùi lạp-xường là muốn ói.
Hơn 3 tuần nằm vật nằm vạ ở Bắc Hải, gia đình tôi bán nốt những gì còn sót lại. Dân Bắc Hải thời ấy cũng nghèo, cái gì họ cũng mua, từ đồng hồ, máy ảnh, kể cả quần áo cũ, chăn màn, giày dép… và họ cũng tìm cách mua với giá thật rẻ.
Thời bấy giờ, Đặng Tiểu Bình đã có những đường lối kinh tế đổi mới, mở cửa, nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển. Lương thực thực phẩm đã bán tự do bên cạnh các cửa hàng phân phối theo tem phiếu, nhiều mặt hàng mua chợ rẻ hơn mua cửa hàng mậu dịch rất nhiều. Riêng bến Bắc Hải này đắt nhất là củi. Đúng theo nghĩa “củi quế”. Nhà tôi, 5 mạng, chỉ tính tiền thức ăn thật tiết kiệm một ngày 1 Nhân dân tệ thì tiền củi phải 5 hào, có nghĩa là nàng nửa số tiền ăn. Bán nốt chiếc máy ảnh Zennit của Nga, đồng hồ đeo tay của vợ, màn tuyn, chiếc mũ cà tàng và chiếc va-li cùng chiếc áo len cho cậu Lý A Sinh, cái gì bán được đều bán sạch.
Cả nhà nằm bờ nằm bụi chờ sửa thuyền, ngày nào cũng đảo qua xem thuyền sửa đến đâu. Hơn hai tuần, thuyền vẫn chưa sửa xong, xem ra có khi hàng tháng, lâu nữa tiền đâu ra. Cuộc sống khốn khổ trăm bề.
Dân miền Bắc ai cũng biết bếp đun mùn cưa hay đun vỏ trấu, nhưng có thể bà con miền Trung hay miền Nam có thể chưa hiểu. Bếp đun mùn cưa hay vỏ trấu như sau:
Một hộp sắt tây tròn (hoặc đắp đất) đường kính tối thiểu cũng phải từ 18 đến 20 phân (cm) trở lên, một đầu còn nguyên đáy, đục khéo phần thân sát đáy 1 hình chữ nhật hay hình vuông để cho những thanh củi chẻ nhỏ làm mồi lửa. Lấy 1 vỏ chai để chính giữa, đổ mùn cưa hay vỏ trấu xung quanh, nén thật chặt, rút vỏ chai, khoét 1 lỗ ngay phần cửa của lon hộp. Đặt kiềng lên trên hay kê gạch sao cho cao hơn miệng hộp là thành chiếc bếp. Đây là cách làm thông thường của dân thị xã, thành phố miền Bắc khi cuộc sống thiếu đủ thứ trong một xã hội Xếp Hàng Cả Ngày – XHCN-.
Túng phải làm liều, khi xưởng nghỉ trưa, vợ tôi đưa mỗi đứa con cầm cái rá, xúc trộm mùn cưa, con chị đi kiếm xung quanh, nhặt vài miếng gỗ vụn rồi ù té chạy. Coi như một ngày không phải mua chất đốt, tiền ấy bù vào bữa cơm đạm bạc của đời tỵ nạn. Đứa lớn mới lên hơn 6 tuổi, đứa bé lên 4 đã phải hành nghề ăn trộm mùn cưa! Thật là đau đớn! Đến nay, ôn lại chuyện cũ các con tôi vẫn nhớ. Con chị bảo, có lần đang lò mò tìm củi, bị một bà túm áo, sợ quá, phát khóc. May có anh thanh niên nói gì với bà kia nên tha. Từ đó trước khi nghỉ, người thanh niên kia vẫy tay gọi 3 đứa con tôi lại, cho lấy 2 rá mùn cưa và dăm que gỗ vụn.
Bến Bắc Hải có lúc đông hơn ngàn người, nằm vật nằm vạ, mưa nắng bất kỳ nên nhiều người ốm. Ngay đầu bến, chính phủ địa phương lập trạm y tế. Sau thời gian ăn ở mất vệ sinh, vợ tôi bị mắc bệnh viêm gan siêu vi trùng. Trước khi rời Việt Nam, tôi chuẩn bị khá đầy đủ thuốc, từ kháng sinh, sinh tố, cảm cúm, thuốc chống say đếu có, kể cả ống nghe, dụng cụ tiêm chủng. Bệnh do siêu vi trùng không có thuốc đặc trị, chỉ cần nâng cao thể trạng ăn uống đầy đủ, sau 2 tuần bệnh sẽ thuyên giảm. Tưởng trạm y tế dựng lên để giúp đỡ dân tỵ nạn, tôi mang thuốc bổ và sinh tố đến nhờ họ tiêm, ai ngờ tiêm xong hai mũi, họ đòi 4 hào tiền công. Một chiếc bánh bao nhân thịt có 2 xu, giúi 2 mũi tiêm chưa đầy 2 phút, 4 hào, 20 cái bánh bao! Đắt quá! Ấy mới chỉ tiêm hộ, nếu cả thuốc nữa, có lẽ “nhổ cả răng” cũng không đủ tiền trả! Hai mươi chiếc bánh bao nhà tôi ăn sáng 4 ngày. Cạch, chẳng bao giờ đến trạm xá nữa!
Hơn ba tuần, thuyền tôi mới sửa xong.
Kỳ này lão chủ thuyền A Sùi –A Thụy- nhận thêm bảy gia đình nữa nại cớ lấy tiền trả công sửa chữa và thuê kéo đi Hong Kong. Thuyền đã chật, nay chật thêm, nhưng đành chịu, vì có tàu kéo, vừa an toàn vừa đi nhanh hơn, nên chúng tôi không phản đối. Cơn giông đêm 19-6 chúng tôi vẫn nhớ, sợ đến hôm nay.
Nhờ có tàu kéo, thuyền chúng tôi gặp 2 cơn bão lớn bán đảo Lôi Châu và Tam Quang mà không đắm. Đến gần Ma Cao, thuyền kéo cắt dây, chúng tôi không rẽ vào Ma Cao đi thẳng Hong Kong.
Nửa đêm 30-7-1979 nhìn thấy ánh đèn Nê-ông nhảy múa trên các tòa nhà cao tầng ở Hong Kong.
Chúng tôi đã sống, đã đến chân trời tự do.

Chú thích:
(3), (4) Thời ấy, tất cả bằng lái xe do trung tá Trần Đông ký.
(5) Bác sĩ Trần Duy Hưng chủ tịch Thành phố Hà Nội

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80825
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46238 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 26th, 2017, 1:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Postby DaMinhChau » April 24th, 2017, 2:30 pm


Chương 4

Kho Đen



Vua quan ở đất nhà bay
Dù xe ngựa cưỡi đến đây cũng hèn.
Nửa đêm, thuyền chúng tôi cách Hong Kong hơn hải lý mà đã nhìn thấy rõ ánh đèn màu nê-ông rực rỡ, nhấp nháy, nhảy múa trên các toà nhà cao ngất. Hong Kong! Thương cảng thế giới! Hòn ngọc của thế giới đang sừng sững trước mắt mọi người! Sống rồi bà con ơi! Nhiều người vui quá nhẩy lên như đứa trẻ. Tôi ôm lấy nhà tôi và đàn con, run giọng thì thầm: “Sống rồi! Hương Cảng đấy! Mình và các con thấy chưa?”
Tất cả lên sạp thuyền, hướng về ánh đèn nê-ông nhìn chằm chằm, nét mặt rạng rỡ, tươi tỉnh, ồn ào bàn tán. Thanh niên túm tụm từng đám, chỉ chỉ chỏ chỏ, tiếng Quảng xen lẫn tiếng Việt át cả tiếng máy nổ bành bạch. Thuyền vẫn lầm lỳ, chậm chạp tiến về ánh đèn màu. Mấy cô gái trẻ lấy lược ra chải, có cô nhanh tay múc nước nóng trong chảo trên bếp lò than đỏ lửa gội đầu, lấy trộm nước ngọt trong thùng phi ra tắm rửa.
Một chiếc xuồng cảnh sát Hong Kong rẽ sóng lướt tới, ánh đèn pha loang loáng rọi vào thuyền chúng tôi. Họ nói qua loa phóng thanh cầm tay bằng hai thứ tiếng, tiếng Quảng và tiếng Anh, yêu cầu thuyền tắt máy, thả neo. Hai viên cảnh sát lên thuyền làm việc với chủ thuyền, rồi họ về xuồng, rồ máy tăng tốc quay lại bờ.
Chủ thuyền báo cho bà con biết, thuyền thả neo, đợi sáng mai sẽ có tầu cảnh sát kéo vào bến.
Cả đêm chúng tôi thao thức mong đợi và hy vọng. Hy vọng gì cũng chưa rõ, tất cả mới chỉ là điểm bắt đầu, tương lai còn ở phía trước.
Sáng hôm sau, xuồng cảnh sát Hong Kong kéo chúng tôi vào bến Kho Đen. Trời đất! Thuyền tị nạn Việt Nam chật bến, toàn thuyền cũ nát, to nhỏ ngổn ngang vài chục chiếc không người, đậu ngang dọc sát nhau, lộn xộn, không theo hàng lối nào, buộc vào nhau bập bềnh lắc lư theo sóng nước. Đó là những thuyền bỏ không, gạo thực phẩm khô rơi vãi trong khoang, chờ tầu cảnh sát kéo ra khơi để đánh đắm. Khó khăn và vất vả lắm, thuyền chúng tôi mới ghé sát bến.
Trên sân Kho Đen hàng trăm người Việt già trẻ lớn bé, nam nữ đang tranh nhau, kẻ hứng nước vào xô, người cởi trần tắm, người giặt, tiếng gọi nhau í ới, tiếng cãi nhau loạn xạ, tất cả tạo lên một không gian hỗn loạn xô bồ.
Kho Đen!
Ai đã từng ở trại tỵ nạn Hong Kong không thể nào quên trại Kho Đen. Đây là nơi đầu tiên tiếp nhận các thuyền tỵ nạn và cũng là nơi nhiều tai tiếng nhất về sự đối xử dã man, vô nhân đạo của cai ngục Hong Kong đối với thuyền nhân từ Bắc đến Nam chạy trốn cộng sản Việt Nam.
Tên thật của kho là gì có lẽ chẳng ai biết. Người ta quen gọi là Kho Đen, bởi vì nó trước kia là một tổng kho chứa hàng và sơn màu đen. Kho này gồm 7 (?) nhà kho nằm ngay sát bến, vì thế chúng tôi đều gọi là trại Kho Đen. Nhà kho rất lớn, nay bỏ không, sức chứa mỗi kho tới hàng ngàn người. Kho cuối 2 tầng, sát hàng rào, có cửa sổ, nhưng nhỏ hơn. Kho này là nơi hàng lậu tuồn vào và dân tỵ nạn trốn trại đi buôn. Chính sự lộn xộn này, nhiều đêm cảnh sát dựng chúng tôi dậy bắt xếp hàng điểm danh lúc nửa đêm.
Có khi điểm danh đến 3 lần, ngồi xếp hàng gần 2 tiếng giữa sân nắng chang chang vẫn chưa xong, trẻ con khóc váng giời vì nóng nực. Cảnh sát nổi nóng, văng tục om sòm, mặt mày bặm trợn, tay lăm lăm dùi cui, đi lên đi xuống, ngó ngó nghiêng nghiêng, nó tìm ra thủ phạm chắc nhừ xương.
Hàng ngày chúng cho chúng tôi ra sân 3 lần, sáng, trưa và tối, y như tù nhân, nhưng không đóng cửa, vì đóng cửa kho, chắc chết ngạt. Hết giờ tắm giặt, ai chậm chân nó lấy dùi cui phang ngay, nhiều người già ngã dúi dụi vì chạy không kịp, trẻ con khóc váng trời vì sợ.
Thuyền chúng tôi lên bờ, được gắn cho một tên mới, 807. Đó là số thuyền – theo thứ tự nhập cảnh – tất cả chúng tôi đều được gọi là Zdịt-nàm-nhằn, từ giờ trở đi không còn phân biệt người Hoa, người Việt, người Bắc, người Nam. Tất cả đều bình đẳng với chiếc áo mới mà cảnh sát Hong Kong khoác cho: Người Việt Nam Nhập Cư Bất Hợp Pháp.
Ngồi xếp hàng ngay trước sân Kho Đen nhìn ra biển, một sĩ quan cảnh sát thông báo những quy định của trại Kho Đen bằng tiếng Quảng và bằng tiếng Anh. Nội dung đại để như sau:

Phải nộp tất cả những vật dụng nguy hiểm: dao, kéo, súng, chất nổ, chất cháy kể cả diêm và bật lửa;
Cấm lửa trong mọi trường hợp. Điều này gây khó khăn cho các gia đình có cháu bé cần có chế độ dinh dưỡng riêng như bột, cháo… và dân nghiền thuốc lá, thuốc lào;
Cấm trốn khỏi trại dưới mọi hình thức;
Ngày 2 buổi được phát cơm do nhà thầu đưa đến;
Có thể điểm danh bất thường ngày cũng như đêm;
Cấm gây lộn xộn, cấm đánh chửi nhau.

Thuyền chúng tôi được chỉ định vào kho 1 sát ngay cổng chính. Sau khi tìm chỗ để đồ đạc xong, chúng tôi được lệnh ra xếp hàng ngoài sân làm thủ tục tổng vệ sinh trước khi làm thủ tục nhập cảnh bất hợp pháp.
Nhân viên y tế mặc phòng hộ che kín từ đầu đến chân. Họ chia ra từng nhóm hai người, một người cầm bình xịt thuốc, một người cầm vòi nước. Họ gọi từng gia đình đến làm tổng vệ sinh. Đến lượt gia đình tôi xếp hàng ngang trước hai nhân viên y tế. Đầu tiên, bắt chúng tôi cúi đầu xuống và nhắm mắt lại, họ vừa lầu bầu chửi quân “Zdịt-nàm bẩn thỉu, đầu tóc quần áo toàn chấy rận”, vừa đổ lên đầu chúng tôi một thứ dung dịch thuốc cảm giác như phải bỏng, rồi ra lệnh chà xát toàn đầu. Các con tôi khóc thét lên, giẫm chân đành đạch như bị dội nước sôi, mắt cay xè. Vợ chồng tôi vừa ôm chúng vừa chà thuốc vào tóc cho thuốc ngấm vừa dỗ dành, an ủi. Khoảng vài phút, họ xả vòi nước vào tất cả chúng tôi.
Khi thuốc diệt chấy đã trôi đi, họ xịt một loại thuốc sát trùng màu đục như sữa, mùi rất khó chịu lên toàn bộ người (không cởi quần áo). Sau đó họ lạI xả vòi nước cho thuốc trôi đi, xong chúng tôi về kho thay quần áo.
Cứ thế, hết gia đình này tiếp gia đình khác, cuộc tổng vệ sinh có một không hai ở Kho Đen kết thúc cũng là lúc đến giờ phát cơm bữa trưa.
Phải nói nhà thầu cơm cho trại Kho Đen đã ăn chặn cơm của chúng tôi, bởi vì số người từng thuyền khác nhau, có thuyền hơn 100 người, có thuyền gần 200 như thuyền tôi 234 người, nhưng khẩu phần các thuyền na ná giống nhau: Một thùng cơm, một nồi thịt, một nồi rau. Có nghĩa là thuyền nào đông như thuyền tôi thì đói dài dài, làm gì đủ cơm chia theo tiêu chuẩn. Cho nên chuyện đánh nhau, tranh giành nhau từ muổng cơm đến miếng thịt, cọng rau không thể tránh khỏi.
Vì sự lộn xộn này, đám cai tù càng được thể chửi chúng tôi là bọn vô liêm sỉ, tranh nhau từng cọng rau, miếng thịt. Chủ thuyền phân công, cứ 3 gia đình chịu trách nhiệm chia cơm một ngày, hết lượt tiếp tục quay lại. Một lần tôi tham gia với hai anh nữa, chúng tôi toàn dân trói gà không chặt nên chuyện chia cơm là một thử thách quá lớn. Để mọi người không dị nghị, gia đình vợ con 3 chúng tôi chia sau, nhưng khi còn gần 30 chục suất cơm nữa, thùng cơm gần hết. Chết cha rồi, làm gì còn cơm mà chia như lúc đầu. Thế là 3 thằng chúng tôi, -thằng chia cơm, thằng chia thịt, thằng chia rau-, bị bà con chửi té tát cho một trận vì chia không đều. Đến lượt vợ con chúng tôi không được đến 1/2 tiêu chuẩn, vợ tôi cằn nhằn vì đàn con đói, lại còn bị nghe chửi. Buồn quá, may tôi chỉ có làm một lần nghề chia cơm bất đắc dĩ.
Được hơn tuần, họ thay đổi chế độ ăn, sáng phát cơm, chiều phát bánh mì và thịt hộp. Tiêu chuẩn 1 người 2 lát bánh mì, 5 người 1 hộp sữa đặc, 5 người 1 hộp dzăm-bông 400 gr, 2 người 1 quả cam. Tiêu chuẩn này, ngày nay đối với chúng tôi thì no, nhưng thời ấy quả là đói.
Thuyền tôi có anh Đức, cựu cầu thủ bóng đá của đội Tổng cục Đường sắt đã từng sang Nga, Tiệp tập huấn. Anh bảo, “Bánh mỳ này ngon tuyệt, hơn hẳn thứ bánh mỳ mà anh từng được ăn.” Ấy thế khi ra tự do, tôi mới biết bánh mỳ họ phát ở Kho Đen thuộc loại rẻ tiền nhất.
Người lớn buổi sáng có thể hít không khí, còn trẻ con không thể tập thể dục để thay bữa sáng. Vì thế bữa tối, tôi và nhà tôi mỗi người ăn 1 lát bánh, để dành 2 lát và hộp sữa đặc cho 3 đứa có quà sang mai. Hầu như gia đình có con trẻ đều phải làm như vậy. Khổ nhất là trẻ dưới 12 tháng, chúng phải có chế độ dinh dưỡng khác, nhưng đây là trại tạm giam người nhập cư bất hợp pháp, nên trẻ em và người lớn bình đẳng về nuôi dưỡng. Có gia đình kế bên, bất chấp lệnh cấm, anh chị lấy bếp dầu (giấu kỹ lắm) ra quấy bột hoặc nấu cháo cho con, có lần đang nấu cảnh sát đột ngột vào kho, đành tắt lửa, hỏng cả xoong bột. Bọn buôn lậu tuồn mì ăn liền vào bán 10 gói lấy 1 chỉ vàng. Sau giá mềm hơn, 1 hộp mỳ 30 gói/1 chỉ, vẫn ngoài sức tưởng tượg. Vậy mà nhiều gia đình phải bấm bụng mua cho con ăn.
Đến chiều, chúng tôi lại ra sân xếp hàng chờ phỏng vấn. Nghe thì oai, phỏng con mẹ gì.
Hai bàn kê ngay giữa sân, ba nhân viên hải quan ăn mặc chỉnh tề và một thông dịch viên. Người ngồi chính giữa tay cầm bút, tay tập hồ sơ, gọi từng gia đình lên, hỏi họ tên và tuổi. Không hỏi ngày sinh tháng đẻ, không hỏi nghề nghiệp, nguyên quán… sau đó hất đầu chỉ sang bàn bên. Bàn bên là người làm nhiệm vụ chụp ảnh lấy ngay -ảnh đen trắng-. Chủ hộ chụp riêng, còn vợ con chung nhau một ảnh, rồi ký tên vào hồ sơ. Sau đó mỗi hộ được cấp một chiếc xô nhựa đựng nước, một chậu nhựa, mỗi người một đôi dép lê kiểu Thái Lan. Thế là xong thủ tục nhập cảnh bất hợp pháp. Chính vì chuyện này, nhiều người khi đi định cư nước thứ ba bị hụt tuổi, gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Chúng tôi ở Hong Kong gần 10 tháng, trước khi đi định cư ở Anh nam 1980, bản hồ sơ của gia đình tôi được giữ để trình với cơ quan hữu trách chỉ ghi năm sinh -không có ngày tháng- dựa theo khai tuổi của cuộc phỏng vấn ngày nhập cảnh từ 1979. Có nghĩa là sau 1 năm, chúng tôi là con ma, vì tuổi vẫn giữ nguyên, không già đi! Cầm tờ giấy xuất cảnh mừng quá trời, hơi đâu cãi lý với Cục Di dân Hong Kong, vả lại có giấy tờ gốc gì đâu mà đối chứng. Sau sáu năm, xin nhập quốc tịch Anh, tôi điền vào mẫu khai giữ nguyên năm sinh như Cục Di dân Hong Kong ghi, chỉ điền thêm ngày, tháng và nơi sinh. Chúng tôi cũng không khai đi báo lại, sợ gây phiền hà, vả lại chuyện này cũng chẳng ảnh hưởng đến sinh mạng chính trị cho nên cho qua luôn.
Tất cả đám cảnh sát ở Kho Đen hình như đều từ giới cai tù được đưa đến trông coi chúng tôi thì phải. Bởi vì họ rất ác, rất tàn bạo, bất cứ chuyện gì cũng chửi mà chửi rất độc địa. Đứng đầu là tay trung úy cảnh sát béo -tôi không biết tên-, mở mồm là “đ. m cái l. thối con mẹ mày!” Tôi nhiều lúc cố tình nhìn xem mồm thằng này ăn gì mà chửi độc địa như thế. Không những thế, hễ ai làm điều gì sai, hắn rút dùi cui tẩn liền, không kể đàn bà, người già, trẻ con. Hễ có đoàn nào đến thăm quan hắn đều bôi xấu, kể tội chúng tôi tranh nhau từng xô nước, muổng cơm như bọn chết đói mấy đời. Chúng tôi căm lắm, nhưng không thể làm gì thằng chó đẻ ấy.
Cuối tháng 8, có đoàn của Liên Hiệp Quốc phụ trách về tỵ nạn đến Kho Đen. Rất may gặp được một linh mục người Việt trong đoàn, tôi tố về sự ngược đãi của bọn cai tù này. Vị mục sư an ủi, ông bảo, “bọn này vô học (?)”, chúng coi tù đã quen, hơn nữa chúng ghen tị với chúng tôi vì một thời gian ngắn nữa chúng tôi sẽ được đi định cư ở nước thứ ba, điều mà chúng nằm mơ cũng không có! Năm 1983, tôi gặp một anh vừa từ Hong Kong sang, kể chuyện xưa và nhắc đến thằng chó đểu ấy, anh ta bảo, thằng trung úy béo ấy bị người tỵ nạn mình đâm chết năm 1982 rồi. Tìm không ra thủ phạm.
Đầu vào phải có đầu ra. Đây là chuyện khủng khiếp nhất trong 31 ngày của đời tôi.
Kho Đen là kho cho nên làm gì có nhà vệ sinh. Cảnh sát Hong Kong có sáng kiến cho nhà vệ sinh nổi, dùng những thuyền cũ của tỵ nạn làm “nhà vệ sinh.” Trời ạ! Cả Kho Đen đến vài ngàn người mà chỉ có 2 hay 3 thuyền, mỗi thuyền gần 20 hố vệ sinh. Lần đầu tiên bước chân xuống toilet boat, vừa bước xuống mấy bước đã thấy bao nhiêu “vành khăn” như những con rắn nằm dọc nằm ngang kín mít, nước tiểu lênh láng, không có chỗ đặt chân, mùi xú uế nồng nặc. Tôi theo anh em ra ngay mạn thuyền làm chức “quận công”. Kiểu này cũng rất nguy hiểm, bởi vì mỗi lần có xuồng hay ca-nô đi qua, toilet boat lại chao đi chao lại, nghiêng hẳn, vì số người làm quận công không cân hai mạn thuyền, bám không chặt tòm ngay xuống biển, hứng trọn của quý của chính mình hay của bạn bên vừa thải ra. Mỗi lần nghĩ đến là rùng mình, sởn cả da gà. Tôi ở sát cuối nhà kho, rất kín, nên lấy những tấm gỗ bỏ không, bìa cứng quây lại làm 1 hố xí cho vợ con. Vợ tôi phải tìm mãi mới kiếm được chiếc gầu múc nước của thuyền cũ làm thùng đựng. Sau khi 3 đứa con lần lượt xong, cho vào xô ngụy trang, lấy giấy che kín đi ra sân trước, nhìn trước nhìn sau không thấy cảnh sát, a-lê-hấp cho xuống biển liền. Kế hoạch này chỉ giải quyết được vào ban đêm, ấy thế mà tụi trẻ nhà tôi nó chịu được để đến tối mới trút bầu tâm sự. Hỏi ra chúng bảo sợ lão cảnh sát béo nên cố nhịn. Sau này nghe tin họ đưa nhà vệ sinh di động thay thế toilet boat.
Một hôm, tôi sang kho 2, gặp một anh là giáo viên trường Trung học Trung Hoa Hà Nội, chúng tôi nói chuyện tào lao. Chỗ gia đình anh ngồi rất gần tay thượng sĩ cảnh sát đứng gác. Chúng tôi thấy tay thượng sĩ này không đến nỗi nào, hỏi chuyện làm quen. Tôi hỏi gã, “Tại sao cảnh sát các anh lại đối xử tàn bạo với chúng tôi thế.” Gã cười, trả lời, “Tám tiếng chúng mày còn được nằm, được ngồi, đi đi lại lại, tụi tao cứ phải đứng tại chỗ nhìn chúng mày, hễ chuyện gì xảy ra xếp tao nó đì, có khi bị cúp lương. Tụi mày chỉ khổ vài tháng rồi được sang Mỹ sướng như tiên. Tao nằm mơ cũng chẳng được. Nếu đổi được, tao đổi cho mày, mày làm cảnh sát, tao xuống làm thằng tỵ nạn. Chúng mày có đồng ý không?”
Đông người, lại giữa mùa hè, ăn ở nhếch nhác, bẩn thỉu, hơn nữa sau một chặng đường dài ai ai cũng mệt mỏi, nhất là người già và trẻ em, cho nên người ốm rất nhiều. Ngay kho 2 có một buồng rộng chừng hơn 10 mét vuông -có lẽ là văn phòng cũ- được biến thành phòng khám bệnh. Trong phòng khám có hai y sĩ, một ở đảo Trà Cổ, một ở thị xã Quảng Yên, ra làm thầy thuốc tự nguyện, khám bệnh kê đơn và một y tá (?) người Hong Kong phát thuốc kiêm đón tiếp. Tôi hỏi anh giáo viên, anh ta kể, “Tội nghiệp cho hai anh này, thuyền của các anh ra trại tự do từ lâu nhưng vì không có người thay nên đành chết gí ở đây. Họ đang tìm người làm hình nhân thế mạng để các anh ra tự do.” Tôi hỏi, “Sao y tế của Hong Kong không cử người xuống khám chữa bệnh.” Anh ta bảo, “Cái này xin chịu, biết làm sao mà trả lời.” Tôi hỏi, “Anh ta có được trả thù lao không?” “Trả cái con mẹ gì, may lắm thằng a-xề béo nó cho túi cam, hộp bánh đem về cho con.” Hú vía, tí nữa tôi xung phong làm có mà hết hơi và thật may khi phỏng vấn nó không hỏi nghề nghiệp. Lại một lần nữa “Tái ông thất mã”!
Ghét thằng trung úy béo, thanh niên thuyền tôi thường xuyên giở trò trêu ghẹo, chọc quê hắn, vì chẳng có trò gì tiêu khiển. Cứ thấy y, mấy đám thanh niên nháy nhau ra đứng sát cửa kho vờ chọc ghẹo, cãi nhau, giở tiếng Quảng văng tục y hệt lời nó chửi chúng tôi. Tên trung úy uất lắm, mặt đỏ như gà chọi, cả phiên trực nó cứ đứng lên ngồi xuống đuổi đám choai choai xồ ra xồ vào ngay cửa kho chọc quê. Một lần, nó túm được cậu Sơn, nó rút dùi cui phang tới số, Sơn vừa kêu “Cứu tôi với, cứu tôi với” vừa vùng vẫy, chiếc áo rách toạc mới thoát, chạy vào kho. Chó cắn áo rách, Sơn còn mỗi chiếc áo lành lặn nhất bị rách, cả thuyền ai cũng cười.
Thằng trung úy cảnh giác, không dám đuổi theo, chui vào kho sợ dân tỵ nạn cho no đòn. Dính đòn hội đồng có mà kiện ma. Sơn bị trận đòn khá đau, toàn thân tím bầm, rên rỉ mấy hôm, chẳng ai khen. Đến bữa chia cơm, bác Sâm, kêu:
- “Cứu tôi với” ra lấy cơm.
Cả kho 1 cười vang, từ đó Sơn mang biệt danh, Cứu Tôi Với.
Một buổi chiều, đang nằm khàn, mấy đứa con tôi chạy đến báo tin, chúng vừa cười như nắc nẻ vừa kể. Thằng a-sề bắt được 4 chú hút thuốc lào, nó bắt quỳ xuống, khám túi lấy hết bật lửa phong thuốc và bắt nâng điếu cầy lên đầu. Cái chú cầm điếu cầy, hai tay nghiêng nghiêng dần cho nước điếu đổ xuống, không ngờ nước điếu đổ vào chú Bình. Chú Bình mắng, chú ấy bảo không đổ nước điếu nhỡ nó bắt uống thì chết à!
Trại Kho Đen, nhà tù không ra nhà tù, trại tỵ nạn không ra trại tỵ nạn, trại cấm không ra trại cấm, vì thế cách đối xử của nhóm người cai quản chúng tôi ở đây mang đầy đủ tính cách của bọn lưu manh, đểu cáng, chúng coi chúng tôi như những kẻ tội phạm quốc tế.
Ấy thế mà thuyền chúng tôi phải ở 32 ngày (01-8 đến 03-9) tại Kho Đen. Một quãng thời gian không dài so với cuộc đời nhưng những gì trải nghiệm ở Kho Đen chẳng bao giờ phai mờ trong ký ức.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80825
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46238 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 26th, 2017, 1:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Postby DaMinhChau » April 25th, 2017, 2:01 pm


Chương 5

Trại Khải Đức Đông
hẳng qua chỉ tại Vua Hùng
Sinh ra một lũ vừa khùng vừa điên.
Thằng khôn nó đã vượt biên
Còn lại một lũ vừa điên vừa khùng.
(Đồng dao mới)



Sáng sớm 31 tháng 8, mới gần 6 giờ, chúng tôi được lệnh chuyển trại đột ngột. Tất cả rộn ràng, nhốn nháo chuẩn bị đồ đạc mặc dù chẳng có thứ gì đáng giá. Một đoàn xe tải chở tù, màu sơn đen, thùng xe không bịt, vải bạt được cuốn lên. Chúng tôi ngồi trên hai hàng ghế băng sát thành, một số đứng, đồ đạc để dưới chân. Đoàn xe từ từ lăn bánh ra khỏi Kho Đen.
Như vậy chúng tôi đã được công nhận là người tỵ nạn cộng sản hay còn gọi là “thuyền nhân” (boat people), không còn là kẻ nhập cảnh bất hợp pháp, nay chuyển trại, chờ định cư ở nước thứ ba.
Xe đi quanh co qua những phố xá đông đúc, những dãy nhà cao tầng, những biển quảng cáo bằng điện nhấp nháy, nhảy múa, các cửa hàng bày bán la liệt đủ các mặt hàng làm chúng tôi hoa cả mắt. Lần đầu tiên mọi người nhìn thấy những sạp bán hoa quả bày từng đống táo, cam, lê, nho, mận… cao như núi. Nhìn cũng thấy sướng con mắt, chúng tôi ai cũng nuốt nước bọt. Có gì đâu, 25 năm dưới ‘‘chế độ XHCN tươi đẹp’’ làm gì trông thấy của ngon vật lạ mà chả thèm, chả nuốt nước bọt!
Đúng là số phận thuyền tôi hẩm hiu. Đang hí hửng nghĩ đến chỉ lát nữa là người tự do, không ngờ trại Khải Đức Đông hôm ấy không làm việc.
Ngày 31-8-1979 là thứ Sáu, chả biết ngày gì, văn phòng trại đóng cửa, không có người nhận bàn giao. Đoàn xe lại vòng vo đưa chúng tôi về Kho Đen. Tất cả đều thất vọng và tự nguyền rủa số phận, đi đâu chết trâu đến đấy. Mọi thuyền thường chỉ phải ở Kho Đen 2 đến 3 tuần, thuyền tôi đúng một tháng, ấy thế mà lại “tái hồi Kim Trọng” ngoài ý muốn, tránh sao khỏi buồn. Xuống xe lại chui vào kho 1, bao nhiêu người kho khác xúm lại hỏi duyên cớ. Nào ai biết, chỉ biết ngày mai Thứ Bảy, trại nghỉ tiếp, chúng tôi phải chờ Thứ Hai tuần sau.
Buồn ơi là buồn!
Đã thế mà chiều thứ Bảy, một trận cuồng phong lại ập đến. Gió rít, giật từng hồi, những đợt mưa như dội nước xuống mái tôn ầm ầm như tiếng trống.
Kho 1 run lên bần bật tưởng chừng bị gió cuốn phăng đi. Trẻ con co rúm lại, túm chặt cha mẹ khi những tiếng sấm nổ vang trời, chớp ngoằn ngoèo sáng rực qua khe hở. Cả kho 1 bị mưa hắt và dột, nuớc chảy lênh láng, chúng tôi ai kiếm được tấm gỗ kê lên cao còn hy vọng cho đàn con ngả lưng, còn không đành chịu trận. Mãi đến gần 7 giờ, mưa ngớt, gió bớt giật, xe cơm của nhà thầu mới đến.
Tối ấy chúng tôi được bữa thật no, vì một thuyền cùng kho đã ra tự do, nhà thầu không biết, cứ thế giao như cũ. Chúng tôi cũng tham, nhận luôn chẳng chê, được 2 thùng cơm, 4 nồi thịt và rau chứ không phát bánh mỳ thịt hộp như thường lệ. Mưa rét, lại đói nên chúng tôi ăn hết chẳng thừa chút nào. Đói góp no dồn!
Sáng Thứ Hai 03-9-79, chúng tôi mới được chuyển trại. Lần này xe vẫn đi vòng qua những phố xá nhưng không còn háo hức, hồi hộp như ngày 31-8 nữa. Đoàn xe vào cổng, tất cả chúng tôi tay đùm tay xách, xuống xe và được lệnh xếp hàng đợi trưởng trại. Không chỉ có thuyền tôi, nhiều thuyền khác cũng chuyển tới. Khoảng nửa giờ thêm gần chục xe vào trại.
Hóa ra ngoài trại cấm Kho Đen (detention camp) người tỵ nạn còn bị nhốt ở nhà tù Victoria, nhà tù Chi-Ma-Wan và trại cấm A-Cai-Lau-Cai. So với ba trại kia, người ở trại Kho Đen còn sướng chán.
Anh Hà Quang, một người từng bị nhốt ở nhà tù Victoria –nơi thuở xưa ông Hồ đã ngồi tù- kể, thuyền anh vừa vào lãnh hải Hong Kong bị xuồng cảnh sát kéo vào và tống ngay vào tù sau khi làm thủ tục nhập cảnh bất hợp pháp. Một buồng giam bé tí, họ tống 3 bố con anh và 4 người lớn rồi đóng sập cửa. Phòng bỗng nhiên tối om, hai đứa con anh sợ quá xón đái, tìm nhà cầu không có. Anh đấm cửa ầm ầm, một tên cảnh sát mở lỗ kiểm tra hình chữ nhật ở cánh cửa, quát:
- Chúng mày muốn gì?
- Con tôi muốn đi vệ sinh nhưng không có nhà cầu.
- Chờ đấy.
Khoảng mấy phút sau, cửa hé ra, nó đưa vào một thùng gỗ. Tất cả không chịu, vẫn hò hét. Nó giơ dùi cui ra dọa, tuy sợ nhưng mọi người vẫn la, nhất là trẻ con khóc ầm ĩ, nó đành mở cửa.


Nhưng theo anh Hà Quang, ai ở nhà tù Victoria số phận còn may hơn ở nhà tù Chi-Ma-Wan. Trại tù này nằm trên một hòn đảo nhỏ, quản lí chặt chẽ, rất khó trốn, trốn ra cũng không thể bơi qua eo biển sang đất liền.
Bị nhốt ở trại này, số phận cầm chắc về ông nội (đại lục), bởi vì thấy người từ Việt Nam sang Hong Kong, dân Trung Quốc cũng “té nước theo mưa.” Người Việt gốc Hoa về “ông nội” không kham được việc nông trường, đua nhau bỏ chạy. Chính phủ Trung Quốc mắt nhắm mắt mở, làm căng, con ruồi cũng không lọt chứ đâu hàng ngàn người sang Hong Kong dễ đến thế.

Anh Hà Quang cũng từ nông trường, may còn đủ giấy tờ kể cả bằng lái xe, chứng minh thư nhân dân Việt Nam, nên được ra Khải Đức Đông.
Thuyền Việt Nam mũi thường nhọn hai đầu, trông giống hình vỏ trấu. Thuyền Trung Quốc phía đuôi gần như phẳng, nên cảnh sát Hong Kong nhìn là biết. Thuyền nào của Trung Quốc tống ngay vào nhà tù Chi-Ma-Wan. Bị nhốt trại này khó hy vọng ra tự do.
Từ năm 1980, kinh tế Việt nam bên bờ vực thẳm, Mỹ cấm vận, Trung quốc bao vây kinh tế, lương thực thực phẩm thiếu trầm trọng, giá cả leo tháng đến chóng mặt, nhân dân bất mãn, nhiều nơi biểu tình, bạo động.


Những tỉnh ven biển như HảI phòng, Quảng Ninh tìm thuyền chạy đi Hong Kong. Vượt biên thành phong trào, rầm rộ, gần như công khai. Cán bộ đảng viên, kể cả công an cũng “té nước theo mưa” chạy sang Hong Kong như chảy hội. Thời ấy có câu thành ngữ “Cột đèn biết đi cũng vượt biên”, riêng một xã ven biển Hải phòng, xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, một đêm 30 gia đình ngư dân vượt biên. Người Việt miền Bắc vượt biên sang Hong Kong kéo dài đến giữa thập niên 1990. Nhiều người bị Cục Di Dân Hong Kong trục xuất, về Viêt nam sau vài tháng lại sang, thay tên đổi họ.
Từ sau thời hạn cuối cùng 16-6-1988, tất cả người Việt Nam nhập cư bất hợp pháp đều bị nhốt ở nhà tù Chi-Ma-Wan. Họ được gắn mác “tỵ nạn kinh tế”, không được hưởng quy chế tỵ nạn. Có người bị nhốt rất lâu, phải hồi hương nhưng chính phủ Việt Nam không nhận. Trung Quốc yêu cầu chính phủ Anh giải quyết số tỵ nạn này trước khi Hong Kong trở thành Đặc khu của Hoa lục. Năm 1992, Anh quốc nhận thêm người tỵ nạn ở Hong Kong, đa số là người Hải Phòng và Quảng Ninh.


Tôi quen gia đình có thâm niên 4 năm ở trại này. Họ kể khi gặp Cục Di Dân Hong Kong phỏng vấn, càng nói dối càng được tin và được ra tự do.
Có tay sĩ quan hải quân Bắc Việt, ăn cắp hàng bị tù, ra tù vượt biên, khi phỏng vấn, khai, tù vì chống chính phủ, y được chấp nhận tỵ nạn.
Một giảng viên trường Đại học Bách khoa tham ô tài sản, vợ làm nhân viên sở công an Hải phòng ăn cắp của công, cả hai bị đuổi việc, khi phỏng vấn, khai, bị đuổi việc vì kêu gọi sinh viên chống chính phủ. Trại này rất lộn xộn, trộm cắp hoành hành cướp bóc bà con công khai, các băng đảng đua nhau ra đời, nhiều cuộc bạo động đập phá đốt trại được đài truyền hình Vương quốc Anh đưa tin.

Thân phận tù đã là khổ, nhưng tù ở Việt Nam còn bị cai tù lợi dụng, ít nhất bị bóc lột sức lao động. Năm 1971, viên đại úy trưởng trại giam tỉnh tôi nhân một tháng đầy cữ con trai, mời bác sĩ Khải và tôi đến nhà liên hoan. Chả là vợ anh đẻ bị ngôi ngang sa tay nên bác sĩ Khải, người trực, mổ cấp cứu và tôi là trợ thủ, nay sau một tháng “mẹ tròn con vuông” anh mời chúng tôi, gọi là chút ân tình của gia đình đối với thầy thuốc.

Từ thị xã, chúng tôi đạp xe gần 7 km vào sâu bìa rừng gần trại giam. Thấy chúng tôi, anh ra tận cổng bắt tay thân mật. Nhà anh, một nếp nhà gỗ 5 gian lợp ngói hoành tráng, tất cả các cột nhà tròn to toàn gỗ sến, táu, trai đã lên nước bóng nổi rõ từng đường vân thật đẹp. Tủ chè, bàn ghế, giường model Hong Kong đều bằng gỗ lát hoa, lát chun, toàn gỗ quý hiếm thuộc hàng cấm khai thác, mua bán theo văn bản của nhà nước.
Anh thân chinh bóc gói chè Hồng Đào mới nguyên, pha nước mời. Vài câu chuyện xã giao, vợ anh bế con ra chào, anh dẫn chúng tôi ra xem vườn và ao cá. Vườn anh thật đẹp, toàn cây lưu niên: cam, chanh, hồng bì, nhãn, vải, trồng theo thứ tự từng hàng thẳng tắp và chiếc ao cá đến hơn trăm mét vuông. Xung quanh là hàng tre bao bọc, cơ ngơi vài héc-ta, một kiểu nhà vườn sinh thái đầy mơ ước. Thấy chúng tôi trầm trồ và có ý hỏi với gia cảnh chỉ có hai vợ chồng và 3 đứa con nhỏ làm sao chăm sóc nổi. Anh cười, nháy mắt, nói nhỏ:

- Các cậu ấy giúp đấy.
Chúng tôi hiểu, “các cậu ấy” nghĩa là các tù nhân làm không công cho trưởng trại, bởi vì mỗi lần lễ Tết, nhà nước đặc xá, người đưa danh sách chính là trưởng phó trại giam. Anh chỉ sang góc bên trái, cũng một hàng tre xanh mướt bao quanh khu vườn, một nhà ngói 5 gian, anh bảo:
- Nhà cậu phó trại Minh đấy.
Ngày 31-8-1975, tôi đang ngồi chơi nhà anh bạn ở thị xã, bốn người mặc áo phạm nhân đến hỏi mua lợn, chủ nhà dẫn họ ra chuồng. Người phạm nhân lớn tuổi bảo:
- Tưởng bác có lợn dái (lợn đực giống) hay lợn sề chứ lợn này chúng em chả mua.
Anh bạn tôi cười:

- Mấy anh này lạ thật, lợn dái ăn làm sao được. Nấu xong, gắp lên khác nào đưa tất (vớ) vào mồm, hôi mù mù nuốt không trôi. Lợn sề đẻ dăm lứa dai như da trâu, nhai mỏi quai hàm ăn sao nổi. Các cậu tham rẻ hay sao, toàn hỏi những hàng “đặc sản” như vậy?
Nhìn trước nhìn sau, anh phạm nhân nói nhỏ:
- Các anh tính, cả năm có 2 dịp, lễ 02-9, Tết nguyên đán mới được ăn tươi. Mua thứ như thế, tụi tôi mới có miếng bỏ mồm, vả lại rẻ, mua một thành hai, chứ thịt ngon các cán bộ coi tù không những ăn, còn đem về cho vợ con, chỉ còn ăn lòng, thủ và dăm miếng bèo nhèo là hết cỡ.
Cai tù Victoria, Chi-Ma-Wan, Kho Đen ở Hương Cảng tuy đểu cáng, ma cô nhưng cũng chưa bót lột sức lao động hay tranh cả miếng ăn của người tù như cai tù XHCN rất sành điệu bóc lột gian manh mà không phạm luật.

Vị trưởng trại Khải Đức Đông nói tiếng Quảng, có người thông dịch sang tiếng Việt rõ ràng mạch lạc, ai cũng hiểu. Chúng tôi được lần lượt làm thủ tục nhận vật dụng trại cấp: phiếu lĩnh cơm, số giường (hai người một giường đơn kèm chiếc chiếu), hai người một xô nhựa, một chậu nhựa, mỗi người một đôi dép lê, một bát nhựa, đĩa nhựa. Chúng tôi được xếp vào kho A12. Đến đây coi như thuyền giải tán, chủ thuyền không còn là vị chỉ huy tối cao của chúng tôi. Tuy thế, y vẫn lải nhải đòi tiền bà con, y bảo tiền sửa thuyền ở Bắc Hải quá nhiều, số 22 người nhận thêm vẫn chưa đủ. Thỉnh thoảng y lại triệu tập bà con để họp (họp con mẹ gì?), sau khi kể lể con cà con kê, y lại nhai nhải yêu cầu bà con đóng góp trả nốt số tiền mà y cho chịu (sao lại là chịu?). Nhiều người không họp, lý do ông chẳng là cái đinh gì có quyền bắt chúng tôi họp. Vài lần chán, y đành chửi thầm quân ăn cháo đá bát.
Sân bay Khải Đức là sân bay lớn duy nhất Hương Cảng, không biết vì lý do gì nhường hẳn một phần để lập trại tỵ nạn. Đứng ngay trong sân, nhìn qua hàng rào chúng tôi trông rõ máy bay chạy trên đường băng.
Đầu năm 1979, một khu nhà 4 tầng thuộc sân bay ngay sát đường lộ đã được trưng dụng làm trại, gọi là Pắc Dzềnh (Bắc doanh-trại Bắc), phân biệt với trại chúng tôi Tống Dzềnh (Đông doanh-trại Đông).

Khi chúng tôi đến mới dựng xong A12, cuối năm 1979 có A25 sau đó lại chia ra Khải Tắc Đông A và Khải Tắc Đông B bằng một hàng rào dây thép.

Image



Một nhà (gọi là A), đánh dấu sơn đỏ ngoài cửa, khá lớn. Tất cả đều bằng tôn lá ghép lại, từ mái đến 4 bức tường và 2 cửa ra vào, cột cũng bằng sắt. Mùa hè nóng ơi là nóng, ngang trong lò nướng thịt. Mùa đông lạnh cóng người, như trong tủ lạnh. Chiều ngang kê được 4 dẫy giường 3 tầng, sát hai bên, lối đi ở giữa, khoảng 2 mét, thông hai đầu, chiều ngang chừng 10 mét. Cứ 2 giường sát nhau chừa một khoảng trống hơn một mét làm lối đi và cho người tầng trên lên xuống.

Gia đình tôi được 2 giường gần ngay cửa nên đỡ nóng, rất may được ở tầng 2, tầng lý tưởng nhất. Tầng một thường dành cho người già và gia đình có cháu bé dưới 2 tuổi. Tầng này tuy tiện lợi không phải trèo, nhưng là tầng bị bọn xấu để ý, thường xuyên bị mất đồ. Tầng 3 dành cho người lớn, rất bất tiện, làm bất cứ điều gì ai cũng nhìn thấy. Chuyện riêng tư như phụ nữ thay quần áo cũng thật khó khăn. Mưa, dàn nhạc hỗn loạn gõ lên đầu, mắc bệnh khó ngủ chắc khó chợp mắt, hơn nữa gần mái tôn nên hè nóng, đông lạnh. Tầng 2 lý tưởng nhất, trèo không cao, có cột giường bốn bên, khi cần lấy vải che lại, gia đình có một khoảng tự do không bị ai nhòm ngó trong cuộc sống xô bồ hỗn loạn, chung chạ.
Sự khác biệt giữa trại Khải Đức và Kho Đen như sau:

-Được tự do đi lại, không bị cảnh sát nhòm ngó, chặn ngang hỏi bất chợt. Số lượng cảnh sát ít, thường đứng ở khu văn phòng, khu ra vào, đi kiểm tra quanh trại.
-Nhà tắm, nhà vệ sinh nhiều. Có khu riêng nam nữ.
-Thường xuyên có đại diện của các tổ chức đến thăm, tìm hiểu, lắng nghe những ý kiến và tìm cách giúp đỡ, trong số đó có Sơ Liên. Sơ có khuôn mặt phúc hậu, dễ mến. Những gì đã hứa, lần sau quay lại, Sơ thông báo được hay không. Ra trại tự do, nhưng chưa đi làm, không có tiền mua tem, chúng tôi nhờ sơ gửi thư về Việt Nam.

Chuyện này tuy nhỏ nhưng khá tốn kém, mỗi lần sơ đến, vài chục người chuẩn bị thư chờ sẵn. Nhờ lòng hảo tâm của Sơ, chúng tôi đã thông tin được cho người thân. Ơn này thật lớn, chúng tôi không bao giờ quên, xin cầu phước cho bà.
Cũng nhờ Sơ mà bố vợ tôi, sau khi nhận được thư, lên tận UBND xã tế (chửi) cho chúng một trận.
Chúng tung tin tôi là gián điệp nhị trùng (Mỹ và Trung Quốc), bị đụng xe ô-tô chết ở Hải Phòng, còn vợ con tôi đi bộ từ Hải Phòng sang Thái Lan viết thư gửi bỏ dọc đường có người nhặt được gửi về xã. Chủ tịch xã là cháu, gọi bố vợ tôi là cậu ruột, dám làm chuyện động trời như vậy, huống chi những người khác.

Image


-Trại có phòng chờ, phòng khám bệnh và phát thuốc do bác sĩ và y tá Hong Kong làm việc, đồng thời thuê người tỵ nạn biết tiếng Quảng và tiếng Việt làm thông ngôn.

Bữa cơm đầu tiên mà chúng tôi cảm thấy ngon miệng nhất kể cả đến nay, sau hơn 30 năm định cư, từng dự biết bao bữa tiệc thịnh soạn ở nhà hàng, cuộc đại lễ… mà mỗi khi hỏi đàn con, bữa cơm nào ấn tượng nhất, chúng đều bảo: bữa cơm hộp đầu tiên ở Khải Tắc Đông.
Giấc ngủ ngon nhất đối với tôi là đêm 01-8-1979. Từ khi xẩy nhà ra thất nghiệp, lang bạt kỳ hồ (30-4) sau hơn 3 tháng nằm vật nằm vạ khắp nơi và lênh đênh trên biển, lúc nào cũng ngất ngư, say sóng, cả nhà năm mạng trong một khoảng rộng bằng chiếc chiếu đơn, tôi thường ngủ ngồi hoặc nằm co con tôm. Đêm 01-8 lần đầu tiên ngủ được duỗi thẳng chân, tuy vẫn còn cảm giác bồng bềnh, lắc lư say sóng.

Image


Trưa 03-9-1979, nhà thầu đưa cơm hộp đến, từng hộ gia đình đem phiếu cơm ra nhận phần, mỗi người một suất không kể lớn bé già trẻ trai gái, món ăn lại có 5 món khác nhau. Mấy xe tải có nữ nhân viên phục vụ mặc áo đồng phục, sạch sẽ, nét mặt tươi cười, đon đả, tử tế yêu cầu mọi người xếp hàng trước xe rồi thông báo có 5 loại món ăn, tùy ý lựa chọn.
Mỗi xe đưa cơm có hai cảnh sát đứng quan sát, không nói, nhưng nét mặt thân thiện khác hẳn những nét mặt hầm hầm cau có của những tên cai tù ở Kho Đen.

Nhà tôi 5 suất, lấy 5 món khác nhau, không phải chia chác nhiều ít, hơn nữa chất lượng nhà thầu tốt hơn nhiều so với Kho Đen, có nghĩa là rất ngon nhất là với lũ chết đói chúng tôi. Suất cơm khá nhiều, người lớn ăn cũng cảm thấy no, thế mà các con tôi (đứa bé gần 4 tuổi) vét sạch không thừa một hạt nào.
Thời bấy giờ Hong Kong có rất nhiều trại tỵ nạn vì con số người tỵ nạn lên đến hàng trăm ngàn, nhưng tiêu chuẩn và chế độ ở từng trại lại rất khác nhau. Đến nay sau 30 năm, tôi vẫn chưa hiểu tại sao cùng dưới sự bảo trợ của cơ quan Liên Hiệp Quốc mà mỗi một trại tỵ nạn lại có những quy chế riêng.
Sát bên trại tôi là trại Bắc Khải Đức -Pắc Khải Tắc- Thuyền nhân ở đây đa số người Quảng Ninh, vượt biên rất sớm, đến Kho Đen từ sau Tết nguyên đán 1979. Nhốt trại hơn sáu tháng, ngày ngày vẫn 2 bữa cơm hộp, nhìn sang trại tôi ra vào tấp nập, người đi chợ lũ lượt tay xách nách mang nào gà, thịt, cá, rau quả… cười đùa, họ uất lắm. Một cuộc bạo động nổ ra, đốt giường, đốt trại… loạn xì ngầu. Cảnh sát khu vực can thiệp.
Cuối cùng họ được tự do đi làm.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80825
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46238 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 26th, 2017, 1:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Postby DaMinhChau » April 26th, 2017, 4:47 pm


C
hương 6

Tự Do


Sau hai tuần, trại tuyên bố chúng tôi tự do đi làm, được tiền trợ cấp 2 tuần (theo số người), sau đó cắt trừ người già, người ốm, tật nguyền. Gia đình tôi được khoảng 500 HK$, vợ tôi theo chị Sâm người cùng thuyền, biết tiếng Quảng, đi chợ mua bếp điện, 2 chiếc xoong, 1 túi gạo 5 kg, mắm muối chuẩn bị cho những ngày tự do. Tôi sang trại Tuen Mun tìm gia đình chú thím. Rất may hỏi thăm, có người biết, lên tầng 20. Gặp nhau chúng tôi mừng mừng tủi tủi, hỏi đủ chuyện về từng người.
Thím tôi kể, thằng con rể bố mẹ nó không cho đi, bắt luôn thằng cháu ngoại mới 10 tháng tuổi phải xa mẹ. Tôi hỏi, “Sao không để cô Định ở lại với chồng con, chứ chia ly thế này đau lòng lắm”. Thím bảo, “Chú thím có sang Kiến An nói chuyện với ông bà thông gia, nhưng họ đâu có nghe”. Tôi hỏi, “Sự thể ra sao, hay chú nói không khéo.” Chú tôi bỗng nhiên đỏ mặt, giận dữ bảo, “Anh có biết, bố mẹ thằng Dũng nói gì không? Họ bảo, chúng tôi không thể giúp được, người trong xã có đánh chết nó, gia đình cũng chịu.” Chú tôi rất hiền, ít khi nổi nóng, nhắc đến chuyện này tự nhiên ông nổi giận cả với tôi, phải tức lắm ông mới nổi đóa như vậy. Sự thể như sau: Con gái ông, y sĩ của Bệnh viện Đông Y Hòa Bình, Hải Phòng, chồng giáo viên cấp 2 ở Kiến An. Chúng đến với nhau do tình yêu, sống rất hòa thuận, hạnh phúc, có thằng con đầu lòng gần 1 tuổi. Chỉ vì chiến tranh Trung–Việt chúng phải chia ly, vợ một nơi, chồng con môt nẻo, hàng ngày vì nhớ con, suốt thời gian đi thuyền đến nay cô Định ăn uống cầm hơi, ngườI gầy như ve sầu, trông rất tội nghiệp. Khi chú thím và cô Định phải thôi việc, gia đình quyết định đi Hong Kong, ông bà đến nhà thông gia đặt vấn đề:
1- Xin cho con rể đi cùng để vợ chồng chúng đoàn tụ.
2- Nếu con gái ông bà ở lại với chồng con, chỉ mong gia đình thông gia thương yêu, đùm bọc che chở coi nó như con ruột.
Ai ngờ, ông thông gia trả lời trắng trợn, “Chúng tôi chịu, nhỡ bà con trong làng xã ghét người Hoa có giết chết, chúng tôi cũng không thể can thiệp”, đồng thời yêu cầu giữ lại đứa cháu đích tôn vì gia đình hiếm muộn. Hết tình, cạn nghĩa, chẳng còn gi phảI nói, chú thím tôi đành đứng lên, đi về.
Đến Hong Kong, trong cuộc phỏng vấn của phái đoàn Liên Hiệp Quốc, cô Định xin bảo lãnh cho chồng con và được chấp nhận. Nhưng chồng cô, Nguyễn Đình Dũng, sau 3 tháng xa vợ, nghe lời cha mẹ, kết hôn với cô gái trong làng. Biết tin được bảo lãnh sang Anh, năm 1981, Dũng viết thư cho tôi, nhờ tôi đứng ra giúp vợ chồng đoàn tụ. Gia đình chú thím tôi được bạn bè thân quen ở Việt nam báo tin từ lâu, thằng con rể của ông bà đã lấy vợ. Nhận được thư khẩn cầu giúp đỡ của Nguyễn đình Dũng, tôi là một trưởng tộc, chỉ yêu cầu Dũng “gửi giấy xác nhận của xã và ban gian hiệu nhà trường tình trạng hôn nhân hiện tại.” Dũng không hồi âm, coi như mọi chuyện đã chấm hết.
Năm 1984, cô Định đi bước nữa, tháng 5-1988, sau 9 năm, cô Định đã đón được con từ Việt nam theo chương trình đoàn tụ. Hiện nay cháu Huy có bằng cử nhân tin học, có công ăn việc làm, có gia đình, cuộc sống ổn định ở London.
Tuen Mun có 2 hai tòa nhà dành cho người tỵ nạn. Một tòa 7 tầng và tòa 21 tầng vừa xây xong, chưa hoàn tất buồng, nhưng nhà tài phiệt này đã cho người tỵ nạn ở, không lấy tiền của Liên Hiệp Quốc. Mỗi tầng có hai phòng rất to, chứa chừng chục gia đình, tất cả giải chiếu nằm ngay dưới sàn đá hoa và lấy đồ đạc vây quanh làm biên giới. Tuen Mun chế độ khác trại tôi.
Từ Kho Đen chuyển đến đây, chỉ một tuần đã được tự do kiếm việc làm nhưng vẫn được cấp tiêu chuẩn cơm. Nhiều gia đình đi làm vắng, nhưng nhà thầu vẫn sáng cơm hộp, chiều bánh mỳ, thịt hộp/cá hộp, ăn không hết có người đem ra chợ bán. Ngày Chủ Nhật, ngày nghỉ họ vẫn lĩnh cơm. Suất thừa nhà thầu đem về, đưa đi đâu, bán hay cho các trại mồi côi, người tàn tật chẳng ai biết. Từ tháng 4-1979 đến 2-1980 chấm dứt khi trại Tuen Mun đóng cửa, vì ăn ở quá mất vệ sinh. Mọi người chuyển sang trại Sắm-sủi-pầu -Tâm Thủy Bộ- và trại Jubilee kế sát bên.
Gia đình ông chú tôi có 6 thanh niên còn độc thân, khi tôi đến sự khá giả thể hiện rất rõ, tuy gia đình ông đi làm mới gần 3 tháng. Vì thế rất nhiều gia đình cố thủ không muốn đi định cư, có gia đình ở 4 năm, tuy công việc chỉ là tạm thời, không bảo hiểm y tế và tai nạn, không có chế độ hưu bổng. Ngược lại, làm được đồng nào đút túi đồng ấy, nếu phải trả tiền giường và tiền điện như trại tôi thì cũng rất thấp -24 HK$/tháng- coi như có đóng góp, thấm tháp gì so với giá thuê nhà ở ngoài.
Đươc vài tháng, có người bắt đầu mua hàng gửi về Việt Nam. Thời bấy giờ nhận hàng nước ngoài bị đánh thuế 100%. Việc người tỵ nạn gửi hàng về đã khuyến khích người trong nước tìm cách vượt biên. Từ năm 1980, kinh tế Việt Nam bên bờ vực thẳm, bo bo không có mà ăn, nên có câu “Cột đèn mà biết đi cũng vượt biên.” Thuyền Việt Nam đi Hong Kong như đi hội. Ngày nay người ta vẫn “vượt biên” dài dài theo đường du học, du lịch, thăm thân nhân, kết hôn, xuất khẩu lao động, một số theo đường dây buôn người đi qua Nga, Ba Lan, Tiệp, thậm chí thuê passport lừa hải quan.
Sáng sớm mọi người ra chầu ở cửa trại, họp thành chợ người chờ các ông chủ. Thực ra các trại tỵ nạn đều ở Kowloon -Cửu Long- hay Tân Lãnh Địa (the New Territories) chứ không ở Hong Kong. Cửu Long có hàng ngàn xưởng lớn nhỏ làm đồ chơi cho trẻ em, lắp ráp đồ điện tử, đồng hồ rẻ tiền, may mặc, cửa hàng bán buôn bán lẻ và đóng du thuyền cho tầng lớp giàu có, thượng lưu trong và ngoài nước. Có nghĩa là họ rất cần những lao động phổ thông với đồng lương thấp so với người bản địa. Lương từ 25 đến 35 HK$/ngày, cuối tuần thanh toán.
Tôi chưa được đi làm thì A11 có hai người bị tai nạn lao động. Một chị hơn 40 tuổi bị máy làm dập nát bàn tay phải do ngủ gật, đưa cả bàn tay vào máy thay cho miếng kim loại. Chị bị cắt bỏ 3 ngón, bàn tay phải coi như hết khả năng lao động. Một thanh niên làm xuởng lắp đồng hồ, đáng lẽ đưa đồng hồ vào khuôn áp lực, do mệt đút ngay tay. Cả 5 ngón tay nát, đang nằm bệnh viện. Lao động tạm tuyển, chả có ký kết, khi bị tai nạn tùy thuộc vào lòng hảo tâm của chủ mà thôi.
Chuyện này làm rúng động chúng tôi, nhưng có người lo, người bảo có số, không làm lấy gì bỏ mồm, còn phải dành dụm chút ít khi đi định cư chứ.
Tôi gặp anh Hồ Coóng -Hà Quang- dân xế của Công ty Vận tải 1 Hà Nội tại bàn cờ tướng. Vừa đánh cờ vừa nói chuyện tai nạn, anh bảo:
- Chú và tôi chỉ trông mong vào hai bàn tay nuôi vợ nuôi con, nhỡ cụt mẹ nó, mai kia sang định cư nước thứ ba đi ăn mày à? Mà chắc gì người ta nhận mình về nuôi báo cô. Vì thế tớ đi làm lao công ở xưởng đóng du thuyền lương cũng 30 HK$/ngày, chả lo lắng gì, hết tuần lĩnh tiền. Tay đốc công rất tử tế, còn cho tớ làm thêm giờ. Lao công mà cũng làm thêm giờ, chú có tin được không? Lão ta bảo, từng khốn khổ khi từ “ông nội” sang, may có người giúp mới được như ngày nay. Chú có đi làm cùng, mai anh hỏi, nếu được, anh em mình làm cho vui. Chứ tay chú làm phẫu thuật nhỡ cụt, phí lắm.
Tôi im lặng, rồi hỏi anh:
- Thế có phải rửa cầu tiêu và bưng nước cho đốc công không?
- Không, có mụ già làm hết rồi. Mụ ta đun nước, quét dọn cầu tiêu, lau chùi văn phòng. Anh em mình chỉ có việc bốc tất cả các gỗ vụn, sắt vụn, quét mùn cưa, phoi bào… cho vào xe cút kít đổ ra biển. Vừa làm vừa chơi chẳng nặng nhọc gì, không lo què chân gẫy tay.
Anh này tốt thật, nói có lý. Nghĩ vậy, tôi bảo:
- Mai anh hỏi, nếu được, tuần sau được ra tự do, em đi làm với anh.
Anh cười vui vẻ, vỗ vai tôi, đọc câu ca dao thời đại:
Vua quan ở đất nhà bay
Dù xe ngựa cưỡi đến đây cũng hèn.
Bọn mình là cái chó gì, đến đây là thằng tỵ nạn, ăn xin mà thôi. Thôi, đời mình coi như bỏ, cố cho con nên người là được.
Hoàn cảnh anh rất éo le. Năm 1972, B52 trải thảm Hà Nội, nhà anh ở ngõ chợ Khâm Thiên. Đêm ấy anh chạy xe, bom trúng nhà, vợ anh và đứa con út chết không tìm ra xác, hai đứa lớn về bên ngoại, sống sót. Nay gần ngũ tuần, anh thương vợ, ở vậy. Nguyện vọng muốn sang Mỹ định cư, có lần tâm sự, anh bảo, nếu có mụ Mỹ đen già giàu có muốn lấy, anh lấy liền để cho hai đứa con ăn học lên người.
Tôi hỏi, sao anh thích định cư Mỹ khi vợ con anh chết vì bom Mỹ. Anh bảo, trâu bò húc nhau, mình thân phận sâu kiến không may thì dính. Vả lại cái số của vợ con anh chỉ được thế. Anh không oán người phi công đã thả bom nhà anh, vì họ là người lính, phải làm theo lệnh chỉ huy cũng như anh đã từng lái xe đưa bộ đội, súng đạn đi B, đi C giết hại bà con miền Nam, Lào, Căm-bốt đó thôi.“Chiến tranh là chiến tranh, không phải do tôi do anh -người lính ở hai chiến tuyến- gây ra”, trách nhiệm thuộc về người đứng đầu nhà nước.
Hầu hết công nhân xưởng tôi là dân địa phương đều ca tụng Mỹ, miền đất hứa trên thế gian này. Hễ ai nói muốn định cư nước khác hay Dzấng-coọc- Anh quốc- họ dè bỉu và nói toạc ra rằng, “sang Anh vỏ khoai tây cũng không có mà ăn.” Có người lại còn cực đoan đến mức ghét nếu ai nói xin định cư ở Anh. Ai cũng sang Mỹ, nước Mỹ làm sao ôm trọn số tỵ nạn cả triệu người!
Tôi chọn 4 quốc gia, Úc Đại Lợi vì khí hậu giống Việt Nam, Thụy Sĩ, Canada và Anh quốc. Đăng kí xin đi Úc, bị loại từ đầu, không gọi tiếp kiến. Thụy Sĩ tuyên bố chỉ nhận gia đình có thân nhân tàn tật. Thế là phèo, hết hy vọng. Một người quen tôi đi định cư Canada và tháng 11-1979 viết thư về kể rét thê thảm lắm. Nhiệt độ đầu tháng 11 dương lịch mà đã âm 10 độ C, anh ta còn viết thêm, giữa mùa Đông nhiệt độ có thể xuống -25 hay -30 C. Nghe mà sợ, ngang sống trong tủ đá, tôi quyết định đăng kí định cư Vương quốc Anh.
Năm 1979, Đảng Bảo thủ thắng cử, bà Margret Thatcher làm Thủ tướng, Bà Đầm Thép -Iron Lady-, đã ủng hộ đề nghị của Tổng thống Mỹ Reagan. Vương quốc Anh nhận 19 ngàn người tỵ nạn Việt Nam trên toàn thế giới. Trại Khải Đức Đông thông báo sẽ có nhiều đợt tiếp kiến. Trước khi đăng ký, tôi sang trại Tâm Thủy Bộ -Sắm-sủi-pầu- trao đổi với gia đình chú thím. Các em con chú tôi vẫn thích xin định cư ở Mỹ.
Tôi đưa ra lý do vì sao tôi xin đi Anh.
    1. Ai cũng xin định cư ở Mỹ nên số đăng ký rất lớn, chính phủ Mỹ sẽ dành nhiều ưu tiên cho những sĩ quan, quân nhân, dân sự từng làm cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, sau đó mới đến những thành phần khác. Hy vọng được Mỹ chấp nhận là điều mong manh, người Bắc, càng ít cơ hội.
    2. Dù muốn dù không vẫn có sự mặc cảm Nam-Bắc, là rào cản và khó khăn lớn nhất khi định cư ở Mỹ.
    3. Nước Anh không có chế độ quân dịch, đi lính cũng chỉ là một nghề nghiệp, trong khi đó gia đình chú tôi có 4 con trai đang tuổi tòng quân, gia đình tôi có 2 (tuy còn nhỏ). Đây là đất nước lý tưởng nếu như không muốn con tham gia quân đội.
    4. Từ xưa đến nay, ai cũng nói Anh-Pháp-Mỹ, có nghĩa là đó là ba cường quốc, Hong Kong chỉ là thuộc địa mà đời sống đã cao hơn Trung Quốc và Việt Nam nhiều lần, cớ gì cuộc sống ở Anh lại tồi tệ hơn Việt Nam.
Ngày 15 tháng 1-1980, gia đình tôi được tiếp kiến. Tôi hy vọng tràn trề khi nghe tin sẽ được báo ngày đi định cư.
Ai được Mỹ chấp nhận, phải sang Phi Luật Tân học Anh ngữ. A12 có anh nhà báo miền Trung, Anh ngữ thuộc loại siêu đẳng, ấy thế gia đình anh cũng phải sang Phi. Sang được 2 tuần, anh viết thư về, than rằng chỉ sau 5 ngày vào trại, bọn trộm người Phi cắt điện, xông vào cướp sạch đồ đạc. Thế là gia đình anh trắng tay. Anh khuyên bạn bè, nếu phải sang Phi nên xin định cư nước khác, lộn xộn không thể tưởng tượng được.
Anh Hà Quang chuẩn bị lên đường đi Phi.
Tôi cũng chuyển sang trại khác, A-Cai-Lau-Cai 2, chờ đi Vương quốc Anh. Chúng tôi mất liên lạc.
Tôi làm lao công với anh ở Cửu Long được 8 tháng. Đây là một kỷ niệm đẹp của đời tỵ nạn, tôi và anh hợp tâm tình. Tôi từng đọc nhiều sách truyện, anh lại là người ham hiểu biết. Vừa bốc gỗ, hốt mùn cưa, vỏ bào, tôi vừa kể chuyện Hạng Võ, Trình Giảo Kim, Tống Địch Thanh, Chiêu Quân cống Hồ, đến Tam quốc, Thủy hử chúng tôi vui lắm.
Anh có nhược điểm là nghiện trò đỏ đen. Muốn giúp anh hiểu tác hại của cờ bạc, tôi mua một cuốn sổ nhỏ, trưa không ngủ, ngồi xem, được hay thua đều bí mật ghi. Sau 1 tháng tôi cho anh xem, anh thua vài trăm. Anh hứa sẽ bỏ. Chỉ được vài buổi lại chơi, nhưng lần này anh hứa chỉ chơi 5 HK$/một buổi.
Một xưởng đóng du thuyền chừng dưới 100 người, nghỉ trưa 2 giờ có đến 6, 7 nhóm sát phạt nhau đủ thứ xì-phé, xóc đĩa, túm tụm vòng trong vòng ngoài. Nhiều người cuối tuần lĩnh tiền trả nợ coi như trắng tay. Tôi quen ông bạn ở London, mang bài sang nhà con rể gạ đánh bạc. Tôi hỏi, sao làm thế, ông nháy mắt, ‘‘khỏi phải vay nó!’’
Tuần lương đầu tiên, tôi lĩnh hơn 200 HK$ kể cả thêm giờ. Đêm đó chúng tôi đi mua đồ. Mua cho con gái một con búp bê thật to, 25 HK$, bộ váy áo thật đẹp, còn hai thằng bé mỗi đứa một bộ quần áo in hình Mighty Mouse, mỗi đứa đôi giầy. Con tôi sung sướng lắm, lần đầu tiên trong đời được ôm búp bê, biết mở và nhắm mắt và to như vậy. Nhìn nó, tôi nghĩ đến hình ảnh ông già Jean Valjean mua búp bê cho bé Cosette trong Những người khốn khổ của Victor Hugo.
Kỉ niệm ấy đến giờ nó vẫn nhớ. Cả nhà ăn bữa kem cốc và uống coca để mừng đồng tiền đầu tiên kiếm được dù chỉ là thằng hốt rác xưởng đóng tầu.
Sau gần 3 tháng đi làm, cuộc sống trong A tôi thay đổi. Quần áo đã tươm tất, bữa ăn cải thiện, nhiều người mua máy thu thanh 1 hay 2 cassettes làm thay đổi không khí và cũng từ đây bắt đầu trộm cắp và làm điếm ngay tại A. Một A ít nhất cũng đến 500 người, cuộc sống xô bồ, người tốt kẻ xấu khó biết. Thỉnh thoảng nửa đêm có tiếng kêu thất thanh “trộm, trộm” nổi lên, cả A bừng tỉnh, xôn xao, người đuổi, người thét, có lần kẻ xấu đành vứt bỏ lại chiếc va-ly chúng vừa trộm. Trong A đưa ra quy định đóng cửa hai đầu. Mùa hè, tường tôn, mái tôn, không quạt, đóng cửa không thể chịu nổi, vả lại “nội gián” lấy cớ đi toilet mở cửa, đồng bọn vào xoáy cũng chịu. Người ở tầng 1 hay mất đồ, tầng 2 đỡ hơn và tầng 3 hầu như an toàn. A12 của tôi trong 6 tháng có đến mười mấy vụ trộm vặt, một số chủ thuyền ra thuê nhà ngoài phố. Nhưng rất may hồi ấy chưa có kẻ nghiện và buôn bán ma túy như những năm sau.
Số người cả hai trại A và B lên đến vài ngàn.
Những dịch vụ nho nhỏ bắt đầu hình thành.
Sáng có hàng xôi, bánh bao, riêng hàng phở đông khách nhất. Anh hàng phở người Nam Định biết vài câu tiếng Quảng ú ớ, thế mà ra dấu tay người bán thịt hiểu.
Anh kể, ngày đầu tiên là khó khăn nhất. Hôm ấy, anh đến cửa hàng, mua các loại xương về hầm lấy nước, tay chỉ vào tảng thịt, chỉ vào số 10 ở cái cân (ý nói 10 cân) nhưng anh chắp hai bàn tay đưa vào má, mắt nhắm. Đột nhiên anh làm tiếng gà gáy “ò ó o”, rồi xòe 5 ngón tay (muốn nói 5 giờ sáng), lấy 2 ngón tay làm dấu chân bước. Tay bán hàng cười, gật đầu. Năm giờ sáng hôm sau, anh đến, anh hàng thịt đã đóng gói sẵn.
Từ đấy quen lệ, chẳng khó khăn gì. Anh cười sung sướng, vì nghĩ sang Bỉ anh sẽ mở quán phở, chắc đông khách lắm. Không biết ước vọng nho nhỏ của anh có thành hiện thực không, bởi vì hiện nay ở Đức, Anh, Pháp rất nhiều nhà hàng có phở Việt Nam, không rõ ở Bỉ có chưa.
Một lần mua xôi, chị bán hàng tâm sự, khi nào sang Đức anh chị sẽ làm xe đẩy bán xôi rong như ở Hong Kong chắc kiếm được. Hy vọng, ngày nay chị có nhà hàng trong đó có món xôi bánh khúc gia truyền.
Ngày 20 tháng 3-1980 gia đình tôi được lệnh chuyển sang trại A-Cai-Lau-Cai 2. Số tiền kiếm được mua va ly, quần áo, radio cassette, giầy dép và để dành gần 400 HK$. Thường chỉ tối đa 4 đến 7 ngày là là bay, nhưng gia đình tôi và 11 gia đình khác chờ hơn 3 tuần.
Ngày 10-4-1980 đi U.K. Không đi làm, mấy trăm đô để dành tiêu hết, không một xu dính túi khi lên máy bay.



Image

Image

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80825
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46238 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 26th, 2017, 1:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Buồn Vui Đời Thuyền Nhân

Postby DaMinhChau » April 29th, 2017, 6:27 pm




Chương 7

Tokyo


Cả đêm 12 gia đình chúng tôi thao thức, hết đi ra lại đi vào, hết ngồi lại đứng, mong trời mau sáng. Chúng tôi được giấy báo sáng sớm 10-4 lên máy bay đi Anh Quốc tuy có ghi giờ xe đón 6.00 am, nhưng chẳng ai ngủ được vì quá sung sướng, tràn trề hy vọng. Những ngày đầu đường, xó chợ, vật vạ từ bến Tam Bạc, Hải Phòng, Bắc Hải, Kho Đen… chấm hết.
Đời tỵ nạn chúng tôi sang trang mới.

Trang mới ra sao, như thế nào vẫn còn bí ẩn, nhưng chắc chắn hơn hẳn những ngày qua.
Gần 6 giờ, cánh cổng trại A-Cai-Lau-Cai 2 từ từ mở, một đoàn xe chở tù lần lượt vào sân. Tất cả chúng tôi nhộn nhịp lấy va-ly, túi xách, thùng hàng… lủng củng đưa ra trước cửa, chờ lên xe. Viên thượng sĩ gọi tên hộ gia đình, đếm từng thành viên, lên xe.
Đến gia đình tôi, anh ta bảo đợi một chút.
Tưởng chuyện gì, hoá ra anh giao cho tôi hai cặp hồ sơ, bảo, tôi được chỉ định làm trưởng đoàn, chịu trách nhiệm giữ 2 cặp hồ sơ. Hồ sơ màu vàng giao cho người có tên Thành, đón ở phi trường
Heathrow, chỉ vào hai phụ nữ đứng sát ngay bên, người phải giao trực tiếp cho anh Thành.
Hồ sơ màu xanh khi đến Wishaw, giao cho người phụ trách trại. Anh ta nói tiếng Anh, rõ ràng mạch lạc, tôi hiểu và hứa hết sức cố gắng.
Tôi bỗng nhiên được đứng đầu gần 70 nhân mạng!

Tôi hỏi viên thượng sĩ, anh ta bảo, đây là lệnh trên vì Anh ngữ của tôi khá.
Như vậy khi phỏng vấn, anh chàng người Anh thấy trả lời lưu loát tất cả các câu hỏi, tưởng tôi Anh ngữ khá lắm. Thực ra tôi học được dăm câu tủ của lớp ban đêm ở trại Khải Đức Đông, chứ trình độ tôi xí xố vài câu là hết vở.
Sau khi chiếm trọn miền Nam, trí thức miền Bắc tự thấy trình độ quá thấp so với đồng nghiệp phía Nam, nghĩ rằng kém Anh ngữ là một thiệt thòi, phong trào học Anh ngữ bắt đầu.

Năm 1977 bệnh viện tôi mở lớp Anh ngữ tại chức cho y bác sĩ. Giám đốc bệnh viện mời giảng viên Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, trong đó có cụ Đặng Chấn Liêu, cựu giảng viên Anh ngữ Đại học Oxford, theo ông Hồ về nước từ 1946, làm giáo sư danh dự.
Khóa học 1 năm, chỉ học tối thứ Bẩy và ngày Chủ Nhật. Chả biết khỉ gì, ấy thế mà cũng được cái bằng Anh ngữ hệ tại chức do ông Bùi văn Phú hiệu trưởng cấp, dọa thiên hạ.

Có bằng trong tay, chúng tôi mắc 3 bệnh: ngọng (phát âm sai), nghễng ngãng (nghe không thủng) và mắt kém (vốn từ quá ít) hầu như chẳng tác dụng gì.
Tài sản quý báu nhất của tôi đến Kho Đen là sách học Anh ngữ, Pháp ngữ, tự điển Anh-Việt, Việt-Anh, Pháp-Việt; cũng vì những bộ sách này, chiếc valy của tôi bị rạch nát, may chúng không bị vứt xuống biển phi tang. Khi ở trại Khải Đức Đông, có người bảo, đem cuốn tự điển đưa cho nhà xuất bản Hong Kong in lậu, kiếm bộn tiền, ít ra cũng vài ngàn đô.

Cuốn tự điển Anh-Việt, nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, ấn hành 1975, mua với giá 20 VNĐ 1977, dày 1960 trang, bìa cứng, trình bày đơn giản, trang nhã. Giấy mỏng nhưng bền, in ở Nga hay Trung Quốc, chứ Việt Nam không in nổi. Sách do tập thể giáo sư, giảng viên đại học soạn, trong đó có cụ Lê Khả Kế, Đặng Chấn Liêu và Bùi Ý hiệu đính. Chính tay cụ Đặng Chấn Liêu ký vào cuốn tôi mua khi cụ đến thăm lớp.
Tôi nghĩ lung lắm. Vài ngàn đô, số tiền tương đối lớn lúc đó, nhất là vợ con tôi đang khốn khó, nhưng tôi không muốn ăn cướp công sức của người khác. Lỗ Tấn nói, “muốn viết một trang sách, phải đọc ngàn trang”. Công sức cả đời nguời ta mà mình chỉ vì thèm tiền bán cả lương tâm, danh dự sao đành. Suy nghĩ hàng tuần lễ, anh bạn thúc ghê lắm, chắc hy vọng được hoa hồng. Truyện ngắn “Sợi tóc” của Thạch Lam vụt lại trong đầu, giúp tôi không làm chuyện xấu xa, vô liêm sỉ đó. Cái xấu, cái tốt cách nhau sợi tóc, tôi đã vượt qua được sự cám dỗ, không lấn qua ranh giới. Giờ đây, cuốn tự điển đó là kỷ vật, niềm kiêu hãnh của tôi, dành con cháu sau này.

Mấy năm sau, người từ Hong Kong sang, có cuốn tự điển y chang, có kẻ đã bán linh hồn cho quỷ. Sau này khoảng thập niên1990, nghe tin nhà văn Duyên Anh, mãn hạn tù, định cư nước ngoài, sang Mỹ đòi tiền nhuận bút do một nhà xuất bản nào đó đã tái bản tác phẩm của ông. Ông không được trả tiền mà còn bị một tay xã hội đen được chủ nhà xuất bản thuê, làm ông thân tàn ma dại. Mãnh lực của đồng tiền ghê thật!
Chúng tôi lên xe, vẫn ngồi hàng ghế sát thành xe tù. Lần này quần áo chỉnh tề, com-lê, cà-vạt, va-ly, túi xách mới cứng… y như đoàn du khách, khác xa cái ngày từ Kho Đen ra trại tự do. Tuy đồ second hand, com-lê của tôi còn khá, cà-vạt xanh theo màu áo vét, sơ mi trắng, trông chững chạc ra phết.
Nhưng trong túi 1 xu cũng không có!

Thủ tục check-in được cảnh sát giúp, mọi chuyện suông sẻ, nhanh chóng. Vị thượng sĩ đưa chúng tôi đến tận cửa máy bay –có lẽ để biết chắc không thiếu ai. Tôi là người cuối cùng. Anh bắt tay tôi, chúc may mắn. Tôi cũng chúc lại và cảm ơn anh nhiều.
Sau khi ổn định chỗ ngồi, hai nữ tiếp viên đứng hàng ghế đầu, một người nói tiếng Anh giới thiệu phải làm gì nếu chuyến bay có sự cố, người đứng kế bên làm động tác thực hành hướng dẫn cách ứng cứu. Thấy đoàn tôi nhiều người chưa hiểu, họ yêu cầu tôi đứng lên thông dịch. Cũng may, đơn giản tôi giúp được.
Cài xong dây bảo biểm, máy bay từ từ lăn bánh, tăng tốc, thoáng rung một chút, nhìn qua cửa sổ, máy bay đã rời mặt đất, vọt lên cao rất nhanh. Tôi nhìn đàn con, lòng tràn đầy sung sướng, ứa lệ. Tôi không tưởng tượng nổi có giờ phút như thế này đến với gia đình tôi.
Sau 2 giờ bay, chiếc Airbus hạ cánh xuống phi trường Tokyo, chúng tôi theo hành khách vào sảnh đường. Người đông như kiến, sảnh đường quá rộng, sang trọng, choáng ngợp. Chúng tôi như lạc vào một thế giới mới, chưa một lần nhìn thấy, đứng túm tụm thành một đám, ngơ ngác. Hai người Nhật com-lê, cà-vạt sang trọng đến, cúi đầu chào. Chúng tôi đáp lễ. Họ hỏi ai là trưởng đoàn. Tôi đến, họ bắt tay, hỏi chúng tôi là ai, ở đâu đến. Tôi trình bày sự thật. Họ mời tôi vào văn phòng, xin mượn hồ sơ, ngỏ ý photocopy. Tôi nghĩ, chẳng có gì bí mật. Tôi đưa, họ phô-tô ngay tại chỗ. Họ bảo, đến 3 giờ chiều mới có chuyển máy bay 747 đi London, hành lý phi trường lo liệu chuyển, bây giờ về hotel nghỉ và dùng bữa. Tôi nói thật, chúng tôi không có tiền. Họ mỉm cười, nói các khoản miễn phí.

Hai chiếc coach –xe bus- sang trọng đợi chúng tôi ngoài thềm. Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi đến khách sạn sang trọng. Bốn dẫy bàn ăn dài trải khăn trắng muốt, mỗi bàn có bốn cô phục vụ, áo váy đồng phục, tươi cười chào chúng tôi.

Image

Từng món ăn được bưng ra. Đầu tiên món khai vị, tiếp theo món hải sản, gà quay, rau… các món đều bốc hơi nghi ngút, thơm nức mũi. Chưa bao giờ gia đình tôi được ăn những món ăn cao cấp như thế này. Món này hết, món khác bưng ra. Sau cùng là món tráng miệng và hoa quả.
Họ đưa mỗi gia đình về một phòng riêng. Phòng gia đình tôi 5 giường một, ga trải giường, gối trắng tinh, thơm mùi nước hoa đắt tiền. Cả đời chưa bao giờ bước chân vào hotel, giờ đây được vào khách sạn 5 sao tại Tokyo. Nhường vợ con tắm xong, đến lượt tôi. Tôi xả nước ấm đầy bồn, nằm duỗi dài, sung sướng.

Gần hai giờ chiều, xe coach đợi ngoài, đưa chúng tôi về phi trường.
Một chuyện buồn, cháu trai gần 2 tuổi, con một gia đình ở Móng Cái, không biết bữa ăn có món gì không hợp, cháu iả chảy. Người cha không để ý, dắt bé đi dọc hàng lang hotel. Thấy có mùi hôi, tôi quay tìm, phát hiện một đoạn thảm xanh dài hơn 20 mét có dấu chân cháu dính phân. Tôi đỏ mặt. Biết nói làm sao đây. Tôi nói nhỏ với cha cháu, bế cháu đưa vào nhà vệ sinh, đừng làm thảm bẩn thêm. Anh không làm, chắc sợ bẩn bộ com-lê, anh dắt con đi nhanh về hướng toilet. Lại thêm một đoạn thảm nữa dính phân. Tôi đi thẳng ra xe. Chịu, biết nói gì. Chắc hotel phải tốn hàng ngàn Yên giặt thảm, đóng cửa vài ngày tổng vệ sinh!

Đường bay từ Tokyo đến London qua Alaska, không như ngày nay, qua Trung cộng, Nga, Đông Âu vì chiến tranh lạnh đang nóng dần. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nga Xô thời ấy, Brezhnev, lông mày như 2 con sâu róm, hiếu chiến lắm.
Năm 1982, máy bay 747 của Nam Hàn lạc đường, tên lửa Xô-viết thiêu sống gần 500 hành khách và phi đoàn trên không phận Nga.
Cả thế giới lên án, y phớt lờ.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80825
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46238 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 26th, 2017, 1:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Next

Return to Long Stories | Truyện Dài

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest