Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Emotional, touching and pathetic Stories | Tình cảm éo le, cảm động và lâm ly.

Re: THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Postby DaMinhChau » July 12th, 2017, 11:17 pm


QUYỂN II
– hồi 41 — 50 –

Hồi thứ bốn mươi mốt


    Hậu thế tri âm như dục vấn
    Đoạn trường tục ký thử dư âm

    Dịch:

    Tri âm ai đó ngàn sau
    Đoạn trường xin hãy vì nhau tỏ bày.
    (Hà-thượng-Nhân) (1)

Vương lắc đầu:

– Con hiểu một mà không hiểu hai. Ta nay lâm thế cỡi cọp rồi. Bước xuống e mất mạng. Mạng ta mất đã đành, đến các con cũng khó an tòan. Thời Lê, tấm gương còn đó. Khi em tranh dành được ngôi vua, việc đầu tiên họ nghĩ ngay đến trừ mầm mống nội loạn. Ta là con trưởng, tay cầm trọng binh, đã từng xông pha trận mạc, công lao cũng nhiều, uy tín không nhỏ. Bây giờ bất cứ người em nào lên làm vua, việc đầu tiên họ nghĩ tới trừ ta trước.

Mỹ-Linh chợt nhớ lại Bắc-sử, những gì chép trong Chiến-quốc sách, trong Hán-sử, trong Tấn-sử, Tùy-sử, Đường-sử sống dậy. Khi người ngoài tranh dành ngôi vua với nhau, kẻ thắng dành cho người bại đất sống. Như khi vua Võ-vương đánh Trụ, vẫn phong cho con cháu vua Trụ một nước nhỏ để thờ cúng tổ tiên. Thế mà khi vua Hán Văn-đế lên ngôi vua, Triệu-vương Như-Ý bị giết thảm. Chỉ vì trước đó Cao-tổ Lưu Bang định truyền ngôi cho vương. Đường Thái-tôn tranh ngôi vua, lập tức giết anh là Kiến-Thành, em là Nguyên-Kiệt.

Mỹ-Linh nghĩ đến Khai Quốc Vương, nàng hỏi:

– Khai Quốc Vương hiện nắm binh quyền trong tay. Không lẽ chú hai lại buông tay nhìn phụ vương bị hại sao?

Vương thở dài:

– Trong các anh em, chú hai là người duy nhất không hại ta, không tranh dành với ta. Nhưng giữa ta với chú hai có một hố ngăn cách. Vì mẫu hậu ta trước đây nghi ngờ chú hai, nên có nhiều lời dèm pha người. Rồi sau đó, phụ hoàng nghe lời xàm tấu của cung nữ, thái giám hầu hạ mẫu hậu ta nói rằng chú hai làm phản. Đang đêm phụ hoàng cùng ta đem quân đến Trường-yên, mới nảy ra việc chú hai bị hàm oan. Từ đấy hố chia rẽ càng lớn. Hai cung nữ, ba thái giám hầu mẫu hậu ta bị xử tử. Phụ hoàng còn trao trọng quyền cho chú hai vì biết chú hai không thích làm vua. Hôm trước ta có dò ý chú hai về việc giúp ta. Chú hai nói thẳng ra rằng chú không giúp bất cứ ai trong anh em ta tranh dành ngôi vua. Người nào được phụ hoàng truyền ngôi, thì chú hai giúp người đó.

Vương nhìn Bảo-Hòa:

– Ta tìm hậu thuẫn ở mạ mạ cháu. Mạ mạ cháu với ta vốn bất hòa từ nhỏ. Cho nên ta có nói cũng vô ích. Chỉ duy có công chúa An Quốc là hứa giúp ta. Nhưng công chúa chỉ thích trồng hoa, tập võ, còn truyện triều đình không màng tới.

Bảo-Hòa suy tính, rồi hỏi:

– Trong các cậu, hiện ai là người thường cạnh tranh với cậu hơn cả?

– Có hai người. Một là chú ta, tước phong Dực Thánh Vương. Em ta là Vũ Đức Vương. Sở dĩ chú ta cũng tranh dành, vì phụ hoàng có lần muốn theo gương vua Tống Thái-tổ Triệu Khuông-Dẫn, nhường ngôi cho Tống Thái-tôn là Triệu Khuông-Nghĩa. Hai vị vương đều có võ công cao, cầm trọng binh trong tay.

Bảo-Hòa nhớ lại hành tung của Dực Thánh Vương với bọn Tống, mà nàng cùng Mỹ-Linh gặp trên đường từ Thiên-trường về Thăng-long. Nàng định đem ra nói với Khai Thiên Vương. Nhưng nhớ lại hôm mới về Thăng-long, Khai Quốc Vương dặn mọi người không được tiết lộ vụ này. Theo vương, thì cứ để vậy theo dõi, mới biết rõ âm mưu bọn Tống. Còn tiết lộ ra, chúng sẽ mua chuộc các thân vương khác, e không biết đâu mà mò.

Nàng nói xa xôi:

– Thưa cậu, cháu nghĩ Dực Thánh Vương không đủ tư cách làm vua Đại Việt. Cho dù người có được truyền ngôi, thì võ lâm sẽ nổi lên chống đối. Cậu cứ mặc cho vương tranh dành.

Khai Thiên Vương biết Bảo-Hòa không phải là người gặp đâu nói đó. Nàng đưa ra nhận xét về Dực Thánh Vương, chắc có những yếu tố quan trọng mà nàng không thể nói ra.

Khai Thiên Vương thấy Bảo-Hoà có nhận xét chính xác. Ông gật đầu:

– Đành rằng thế. Nhưng Dực Thánh Vương lại rất được lòng mạ mạ cháu. Người đã hỏi cháu cho đứa cháu trai đích tôn. Dường như tên Hưng-Long thì phải. Hưng-Long học văn, học võ đều thành. Tính tình lại mẫn tiệp, được phụ hoàng rất mực sủng ái. Do vậy thanh thế phủ Dực-thánh càng cao.

Bảo-Hoà nhăn mặt:

– Thưa cậu, cháu xin nói thực. Dù mạ mạ đánh què, cháu cũng không lấy thằng Hưng-Long mặt trắng đâu. Cái thứ đó chẳng không làm lên bất cứ việc gì. Không biết y học võ với ai?

– Y là đệ tử chân truyền của đại sư Nguyên-Hạnh chùa Sơn-tĩnh Cửu-chân. Hiện y thống lĩnh lực lượng thiếu niên Hồng-hương vùng Thăng-long và Thiên-trường, Trường-yên. Thế lực rất lớn.

Nghe đến Nguyên-Hạnh, Bảo-Hoà, Mỹ-Linh đưa mắt nhìn nhau. Nhưng hai người không dám tiết lộ những gì mắt thấy tai nghe ở Thanh-hoá, vì Khai Quốc Vương dặn giữ kín.

Khai Thiên Vương ngừng lại một lát, tiếp:

– Chỉ lát nữa, phụ hoàng ta sẽ họp tất cả con cháu tại lầu Thúy-hoa. Ta linh cảm thấy việc này rất quan trọng. Cho nên ta cho con biết trước, hầu liệu mà đối đáp.

Ông nhìn Thiệu-Thái:

– Còn cháu, cháu liệu mà trả lời với phụ hoàng ta. Vì các quan trấn Thanh-hóa đều thượng biểu rằng cháu với Bình-dương có tình ý. Cháu đã được mạ mạ hỏi vợ cho. Vợ cháu là con động trưởng động Vật-ác tên Vi Huệ-Chân. Chỉ còn chờ ngày cưới. Cháu không thể làm như thế. Hơn nữa việc dựng vợ, gả chồng do cha mẹ. Không có phép cha mẹ, mà trai gái tằng tịu với nhau là trọng tội. Kể từ giờ này, ta cấm cháu với Bình-dương gần nhau. Bằng trái mệnh ta chặt đầu cả hai. Ta đã quyết gả Bình-dương cho em trai Đàm quý phi tên Đàm An-Hòa.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nghe vương nói, hai người như bị dội một thùng nước lạnh lên đầu giữa mùa đông. Cả hai nhìn nhau, mặt nhợt nhạt.

Bảo-Hoà hỏi lại vương:

– Thưa cậu! Cậu có biết rõ về Đàm An-Hòa không? Lại nữa cái chết của mợ hai có liên quan tới anh em họ Đàm. Cậu không nên gả Mỹ-Linh cho y. Vả y là một đứa lêu lổng. Văn không thông, võ không lực. Suốt ngày ăn chơi trên ghẹo lương gia phụ nữ, chỉ biết dựa hơi cha, anh, chị.

Khai Thiên Vương cau mày:

– Đành rằng thế. Nhưng trong các thiếu niên ngang tuổi với Mỹ-Linh, không ai hơn An-Hòa. Đàm Can hiện là tể thần số một của triều đình. Năm con trai, thì bốn làm tiết độ sứ, tuyên vũ sứ, an vũ sứ trọng trấn ở ngoài. Con gái làm quý phi. Ông ta đang giữ chức đô nguyên soái, thái phó, tổng trấn Thăng-long.

Khai Thiên Vương tiếp:

– Mỹ-Linh chưa tập võ, bây giờ cũng nên luyện tập cho thân thể khoẻ mạnh, chứ chỉ học văn không thì không đủ.

Nghe phụ vương nói, Mỹ-Linh mừng thầm, vì phụ vương chưa biết những gì xẩy ra cho nàng hơn năm qua. Về võ công, hiện giờ trong triều khó ai bằng nàng. Thế mà phụ vương nàng không biết . Nàng hy vọng sư thái Tịnh-Huyền, cùng với sư phụ Huệ-Sinh có thể giúp nàng với Thiệu-Thái được.

Khai Thiên Vương tiếp:

– Thôi chúng ta trở lại võ đường.

Vương đi trước, Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, Bảo-Hòa theo sau. Vào võ đường, vương ngồi trên ghế chủ vị. Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Thiệu-Thái đứng ra sau vương, khoanh tay hầu.

Giáo đầu lại cho Kim-Thành với Hồng-Phúc tái đấu. Mỹ-Linh chú ý theo dõi. Nàng kinh ngạc đến ngẩn người ra, vì Kim-Thành dùng võ công Tiêu-sơn. Còn Hồng-Phúc dùng một thứ võ công rất lạ. Bảo-Hòa, Thiệu-Thái cũng quay lại nhìn nàng như cùng hỏi tại sao. Mỹ-Linh trả lời bằng cái lắc đầu.

Kể về công lực, Kim-Thành với Hồng-Phúc ngang nhau. Nhưng về chiêu số Kim-Thành sút kém rõ rệt. Mỹ-Linh biết rõ nguyên do. Đối với các võ công phái khác, chỉ tập một năm đã có một bản lĩnh khá. Còn võ công Tiêu-sơn phải luyện tới năm thứ ba trở đi mới có kết qủa. Nhưng bất cứ võ công môn phái nào, luyện tới năm thứ tư trở đi, đều thua võ công Tiêu-sơn.

Tuy Hồng-Phúc dùng những quái chiêu, nhưng Kim-Thành vẫn công thủ giữ kín môn hộ vững chắc. Mỹ-Linh biết Kim-Thành được phụ vương nàng huấn luyện căn bản rất vững, nhưng không ra ngoài bộ Pháp-vân quyền hoặc bộ Tiêu-sơn hộ thể quyền.

Thình lình Hồng-Phúc tấn công liền ba quyền, Kim-Thành lùi ba bước, gần tới chân tường. Hồng-Phúc lui lại phát một chưởng. Chiêu số rất quái dị. Kim-Thành đành khoanh tay trước ngực chịu đòn. Khai Thiên Vương chuyển thân mình một cái, tay ông xuyên vào giữa Kim-Thành với Hồng-Phúc. Hồng-Phúc bị đẩy bật lui lại. Khai Thiên Vương tát Hồng-Phúc hai cái liền. Người Hồng-Phúc bị bật văng về sau. Nàng ôm mặt đứng tần ngần.

Khai Thiên Vương quát lên:

– Mi học ở đâu ra chưởng pháp này?

Vương mẫu Hồng-Phúc là con gái Đinh Ngô-Thương, hiện giữ chức tiết độ sứ, tổng trấn vùng Thanh-hóa, thanh thế rất lớn. Bà nhập tuyển cung trước vương mẫu Mỹ-Linh, nhưng chỉ được phong phu nhân. Bà thấy con gái bị đòn, thì chạy xa xoa má cho Hồng-Phúc rồi hỏi:

– Vương gia. Hai trẻ đang dượt võ với nhau. Tại sao vương gia bênh Kim-Thành, mà đánh Hồng-Phúc? Chiêu chưởng vừa rồi do thân phụ thần thiếp dạy cho nó đó. Ông ngọai dạy cháu, nào có gì lạ?

Khai Thiên Vương đang đinh cật vấn con gái, thì có tên thái giám bước vào hành lễ:

– Khải tấu vương gia. Đã đến giờ khởi hành đi chúc thọ hoàng thượng. Hoàng thượng có chỉ dụ truyền vương gia đem tất cả thế tử, các vương phi, cùng quận chúa nhập Hoàng-Thành chầu ngay lập tức. Hoàng thượng đang thiết đại yến.

Thời vua Lý Thái-tổ mới lên ngôi, ngài ấn định thiết đại triều một tháng sáu lần vào ngày ba, tám, mừơi ba, mười tám, hai mươi ba và hai mươi tám. Còn tiểu triều thì bất cứ lúc nào có việc khẩn, hoàng đế sẽ cho thiết. Tiểu triều gồm các thái tử, tam-công, tể tướng, sáu vị thượng thư sáu bộ, đô nguyên soái, các quan trong Khu-mật viện. Còn đại triều cũng vẫn những vị trong tiểu triều thêm các thân vương, thân vệ điền tiền chỉ huy sứ cùng các quan văn từ cấp thái bảo trở lên.

Linh tính báo cho Khai Thiên Vương biết có biến cố quan trọng, nên phụ-hoàng mới cho thiết tiểu triều khẩn cấp như vậy. Ông truyền:

– Các bà chuẩn bị thực mau.

Ông nói với Mỹ-Linh:

– Con với Thiệu-Thái, Bảo-Hòa cũng đi cùng. Con có gia nhân nào theo hầu không?

Mỹ-Linh nghĩ tới Đỗ Lệ-Thanh, nàng nói:

– Con có đem theo một nữ nô bộc, tuổi trên bốn mươi.

– Vậy con cũng nên cho theo vào hoàng cung luôn.

Khai Thiên Vương cùng ba bà phi đi trên một chiếc xe ngựa. Xe của Mỹ-Linh tương đối rộng lớn, nàng cho hai em gái Kim-Thành, Trường-Ninh đi cùng. Còn lại các con của ba bà phi đi trên một chiếc, do Hồng-Phúc dẫn đầu. Chị em xa cách lâu ngày, bây giờ gặp lại nhau. Mỹ-Linh kể về chuyến đi của mình cho các em nghe. Tính tình nàng chân thật, ôn nhu. Vì vậy dù những biến cố nguy nan, nàng cũng chỉ thuật lướt qua mà thôi. Kim-Thành nhỏ hơn Mỹ-Linh một tuổi, Trường-Ninh nhỏ hơn Mỹ-Linh hai tuổi. Hai nàng nghe chị kể, trong lòng thầm mơ sẽ được đi ra ngoài như vậy.

Mỹ-Linh nhớ đến người em trai út, hỏi Kim-Thành:

– Nhật-Tôn đâu?

Kim-Thành thở dài:

– Mấy bà vương phi thường khắt khe, ác độc với nó, nên phụ vương cho nó ở trong cung Long-thụy tại Hoàng-thành với nhũ mẫu. Trên đường đi, chúng ta sẽ đón nó.

Xe vào trong Hoàng-thành, đến cung Long-thụy. Xe ngừng lại. Kim-Thành bước xuống, định vào tìm em, đã thấy nhũ mẫu dắt nó ra.

Nhũ mẫu Nhật-Tôn là một thiếu phụ tuổi khỏang hai mươi, hai mốt, tên Nương. Dáng người bà cao, mảnh khảnh. Khuôn mặt thanh tú. Chồng bà hiện giữ một chức quan văn nhỏ trong phủ Khai Thiên Vương. Bà thấy Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Thiệu-Thái vội hành lễ. Mỹ-Linh tháo chiếc vòng ngọc trên tay, mà hôm trước tiết độ sứ Đinh Ngô-Thương đã tặng nàng làm lễ diện kiến. Nàng cầm tay vú nương, đeo vòng ngọc vào, rồi nói bằng giọng nhu mì:

– Hơn năm nay mới gặp vú. Hồi này trông vú khỏe mạnh hơn trước. Tôi thay mặt ông nội Nam du, mang quà về tặng vú đấy. Thế nào em tôi ngoan chứ?

Vú Nương cảm động, nước mắt rưng rưng:

– Đa tạ công chúa. Hồi này thế tử bắt đầu học chữ. Quan thái phó Lý Đạo-Thành khen thế tử thông minh lạ thường. Còn võ thì thế tử chưa có sư phụ.

Mỹ-Linh vẫy tay gọi Nhật-Tôn. Nó chạy lại. Nhật-Tôn sinh ra hơn ba năm thì mẹ mất. Tuy được nhũ mẫu săn sóc, nhưng nó vẫn thấy thiếu một cái gì, mà tuổi nó, không biết diễn tả. Nó chỉ biết đeo theo các chị gái. Nhưng các chị gái bị phụ vương ép học văn, học may, học thêu, cùng học cung cách của một quận chúa. Chiều tối còn phải luyện võ nữa. Vì vậy nó cảm thấy bơ vơ cô đơn. Trong các chị gái, nó thích nhất Mỹ-Linh. Không may cho nó, năm trước đây, Mỹ-Linh lại phải rời phủ Khai Thiên Vương về ở trong phủ Khai Quốc Vương. Gần năm nay, bây giờ nó mới gặp lại nàng.

Vừa trông thấy Mỹ-Linh, nó chạy tới ôm lấy cổ nàng, rồi không hiểu nghĩ gì, nó tu lên khóc. Nó khóc nức nở, khóc nghẹn ngào. Mỹ-Linh bế bổng em vào lòng, tay nàng ôm chặt đầu nó vào ngực, lấy khăn lau nước mắt cho nó:

– Nín đi! Nín đi! Chị đã về đây. Chị thương em nhiều.

Nhật-Tôn lại càng khóc lớn hơn. Nó nói trong nức nở:

– Mẹ chết rồi! Bố bỏ em! Chị cũng bỏ em. Em ở một mình. Em khổ lắm.

Hai tay Nhật-Tôn ôm thực chặt cổ Mỹ-Linh, như sợ nàng đi mất. Mỹ-Linh dỗ em:

– Thôi nín đi. Chị sẽ dẫn em đi chơi! Dẫn em ăn quà.

Rồi không kiềm chế được, nàng cũng khóc. Thế là trên xe, Bảo-Hòa, Kim-Thành, Trường-Ninh cũng khóc theo. Nhật-Tôn ngừng khóc trước, hai tay bá cổ chị, nó hỏi:

– Chị Linh đừng bỏ em đi nữa nhé. Xa chị Linh em khổ lắm.

Nước mắt Mỹ-Linh lại rơi trên mặt Nhật-Tôn. Nàng dỗ em:

– Ừ chị ở lại với em. Em học chữ đến đâu rồi?

Nhật-Tôn nói như con két. Nó thuật tất cả những gì nó học được cho chị nghe. Trong khi nó thuật, xe chuyển bánh tới lầu Thúy-hoa, là nơi nhà vua truyền con, cháu tới đó hội họp.

Mỹ-Linh cùng các em lên lầu. Viên thái giám có bổn phận xếp đặt chỗ ngồi dẫn nàng vào Long Hoa Đường là phòng hội lớn nhất trên lầu Thúy-hoa.

Trong Long Hoa Đường tiệc đã bầy. Một cỗ lớn nhất, đặt trên sập sơn son thiếp vàng, chạm trổ hình hai con rồng chầu. Đó là cỗ dành cho hoàng đế và các hoàng hậu cùng quý phi. Phía trái, còn ba cỗ nữa, đặt trên ba sập, cũng chạm hình hoàng long, dành cho các bà phi tần, mỹ nữ của vua.

Phía phải có một sập, trên chạm hình con phụng hoàng, dành cho Vũ-uy vương. Một sập chạm hình con kỳ lân dành cho Dực Thánh Vương. Phía đối diện có bốn dẫy sập. Một dẫy chạm hình bạch mã dành cho Khai Thiên Vương cùng vương phi, con cháu. Riêng Khai Quốc Vương chưa có vương phi, con cháu, nên chỉ có một sập, trên bầy cỗ chay. Vì vương thường ăn chay. Một dẫy sập chạm hình con hổ dành cho Đông Chinh Vương cùng vương phi, con cháu. Một dãy sập nữa chạm hình con voi, dành cho Vũ Đức Vương với vương phi, con cháu. Tiếp sau, có mười ba cỗ trên mười ba sập, dành cho mười ba công chúa cùng phò mã.

Mỹ-Linh được mời ngồi vào sập thứ nhì trong dẫy sập dành cho phủ Khai Thiên Vương. Nàng ngồi chung cỗ với Kim-Thành, Trường-Ninh, Nhật-Tôn. Còn sập thứ ba dành cho các em nàng, nhưng là con của Mai, Vương, Đinh phi.

Thiệu-Thái, Bảo-Hòa là con của đệ nhị công chúa, nên được mời ngồi vào sập dành cho mạ mạ nàng. Vô tình nàng được ngồi gần sập của công chúa An Quốc cùng phò mã Đào Cam-Mộc.

Mỹ-Linh đã quen với những cuộc hội họp như thế này, riết rồi nàng thuộc hết mọi thủ tục lễ nghi. Thông thường, mỗi năm vào các ngày ngày sinh nhật, ngày lên ngôi vua, ngày giỗ các tiên tổ và ngày tết Nguyên-đán đều có cuộc họp. Cuộc họp hôm nay không nằm trong thông lệ, chắc ông nội nàng định loan báo một quyết định gì.

Mỹ-Linh đưa mắt quan sát một lượt. Kinh nghiệm cho biết cứ mỗi cuộc họp mới, số người lại tăng lên. Vì vác vương thu dụng thêm tỳ thiếp, cũng như sinh thêm con. Hiện giờ mới có bậc cháu của hoàng đế. Nàng tỉ mỉ nhìn một lựơt, nói với Kim-Thành:

– Này em, trong các gia, chú hai không có con, cũng chẳng có vợ, thành ra trống trơn. Còn đông nhất thì phủ Vũ-uy vương với Vũ Đức Vương. Phủ nhà mình đứng hàng thứ ba.

Trường-Ninh nhìn sang phía phủ Vũ-uy nói:

– Dực Thánh Vương là em của ông nội. Vì vậy các thế tử, quận chúa bên đó đều trên chúng mình một vai. Có người lớn tuổi hơn phụ vương. Vì vậy con cháu họ lớn hơn bọn mình. Bên phủ Dực-thánh không chú trọng văn học, ai cũng phải tập võ. Võ công họ rất cao.

Đến đó, một thiếu niên mặt trắng, môi hồng, trang phục lòe loẹt từ phía bên phủ Dực-Thánh dơ tay vẫy chị em Mỹ-Linh. Mỹ-Linh nhận ra y là Hưng-Long. Mỹ-Linh vẫy tay đáp lại. Kim-Thành nói nhỏ:

– Thằng Hưng-Long kỳ lạ lắm. Suốt ngày tô son, điểm phấn, õng ẹo như con gái. Coi thực chướng mắt. Miệng nó luôn xưng em, nhún nhẩy. Ai cũng tưởng nó là con gái.

Mỹ-Linh hỏi em:

– Các em luyện võ đến đâu rồi?

Kim-Thành buồn rầu:

– Hồi vương mẫu còn tại thế, phụ vương cho chúng mình luyện võ. Sau khi vương mẫu qua đời, phụ vương chỉ cho chúng em học văn. Rồi hồi đầu năm nay lại bắt luyện võ trở lại. Vì vậy võ công chúng em thua sút anh chị em phủ khác.

Hồng-Phúc cười nhạt:

– Chỉ có chị em nhà các cô võ công thua sút người, chứ quận chúa phủ Khai-Thiên, có ai chịu thua người đâu? Hôm qua người đấu với ta suýt mất mạng, mà không nhớ ư?

Mỹ-Linh chậm rãi khuyên Hồng-Phúc:

– Em không nên nói những lời khinh bạc như vậy. Chúng ta là con cùng một cha, như hoa cùng gốc. Kim-Thành với em luyện võ với nhau, chứ có phải ra trận đánh nhau với quân thù đâu, mà phải kẻ sống người chết?

Hồng-Phúc vẫn cứng đầu:

– Người tuy lớn tuổi hơn ta, nhưng người chưa từng học võ, thì người lên mặt khuyên ta thế nào được? Ta biết người tự thị văn hay chữ tốt, vậy nếu nay mai có giặc, người hãy cầm bút viết sao cho giặc chết hết mới giỏi, chứ người mang đạo đức ra nói trong nhà nó thối hoăng lên ai mà chịu nổi?

Mỹ-Linh vẫn kiên nhẫn:

– Hồng-Phúc ơi. Tại sao em cứ thích gây truyện như vậy? Gây như thế có ích gì không? Bộ em tưởng võ công cao, rồi muốn đánh ai, chửi ai cũng được sao?

Hồng-Phúc dơ tay tát Mỹ-Linh bằng một chiêu quyền pháp rất kỳ lạ. Nếu Mỹ-Linh muốn, nàng chỉ búng tay một cái, Hồng-Phúc mất mạng ngay. Nhưng nàng thản nhiên để em tát mình. Bộp một tiếng. Hồng-Phúc khoan khóai:

– Chỉ có những cái tát như vậy mới có thể dạy dỗ cho những đứa vô duyên, thích lên mặt dạy đời. Ối chao ôi, chỉ có chiêu võ công hạng bét mà tránh cũng không nổi.

Mỹ-Linh chịu để cho em tát một cái, rồi lên tiếng khuyên giải. Nàng vừa định nói, thì có tiếng hô:

– Im lặng. Chuẩn bị hành đại lễ. Các vương phi, công chúa , phò mã giá lâm.

Trong phòng có hơn trăm người, đang cười nói ồn ào, bỗng im lặng. Từ các cửa của hai bên Long Hoa Đường, các bà quần áo sang trọng, ngọc ngà sáng chói bước vào.

Theo nghi lễ Hoàng-cung thời Lý, trong những lần hội như thế, thì các thế tử, quận chúa tập hợp. Sau đó các vương phi, công chúa, phò mã mới tới. Tất cả mọi người phải quỳ gối cho đến khi các bậc trưởng thượng an tọa, rồi mới được đứng dậy.

– Bình thân.

Tất cả đứng dậy.

Mười ba công chúa, mười ba phò mã cùng hai mươi bốn bà vừa là vương phi, vừa là phu nhân của các vị thân vương vào Long Hoa Đường. Long Hoa Đường ồn ào hẳn lên, người này hỏi thăm người kia về công việc hàng ngày, về con cái học tập.

Mỹ-Linh chú ý nhất đến công chúa An Quốc cùng phò mã Đào Cam-Mộc. Kim-Thành hỏi Mỹ-Linh:

– Kìa Đào phò mã vẫn còn sống. Mà sao người ta nói người đã tạ thế. Đến nỗi sử quan cũng chép như vậy. Chị có biết ngyên do tại sao không?

Mỹ-Linh đáp sẽ:

– Trước đây phò mã Đào Cam-Mộc giúp ông nội thành đại nghiệp, rồi được ông nội gả cô là công chúa An Quốc cho. Khi ông nội thu dụng chị của Đàm Toái-Trạng làm Tây-cung qúi phi, Đào phò mã cực lực phản đối, vì người thấy võ công anh em họ Đàm có đôi phần tà môn. Nhưng ông nội vẫn thu dụng. Vì vậy phò mã với cô cáo quan, ngao du sơn thủy. Trong hơn năm không có tin tức gì. Triều đình cho rằng người đã tạ thế. Chỉ có chú hai biết rõ người ẩn ở Thanh-hóa, lập ra Vạn-hoa sơn trang. Chị đã kể cho em nghe ban nãy, về những gì diễn ra khi chị đến đấy. Chị đoán chắc chú hai tâu lên ông nội. Ông nội sai sứ giả triệu hồi, vì vậy cô An Quốc với người phải về hội kỳ này.

Công chúa An Quốc lại bên công chúa Bảo-Hòa thăm hỏi. Công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa nắm tay chị, rơm rớm nước mắt:

– Em ở Bắc Biên được tin anh chị cáo quan, vân du sơn thủy, rồi tuyệt tích. Phụ vương cho tìm khắp nơi không thấy. Cho đến hôm cháu Thiệu-Thái khám phá có người nuôi chim ưng, hàng ngày sai chúng tuần tiễu canh chừng động tĩnh bọn gian nhân ở chùa Sơn-tĩnh. Nó báo về cho chị. Chị biết ngay là vợ chồng em. Chị cho cậu hai biết. Cậu hai tìm ra chỗ ẩn thân của anh chị. Không biết nó sai anh chị những gì?

Công chúa An Quốc cảm động:

– Anh chị ẩn thân, lập ra Vạn-hoa sơn trang, tưởng vui với cỏ hoa. Nào ngờ chạy không khỏi tầm tay của nó. Nó ghê thực. Nó dùng chim ưng truyền lệnh cho anh chị, bắt làm đủ mọi truyện. Rồi cách đây hai ngày, nó sai chim ưng đem chiếu chỉ triệu hồi anh chị về kinh, làm anh chị phi ngựa bất kể ngày đêm về đây. Cái thằng ghê thực, giá công-chúa Phùng Vĩnh-Hoa, hay tể tướng Nguyễn Phương-Dung thời vua Bà sống dậy cũng không hơn nó.

Công chúa Lĩnh-nam Bảo-hòa hỏi sẽ:

– Tháng giêng năm trước nghe phụ vương tuyển trăm mỹ nữ nhập cung. Nghe đâu dành cho nó một cô đẹp nhất, rồi không ai thấy cô đó đâu. Cuối năm lại tuyển một trăm mỹ nữ, phụ hoàng cho nó cô xinh dẹp nhất, dường như là đệ nhất ca kỹ Long-thành tên Đào Hà-Thanh. Nhưng bấy giờ nó đang đi vi hành Thanh-hóa, nàng chờ nó gần năm. Khi trở về, nó đem nàng đi đâu mất.

An Quốc gật đầu:

– Nó hành sự thần không biết, quỉ không rõ. Có lẽ hỏi Mỹ-Linh hay con Bảo-Hòa mới biết được. Cái thằng… hành sự gì cũng xuất quỷ nhập thần không ai hiểu nổi. Được cái nó thương các cháu. Cứ hỏi con Mỹ-Linh hay Bảo-Hòa con thì biết ngay. À, phụ hoàng cứ bảo nó có tim sắt, không bao giờ động trước người đẹp. Thế mà nó mới gặp một cô gái trong giới võ lâm là mê ngay.

Công chúa Lĩnh-nam Bảo-hòa mở to mắt kinh ngạc:

– Cô nào mà diễm phúc thế? À, em nghĩ ra rồi, trong lần gặp gỡ ở trấn Thanh-hóa, em thấy một cô xinh đẹp tuyệt trần, võ công kiến thức rất cao. Cô ấy là con vị chưởng môn phái Đông-a thì phải.

Đào phò mã nói sẽ:

– Cái cô đi cùng Bảo-Hòa con, với Mỹ-Linh đến trang nhà ta đó. Lúc bấy giờ võ công cô ấy ngang với công chúa. Nhưng bây giờ e hơn.

Phò mã Thân Thừa-Quý kinh ngạc:

– Tôi tưởng trên đời này, không có người đàn bà thứ nhì võ công bằng chị An Quốc. Nào ngờ lại có một vị cô nương võ công cao đến như thế ư?

Đào Cam-Mộc cười :

– Võ công thì còn có người sánh với nàng. Còn mưu trí, tôi e tể tướng Phương-Dung thời vua Bà có sống lại cũng không hơn.

Nội công Mỹ-Linh hiện rất cao thâm, vì vậy hai bà cô nói truyện với nhau, nàng nghe rõ hết. Nàng biết tiếng nó hai bà dùng để chỉ Khai Quốc Vương. Nàng nảy ra ý so sánh giữa phụ vương với Khai Quốc Vương. Nàng thấy Khai Quốc Vương quả là nhân vật có tài kinh thiên động địa, tính tình lại đằm thắm. Còn phụ vương nàng tính tình nghiêm nghị, nhưng có tài cầm quân. Nếu nàng là ông nội, chắc chắn nàng truyền ngôi cho chú hai, chứ không truyền cho phụ vương.

An Quốc chỉ sang phía sập của phủ Khai Quốc Vương lo lắng:

– Phụ hoàng dành cho nó hai đệ nhất mỹ nhân, chả biết bây giờ hai nàng đó đâu? Lát nữa phụ hoàng hỏi đến, không biết nó sẽ trả lời sao? Chị e người nổi giận lôi đình chứ đừng hy vọng bỏ qua. Bấy giờ hai chị em mình cùng quỳ xuống xin tội cho nó, may mới thoát khỏi.

Thân Thừa-Quý lắc đầu:

– Đúng ra, đối với người ngoài, cậu hai thừa sức trả lời. Nhưng cậu là người con chí hiếu, nên tôi e cậu ấy sẽ không dám nói dối. Phụ hoàng hỏi hai cô đó đâu, cậu không dám nói thực, chỉ im lặng chịu tội.

Công-chúa An Quốc tát yêu Bảo-Hòa một cái:

– Con cháu thơm này đẹp thực. Hôm trước nó với Mỹ-Linh ghé Vạn-hoa sơn trang. Chị thử chiết chiêu với nó. Công lực nó cao thâm không thua gì chị. Không biết nó học được ở đâu trọn bộ Phục-ngưu thần chưởng với Lĩnh-nam chỉ pháp. Cứ đà này, hơn năm nữa nó hơn chị đấy.

Rồi bà thuật chi tiết mọi việc đã xẩy ra cho em nghe. Cuối cùng bà nói nhỏ:

– Việc em định gả nó cho Hưng-Long, nên xét lại cẩn thận. Vì Nguyên-Hạnh với Hồng-hương thiếu niên, không phải thiện nhân đâu.

Bỗng tiếng chiêng trống cùng trỗi dậy, trong Long Hoa Đường im phăng phắc. Dứt ba hồi chiêng trống, có tiềng hô:

– Hoàng thượng giá lâm. Tất cả quỳ gối.

Thuận Thiên hoàng đế đi trước, phía sau ba bà hoàng hậu Tá Quốc, Lập-nguyên, Lập-giáo, Tây-cung qúi phi, rồi tới các vị thái tử.

– Bình thân.

Mọi người đứng dậy. Thuận Thiên hoàng đế ngồi vào cái sập lớn, có hai con rồng sơn son thiếp vàng chầu. Các bà hoàng hậu, quý phi cùng ngồi trên một sập. Vũ-uy vương, Dực Thánh Vương là anh, em hoàng đế, được về chỗ ngồi. Còn các vị thái tử đứng hai bên sập, khoanh tay hầu hoàng đế với các hoàng hậu.

Thuận Thiên hoàng đế vẫy tay cho phép các vị thái tử về chỗ. Sập nào cũng đầy người. Sập của Khai Quốc Vương chỉ có mình bé Thường-Kiệt ngồi đó từ bao giờ với Đỗ Lệ-Thanh. Trừ Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, ai cũng ngạc nhiên không hiểu Lệ-Thanh với Thường-Kiệt thân thuộc với vương ra sao?

Công chúa An Quốc hỏi Bảo-Hòa:

– Con bé thơm! Ai ngồi trên sập cậu hai vậy?

– Thiếu phụ đó tên Đỗ Lệ-Thanh, nữ tỳ của anh Thiệu-Thái. Còn bé Thường-Kiệt, là con trai của tướng Ngô An-Ngữ, quản Khu-mật viện Nam Đại Việt.

Hồng-Phúc nghe Bảo-Hoà nói, nàng liếc nhìn Đỗ Lệ-Thanh với Thường-Kiệt. Trong lòng nàng nổi lên cơn giông tố:

– Ta là quận chúa, còn phải ngồi sập nhì, đâu dám ngồi sập nhất với phụ vương! Còn mụ tôi tớ với đứa trẻ con viên mạt tướng, mà lại ngồi sập nhất ư?

Nàng định chạy lại đuổi Lệ-Thanh cùng Thường-Kiệt đi, thì Nhật-Tôn đang ngồi trong lòng Mỹ-Linh, nó chạy lại bên Khai Quốc Vương. Vương bồng cháu vào lòng, hôn lên mớ tóc nó. Rồi không biết nghĩ gì, hai giọt lệ vương rớt trên mặt cháu. Nhật-Tôn hỏi:

– Chú hai nuôi chị Mỹ-Linh làm con hả?

– Ừ!

– Chú hai có thương con không?

– Chú hai thương con nhất! Hơn cả chị Mỹ-Linh.

– Chú hai nuôi con đi!

Vương nhìn cháu, hai mắt ngây thơ chờ vương trả lời. Vương tự biết, mình không thể hứa rồi bỏ qua được. Vì vậy vương im lặng suy nghĩ. Nhật-Tôn òa lên khóc:

– Chú hai không thương con rồi.

– Nín đi! Nín đi! Chú hai thương con. Chú hai cho con người bạn nghe.

Vương chỉ bé Thường-Kiệt:

– Thường-Kiệt chơi với Nhật-Tôn nào.

Nhật-Tôn nín ngay, một tay nó ôm chặt lấy vương, như sợ vương đi mất. Một tay nó nắm lấy Thường-Kiệt. Sảnh đường đông đến mấy trăm người, không ai chú ý đến hai đứa bé nắm tay nhau. Có ai ngờ cái nắm tay đó, sau này làm nghiêng ngửa giang sơn Đại-tống, Chiêm-thành, Chân-lạp.

Thuận Thiên hoàng đế phán:

– Cùng các con, các cháu. Hôm nay ta cho hội các con, các cháu lại đây để cùng nhau hưởng sơn hào hải vị của nước Chiêm-thành, Chân-lạp, Lão-qua tiến cống. Sau đó, ta sẽ ban hành một số chỉ dụ.

Chú giải:

(1) Hai câu thơ trên đây của Hà Thượng Nhân. Hà tiên sinh nhân cảm hứng đề tựa thi tập Con Đường Cải Tạo của Dương Tử do Tổ-hợp xuất bản miền Đông Hoa-kỳ (1990) xuất bản. Bài thơ chứa chan tình cảm ngậm ngùi của người Việt trước cảnh tang thương có một không hai trong lịch sử. Xin mạn phép Hà tiên sinh cùng thi hữu Dương Tử ghi vào đây để độc giả thưởng lãm:

Phiên âm:

    Khoái tai Dương-Tử Long Giao Ngâm
    Nhất phiến u hoài quán cổ câm.
    Báo quốc vô tài thân dĩ ngụy
    Lâm lưu hữu ý thủy do thâm.
    Thiên nhai viễn vọng sương vi vũ,
    Khúc tận tương khan lệ mãn khâm.
    Hậu thế tri âm như dục vấn
    Đoạn trường tục ký thử dư âm.

Dịch:

    Trời ơi một khúc Long Giao,
    Nỗi lòng Dương-Tử nghẹn ngào xót xa.
    Chính là cũng nỗi lòng ta,
    Cổ kim dồn cả tinh hoa vào người.
    Những mong giúp ích giống nòi
    Bất tài giờ biến thành người Ngụy quân.
    Đọc thơ vạt áo ướt đầm
    Sông sâu xem thử tinh thần có sâu?
    Tri âm ai đó ngàn sau
    Đoạn trường xin hãy vì nhau tỏ bày.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 96412
Has thanked: 35581 times
Have thanks: 48791 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: June 12th, 2018, 1:56 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Postby DaMinhChau » July 15th, 2017, 12:10 am


Hồi thứ bốn mươi hai

Vạn Hoa Đại Việt


Theo như tục lệ, các Thái tử, Công chúa dâng lễ vật lên Hoàng đế, cùng đưa lời chúc tụng. Đúng luật thời bấy giờ, thì con trai lớn dâng trước rồi theo thứ tự đến các con trai nhỏ. Sau đó tới các con gái lớn. Nhưng Thuận Thiên hoàng đế xuất thân quan võ. Thủa mới lập nghiệp, công chúa An Quốc võ công cực cao, theo giúp ngài chinh chiến lập nhiều công. Vì vậy bà được chúc đầu tiên, riết rồi thành lệ cứ theo trật tự con lớn chúc trước. Con nhỏ chúc sau. Luật triều Lý định rằng dù thái tử, dù công chúa, nếu chưa thành gia thất, vẫn bị coi như chưa trưởng thành.

Thời cổ, các nước Á-châu gọi con trai của vua là Hoàng-tử. Trong các con, người nào được chỉ định làm trừ quân, tất sau này nói ngôi vua cha, được gọi bằng Thái-tử. Nhưng triều Lý có biệt lệ. Tất cả con trai Thuận Thiên đều được phong Thái-tử. Khi các thái-tử tuổi 13-14 được ban tước vương cho mở phủ đệ riêng, cùng cầm quân, thực tập phương sách cai trị, hầu sau này nếu lên nối ngôi cha không gặp bở ngỡ.

Lý Long Bồ là con thứ nhì của Thuận Thiên hoàng đế, đến tuổi 13, thụ phong Khai Quốc Vương, truyền mở phủ đệ riêng. Vua và Hoàng-hậu tuyển cho vương nhiều cơ thiếp xinh đẹp. Nhưng Vương chỉ giữ lại vài người làm tỳ nữ hầu hạ, chứ không dùng làm cơ thiếp. Vương dùng hết cả tâm tư dùng vào việc học văn, luyện võ, cùng thu phục nhân tâm thiên hạ. Phụ hoàng và mẫu hậu cho rằng vương khó tính nên chưa có cô gái nào lọt vào mắt xanh.

Năm trước trong cuộc tuyển cung nữ, phụ hoàng đặc ân chọn Huệ Phương, Hà Thanh là hai thiếu nữ sắc nước hương trời, ôn nhu văn nhã cho Vương. Vương thu nhận hai nàng coi như một người bạn, rồi sau khi biết hai nàng có ẩn tình. Vương âm thầm trả hai nàng về với tình quân. Cho nên Vương trong cuộc dâng lễ vật, dù vương cầm quyền nghiêng nước, dù vương gần ba mươi tuổi, mà vẫn bị coi như nhỏ nhất, phải dâng lễ vật sau cùng.

Công chúa An Quốc dâng lễ vật đầu tiên. An Quốc phò mã Đào Cam Mộc tiến tới trước sập rồng định quì xuống hành đại lễ. Nhưng đức vua đã đứng dậy, hai tay đỡ phò mã công chúa, ngài bùi ngùi cảm động :

– Các con miễn lễ. Giang sơn này sỡ dĩ có ngày nay, một là do công của cô Hồng Châu, hai là do công của các con. Tiếc rằng cô Hồng Châu không còn tại thế. Hai con thích ngao du sơn thủy, đi lập Vạn-hoa sơn tranbg mà vẫn không quên quốc sự. Hôm Khai Quốc Vương tấu về tìm được hai con, ta cùng các hoàng hậu mừng đến trẻ được mấy tuổi.

Công chúa An Quốc định tâu với phụ hoàng về việc cô mẫu, công chúa Hồng Châu còn tại thế. Nhưng bà nhớ đến chuyện Khai Quốc Vương yêu cầu phải giữ kín, hầu giữ thể diện cho Thân Thiệu Anh, Thân Thừa Quý.

Đức vua rút thanh kiếm Thượng phương trao cho phò mã Đào Cam Mộc :

– Trước phủ Khai Quốc Vương tổng trấn Thanh-hóa. Mới đây ta chuyển vùng Nam Đại Việt thống thuộc về phủ Khai Quốc Vương kiêm nhiệm. Ta lại trao chức Thái-úy Phụ-quốc, quãn Khu-mật viện cho vương. Chỉ trong hai năm, mà Vương làm cho binh lực hùng mạnh. Toàn quốc không còn một vụ trộm cướp nào. Ta sợ Vương kiêm nhiệm nhiều việc quá, e khó chu toàn. Ta trao thanh gươm này cho con. Con được quyền thay ta thanh sát khắp đất nước. Gặp việc tùy nghi giải quyết.

Đào Cam Mộc kính cẩn tiếp kiếm.

Công chúa An Quốc vẫy tay, bẩy thị nữ quần áo xanh tiến vào. Mỗi người bưng một bình sứ trồng hoa. Tất cả đều là hoa lan. Hương thơm đặc biệt đưa khắp phòng. Công chúa An Quốc tâu :

– Con kính cẩn dâng lên phụ hoàng bẩy thứ Đại Việt danh lan mà con trồng được.

Dực Thánh Vương ngắm nhìn bẩy chậu lan hỏi :

– Ta tưởng chỉ có một vài loại lan, nào ngờ có bẩy loại sao ?

Công chúa An Quốc biết ông chú vốn xuất thân võ nghiệp, chưa từng đọc sách nên giảng giải :

– Thưa thúc phụ, không phải vài hay bẩy, mà có không biết bao nhiêu mà kể. Thần nhi chỉ mới sưu tầm được hai nghìn năm trăm loại khác nhau. Tạo hóa ưu ái dành riêng cho Đại Việt ta không biết bao nhiêu loại lan. Mỗi loai lan lại phân ra muôn hình, muôn mầu, muôn sắc, đẹp không bút nào tả xiết. Vì vậy tự cổ Lan Đại Việt được các danh sĩ gọi là Vương-hậu, vì nét đẹp, vì hương thơm, và vì tính chất trong sạch. Tùy theo nơi Lan mọc, thần nhi tạm phân Lan thành ba loại là Phong Lan, Địa-lan và Thạch-lan. Phong Lan là Lan mọc trên những thân cây, trên cao. Địa-lan là Lan mọc trên mặt đất. Còn Thạch-lan là Lan mọc ở nhưng khe đá. Thần nhi chọn trong hai nghìn năm trăm loại lan, lấy bẩy thứ lan có tên Thần-lan.

Vũ Đức Vương cười :

– Chị nói bẩy loại lan này vốn có tên, tức tiền nhân đặt ra cho nó, hay chính chị đặt ra ?

– Phò mã Cam Mộc với chị lựa ra bẩy thứ Phong Lan dường như tạo hóa cố tình sinh ra, cho hợp với đất linh, khí hùng của Đại Việt. Đặc tính, hình, sắc của chúng gắn liền vối lịch sử.

Đại sảnh đường đông tới hơn trăm người, mà không một tiếng động. Ai cũng im lặng nghe An Quốc giảng giải về Lan. Bà vừa giảng, vừa chỉ vào những chậu lan, tươi mầu sắc sặc sỡ.

Hoàng hậu Tá Quốc hỏi :

– Công chúa giỏi thực, chỉ ra đặc tính cây cỏ thiên nhiên phù hợp với dân tộc Việt. Nào công chúa hãy nói tại sao những cây Lan này được ví như những biểu tượng anh linh của dòng giống Tiên-Rồng.

An Quốc chỉ vào từng chậu một :

– Đặc tính thứ nhất là lá xanh, thân lá mọc thẳng. Khi gặp giông tố ngả nghiêng, rồi lại trở về với lối mọc thẳng. Giống như người Việt, dù bị mất nước, dù gặp mưa dồn, sóng vỗ, vẫn không thay đổi tính tình. Đặc tính thứ nhì là các cánh hoa uốn cong vào phía trong nhụy, che cho phấn, nhụy không bị gió thổi tan tác. Vì vậy hoa giữ được hương lâu dài hơn các loại khác. Đặc tính thứ ba là hoa mọc sát nhau, không bao giờ bông nọ ép bông kia. Ví như người Việt, xuất thân ở đâu cũng không kèn cựa, chèn ép người. Đặc tính thứ tư là hương Lan thơm nhẹ nhàng, dù gió đưa, dù ghé mũi ngửi hương thơm cũng như nhau. Về mầu sắc, từ lúc nở đến lúc tàn, mầu sắc vẫn giữ nguyên. Ví như người Việt, bền gan, giữ vững khí tiết, dù lúc còn nhỏ, hay khi về già. Đặc tính thứ năm là hoa nở vào cuối Đông, sang đầu Xuân. Trong khi các loại khác đều nở vào mùa Hạ.

Thuận Thiên hoàng đế gật đầu :

– Công chúa thực xứng danh vương hậu các loài hoa. Trong bẩy thứ Lan này, chắc mỗi thứ công chúa đặt cho một tên hẳn.

Được phụ hoàng khen, mặt công chúa ửng hồng :

– Quả thế. Loại thứ nhất tên Động Đình Cầu Hôn

Một thị nữ tách khỏi hàng, đến trước hoàng đế quì xuống dâng lên một chậu hoa. An Quốc chỉ vào chậu đó :

– Hoa tên Động Đình Cầu Hôn để nhắc lại xưa Quốc-tổ An Dương Vương cầu hôn cùng con vua Động Đình. Loại hoa này mỗi mầm có hai bông, chẳng bao giờ lẻ loi một, lại chẳng bao giờ có ba. Bông lớn màu đỏ tươi, nở tròn như mặt trời chiếu sáng. Tỷ như Quốc-tổ Kinh-Dương. Bông nhỏ thon dài, mầu nhạt hơn một chút hơi nghiêng về phía bông lớn. Tỷ như công chúa Động Đình. Đặc điểm của thứ lan này mọc trên đỉnh cao nhất của núi. Chỗ nó mọc, xung quanh có không biết bao nhiêu hoa Trường Xuân. Đúng như sử nói: «Xưa vua Kinh-Dương cầu hôn cùng công chúa con vua Động Đình, rồi lên núi Tam Sơn hưởng thanh phúc, lúc bấy giờ đỉnh Tam Sơn nở ra ba vạn hoa Trường Xuân».

Nàng vẫy tay, một thị nữ khác tiến đến trước mặt hoàng đế dâng lên chậu thứ nhì. Chậu này gồm hai tầng. Tầng trên có hai bông màu đỏ nhạt. Một bông. Một bông cuống nhỏ dài, đầu nở lớn ra như đầu rồng. Một bông nhỏ hơn, giống như con chim âu bay. Tầng dưới nở ra một bầu đầy hoa nhỏ.

– Tâu phụ hoàng, loại lan này thần nhi đặt tên là Bách Tộc Đồng Nguyên

Đây tầng trên, bông hình đầu rồng giống Quốc-tổ Lạc-Long, bông hình đầu chim, giống Quốc-mẫu Âu-Cơ. Tầng dưới, nở ra hàng trăm hoa nhỏ, giống trăm con. Lọai lan này hương thơm nhẹ nhàng, nhưng lâu tàn. Hoa mọc bất cứ chỗ nào cũng được. Song có đặc điểm hễ tưới phân, hoa chết liền, phải tưới bằng nước mưa. Tương truyền loại lan này xuất hiện vào ngày Quốc-Tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-Mẫu dẫn năm mươi con lên núi. Quốc-Tổ chỉ vào khóm lan nói rằng : Nay các con cùng một gốc, ví như trăm bông khóm lan này. Sau đây mỗi người làm vua một phương, phải dạy con cháu nhớ về cỗi nguồn cùng một tổ.

Mỹ-Linh đang ngồi nghe cô giảng giải về Lan, bỗng có luồng âm thanh nói như tơ rót vào tai nàng. Nàng nhận ra tiếng của Khai Quốc Vương:

– Trên nóc điện có gian nhân nghe trộm. Cháu hãy ra ngoài cửa Tây, có Thanh-Mai, Bảo-Hòa chờ ở đó. Mọi hành động phải nghe lời Thanh-Mai.

Mỹ-Linh nhìn sang phía dẫy sập của Bắc Biên, quả không thấy Thiệu-Thái, Bảo-Hòa, Lệ-Thanh đâu. Nàng vội vàng kiếm cớ đứng lên lẻn ra cửa Tây Long Hoa Đường.

Trong khi đó cuộc luận về Lan vẫn tiếp tục. Đàm quí phi chỉ vào chậu lan thứ ba:

– Loại lan này, rất thường thấy trong vườn Thượng-uyển. Không hiểu do sự tích gì, mà người ta nói rằng nó tượng trưng cho buồn sầu. Trai, gái đang lúc thanh xuân chẳng nên tặng nhau.

An Quốc gật đầu:

– Thưa quí phi quả như thế. Loại lan này xuất hiện vào thời vua Hùng. Tương truyền thời vua Hùng, có cô Mỵ-Nương, con quan Tể-tướng, nhan sắc hiếm có trên đời. Nàng thường ngồi trên lầu ngắm sông dưới trăng. Một ngày kia, thấy trong sương mờ một chiếc thuyền đánh cá lững lờ trôi qua. Trên thuyền có ngư nhân ngồi thổi tiêu. Tiếng tiêu khi cao vút tận mây mờ, khi trầm như xuyên vào cây vào cỏ, như muôn ngàn sợi tơ. Người nghệ sĩ trên sông hàng đêm thổi tiêu, nào biết Mỵ-Nương tương tư mình. Một ngày kia, vắng tiếng tiêu của chàng, Mỵ-Nương bị bệnh nặng, không thuốc gì chữa khỏi. Rồi bỗng dưng, người nghệ sĩ lại xuất hiện, tiếng tiêu đưa đến lầu, Mỵ-Nương khỏi bệnh ngay. Quan tể tướng tìm được nguyên do bệnh của con gái. Ngài cho triệu Trương Chi vào yết kiến. Khi Trương Chi đến, thì hỡi ôi, Mỵ-Mương vỡ mộng, vì mặt chàng thực là khó coi. Mỵ-Nương thất vọng sai đuổi Trương Chi ra.

Đàm quý phi mỉm cười:

– Hèn gì trong dân gian có câu ca rằng:

Ngày xưa có anh Trương-Chi,
Người thì thực xấu, tiếng thì thực hay.
Cô Mỵ-Nương vốn ở lầu Tây,
Con quan tể tướng ngày rầy cấm cung.

Công chúa ơi, thế rồi hai người có thành vợ chồng không?

– Tâu quý phi không. Anh Trương Chi bị làm nhục, trở về nhảy xuống sông chết. Tin này đến tai Mỵ-Nương, nàng hối hận vô bờ bến, sinh bệnh nặng. Thế nhưng từ đấy, đêm trăng, Trương Chi hiện lên thổi tiêu cho nàng nghe. Quan Tể tướng giận lắm, sai quật mả Trương Chi đem xác đốt, nhưng khi đào lên chỉ có tảng đá. Ngài truyền đem vứt tảng đá đi. Cô Mỵ-Nương sai lượm viên đá, đẽo thành cái chén uống nước. Hằng đêm, nàng đổ nước vào chén, hình Trương Chi lại hiện lên, thổi tiêu cho nàng nghe.

Công chúa chỉ vào chậu hoa Trương Chi, Mỵ-Nương:

– Kể từ ngày ấy, bên bãi sông lầu Tây, nảy ra loại Lan này. Vì vậy người Việt mình gọi là Lan Trương-Chi, Mỵ-Nương. Ban ngày, không có hương thơm, ban đêm hương tỏa ngào ngạt. Đây cánh trong cùng của hoa có bốn mầu. Nhụy giống hình người Trương Chi hiện lên trong chén, mầu vàng như chàng từng tắm trăng. Cánh hoa hình giống chén uống nước. Phần dưới mầu vàng, là chỗ nước đựng trong chén. Phần trên trắng, là phần chén, mà nước không tới. Trong chỗ chứa nứơc có hai vết đen, là bóng Mỵ-Nương với tể tướng in vào.

Đàm quí phi gật đầu:

– Quả đúng như công chúa nói. Thế sao trên cánh hoa lại có vết đỏ?

– Thưa, vết đỏ đó do công chúa uống trà, son trên môi nàng in vào miệng chén.

Hoàng hậu Lập-Giáo chỉ vào một chậu hoa hỏi:

– Còn Lan này có tên gì, mà sao coi giống phía sau một người không quần áo, dù rằng rất đẹp?

An Quốc chỉ vào khóm lan đó nói:

– Lan này có tên Hiếu Tử Thiên Thu, cũng xuất hiện vào thời vua Hùng. Tương truyền vua Hùng thứ sáu. Bấy giờ có cha con họ Chử, làm nghề đánh cá ven sông. Hai cha cho chỉ có một cái khố. Khi cha ra ngoài thì cha mang. Khi con ra ngoài thì con mang. Một ngày, cha lâm bệnh sắp chết, dặn rằng: Sau khi bố chết, con cứ chôn bố trần truồng, giữ lại cái khố mà mặc. Nhưng khi cha chết, Chử Đồng Tử đem chôn khố theo cha. Một ngày kia chàng đang đánh cá ven sông, thấy thuyền rồng công chúa tới. Sợ hãi, chàng vội bới cát, chôn nửa người trong bụi lau. Công chúa đến bãi sông, truyền quây màn quanh bụi lau để tắm rửa. Khi đang tắm, nước làm trôi cát, hiện ra thân hình trần truồng của Chử Đồng Tử. Công chúa cho là duyên trời, kết hôn với chàng. Từ đấy ven sông, nảy ra loại lan này, dân chúng gọi là lan Chử Đồng Tử hay Lan Hiếu Tử Thiên Thu. Tuy hình dáng thô tục, nhưng tinh thần đẹp hơn bất cứ loại hoa nào.

Công chúa ra lệnh cho tỳ nữ khác bước tới dâng lên một chậu lan, hương tuy thơm, nhưng hơi nặng. Hoàng đế bật cười:

– Loại này coi ngộ thực. Trông giống như một cái chum đựng nước, trên có lọng che. Hình dáng thực quen thuộc. Không biết ta thấy ở đâu rồi.

Khai Quốc Vương tâu:

– Tâu phụ hoàng, hình dáng giống như chỏm cao nhất của Loa-thành thời vua An-Dương.

– Đúng rồi, giống hệt vọng lâu ở Loa-thành. Này công chúa, loại lan này ắt có tên là Lan Loa-thành hẳn?

– Tâu phụ hoàng vâng. Tương truyền sau khi vua An-Dương đắp xong Loa-thành, khắp chân thành nảy ra loại lan này, cho nên dân chúng dùng tên ấy đặt cho lan.

Hoàng hậu Lập-Nguyên hỏi:

– Này công chúa, trong bẩy thứ lan, tất cả đều hướng trở lên. Duy loại lan này lại mọc úp trở xuống. Thế nó ứng với linh khí gì của Đại Việt?

An Quốc tâu:

– Loại Lan này có tên Hận Tình Mỵ-Châu.

Hoàng hậu Lập-Nguyên thấy trong đám con cháu, có nhiều người không hiểu Mỵ-Châu là gì, bà nói:

– Công chúa nhắc lại truyện tình Mỵ-Châu, Trọng-Thủy một lần đi.

Công chúa An Quốc dạ một tiếng tiếp:

– Thời vua An-Dương có Âu Lạc tam bảo. Một, nhờ Cao Cảnh Hầu Cao-Nỗ chế ra nỏ thần, bắn một phát cả nghìn mũi tên. Hai, địa thế hiểm trở. Ba, võ công Đại Việt khắc chế võ công Trung Nguyên. Vua nước Nam-Việt tên Triệu Đà, nhiều lần mang quân sang đánh đều bại. Triệu Đà xin cầu hoà, hỏi công chúa Mỵ-Châu cho con trai là Trọng-Thủy. Lại xin cho Trọng-Thủy sang ở rể Âu Lạc. Trọng-Thủy sang ở trong Loa-thành, y dò được cách chế nỏ thần, học được võ công Đại Việt, và biết được điạ thế. Rồi y giả vờ xin về thăm nhà. Khi đi, y hỏi Mỵ-Châu rằng : Lỡ ra khi ta đi rồi, có giặc đến thì biết làm sao tìm nàng?. Mỵ-Châu đáp:Thiếp có áo lông ngỗng, khi đi đâu, thiếp rắc lông ngỗng. Chàng tìm dấu lông ngỗng sẽ thấy thiếp.

Đến đó An Quốc ngừng lại. Đám trẻ nhao nhao lên:

– Rồi sao? Rồi sao?

– Trọng-Thủy trở về cung cấp Âu Lạc tam bảo cho Triệu-Đà. Triệu-Đà cất quân sang đánh Âu Lạc. Vua An-Dương bị thua. Ngài bỏ Mỵ-Châu ngồi sau ngựa, rồi chạy vào phương Nam. Trọng-Thủy theo dấu lông ngỗng đuổi gấp. Khi vua An-Dương chạy đến bờ biển vùng Cửu-Chân, mới khám phá ra vụ Mỵ-Châu. Ngài rút kiếm giết con gái, dặn các tướng ẩn thân chờ ngày phục quốc, rồi nhảy xuồng bể tự tử. Còn Trọng-Thủy đuổi đến bờ biển thấy xác vợ, sau khi chôn cất nàng rồi, trở về Cổ Loa nhảy xuống giếng tự tử. Từ đấy quanh thành Cổ Loa mọc ra thứ lan này, dân chúng gọi là Hận Tình Mỵ-Châu.

An Quốc chỉ vào khóm Lan Hận tình Mỵ-Châu:

– Lan này có đặc điểm, là lưng cánh mầu trắng, phía trong mầu tím, luôn mọc ngược, giống như người sầu hận, hối lỗi.

Tỳ nữ dâng khóm lan cuối cùng. Hoàng đế gật đầu:

– Trong bẩy loại Lan, loại này trông vừa mỹ miều, lại thanh cao. Hoa có năm cánh, mầu trắng ngần, nhụy giống hình một phụ nữ đầu đội khăn, mặc áo hơi vàng. Hương thơm thực thanh cao. Thế nó biểu tượng cho biến cố gì? Hồi năm trước, trẫm đi qua Mê Linh, thấy khắp nơi đều có Lan này.

An Quốc chỉ vào khóm lan:

– Tâu, Lan này có tên là Lan Vua Bà.

Cả đại sảnh cùng ồ lên một tiếng, tỏ vẻ hiểu biết. An Quốc tiếp:

– Trong lịch sử Đại Việt, chỉ có một người đàn bà duy nhất mặc áo lụa vàng nhạt, đó là vua Trưng. Tương truyền từ sau khi vua Bà tuẫn quốc ở Cẩm-khê, khắp nơi trên Lĩnh-Nam đều mọc ra loại hoa này.

Hoàng-đế hỏi Khai Quốc Vương:

– Khai Quốc Vương, con đi khắp đất nước, con có nhận xét gì về các loài hoa của Đại Việt?

Khai Quốc Vương tâu:

– Tạo hóa sinh ra muôn vật đều có liên hệ. Cỏ cây cũng giống như người ta. Khi con đi khắp đất nước, ngẫm ra được một điều, là vùng nào hoa tươi, đẹp, con gái vùng đó xinh tươi lạ thường. Vùng nào hoa cằn cỗi xấu, vùng đó con gái hình dạng thô lậu, mặt mũi khó coi. Hoa vùng nào có hương thơm, phụ nữ vùng đó có nhiều đức tính nhu thuận, trinh tĩnh, khoan hòa. Hoa vùng nào không hương thơm, phụ nữ vùng đó cộc cằn, dữ tợn, khô khan.

Tiếp theo các Thái-tử, Công-chúa dâng lễ vật. Đa số lễ vật đều trân quí như vàng, ngọc, châu báu. Công chúa An Quốc không thấy Khai Quốc Vương dâng lễ vật, nàng lấy làm kinh ngạc cho em.

Hoàng hậu Lập-Nguyên cũng lo nghĩ cho con. Bà hỏi:

– Long-Bồ, kể về quyền uy, con đứng đầu, chỉ thua có vua Bà Bắc Biên. Không lẽ con nghèo đến độ không có gì dâng phụ hoàng ư?

Cả sảnh đường cùng cười ồ, vì ai cũng biết Khai Quốc Vương chỉ lo làm việc, quên ăn, quên ngủ, và quên cả lấy vợ. Bổng lộc có bao nhiêu, Vương đem tặng anh hùng, danh sĩ khắp nước, rút cuộc Vương nghèo đến chẳng còn gì.

Các vị Thái-tử thấy Khai Quốc Vương không dâng lễ vật, đều cười, tỏ vẻ khinh khiến. Các ông đến đây dự yến, ông nào quần áo cũng đẹp đẽ, ngọc ngà đeo đầy người. Khai Quốc Vương chỉ mặc bộ quần áo vải đơn sơ, trên mình không có một chút châu báu nào.

Chợt Thuận Thiên hoàng-đế cau mặt hỏi Khai Quốc Vương:

– Vương nhi! Năm trước ta với mẫu hậu tuyển trên trăm mỹ nữ khắp thiên hạ về cung. Ta thân lựa lấy một mỹ nhân ôn nhu văn nhã, sắc nước hương trời. Nàng lại biết võ công, đem về phủ cho con. Ta những tưởng nàng sẽ được con cho làm chính phi. Ta chờ mãi không thấy con thượng biểu tâu xin phong Vương-phi. Ta đoán rằng nàng không khéo hầu hạ con, nên năm vừa qua, ta với hậu lại tuyển cung nữ. Lần này ta tuyển đệ nhất ca kỹ Thăng-long tên Đào Hà-Thanh, đem cho con. Nhan sắc của nàng thực vô song. Nàng lại đàn ngọt hát hay. Như vậy chắc con vui lòng chứ? Hai nàng đó đâu, không đến bái kiến ta?

Nghe phụ hoàng hỏi đến Huệ-Phương, Hà-Thanh, Khai Quốc Vương luống cuống:

– Tâu phụ hoàng hai nàng đó vắng mặt.

Khai Thiên Vương vốn thích uy quyền, nay được dịp đàn hặc:

– Chú nói lạ. Trong phủ anh em chúng ta, không thiếu gì phi tần, mỹ nữ. Chúng ta muốn làm gì thì làm. Duy các mỹ nữ do phụ hoàng tuyển cho, tức nàng đương nhiên trở thành vợ rồi. Chúng ta chỉ có quyền đặt họ làm chính phi hay thứ phi thôi. Huệ-Phương, Hà-Thanh là hai thiếu nữ nhan sắc có một không hai. Phụ hoàng thân tuyển cho chú. Dù chú không thích, cũng phải cho hai nàng đến chầu phụ hoàng cùng mẫu hậu ngày hôm nay chứ!.

Khai Thiên Vương thấy em im lặng, ông tiếp:

– Phụ hoàng niên kỷ đã cao. Anh em chúng ta ai cũng con đàn cháu đống. Duy có chú, giờ này gần ba mươi tuổi, mà chính thê chưa định, con cái nối dõi cũng chưa có, thế là đạo lý gì?

Khai Quốc Vương tự biết mình nắm quyền nghiêng nước, uy thế cực kỳ mạnh, vì vậy anh em luôn tìm dịp để tấn công mình. Chàng tâu:

– Tâu phụ hoàng, thần nhi tự biết đến tuổi này, chưa có con nối dõi tông đường là tội lớn. Tuy vậy thần nhi đã nuôi Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Thiệu-Thái, thì tuy không con, cũng như có con rồi vậy. Còn việc hai mỹ nữ Huệ-Phương, Hà-Thanh, thần nhi xin chịu tội với phụ hoàng. Quả thực thần nhi đã cho hai nàng ấy qui gia rồi.

Nhật-Tông chạy lại quỳ gối trước hoàng đế:

– Ông nội! Ông nội cho con làm con nuôi chú hai đi!

Thuận Thiên hoàng đế suy nghĩ một lúc rồi gật đầu:

– Khi chú hai có vợ, ông sẽ cho con ở với chú hai.

Nhật-Tông lạy tạ, rồi nhảy tọt vào lòng Khai Quốc Vương.

Thời bấy giờ, con gái đi lấy chồng mà phạm lỗi nặng, thì bố mẹ chồng, hoặc chồng có quyền đem trả về nhà mình, gọi là qui gia. Nghe Khai Quốc Vương nói cho Huệ-Phương, Hà-Thanh qui gia, Dực Thánh Vương lên mặt ông chú:

– Cháu nói gì mà kỳ lạ vậy. Theo gia pháp nhà mình, hai nàng ấy do phụ mẫu tuyển cho. Nếu hai nàng có lỗi đạo, cháu phải tâu với phụ hoàng, mẫu hậu, đợi chỉ dụ rồi mới cho qui gia được chứ? Ta thấy hai nàng ấy tài sắc đáng giá nghiêng thành, đức hạnh khó bì. Thế mà cháu nỡ cho qui gia ư?

Khai Quốc Vương nghe chú, rồi anh xúm vào đả kích mình. Chàng thừa sức trả lời hai người. Nhưng chàng không muốn cãi cọ trước mặt song thân. Chàng nhìn chú, nhìn anh, nhìn em, rồi chửi thầm:

– Người ta thường nói:

Anh hùng đánh khắp chín châu,
Khi về xó bếp, chuột chù gặm chân.

Khi có sự, các người mũ ni che tai, mình ta giải quyết. Khi vô sự các người bới lông tìm vết hại ta. Sau này ta sẽ cho các người hối hận.

Chàng khấu đầu tâu:

– Hai nàng ấy quả thực xinh đẹp, ôn nhu văn nhã. Thần nhi không thể chê vào đâu được. Thần nhi cho hai nàng qui gia, một là cảm thông hoàn cảnh, hai là kính trọng, mà cho qui gia, chứ không phải vì ghét bỏ hay vì hai nàng phạm lỗi gì.

Nghe Khai Quốc Vương biện luận, Thuận Thiên hoàng đế nào phải không biết con, Ngài mỉm cười không nói ra lời, đưa mắt nhìn vương, trong lòng suy nghĩ:

– Đứa con thứ nhì của mình hành sự cẩn trọng, không thể hồ đồ. Nó cho hai nàng qui gia, ắt có lý do trọng đại. Ta cần phải xét lại, chẳng nên bắt nó nói ra ở đây.

Nghĩ vậy trong lòng ngài nổi lên một niềm tự hào. Tuy vậy ngài cũng cảm thấy đứa con trai thứ nhì của mình thực khác hẳn với con cả. Khai Thiên Vương, lúc nào cũng thích ra uy quyền con cả, thích tỏ cho mọi người biết rằng mình có vương tước, một tướng cầm quân, hơn nữa tương lai có thể sẽ lên ngôi cửu ngũ. Còn Đông Chinh Vương trung hậu có trung hậu, song phải cái nhẹ dạ dễ tin người. Vương còn mắc một tật nguy hiểm là : Coi người thân như cừu thù, coi kẻ ác như chân tay. Từ khi mở vương phủ riêng, Vương dùng người nào làm tâm phúc, y như người ấy phản Vương. Vũ Đức Vương xấu người, nhưng rất khôn khéo, vương có đủ đức tính của Khai Quốc Vương, trong nhà thường gọi Vương là Tiểu Khai Quốc Vương .

Ngài suy nghĩ:

– Ta phải truyền ngôi cho ai bây giờ?

Ngài hỏi Khai Quốc Vương:

– Bồ nhi, con định dâng cho ta vật gì đây?

Bảo-Hòa từ ngoài bước vào, nghe ông ngoại hỏi cậu hai, nàng chạy đến trước ông ngoại, quỳ xuống rập đầu:

– Tâu ông ngọai. Cậu Long-Bồ giầu nhất Đại Việt, mà cũng nghèo nhất. Con xin vì cậu, dâng lên ông ngoại lễ vật.

Thuận Thiên hoàng-đế vẫy tay, cho Bảo-Hòa đứng dậy:

– Con cháu thơm nhất Đại Việt dâng lễ gì thay bố nuôi đây?

Thời bấy giờ, cha với con gái. Mẹ với con trai. Anh với em gái. Ngay ông với cháu gái. Kể từ mười hai tuổi trở đi, phái sống cách biệt, tuyệt đối cấm không được chạm vào người nhau. Thế nhưng Thuận Thiên hoàng đế cực kỳ sủng ái Bảo-Hòa. Ngài nắm tay kéo nàng cho ngồi bên cạnh.

Bảo-Hòa kính cẩn tâu:

– Cậu hai là người giầu nhất, mà cũng nghèo nhất. Cậu nghèo nhất vì cậu có gì, bất cứ võ lâm, danh sĩ muốn, cậu cho hết. Cậu giầu nhất, vì bất cứ võ lâm danh sĩ thiên hạ có gì, cậu muốn họ cũng dâng hết. Hiện nay anh hùng thiên hạ chín phần mười đều qui phục cậu hai. Mà cậu hai là con ông ngoại. Vì vậy cái kho tàng vô giá nhân tâm thiên hạ đó là của ông ngoại. Con xin vì cậu hai dâng lên ông.

Thuận Thiên hoàng đế hỏi Bảo-Hòa:

– Cháu ngoan. Trẫm đọc tấu chương của Khu-mật viện nói về những việc cháu với Bình-Dương làm ở trấn Thanh-hoá thực kinh thế hãi tục. Bây giờ cháu hãy thuật lại đầy đủ những gì đã xẩy ra trong gần một năm qua cho trẫm cùng các chú, các cô, các cậu nghe.

Bảo-Hòa khoan thai kể lại mọi việc, không dấu một việc nào. Khi mới về Thăng-long, Khai Quốc Vương đã dặn anh em nàng với Thanh-Mai rằng có hai việc cần dấu là việc phản quốc của bọn họ Đàm và bọn Nguyên-Hạnh. Vì Vương muốn những việc đó cần để như vậy hầu tương kế tựu kế. Nếu phá vỡ những ổ gian nhân đó, bọn Tống sẽ xây thêm những ổ khác, khó mà tìm được. Cho nên Bảo-Hòa chỉ thuật những gì liên quan đến bọn Tống, đến Vạn-thảo sơn trang, Vạn-hoa sơn trang và trang Thiên-trường.

Cuối cùng Bảo-Hòa kết luận:

– Cậu hai bỏ tất cả tài sản, tâm trí ra hầu thu phục nhân tâm. Võ lâm trăm người như một, không ai mà không hướng về triều đình. Đó là lễ vật trân quý không gì bằng, mà cậu hai dâng lên ông.

Khai Thiên Vương lắc đầu:

– Chưa hẳn. Chú hai cầm toàn binh quyền trong tay, lại kiêm quản Khu-mật viện. Thế có chắc đã thu phục được nhân tâm của phái Đông-a, phái Sài-sơn chưa? Trong Ngũ-long Đại Việt, chỉ có Quốc-sư Minh-Không, sư thái Tịnh-Tuệ, cùng Tản-viên Đặng-Đại-Khê ta nghĩ chẳng cần đến Khai Quốc Vương họ cũng qui phục triều đình.

Vũ Đức Vương cãi:

– Thu phục nhân tâm là nhiệm vụ chung của phụ hoàng, của anh em chúng ta, đâu phải của riêng anh hai?

Khai Thiên Vương cười nhạt:

– Phụ hoàng chẳng từng chỉ dụ rằng, ai có thể giải được cái mâu thuẫn giữa phái Đông-a, Sài-sơn với triều đình, người ấy xứng đáng lên ngôi Cửu-ngũ. Ta là anh cả, ta muốn các em phải nghĩ đến điều đó. Chúng ta có nắm được võ lâm thiên hạ, mới mong giữ nổi đất nước. Chìa khóa của việc thống nhất nhân tâm võ lâm ở phái Đông-a và phái Sài-sơn. Chưa thu phục được hai phái đó, vẫn như không

Thấy anh với em cãi nhau, Khai Quốc Vương chợt nhớ đến một truyện. Hôm trước Thanh-Mai từ Thiên-trường về tới, chàng dẫn nàng dạo chơi cố đô Cổ Loa. Thanh-Mai trao cho chàng một thanh kiếm rất cổ. Nàng cho biết hồi trước bố nàng giết chết một tên đạo tặc, mà lấy được. Bố nàng cho nàng. Thanh kiếm rất sắc bén, trên khắc hình con rồng với con chim âu. Nay nàng tặng cho chàng. Chàng không biết thanh kiếm đó tên gì, nên đeo bên mình. Động tâm cơ, chàng đứng dậy nói:

– Tâu phụ hoàng, hài nhi xin dâng phụ hoàng một thanh kiếm.

Chàng kính cẩn, hai tay nâng ngang mày, quỳ gối dâng cho phụ hoàng. Mới trông thấy thanh kiếm, Thuận Thiên hoàng đế kinh ngạc, gần như xuất thần, rồi ngài tiếp lấy, rút ra khỏi vỏ hỏi:

– Con tìm ra thanh kiếm này ở đâu?

Chàng định nói tên Thanh-Mai, nhưng chợt nhớ ra rằng, dù có nói tên nàng ra, phụ hoàng cũng không biết. Chàng tâu:

– Do một nữ hiệp thuộc phái Đông-a tặng.

Thuận Thiên hoàng đế càng kinh ngạc. Vì từ khi lên ngôi, mối ưu tư số một của ngài phải làm sao thu phục được phái Đông-a, với Hồng-sơn đại phu. Vì ngài biết hai nơi này tàng trữ sức mạnh Đại Việt, mà không hiểu vì lý do gì cứ ngấm ngầm kình chống triều đình. Triều đình đã gửi lễ vật ban tặng, không bao giờ hai nơi ấy tiếp nhận. Nay Khai Quốc Vương lại được người của phái Đông-a tặng kiếm, theo phong tục hồi ấy như một hành động tuân phục. Ngài biết con không nói dối, nhưng cũng hỏi lại:

– Có thực không?

– Tâu phụ vương thực. Nàng là em kết nghĩa của con.

Rồi vương kể sơ lược vụ chín người kết nghĩa trên núi Chung-chinh, xưng tên Thuận Thiên cửu hùng cho phụ hoàng nghe.

Thuận Thiên hoàng đế ngắm nghía thanh kiếm, rồi gật đầu:

– Vật mà trẫm mơ ước bao năm, bây giờ lại do người của phái Đông-a tặng, thực đến nằm mơ trẫm cũng không ngờ tới.

Khai Thiên Vương nhăn mặt:

– Một thanh kiếm cổ, đen sì, có gì quý đâu, mà phụ hoàng kinh ngạc?

Thuận Thiên hoàng đế lắc đầu:

– Con không biết đó thôi, thanh kiếm này có tên Khai quốc bảo kiếm nó được đúc từ hồi vua Kinh-Dương. Vua Kinh-Dương đúc thanh kiếm, rồi khắc hình con rồng, con chim âu để ban cho Quốc-Tổ Lạc-Long, Quốc-Mẫu Âu-Cơ. Thanh kiếm tượng trưng cho uy quyền quốc gia. Nó được truyền qua các đời vua Hùng. Sau về vua An-Dương. Khi vua An-Dương tự tử, thanh kiếm biến mất. Đến thời Lĩnh-Nam, Bắc-bình vương Đào Kỳ tìm được, dâng cho vua Trưng. Khi vua Trưng tuẫn quốc, nó bị Mã Viện ăn cứơp mang về Trung-nguyên. Vua Hán cất ở điện Vị-ương, tự cho có oai thế đàn áp man di. Đời Tam-quốc, Tào Tháo mang theo đánh Ngô ở Xích-bích. Tào bị bại, bỏ chạy. Khi qua Hoa-Dung, Tào bị Quan Vũ cướp thanh kiếm này. Khi Quan Vũ bị Đông-Ngô diệt, thanh kiếm đó về tay Tôn Quyền. Lúc bà Triệu khởi binh, Quyền trao cho Lục Dận đem sang đánh đẹp. Trong trận đánh Cửu-chân, bà Triệu đoạt kiếm này từ tay Lục. Thế rồi thanh kiếm đó thất lạc đến nay. Không hiểu sao, nó lại về phái Đông-a, mà phái này tặng Long-Bồ.

Khai Quốc Vương trở về chỗ ngồi. Thuận Thiên hoàng đế rút kiếm ra ngắm nghía. Khai Thiên Vương tâu:

– Không biết có đúng thanh kiếm đó không? Phái Đông-a mà được kiếm đó, đời nào họ cho chú hai? Con không tin.

Dực Thánh Vương tiến lên nói:

– Gần đây Khu-mật viện không ngớt thượng biểu nói về hành trạng của công chúa Bình-Dương, thế tử Thiệu-Thái, quận chúa Bảo-Hòa tại trấn Thanh-hóa. Những việc đó thực kinh thiên động địa. Đến bọn thần, tuổi trên tứ tuần, mà cũng không thể làm nổi, trong khi khu-mật viện lại gán cho mấy đứa trẻ công lao đó. Thần thực không tin. Bình-Dương bất quá tuổi mười bẩy, văn học tuy có uyên thâm, nhưng võ công e trói gà không chặt. Hồi nãy Hồng-Phúc tát một cái, mà không đỡ nổi, thế thì võ công chẳng có gì. Thế mà Khai Quốc Vương tâu rằng Bình-Dương có thể chống lại với bọn võ công lừng danh thiên hạ như Tung-sơn tam kiệt, e quá đáng.

Đông Chinh Vương cũng tiếp:

– Lời tâu của Dực Thánh Vương thực phải. Xin phụ hoàng trừng phạt Khai Quốc Vương về tội khi quân, dối triều đình.

Phò mã Thân Thừa-Quý nghe chú vợ, rồi em vợ kết tội Khai Quốc Vương, ông bực mình. Nhưng ông xa Thiệu-Thái, Bảo-Hòa gần một năm. Ông không biết những biến cố quan trọng, nên không biện luận được. Nhưng qua những bản tin do Bảo-Hòa sai chim ưng đưa về Bắc Biên, thì những việc xẩy ra, hoàn toàn hợp lý chứ không thể nào bịa đặt được.

Thình lình ầm một tiếng kinh khủng trên mái ngói, rồi ba người đáp xuống như ba con đại bàng. Một người tay phóng chưởng tấn công Hoàng-đế, tay đoạt kiếm. Hoàng-đế vung chưởng đỡ. Bình một tiếng, ngài bật lui liền ba bốn bước. Người lảo đảo. Kiếm đã bị đoạt mất. Một người đỡ chưởng của phò mã Đào Cam-Mộc. Một người đỡ chưởng của công chúa An Quốc.

Mọi người cùng kinh hoảng la lên. Vì Thuận Thiên hoàng đế là đệ tử đắc ý của Vạn-Hạnh thiền sư. Võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Võ công các hoàng tử đều do ngài truyền dạy. Thế mà người kia chỉ đánh một chưởng, khiến ngài bật lui, e rằng khắp sảnh đường không ai địch lại y.

Người đó, có thân hình gầy như que củi, gương mặt khắc khổ, chòm râu đã bạc trắng, y mặc quần áo nâu, mặt bịt khăn, chỉ hở hai con mắt, sáng như sao. Các thái tử bao vây người đó vào giữa.

Người đó cười nhạt:

– Lý Công-Uẩn tự thị anh hùng vô địch, dùng võ công sáng lập triều đại, thế mà lại dùng số đông uy hiếp người ư?

Y nói tiếng Việt bằng âm thanh hơi lạ, không giống với bất cứ tiếng nói vùng nào trong nước.

Người đối chưởng với phò mã Đào Cam-Mộc thân hình nhỏ bé, dường như chưa già. Phò mã Đào Cam-Mộc đã xử dụng Cửu-chân chưởng đỡ chưởng của y. Hai người cùng bật lui, đủ tỏ công lực ngang nhau. Còn người đối chưởng với công chúa An Quốc là một phụ nữ. Công chúa An Quốc dùng chiêu Ác ngưu nan độ trong Phục-ngưu thần chưởng đỡ. Thế mà người kia chỉ loạng choạng một chút, chứ không bị bật lui.

Mỹ-Linh nói với Bảo-Hòa:

– Bọn này là người Việt, võ công của họ hơi giống võ công Tượng-quận. Võ công Cửu-chân chỉ khắc chế võ công Trung-nguyên. Vì vậy phò mã Đào Cam-Mộc không thắng được y.

Biến cố xẩy ra đột ngột. Tuy vậy, đám đàn bà trẻ con cũng nhanh nhẹn lui vào cuối phòng. Ở giữa chỉ còn hoàng đế với các thái tử, cùng công chúa mà thôi.

Khai Thiên Vương cười nhạt:

– Cứ như thân thủ các vị, thì thuộc loại đại tôn sư hiếm có trên thế gian này. Hà cớ phải bịt mặt. Các vị có thể cho ta biết danh tính được chăng?

Người lùn cười nhạt:

– Khai Thiên Vương nói câu đó thực ngu vô cùng. Chúng ta cần dấu căn cước mới phải bịt mặt. Khi đã bịt mặt, đời nào còn nói tên ra nhỉ. Hỏi thế mà cũng hỏi.

Vũ Đức Vương chỉ xuống sân:

– Các người hãy trông? Thị vệ bao vây kín như thành đồng vách sắt. Các người dù có cánh cũng không bay ra lọt. Hãy bỏ khăn bịt mặt, chịu trói.

Người đàn bà cười nhạt:

– Chúng ta không bỏ. Các người có bản lĩnh thì bắt chúng ta đi. Không ngờ trên từ Hoàng-đế, xuống đến Thái tử, mà dùng đông người uy hiếp chúng ta. Thực không xứng đáng làm con người chứ đừng nói làm vương, làm đế.

Các Vương luận bàn, chê bai, bẻ bác rất hay, nhưng khi gặp việc khó khăn, họ lại buông xuôi, nghĩ rằng, đã có Khai Quốc Vương giải quyết.

Từ khi Khai Quốc Vương cầm đại quyền, họ không ngớt bới lông tìm vết bắt bẻ đủ điều, vì sự thành công của Vương. Bây giờ trước vấn đề nhỏ bé như thế này, họ chỉ biết im lặng. Vũ Đức Vương, Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương cho tới Khai Thiên Vương đều đưa mắt nhìn Khai Quốc Vương như ngụ ý người giải quyết đi. Vũ Đức Vương cười nhạt, nói với Khai Quốc Vương:

– Người tự hào mưu kế trùm hoàn vũ. Vậy người hãy làm cách nào đuổi được bọn này đi, ta tôn người làm trừ quân.

Khai Thiên Vương mỉa mai:

– Mưu với mẹo, người thử kiếm ra mưu khuất phục bọn này xem. Ta e tể tướng Nguyễn Phương-Dung thời Lĩnh-Nam sống dậy cũng bó tay.

Khai Quốc Vương vẫn ung dung mỉm cười, cầm bình trà rót ra uống, thái độ thản đãng đãng nhàn nhã như không có gì xẩy ra.

Công-chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hoà nói với lão già:

– Được, ở đây các người có ba người. Chúng ta sẽ cử ra ba người đấu với các người. Hễ các người thắng được chúng ta. Ta cho người ra đi. Ngược lại, các người bại, tất cả phải ở lại.

Lão già cất giọng trầm trầm khoan thai:

– Hay lắm. Chúng ta đấu với các người.

Công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa ước lượng lão già, e khắp tất cả mọi người hiện diện, không ai địch lại đã đành. Nhưng gã lùn, phò mã Đào Cam-Mộc có thể thắng y. Còn người đàn bà, có công chúa An Quốc dư sức chế phục. Chỉ cần bắt được một trong ba tên, sẽ ra tông tích chúng.

Lão-già mỉm cười:

– Ta muốn đấu trận đầu tiên. Nào, bên người có ai muốn biết mặt Diêm-Vương ra đấu với ta.

Cả Long Hoa Đường im lặng, không ai lên tiếng, ngơ ngác nhìn nhau.

Khai Quốc Vương tiến lên đối diện với lão già, chàng chắp tay vái một vái. Lão già cũng đáp lại. Nhưng lão tung ra một kình phong cực mạnh. Khai Quốc Vương đã đề phòng. Chàng vận Vô-ngã tướng thiền công. Kình lực của lão già tràn ra như sóng vỗ, gặp sức hút của Vô-ngã tướng thiền công, bị mất tăm, mất tích.

Khai Quốc Vương mỉm cười:

– Lão tiên sinh. Tiểu bối bản lĩnh tuy không làm bao, nhưng cũng bạo gan xin lão tiên sinh chỉ giáo cho mấy chiêu. Tuy nhiên, giữa lão tiên sinh với tiểu bối vốn không thù, không oán lại cùng nguồn gốc tổ tiên. Tiểu bối xin được mời lão tiên sinh cùng hai vị đây uống mấy chung rượu trước khi đấu võ, không biết lão tiên sinh cùng hai vị tiền bối có thuận không? Việc lão tiên sinh cùng hai vị tiền bối giá lâm Hoàng-thành, tiểu vương chậm nghinh tiếp, thực có lỗi vô cùng. Mong lão tiên sinh đại xá cho.

Nói rồi chàng thân kéo ghế:

– Mời ba vị ngồi chơi uống mấy chung rượu nhạt.

Lão già đưa mắt nhìn hai tùy tòng, lão suy nghĩ:

– À thì ra con thứ Lý Công-Uẩn đây. Người Đại Việt đồn y mưu trí trùm hoàn vũ, lại độ lượng hơn người. Vừa rồi không biết y dùng võ công gì mà làm tiêu hao mất lình lực của mình?

Y cười:

– Người ta đồn làm anh hùng võ lâm mà chưa được gặp Khai Quốc Vương thì vẫn là kẻ phàm phu. Hôm nay lão phu mới tin.

Lão ngồi xuống ghế. Hai tùy tùng khoanh tay đứng sau hầu. Khai Quốc Vương truyền thái giám:

– Hãy bày một tiệc rượu, để ta mời lão tiền bối cùng hai vị đây nâng chung rượu giao hữu.

Tay Vương rót rượu mời ba người, rồi lại thân rót cho mình một chung. Vương đưa lên miệng uống trước, chứng tỏ rượu không có chất độc. Đợi cho lão già uống xong, vương hỏi:

– Xin lão tiền bối cho biết, người giá lâm Hoàng-thành, có điều chi dạy dỗ tiểu vương?

Lão già cười:

– Hay thực. Xưa kia Lương-Huệ vương sơ kiến Mạnh-tử. Vương hỏi Mạnh-Tử rằng: Cụ từ phương xa đến đây có gì làm lợi cho nước tôi. Mạnh-Tử chê rằng Huệ vương không có chí lớn, chỉ thu lại trong nước mình. Nay Quốc vương lại hỏi có gì dạy dỗ, đúng thực con người nhún nhường, nhã lượng cao trí vậy. Lão phu tới đây vì muốn được xem phong cách của một vị Hoàng-đế xuất thân võ lâm thế nào mà thôi.

Thuận Thiên hoàng-đế thấy giữa lúc hai bên chuẩn bị đấu võ, mà Khai Quốc Vương vẫn thản nhiên mời kẻ gian uống rượu, vui vẻ như không có gì xẩy ra. Ngài tự cảm thấy bản lĩnh, mưu trí mình thua con xa, nên im lặng ngồi xuống long ỷ. Các vị vương cũng khen thầm Khai Quốc Vương khoan dung đại độ.

Khai Quốc Vương thản nhiên thù tiếp ba người bịt mặt. Từ phía sau Vương, năm người tiến lên khoanh tay đứng hầu. Vương liếc nhìn thì ra Thanh-Mai, Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Thiệu-Thái và Đỗ Lệ-Thanh.

Đỗ Lệ-Thanh nói với lão già:

– Trấn-Nam vương gia nước Đại-lý, Thái-sơn Bắc-đẩu võ lâm có khác, võ công thực trác tuyệt. Còn hai vị đây chắc là Phạm đại tư đồ và phu nhân có mỹ danh Nam-thiên đệ nhất kiếm Hàn nữ hiệp hẳn. Võ công các vị thực có một không hai trên đời.

Nghe Đỗ Lệ-Thanh nói, trên từ Thuận Thiên hoàng đế xuống tới các vương đều rúng động. Vì nước Đại-lý hiện đo họ Đoàn làm vua, dân số, diện tích, tài nguyên không thua gì Đại Việt. Họ Đoàn do võ lâm xuất thân cai trị vùng đất tiếp giáp với Bắc Biên Đại Việt. Phía Bắc, Đông giáp Quảng-nam lộ của Trung-nguyên. Nước Đại-Lý về thời vua Hùng, vua An-Dương vua Trưng thuộc Tượng-quận. Từ khi vua Trưng tuẫn quốc, anh hùng Tượng-quận không ngớt nổi lên dành độc lập, vì vậy họ lập ra nước Đại-lý. Trong khi đó vua Ngô, vua Đinh, vua Lê dành độc lập vùng Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam lập ra Đại Việt. Có thể nói, Đại-Lý với Đại Việt cùng thuộc tộc Việt.

Võ công Đại-lý rất cao thâm, đỉnh lập ra một phái riêng biệt, chính nhà vua làm chưởng môn. Niên hiệu Cảnh-thụy thứ nhì (1009) vua Lê Long-Đĩnh chết, triều đình tôn Tả-thân-vệ điện tiền chỉ huy-sứ Lý Công-Uẩn lên ngôi vua. Năm đó nhằm nên hiệu Đại-trung Tường-phù thứ nhì đời Tống Chân-tông. Bên nước Đại-lý, Đoàn Tố-Liêm lên ngôi vua. Tố-Liêm là một đệ nhất cao thủ võ lâm, lại có chí khí. Ông muốn chỉnh bị quân mã, rồi khởi binh đánh sang Đông, chiếm lại vùng Quảng-Tây, Quảng-Đông lộ nhà Tống, thuộc Quế-lâm, Nam-hải xưa kia. Sau đó chỉ binh xuống Nam, đánh chiếm Đại Việt, lập lại nước Văn-lang thời vua Hùng.

Gần đây nghe Lưu hậu nhiếp chính, gửi hàng chục đoàn do thám sang Đại Việt mưu tìm lại di thư thời Lĩnh-Nam. Đoàn Tố-Liêm cũng gửi sáu đoàn sang. Đoàn phục tại đền thờ Thánh-Thiên do Đại tư-không Chu-Minh chỉ huy, bị Đỗ Lệ-Thanh đánh thuốc độc. Y đã xuất hiện tại trang Thiên-trường, xin Thân Thiệu-Thái ban thuốc giải độc.

Đoàn thứ nhì đo Trấn-nam vương Đoàn Huy đem tư đồ Phạm Văn cùng vợ Văn là Hàn Ngọc-Quế đến Thăng-long mở được phòng Ích-sinh-đường, hầu nghiên cứu tình hình Đại Việt, cùng tìm di thư. Hôm trước y, nghe tin sứ đoàn Triệu Thành tìm ra di thư thời Lĩnh-nam, đang trên đường về Tống. Y cùng Chu Minh, vợ chồng Phạm Văn bí mật theo dõi từ Thiên-trường về Thăng-long, chờ dịp bọn chúng sơ hở sẽ đoạt kinh thư.

Không ngờ trong khi y theo dõi bọn Tống, bọn Chu An-Bình cũng rình rập. Trận đấu giữa cao thủ Đại-lý với bang Nhật-hồ năm trước, Chu An-Bình có dự. Hai bên nhận ra nhau. Chu An-Bình biết muôn ngàn lần y không phải đối thủ của bọn Triệu Thành. Vì vậy y bàn với Đoàn Huy cùng hợp tác.

Nếu cướp được di thư, Chu An-Bình chỉ xin được luyện Vô-ngã tướng thần công, để thay thế thuốc giải Chu-sa độc chưởng. Nhưng sự thực trong lòng y nghĩ rằng sau khi đoạt được kinh thư, y đánh thuốc độc giết chết bọn Đại-lý, rồi một mình tọa hưởng. Đoàn Huy cũng nghĩ rằng, nếu đấu với nhau, bọn y khó thắng bọn Triệu Thành. Vì vậy y cần nhờ Chu An-Bình dùng độc dược hại bọn Tống. Sau khi cướp được kinh thư, y sẽ diệt Chu An-Bình. Đúng là kẻ cắp bà già gặp nhau.

Trong lúc theo dõi, Phạm Văn với vợ đọat được bộ kinh thư trên tay bọn Tống. Đoàn Huy biết chữ Khoa-đẩu. Y cho sao lại nguyên văn bộ Kinh-thư cất vào một cái rương. Y đoán rằng bọn Tống thế nào cũng theo đoạt lại. Y bôi sửa bộ kinh thư, để dù bọn Tống có luyện cũng vô ích, rồi y nhờ Chu An-Bình tẩm thuốc độc vào hầu hại chúng.

Vì bọn Tống vốn đã dụ được Dực Thánh Vương theo chúng. Chúng nhờ Dực Thánh Vương tung người đón hết các ngả đường sông đường bộ lùng bắt Phạm Văn. Quả nhiên hai bên gặp nhau trên sông Hồng. Trong trận đấu trên sông Hồng, y biết mình đấu không lại Minh-Thiên, y vờ chịu lép vế trả sách. Bọn Tống bị mắc mưu y, tất cả đều bị trúng độc nặng. Y cùng bọn Chu An-Bình xuôi thuyền chạy.

Khi đi dọc đường, bọn Chu An-Bình tung thuốc độc hại bọn y. Nhưng y kịp thời ra tay. Bọn An-Bình bỏ chạy. Y yên tâm mở tráp ra coi kinh thư, thì than ôi! Kinh thư cùng bao nhiêu thư tín đều không cánh mà bay. Y nghi bọn Tống cho người ăn trộm. Nào ngờ người lấy trộm lại là đệ tử Đông-a, do Thanh-Mai sai đi
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 96412
Has thanked: 35581 times
Have thanks: 48791 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: June 12th, 2018, 1:56 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Postby DaMinhChau » July 17th, 2017, 5:40 pm


Hồi thứ bốn mươi ba

Quốc Thống Đại Việt


Y tưởng bọn Tống lấy trộm, không ăn được thì đạp đổ. Y tìm dịp báo cho vua Lý biết. Vua Lý ắt sai cao thủ đón bắt sứ đoàn Triệu Thành lấy lại di thư. Y chờ giữa lúc một bên thắng, một bên bị thương, thừa cơ xuất hiện làm ngư ông hưởng lợi.

Y nghe vua Lý mở yến ở lầu Thúy-hoa, nên tìm cách xuất hiện , báo tin việc Triệu Thành. Nhân đó dùng võ công khống chế triều đình Đại Việt. Hầu sau này bàn việc thống nhất, họ Lý ắt phải chịu dưới vai họ Đoàn. Không ngờ, Huy bị một phụ nữ hầu cận Khai Quốc Vương khám phá ra tông tích.

Khai Quốc Vương hướng vào Thuận Thiên hoàng đế:

– Tâu phụ hoàng, vị tiền bối đây họ Đoàn tên Huy, hiện giữ binh quyền Đại-Lý. Còn vị này là đại tư đồ Phạm Văn cùng phu nhân có biệt danh Nam-thiên đệ nhất kiếm Hàn Ngọc-Quế.

Thanh-Mai hỏi Đoàn Huy:

– Đoàn vương gia. Không biết tiền bối Chu Minh hiện ở đâu, vương gia có thể cho tiểu nữ tiếp kiến được chăng?

Đoàn Huy thấy tông tích mình đã bị khám phá. Y không biết có nên bịt mặt nữa hay không? Hôm trước Chu Minh về Thăng-long gặp lão, kể những việc xẩy ra ở Thiên-trường. Lão biết Thanh-Mai đi trước một bước trong việc liên minh Đại Việt, Đại-lý, nhưng như vậy Đại Việt ở thế thượng phong. Huy không chịu. Y muốn thân giáp mặt hoàng đế Đại Việt, thảo luận thế liên minh. Nhưng theo y, cần hiển lộ võ công cho triều đình nhà Lý bớt kiêu đã.

Nghe Thanh-Mai hỏi Chu Minh, Đoàn Huy trả lời cho qua:

– Đã lâu, tại hạ không được tin tức gì của y.

Mỹ-Linh cười:

– Đoàn vương gia, triều đình Đại Việt thể tình họ Lý, họ Đoàn đều là con cháu vua Hùng, vua Thục, vua Trưng. Cho nên vương gia tới Thăng-long mở Ích-sinh-đường mấy năm nay. Triều đình để nguyên, không bắt tội. Như vương gia biết, luật Đại Việt xử lăng trì bất cứ gian nhân ngoại quốc nào làm tế tác mưu hại xã tắc. Đúng ra khi vương gia vừa đến, đã bị bắt xử lăng trì. Triều đình cho rằng vương gia vốn người Việt, tới Thăng-long làm tế tác cho vua Việt họ Đoàn, không phải làm tế tác cho ngoại quốc, nên không bắt tội đấy thôi.

Mỹ-Linh lắc đầu:

– Triều đình rộng lượng với vương gia, mà vương gia không biết thế. Hôm nay vương gia còn đục thủng mái lầu Thúy-hoa, tấn công thiên tử, cướp kiếm của người. Vương gia ơi, tại sao vương gia làm thế?

Bảo-Hòa móc trong bọc ra một tập giấy trao cho Mỹ-Linh:

– Vương gia đến Đại Việt, nào nghiên cứu sông núi, binh tình, nhân vật, lại muốn tìm bộ Lĩnh-Nam vũ kinh… Vương gia làm nhiều việc vô pháp vô thiên quá. Chỉ cần một việc của vương gia, triều đình cũng có thể đem vương gia ra chặt đầu rồi.

Đoàn Huy kinh ngạc:

– Xin công chúa cho biết lão phu vô pháp, vô thiên như thế nào?

Mỹ-Linh móc trong bọc ra tập giấy:

– Đây, bao nhiêu tấu chương của vương gia gửi về Đại-lý, chúng tôi đã tráo bằng một tấu chương khác, còn tấu chương của vương gia thì giữ lại. Xin trả vương gia.

Mồ hôi Đoàn Huy vã ra như tắm. Những bản mật tấu gứi về nước của y thực bí mật đến thần không biết, qủi không hay, làm thế nào Khu-mật viện Đại Việt lấy được? Huy chợt hiểu ra: Cái tráp của y trong thuyền bị mất trên sông Hồng, do Khu-mật viện triều Lý chứ không sai. Huy than thầm:

– Thôi rồi, họ sẽ gửi về Đại-lý những bản tấu chương giả mạo, khiến triều đình Đại-lý ước tính sai về Đại Việt mất rồi.

Phạm Văn cầm tập giấy coi, quả đúng những tấu chương y soạn theo lệnh Đoàn Huy gửi đi. Bất giác chân tay y run lẩy bẩy.

Thuận Thiên hoàng đế, cùng Khai Thiên Vương đều kinh ngạc đến đờ người ra vì những thay đổi của Bình-dương. Trước mắt hai vị, Mỹ-Linh là cô gái ẻo lả, suốt ngày ngồi đọc thơ Đường, phú Hán. Thế rồi, chỉ theo Khai Quốc Vương có hơn năm, mà nói năng hành sự mẫn cán khác thường.

Thanh-Mai nói với Phạm Văn:

– Phạm tiền bối võ công trác tuyệt. Hôm trước đây tiền bối đánh nhau với người của bang Nhật-hồ Trung-quốc, bị họ phóng chất độc vào người. Không biết nay đã khỏi chưa? Nếu chưa khỏi, tiền bối còn đợi gì không cầu với hoàng thượng. Hoàng thượng sẽ sai người trị cho tiền bối.

Trong trận đấu trên sông Hồng, Phạm Văn đã bị Chu An-Bình phóng độc dược vào người. Từ hôm đó đến giờ, mỗi ngày y đều lên cơn đau đớn đến chết đi sống lại. Bây giờ nghe Thanh-Mai nói, y biết nàng có thể trị bệnh cho y được. Y kính cẩn nói với Thanh-Mai:

– Cô nương, xin cô nương sinh phúc cứu tiểu nhân. Nguyện không bao giờ quên ơn.

Đến đây độc chất phát tác, Phạm Văn run lẩy bẩy, tay ôm bụng nhăn nhó, mồ hôi toát ra trông cực kỳ thảm não.

Mỹ-Linh cười:

– Phạm tiên sinh ơi, người có lẫn không? Nước có vua, đất có chủ. Người đã làm đến chức Tam-công nước Đại-lý mà sao không hiểu điều đó? Người hiện đang là tội phạm nước Việt, chỉ có hoàng đế Việt mới đủ quyền truyền lệnh sai người trị bệnh cho tiền bối. Còn Long Hoa Đường này thuộc Hoàng-thành. Chúa của Hoàng-thành là hoàng hậu. Vậy tiên sinh phải cầu hai vị phúc thánh đó mới mong được cứu trị.

Phạm Văn tiến tới trước Thuận Thiên hoàng đế quì gối, rập đầu cộp cộp:

– Hạ thần Phạm Văn, vốn người Việt, thuộc nước Đại-lý. Mong bệ hạ nghĩ tình con Rồng, cháu Tiên ban chỉ dụ cho người cứu hạ thần, hầu thắt chặt tình giao hảo hai nước.

Thuận Thiên hoàng đế thấy Mỹ-Linh biến Phạm Văn đang từ một thích khách kiêu ngạo, không coi triều đình nhà Lý ra gì. Không chừng y còn muốn bắt họ Lý qui phục họ Đoàn… bây giờ y chịu xuống nước xưng người Việt. Long tâm hớn hở. Ngài phán:

– Bình-Dương, Bảo-Hòa, các cháu hãy mở tâm Bồ-đề cứu Phạm tiên sinh một phen.

Bảo-Hòa chỉ Thanh-Mai:

– Xin mợ ra tay. Ông ngoại cháu đã ban chỉ dụ, tức tha tội cho Phạm tiền bối rồi.

Thuận Thiên hoàng đế thấy một thiếu nữ đi cùng với Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, ngài cho rằng đó là một quận chúa nào. Bây giờ ngài mới nhìn kỹ, trong lòng kinh ngạc:

– Cô gái này là ai, mà nhan sắc thực tươi đẹp hiếm có. Nếu so với Mỹ-Linh khó biết ai đẹp hơn ai. Cứ coi bước đi, dường như nàng thuộc phái Đông-a. Không biết Bồ nhi làm sao mà chiêu mộ được nàng?

Thanh-Mai bắt mạch Phạm Văn rồi nói:

– Phạm tiền bối không hẳn bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng, mà chỉ bị trúng độc mà thôi. Chất độc của Phạm tiền bối thuộc Ngũ-độc. Chu An-Bình thuộc bang Nhật-Hồ, nội công y vốn âm nhu. Công lực của y rất yếu, đúng lý ra y không thể đả thương tiền bối được. Vì vậy y phóng chất độc vào người tiền bối. Trong khi tiền bối đánh chiêu Ưng phi sơn lĩnh của phái Thiên-sơn, chiêu này cực kỳ lợi hại, nhưng để hở vùng bụng trên. Đúng lúc đó Chu An-Bình phóng chất độc. Chất độc nhập vào huyệt Thượng-uyển, Trung-uyển, Hạ-uyển. Huyệt Trung-uyển nằm trên Nhâm-mạch, là nơi giao hội của Thủ-thái-dương, Thủ-thiếu-dương, Túc-dương-minh cùng Nhâm-mạch. Vì vậy cho nên độc chất chạy vào cơ thể. Ngay ngày đầu, tiên sinh cứ bị ợ hơi. Ăn xong buồn ngủ. Khoảng một giờ sau bữa ăn, bao tử đau chịu không được. Đáng lẽ bệnh cũng không nặng. Song tiên sinh tưởng bao tử bị hư nhược dùng Phục-linh, Bạch-truật, Nhân-sâm, Quế-chi, Cam-thảo, Thương-truật. Sau khi uống vào, các vị thuốc bổ hoà lẫn với độc tố, phân tán khắp người. Vì vậy tiên sinh mới đau đớn như thế này.

Thanh-Mai nói đến đâu Phạm Văn cùng Hàn Ngọc-Quế gật đầu đến đó.

Đoàn Huy hỏi:

– Cô nương biết bệnh, song liệu có trị được không?

Thanh-Mai móc trong bọc ra một hộp kim. Nàng để kim lên tay búng mấy cái. Kim bay đến ngực Phạm Văn trúng vào các huyệt Trung-uyển, Hạ-uyển, Thượng-uyển, Lương-môn. Hiện diện có hàng chục người biết châm cứu. Thường khi châm, họ dùng môt tay án vào huyệt, rồi tay kia cầm kim. Sau đó dùng hai tay đẩy kim vào. Khi kim đến độ sâu vừa đủ, thì ngừng lại, kích thích kim. Đây Thanh-Mai để hơn chục kim trên bàn tay trái, rồi dùng ngón tay phải, vận sức vào, búng mạnh, kim bay đến ghim vào huyệt.

Quan thái y hiện diện nhìn thủ pháp của Thanh-Mai, ông kinh ngạc:

– Cô nương này học ai, mà đứng xa búng kim, trúng huyệt đã là điều khó. Cô còn tính toán khiến cho kim ngập sâu đúng độ cần thiết, ta chưa từng thấy qua.

Thái y kính phục hỏi:

– Cô nương! Xin cô nương giảng cho tiểu nhân về lý, pháp, phương trong vụ này?

Thanh-Mai giảng:

– Ba huyệt uyển thuộc Nhâm-mạch. Huyệt Thượng-uyển còn là nơi giao hội huyệt của Túc-dương-minh, Thủ-thái-dương và Nhâm-mạch, là nơi cận của vị, hợp với huyệt Lương-môn cũng là cận huyệt của vị. Cận huyệt để kích thích tỳ, vị hoạt động hầu đẩy chất độc ra ngoài.

Nàng lại búng kim. Kim bay đến các huyệt Công-tôn, Nội-quan, Túc-tam-lý, cắm vào. Thanh-Mai tiếp:

– Công-tôn là Lạc-huyệt của Túc-thái-âm tỳ kinh, thông với Túc-dương-minh vị kinh, một trong bát mạch giao hội huyệt thông với Xung-mạch. Xung-mạch tỏa ra vùng ngực bụng. Nội-quan là Lạc-huyệt của Thủ-khuyết-âm tâm bào kinh thông với Thủ-thiếu-dương tam tiêu kinh, một trong bát mạch giao hội huyệt thông với Âm-duy mạch. Mạch Âm-duy buộc chặt các kinh âm lại, phân tán vào ngực. Như vậy cặp Công-tôn, Nội-quan bao trùm khu ngực, bụng trên. Cho nên dùng để trị càc bệnh về tim, về phế, về can, về vị về tất cả các bệnh của lồng ngực. Dùng cặp huyệt này thì trục được độc chất trong tâm, vị của tiên sinh.

Nàng ngừng một lúc , rồi tiếp:

– Tôi dùng thêm huyệt Túc-tam-lý, là Hiệp-huyệt của Túc-dương-minh vị kinh. Phạm tiên sinh ơi, vì chất độc nhập vị, làm vị không hoạt đông được. Dùng Hiệp-huyệt để kích thích vị hoạt động hầu trục chất độc ra ngoài.

Phạm Văn đang đau đớn, sau khi Thanh-Mai phóng kim vào, bao nhiêu cái đau biến mất. Thanh-Mai chỉ vào Thiệu-Thái:

– Tôi chỉ có khả năng dùng kim, trục độc trong vị mà thôi. Nhưng chất độc chạy khắp cơ thể, phải cần người có Thiền-công tối cao nhà Phật mới hóa giải được. Ở đây thế tử Thiệu-Thái có bản lĩnh đó. Ngày mai tiên sinh đến phủ Khai Thiên Vương cầu thế tử trị cho.

Thanh-Mai biết Thiệu-Thái, Mỹ-Linh đang gặp trắc trở duyên tình. Nàng muốn đẩy món ân nghĩa này cho Thiệu-Thái có dịp làm cho Khai Thiên Vương hài lòng, nên nàng nói thế.

Thanh-Mai nói với Đoàn Huy:

– Đoàn tiền bối. Hoàng đế Đại Việt ngồi dự yến, thế mà tiền bối lại ngồi trên nóc điện. Như vậy là tội đại bất kính. Trong khi đó tiền bối bị trúng độc nặng. Tôi tuy biết có người chữa cho tiền bối được, song chưa có chỉ dụ, nên không thể làm gì hơn.

Đoàn Huy cười nhạt:

– Này cô nương. Lão phu thấy nhan sắc cô nương thuộc loại hiếm có trên đời. Mắt cô nương chiếu ra những tia sáng long lanh, đã biết nội công cô nương cao, e rằng hiếm có nữ lưu trong thiên hạ bì kịp. Bước đi của cô nương uyển chuyển, bàn tay xinh đẹp vô cùng. Thủ pháp phóng kim dường như ảnh hưởng của chỉ pháp Đông-a. Trong khi đó lối trị bệnh bằng châm cứu của cô nương lại thuộc phái Sài-sơn. Cô nương không có một chút nào dính dáng với triều Lý. Tại sao một người như thế lại khoanh tay đứng hầu sau Khai Quốc Vương? Cô nương là ai? Lão phu dám quyết cô nương chẳng phải phi tần, cung nữ họ Lý.

Bảo-Hòa cười khúc khích:

– Lão tiên sinh thực có con mắt tinh đời. Đúng như tiên sinh nói, sư tỷ Thanh-Mai là học trò yêu của Hồng-Sơn đại phu. Thanh-Mai sư tỷ không những học võ công Đông-a, mà người còn là con gái thiên kim của vị chưởng môn phái này.

Mọi người cùng bật lên tiếng ồ hoặc úi chà. Vì từ lâu, triều đình nhà Lý từng nghe danh phái Đông-a, mà chưa có dịp biết về võ công cũng như hành tung đệ tử phái này. Triều đình chỉ biết phái Đông-a vốn thân với triều Lê. Nên khi Thuận Thiên hoàng đế lên ngôi vua, phái Đông-a không chống, song tuyệt đối bất hợp tác. Bây giờ Thanh-Mai là con gái yêu của vị chưởng môn phái Đông-a lại theo giúp Khai Quốc Vương. Hỏi ai không kinh ngạc?

Thuận Thiên hoàng đế đã nói với các em, các con rằng, muốn giữ vững giang sơn, cần phải đoàn kết các võ phái lại như thời vua Bà. Thế nhưng từ khi ngài lên ngôi, phái Đông-a, không hợp tác. Còn phái Sài-sơn thì chống đối ra mặt. Ngài ân cần nhắc nhở: Nếu như trong các em, các con, ai thu phục được võ lâm, thống nhất thành một khối ngài sẽ truyền ngôi cho. Các vị vương tìm đủ cách mua chuộc, liên hệ đến hai phái này, nhưng vô ích. Giờ đây, Thanh-Mai hiện diện trong buổi yến dành cho con cháu họ Lý, mà Khai Quốc Vương mời được nàng tham dự, thực cả một kỳ công, ngài không ngờ tới.

Đoàn Huy cười ha hả:

– Lão nghe Đông-a ngũ kiệt võ công kiến thức vô song. Tống thiên tử cho người sang mời đại hiệp Trần Tự-An làm nguyên soái, nhưng đại hiệp từ chối. Không ngờ… không ngờ một vị thiên kim tiểu thư của người lại đi làm tỳ nữ cho Khai Quốc Vương.

Bảo-Hòa cười khúc khích lắc đầu:

– Đoàn lão tiền bối. Người chẳng là người Việt đó ư? Phàm đã là người Việt phải hiểu võ đạo Lĩnh-nam chứ? Võ đạo Lĩnh-nam định rằng Việc xã tắc là việc chung của mọi con dân. Xưa kia Phương-chính hầu Trần Tự-Minh, Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung, Cao-cảnh-hầu Cao Nỗ, Vạn-tín-hầu Lý Thân theo vua An-dương đâu có phải làm nô bộc cho người, mà chẳng qua giúp người trong việc trị quốc. Sư tỷ Thanh-Mai tuy là con vị đại hiệp chưởng môn, nhưng cũng là con dân Đại Việt. Bản thân sư tỷ đâu có theo hầu Khai Quốc Vương? Sư tỷ theo giúp Khai Quốc Vương chẳng qua để giúp người bảo vệ đất nước mà thôi.

Nàng ngừng một lát rồi tiếp:

– Cũng như xưa kia, vua Trưng khởi binh, anh hùng hào kiệt đồng cắp gươm theo người. Đất Đại-lý trước đây thuộc Tượng-quận thời Lĩnh-nam, bấy giờ anh hùng Tượng-quận theo vua Trưng có hàng vạn. Anh hùng theo vua Trưng, đâu phải làm đầy tớ vua Trưng, mà muốn bảo vệ đất tổ vậy. Sư tỷ Thanh-Mai theo Khai Quốc Vương, vì Khai Quốc Vương dang cầm vận mệnh Đại Việt.

Đoàn Huy xoay qua truyện khác:

– Trần cô nương. Cô nương bảo ta trúng độc. Vậy ta trúng độc gì? Bao giờ? Cô nương nói ra được, Đoàn mỗ xin bái phục.

Kỳ thực cách đây năm năm, trong lần cầm đầu phái đoàn Đại-lý nhập Trung-nguyên tranh hùng với võ lâm nhà Tống. Đoàn Huy thắng hầu hết các đại tôn sư võ lâm. Y chỉ thua có chưởng môn phái Võ-đang về kiếm thuật và thua chưởng môn phái Thiếu-lâm về nội công. Thế nhưng khi đấu với một cao thủ bang Côn-luân. Y tuy thắng, giết chết đối thủ, nhưng bị trúng Thất-trùng ngũ-hoa phấn. Vì nội công y quá cao, chất độc ngấm vào cơ thể không nhiều, nhưng từ đấy, cứ mỗi quí tiết, y lại lên cơn đau đớn đến không chịu nổi. Y tin rằng Thanh-Mai không thể tìm ra bệnh y. Nên y mới đưa ra lời thách thức.

Thanh-Mai liếc mắt nhìn một lượt khắp Long Hoa Đường, rồi nói:

– Đoàn tiên sinh khéo giả bộ thực. Rõ ràng người bị trúng độc nặng mà còn lờ đi như không hề gì. Bây giờ tiểu nữ với tiên sinh đánh cuộc. Nếu tiểu nữ nói ra được tiên sinh trúng độc gì, tiên sinh phải trở về Đại-lý thuyết phục triều đình liên minh với Đại Việt trong thế bình đẳng. Việt không trên Lý. Lý không trên Việt. Còn ngược lại tiểu nữ tìm không ra bệnh của tiên sinh, tiểu nữ nguyện làm tỳ nữ theo hầu tiên sinh cả đời.

Đoàn Huy là hoàng thúc Đại-lý, võ công cực kỳ cao thâm, kiến thức quảng bác. Y lại được phong tước Trấn-nam vương, tổng đốc binh mã toàn quốc, uy quyền chỉ thua hoàng đế. Có thể nói quyền hành của y ngang với Triệu Thành bên nhà Tống và Lý Long-Bồ bên Đại Việt. Chính Huy là người soạn thảo ra kế hoạch Phục hồi cố thổ Văn-lang, khuếch trương uy thế Âu Lạc, thống nhất Việt tộc. Mưu trí, tài ba của Huy vang dội khắp Trung-nguyên, Đại-lý. Vì thế dù trong hoàn cảnh nào, y vẫn giữ vững lập trường rằng hoàng đế Đại-lý mới thuộc chính thống, xứng đáng kế tục huyết thống vua Hùng. Cho nên khi biết Thanh-Mai có thể trị bệnh cho mình, nhưng nghĩ đến đại cuộc đất nước, y dè dặt hơn.

Huy hiên ngang nói:

– Cô nương nói lạ. Thời vua An-dương, vua Trưng, Đại-lý thuộc Tượng-quận, Đại Việt thuộc Giao-chỉ, Quảng-đông lộ thuộc Ngô-Việt. Chúng ta vốn con cháu vua Hùng, vua An-dương, đương nhiên phải lo thống nhất lại đất cũ mới mong đứng vững với Tống. Sau khi vua Trưng tuẫn quốc, anh em bên Tượng-quận chúng tôi sớm khởi binh lập lại tự trị lấy quốc hiệu Đại-lý (Lâm-ấp), truyền ngôi trải đã mấy trăm năm, cho đến nay văn hiến, luật pháp thành hẳn một nước hùng mạnh. Anh em bên Nam-hải lập ra nước Ngô-Việt. Song niên hiệu Thái-bình thứ chín đời vua Đinh của Đại Việt bên Trung-nguyên niên hiệu Thái-bình hưng-quốc thứ ba đời vua Thái-tông bị nhà Tống thôn tính. Còn bên Giao-Chỉ họ Lý mới lập nghiệp được mười bẩy năm. Bây giờ thống nhất đương nhiên hoàng đế Đại-lý mới xứng đáng kế tục sự nghiệp tổ tiên.

Y nhìn Thuận Thiên hoàng đế để xem xét nét mặt, thái độ rồi tiếp:

– Bàn cho phải, khi vua Trưng làm vua, chia đất nước làm sáu nước nhỏ. Mỗi nước có một vị vương. Bây giờ chúng ta theo gương đó. Hoàng đế Đại-lý tôi đứng trên, vua Lý làm Giao-chỉ vương. Sau này cùng hưng binh, chiếm lại Quảng-đông, Quảng-tây, sẽ phong cho hai vị Quảng-đông vương, Quảng-tây vương, tất cả thống thuộc hoàng đế Đại-lý.

Mỹ-Linh cười khúc khích:

– Đoàn vương gia nói sao lạ tai quá. Bản triều trước sau như một, giữ vững nếp cũ, quốc hiệu Đại Việt. Còn bên quí quốc xưng quốc hiệu Đại-lý, thì đâu xứng đáng kế tục sự nghiệp tổ tiên?

Đoàn Huy cười ha hả:

– Cô nương nói sai, quốc hiệu tuy có đổi, sự nghiệp đâu có gì thay đổi? Vua Hùng lấy quốc hiệu Văn-lang. Đến vua An-dương lấy quốc hiệu Âu Lạc, cũng vẫn kế tục chính thống. Vua Trưng đổi thành Lĩnh-nam, có ai giám bảo ngài không chính thống đâu?

Mỹ-Linh gật đầu:

– Tiên sinh có lý. Bây giờ chúng ta bàn về lẽ chính thống đã. Từ xưa đến giờ, phàm được coi như chính thống, phải thuộc huyết tộc các vị tiên vương. Hoặc giữ được phần đất trung ương của tổ tiên. Như bên Trung-nguyên, ai chiếm được phần đất lưu vực sông Hoàng-hà của tộc Hán mới trở thành chính thống. Cho nên Sở-Bá vương chiếm được Trung-thổ, mà Lưu Bang phải chịu phong. Cho đến khi Quang-Vũ chiếm được Trung-nguyên, các chư hầu như Công-tôn-Thuật, Ngỗi Hiêu phải xưng thần. Lại như cuối đời Hán, Ngô Quyền chiếm giữ Giang-đông, phải xưng thần với Ngụy-Võ đế. Ngay cả con cháu Trung-sơn Tĩnh-vương Lưu Bị trung hưng ở Thục, mà vẫn coi như ngụy vì không chiếm được Trung-nguyên.

Nàng chỉ vào Thuận Thiên hoàng đế:

– Trước đây vua Hùng đóng đô ở Phong-châu, nay thuộc Đại-vệt. Vua An-dương đóng đô ở Cổ Loa nay thuộc ngoại ô Thăng-long. Vua Trưng đóng đô ở Mê Linh nay thuộc Đại Việt. Thế thì ông nội tôi mới xứng đáng kế tục tổ tiên giữ nền chính thống. Trái lại hoàng đế Đại-lý phải tiến cống xưng thần.

Đoàn Huy cười khanh khách, tiếng cười của y làm rung động cả Long Hoa Đường, làm mọi người ù tai nhức óc:

– Cô nương nói như thế tức theo điệu vong quốc. Chúng ta là người Việt, hà cớ phải theo người Hán, lấy những tục lệ Trung-nguyên làm tục lệ mình? Bây giờ lão phu dám đề nghị chúng ta dùng võ công để định chính thống hay không chính thống. Họ Đoàn chúng tôi dùng võ nghiệp lập quốc. Họ Lý cũng dùng võ công lập nghiệp. Vậy tôi đề nghị người họ Lý đấu võ với họ Đoàn. Lý thắng thì Lý chính thống. Đoàn thắng thì Đoàn chính thống. Cô nương nghĩ sao?

Lão chỉ vào công-chúa Lĩnh-nam Bảo-hòa:

– Hồi nãy công chúa đã đồng ý cho bên họ Lý đấu với họ Đoàn. Không lẽ bây giờ sợ hãy rồi sao?

Công chúa Lĩnh-nam Bảo-hòa lùi lại bàn cùng công chúa An Quốc, phò mã Đào Cam-Mộc rồi đưa ý kiến:

– Bàn về võ công, ở đây cao nhất phải kể phụ hoàng. Không lẽ người hạ thể đi đấu với Đoàn Huy? Bản lĩnh sau phụ hoàng là thúc phụ Dực Thánh Vương rồi tới anh chị. Vậy chị đấu với Hàn Ngọc-Quế, anh đấu với Phạm Văn. Thúc phụ đấu với Đoàn Huy. Chỉ cần chúng ta thắng hai cuộc coi như thắng.

Dực Thánh Vương tiến ra nói với Đoàn Huy:

– Đoàn huynh đã nói vậy, chúng tôi xin được lĩnh giáo mấy cao chiêu của Đại-lý. Bây giờ đêm đã về khuya, đấu võ không có gì làm thú vị. Vậy ngày mười rằm này, giỗ Bắc-bình vương Đào Kỳ cùng vương phi Nguyễn Phương-Dung, tại hạ xin mời Đoàn huynh cùng hai vị đây tới trước đền thờ hai ngài tranh tài. Chẳng hay ý Đoàn huynh thế nào?

Dực Thánh Vương lo nghĩ cuộc đấu này chưa chắc bên Lý thắng. Lỡ ra mà bại, còn đâu quốc thể? Vì vậy vương muốn hoãn binh, để tìm ra kế sách an toàn.

Đoàn Huy nghe Dực Thánh Vương nói, ý biết ngay đây là kế hoãn binh. Nhưng tự hào vào võ công của mình, y nhận lời:

– Thế thì còn gì bằng. Lão phu cũng đang muốn được thấy binh hùng, tướng mạnh của Đại Việt đây.

Đỗ Lệ-Thanh đưa mắt nhìn Khai Quốc Vương như hỏi ý kiến một việc gì. Vương gật đầu. Bà tiến ra chắp tay xá Đoàn Huy:

– Đoàn vương gia. Vương gia đang bị trúng độc. Nếu đấu võ, Lý gia có thắng cũng thắng người bệnh, chẳng vẻ vang gì. Tiểu tỳ nghĩ, vương gia phải trị bệnh trước, rồi đấu thì mới công bằng.

Đoàn Huy lắc đầu:

– Ta chẳng có bệnh họan gì cả.

Đỗ Lệ-Thanh lắc đầu:

– Tại sao tính mệnh của vương gia lâm nguy đến nơi mà vương gia còn chối được ư?

Thanh-Mai chỉ vào tay Đoàn Huy:

– Đoàn tiền bối. Người bị trúng Thất-trùng, ngũ hoa phấn của phái Côn-luân. Nhưng dường như người đấu võ với tiền bối chỉ bắn sang có ít phấn mà thôi, nội lực y quá yếu so với tiền bối, thành ra tiền bối chỉ bị trúng rất nhẹ. Tiền bối bị độc chất nhập lý, ai nhìn qua cũng biết. Tiền bối ơi, trong ngũ tạng thì tâm thuộc hỏa, can thuộc mộc, tỳ thuộc thổ, phế thuộc kim, thận thuộc thủy. Mà cả ngũ tạng tiền bối điều bị thương nặng.

Đoàn Huy cười mát:

– Đâu có. Đoàn mỗ vẫn khỏe như thường mà.

Thanh-Mai lắc đầu:

– Có phải tiền bối thường đau nhói ở chỗ huyệt Đản-trung không? Đản-trung là mộ huyệt của tâm. Huyệt Đản-trung đau nhói, tức tâm tạng bị thương rồi vậy. Tiền bối thường bị đau nhức, căng thẳng ở mạn sườn phải, chỗ huyệt Chương-môn, đó là can tạng bị thương. Sau khi ăn xong, tiền bối thường thấy chân tay bị lạnh, buồn ngủ, đó là tỳ tạng bị tổn thương. Tiền bối thường hay ho húng hắng vào lúc giờ Thân, Dậu, đó là phế tạng bị tổn thương. Cuối cùng, tiền bối thường đau ngâm ngẩm ngang lưng chỗ huyệt Thận-du, Chí-thất, đó là thận tạng bị thương. Mỗi tiết khí thay đổi, tiền bối bị một thứ bệnh khác nhau.

Mặt Đoàn Huy tái nhợt. Y im lặng không phản đối Thanh-Mai nữa. Nàng tiếp:

– Hôm qua là ngày đổi tiết khí, không gian bắt đầu chuyển vào tiết Thu-phân. Khí của mùa Thu thuộc kim. Kim khắc mộc. Can thuộc mộc. Can tạng tiền bối bị trúng độc, nên vào tiết khí Thu-phân bệnh can phát mạnh. Y-kinh nói rằng Can tàng hồn, chủ nộ. Bởi vậy từ qua đến giờ tiền bối thường dễ nổi giận vô lý.

Vợ chồng Phạm Văn, Hàn Ngọc-Quế gật gật đầu, tỏ vẻ tán thành những gì Thanh-Mai nói. Nàng tiếp:

– Can chủ cân, quan của can là mắt. Từ qua đến giờ mắt tiền bối thường bị mờ mờ như sương che, gân cốt yếu đuối. Nếu tiền bối không trị đi, tiểu nữ e rằng bằng giờ sang năm tiền bối không được dự lễ Bắc-bình vương đấy.

Mặt Đoàn Huy tím ngắt:

– Tại hạ không hiểu Thất-trùng ngũ hoa là độc chất gì? Không lẽ nó còn nguy hại hơn cả Nhật-hồ chu-sa ngũ độc chưởng hay sao?

Thanh-Mai cười nhạt:

– Mỗi thứ độc một khác. Nhật-hồ chu-sa chưởng thì dùng nội lực, sức mạnh của chưởng đẩy chất độc người ta vào kinh mạch. Mới đây bang Nhật-hồ lại chế ra thuốc, bắn thẳng vào người đối thủ. Còn Thất-trùng ngũ hoa của phái Côn-luân lại khác. Côn-luân vốn thuộc danh môn chính phái, nhưng lại dùng dộc chất là tại sao? Trước hết phải biết nguồn gốc phái này. Tổ sư của phái Côn-luân xuất thân là một Nho-sinh, bị đời hành hạ. Sau đó ông quyết tâm luyện võ, rồi lập phái. Vì vậy ông chủ trương dùng khoan thai cải hóa người. Khi một người cải hóa không được, nên giết bỏ để trừ cho nhân lọai một thứ người tác hại.

Thấy cả triều đình cùng Đoàn Huy im lặng nghe, nàng tiếp:

– Phái Côn-luân dùng năm thứ hoa lan, sen, cúc, hồng, trà, chế ra một thứ phấn, dùng nước hoà vào nhau. Hương các loài hoa thuộc dương. Hương thơm Ngũ-hoa thoang thoảng nhẹ nhàng, vì vậy nó sễ nhập phế, nhập da. Còn thất trùng là gì? Thưa tằm núi, nhện xanh, rắn lục, rết đen, bò cạp trắng, ong vàng, sâu ngũ sắc. Các lọai trên đều thuộc âm tính. Phấn Thất-trùng tán thành bột. Thế rồi trộn lẫn Thất-trùng với Ngũ-hoa thành độc chất. Người ta sẽ dùng loại bột phấn này bắn lên không. Ai hít phải ngày thứ nhất trong người sẽ bị ngứa ngáy như hàng vạn, hàng triệu con kiến cắn, hàng trăm con rắn cắn trong tạng phủ, ngứa ngáy không bút nào tả siết. Ngày thứ nhì người nóng như nhảy vào lò lửa. Ngày thứ ba đau đớn như xẻo từng miếng thịt. Ngày thứ tư lại lạnh như rơi vào một hồ nước mùa Đông. Ngày thứ năm bệnh biến thành chóng mặt như đi trên thuyền.

Đoàn Huy im lặng một lúc, y hỏi:

– Cô nương nói về bệnh của lão phu thực đúng, song không biết cô nương có trị được không?

– Chữa thì chữa được. Nhưng lão tiền bối phải cầu xin Thuận Thiên hoàng đế ban chỉ, tiểu nữ mới có giám trị cho tiên sinh.

Đoàn Huy cẩn thận hơn:

– Cô nương thử nói phương pháp chữa trị của nô nương cho ta nghe trước đã.

Thanh-Mai nhìn Thiệu-Thái, rồi cười:

– Đoàn tiên sinh ơi. Trong thiên hạ này hiện không có thuốc nào giải nổi Thất-trùng ngũ hoa độc cả, ngọai trừ Bồ-tát Sùng-Phạm và Bố-đại hoà thượng có thể dùng thần công thượng thừa đẩy độc chất ra ngoài. Ở đây, tiểu nữ biết, có người được Bồ-tát Sùng-Phạm ban cho cả một trăm năm Thiền-công. Vì vậy người đó cứu được tiền bối. Ngoài ra, nếu người nào luyện Vô-ngã tướng thiền công, mà có tâm Bồ-tát, nguyện hóa giải chất độc trong người tiền bối, cũng cứu được. Tiểu nữ luyện nội công Đông-a vốn thuộc Thiền-công. Sau được sư bá Huệ-Sinh dạy dỗ, cũng có thể cứu được tiền bối.

Đoàn Huy cười rộ:

– Tưởng trị pháp của cô nương tuyệt diệu thế nào, chứ dùng Thiền-công đẩy chất độc ra, bên Đại-lý của lão phu đâu thiếu các cao tăng đắc đạo? Lão phu đã thử rồi. Vô ích.

Thanh-Mai lắc đầu:

– Tiểu nữ lại không biết như thế sao. Địa vị vương gia đâu có nhỏ? Thiếu gì các danh y, thiếu gì những tay nội công cao cường. Nhưng họ không biết cách phối hợp. Phối hợp giữa châm cứu với Thiền-công.

Công chúa Lĩnh-nam Bảo-hòa vẫy tay ra hiệu cho Thanh-Mai im lặng. Bà nói:

– Trên đời này chỉ có bệnh nhân đi cầu thầy thuốc, chứ có đâu thầy thuốc cầu bệnh nhân? Trần muội muội, em khỏi cần đối thoại với người này nữa. Y muốn chết, để cho y chết. Y đã thấy muội muội cứu tên Chu Minh, hôm nay lại cứu tên Phạm Văn, thế mà y còn lằng nhằng rắc rối, thôi để cho y chết.

Bà nói bâng quơ:

– Một chân đã bước vào quan tài rồi, mà còn chối bai bải rằng mình không bệnh tật gì.

Bà bảo Thanh-Mai:

– Muội muội không cần nói với y nữa. Muội muội nói cho ta nghe. Tỷ như muội muội trị bệnh của y, muội muội trị như thế nào?

Thanh-Mai dạ một tiếng:

– Khải tấu vua Bà. Tiểu muội đã trình bày rõ nguyên do Đoàn tiền bối mắc bệnh, thành phần chất độc, cũng như trạng thái bệnh lý. Bây giờ xin trình bày về phương pháp trị. Phương pháp trị có hai phần, đầu tiên dùng châm cứu, đả thông Kỳ-kinh bát mạch, Thập-nhị kinh biệt, vòng Tiểu-chu-thiên. Bởi tiền bối vẫn thường luyện công, dẫn khí theo vòng Tiểu-chu-thiên, cũng như Kỳ-kinh bát mạch. Nhưng chưa đả thông hoàn toàn. Khi kinh mạch thông rồi, cần một vị Bồ-tát đắc đạo, dùng Thiền-công hoá giải chất độc. Nếu như không gặp Bồ-tát đắc đạo phải có người nào đã luyện Vô ngã tướng thiền công mới hoá giải được.

Nghe đến Vô ngã tướng Thiền-công Đoàn Huy đưa mắt nhìn Phạm Văn, Hàn Ngọc-Quế một cái. Hàn Ngọc-Quế hỏi:

– Cô nương, tôi nghe ngày xưa Tăng-gỉa Nan-Đà sang Lĩnh-nam truyền Thiền-công Vô-ngã-tướng cho công chúa Yên-lãng Trần Năng cùng Tiên-yên nữ hiệp. Từ khi hai vị đó tuẫn quốc rồi, Thiền-công này tuyệt tích. Không lẽ nay còn có người biết sao?

Mỹ-Linh đã cùng Trần Tự-An thảo luận rất kỹ về Thiền-công, nàng đỡ lời Thanh-Mai:

– Xưa đức Thích-ca Mâu-ni sau bốm mươi chín ngày ngồi dưới gốc bồ đề đã tìm ra phép Thiền-na, gọi tắt là Thiền. Thiền có bốn loại: Vô-ngã tướng, Vô-nhân tướng, Vô-chúng-sinh tướng và Vô-thọ gỉa tướng. Vô ngã tướng do ngài Tăng-gỉa Nan-Đà truyền sang Lĩnh-nam. Vô chúng sinh tướng truyền sang Tây-tạng. Vô thọ giả tướng truyền sang Đại-lý. Vô nhân tướng do ngài Bồ-đề Đạt-ma truyền sang Trung-nguyên, ngài Tỳ-ni Đa-lưu-chi truyền sang Đại Việt.

Nghe Mỹ-Linh phân giải, Thuận Thiên hoàng đế, Khai Thiên Vương cùng mở to mắt ra kinh ngạc. Hai người, một là ông, một là cha, đều nghĩ như nhau:

– Con bé này, mấy tháng trước đây còn là cô gái ngây thơ, nói năng ngượng ngập. Thế mà theo chú một thời gian, nay đã biết ứng đối mạch lạc, lại có kiến thức rất rộng về lịch sử Thiền. Không biết nó học ở đâu?

Mỹ-Linh tiếp:

– Phật giáo có muôn vàn pháp môn, nhưng thu lại cũng chỉ có một điểm là tính không, đi đến giác ngộ. Thiền cũng thế, tuy phân biệt ra nhân, ngã tứ tướng, nhưng khi đã đắc đạo, tuy biết một, nhưng đạt được cả bốn. Vì vậy sư tỷ Thanh-Mai mới nói cần có vị Bồ-tát đắc đạo, tức đạt tới Vô thượng bồ đề mới đủ công lực hóa giải hết chất độc cho Đoàn vương gia. Hoặc có người luyện Vô ngã tướng Thiền-công cũng đủ sức hóa giải.

Phạm Văn hỏi:

– Công chúa. Xin công chúa giải rõ hơn, tại sao Vô ngã tướng Thiền công lại có khả năng mạnh như vậy?

– Phạm tư không này. Trong kinh Kim-cương, Lăng-gìa đều nói đến Nhân ngã tứ tướng. Bỏ bốn tướng ra thì đi đến đắc đạo được. Thế nhưng trong bốn tướng, chỉ cần bỏ Ngã tướng đi, lập tức không còn Nhân tướng? Đã không có Nhân tướng thì không có nhiều nhân tướng tức Chúng sinh tướng. Khi không có Chúng-sinh tướng ắt không còn Thọ gỉa tướng nữa. Trong phép luyện công cũng vậy. Hễ luyện được Vô ngã tướng coi như xử dụng được cả bốn lọai. Cho nên Trần sư tỷ mới nói rằng cần có người luyện Vô ngã tướng Thiền công mới hoá giải được hết chất độc trong người Đoàn vương gia là thế.

Đoàn Huy đăm chiêu một lúc, rồi hỏi:

– Lão phu nghe nói xưa kia Bắc-bình vương Đào Kỳ đã tự đả thông được Nhâm, Đốc mạch, vì vậy hoà hợp được nội công âm, dương. Sau lại đả thông được Kỳ-kinh bát mạch và Thập nhị kinh biệt. Cho nên chân khí tòng tâm phát ra, sau đó chế ra Lĩnh-nam chỉ pháp. Từ khi ngài tuẫn quốc, thuật này thất truyền. Dường như gần đây Hồng-Sơn đại phu cũng tìm ra cách đả thông kinh mạch, nên trở thành một trong Đại Việt ngũ long. Nghe Trần cô nương phân giải, dường như cô nương cũng đả thông được kinh mạch?

Thanh-Mai gật đầu:

– Hồi đầu năm, tiểu nữ qua Vạn-thảo sơn trang, được Hồng-Sơn đại phu thu làm đồ đệ, dốc túi truyền nghề cho. Rất tiếc lòng dạ tiểu nữ tối tăm, không thu hết được những gì sư phụ dạy.

Thình lình Đoàn Huy cảm thấy mạn sườn căng đầy, rồi như có con dao đâm vào bụng. Y nghiến răng để khỏi bật thành tiếng kêu. Nhưng mặt y tái mét, chân tay run run. Y muốn nói, mà miệng mở không ra.

Nghiến răng chịu một lát, y bật lên tiếng rên nho nhỏ. Thanh-Mai định cứu trị y. Vua Bà Bắc Biên hỏi y:

– Đoàn vương gia! Vương gia vừa nói rằng vương gia không bệnh tật gì mà? Tại sao vương gia lại rên rỉ như vậy?

Hai hàm răng Đoàn Huy đánh vào nhau lộp cộp. Hàn Ngọc-Quế hành lễ với Thanh-Mai:

– Trần cô nương. Mong cô nương cứu Đoàn vương gia. Nguyện không bao giờ quên ơn.

Thanh-Mai liếc mắt nhìn vua Bà Bắc Biên. Thấy bà gật đầu tỏ ý ưng thuận. Nàng tiến đến cầm tay Đoàn Huy bắt mạch. Trong lòng Đoàn Huy nghĩ thầm:

– Nhỏ này là con gái Trần Tự-An. Nghe nói võ công cao thâm như một đại cao thủ. Ta thử đồn chân khí đánh nó một chiêu, để nó mất cái tính kiêu kỳ đi.

Vì vậy Thanh-Mai vừa để ngón tay lên cườm tay Đoàn Huy. Nàng cảm thấy như tay bị người ta ngoặm một miếng. Biết Huy dùng nội công thượng thừa tấn công mình. Tuy đau điếng, nhưng nàng vẫn nghiến răng chịu, không dụt tay lại. Nội lực Đoàn Huy cuồn cuộn tấn công vào người nàng. Lúc đầu Thanh-Mai cảm thấy lồng ngực như muốn nổ tung ra. Phản ứng tự nhiên, nàng xử dụng lý thuyết dung hoà thủy, hỏa của Huệ-Sinh dạy nàng để chống lại.

Thanh-Mai luyên nội công Đông-a, vốn phát xất từ Thiền-công Tiêu-sơn. Sau được Huệ-Sinh dạy cho phép hóa giải những khó khăn trong việc điều hòa thiên-địa, phong-lôi, thủy-hỏa, tổng hợp được hết khí ngũ tạng, biến thành một thứ chân khí duy nhất. Nàng còn phải chờ từ năm tới mười năm, mới đả thông kinh mạch hầu tùy tâm phát ra từng kinh. Cuối cùng nàng được Hồng-Sơn đại phu dạy học thuyết kinh mạch, vòng Đại-chu-thiên, Tiểu-chu-thiên, do đó đả thông mười hai kinh, Kỳ-kinh Bát-mạch cùng Thập nhị kinh biệt. Vì vậy trong người nàng toàn chân khí dương cương lưu thông. Bây giờ nàng để tay vào ba bộ Thốn, Quan, Xích, trùng với ba huyệt Thái-uyên, Kinh-cự, Liệt-khuyết thuộc thủ Thái-âm phế kinh của Đoàn Huy.

Y kinh nói rằng thủ Thái âm phế kinh là kinh đa khí, vì vậy chân khí Huy như con sông Hồng-hà, đổ vào biển. Nội tức của y cuồn cuộn tuôn ra. Lúc đầu y tưởng Thanh-Mai sẽ phải rung động, tê liệt toàn người. Nhưng một lúc sau, y cảm thấy nội tức ra đi như nước đổ vào hồ. Y định thu nội lực lại, nhưng không kịp nữa.

Về phần Thanh-Mai, nàng thấy nội lực Đoàn Huy theo ba kinh âm trên tay tràn vào người nàng. Biết nguy hiểm, nàng dùng nội công chống lại nhưng không được. Trong lúc nguy nan, cái chết đến trong đường tơ kẽ tóc, đầu óc nàng lóe lên một tia sáng: Ngày xưa khi Khất đại phu Trần Đại-Sinh đấu với sư đệ Lê Đạo-Sinh trong trận hồ Tây. Giữa lúc ông sắp bại thì Bắc-bình vương Đào Kỳ nhắc ông buông lỏng chân khí Thủ-tam-âm kinh, qui liễm chân khí của sư đệ trong đơn điền, rồi chuyển sang Thu-tam-dương kinh đánh trả lại.

Thanh-Mai nghĩ đến đâu, kinh khí tòng tâm theo kinh mạch. Nội lực Đoàn Huy theo ba kinh âm trên tay cuồn cuộn tràn vào người nàng. Nàng thản nhiên qui liễm chân khí. Càng hút nội lực của Đoàn Huy bao nhiêu, sức hút càng tăng thêm. Cho đến lúc Đoàn Huy thấy nguy, thu nội tức lại, thì tay y với tay nàng dính chặt vào nhau.

Hiện diện, kiến thức cao như Thuận Thiên hoàng đế, mà cũng không hiểu được. Còn Long-Bồ, Thiệu-Thái, Mỹ-Linh, Bảo-Hòa tuy có võ công tối cao nhưng chưa có kinh nghiệm, nên không nhận ra cái nguy, để giải cứu. Ai cũng tưởng Thanh-Mai, Đoàn Huy đấu nội lực.

Khoảng ăn xong bữa cơm, nội tức Đoàn Huy bị mất gần hết, gương mặt y cau có, nhăn lại một cách khổ sở. Y muốn lên tiếng van xin Thanh-Mai, mà mở miệng không ra. Nếu y mở miệng, có thể sẽ hộc máu mà chết. Còn Thanh-Mai, nàng muốn giật tay rời khỏi tay Huy, cũng không được.

Thuận Thiên hoàng đế thấy sự hơi khác lạ. Ngài đứng dậy quan sát. Bỗng ngài nhận ra sự thực, song chưa biết có phản ứng ra sao, thì Đoàn Huy lảo đảo, muốn ngã. Tay lão giật mạnh, khiến Thanh-Mai trở về thực tại. Nàng thu liễm chân khí. Tay Huy với tay nàng rời nhau.

Phạm Văn chạy lại đỡ lão. Y hỏi:

– Vương gia. Cái gì đã xẩy ra?

Đoàn-Huy chỉ Thanh-Mai thều thào:

– Ta bị hút hết nội lực.

Bỗng mặt Thanh-Mai tái nhợt, rồi nàng lảo đảo muốn ngã. Mỹ-Linh đứng cạnh, vội đỡ nàng dậy. Lệ-Thanh lạng người đến bên Thanh-Mai. Bà móc trong bọc ra một hộp nhỏ, lấy ra hai viên thuốc bỏ vào miệng nàng. Bà chỉ tay vào mặt Đoàn-Huy:

– Đoàn vương gia, đường đường là đại tôn sư võ học, lại cầm quyền nghiêng nước, lý ra phải tìm hết cách thu phục nhân tâm thiên hạ, chứ có đâu lấy oán trả ơn? Trần cô nương bắt mạch, trị bệnh cho vương gia, mà vương gia dùng nội công đẩy hết chất độc sang người cô nương. Như vậy cũng gọi bằng tác phong vương giả sao?

Công chúa Lĩnh-nam Bảo-hòa tức vua Bà Bắc Biên, tính tình cương quyết, hành động mẫn tiệp, phản ứng mau chóng. Bà chỉ vào mặt Đoàn Huy:

– Người… người đường đường một đấng vương giả mà lại hành động đốn mạt đến như thế ư? Trần tiểu thư bắt mạch chữa bệnh cho người mà người lại nỡ lòng nào dùng nội lực tấn công, rồi dồn chất độc sang hại tiểu thư. Phụ hoàng ta dù có rộng dung cho người, đến khi người về qua Bắc Biên ta cũng băm vằm người ra từng mảnh.

Bà hô lớn:

– Võ sĩ đâu. Gô cổ nó lại!

Vỗ sĩ dạn ran, từ ngoài ào vào. Bình nhật với bản lĩnh vô địch, Đoàn Huy có coi đám võ sĩ ra gì. Nhưng y vừa bị hút hết nội lực, chân tay cử động nặng nề khó khăn. Y lắc đầu, nói không ra hơi:

– Không phải như thế. Lão phu…

Rồi loạng choạng ngã xuống.

Cả sảnh đường ồn ào, ai cũng muốn băm vằm Đoàn Huy ra như băm chả.

Khai Quốc Vương luống cuống hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân. Phu nhân có thể trị được bệnh cho Thanh-Mai không?

Đỗ Lệ-Thanh rưng rưng nước mắt:

– Vương gia xá tội, thần chỉ chữa được Chu-sa Ngũ-độc chưởng của Nhật-hồ mà không thể chữa được Thất-trùng ngũ-hoa độc. Mong vương gia thứ tội. Hai viên thuốc vừa rồi, tạm thời giữ cho chất độc không hại được tiểu thư mà thôi.

Thanh-Mai đã tỉnh. Nàng tuy hút hết độc chất của Đoàn Huy, nhưng nhờ nội lực cao thâm, đầu óc vẫn minh mẫn. Nàng biết mình không khéo léo, triều Lý có thể giết chết Đoàn Huy với Phạm Văn e đại kế sách liên kết Việt-Lý cũng như thống nhất lãnh thổ thời Lĩnh-nam khó thành. Nếu bây giờ nàng nói thực ra rằng mình bắt mạch cho Huy, bị Huy dùng chân khí tấn công, rồi trong cơ thể mình có sức hút thu hết chân khí y, ắt nguy cho y. Vì vậy nàng vẫy tay gọi công chúa Lĩnh-nam Bảo-hòa:

– Công chúa. Đoàn tiền bối không có ác ý. Chẳng qua, một thứ tai nạn mà thôi.

Từ khi gặp Thanh-Mai trong lễ tế Lệ-Hải bà vương, công chúa Lĩnh-nam Bảo-hoà đã có rất nhiều thiện cảm với nàng. Mới đây nghe hai con kể lại trong suốt thời gian qua, nàng đã làm nhiệm vụ của một đại thần. Bà hy vọng nàng sẽ thành em dâu mình. Bây giờ trước tai nạn, bà đến bên Thanh-Mai, nắm lấy tay nàng:

– Muội muội. Em có sao không?

– Không sao. Công chúa đừng bắt tội Đoàn tiền bối
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 96412
Has thanked: 35581 times
Have thanks: 48791 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: June 12th, 2018, 1:56 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Postby DaMinhChau » July 26th, 2017, 10:01 pm


Hồi thứ bốn mươi tư

Anh Hùng và Giai Nhân


Nghe Thanh-Mai nói, Đoàn Huy cảm động đến run người lên. Y nghĩ:

– Hôm trước Chu Minh từ Thiên-trường về ca tụng võ đạo phái Đông-A không tiếc lời. Hôm nay mình mới được thấy sự thực.

Ông đến trước Thuận Thiên hoàng đế, lạy phục xuống đất:

– Hoàng đế bệ hạ. Xin người nhận ở thần mấy lạy, để tỏ lòng qui phục. Từ nay, thần sẽ vì Đại Việt đi tuyên dương đại đức của bệ hạ. Thần xin hết sức thuyết phục triều đình Đại-lý kết hiếu với Đại Việt trong tinh thần bình đẳng. Việc chính thống sẽ bàn sau. Cuộc đấu võ vào ngày rằm cũng xin hủy bỏ. Thần đã bị Trần cô nương dùng võ đạo đánh bại mất rồi.

Lão lại quì gối trước Thanh-Mai lạy liền bốn lạy:

– Trần cô nương. Từ nay lão vĩnh viễn xin tuân mạng lệnh cô nương, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Thanh-Mai đã tỉnh. Nàng ngồi ngay ngắn lại, nói với Đoàn Huy:

– Đoàn tiền bối. Khi tôi bắt mạch cho người. Người dồn chân khí tấn công tôi. Tôi có thể thu tay về, mà tôi không làm thế. Tôi thấy vận mệnh Đại-lý, Đại Việt đủ sức chống lại được nhà Tống, nếu có sự góp công của tiên sinh. Vì vậy tôi không muốn tiên sinh bị nguy… Thanh-Mai này có chết đi, thì sẽ có hàng vạn Thanh-Mai khác. Nhưng tiền bối chết đi e hai nước Đại của chúng ta thiếu một người đầy khả năng kết hợp.

Câu tôi không muốn tiên sinh bị nguy đối với Đoàn Huy là nàng tránh cho y bị triều Lý giết chết. Còn đối với mọi người, câu trên có nghiã nàng hút chất độc trong người y cho y sống.

Đoàn Huy hướng vào Thuận Thiên hoàng đế:

– Muôn tâu hoàng thượng, thần xin vì Đại Việt mà loan báo một tin quan trọng, có liên quan đến vận mệnh Việt tộc.

Cả sảnh đường im lặng. Đoàn Huy tiếp:

– Thần được tin Lưu-Hậu nhà Tống phái nhiều đoàn do thám sang Đại Việt với mục đích mưu đồ đánh chiếm, hầu mở rộng giang sơn xuống phía Nam.

Thuận Thiên hoàng đế cùng các thân vương, công chúa đều được Khu-mật viện phúc trình đầy đủ về các đoàn do thám của Tống. Nhưng ngài im lặng nghe Đoàn Huy tâu xem y có thực tình với Đại Việt không. Ngài hỏi:

– Trấn-nam vương biết được những gì, xin cho trẫm biết.

Đoàn Huy tâu:

– Triều Tống muốn mở rộng giang sơn lên phía Bắc gặp phải Tây-hạ, Liêu, Kim binh lực hùng mạnh. Vì vậy họ muốn mở xuống Nam. Trước đánh chiếm Đại Việt, Chiêm-thành, Lão-qua, sau đánh Đại-lý. Nhưng họ sợ võ công Đại Việt. Vì vậy họ phái người sang Đại Việt với ba nhiệm vụ. Một, tìm cho được bộ Dụng binh yếu chỉ của công chúa Thánh-Thiên cùng bộ Lĩnh-Nam vũ kinh về nghiên cứu. Hai, vẽ bản đồ điạ thế, sông ngòi sản vật, hầu dễ tiến quân. Ba, mua chuộc, liên kết võ lâm Đại Việt chống triều đình, cùng gây chia rẽ giữa triều đình với võ lâm.

Thuận Thiên hoàng đế gật đầu. Ngài nghĩ thầm Tin tức của Đoàn-Huy cũng khá đấy. Ngài hỏi:

– Thế các đoàn đo thám đã làm được những việc gì?

– Nhiệm vụ thứ nhất, họ đã thành công mỹ mãn, vì họ tìm ra nơi khắc di thư tại đền thờ Nhâm Diên, Tích Quang ở Thanh-hóa. Họ đã chép mang theo. Bia đá, họ phá hủy hết. Hiện họ đang trên đường về nước.

Ngay từ lúc Đoàn Huy nhảy xuống Long Hoa Đường. Thanh-Mai, Bảo-Hòa, Mỹ-Linh cùng theo dõi Dực Thánh Vương, xem phản ứng của ông ra sao? Cả ba cùng nhận thấy nét mặt của ông thực khó coi. Đôi mắt đăm chiêu tỏ ra lo lắng không ít. Mỹ-Linh nói sẽ vào tai Bảo-Hòa:

– Cứ coi nét mặt Dực Thánh Vương thì biết ông theo bọn Tống để mưu cầu ngôi vua, chứ không phải ông tuân chỉ của hoàng đế hộ tống sứ đoàn.

Vũ Đức Vương hỏi:

– Cứ như ý kiến Đoàn vương gia, liệu Triệu Thành mang kinh thư theo, hay y cho người mang về Tống trước?

Đoàn Huy hỏi ngược lại:

– Theo vương gia, y sẽ hành động như thế nào?

Vũ Đức Vương đáp:

– Nếu là tôi. Tôi sẽ học thuộc lòng, rồi đốt đi. Hoặc mang theo trong người. Chứ trao cho người khác, lòng tham nổi dậy, họ sẽ phản mình, trốn biệt, kiếm chỗ nào vắng luyện thành bản lĩnh nghiêng trời lệch đất rồi xuất hiện e hết phương đòi lại.

Đoàn Huy vỗ tay khen ngợi:

– Đúng như vương gia nghĩ. Vì y chưa kiếm ra người đọc được văn tự Khoa-đẩu, cho nên y không học thuộc, mà mang theo bên mình. Chỉ nội ngày một, ngày hai y sẽ tới Thăng-long, rồi về nước. Tôi nghĩ triều đình phải bắt y trả lại kinh thư.

Khai Quốc Vương sợ phụ hoàng họăc anh em làm hỏng mưu kế của mình, vương nói:

– Đoàn vương gia yên tâm. Bằng mọi giá, chúng tôi sẽ phái người đón đường đoạt lại kinh thư. Còn mai này y đến Thăng-long với tư cách sứ thần, triều đình sẽ không đề cập đến vấn đề này.

Thanh-Mai đã tỉnh hẳn. Nàng tâu với Thuận Thiên hoàng đế:

– Dù triều đình không đòi lại, võ lâm Đại Việt dễ gì để cho sứ đoàn Tống mang di thư của anh hùng Lĩnh-nam về Tống. Đất nước này tuy chưa có chúa thánh như vua Trưng, nhưng cũng xuất hiện một minh quân nhân từ. Cho nên nhiều người sẵn sàng chết cho Đại Việt. Kể cả tiểu nữ.

Thuận Thiên hoàng đế nghe Thanh-Mai nói, cảm động đến không nói ra lời, ngài nắm tay Thanh-Mai:

– Cháu… cháu không thể chết được. Trẫm…Trẫm ta phải làm bất cứ việc gì cho cháu sống.

Thanh-Mai mỉm cười, nàng thở hổn hển:

– Hoàng thượng. Khó có thể biết thần sẽ sống hay chết. Dù sống, dù chết thần xin khẩn cầu bệ hạ ba việc.

Thuận Thiên hoàng đế cảm động phán:

– Cháu cứ nói. Dù việc khó đến đâu, trẫm cũng xin chu toàn.

Thanh-Mai nghiến răng chịu đau:

– Điều thứ nhất, thần xin hoàng thượng tha tội cho Khai Quốc Vương vì đã cho qui gia hai phi tần. Khi vương cho hai vị cô nương đó về là muốn hoà giải nhiều mâu thuẫn giữa võ lâm với triều đình. Vương không thể nói ra tại sao, vì nói ra e võ lâm lại nổi sóng.

Thuận Thiên hoàng đế đã tuyển cho các thái tử nhiều phi tần. Khai Quốc Vương cho hai phi tần về nhà, không phải tội nặng. Ngài gật đầu:

– Trẫm hứa.

– Điều thứ nhì, xin bệ hạ ân xá cho Đoàn vương gia cùng hai vị tiền bối Đại-lý. Để họ có thể về nước, xây dựng mối giao hảo Việt-Lý.

Mọi người đưa mắt nhìn Đoàn Huy. Thuận Thiên hoàng đế gật đầu:

– Trẫm hứa. Còn điều thứ ba.

Thanh-Mai ghé miệng vào tai ngài thì thầm. Người có nội công cao như phò mã Đào Cam-Mộc mà cũng không nghe rõ những điều nàng nói. Không biết nàng nói những gì, mà khiến Thuận Thiên hoàng đế tần ngần suy nghĩ một lúc, chưa có quyết định.

Đến đây nàng run lên bần bật. Thuận Thiên hoàng đế cầm tay nàng nói:

– Trẫm hứa!

Thanh-Mai mấp máy môi:

– Đa tạ bệ hạ.

Rồi ngất đi.

Khai Quốc Vương hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân, làm sao bây giờ?

Đỗ Lệ-Thanh thở dài:

– Mau đem Trần tiểu thư về vương phủ. Thần xin cố gắng xem sao.

Thuận Thiên hoàng đế hô:

– Mau đem cáng của trẫm đến đây.

Không chờ cáng, chờ võng, Mỹ-Linh ôm Thanh-Mai, loáng một cái nàng đã rời khỏi lầu Thúy-Hoa. Bảo-Hòa, Thiệu-Thái, Đỗ Lệ-Thanh cùng chạy theo. Xuống lầu, tất cả lên xe ngựa, hướng về phủ Khai Quốc Vương.

Vào trong phủ, Đỗ Lệ-Thanh đặt Thanh-Mai nằm ngay trên giường. Bà nắn bóp mấy huyệt, Thanh-Mai từ từ tỉnh dậy. Đến đó Lý Long-Bồ cũng về tới.

Khai Quốc Vương hỏi Đỗ-lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân. Xưa kia công chúa Yên-Lãng bị vợ chống Phan Anh đánh trúng Huyền-âm đôc chưởng. Người dùng Thiền-công đẩy được độc chưởng trong người ra, liệu nay có thể dùng phương pháp đó không?

Đỗ Lệ-Thanh thở dài:

– Thưa vương gia không được. Ngày trước công chúa Yên-lãng chỉ bị trúng chưởng, độc chất ngoài da ngoài thịt thì đẩy ra được. Còn trường hợp Trần tiểu thư, độc chất nhập vào tạng phủ làm sao trục cho được? Chắc vương gia nhớ truyện Đào Tứ-Gia hút chất độc cứu Bắc-bình vương Đào Kỳ, sau chính Tăng-giả Nan-đà cũng đành bó tay.

Thiệu-Thái trầm tư một lúc, rồi hỏi:

– Hôm trước phu nhân bảo tôi hút chất độc cứu Chu Minh ở trang Thiên-trường được. Vậy tôi có thể dùng phương pháp này cứu mợ hai chứ?

Đỗ Lệ-Thanh lại lắc đầu:

– Hôm trước tiểu tỳ phóng chất độc vào cánh tay Chu Minh theo Thủ-thái-âm phế kinh và Thủ-dương-minh đại-trường kinh, thì hút được. Đây độc chất theo chân khí của Đoàn Huy nhập khắp người tiểu thư, làm sao hút cho nổi. Mà dù thế tử có hút hết, chỉ hút được phần ngoài da, ngoài thịt. Còn chất độc trong tim, trong gan vẫn tác hại… cũng vô ích.

Đỗ Lệ-Thanh cậy miệng Thanh-Mai bỏ vào mấy viên thuốc. Bà nói:

– Mấy viên thuốc này, để tiểu thư ngủ ngon, hầu không bị đau đớn.

Lý Long ngồi cạnh giường Thanh-Mai. Tay chàng nắm chặt tay nàng. Chàng nói với Bảo-Hòa, Mỹ-Linh, Thiệu-Thái:

– Đúng lý ra, Thanh-Mai không thể nào chết được. Vì nàng chỉ biết làm điều thiện. Không lẽ ông trời không có mắt? Thôi các cháu đi ngủ đi.

Chợt nhớ ra một truyện, chàng hỏi gia nhân:

– Tự-Mai, Tôn Đản đi đâu chưa về?

Gia nhân thưa:

– Hồi chiều hai vị công tử lấy ngựa đi cùng hai vị đại hiệp Thiên-trường. Hai công tử nói rằng lên núi Tản-viên, sau mấy ngày sẽ về.

Long-Bồ đóng cửa lại. Chàng ôm Thanh-Mai đặt trên lòng, chàng như muốn dùng tất cả sinh lực níu kéo nàng lại. Thanh-Mai vẫn mê mê tỉnh tỉnh, không biết gì. Ngồi một lúc, mệt quá chàng thiếp đi lúc nào không hay.

Bỗng chàng giật mình tỉnh dậy, vì có tiếng người, tiếng ngựa rầm rập trước cửa. Chàng nhìn ra, trời sáng từ bao giờ. Trời tháng tám, có những đám mây trắng trôi lờ lững, nắng vàng đổ chụp lên cây cỏ. Tiếng tỳ nữ nói vọng vào:

– Khải tấu vương gia, hoàng-thượng cùng hoàng hậu giá lâm.

Long-Bồ đặt Thanh-Mai xuống dường, sửa quần áo ngay ngắn lại, mở cửa bước ra. Thấy phụ hoàng cùng mẫu hậu tới, chàng vội gọi Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, Bảo-Hòa ra quì gối hành lễ.

Thuận Thiên hoàng đế vẫy tay:

– Miễn lễ cho vương nhi. Thế nào, Trần cô nương ra sao?

Chàng tâu:

– Vẫn mê man chưa tỉnh. Tuy nội lực mạnh đến kinh người.

Thuận Thiên hoàng đế cùng hoàng hậu Lập-nguyên ngồi xuống ghế cạnh dường Thanh-Mai. Ngài cầm mạch Thanh-Mai, cảm thấy nội lực mạnh đến chỗ không lường được. Ngài nghĩ thầm:

– Ta tưởng từ khi sư phụ ta là Vạn-Hạnh thiền sư viên tịch chỉ có Bố-Đại hòa thượng cùng Bồ-tát Sùng-Phạm mới có nội lực hùng hậu thế này mà thôi. Không biết Bồ nhi làm thế nào mà thu phục được Thanh-Mai? Cứ nhìn mắt Bồ nhi, dường như giữa Bồ nhi với nàng có tình ý. Nếu sự thực như vậy, ta phải phong nàng làm vương phi cho Bồ nhi. Triều đình được một thiếu nữ như Thanh-Mai trợ giúp, còn gì bằng?

Sự thực, nội lực Thanh-Mai không thể mạnh như vậy được. Chỉ vì nàng vốn có nội công hùng hậu của phái Đông-A. Khi được Huệ-Sinh chỉ điểm, nàng đã thành một đại cao thủ. Sau đó nàng luyện nội công dương cương theo lối vận hành kinh mạch, nội lực đã mạnh vô cùng. Bây giờ đấu nội lực với Đoàn Huy, nàng thu hết nội lực của y, vì vậy nội lực nàng mới mạnh đến trình độ kinh người.

Hoàng hậu hỏi Khai Quốc Vương:

– Vương nhi, ta muốn biết sự thực về hai nàng Huệ-Phương, Hà-Thanh. Hai nàng đó bây giờ ra sao? Ở đâu? Còn con với Thanh-Mai chỉ có tình sư huynh, sư muội hay có truyện gì khác không?

Long-Bồ là người mưu trí tuyệt vời. Chàng có hàng nghìn cách để dấu mẫu hậu. Nhưng bản tính người con chí hiếu, chàng không muốn nói dối mẹ, dù truyện nhỏ. Chàng im lặng, cúi đầu tỏ vẻ chịu tội.

Hoàng hậu Lập-Nguyên lắc đầu:

– Thực khó hiểu. Mẹ thấy dường như Trần cô nương với con có tình ý sâu hơn biển, nàng mới cứu Đoàn Huy, để lập liên minh Việt-Lý. Nhưng khi cứu y rồi, đáng lý ra trước cái chết, nàng phải xin phụ hoàng truyền ngôi cho con, chứ đâu lại xin tha tội về vụ Huệ-Phương với Đào Hà-Thanh?

Long-Bồ cúi đầu xuống im lặng, một lúc chàng ngửng đầu dậy:

– Con xin tâu thực. Hai nàng Huệ-Phương và Hà-Thanh con đã nhường cho người ta rồi.

Thuận Thiên hoàng đế quát lớn:

– Con thực lớn mật, táo gan. Ta cùng mẫu hậu tuyển khắp nước mới được hai giai nhân nhu mì, nhan sắc tuyệt vời. Một người trí lự, võ công hiếm có. Một nàng văn thơ, ca xướng nhất nước. Ta những mong con sẽ được hưởng thanh phúc bên hai nàng đó. Không ngờ con lại nhường cho người khác. Phu thê là đạo của trời. Cha mẹ định vợ cho, mà con chối bỏ đã là một tội khó tha. Huống hồ đây đường đường thái tử, vợ của con cao qúi biết bao, mà con đem nhường cho người ta, thực không còn đạo lý nào nữa.

Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, như người mê man bừng tỉnh. Những việc xẩy ra ở Vạn-thảo sơn trang cùng trang Thiên-trường sống dậy trong trí óc. Hồi ấy hai nàng cùng với Thanh-Mai đến sơn trang cầu Hồng-Sơn đại phu trị bệnh cho Bảo-Hòa. Trong khi chờ ở cổng họ thấy ngoài đôi chim ưng theo đõi họ ra, còn đôi chim ưng nữa như theo dõi, dẫn đường cho ai. Bây giờ họ mới hiểu, thì ra đôi chim ưng đó theo dõi, hướng dẫn Huệ-Phương. Tuy nhiên chuyện Lâm Huệ-Phương với Đào Hà-Thanh vẫn là những bí ẩn, dù hai người thuộc hàng cháu, con nuôi Khai Quốc Vương mà cũng không biết rõ sự thực ra sao.

Long-Bồ cúi đầu, không dám trả lời. Hoàng hậu thương con hỏi:

– Hai nàng đó không biết hầu hạ con, con đuổi đi rồi chăng?

– Không phải thế. Con chưa từng gần hai nàng. Khi rời vương phủ, hai nàng vẫn còn là trinh nữ. Con chẳng bao giờ dám bắt hai nàng hầu con cả.

Thuận Thiên hoàng đế quắc mắt nhìn vương:

– Con hãy đem hết nguyên ủy tâu bày cho ta nghe. Bằng không dù công con có to lớn đến đâu, ta cũng chặt đầu.

Chợt nghĩ đến một việc, hoàng hậu bảo tỳ nữ đứng hầu:

– Con mau gọi vú Tú đến cho ta hỏi truyện.

Vú Tú là nhũ mẫu nuôi sữa Long-Bồ hồi xưa. Khi chàng ba tuổi, hết bú, vú được thưởng tiền, phong chức tước rồi cho về quê. Hồi chàng được phong vương, lòng tưởng nhớ vú, cho đón bà cùng chồng con về phủ chung sống. Chàng không d0ám coi bà như tôi tớ, mà phụng dưỡng như mẹ đẻ.

Một lát vú Tú tới quì gối hành lễ. Hoàng hậu hỏi vú:

– Hoàng thượng cùng ta muốn biết một vài truyện. Vú phải nói thực.

Vú Tú rập đầu:

– Tiểu tỳ xin tâu sự thực.

– Hai năm trước ta tuyển Huệ-Phương, gả về cho vương gia. Bây giờ nàng đó đâu, không thấy trong phủ. Năm rồi chúng ta lại tuyển Đào Hà-Thanh cho vương. Hà-Thanh bây giờ ở đâu?

Vú Tú cúi đầu tâu hết nguyên ủy:

Niên hiệu Thuận Thiên thứ mười sáu. Triều đình ban chiếu chỉ xuống cho các quan địa phương tuyển phi tần nạp vào Hoàng-cung. Thuận Thiên hoàng đế đi vào tuổi ngũ tuần. Các hoàng hậu Tá Quốc, Lập-nguyên, Lập-Giáo đều ngang tuổi ngài. Thời bấy giờ phụ nữ đến tuổi bốn mươi trở đi, đường tình dục coi như không được nói tới nữa. Cho nên ngài cần nhiều phi tần hầu hạ. Ngài có anh là Vũ-uy vương, em là Dực Thánh Vương cũng cần tuyển phi tần trẻ thay cho lớp phi tần cưới hồi còn niên thiếu, nay đều trên bốn mươi. Ngài lại có bốn hoàng tử tuổi mới lớn, muốn nạp phi tần. Vì vậy số phi tần tuyển sẽ đến hơn trăm.

Trong chỉ nói rõ sẽ tuyển ít nhất một trăm người. Quan địa phương phải điều tra, lập danh sách các mỹ nữ với năm điều kiện. Điều kiện thứ nhất tuổi từ mười ba đến mười tám. Điều kiện thứ nhì, các nữ ứng tuyển phải xinh đẹp nết na, còn đồng trinh. Điều kiện thứ ba phải văn hay chữ tốt, tề gia nội trợ, may vá thực giỏi. Điều kiện thứ tư không bệnh hoạn. Điều kiện thứ năm phải là người Việt.

Chiếu chỉ ban ra làm trấn động trong nước. Những nhà có con gái đẹp đủ điều kiện, tìm đủ cách lấy lòng, mua chuộc các quan phủ, huyện hầu con gái mình được tiến cung. Họ hy vọng, con gái mình dù không được làm cung phi của hoàng đế, ít ra cũng làm thứ phi của các hoàng tử. Thế là một bước, đang từ khuê nữ trở thành vương phi. Còn hơn lấy chồng dân gian, giỏi lắm xông pha trận mạc, trở thành hầu tước, mà khó khăn vô cùng.

Sau một tháng, các nơi thượng biểu tấu về tuyển được ba trăm người. Thuận Thiên hoàng đế truyền ban lụa, gấm cho các thiếu nữ may quần áo, cùng ban tiền, vàng, bạc cho bố mẹ các thiếu nữ rồi truyền đưa về Thăng-long. Tại Thăng-long, vị quan hoàng-môn tổng quản cùng hoàng môn chỉ hậu bắt đầu tuyển thêm một lần nữa. Lần này tuyển khó hơn. Các thiếu nữ chịu cuộc khám rất kỹ. Quan hoàng môn tổng quản khám mồ hôi, nách, bàn chân, âm hộ.

Mồ hôi không được khét. Người có mồ hôi khét là trong người thiếu thiện tính, nhiều ác tính, bị lọai. Người có mồ hôi mặn quá, đa số da nhờn, tính tình nóng nảy, cũng bị lọai. Nách, bàn chân, âm hộ tuyệt đối không có mùi hôi. Hôi hám thuộc loại chồn cáo, bị loại.

Sau đợt khám này còn một trăm sáu thiếu nữ. Các thiếu nữ bị lọai được chia cho các quan, cùng võ tướng có công. Tuy vỡ mộng quí phi, vương phi, nhưng được làm phu nhân, các mỹ mữ cũng thoả mãn. Một trăm sáu thiếu nữ trúng cách, phải chịu đợt tuyển của quan hoàng môn chỉ hậu. Được vào tuyển kỳ này, coi như đã lọt vào Hoàng-thành. Đợt cuối chỉ cân nhắc người nào đẹp hơn, người nào có qúi tướng hơn, rồi tùy chỉ dụ của hoàng đế “ban” cho các vị vương.

Quan hoàng môn chỉ hậu, khám xem lông, tóc, da, răng, miệng, dáng đi, tiếng nói. Lông phải nhỏ như tơ, lẫn vào mầu da. Lông âm hộ phơn phớt vàng, hoặc mềm, không được cứng. Tóc phải đen mướt, óng, dài. Da tươi hồng coi như tốt nhất. Sau đến da trắng mịn. Môi trái đào là môi vừa qúi vừa hiển. Môi đen sì, chề ra giống môi trâu, bị lọai. Răng phải trắng đều như hạt bắp, càng bóng càng tốt. Dáng đi thì thanh thóat, khoan thai. Đi như cúi về trước hoặc ngửa mẳt lên đều bị chê, cuối cùng tiếng nói phải thanh tao.

Quan hoàng môn chỉ hậu tuyển được mười tám thiếu nữ không có chỗ nào khả dĩ chê được, tâu lên hoàng đế. Chiếu chỉ truyền chia chín mươi tám thiếu nữ không được vào chung kết cho các bà hoàng hậu cùng các thân vương để làm cung nga, tỳ nữ.

Mười tám thiếu nữ còn lại do chính đức vua cùng ba hoàng hậu cân nhắc nên ban cho vị vương nào. Hoàng-đế chọn Đàm Thụy-Châu là con gái một võ tướng tên Đàm Can làm Tây-cung qúi phi.

Trong các hoàng tử, vị nào cũng đều có vương phi cả rồi. Chỉ duy Khai Quốc Vương là chưa. Vì vậy đức vua thân kén trong mười bẩy thiếu nữ lấy một người tài sắc vẹn toàn ban cho vương. Hy vọng vương tuyển làm chính phi. Cân đi, nhắc lại, Huệ-Phương có nhan sắc huyền ảo, lại biết võ công, văn học tinh thông, được ngài chọn ban cho Khai Quốc Vương, làm các vị vương khác ghen tức không ít. Vì Huệ-Phương có tiếng nói ôn nhu, như ru hồn người ta vào giấc mộng. Nàng lại có vẻ hồng hào của người tập võ. Ngay cả Thụy-Châu cũng thua xa.

Mười sáu thiếu nữ còn lại, chia ra cho các vị vương, hoàng tử làm thứ thiếp. Thuận Thiên hoàng đế cùng hoàng hậu cho rằng sở dĩ Khai Quốc Vương không nạp cơ thiếp, vì chưa có người xứng đáng. Bây giờ với một Huệ-Phương, không thể chê vào đâu, vương ắt thu nạp.

Khi cuộc tuyển lựa xong, đúng lúc đó vương đang trên đường quan sát cuộc thao luyện thủy quân. Bốn ngày sau, vương trở về, vào cung triều kiến phụ hoàng, mẫu hậu, vấn an sau mấy ngày xa cách. Hoàng hậu hỏi han qua loa rồi nói với vương:

– Phụ hoàng với ta vừa tuyển cho vương nhi một giai nhân sắc nước hương trời. Nàng lại văn hay, chữ tốt. Phụ hoàng ưu ái dành nàng cho vương nhi. Vậy vương nhi hãy mau trở về phủ cùng nàng thành duyên giai ngẫu.

Vương lạy tạ rồi về phủ.

Tới phủ, vú Tú dẫn Huệ-Phương bái kiến vương. Phớt nhìn qua, vương thấy trước mặt mình một thiếu nữ tươi hồng, sắc đẹp có vẻ huyền ảo, thực từ ngày ra đời vương chưa thấy ai đẹp như vậy. Vương vội đỡ nàng dậy, không cho hành đại lễ. Vương nắm tay nàng nói:

– Huệ-Phương. Phụ hoàng cùng mẫu hậu tốn không biết bao công lao mới tìm được một giai nhân sắc nước hương trời như Huệ-Phương. Các người ưu ái gả nàng cho anh. Không biết kiếp trước anh tu thế nào, mà kiếp này anh gặp nàng. Hôm nay, nàng với anh thành duyên giai ngẫu. Trước khi thành vợ chồng, anh muốn nói với nàng ít điều.

Huệ-Phương e thẹn, nhưng nàng không run rẩy, sợ hãi như các cô gái khác khi được đem đến vương phủ lần đầu:

– Thiếp xin nghe vương dạy dỗ.

– Dạy dỗ. Chắc gì anh đã hơn nàng mà dạy dỗ nàng. Anh sinh ra làm con vua, làm thái tử, được phong Khai Quốc Vương, lại mới được phụ hoàng trao trọng quyền. Nhưng anh không tự hào vì những gì sinh ra đã có. Cái anh tự hào, là anh có chí khí. Anh muốn nối tiếp sự nghiệp vua An-Dương vua Trưng.

Trước đây vương đã được phụ hoàng gả cho một vài thiếu nữ. Nghe vương nói vậy, họ chỉ biết nghe, thảng hoặc vâng dạ cho qua, rồi ngơ ngơ ngác ngác chẳng biết gì. Huệ-Phương nghe vương nói vậy thì vui mừng:

– Khi thiếp còn ở thôn dã, đã nghe võ lâm đồn rằng Những ai chưa từng gặp Khai Quốc Vương đừng vội xưng anh hùng hảo hán. Thiếp không tin, cho rằng người đời nói quá. Nhưng hôm nay mới nghe mấy lời của vương, thiếp thấy lời đồn còn thua sự thực.

Khai Quốc Vương ngắt lời:

– Nàng chưa nghe anh nói hết, mà đã khen. Như vậy thì lời khen e không đúng sự thực.

Huệ-Phương mỉm cười, ánh mắt đưa tình. Mắt nàng sáng như viên minh châu, môi hồng mọng, da mặt trắng hồng, khiến vương ngây ngất như người say rượu. Nàng nói:

– Phàm tri kỷ, cần gì phải nói nhiều, chỉ cần nghe qua một lời, nhìn ánh mắt của nhau ắt hiểu nhau liền. Trong Phật pháp gọi là Nhân ngã tương thông. Vương đã xuất thân đệ tử một vị Bồ-tát đắc đạo hẳn biết điều đó.

Vương nghe Huệ-Phương lý luận, chàng tìm thấy ở Huệ-Phương ngoài một giai nhân, còn là người bạn tâm tình, mà chàng chỉ tìm thấy ở những người cộng sự. Chàng nhìn thẳng vào mặt Huệ-Phương, khuôn mặt tươi như hoa, môi hồng, mái tóc đen óng mựơt. Tuy nàng hơi có vẻ e thẹn, nhu mì, nhưng ánh mắt sáng chiếu ra những tia sáng cực kỳ thông minh. Bất giác vương nghĩ thầm:

– Phụ hoàng, mẫu hậu ta thực có con mắt tinh đời, chọn cho ta một người như thế này, ta làm sao mà không mềm lòng?

Vương kéo đầu nàng vào ngực mình. Đôi vai Huệ-Phương tròn, mềm mại. Một hương thơm từ mái tóc nàng đưa vào mũi, làm cho vương cảm thấy nhẹ nhàng như đi trên mây. Vương bế bổng nàng dậy, đặt nàng ngồi trong lòng mình, rồi hôn lên đôi môi nàng. Hai người lặng đi một hồi lâu, họ cùng say say trong cái êm đềm.

Vương là người tỉnh trước, Vương nói:

– Anh cần nói với Huệ-Phương rằng từ năm mười ba, phụ hòang đã kén mỹ nữ cho anh, phong anh tước vương. Nhưng anh chưa thâu nạp một nàng nào cả. Chỉ vì họ muốn làm một tỳ nữ hơn là một người tình. Họ lại không có khả năng thành một người tri kỷ, một người bạn cùng lo quốc sự. Hoá cho nên suốt thời gian mười lăm năm, năm nào anh cũng được ban cho mỹ nữ, mà chưa người nào đáng cho anh thu nạp làm phi tần.

Ngừng một lát vương tiếp:

– Nay anh nhận em, đương nhiên anh sẽ tâu xin phong em làm vương phi. Nhưng anh phải nói trước. Em làm tỳ thiếp các vị vương khác còn sướng hơn làm vương phi của anh. Vì anh nghĩ rằng mình làm vương, để lo cho dân chứ không phải làm vương để ngồi trên đầu dân mà hưởng thụ.

Huệ-Phương nói bằng giọng ôn nhu nhẹ nhàng:

– Em chỉ nghe một lời cũng hiểu anh rồi. Anh đã nói rằng muốn theo chí vua An-Dương, vua Trưng, thì em biết rằng anh muốn sao cho nước giầu dân mạnh. Ta chỉnh đốn binh bị, kết hợp với Đại-Lý, chỉ ngọn cờ lên Bắc, đòi lại đất tổ thời vua Hùng. Than ôi, Đại Việt ta mấy triệu người, chỉ mình anh có chí đó. Hoàng thượng sinh bốn hoàng tử, chỉ mình anh quên ăn, quên ngủ, quên cả vợ con, lo làm truyện vá trời. Như vậy chưa phải là anh hùng sao? Làm vợ một anh hùng, tự đó đã là hạnh phúc, đâu cần gì hơn nữa?Vương nghe Huệ-Phương nói, vội ngồi ngay ngắn lại chắp tay vái một vái:

– Đa tạ em có lời khen. Kiến thức em thực không tầm thường. Theo em, ta phải làm gì bây giờ?

Huệ-Phương biết vương từng khuất thân cầu người hiền, xung quanh vương thiếu gì người tài trí mà vương phải hỏi nàng? Vương hỏi nàng chẳng qua để thử nàng mà thôi. Vì vậy Huệ-Phương đáp:

– Đời vua An-Dương vì không nghe lời Cao Cảnh Hầu, rồi triều đình chia rẽ mà mất nước. Thời vua Trưng vì anh hùng đồng tâm mà lập lại được Lĩnh-Nam. Mới đây, Lê Hoàn cướp ngôi nhà Đinh, nhân tâm không phục, quân Tống tràn sang. Vạn-Hạnh thiền sư kéo cao ngọn cờ thống nhất, khiến anh hùng thiên hạ đều tuốt gươm giữ nước, vì vậy máu giặc ngập sông Bạch-đằng, xác quân Tống chất cao hơn núi ở Chi-lăng. Bản triều từ khi hoàng thượng lên ngôi, ân đức trải khắp nước. Có thể nói, nhân tâm đã thành một khối. Tuy vậy võ lâm e chưa hẳn một lòng.

Khai Quốc Vương thấy Huệ-Phương kiến thức cao, chàng mừng vì từ nay có một nữ lưu tri kỷ. Vương ôm lấy nàng, bế bổng lên, đặt ngồi vào lòng:

– Trời đem em cho ta. Em thử nói hết cái không một lòng cho anh nghe xem có đúng không nào?

Huệ-Phương run rẩy, má nàng ửng hồng, đẹp hơn bao giờ cả:

– Nói về võ, mình có tới sáu đại môn phái. Nói về tôn sư, mình có Ngũ-long. Trong sáu phái, phái Tiêu-sơn là nơi dựng ra triều Lý, tuy lớn, một lòng phò trợ triều đình, nhưng một cây làm chẳng lên non. Phái Tản-viên, Mê Linh, Tây-vu lúc nào cũng sẵn lòng. Nhưng còn phái Đông-A, người nhiều, thế mạnh. Phái Sài-sơn uy tín rất rộng. Hai phái này đã chịu hợp tác với triều đình đâu? Nếu anh vựơt được hai cái khó khăn ấy, mới mong làm lên đại nghiệp.

Vương đặt Huệ-Phương ngồi xuống ghế, hai người say xưa trong buổi đầu tiên gặp gỡ, hợp nhau vì chí cả, thân nhau vì cùng có kiến thức. Vương hỏi Huệ-Phương:

– Nàng có linh cảm rằng chúng ta thành công hay không?

Huệ-Phương dựa đầu vào vai vương:

– Phàm làm truyện cứu dân, bảo quốc, chỉ cần đem hết tài trí ra cũng đủ. Thành công hay không đâu cần biết tới.

Vương bế bổng Huệ-Phương lên, ôm ghì nàng vào hôn lên môi nàng lần nữa, rồi đặt nàng lên giường. Huệ-Phương tê dại khắp người, nàng muốn nghẹt thở. Tay vương lần mở nút áo nàng. Huệ-Phương như người trong giấc mơ. Tuy nhiên nàng vẫn còn đủ minh mẫn nói:

– Nếu anh như các vị hoàng tử khác, em sẽ im lặng thành vợ anh. Nhưng anh là đấng anh hùng, em cần nói với anh một truyện, trước khi dâng hiến cả cuộc đời cho anh.

Vương ngừng lại hỏi:

– Nàng có tâm nguyện gì, cứ nói ra, anh sẵn sàng chu toàn.

Huệ-Phương từ từ thuật lại truyện nàng tìm thầy thuốc trị bệnh cho bố, chẳng may gặp lạnh ngất xỉu, rồi được thầy lang để tay vào huyệt Đản-trung truyền chân khí chữa cho. Từ đó hai người nảy sinh ra mối tình. Khi nàng tiến cung, có trao cho mẹ bộ quần áo, làm tín vật gửi cho vị thầy thuốc kia. Trong tâm nàng đã có hình bóng một người.

Nàng kết luận:

– Trước đây em ước ao được gặp mặt anh cũng mãn nguyện. Bây giờ em được là vợ anh thì còn gì hơn nữa? Tuy nhiên, em xin anh ban cho em một ước nguyện, cho em tìm gặp vị thầy thuốc kia, đem vàng, để chuộc lời nguyền sắt đá trăm năm.

Khai Quốc Vương nghĩ thầm:

– Thì ra Huệ-Phương đã có lời thệ nguyện với cùng thầy thuốc kia. Với nhan sắc, tài trí của nàng, ắt vị thầy thuốc phải say đắm khôn cùng. Bây giờ vì chiếu chỉ của triều đình, Huệ-Phương bị tiến cung, làm vợ ta. Trên luật lệ quốc gia thì hợp tình hợp lý. Trên đạo nghiã, họ Lý nhà ta dùng cường lực bắt người yêu của vị thầy thuốc kia. Như vậy ta có khác gì đạo tặc không? Ta phải trả nàng về với ý trung nhân của nàng. Nhưng vấn đề không phải dễ. Phụ hoàng cưới nàng cho ta, mà ta gả cho người, e mất thể diện hoàng triều, truyện này đến tai phụ hoàng tội ta không nhỏ.

Vương nhìn Huệ-Phương, đôi mắt sáng, mái tóc đen nhánh, nét mặt tươi hồng. Vương sẽ thở dài:

– Ta thà bị tội với phụ hoàng chứ không thể cướp vợ thiên hạ.

Vương ngồi ngay ngắn lại:

– Như vậy nàng đã có mối nhu tình. Nay ta ép nàng làm vợ, có khác gì cướp vợ của người? Nàng yên tâm, ta hứa khi nào tìm ra tông tích vị thầy thuốc kia, sẽ cho nàng và chàng hội ngộ. Từ nay nàng cứ sống trong vương phủ. Ta hứa coi nàng như em gái ta.

Nói là làm. Vương đối xử với Huệ-Phương cực kỳ thân thiết như một cô em gái. Huệ-Phương thường đeo kiếm theo vương đi duyệt binh, luyện quân, giúp đỡ vương … giống như nữ tướng tham mưu. Sau hơn năm, dịp tình cờ, vương tìm ra thầy lang đó chính thị Hồng-Sơn đại phu. Vương thuật cho Huệ-Phương nghe, rồi nói:

– Mừng cho Huệ-Phương. Không ngờ thầy lang mà Huệ-Phương gặp lại là nhân vật lừng danh võ lâm, nổi tiếng thánh y. Sau đây anh sẽ đưa Huệ-Phương đến Vạn-thảo sơn trang gặp Hồng-Sơn đại phu. Như vậy anh đã chu toàn lời hứa.

Huệ-Phương quỳ gối xuống lạy vương tám lạy:

– Anh hùng thiên hạ, cổ kim chưa từng thấy ai như anh. Về tình cảm, em làm vợ Hồng-Sơn đại phu. Về quốc sự, xin anh coi em như một võ tướng. Em nguyện đem hết sức mình theo giúp đại nghiã của anh. Em sẽ khuyên Hồng-Sơn đại phu không làm lợi cho triều đình thì cũng không hại cho triều đình.

Thế rồi vương tặng vàng, ngọc, lụa, cho người đưa Huệ-Phương về quê. Huệ-Phương lấy xe chở bố, cùng mẹ lên đường tìm Hồng-Sơn đại phu. Nàng đã trở thành chủ mẫu Vạn-thảo sơn trang

Thuận Thiên hoàng đế hỏi lại Khai Quốc Vương:

– Vương nhi có chắc Hồng-Sơn đại phu là Lê Long-Mang không?

– Chắc chắn như vậy.

Ngài ngồi trầm ngâm một lúc rồi nói:

– Con vì lòng tốt, tuy có làm đảo lộn Hoàng-thành, nhưng ít ra cũng hóa giải được một mũi đùi mạnh nhất của Lê Long-Mang chĩa vào ta. Vả lại Trần cô nương đã xin ta ân xá tội này cho vương nhi rồi.

Vương tâu:

– Thần nhi vẫn nhận được đầy đủ tin tức của Lê Long-Mang, do Huệ-Phương gửi về. Có thể nói, thân xác Huệ-Phương của Lê Long-Mang, còn chí khí của nàng, nàng dành cho Đại Việt.

Nghe vú Tú tường thuật, Mỹ-Linh nhìn Thiệu-Thái, Bảo-Hòa, cả ba như người trong mơ bừng tỉnh. Trước đây tại Vạn-thảo sơn trang, nàng thấy Huệ-Phương thuật với Lê-Long-Mang rằng Em bị tuyển vào cung, ngày đêm nhớ nhung anh. Em trốn đi tìm anh. Bấy giờ nàng không tin, vì Huệ-Phương có gan lớn bằng trời cũng không dám trốn khỏi Hoàng-cung, bởi luật của Đại Việt trừng phạt rất nặng trường hợp vợ bỏ chồng trốn theo trai. Huống hồ nàng là cung nữ bỏ đi, cha mẹ ắt bị vạ lây. Hồng-Sơn đại phu vốn người thông minh, kinh lịch, thông thường dễ gì ông tin. Nhưng bấy giờ ông bị áng mây xanh tình yêu che lấp, nên bỏ qua chi tiết đó.

Hồi ấy Bảo-Hòa ngạc nhiên vô cùng khi thấy Huệ-Phương vừa lấy chồng. Chồng là Hồng-Sơn đại phu, có địa vị lớn chỉ thua hoàng đế. Ông đang mưu phục hồi đại nghiệp của tổ tiên. Thế mà Huệ-Phương không những không thuận theo chí của chồng, mà lại dùng tất cả cái dịu dàng, cái khôn khéo, để khuyên chồng bỏ mưu cầu đại cuộc. Lại nữa, gặp Bảo-Hòa, Mỹ-Linh là con cháu kẻ thù của chồng, nàng lại tỏ ra thương yêu thiết tha, bênh che cho hai người. Khi chồng đi vắng, nàng truyện trò với con cháu kẻ thù rồi xui trốn đi. Nàng còn cho Lê Văn, con của chồng theo Mỹ-Linh đi chơi, hầu giải hòa bớt căng thẳng của nhà chồng với triều đình. Bảo-Hòa cứ thắc mắc mãi về lòng tốt quá đáng của Lâm Huệ-Phương. Bây giờ nàng mới hiểu thì ra Huệ-Phương làm như vậy vì cảm ơn lòng đại lượng của cậu hai một phần, mà vì đại cuộc một phần.

Bỗng chốc trong lòng ba người nổi lên mối cảm hoài, kính phục Huệ-Phương hơn bao giờ cả. Ba người im lặng, vì họ muốn biết truyện Đào Hà-Thanh.

Thuận Thiên hoàng đế hỏi:

– Còn truyện Đào Hà-Thanh?

Vương tâu:

– Truyện Đào Hà-Thanh do thần nhi xếp đặt hoàn toàn. Thần nhi thường cùng võ lâm anh hùng đến các tửu lâu trong thành Thăng-long yến tiệc nghe hát. Thấy Đào Hà-Thanh vừa xinh đẹp, vừa văn hay chữ tốt, được đủ mọi lẽ. Thần nhi định đón nàng vào cung, hầu làm vương phi, thì đúng lúc đó được tin Trần Tự-An du ngoạn trên sông Hồng. Thần nhi thân mời Long-thành Song-phụng vào Khu-mật viện, nói rõ tình hình đất nước chông chênh như trứng trồng. Nguy nan bọn Tống trước mắt, mà anh hùng võ lâm lại chia rẽ. Thần nhi nhờ Long-thành Song-phụng giúp đỡ. Hai người ấy thực là nghĩa sĩ, khảng khái nhận lời. Thần nhi nhân đấy sai bọn Hồng-hà hành sự. Quả nhiên Tự-An rơi vào vào lưới tình. Giữa lúc đó, thần nhi được lệnh đi Thanh-hóa. Nào ngờ ở nhà phụ hoàng tuyển mỹ nữ, Đào Hà-Thanh trúng cách. Phụ hoàng ban nàng cho thần nhi. Vì vậy thần nhi lại cho nàng về Thiên-trường. Bây giờ nàng là vợ Trần Tự-An, nhưng làm việc dưới quyền của thần nhi.

Thuận Thiên hoàng đế mỉm cười hài lòng:

– Những việc ở trang Thiên-trường, Khu-mật viện tâu lên, ta đều theo dõi tỷ mỉ. Lúc đầu biểu chương nói rằng Khu-mật viện khám phá ra âm mưu mai phục của Nhật-Hồ lão nhân trong trang Thiên-trường, nhưng không rõ ý định. Ta đã châu phê rằng Mặc dù phái Đông-a không theo triều đình, nhưng họ vẫn là con dân Đại Việt. Cần theo dõi, nếu Nhật-Hồ có ý định hại phái này, cần ra tay giúp đỡ. Nào ngờ Nhật-Hồ lại âm thầm đi với Tống. Tống nhờ Nhật-Hồ ra tay giết Tự-Mai, Tôn Đản để ra oai với phái Đông-a, và khống chế Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, Bảo-Hòa. Con ra tay kịp. Nếu sau này Tự-An biết rằng y tuy tài trí, mà vẫn phải nhờ Khu-mật viện mới khám phá ra manh mối phản lọan. Hơn nữa vợ yêu của y, do con nhượng cho khó lòng y chống triều đình được nữa.

Hoàng hậu vuốt tóc vương:

– Vương nhi vì lo quốc sự, mà hy sinh cả tình yêu, hy sinh cả hai người đẹp nhất, hầu biến hai lực lượng kình chống triều đình thành lực lượng trợ lực triều đình. Thế mà từ trước đến nay vương nhi giữ im lặng, quỉ không biết, thần không hay, cho nên phụ hoàng với ta cũng không tường, mới phiền trách vương nhi. Tại sao tất cả mọi truyện con đều tâu bầy cặn kẽ, ngoài trừ việc Lâm Huệ-Phương và Đào Hà-Thanh?

Khai Quốc Vương tâu bày tỉ mỉ việc anh em họ Đàm phản triều đình ở trấn Thanh-hóa như thế nào, đến việc Dực Thánh Vương ngầm qui phục Tống. Nếu chàng tâu bày mọi việc giữa chốn đông người, tai mắt của Dực Thánh Vương của Đàm qúi phi ắt sẽ báo về cho chủ, Tống lại sẽ phá kế hoạch của Khu-mật viện. Vì vậy chàng không thể nói ra trước công chúng, khi bị phụ hoàng cật vấn.

Vương kết luận:

– Con được phụ hoàng ủy thác việc lớn, ngày quên ăn, đêm quên ngủ. Nếu phụ hoàng thấy có điều chi khác lạ, xin cứ triệu thần nhi vào cung mật tấu, như vậy mới bảo toàn được mọi sự.

Thuận Thiên hoàng đế thở dài:

– Ta không ngờ Đàm Toái-Trạng, Dực Thánh Vương phản ta. Đúng ra ta đem cả nhà hai người này chặt đầu. Nhưng như vậy bọn Tống lại tìm tay sai khác, khó mà khám phá ra. Thà cứ để nguyên vậy. Ta sẽ phong cho Dực Thánh Vương chức tước khác lớn hơn, nhưng không có binh quyền. Đàm Toái-Trạng ta sẽ cho về Thăng-long, giao cho chức lớn, nhưng vô quyền. Đàm Toái-Trạng là con trai Đàm Can. Can hiện tổng trấn Thăng-long. Về võ, y được thăng cấp cao nhất, đô nguyên soái. Về văn y còn được phong là thái phó. Không biết bọn Trạng phản triều đình Can có biết không? Con phải theo dõi cho kỹ.

Ngài ngừng lại, nhìn Thanh-Mai hỏi:

– Còn việc Trần cô nương thế nào? Ta nghe An Quốc cùng Lĩnh-nam Bảo-hòa, ca tụng mưu trí, võ công cùng đức hạnh hoài. Con hãy cho ta biết rõ mọi truyện về nàng.

Khai Quốc Vương tường thuật mọi chi tiết từ khi gặp chị em Thanh-Mai tronglần hai người xem hoa ở Trường-yên, rồi sau này gặp gỡ ở Thanh-hóa, kết anh em ra sao.

Hoàng-hậu mỉm cười:

– Kể về nhan sắc, Thanh-Mai ngang với Huệ-Phương, Hà-Thanh. Nhưng về gia thế cùng tài năng, Thanh-Mai gấp trăm lần hai người kia. Mẹ mong nàng khỏi bệnh, rồi cử sứ về Thiên-trường xin đại hiệp Trần Tự-An cho nàng làm dâu nhà ta. Ta đã quyết phong nàng làm vương phi cho con. Ta nói một là một, hai là hai. Đối với Thanh-Mai, ta không tuyển như các mỹ nữ khác, mà tổ chức đại lễ tấn phong nàng. Lần này, con không ưng nữa thì ta cho con đi tu.

Mỹ-Linh nghe bà nội dọa chú, nàng cười thầm:

– Bà dọa gì, chứ dọa cho chú đi tu, thì chú không sợ, mà còn khoan khoái trong lòng. Làm hoà thượng sướng hơn làm Khai Quốc Vương nhiều.

Bà quay lại hỏi Thiệu-Thái:

– Ta nghe mẫu thân con tâu về đã hỏi vợ cho con rồi. Thế mà con với Mỹ-Linh còn có tình với nhau. Đúng luật triều đình thì con có quyền lấy nhiều vợ. Nhưng Bắc Biên dùng luật thời vua Trưng, trai một vợ, gái một chồng. Hơn nữa ta đã hứa gả Mỹ-Linh về làm dâu Đàm quốc cữu. Đàm Toái-Trạng tuy có làm gian tế cho Tống, nhưng họ Đàm vẫn là cột trụ triều đình. Vậy từ nay, hai cháu chỉ đối với nhau như anh em. Nếu còn kia khác, ta chặt đầu cả hai.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nghe bà nói, chỉ biết gật đầu, trong khi, lòng dạ xót xa, quặn đau. Cả hai quì xuống:

– Chúng cháu xin tuân chỉ dụ.

Thuận Thiên hoàng đế vốn thấm nhuần sâu sa giáo lý nhà Phật. Vì vậy ngài dành cho ba bà hoàng hậu rất nhiều quyền. Một bà được phong Tá Quốc, được quyền nghe, tham dự mọi biến cố của đất nước. Hoàng hậu Tá Quốc sinh ra Khai Thiên Vương, công chúa An Quốc, công chúa Lĩnh-nam Bảo-hòa. Một bà được phong Lập-nguyên, cai quản mọi việc trong hoàng cung, quyết định tuyển phò mã, cung phi, thái giám, dạy dỗ các thái tử, công chúa. Một bà được phong Lập-giáo phụ tá cho ngài về lễ nghi , phong tục trong nước. Cho nên việc dựng vợ gả chồng cho Khai Quốc Vương, hoàng hậu Lập-nguyên quyết định hết, mà không cần chỉ dụ của hoàng đế. Cho đến việc tính tội Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, cùng bất đồng ý về cuộc hôn nhân này bà cũng quyết định cả.

Hiện mối quan tâm của Thuận Thiên hoàng đế là đặt vương nào trong các con làm trừ quân, để mai sau nối nghiệp? Ngài có bốn thái tử, người nào cũng có tài cầm quân, đánh Đông dẹp Bắc, nhiều công với xã tắc. Nhưng nổi hơn hết phải kể Khai Thiên Vương. Vương là con cả, uyên thâm Phật-pháp, lại là đệ tử của quốc sư Minh-Không, sư huynh ngài. Tính tình vương uy nghiêm, nhân hậu, thương dân, thương quân lính, hòa thuận với anh em.

Nổi hơn nữa tới Khai Quốc Vương. Hiện trong các thái tử, võ công vương cao nhất, mới đây lại được Bồ-tát đắc đạo Hệ-Sinh thu làm đệ tử. Võ công vương không thua gì ngài. Tương lai có thể hơn. Ngài còn nghe nói vương cùng tìm học được võ công của công chúa Yên-lãng Trần Năng, bản lĩnh e không kém gì sư phụ Huệ-Sinh. Còn về kinh bang, tế thế, thì thực trong lịch sử chỉ có tể tướng Nguyễn Phương-Dung triều vua Trưng mới sánh kịp. Vương lại nhã lượng, cao trí, thu phục được hết nhân tâm trong nước. Có điều từ ngài cho đến triều đình chỉ mong giữ vững bờ cõi, chống với Tống là mừng rồi. Trong khi đó, vương mới cầm quyền hơn năm, mà làm cho Tống kinh sợ. Đại Việt trấn áp Chiêm-thành, cùng Lão-qua. Vương lại lập chí lớn qúa, mưu cùng Tây-hạ, Liêu, Kim, Đại-lý cùng bức Tống, đòi lại đất tổ lên tới hồ Động Đình như thời Lĩnh-nam.

Đứng về phương diện con Lạc, cháu Hồng, chí của vương thực xứng đáng. Nhưng ngài là một Phật tử, dù con chó, con mèo bị giết ngài cũng không muốn. Vạn nhất vương lên ngôi, đem quân lên Bắc, ắt người chết không phải hàng nghìn hàng vạn, mà hàng trăm vạn. Mới chỉ nghĩ đến thôi, ngài đã rùng mình. Một điều ngài lo nghĩ nữa, nếu nhường ngôi cho vương, thì đến đời con vương gặp khó khăn. Hiện vương chưa có vương phi, chưa có thế tử. Sau này khi vương qua đời, ấu quân cai trị, ắt dễ đi đến vạ mất nghiệp. Trong tình thế hiện tại, không nhường ngôi cho vương, e không xong, vì anh hùng thiên hạ đều hướng về phủ Khai Quốc Vương cả.

Chợt nhớ ra điều gì, ngài hỏi:

– Vương nhi. Chỉ còn ba ngày nữa, sứ đoàn Triệu Thành sẽ đến Thăng-long. Vương nhi đã chuẩn bị tiếp đón chưa?

– Tâu phụ vương, hài nhi đã xếp đặt tất cả. Cứ như Mỹ-Linh, Bảo-Hòa cùng Thanh-Mai cho biết, kỳ này sứ đoàn Triệu Thành đến Thăng-long sẽ bắt phụ hoàng bỏ quốc hiệu Đại Việt, niên hiệu Thuận Thiên, mà chỉ được dùng danh xưng Giao-chỉ cùng Giao-chỉ quận vương mà thôi. Việc này y đã làm ở chùa Sơn-tĩnh, bị Mỹ-Linh, Bảo-Hòa phá tan âm mưu. Y đến Thiên-trường những tưởng đem vàng bạc mua chuộc phái Đông-a. Không ngờ phái này cứ nhận lễ vật, nhưng cương quyết đòi giữ quốc uy tôn trọng tên Đại Việt cùng niên hiệu Thuận Thiên. Kỳ này về Thăng-long chúng cũng sẽ diễn lại.

Thuận Thiên hoàng đế tươi nét mặt:

– Võ đạo phái Đông-a sáng không thua gì Tiêu-sơn. Họ phân biệt việc ta với họ Lê có cừu thù. Họ phù Lê chống ta là việc người Việt với nhau. Còn bọn Tống là bọn cướp nước, không có quyền, nói truyện nội tình người Việt. Không như một số vô tư cách. Chúng thù hận triều đình, rồi thù hận cả Đại Việt. Trần Tự-An thực xứng đáng anh hùng như võ lâm tặng cho. Như vương nhi nghĩ, chúng gây hấn như vậy với mục đích gì?

– Chủ tâm của Tống đã rõ rệt. Một mặt họ cố làm cho họ Lý mất uy tín. Một mặt họ mua chuộc võ lâm hướng về Thiên triều như thế có nghĩa Đại Việt là quận huyện của họ. Họ bắt bỏ đế hiệu, đổi quốc hiệu. Tuy vậy Triệu Thành không làm nổi đâu. Cái khó là lúc hai bên đấu võ, khó tránh được tử vong. Trong khi đó thần nhi muốn làm thân với y, tâng bốc y, rồi khiến cho y tạo phản.

Thuận Thiên hoàng đế phất tay:

– Thôi được. Ta ủy quyền cho vương nhi lo vụ này.

Ngài cùng hoàng hậu ra xe về. Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Thiệu-Thái quỳ gối khấu đầu tiễn đưa.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 96412
Has thanked: 35581 times
Have thanks: 48791 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: June 12th, 2018, 1:56 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Postby DaMinhChau » July 30th, 2017, 12:19 am


Hồi thứ bốn mươi lăm

Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh


Bình-dương từ trong phòng Thanh-Mai bước ra, mặt nàng tái nhợt. Khai Quốc Vương hỏi:

– Cái gì đã xẩy ra?

Bình-dương run run:

– Mặt sư tỷ Thanh-Mai đỏ như gấc, mắt trợn ngược, e khó qua khỏi.

Khai Quốc Vương vào phòng Thanh-Mai. Vương hỏi Lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân, còn hy vọng gì không?

Đỗ-lệ-Thanh thở dài:

– Cứ tình trạng này, tiểu tỳ nghĩ Trần cô nương khó qua khỏi trong ba ngày. Tiểu-tỳ chỉ biết trị Nhật-hồ chu-sa độc chưởng, mà không biết trị Thất-trùng ngũ hoa độc.

Chợt Thanh-Mai nói trong cơn mê sảng:

– Bố ơi! Con đau quá. Bố cứu con với. Ối bố ơi, hàng trăm con rắn nó cắn con.

Nàng giật lên một cái:

– Bố ơi! Bố đừng bỏ con một mình. Con đau quá. Bố cứu con với.

Đỗ Lệ-Thanh hỏi Bảo-Hòa:

– Tấu cô! Không biết sao Trần cô nương không kêu người khác, mà lại kêu đại hiệp Tự-An trong giấc mơ?

Bảo-Hòa giảng nghĩa:

– Gốc hồn con người thuộc trời. Vì vậy khi đau đớn về tinh thần, người ta gọi trời. Gốc của thân xác thuộc cha mẹ, nên khi đau đớn thân xác thường gọi cha mẹ. Trần cô nương mồ côi mẹ, bất cứ việc gì khó khăn cũng do Trần đại hiệp lo cho cả. Nay đau đớn thân xác, Trần cô nương gọi cha là lẽ thường.

Bình-dương nước mắt đầm đìa nói với Khai Quốc Vương:

– Chú hai ơi. Cháu nghĩ chú hai nên khẩn đưa Thanh-Mai về Thiên-trường, để Trần đại hiệp được nhìn mặt con gái lần cuối. Cơ chừng này, cháu e Thanh-Mai khó qua khỏi.

Khai Quốc Vương hỏi Thiệu-Thái:

– Hôm cháu với Mỹ-Linh bị giam ở Hồng-hương cốc. Mỹ-Linh bị trúng Chu-sa độc chưởng của Nguyên-Hạnh. Bố-đại hòa thượng chữa trị cho Mỹ-Linh như thế nào? Cháu thử diễn lại một lựơt cho cậu xem nào. Biết đâu chẳng tìm ra được chút ánh sáng?

Thiệu-Thái diễn lại từ đầu đến cuối. Nhìn qua, vương biết Bố-đại hòa thượng dùng thượng thừa Thiền-công hóa giải chất độc trong người Mỹ-Linh. Vương nghĩ:

– Hiện nay trong người Thiệu-Thái Thiền-công mạnh vô song, biết đâu y không làm gì được cho Thanh-Mai?

Vương hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân, tôi nghĩ, thà chúng ta cho Thiệu-Thái thử hóa giải chất độc trong người Thanh-Mai, dù thành công, dù thất bại cũng cam lòng. Còn hơn để Thanh-Mai đau đớn như thế này.

Đỗ Lệ-Thanh lắc đầu:

– Tiểu tỳ chỉ truyền cho Thân thế tử phép hóa giải chất độc của Chu-sa Ngũ-độc chưởng. Còn đối với chất độc khác, tiểu tỳ không biết.

Tuy nghe Đỗ Lệ-Thanh nói vậy, Thiệu-Thái vẫn đến trước Thanh-Mai. Chàng để tay lên huyệt Nội-quan của nàng, rồi vận khí hút độc chất ra. Chàng vừa vận khí, thì cảm thấy có hai luồng nội lực cực kỳ hùng hậu chống trả, đẩy bật tay chàng ra ngoài. Ngón tay chỏ của chàng như bị con thú ngoặm một miếng. Không tự chủ được, chàng dụt tay lại, kêu lên tiếng ái chà đầy vẻ đau đớn.

Chàng nhìn lại ngón tay chỏ, nửa ngón tay đỏ như máu, sưng vù lên như quả chuối. Đỗ Lệ-Thanh lắc đầu:

– Trong người Trần cô nương hiện có đến bẩy chất độc đều thuộc âm hàn. Vừa rồi thế tử để tay vào huyệt Nội-quan của Trần cô nương. Nội-quan thuộc thủ Khuyết-âm tâm bào kinh. Trong người cô nương có bẩy thứ độc. Độc rắn nhập tâm, phát ra tâm bào kinh. Vì vậy khi thế tử vận công hút độc chất trong người Trần cô nương, tay thế tử bị nọc rắn truyền sang. Thế tử khẩn đẩy chất độc ở ngón tay ra ngoài ngay, đừng để nó chạy vào tạng phủ.

Thiệu-Thái vận khí ra ngón tay, trong khoảng mười tiếng đập tim, trên ngón tay chàng tiết ra thứ nước nhờn mầu vàng, thoang thoảng có mùi hương thơm. Bảo-Hòa cầm tay anh lên ngửi:

– Có mùi thơm của Ngọc-lan với Hoàng-cúc.

Thiệu-Thái sống ở rừng núi từ nhỏ, từng thấy nhiều người bị rắn cắn. Chàng lắc đầu:

– Đỗ phu nhân. Thường nọc rắn nhập cơ thể, không làm sưng lên. Tại sao tay tôi lại bị sưng?

– Thưa thế tử, trong bẩy thứ nọc độc, thì nọc rắn lục nhập tâm. Nọc bò cạp nhập can. Nọc nhện xanh nhập tỳ. Nọc rết đen nhập phế. Nọc tằm núi nhập thận. Thế nhưng nọc ong vàng, nọc sâu ngũ sắc nhập Tam-tiêu. Tam tiêu chia ra thượng, hạ, trung tiêu. Nọc ong vàng nhập thượng tiêu. Tâm nằm ở thượng tiêu. Vì vậy tay thế tử còn bị nọc ong vàng nhập. Nọc ong, nọc rắn hợp lại làm tay thế tử bị sưng lớn.

– Thế bây giờ tôi làm sao để đẩy chất độc ra ngoài?

– Khó quá. Nội công của Bồ-tát Sùng-Phạm thuộc Thiền-công. Khi tập Thiền-công đến chỗ tối cao, có thể hóa giải mọi thứ độc trong người. Nhưng khi độc chất nhập tạng phủ, Thiền-công cũng vô hiệu. Thế tử không nhớ hôm ở Thiên-trường, đại hiệp Tự-An đã kể truyện thời Lĩnh-Nam. Công chúa Yên-lãng Trần Năng cũng như Tiên-yên nữ hiệp Trần-thi Phương-Chi trúng Huyền-âm độc hưởng. Bồ-tát Tăng-giả Nan-đà dạy hai vị Thiền-công, nên hóa giải được chất độc. Đến khi Trần Tứ-Gia hút chất độc trong người Bắc-bình vương Đào Kỳ, Bồ-tát cũng bó tay. Nay độc chất nhập vào người Đoàn Huy, Trần cô nương hút vào, nên Thất-trùng, Ngũ-hoa đã nhập tạng phủ, Thiền-công e cũng chẳng làm gì được.

Lý Long chợt hiểu ra:

– Trong lúc đối thoại với Đoàn Huy, Thanh-Mai trình bầy phương pháp điều trị Thất-trùng Ngũ-hoa độc bằng cách đùng châm cứu, sau đó xử dụng Thiền-công hóa giải chất độc. Thì ra châm cứu trị Ngũ-hoa độc, còn Thiền-công hóa giải Thất-trùng. Ngặt vì bây giờ Thanh-Mai hút vào tạng phủ, thành ra cả hai phương pháp đều vô dụng.

Bảo-Hòa đề nghị:

– Hồi Bồ-tát Tăng-giả Nan-Đà giúp công-chúa Yên-lãng với nữ hiệp Trần-thi Phương-Chi đẩy chất độc, bằng cách giảng kinh, rồi hai vị tự hoá giải lấy. Còn trường hợp Thanh-Mai, chị mê man, làm sao có thể hoá giải chất độc cho nổi?

Khai Quốc Vương chưa có ý kiến gì, thân binh vào báo:

– Khải tấu vương gia, hai vị thượng khách đã trở về.

Hai vị thượng khách mà thân binh nói đây tức Phạm Hào, Trần Kiệt. Hai người lên vùng Tản-viên gặp chưởng môn phái này là Đặng Đại-Khê, nay trở về. Lý Long vội chỉnh đốn y phục ra đón. Ra tới cửa, vương thấy hai vị khách cùng Tự-Mai, Tôn Đản đang đứng chờ.

Trần Kiệt thấy vương vội hỏi:

– Tại hạ nghe Thanh-Mai bị trúng độc, bệnh thế ra sao?

Khai Quốc Vương rơi nước mắt:

– Cực kỳ trầm trọng!

Chị em Tự-Mai mồ côi mẹ sớm, sống với nhau thân thiết, hòa thuận vô cùng. Nó nghe tin chị bị bệnh, không cần ý tứ, lễ phép. Nó chạy vào phòng Thanh-Mai. Thấy chị nằm bất động, nó đưa tay bắt mạch. Vừa để ngón tay vào cườm tay chị, nó vội dụt lại, bật lên tiếng kêu:

– Ái chà!

Nó có cảm tưởng như bị người ta ngọam một miếng vào tay. Trần Kiệt hỏi:

– Cái gì vậy?

– Thưa chú, tay cháu như bị chặt đứt, đau đớn vô cùng.

Trần Kiệt cầm tay Thanh-Mai bắt mạch. Ông sẽ để ngón tay vô danh vào bộ vị Thốn, thấy mạch căng như chiếc dây thừng. Ông để ngón giữa vào bộ vị Quan, ngón tay chỏ vào bộ vị Xích. Cả ba bộ vị mạch cùng Hồng đại, nhưng mạch lại không nhảy mau. Ông dồn chân khí vào ba bộ vị của Thanh-Mai. Ông thấy sức phản kích mạnh vô cùng. Ông dồn chận khí sang thực mạnh, bỗng ông cảm thấy bao nhiêu chân khí của ông cuồn cuộn chạy vào người Thanh-Mai. Kinh hoàng ông vội thu liễm lại.

Đỗ Lệ-Thanh hỏi:

– Đại hiệp thấy thế nào? Xin đại hiệp giảng chi tiết về phép luyện nội công phái Đông-a, hy vọng tiểu tỳ tìm ra phương giải cứu Trần cô nương.

Trần Kiệt lắc đầu:

– Thanh-Mai là con anh cả tôi, nhưng lại do tôi luyện võ cho nó. Có thể nói trong tất cả đệ tử bản môn, nội lực Thanh-Mai khi rời nhà theo Tịnh-Huyền lễ Lệ-hải bà vương vào loại cao nhất, hơn cả Ngô An-Ngữ. Tuy vậy muốn thành đại cao thủ cần phải đến tuổi bốn mươi, hòa hợp được thủy, hỏa mới thành tựu.

Khai Quốc Vương hỏi:

– Tại hạ nghĩ nội công phái Đông-a vốn xuất từ phái Tiêu-sơn. Mà nội công Tiêu-sơn gốc Thiền công, làm gì có lẽ âm, dương, ngũ hành, mà có thủy hỏa?

Trần Kiệt xua tay:

– Đúng, lúc đầu nội công bản phái xuất phát từ Thiền-công Tiêu-sơn. Nhưng các tổ đời sau đã nghiên cứu, chế biến khác đi nhiều. Cho đến nay, võ công Tiêu-sơn vẫn còn giữ nguyên căn bản nhà Phật, song chiêu số sát thủ hơn võ công phái Thiếu-lâm nhiều. Võ công Đông-a, trải qua sáu trăm năm cải biến cũng khác xa với võ công Tiêu-sơn. Còn thủy, hỏa đây, không phải thủy hỏa của Ngũ-hành mà là Tứ-đại, trong kinh Phật.

Khai Quốc Vương tự chửi thầm:

– Thanh-Mai bị bệnh làm mình lú lẫn. Mình là đệ tử của một vị đại sư đắc đạo, mà không biết đến Tứ-đại thì bậy thực. Hôm trước sư phụ đã giảng cho mình nghe chi tiết kinh Thủ-lăng-nghiêm, mà mình quên khuấy đi.

Tôn Đản hỏi:

– Sư huynh, Tứ-đại gồm những gì vậy?

Khai Quốc Vương giảng:

– Tứ đại gốc từ tiếng Phạn mahâblutas dịch ra. Maha là lớn. Brutas là vật. Tứ đại gồm bốn chất lớn tạo thành vũ trụ và con người tức địa, thủy, hỏa, phong.

Đỗ Lệ-Thanh tò mò:

– Vương gia, tiểu tỳ chỉ nghe biết ngũ tạng lục phủ cấu tạo thành con người. Tâm, tiểu trường, tâm bào, tam tiêu, lưỡi, mạch thuộc hỏa. Can đởm, mắt, gân thuộc mộc. Tỳ, vị, miệng, thịt thuộc thổ. Phế, đại trường, mũi, lông, tóc, thuộc kim. Thận, bàng quang, tai, xương, răng thuộc thủy. Tiểu tỳ chưa từng nghe qua lý của Tứ-đại trong kinh Phật.

Khai Quốc Vương đưa mắt ra hiệu cho Mỹ-Linh. Mỹ-Linh đáp thay chú:

– Điều phu nhân nói, đó thuộc lý Ngũ-hành trong y học, trong nội công của Lĩnh-Nam cổ. Còn Tứ-đại trong Phật giáo khác lắm. Tứ đại bao gồm đất, nước, lửa, gió. Trong con người tóc, răng, móng, da, thịt, gân, xương, thận, tim, gan, bụng, lá lách, phổi, dạ dày, ruột non, ruột già, phân… thuộc đất.

Tôn Đản nghe Mỹ-Linh nói, nó gật đầu, tỏ ý hiểu:

– Như vậy tất cả những gì thuộc chất ướt trong người thuộc thủy. Chẳng hạn như đàm, mủ, máu, nước dãi, mước bọt, nước tiểu.

Trần Kiệt xoa đầu Đản:

– Cháu nghe ít, mà hiểu nhiều. Thế cháu thử đoán xem, trong người, những gì thuộc hỏa? Thuộc phong?

Tôn Đản đáp không suy nghĩ:

– Cái gì làm nóng cơ thể thuộc lửa. Những gì làm ra hơi, như hơi thở, trong bao tử thuộc phong.

Trần Kiệt khen ngợi Tôn Đản, rồi nói:

– Đó thuộc Thiền-công nhà Phật, gốc nội công phái Đông-a. Trải sáu trăm năm, phái Đông-a đã nghiên cứu rộng ra hợp với lý Ngũ-hành thành hệ thống mới. Đệ tử phái Đông-a phải hòa hợp được Tứ đại động, tĩnh, phong, lôi, mộc, thổ, hỏa, kim, thủy, hỏa. Thanh-Mai đã hòa hợp được hết, chỉ duy thủy hỏa chưa tới được.

Ông thở đài:

– Bản phái cứ bị luẩn quẩn trong cái giới hạn đó mãi. Chưa tìm ra phương pháp cho đệ tử vượt trước bốn mươi tuổi. Không ngờ cái lẽ đó lại nằm trong kinh Thủ lăng nghiêm. Đại sư Huệ-Sinh đã tìm ra lẽ hòa hợp. Trong lần đi Cửu-chân cháu Thanh-Mai thọ lĩnh phép ấy từ người. Nội lực cháu trở thành cao thâm vô cùng. Thế rồi trong thời gian ở Vạn-thảo sơn trang, Hồng-Sơn đại phu dạy cháu về học thuyết Âm-Dương, Kinh-lạc, Tạng-phủ. Cháu luyện phương pháp vận khí bằng kinh mạch. Mười hai chính kinh, Kỳ-kinh bát mạch của cháu đả thông hết. Khi trở về Thiên-trường, cháu đem lý thuyết ra hỏi tôi. Tôi giải thích thêm vài chỗ khúc mắc, thế là cháu phối hợp được tất cả động, tĩnh, phong, lôi, mộc, thổ, hỏa, kim, thủy, hỏa. Cho nên công lực cháu mạnh không kém gì bọn tôi.

Đỗ Lệ-Thanh nhảy phắt lên:

– Tiểu tỳ hiểu rồi. Hôm trước Trần đại hiệp có giải thích rằng Thiền-công nhà Phật gồm có bốn loại, gọi là Tứ đại giai không. Khi luyện một loại nào tới chỗ tối cao, cũng kiêm cả bốn loại kia. Thanh cô nương được đại sư Huệ-Sinh chỉ điểm, vượt ra được, trong người như cái hồ trống rỗng. Rồi cô nương lại được Hồng-sơn đại phu dạy cho cách đả thông mười hai chính kinh cùng Kỳ-kinh bát mạch. Vì vậy khi cô nương chạm vào người Đoàn Huy. Trong người y đầy dẫy nội tức Vô-thọ giả tướng. Nội tức Trần cô nương như biển cả. Nội tức Đoàn Huy như nước sông. Thành ra bao nhiêu nội tức của y bị Trần cô nương thu hết, thu cả chất độc trong người y.

Trần Kiệt hỏi:

– Cái gì? Đoàn Huy cũng tới Thăng-long sao?

Bảo-Hòa tường thuật tỷ mỷ mọi diễn biến trong vụ Thanh-Mai bị trúng độc một lượt. Trần Kiệt nghe xong, ông cau mày:

– Như vậy Thanh-Mai nguy kịch lắm rồi. Hiện nay trong người nó đang hóa giải chất độc. Nếu sức chống trả mạnh hơn độc chất, nó thoát nạn. Còn ngược lại nó sẽ mê man mấy năm không chừng. Nội lực Thanh-Mai hiện gồm nội lực Đoàn Huy với của nó. Nội lực hai chúng tôi không đủ sức đẩy hết chất độc trong người nó ra ngoài. Muốn đẩy hết nội lực nó khỏi cơ thể, e phải năm anh em chúng tôi. Thôi được, tôi đem Thanh-Mai về Thiên-trường trị bệnh.

Khai Quốc Vương gật đầu:

– Tiểu bối xin được cùng đi với sư muội Thanh-Mai.

Mỹ-Linh nước mắt đầm đìa:

– Chú hai ơi, hiện nay bọn Tống đang trên đường về Thăng-long, mưu ép triều đình bỏ quốc hiệu Thuận Thiên bỏ quốc danh Đại Việt. Sự thể cực kỳ trầm trọng. Ông nội đạo đức có dư, nhưng cháu e không đủ sức đối phó với bọn Triệu Thành. Việc sư tỷ Thanh-Mai, sống hay chết đành phó thác cho số mệnh. Chú hai không thể để vận mệnh đất nước cho bọn Tống muốn làm gì thì làm.

Trần Kiệt cũng nói:

– Vương gia, dù Thanh-Mai có chết, cũng còn nhiều Thanh-Mai khác. Song quốc thể không nên để mất. Vương gia cứ để chúng tôi đem Thanh-Mai đi. Bằng vào lẽ nhân quả, Thanh-Mai không thể chết được. Nếu Thanh-Mai chết, cũng chết vì đại cuộc thống nhất tộc Việt. Phái Đông-a chúng tôi cực kỳ hãnh diện.

Khai Quốc Vương thở dài:

– Đành vậy thôi. Sau khi bọn Tống đi rồi, tại hạ sẽ đến Thiên-trường bái kiến các vị sau.

Phạm Hào mỉm cười:

– Hẳn như vậy. Anh em tại hạ xin chờ vương gia.

Mỹ-Linh đề nghị:

– Cháu nghĩ, sắp đến ngày giỗ Bắc-bình vương Đào Kỳ, thế nào các vị đại hiệp Thiên-trường cũng về. Như vậy không cần đem sư tỷ Thanh-Mai đi. Cứ để chị ấy ở đây tốt hơn.

Bảo-Hòa bảo Thiệu-Thái:

– Vừa rồi anh Thiệu-Thái để tay vào huyệt Nội-quan chị Thanh-Mai, hút ra một ít chất độc. Vậy bây giờ ta thử làm lại. Tuy không hút chất độc khỏi tạng phủ, chỉ cần hút khỏi kinh mạch, biết đâu chị Thanh-Mai không tỉnh dậy, hoặc bệnh nhẹ đi, chờ Hồng-sơn đại phu trị cho.

Đỗ Lệ-Thanh nói với Thiệu-Thái:

– Thế tử thử làm xem, biết đâu chúng ta chẳng gặp may.

Thiệu-Thái ngồi xuống, chàng nhắm mắt vận khí, rồi áp bàn tay vào bàn tay Thanh-Mai. Chàng dùng tâm pháp Đỗ Lệ-Thanh dạy, hút chất độc. Chàng cảm thấy bàn tay mình tê dại đi. Từ bàn tay Thanh-Mai có hai luồng nội lực cực kỳ hùng mạnh kháng cự lại sức hút của chàng. Chàng biết đó là độc chất cùng nội lực Thanh-Mai thay nhau chống với Thiền-công, cùng Chu-sa độc chưởng. Ước khoảng ăn xong bữa cơm, trong người Thanh-Mai thêm luồng nội lực thứ ba chống lại với Thiền-công của chàng, rồi chàng cảm thấy hai bàn tay đau, rát vô cùng. Chịu không nổi chàng bật lên tiếng kêu:

– Ái chà.

Rồi dụt tay lại. Lệ-Thanh hỏi:

– Cái gì vậy?

– Lúc đầu tôi thấy có hai luồng nội lực chống trả, lát sau thành ba. Độc chất không chịu cho tôi hóa giải, mà truyền vào tay tôi..

Hai bàn tay Thiệu-Thái sưng vù. Lệ-Thanh nói:

– Thế tử mau tọa công, rồi vận khí ra chống trả.

Thiệu-Thái áp dụng tâm pháp Đỗ Lệ-Thanh dậy, chàng vận khí tự hóa giải chất độc, cảm giác đau nhức như bị thiêu đốt từ từ biến mất. Nhưng hai bàn tay chàng vẫn sưng vù.

Đỗ Lệ-Thanh nhìn tay Thiệu-Thái, lắc đầu::

– Thế tử thử vận khí phát chưởng thử xem, chưởng có ra không?

Thiệu-Thái ra sân, chàng vận khí phát một Chu-sa chưởng, nhưng chưởng không ra. Trần-Kiệt bảo:

– Thế tử vận khí vào đơn điền, rồi đưa lên thượng tiêu, phát chưởng.

Thiệu-Thái làm theo, quả nhiên chưởng phát ra cực kỳ mãnh liệt, bùng một tiếng, sân bằng đất khô cứng như vậy, mà sụt xuống thành một cái hố sâu đến một gang tay. Trong chưởng có mùi thơm ngào ngạt của năm thứ hoa. Hai bàn tay Thiệu-Thái bớt sưng liền.

Bảo-Hòa hỏi Trần Kiệt:

– Như thế nghĩa là gì?

Trần Kiệt giải thích:

– Chân khí của Thiệu-Thái do Thiền-công tạo thành. Khi y luyện Chu-sa độc chưởng, giữa độc chất với Thiền-công không hợp với nhau được. Y dùng tâm pháp của Hồng-thiết giáo vận Thiền-công, nên Thiền-công không phát ra. Tuy vậy y cũng hoá giải được độc chất trong người Thanh-Mai. Tại đơn điền Thanh-Mai có ba thứ nội tức. Một là nội tức phái Đông-a, hai là nội tức của Tiêu-sơn do Huệ-Sinh truyền dạỵ. Ba là nội tức của Đoàn Huy. Ba thứ luân phiên chống trả. Thiền-công chỉ hoá giải được nội tức Đông-a, Tiêu-sơn. Còn nội tức Đoàn Huy e vô hiệu. Vì vậy nội tức đó mới truyền chất độc vào người y.

Ông chỉ xuống hố sâu nói:

– Y áp dụng tâm pháp Hồng-thiết phát chưởng, chưởng không ra. Tôi dạy y phát chưởng Đông-a, chưởng ra, chất độc theo đó cũng thoát đi.

Bảo-Hòa mừng quá:

– Bây giờ tuy chưa tìm ra biện pháp trị tuyệt bệnh cho chị Thanh-Mai. Anh Thái tạm áp dụng biện pháp vừa rồi, hút bớt chất độc ra. Chất độc giảm, biết đâu không dần dần khỏi hẳn?

Đến đó có một thái giám phi ngựa tới. Y nhảy xuống đất kính cẩn hành lễ trước Khai Quốc Vương:

– Khải tấu vương gia, Hoàng-thượng ban chỉ thỉnh vương gia.

Khai Quốc Vương bái từ anh em Trần Kiệt. Vương vọt mình lên ngựa đi liền. Đến điện Càn-nguyên, vương xuống ngựa, vào trong. Thuận Thiên hoàng đế, cùng các thân vương, thượng thư đang ngồi chờ. Thuận Thiên hoàng đế hỏi:

– Bệnh tình Trần tiểu thư ra sao?

Khai Quốc Vương lắc đầu:

– E khó qua khỏi. Đại hiệp Trần Kiệt, Phạm Hào muốn đem về Thiên-trường để Thiên-trường ngũ kiệt dùng thần công đẩy chất độc ra.

Chỗ triều đình đông người, vương không muốn tường thuật cuộc mò mẫm chữa bệnh của Thiệu-Thái.

Thuận Thiên hoàng đế bảo Khai Quốc Vương:

– Vương nhi! Ta cho thiết triều bất thường, vì Bình-Nam vương triều Tống vừa tới kinh thành. Vậy vương nhi hãy trần thuật tất cả những biến cố vừa qua tại Cửu-chân cho triều đình nắm vững tình hình.

Khai Quốc Vương tóm lược mọi biến cố, nhưng vương dấu không thuật vụ anh em Đàm Toái-Trạng làm gian tế cho giặc, cũng như Nguyên-Hạnh là người của Khu-mật viện nhà Tống gửi sang Đại Việt trường kỳ mai phục. Vương chỉ thuật tới chỗ phái Đông-a nhận lễ, rồi từ chối đề nghị của sứ đoàn nhà Tống. Vương lờ vụ Dực Thánh Vương theo Tống.

Thuận Thiên hoàng đế nói với triều thần:

– Từ trước đến nay, phái Đông-a vẫn không trợ giúp triều đình. Từ lẽ đó, người ta phao vu phái này kình chống trẫm. Sự thực nay đã rõ trắng đen. Phái Đông-a chỉ không hợp tác với trẫm, do một vài hiểu lầm. Nhưng phái này vẫn một lòng với xã tắc, đó là điều trẫm mong muốn rồi. Dù trẫm làm vua, hay ai làm vua cũng được, miễn mọi con dân Đại Việt đều nhất tâm giữ nước cũng đủ.

Vua bà Bắc Biên hỏi:

– Như vậy trong nước Việt mình hiện có bằng này vấn đề phải đối phó. Một, bọn sứ đoàn Tống đang đi mua chuộc, đe dọa võ lâm. Hai, Lê Long-Mang với thế lực vô cùng to lớn của phái Sài-sơn, định nổi dậy bên trong. Ba, bọn Chiêm-thành phía Nam, mưu đánh chiếm vùng Nam-biên. Bốn, Lão-qua đang chuẩn bị đánh vào phía Tây. Năm, bọn họ Nùng muốn nổi dậy ở Bắc Biên. Chúng ta phải đối phó cách nào?

Vũ Đức Vương nói:

– Tất cả năm vấn đề đều đo bọn Tống gây ra. Con dun đạp lắm cái đầu cũng phải quằn. Khi Lê Hoàn mới cầm vận nước, võ lâm không thuận, triều đình thiếu người tài, mà Lê còn dám cầm gươm đánh Tống. Nay chúng ta có triều đình mạnh, nhân tài đông, lương thực dư thừa. Tốt hơn hết chúng ta trước diệt bọn sứ đoàn. Sau đó bất thần tung quân diệt Chiêm, Lào. Nội bộ, làm cỏ lực lượng Lê Long-Mang. Bấy giờ Tống kinh hoàng, không dám dòm ngó đất nước mình nữa.

Phò mã Đào Cam-Mộc xua tay, tỏ ý không thuận:

– Giết sứ đoàn, bất cứ ai cũng có thể làm. Từ tiền cổ đến nay, trong bang giao sử Việt-Hoa, chưa bao giờ xẩy ra truyện này cả. Hiện nhà Tống được cai trị bởi những Nho thần, chẻ sợi tóc làm tư. Miệng luôn nói nhân, nghĩa. Người chủ trương gây chiến e không quá hai, trong một trăm. Triều đình do đó thiếu quyết tâm Nam chinh. Nếu bây giờ ta giết chết sứ đoàn của họ. Máu tự ái nổi lên. Trăm người như một, họ có cớ dốc binh nghiêng nước đánh ta. Ta không chống nổi.

Ông ngưng một lúc, tiếp:

– Vả lại, chúng ta có hàng nghìn phương thức đối phó với Tống. Cần tìm phương thức nào đỡ tốn máu nhất vẫn hơn. Về việc Chiêm với Lào, thần nhi ở gần biên cương mấy năm qua, thần nhi biết rất rõ. Dân chúng Chiêm, Lào đều sợ người Hoa, không ưa Tống. Họ vẫn nghĩ họ là người Việt. Biên cương phân ra Việt, Lào, Chiêm chẳng qua như phân giới huyện mà thôi. Quốc vương hai nước đó đều hướng về triều đình. Bọn Triệu Thành sang, dụ dỗ, đe dọa, nhưng vô ích. Dường như chúng thay đổi kế sách, bằng cách xui quần thần giết chúa, sẽ được chúng phong chức tước. Sau đó chúng sai bọn gian thần đem quân đánh phía sau ta. Điều này Khai Quốc Vương hẳn biết rõ hơn.

Thuận Thiên hoàng đế hỏi Dực Thánh Vương:

– Hoàng đệ, sứ đoàn tới Thăng-long vào lúc nào?

Dực Thánh Vương tâu:

– Thần được hoàng-huynh ban chỉ tiếp đón sứ đoàn, nên sáng hôm qua đã ra cửa Tường-phù đón tiếp. Sứ đoàn từ Chiêm-thành về bằng đường thủy. Thần mời sứ đoàn vào ngụ ở cung Nghênh-xuân. Thần cử thái giám, thị nữ, cùng mã phu hầu hạ cực kỳ chu đáo. Thần mời chánh sứ sáng mai sẽ vào triều kiến hoàng huynh ở điện Cao-Minh. Nhưng chánh sứ Bình-nam vương nói rằng, chức tước của vương cao hơn Nam-bình vương, nên y đòi hoàng huynh phải thân ra đón.

Thuận Thiên hoàng đế gật đầu:

– Dù sao, trẫm nhận sắc phong của triều Tống, mong họ để cho nước mình yên. Triều Tống phong cho trẫm làm Nam-bình vương của quận Giao-chỉ. Chức tước này nhỏ hơn chức Phụ quốc thái úy của Triệu Thành nhiều. Lại nữa, dù chánh sứ không phải là Thành, là Vương Duy-Chính chăng nữa, khi mang sứ mệnh của vua Tống, trẫm vẫn phải thân ra đón tiếp.

Dực Thánh Vương tiếp:

– Bình-nam vương nói rằng: Hoàng huynh lạm xưng đế hiệu Thuận Thiên, quốc hiệu Đại Việt, như vậy nghịch thiên triều. Ý Bình-nam vương muốn hoàng huynh phải triệt bỏ cả hai.

Thuận Thiên hoàng đế hỏi:

– Các khanh nghĩ sao?

Phò mã Đào Cam-Mộc đứng dậy nói:

– Kể từ khi vua Đinh thống nhất sơn hà, lấy quốc hiệu Đại-cồ Việt,thành lập triều đình riêng một góc trời. Họ Lê kế tục, người Tống mượn cớ đó đem quân sang đánh. Họ Lê được sĩ dân thiên hạ cùng đứng lên giúp sức, diệt bọn Hầu Nhân-Bảo, Lưu Trừng. Do đó người Tống để cho được yên. Bây giờ họ lại kiếm cớ khác. Họ thấy bản triều được lòng dân. Họ chưa dám đánh. Họ cần làm một cái gì, để cho bản triều mất hậu thuẫn của dân chúng. Sau đó họ mới đem quân sang. Bằng nay triều đình bỏ quốc hiệu Đại Việt, chắc chắn sĩ dân thiên hạ sẽ khinh khiến, đem so sánh với họ Lê. Bấy giờ Lê Long-Mang khởi binh, lấy cớ triều đình hèn yếu. Sĩ dân Đại Việt chia hai đánh nhau. Dù bên nào thắng chăng nữa, tinh lực kiệt quệ. Bấy giờ Tống mang quân sang đánh. Ta lại bị mất nước.

Ông ngừng một lúc, tiếp:

– Cho nên, dù bọn Triệu Thành đòi hỏi triều đình bỏ quốc hiệu, niên hiệu, chúng ta nhất định không lùi. Lùi tức là mắc mưu chúng.

Khai Thiên Vương hỏi:

– Vậy chúng ta phải làm thế nào?

Khai Quốc Vương cười nhạt, tâu:

– Việc này không còn thu gọn trong họ Lý nhà ta nữa, mà của võ lâm Đại Việt. Cũng không phải của võ lâm Đại Việt mà của toàn thể người Việt. Thần nhi nghĩ chẳng còn bao lâu nữa tới rằm tháng tám, đúng ngày giỗ Bắc-bình vương Đào Kỳ. Anh hùng thiên hạ đều tụ tập về Thăng-long. Chúng ta hãy đem việc này cáo với các đại tôn sư. Các đại tôn sư sẽ đối phó với bọn Tống.

Dực Thánh Vương nhăn mặt:

– Các đại tôn sư võ lâm tụ hội về Thăng-long kỳ này lành ít, dữ nhiều cho họ Lý nhà mình. Giả như họ đồng quyết định trả ngôi vua về cho họ Lê, bấy giờ chúng ta sẽ ra sao? Khi ngôi vua về họ Lê. Lê Long-Mang, đương nhiên họ phải giết tuyệt giòng họ Lý để phòng hậu hoạn. Thần nghĩ, mình nên phục mấy đạo quân, trong lúc họ họp. Nếu họ để cho họ Lý tồn tại, ta im lặng. Nhược bằng họ muốn hại họ Lý, ta tung quân vào, bắt tất cả, đem giết đi là hơn cả.

Khai Quốc Vương lắc đầu:

– Không thể, và không nên làm như vậy. Một là các đại tôn sư bị chúng ta giết chết, nhưng đệ tử, môn phái của họ còn. Tất cả họ sẽ đứng lên làm phản, chống triều đình. Bấy giờ bọn Tống kéo sang, ta chống sao nổi? Trước hết chúng ta làm cách nào duy trì được đoàn kết dân tộc thì tốt nhất. Bằng không, trong hai cái trọng đại gồm ngôi vua họ Lý và Đại Việt, chúng ta cần phải hy sinh một. Ta hy sinh họ Lý.

Dực Thánh Vương gắt:

– Ý người muốn để hoàng thượng cùng chúng ta đưa cổ cho Lê Long-Mang chặt đầu hay sao? Người hiện cầm quyền nghiêng nước, mà người không có kế hoạch gì chu toàn đã là điều không xứng đáng. Bây giờ nguy cơ đến trong sớm tối, người buông lỏng à?

Khai Quốc Vương nghĩ thầm:

– Ông chú này âm mưu đi đêm với bọn Tống, mưu chiếm ngai vàng. Ông ta biết rằng khi ông ta ló đầu tạo phản, võ lâm không tha thứ cho ông. Vì vậy ông muốn diệt võ lâm trước, rồi khi ông tạo phản thì không sợ gì nữa. Ta sợ khi ông lên ngôi vua rồi, ắt bỏ quốc hiệu, niên hiệu, thần phục bọn Tống. Không chừng khi Tống mang quân đến biên giới, ông ta đã đầu hàng rồi cũng nên.

Vương đưa mắt cho Thuận Thiên hoàng đế, rồi nói với Dực Thánh Vương:

– Thúc phụ đừng lo, thần nhi khắc có biện pháp đối phó.

Dực Thánh Vương hỏi dồn:

– Biện pháp gì? Biện pháp tự tử ư?

– Thúc phụ! Thúc phụ hãy để yên cho thần nhi giải quyết. Ở đây tai vách, mạch rừng. Kế hoạch không thể đem bàn được. Biết đâu không có gian tế Tống trong triều? Ngay trong nhà ta nào chắc không có bọn gian tế Tống?

Dực Thánh Vương nghe nói chột dạ, đành im lặng.

Thuận Thiên hoàng đế đứng dậy:

– Bãi triều. Ai về phủ ấy. Tất cả phải đề phòng. Vì sứ đoàn sang chuyến này toàn cao đại cao thủ võ lâm. Riêng Khai Quốc Vương hộ giá trẫm thăm bệnh tình Trần cô nương. Trẫm quyết định nều cần hy sinh họ Lý, chúng ta hy sinh, để Đại Việt còn.

Ngài lên xe, Khai Quốc Vương cỡi ngựa theo hầu bên cạnh, hướng về phủ đệ. Vương tâu:

– Tâu phụ hoàng, tại phủ đệ của thần nhi, hiện có hai vị khách, thần nhi e phụ hoàng trông thấy ắt nổi lôi đình.

– Ai thế?

– Tâu phụ hoàng đó là hai trong Thiên-trường ngũ kiệt.

Thuận Thiên hoàng đế mỉm cười:

– Con quên mất ta xuất thân đệ tử của bồ tát Vạn-Hạnh ư? Cái gì hôm nay có, ngày mai thành không. Lẽ vô thường trong đạo Phật con quên sao? Một năm trước đây, khi thần nhi chưa về nhiếp chính, ta bị các quan coi Khu-mật viện tâu hằng ngày về phái Đông-a. Nào là phản nghịch, nào kiêu căng, nào chống đối quan địa phương. Vì vậy cho nên ta mới không ưa phái Đông-a. Nay chỉ nguyên thấy tư thái Thanh-Mai, ta cũng hiểu được phần nào nội bộ phái này rồi.

Ngài ngừng một lúc, tiếp:

– Ta sẽ dùng lễ võ lâm tiếp hai vị ấy.

Xe sắp đến cổng phủ, viên võ quan theo hầu hô lớn:

– Đệ tử phái Tiêu-sơn tên Lý Công-Uẩn, xin được tiếp kiến nhị vị đại hiệp phái Đông-a.

Hai anh em Phạm Hào, Trần Kiệt từ trong chạy ra, hành lễ theo qui cách võ lâm, hai tay chắp vào nhau:

– Phạm Hào, Trần Kiệt xin tham kiến Lý đại hiệp phái Tiêu-sơn.

Thuận Thiên hoàng đế xuống xe, nắm tay Trần Kiệt:

– Hà, không ngờ hôm nay tại hạ được diện kiến cái túi khôn của Đại Việt. Trần ngũ gia, thế nào bệnh tình cháu Thanh-Mai ra sao?

Trần Kiệt lắc đầu:

– E khó qua khỏi. Tuy nhiên bệnh tình có chiều thuyên giảm. Thiệu-Thái hút chất độc trong người cháu Mai ra, cũng có kết quả.

Khai Quốc Vương thỉnh Thuận Thiên hòang đế ngồi vào chủ vị tiếp khách. Còn vương ngồi dưới Phạm Hào, Trần Kiệt.

Thuận Thiên hoàng đế nói:

– Trước khi cháu Thanh-Mai bị nạn, cứ như lời cháu nói với Đoàn Huy, cháu có thể trị được bệnh cho y. Cháu là đệ tử của Hồng-Sơn đại phu, mà cháu biết trị, đại phu hẳn trị bệnh cho cháu được. Hai vị khẩn đưa cháu tới Vạn-thảo sơn trang cầu với đại phu, hy vọng cháu thoát nạn.

Phạm Hào gật đầu:

– Thế thì không đáng lo ngại. Chỉ còn mấy hôm nữa, đến ngày giỗ Bắc-bình vương Đào Kỳ, Hồng-Sơn đại phu ắt về Thăng-long. Bấy giờ chúng ta cầu người ra tay. Vả Hồng-Sơn đại phu tính tình có chỗ kỳ cục, nhưng người thương yêu đệ tử như thương yêu con trong nhà. Thanh-Mai có hy vọng sống.

Trần Kiệt nhìn sắc diện Thuận Thiên hoàng đế, ông hỏi:

– Lý đại hiệp, tại hạ hỏi một câu hơi đường đột. Đại hiệp hiện làm vua, ngồi trên ngai vàng ban phúc, giáng họa cho trăm họ. Tại sao Lý huynh lại tỏ vẻ đăm chiêu lo lắng thế kia?

Thuận Thiên hoàng đế mỉm cười:

– Trần ngũ hiệp tưởng tại hạ cũng giống như vua Lê ngọa triều hẳn? Tại hạ sinh vào gia đình nghèo khó, được nghĩa phụ nuôi dưỡng trong chùa Tiêu-sơn, lại được ân sư truyền nghiệp. Khi vua Lê Ngọa-triều băng, sư phụ truyền cho tại hạ giữ lấy quyền quốc thể, đem đạo lý đức Thế-tôn cai trị đất nước, sao cho dân chúng được ấm no. Từ ngày ấy đến giờ, đêm quên ngủ, ngày quên ăn, tại hạ đem lại cho dân chúng một đời sống thanh nhàn. Tuy vậy, tại hạ cũng không giám quên lề lối võ lâm.

Lý Long tiếp lời phụ hoàng:

– Tâu phụ hoàng, hôm trước Trần ngũ gia đã ghé thăm thần nhi, ban cho nhiều lời dạy dỗ thực quí báu hơn vàng.

Rồi vương thuật lại buổi hội ngộ đầu tiên giữa vương với anh em Trần Kiệt, hôm họ tới Thăng-long. Thuận Thiên hoàng đế chỉ Lý Long:

– Đây, đứa con thứ nhì của tại hạ. Trong chuyến đi Cửu-chân, nó đã kết huynh muội với Thanh-Mai, Tự-Mai. Mong hai vị coi nó như Thanh-Mai, mà dạy dỗ cho những điều hay.

Phạm Hào vốn ít nói, bây giờ ông mới lên tiếng:

– Phàm đã là anh hùng, phải lấy lòng đãi nhau. Có gì khó khăn, thố lộ cho nhau cùng nghe. Cách đây ít lâu, sứ đoàn nhà Tống đến Thiên-trường găp anh em tại hạ. Họ đưa ý kiến rằng vua Tống định cử binh sang hỏi tội họ Lý về việc cướp ngôi nhà Lê. Nhưng Bình-Nam vương Triệu Thành can gián không nên động binh. Y xin đi sứ, tìm con cháu nhà Lê, rồi bắt Lý huynh thoái vị, trả lại ngôi cho con cháu di thần. Triều Tống muốn tỏ ra họ Thiên-tử, muốn hưng diệt, kế tuyệt. Họ tìm được Hồng-Sơn đại phu, chính là Lê Long-Mang, con của Lê Hòan. Họ yêu cầu anh em tại hạ, trước đây thuộc chỗ cố tri Long-Mang. Rồi sư phụ tại hạ với Lê Hoàn có tình giao hảo… anh em tại hạ đứng lên giúp Long-Mang đòi lại ngôi vua. Đại sư huynh chúng tôi cho người điều tra, quả đúng Hồng-sơn đại phu tức Lê Long mang. Người phát thư mời Đại Việt ngũ long, cùng các đại tôn sư võ phái về Thăng-long họp, nhân ngày giỗ Bắc-bình vương để bàn việc này.

Thuận Thiên hoàng đế thản nhiên mỉm cười:

– Ý Triệu Thành muốn nói rằng: Nếu Đại Việt ngũ long ép tại hạ thoái vị. Tống để Đại Việt yên. Còn như tại hạ tại vị, Tống mang quân sang đánh. Có phải thế không?

Trần Kiệt gật đầu:

– Đúng. Hôm trước Triệu Thành tới tệ trang trình bầy như vậy. Y yêu cầu phải Đông-a đứng ra chủ trì công đạo vụ này. Đại huynh tôi chưa quyết định gì cả. Người đích thân đi Vạn-thảo sơn trang điều tra xem có đúng Hồng-Sơn đại phu là Lê Long-Mang không? Người sai anh em tôi đi Tản-viên hỏi ý kiến chưởng môn Đặng Đại-Khê. Sau đó mới có quyết định.

Khai Quốc Vương hỏi:

– Thế Đặng chưởng môn quyết định sao?

– Đặng im lặng. Đặng bảo sau khi hội ý với các vị tôn trưởng trong phái, rồi sẽ phát biểu ý kiến vào ngày giỗ Bắc-bình vương.

Phạm Hào tiếp:

– Trong khi chúng tôi ở Tản-viên, bọn Triệu Thành dùng lễ vật tới thăm. Song tôi không rõ sứ đoàn đã nói gì, và phái Tản-viên phản ứng ra sao.

Có tiếng nói đâu đó vọng lại:

– Phái Tản-viên nhận lễ, hứa sẽ trả lời sau một tháng.

Khai Quốc Vương đứng dậy:

– Nùng đạo trưởng.

Vương ra ngoài, đã thấy Nùng-sơn tử cùng với sư phụ Huệ-Sinh vào trong phủ. Hai bên hành lễ với nhau. Huệ-Sinh nhìn Thuận Thiên hoàng đế, rồi cười:

– Sư đệ, có truyện chi mà sắc mặt đăm chiêu thế kia? Sư đệ quên mất rằng sư phụ từng dậy Chúng ta sinh ra vốn trần truồng. Dù thế nào chăng nữa, ta chết trần truồng là cùng chứ gì?.

Thuận Thiên hoàng đế chắp tay:

– Đạo hạnh tiểu đệ thua nhị sư huynh xa. Đa tạ sư huynh nhắc nhở.

Nùng-Sơn tử hỏi Trần Kiệt:

– Hai vị đã gặp đại sư huynh của chúng tôi rồi phải không? Đại sư huynh chúng tôi có cái tật, bất cứ truyện gì cũng thủng thẳng giải quyết. Cho nên việc quí vị thỉnh ý kiến, người không trả lời ngay. Bọn Tống đem lễ vật tới, người cũng tiếp theo lễ võ lâm, rồi hứa lơ mơ. Mãi hôm qua người mới họp chúng tôi, bàn về việc Tống muốn Lý trả ngôi vua cho Lê. Chúng tôi đã quyết định xong. Ngày rằm này, sư huynh tôi sẽ phát biểu ý kiến. Sở dĩ tại hạ chưa thể công bố quyết định, vì trong bản phái đang có nhiều tranh chấp.

Trần Kiệt ngạc nhiên :

– Quý phái cũng có tranh chấp sao? Không lẽ lại Đỗ Xích-Thập?

Nùng-Sơn tử than:

– Đúng thế.

Trước đây Bảo-Hòa được Đặng Đại-Khê sủng ái cùng cực. Ông dạy cho nàng mười hai chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Nay nàng nghe ông đang có sự, thì quên cả địa vị nhỏ bé của mình trước ông ngoại, cậu hai. Nàng hỏi Nùng-Sơn tử:

– Nùng đạo trưởng. Sư bá Đại-Khê của cháu có truyện không vui sao? Đỗ Xích-Thập là ai vậy?

Nùng-Sơn tử thở dài:

– Truyện này xẩy ra cách đây hơn ba mươi năm. Hồi ấy, sư phụ bần đạo lâm trọng bệnh, nghĩ khó qua khỏi. Người phân vân không biết chỉ định ai thay thế.

Bảo-Hòa lắc đầu:

– Khi sư phụ qua đời, đương nhiên đại đệ tử thay thế mới đúng đạo lý.

– Lẽ thông thường thì vậy. Nhưng bấy giờ đại sư huynh bần đạo tuổi mới hai mươi lăm, võ công không đủ lãnh đạo môn phái. Sư phụ bần đạo triệu tập các vị trưởng thượng, cùng để tử. Yêu cầu mọi người bầu người kế tục. Ai cũng tưởng sư thúc bần đạo tên Đỗ Xích-Thập võ công cao cường, đạo đức nức tiếng sẽ được trúng cử. Nào ngờ, vào giữa lúc sắp khai diễn cuộc bầu, thì người bị bệnh.

Bảo-Hòa ngạc nhiên:

– Bị bệnh thì bị bệnh, cũng vẫn làm chưởng môn được chứ?

– Quận chúa không biết đấy thôi. Người bị lên cơn vì… Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng. Trong bản phái phanh ra vụ người âm thầm nhập Hồng-thiết giáo. Hơn nữa người giữ chức trưởng lão trong hội đồng giáo vụ Trung-ương. Lập tức người bị đuổi ra khỏi bản phái. Sư huynh bần đạo được cử làm chưởng môn.

Mỹ-Linh tỏ vẻ hiểu biết:

– Bây giờ sắp đến ngày giỗ Bắc-bình vương Đào Kỳ. Trong ngày giỗ, các đại tôn sư sẽ quyết định về việc ủng Lê, ủng Lý. Đỗ tiền bối xuất hiện đòi làm tôn sư. Có phải thế không?

– Đúng vậy. Cho nên đại sư huynh bần đạo chưa dám công bố quyết định vì lý do ấy. Trong ngày giỗ, thế nào Đỗ sư thúc cũng xuất hiện, gây rối chứ người không chịu để yên đâu.

Huệ-Sinh chỉ vào phòng Thanh-Mai:

– Bần tăng nghe Thanh-Mai bị trúng độc, vội trở về xem có làm gì được không?

Ông vào phòng, cầm mạch Thanh-Mai, rồi hỏi Tự-Mai:

– Trước đây sư thái Tịnh-Huyền đã dạy cho Thanh-Mai với cháu những kinh gì?

Tự-Mai kính cẩn:

– Sư phụ giảng cho chúng cháu bộ kinh Lăng-già, Kim-cương, Tượng-đầu tinh xá, và Bát-nhã.

Mỹ-Linh thấy sư phụ trở về, lòng nàng đang nặng trĩu lo bệnh tình Thanh-Mai, tự nhiên nhẹ hẳn đi. Nàng trình bầy tất cả mọi biến chuyển từ khi Thanh-Mai trị bệnh cho Đoàn Huy, y luận của Đỗ Lệ-Thanh, Trần Kiệt, cho đến việc Thiệu-Thái hút chất độc.

Huệ-Sinh không nói gì. Ông mở bọc, lấy ra cuốn trục bằng lụa, đem treo lên tường. Đó là bức hình vẽ Phật Thích-Ca ngồi dưới gốc bồ đề. ông bảo Thiệu-Thái:

– Thí chủ hãy ngồi Kiết-già, quay mặt vào bức tranh này. Hai tay nắm lấy tay Thanh-Mai. Ngón tay chỏ để vào huyệt Nội-quan nàng. Nếu thấy có triệu chứng gì lạ như đau, nóng cũng đừng buông ra.

Thiệu-Thái vâng lời, làm theo. Huệ-Sinh nói với mọi người:

– Sư thúc Sùng-Phạm chỉ tìm người có đức để ban một trăm năm công lực. Vì vậy người truyền cho Thiệu-Thái. Thiệu-Thái chưa qui y, cũng chưa tập Thiền. Về kinh điển có lẽ chỉ biết câu Nam-mô A-di-đà Phật. Thành ra y giống như đứa trẻ có một kho tàng, mà không biết xử dụng. Bây giờ bần tăng thử dạy y cách vận Thiền-công, may ra y có thể cứu được Thanh-Mai.

Luật lệ võ lâm hồi đó, khi sư phụ, hoặc người trưởng thượng dạy võ công cho đệ tử, nếu người ngòai tò mò vào, coi như là một hành vi không tha thứ. Vì vậy mọi người rời khỏi phòng Thanh-Mai.

Huệ-Sinh bảo Mỹ-Linh:

– Con ngồi canh ngoài cửa phòng, bất cứ trường hợp nào cũng không được cho ai vào, bằng không tính mệnh Thiệu-Thái, Thanh-Mai với sư phụ e khó toàn.

Ông đóng cửa lại, nói với Thiệu-Thái:

– Bần tăng dạy thí chủ cách vận Thiền-công. Thiền-công nhà Phật đặt trên căn bản kinh Kim-cương, Lăng-già và Bát-nhã. Ba kinh tuy khác nhau, nhưng cùng thu về một mối là đi đến chỗ nhập đạo tức Vô thượng chính đẳng chính giác. Trong ba kinh, bần tăng giảng cho thí chủ kinh Bát-nhã trước.

Thiệu-Thái đã nghe Mỹ-Linh đọc kinh Bát-nhã nhiều lần, riết rồi thuộc làu. Chàng nói:

– Bạch đại sư, suốt mấy tháng nay, sáng, chiều đệ tử đều nghe Mỹ-Linh đọc kinh. Sau khi dứt kinh, đọc một lần kinh Bát-nhã. Vì vậy đệ tử thuộc lòng.

– Thế thí chủ có hiểu ý nghĩa kinh này ra sao không?

– Đệ tử không hiểu, chỉ đọc như con vẹt học nói mà thôi.

– Bát-nhã không phải tiếng Hán-Việt, mà do tiếng Phạn phiên âm ra. Bát nhã là cái tâm trí thoát ra ngòai cái tham, sân, si, dứt các mối lầm, tự mình thông đạt, soi sáng.

Thiệu-Thái có trong người Thiền-công của bồ-tát Sùng-Phạm, vì vậy chàng nghe Huệ-Sinh nói, hiểu liền. Huệ-Sinh tiếp:

– Ba-la-mật có nghĩa vượt qua bờ bên kia, tới Niết-bàn, và giúp đưa người ta cùng tới. Ấy là nền tảng đại đức, đại hạnh, cao nhất của trí tuệ, quyết tới bờ giác, tức thành Phật và độ người đắc quả như mình. Có sáu đại đức, đại hạnh, gọi mang tên Lục-độ.

Trí nhớ của Thiệu-Thái trở lại với hôm ở trong Hồng-hương cốc, bồ tát Sùng-Phạm bảo chàng phải dùng Thiền-công của ngài để đi vào Lục-độ, đó là: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tiến, Thiền-định, Trí huệ. Chàng chỉ hiểu lờ mờ. Hôm nay Huệ-Sinh giảng, chàng mới thực sự hiểu rõ, nó nằm trong yếu chỉ Bát-nhã Ba-la-mật-đa.

Huệ-Sinh tiếp:

– Kinh Bát-nhã Ba-la mật-đa tâm kinh giảng về đại hạnh Bát-nhã. Cho nên phàm sau khi tụng xong bộ kinh, cần tụng một lần kinh Bát-nhã, coi như thoát ra vòng khổ hải. Con thử đọc kinh Bát-nhã lên cho ta nghe xem nào.

Thiệu-Thái đọc:

Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến Ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

– Mấy câu này nghĩa là gì?

– Hôm trước Mỹ-Linh giảng: Ngài Bồ-tát Quán-tự-tại, khi tu hành pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa đã tinh thâm, soi kính thấy năm uẩn đều không, độ thoát tất cả sự khổ ách. Nhưng đệ tử không biết Ngũ uẩn là gì. Tại sao khi năm uẩn đều không, mà giải thoát được hết khổ ách?

– Đúng thế. Ngũ-uẩn gồm năm thứ, tích tụ, hoà hợp thành thân và tâm con người. Ngũ-uẩn nó che mất chân lý, khiến chúng sinh cứ đi vào luân hồi, không thoát ra được.

Trong khi Thiệu-Thái trả lời Huệ-Sinh, chàng cảm thấy nội tực Thanh-Mai với nội lực chàng tranh đấu không ngừng. Độc chất từ người nàng tràn sang người Thiệu-Thái, chàng dùng tâm pháp của Đỗ Lệ-Thanh hoá giải đi.

Chàng tỉnh ngộ:

– Ngũ uẩn tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức như đoạn dưới của kinh nói. Trong thế gian có bao nhiêu người ắt có bấy nhiêu Ngũ-uẩn, không cái nào giống cái nào cả. Như đệ tử, bị chính cái Ngũ-uẩn của mình giam mình.

– Đúng thế. Con giác ngộ mau thực. Sắc là vật có hình. Nếu bỏ được hình, sắc, có phải thoát ra được cái ngục tù thứ nhất rồi không?

Thiệu-Thái buông lỏng, nhắm mắt lại, như quên mọi vật xung quanh. Tự nhiên chàng cảm thấy người như đi trên mây, như trong giấc mơ. Chàng nghe tiếng Huệ-Sinh giảng:

– Còn thọ. Thọ là khi cái thân mình đối cảnh, thấy vui, sướng, buồn khổ. Đấy cái ách thứ hai buộc mình như thế đấy.

Cái ách thứ ba tên tưởng. Khi đối cảnh, nhận ra sự đen, trắng, nhỏ, to, dài, ngắn. Đấy hình cái ách thứ ba trói buộc mình.

Ách thứ tư tên hành. Khi đối cảnh, đem lòng ham muốn, buồn vui, giận hờn.

Cuối cùng là thức. Đối cảnh hiểu biết, phân biệt mọi sự… Người tu Thiền phải bỏ ra ngoài năm thứ đó.

Thiệu-Thái chợt nhớ lại:

– Thanh-Mai thấy Đoàn Huy, nàng muốn trị bệnh cho y, chinh phục y, hầu đưa đến Đại Việt, Đại-lý cùng khởi binh đánh Tống đòi lại đất tổ. Rõ ràng đủ cả Ngũ-uẩn. Nếu như bỏ ra Ngũ-uẩn, con người lên tiên rồi còn gì nữa?

Chàng buông lỏng ý nghĩ, người như chết đi trong chốc lát. Chợt chàng thấy hai tay rung động thực mạnh, rồi nội lực Thanh-Mai như tuôn vào người chàng. Phản ứng tự động chàng hóa giải nội lực đó đi. Nhưng ngón tay chàng đau đớn không thể tưởng tượng được. Nhớ lời Huệ-Sinh, chàng chịu đau, không dụt tay lại. Chàng áp dụng kinh Bát-nhã Ba-la-mật, bỏ ra ngòai cái đau đớn, khiến người chàng như nhập vào giấc ngủ thực sâu. Trong mơ mơ màng màng, chàng nghe có tiếng người nói bên tai.

Cứ như vậy, không biết bao nhiêu lâu, chàng thấy đau nhói ở môi trên và đầu ngón tay trỏ. Chàng giật mình thức dậy,thấy người cầm kim đâm mình là một trung niên nam tử khoảng năm mươi, khuôn mặt cực kỳ uy vũ. Trung niên này mỉm cười, hàm răng trắng đều như hạt bắp. Khi ông cười hai con mắt có đuôi, trông thực dịu dàng. Ông nói:

– Tỉnh rồi. Con lợn tỉnh rồi.

Chàng mở mắt nhìn xung quanh, thấy mình đang nằm trên một cái giường tre. Giường đặt giữa, căn phòng bằng gỗ. Cửa sổ bằng phên tre đan. Trong phòng không có gì, ngoài cái bàn cũng bằng tre. Chàng biết trung niên nam tử dùng châm cứu trị bệnh cho mình. Trong đầu óc, chàng nhớ rằng đại sư Huệ-Sinh bảo chàng nắm lấy tay Thanh-Mai, rồi giảng kinh Bát-nhã cho . Sau đó chàng nhập tĩnh, rồi không biết gì nữa.

Thấy Mỹ-Linh đứng cạnh nước mắt đầm đìa, chàng hỏi:

– Mỹ-Linh. Tại sao lại khóc?

Mỹ-Linh gạt nước mắt:

– Anh mê man từ hôm qua đến giờ.

Thiệu-Thái vốn người chân thật, trung hậu, không biết khách sáo. Chàng chỉ trung niên nam tử:

– Có phải vị này đã cứu anh không?

Mỹ-Linh gật đầu:

– Vị này là người mà em thường nhắc nhở. Anh vẫn ước mong được gặp đó. Nay anh đã toại nguyện. Không những anh được gặp, mà còn được người cứu trị cho thoát chết.

– Là Hồng-sơn đại phu chăng?

Mỹ-Linh trả lời bằng cái gật đầu. Thiệu-Thái ngồi dậy, chỉnh đốn y phục, chàng chắp tay hướng Hồng-Sơn đại phu:

– Đệ tử Thân Thiệu-Thái kính cẩn ra mắt đại phu. Đa tạ đại phu cứu mạng.

Hồng-Sơn đại phu cười ha hả:

– Miễn lễ. Này, con lợn này, ta cứu người với điều kiện thì người khỏi tạ ơn ta.

Thiệu-Thái nhìn xung quanh. Chàng ngạc nhiên vô cùng. Vì lúc đại sư Huệ-Sinh dạy Thiền-công cho chàng, chàng đang ở phủ Khai Quốc Vương. Còn đây là đâu? Chàng chưa từng thấy qua.

Một thiếu niên tuổi khoảng mười bốn, mười lăm bước vào hỏi Mỹ-Linh:

– Thế nào? Ông ỉn của chị tỉnh rồi hả. Để em bảo chúng mang cái gì vào cho ông ăn.

Nói rồi nó cầm tay Thiệu-Thái bắt mạch:

– Mạch hết hồng đại rồi. Bây giờ trì mà hoãn. Thốn vị nhảy mạnh, nhưng có tiếng đập cao, tiếng đập thấp. Thốn vị ứng với thượng tiêu, bao gồm tâm, phế. Tâm tàng thần, khi thần bất định thì các nhịp đập ở thốn vị không đều. Ông ỉn ơi, nghe nói dường như ông ỉn lọt mắt xanh chị Mỹ-Linh của tôi, hẳn là người quân tử đạo cao lắm. Hà cớ ông ỉn lại giận người.

Từ hôm gặp Bố-đại hòa thượng, ngài gọi chàng là con lợn, rồi từ đó cái tên lợn lan tràn khắp nơi. Hồng-Sơn đại phu gọi chàng là lợn, dĩ nhiên chàng không dám nói gì. Còn thiếu niên vừa rồi, dường như thân quen với Mỹ-Linh, cũng gọi chàng bằng tiếng ỉn, chàng hơi bực mình. Không ngờ thiếu niên này bắt mạch mà biết cả trong nội tâm chàng.

Thiếu niên tiếp:

– Bộ vị quan của ông ỉn yếu quá, hẳn ông ỉn đói rồi đây. Ông ỉn vừa qua hơn ngày mê man, giờ mới tỉnh, cho ông ỉn ăn một món đặc biệt, do mỗ làm, chứ không do đầu bếp. Nhưng mỗ giao hẹn trước. Khi mỗ sửa soạn, hễ ông ỉn nuốt nước bọt, phải công nhận cái tên ông ỉn hoặc lợn ỉn. Còn ngược lại ông ỉn không nuốt nước miếng mỗ tình nguyện lĩnh tên ông ỉn thay thế cho.

Mỹ-Linh nghe thiếu niên nói, nàng bật cười, khẽ cốc lên đầu nó:

– Lém vừa thôi!

Thiếu niên chạy ra ngoài. Thiệu-Thái hỏi:

– Mỹ-Linh, đây thuộc địa phương nào? Cái gì đã xẩy ra? Thiếu niên vừa rồi là ai vậy?

Mỹ-Linh ngồi xuống cạnh chàng:

– Đây thuộc Cổ Loa. Chúng ta đang ở trong y viện Yên-lãng. Hôm trước sư phụ dạy anh vận Thiền-công để hút chất độc cho chị Thanh-Mai. Anh nhập tĩnh sâu quá, Thiền-công phát ra mạnh vô cùng. Đáng lẽ anh sẽ hút được chất độc trong người chị ấy ra. Nhưng trước khi nhập tĩnh, anh quán tưởng hút chất độc. Vì vậy chất độc trong người chị Thanh-Mai tràn vào người anh. Thiền-công trong người anh hoá giải hết nọc độc Thất-trùng. Còn Ngũ-hoa hương lại không hút được. Thế là anh với chị Thanh-Mai cùng mê man. Giữa lúc đó phu nhân Hồng-Sơn phu nhân tới. Người đem chị Thanh-Mai với anh tới đây cho đại phu trị bệnh cho.

Thiệu-Thái hỏi:

– Vừa rồi Hồng-Sơn đại phu bảo rằng anh không nên đạ tạ người. Vì người trị bệnh có điều kiện. Vậy điều kiện đó là điều kiện gì?

Mỹ-Linh nói:

– Từ trước đến giờ Hồng-Sơn đại phu trị bệnh cho thiên hạ có đến hàng triệu người. Ai xin tiên sinh cũng trị cho hết, không nhận tiền tạ. Nhưng có ba loại người ngoại lệ, muốn tiên sinh trị cho, phải chịu một điều kiện nào đó. Một, bệnh nhân phải mắc chứng nan y, không lương y nào trị được. Hai, tiên sinh không trị cho bệnh nhân gốc Tầu. Ba, bệnh nhân thuộc con cháu, hoặc quan chức của họ Lý.

Rồi nàng thuật lại những gì xảy ra khi nàng với Thanh-Mai, Bảo-Hòa tới Vạn-thảo sơn trang xin trị bệnh cho Thiệu-Thái nghe. Thiệu-Thái lắc đầu:

– Như vậy đại phu cố chấp quá. Mạ mạ nói dị nhân thường kỳ quặc quả không sai.

– Còn thiếu niên vừa rồi là con trai của Hồng-sơn đại phu, tên Lê Văn. Hồi bọn em tới Vạn-thảo sơn trang, có kết bạn với chú ấy, nên chú ấy gọi em bằng chị. Tâm địa chú ấy thực lương thuần, dễ thương kỳ lạ.

Rồi nàng kể việc Lê Văn ăn cắp thuốc của bố cứu chị em nàng. Khi đấu võ với nàng, nó vờ thua, thuật lại một lựơt.

Nghe Mỹ-Linh kể, tự nhiên Thiệu-Thái thấy yêu Lê Văn vô cùng.

Có tiếng Lê Văn nói vọng vào:

– Ôi, bà chị xinh đẹp đang kể xấu người ta đấy à.

Nó mang vào một mâm thức ăn, bầy ra bàn. Nó nói:

– Chị Mỹ-Linh, hôm nay em đãi chị ăn toàn cá, tôm, không có thịt lợn. Không lẽ em đãi ông ỉn, lại bắt ông ăn thịt bà ỉn sề?

Trên bàn có bốn món ăn: Cá kho, cá rán, cá nấu ám, và ốc nhồi luộc. Mỹ-Linh xới cơm ra bát. Nàng bảo Thiệu-Thái:

– Anh ngồi dậy ăn chứ!

Thiệu-Thái ngồi dậy, chàng cầm bát đũa định ăn, Lê Văn chụp lấy tay chàng:

– Khoan, ông ỉn uống thuốc đã.

Nó đặt bát thuốc nóng, khói lên nghi ngút trước mặt Thiệu-Thái:

– Ông ỉn uống đi.

Thiệu-Thái nghe Mỹ-Linh nói về Lê Văn, chàng hết buồn tiếng ông ỉn của nó, mà cảm thấy vui vui. Chàng uống hết bát thuốc, cầm đũa định gắp cá kho ăn trước. Lê Văn dùng đôi đũa của nó, cặp cứng đôi đũa của chàng:

– Khoan, khoan, ông ỉn có món ăn đặc biệt, ngon lắm, chờ tý nữa mẹ mỗ nấu cho. Còn bốn món này của chị em mỗ.

Thiệu-Thái đói muốn lè lưỡi ra, mà chàng phải ngồi nhìn Mỹ-Linh, Lê Văn ăn. Hai người vừa ăn, vừa nói truyện, dường như không biết đến con tỳ, con vị trong người chàng nó đang nhai, đang cắn ruột gan chàng. Chàng nuốt nước bọt ừng ực, mà hai người như không biết đến.

Hai người ăn xong bữa cơm, một thiếu phụ tuổi khoảng hai mươi, trang phục rất giản dị đến. Thiếu phụ quấn mớ tóc mây bằng một sợi lụa đỏ. Nàng mặc chiếc áo cánh lụa trắng, quần lụa đen. Bà không đeo nữ trang.

Trước kia khi chưa rời Bắc Biên, Thiệu-Thái tưởng trên đời chỉ có em gái mình là Bảo-Hoà xinh đẹp nhất. Sau chàng thấy sắc đẹp dịu dàng của Mỹ-Linh, sắc đẹp tươi hồng của Thanh-Mai. Bây giờ chàng lại thấy sắc đẹp huyền ảo, khi có khi không, như người trong mơ của thiếu phụ.

Mỹ-Linh thấy thiếu phụ, vội vàng đứng dậy:

– Tiểu nữ tham kiến phu nhân.

Thiệu-Thái giật mình, nghĩ thầm:

– Thì ra thiếu phụ đẹp này là phu nhân Hồng-sơn đại phu đây. Hôm trước đứng hầu ông bà ngoại. Hai ngài cật vấn cậu hai về hai lần tuyển đệ nhất giai nhân cho cậu hai, mà cậu hai đều cho qui gia. Người thứ nhất thuộc đại tri kỷ của cậu tên Lâm Huệ-Phương. Cậu gặp Huệ-Phương, yêu ngay. Nhưng giữa lúc tình ý mặn nồng, cậu nghe Huệ-Phương có người tình, lập tức cậu tặng ngọc, ngà, vàng bạc cho nàng đi tìm ý trung nhân. Ý trung nhân của Huệ-Phương chính thị nhân vật lẫy lừng Hồng-Sơn đại phu. Huệ-Phương hẳn bà này đây.

Chàng nhìn Huệ-Phương một lần nữa, trong lòng nảy sinh sự khâm phục Khai Quốc Vương:

– Ông bà ngoại mình quả thực có con mắt tinh đời, tuyển người đẹp thế này cho cậu hai. Hồi ở Bắc Biên, mình nghe mẹ kể, cậu hai thuộc loại người trung hậu, tính tình khoáng đạt, lại có cái đức từ bi của nhà Phật. Nay mình mới thấy sự thực. Với một giai nhân thế kia, cậu hai gặp, say mê liền. Thế nhưng cậu biết ngừng lại, để cho nàng được toại nguyện với người yêu.

Thiếu phụ quàng tay qua cổ Mỹ-Linh, cử chị nhẹ nhàng, êm dịu như mẹ với con:

– Thế nào, công chúa. Thế tử tỉnh rồi à. Công chúa bằng lòng chưa?

Hai người đứng bên nhau, gió thổi y phục bay nhè nhàng, như hai cây ngọc trước gió. Thiệu-Thái nảy ra ý so sánh Mỹ-Linh với Huệ-Phương. Đẹp thì ca hai cùng đẹp. Nhưng ở Huệ-Phương tàng chứa tất cả cái sắc sảo, tươi hồng như đoá hoa hải đường. Còn Mỹ-Linh lại dịu dàng, ôn nhu như vẻ đẹp của tượng Quán-Thế-Âm.

Lê Văn nắm tay thiếu phụ:

– Mẹ đến trễ tý nữa, con e con tỳ con vị sẽ cắn đứt ruột ông ỉn ra, thực tai vạ.

Thiệu-Thái biết chắc đây là phu nhân Hồng-Sơn đại phu. Chàng kính cẩn hành lễ:

– Tiểu bối xin tham kiến phu nhân.

Hồng-Sơn phu nhân mỉm cười:

– Thế tử chẳng nên đa lễ. Tôi đến để làm món ăn cho thế tử đây. Độc chất trong người thế tử đã trục ra hết. Duy trong tỳ, còn chút, không cách gì lấy ra được. Vì vậy tỳ hoạt động khó khăn. Trong phép trị, cần làm cho tỳ vị vận hoá thực mạnh, mới mong trục nổi. Cho nên tôi bầy ra bữa ăn của Mỹ-Linh, Lê-Văn, để thế tử ngồi nhìn, tỳ vị bị kích thích tối đa.

Bây giờ Thiệu-Thái mới hiểu tại sao Mỹ-Linh, Lê Văn cố tình ngồi ăn, không nói truyện với chàng, thì ra tất cả nằm trong trị liệu. Chàng tự biết, thân thế Hồng-Sơn phu nhân cao quí biết bao. Dù là một thế tử, một công chúa, khó lòng Huệ-Phương thân làm món ăn cho như vậy. Đây chẳng qua những liên hệ với cậu hai mà chàng được hưởng. Bà vì tình cậu hai mà cưng chiều chàng.

Hồng-Sơn phu nhân mở cái đĩa đậy kín trước mặt Lê Văn ra. Bà chỉ cho Mỹ-Linh:

– Trong này có tất cả tám thứ, ta làm món ăn, tên Bát trân, ngũ vị Bát trân, ngũ vị là gì? Bát trân là tám thức. Một là gan lợn, hai là cá chép, ba là chim sẻ, bốn là thịt gà, năm là cua biển, sáu là mực, bẩy là tôm, tám là lươn. Nếu không có thịt chim sẻ, có thể thay bằng thịt bồ câu hay bất cứ chim gì cũng được. Không có lươn, thay bằng ếch, bằng sò, bằng don, bằng hào.

Bà mở cái hộp gỗ ra. Trong hộp có năm ngăn. Bà chỉ vào hộp:

– Đây, năm thứ gia vị, gọi tức ngũ hương. Trong tám thứ trên, có thịt gà, cá chép, cua biển, mực, tôm, thuộc năm thứ có chất độc, ăn vào dễ sinh phong. Phải dùng năm thứ gia vị trị độc tố. Thịt gà dùng gừng, cá chép dùng tỏi, cua biển dùng chanh, mực dùng nghệ, tôm tiêu. Năm thứ gia vị này gọi là ngũ hương.

Bà dùng đũa gắp miếng thịt gà nhúng vào hộp đựng gừng tươi dã nhỏ, rồi bỏ vào bát bằng sứ. Lê-Văn gắp miếng cá chép nhúng vào hộp đựng bột tỏi, sau tới cua biển với chanh. Nó làm được hai thức, thì Hồng-Sơn phu nhân đã làm xong ba thức. Cuối cùng bà gắp gan lợn, chim sẻ, lươn cho lên trên. Bà rưới thêm mấy giọt nước mắm, cười:

– Thằng cà chớn, làm đi.

Nhanh nhẹn Lê Văn cầm chai rượu rót vào một cái đĩa, rồi bưng bát đựng tám thức tẩm gia vị đặt giữa đĩa. Nó đánh lửa, châm vào rượu. Rượu cháy bùng lên. Ngọn lửa xanh như một cái hoa sen, bao phủ bát đựng thực vật. Nó cầm cái đũa bằng sành cứ luôn tay khuấy rượu cho lửa bốc cao. Một lát, mùi thơm xông lên ngào ngạt. Nó nói với Thiệu-Thái:

– Ông ỉn, cấm ông nuốt nước bọt, mà từ nãy đến giờ, ông nuốt đến mười bẩy lần. Nhưng như vậy chính ông ỉn tự nhận cái tên lợn của mình rồi nghe.

Miệng nói, tay nó cầm khăn lót cho khỏi nóng, bưng Bát trân, ngũ vị ra để trước mặt Thiệu-Thái:

– Mời ông ỉn. Nhớ ăn chậm thôi, cẩn thận nghe, đừng có nuốt cả lưỡi vào.

Thiệu-Thái đói quá, chàng quên mời Hồng-sơn phu nhân, cầm đũa gắp ăn. Tám thức, có tám mùi vị khác nhau, lại thêm năm thứ hương thơm. Thức ăn nọ hấp hương thơm sang thức ăn kia, cộng với hương rượu, vị cháy, làm thành món ăn cực kỳ trân quí.

Lê Văn nói:

– Phàm trong khoa trị bệnh, khi cơ thể mình thiếu thức gì, thì mình thèm thức đó. Như chị Mỹ-Linh, cơ thể thuộc âm hàn, nên chị thích ăn nóng. Cơ thể em thuộc dương nhiệt, nên thích ăn lạnh. Ngược lại khi cơ thể mình dư thức gì, thức đó trở thành chất độc. Cho nên hôm qua, chị Mỹ-Linh hắt hơi một cái hết chục quả xoài mà vẫn không sao. Còn em mới táp có mấy miếng, trong miệng muốn sưng, nổi mụn rồi.

Mỹ-Linh tỉnh ngộ:

– Ừ nhỉ, hèn gì hôm qua, chị thấy em ngồi nhìn chị ăn. Chị tưởng em nhường cho khách. Hoá ra em không thích. Ban nãy em bắt mạch cho anh Thiệu-Thái rồi cho anh ấy ăn món này, vậy nguyên lý ra sao?

– À, thế này. Trước đây anh Thiệu-Thái chưa từng tập Thiền-công, chưa qui y, chẳng từng học kinh kệ. Thế rồi Bồ-tát Sùng-Phạm truyền cho anh ấy Thiền-công của ngài. Thành ra anh ấy có công lực cao thâm vô cùng, mà không biết xử dụng.

Mỹ-Linh phục Lê Văn, nàng gật đầu:

– Em mới bằng này tuổi mà kiến thức đã cao như vậy rồi, thực hiếm có. Hôm trước sư phụ chị cũng nói vậy.

Lê Văn tiếp:

– Thiền công là thứ công lực của Phật, của tiên, chính đại quang minh. Đỗ Lệ-Thanh không biết thế, đem truyền cách luyện Chu-sa Ngũ-độc chưởng cho anh Thiệu-Thái. Do vậy ma với Phật lẫn lộn trong người anh ấy. Thành ra anh ấy muốn dùng Thiền-công hoá giải chất độc không được.

Nó cười:

– Lại đến đại sư Huệ-Sinh cũng không nhìn ra lẽ quan trọng nữa, khi trong người anh Thiệu-Thái chứa toàn cá, thịt, tôm, cua. Trong lúc Thiền-công nhà Phật của ngài Sùng-Phạm chỉ toàn rau, đậu, hoa, qủa. Cho nên dù đại sư dạy anh ấy vận Thiền-công, cuối cùng đi đến chân khí chạy hỗn loạn trong cơ thể, rồi anh ấy còn hút chất độc cứu chị Thanh-Mai, suýt nữa cả hai tiêu dao miền Cực-lạc.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 96412
Has thanked: 35581 times
Have thanks: 48791 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: June 12th, 2018, 1:56 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Postby DaMinhChau » August 1st, 2017, 11:20 pm


Hồi thứ bốn mươi sáu

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
(Đoạn trường tân thanh)


Lâm Huệ-Phương ngồi vuốt tóc Mỹ-Linh như một bà mẹ hiền đối với cô con gái yêu:

– Đáng lý ra, giờ này tôi là thím của công chúa. Nếu may mắn, không chừng tôi còn trở thành vương phi của một vị vương gia, có tài kinh thiên động địa, có ơn đức trải khắp đất nước, lại nhã lượng, cao trí. Nhưng cái tình là cái chi chi, lịch sử cổ kim không ai định nghĩa nổi. Từ ngày gặp Hồng-Sơn đại phu, trong tâm tôi chỉ có chàng. Nếu vương gia như những vị đế vương khác, tôi đành ôm mối vạn cổ sầu trong vương phủ. Thế nhưng lòng dạ vương gia như biển, cho nên tôi mới được hạnh phúc như thế này.

Huệ-Phương nói nhỏ:

– Mỹ-Linh nhớ nhé. Mỹ-Linh rời đây, trở về gặp vương gia. Mỹ-Linh nói dùm Huệ-Phương dù thịt nát xương tan, cũng nguyện làm bất cứ việc gì trợ giúp cái chí của vương gia.

Hai tay Mỹ-Linh ôm lấy cổ Huệ-Phương nói nhỏ vào tai:

– Chú hai muốn biết, việc chú trả phu nhân lại cho đại phu. Đại phu đã biết chưa?

– Chưa. Không phải tôi dối chồng, mà chưa đến lúc nói. Hồi vương gia bầy kế cho tôi trở lại gặp đại phu. Vương gia có dự trù trường hợp đại phu thắc mắc rằng, tôi trốn khỏi Hoàng-cung mà tại sao triều đình không truy cứu gia đình. Nên vương gia khuyên tôi mang bố mẹ theo, giả tìm đại phu trị bệnh. Quả nhiên, một đêm đại phu thắc mắc. Tôi trả lời đại phu rằng: Vì khi tôi về đến nhà, thì dẫn bố mẹ đi tìm đại phu, rồi ở lại luôn trong Vạn-thảo sơn trang. Nào biết triều đình truy cứu hay không? Ví dù có truy tầm, cũng khó mà tìm ra.

Huệ-Phương ngước mắt nhìn lên bầu trời xanh ngắt, lảng vảng những tảng mây trắng trôi lờ đờ:

– Một lần khác đại phu hỏi chi tiết về việc tôi được tuyển cung. Tôi cứ sự thực trình bầy hết. Chỉ không thuật đoạn được đưa về phủ Khai-quốc vương. Thay vào đó tôi nói: Đêm đó, em ngồi tưởng nhớ đến anh, ôm mặt khóc cho mối tình không trọn vẹn, thì một người mặc quần áo vương tước cật vấn em tại sao lại khóc. Em nói rõ sự tình. Vị vương đó dẫn em theo cửa sau trốn khỏi Hoàng-thanh. Đại phu hỏi tên vị vương ân nhân. Tôi đáp : Không biết tên, nhưng nếu gặp mặt thì nhớ. Đại phu trầm ngâm nói: Nếu vị vương đó là con Lý Công-Uẩn, mà Uẩn thuận truyền ngôi cho y, thì ta không đòi phục hồi nhà Lê nữa. Tôi hỏi :Tại sao. Chẳng lẽ anh vì một người con gái như em, mà bỏ sự nghiệp tổ tiên?. Đại phu đáp :Không phải vì ân nghĩa nhượng vợ, mà muốn cho người có lượng cả như vậy làm vua, thì nước Việt mới ngóc đầu dậy được.

Huệ-Phương nhắc lại:

– Như vậy lúc đầu chỉ có vương gia, vú già nuôi vương gia với tôi biết. Không hiểu vương gia đã cho những ai biết?

– Thêm ông nội bà nội, Thiệu-Thái, Bảo-Hòa với cháu. Hôm ấy bọn cháu đứng hầu bên cạnh nên biết mọi truyện. Chúng cháu có kể truyện hồi ở Vạn-thảo sơn trang, chúng cháu ngạc nhiên vô cùng, khi thấy phu nhân mới gặp chúng cháu, mà đối xử cực kỳ thân thiết cho ông bà nội nghe. Ông nội khen phu nhân thực không hổ là nữ anh hùng Đại-Việt.

Rồi Mỹ-Linh tường thuật lại việc phụ vương nàng chất vấn, kết tội Khai-quốc vương trong Long-hoa đường như thế nào. Thuận-thiên hoàng đế cùng hoàng hậu Lập-Nguyên tra khảo vương về Huệ-Phương, Hà-Thanh ra sao. Hoàng đế suýt đem vương ra chặt đầu v.v. không bỏ sót một chi tiết nào.

Huệ-Phương nước mắt đầm đìa:

– Vương…anh… anh..vì hạnh phúc của em mà phải chịu trăm bề cay đắng. Dù em có tan xương nát thịt cũng không đền đáp được công đức này của anh.

Huệ-Phương lau nước mắt rồi cắn vào má Mỹ-Linh một cái:

– Vương gia thực chu đáo. Hôm qua, tôi xin phu quân tôi cho phép tôi với Lê Văn đi thăm Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Thanh-Mai. Nhưng sự thực muốn gặp vương gia. Tôi ngạc nhiên vô cùng, vì từ xưa tới giờ vương gia cực kỳ chu đáo, mà sao lánh mặt không gặp tôi? Rồi lại cho Mỹ-Linh theo tôi đi dễ dàng trong khi chúng tôi về Thăng-long kỳ này, mực đích đối đầu với vương gia. Thì ra vương gia sợ gặp tôi, rồi lộ bí mật, vương cho Mỹ-Linh đi dễ dàng, để nhờ Mỹ-Linh chuyển tin cho tôi.

Mỹ-Linh ghé miệng vào tai Huệ-Phương:

– Phu nhân nói chỉ đúng một nửa. Chú hai không muốn gặp phu nhân. Vì gặp phu nhân, thì sau đó trong lòng nổi cơn bão táp. Chú hai nói, hôm gặp phu nhân, yêu phu nhân, say đắm phu nhân. Nhưng chú hai không muốn nhắm mắt hưởng thụ trong cái đau khổ của phu nhân.

Trống ngực Huệ-Phương đập mạnh. Mặt nàng lúc trắng, lúc đỏ, nhớ lại cái phút Lý Long bồng nàng lên dường, tay lần mở nút áo, tay kéo dây lưng quần. Bấy giờ nàng như mê như tỉnh, tê dại khắp người. Huệ-Phương quên sao được, từ hồi còn nhỏ, nàng đã nghe nói về vị thái tử tài kiêm văn võ, lại rộng lượng, trọng nghĩa khinh tài. Nàng dệt những giấc mơ đẹp như gấm như hoa. Nàng tưởng tượng sau này sẽ được gặp vị thái tử đó. Thế mà bây giờ nàng đang nằm gọn trong tay con người đa tình, đa tài. Con người này dang chuẩn bị đưa nàng vào giấc mơ huyền ảo của núi Vu-sơn. Thế nhưng bản tính ngay thẳng, nàng phải thố lộ chân tình về cuộc gặp gỡ người thầy thuốc đêm nọ, và dành cho ông tình yêu ngay từ đấy.

Mỹ-Linh nhìn mặt Huệ-Phương, biết Huệ-Phương chưa quên được chú mình. Nàng nói sang truyện khác:

– Sao phu nhân biết chị Thanh-Mai bị nạn, mà đến thăm?

– Khi chúng tôi khởi hành về Thăng-long dự đại hội võ lâm Đại-Việt, đêm tôi mơ thấy đi trên cái xe. Thình lình cái xe bị vấp vào đá, bánh cong đi. Trong phép giải mộng, đó là có người mong mình. Đêm sau tôi thấy Thanh-Mai đang ôm bụng đau đớn. Tôi đoán : Xe bị gẫy bánh là điềm có người mong mình. Thanh-Mai ôm bụng đau đớn, vì nang đang bị tai nạn. Cho nên đến Cổ-loa, tôi lấy xe đi thăm Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Thanh-Mai. Nghe nói ba người ở phủ Khai-Quốc vương. Chúng tôi tới nơi đúng lúc Thiệu-Thái, Thanh-Mai đang mê man. Tôi xin Quốc-vương để tôi đem hai người về đây trị bệnh. Nhiều người xin đi theo. Song tôi chỉ thuận cho Mỹ-Linh đi mà thôi.

Mỹ-Linh hỏi:

– Cứ như đại phu nói, cần đả thông Kỳ-binh bát-mạch cùng Thập-nhị chính kinh, thì hoà hợp được Thiền-công với Chu-sa Ngũ-độc. Như vậy anh Thiệu-Thái đã hết nguy hiểm chưa?

Lê Văn gật đầu:

– Hết thì hết rồi. Có điều trong người anh Thiệu-Thái còn hút độc Thất-trùng Ngũ-hoa, nên cần cho uống thuốc trục độc ra. Thang thuốc ban nãy để trục độc đấy. Trong lúc anh mê man đã được đổ cho hai thang. Thang hồi nãy là ba. Cơm ba bát, thuốc ba thang. Bệnh của anh khỏi rồi.

Thiệu-Thái cảm động:

– Đại phu thực là thần nhân. Không biết hiện giờ bệnh tình chị Thanh-Mai ra sao?

Hồng-Sơn phu nhân sẽ vỗ tay vào vai Thiệu-Thái:

– Thế tử đừng lo. Thanh-Mai là đệ tử cưng của phu quân tôi. Trên đời này, chưa từng có ông thầy nào yêu học trò bằng Hồng-Sơn đại phu đâu. Thế tử thì ông ấy để ở đây đưỡng bệnh. Còn Thanh-Mai, ông ấy mang về cho ở phòng kế bên cạnh chúng tôi. Bệnh tình Thanh-Mai gần như đã khỏi hẳn rồi.

Thiệu-Thái hỏi Lê Văn:

– Này chú em, có phải Hoàng Giang đại phu chưởng quản y viện Yên-lãng của Cổ-loa là đệ tử của Vạn-thảo sơn trang không?

– Đúng thế. Người là đệ nhị đệ tử của bố em.

Đến đó một y sinh vào chắp tay hành lễ với Hồng-Sơn phu nhân, rồi nói với Thiệu-Thái, Mỹ-Linh:

– Sư phụ tôi mời hai vị lên gặp người có truyện khẩn.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đứng lên theo y sinh đi. Qua ba dãy nhà, tới căn nhà bằng gỗ hình bát giác. Y sinh nói lớn:

– Trình sư phụ, đã mời công chúa Bình-dương cùng thế tử Thân Thiệu-Thái.

Cánh cửa nhà bát giác mở ra, Thiếu-Mai vẫy tay:

– Mời hai vị vào. Bố tôi đang chờ.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái bước vào. Trong căn phòng, có mười người ngồi sau Hồng-Sơn đại phu. Mỹ-Linh nhận diện được mấy người mà nàng đã gặp tại phòng đại hội ở Vạn-thảo sơn trang, trong dịp đón Triệu Thành. Hai người hành lễ:

– Đệ tử tham kiến đại phu.

Hoàng Giang đại phu cười:

– Tôi mời hai vị lên đây để nói một truyện. Như hai vị biết sư phụ tôi không trị bệnh cho người Hoa cũng như con cháu họ Lý. Người chỉ trị bệnh cho con cháu họ Lý với điều kiện. Khi thế tử mê man, công chúa Bình-dương khóc lóc nhờ sư phụ tôi cứu thế tử. Công chúa xin làm bất cứ việc gì mà sư phụ tôi sai bảo. Bây giờ thế tử đã khỏi bệnh. Tôi muốn thế tử nhắc lại một lần nữa lời cam kết đó.

Thân Thiệu-Thái kính cẩn:

_ Tiểu bối coi như chết đi, được đại phu tái sinh, thì đương nhiên đại phu sai bảo gì, tiểu bối đâu dám chối từ. Huống hồ, trong võ lâm, đại phu ngang vai với ông nội cháu.

Ghi chú

Hồng-Sơn đại phu xuất thân là con thứ vua Lê Đại-Hành. Vua Lê có tới sáu bà hoàng hậu, cùng hai mươi bốn phi tần, sinh ra mười hai con trai. Nhà vua xuất thân là quan võ, rồi nhờ thời cơ mà được ngôi, cho nên vua hết sức khuyến khích các con luyện tập võ công. Khi con trai đến tuổi mười ba, thì được phong vương, cho mở phủ đệ riêng cùng cưới vợ. Tới tuổi mười sáu, cho cầm quân đánh giặc, tổng trấn một vùng. Theo Khâm-định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn, vua Lê phong cho các con trấn nhậm như sau:

Khai-Minh vương Long-Định trấn Đằng-châu.
Ngự-Man vương Long-Đinh trấn Phong-châu.
Ngự-Bắc vương Long-Cân trấn Phù-lan.
Định-Phiên vương Long-Túng trấn Ngũ-huyện-giang.
Tư doanh thành phó vương Long-Tương trấn Đỗ-Động.
Trung-Quốc vương Long-Cánh trấn Mạt-liên.
Nam-Quốc vương Long-Mang trấn Vũ-long.
Hành-Quân vương Long-Đế trấn Cổ-lãm.
Phù-Đái vương trấn Phù-đái.

Hồng-sơn đại phu có tên là Lê Long-Mang. Năm sáu tuổi được phụ hoàng ủy cho một cao nhân phái Sài-sơn dạy dỗ. Cũng như các đệ tử của phái Sài-sơn, vương được luyện võ, học văn, cùng các học thuật khác bao gồm Nho, y, lý, số. Vương chăm chỉ cần mẫn, nên năm mười tuổi, từ võ công cho đến chính sự, vương bỏ xa các anh em.

Trong một lần theo sư phụ đến Thiên-trường thăm chưởng môn phái Đông-a, vương gặp đám đệ tử ngang tuổi của phái này, trong đó có Trần Tự-An, Trần Kiệt. Sau hơn tuần ở Thiên-trường, vương kết bạn với năm đệ tử ngang tuổi phái Đông-a. Vương đâu có ngờ, sau này họ thành Đông-a ngũ kiệt.

Năm mười tám tuổi được phụ hoàng phong tước Nam-quốc vương, cho trấn thủ vùng Vũ-long (Thanh-hoá). Có quyền trong tay, vương không ham hưởng thụ, mà dốc tâm luyện tập võ công, trau đồi văn học.

Lúc phụ hoàng lớn tuổi, mười hai hoàng tử bắt đầu ngấm ngầm tranh dành để được truyền ngôi vua. Vương rửng rưng, khoanh tay ngồi cao, đứng ngoài. Khi phụ hoàng băng hà, các vương đem quân đánh nhau tranh dành ngôi vua. Cuộc chiến diễn ra trong sáu tháng liền. Kẻ thắng, người bại, cuối cùng Lê Long-Đĩnh giết chết hầu hết các anh, em, chiếm ngôi vua. Nhiều người khuyên vương nên đem quân về triều hỏi tội Lê Long-Đĩnh. Nhưng vương từ chối.

Theo vương chế cổ, khi một vị vua lên ngôi, thì đặt ra niên hiệu để gọi. Lê Hoàn lên ngôi vua năm Canh-thìn (980) lấy hiệu là Thiên-phúc. Chín năm sau, vào năm Kỷ-sửu (989) cải là Hưng-thống. Năm Giáp-ngọ (994) lại cải là Ứng-thiên.

Ứng-thiên hoàng đế băng năm Ất-tỵ (1005). Con trưởng là Lê Long-Việt lên ngôi chưa kịp đặt niên hiệu thì bị Long-Đĩnh giết chết.

Một vị vua khi băng hà, thường quàn áo quan trong ba năm mới chôn. Kể từ khi chết, không dùng niên hiệu gọi nữa, mà gọi là Đại-Hành hoàng đế. Đợi khi vua kế vị lên ngôi, sẽ truy phong tôn hiệu để gọi. Thế nhưng Long-Đĩnh được ngôi vua rồi, không đặt thụy hiệu cho Ứng-thiên hoàng đế, chỉ lo chém giết, ăn chơi, vì vậy cho đến nay Ứng-thiên hoàng đế Lê Hoàn không có tên thụy, mà vẫn gọi là vua Lê Đại-Hành. Đau xót cho vị anh hùng một thời, mà khi chết không có miếu hiệu thờ kính.

Khi thấy Lê Long-Đĩnh chuẩn bị đem quân vào đánh vương. Với võ công, mưu lược, cùng uy tín, nếu vương đem quân chống cự, ắt diệt được Long-Đĩnh. Giữa lúc đó được tin người Tống chuẩn bị đem quân sang đánh Đại-Việt. Vì sự sống còn của đất nước, vương viết thư cho Long-Đĩnh rồi âm thầm treo ấn, niêm phong kho tàng, lẳng lặng bỏ đi, cải tên, đổi họ đến Vạn-thảo sơn trang lập nghiệp.

Chỉ mấy năm sau vương cùng đám bầy tôi thân tín biến Vạn-thảo sơn trang thành một trang trại lớn. Vương nổi tiếng nhờ y học. Nguyên y học của phái Sài-sơn vốn đã có cơ sở từ nghìn năm trước. Đến vương, do năng khiếu đặc biệt, vương trở thành thiên tài y học. Tiếng tăm vương trở thành lừng lẫy. Ngoài trừ người thân, không ai biết vương là con vua Lê. Người đời thấy vương lập nghiệp đưới chân núi Hồng, gọi vương là Hồng-Sơn đại phu.

Về võ công, phái Sài-sơn do tổ sư là Phù-đổng thiên vương sáng lập di truyền lại. Trải qua nhiều đời, võ công Sài-sơn không dũng mãnh như Tản-viên, tinh diệu như Mê-linh, chính đại như Tiêu-sơn, huyền diệu như Đông-a, nhưng đời nào cũng có nhân tài xuất chúng. Võ đạo phái Sài-sơn lấy đại nghĩa dân tộc làm cơ sở. Hóa cho nên được quần chúng kính phục. Đến đời Hồng-Sơn đại phu, nhờ tinh thâm về y học, ông biến đổi từ nội công đến chiêu thức, nên võ công Sài-sơn lại hưng thịnh hơn lên. Hành tung của ông rất huyền bí, chưa một ai đấu với ông, nên không biết võ công của ông ra sao. Người ta chỉ biết võ công đệ tử ông, rồi suy đoán ra võ công của ông.

Khi sư phụ của đại phu qua đời, truyền cho đại phu làm chưởng môn phái Sài-sơn. Tuy đại phu làm chưởng môn, nhưng lại không ở tại tổng đàn của phái, mà ở Vạn-thảo sơn trang.

Người anh Lê Long-Đĩnh của vương ngày càng trở thành ác độc, trói người vào cột đồng, rồi chất củi bên trong cột đốt. Nạn nhân bị cháy da, phỏng thịt kêu thét lên như con thú, rồi chết. Long-Đĩnh đứng xem, khoan khoái cười vui. Trò chơi thứ nhì của Đĩnh là bắt đàn bà chửa giam lại, đem từng người ra, cùng các quan đánh cuộc xem thai nhi là trai hay gái. Sau đó mổ bụng, để định được thua. Trò chơi thứ ba là đóng cọc dưới giòng sông, trói người vào đó, cùng các cận thần ngồi uống rượu, chờ nước lên, khiến nạn nhân chết ngộp dần dần.

Long-Đĩnh trác táng quá độ, thành bệnh, nằm liệt dường. Khi lâm triều, phải đặt trên một cái giường khiêng đi. Dân chúng gọi là vua Ngọa-triều. Bồ-tát đắc đạo Vạn-Hạnh thiền sư, sai đệ tử về kinh đô Hoa-lư, khuyên răn Ngọa-triều. Ai cũng tưởng thiền sư Vạn-Hạnh là sư phụ vua Lê Đại-Hành, thì lời can gián của ngài hẳn Long-Đĩnh nghe theo. Nào ngờ Long-Đĩnh bắt sứ giả của Vạn-Hạnh thiền sư quỳ gối, rồi để mía lên đầu róc vỏ. Thỉnh thoảng giả bộ lỡ tay, cho dao chém xuống đầu nhà sư. Long-Đĩnh nhìn máu chảy cười khoan khoái.

Năm Kỷ-dậu (1009) Long-Đĩnh băng. Khi Đĩnh còn tại vị. Y tàn sát tất cả anh, em cũng như con cái họ. Bây giờ y băng, triều đình muốn tìm lấy một người trong giòng họ Lê tôn lên ngôi vua, thì không còn ai cả. Triều đình chia làm hai phe. Một phe cho rằng trước đây vua Lê được tôn lên vì con vua Đinh còn thơ ấu. Nay cũng nên chọn một đại thần có đức đặt vào ngôi báu. Nhân quan Điện-tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn là phó mã của vua Lê Đại-Hành, là con nuôi thiền sư Lý Khánh-Vân, đệ tử Bồ-tát Vạn-Hạnh, tính tình trung hậu, văn võ kiêm toàn thức xứng đáng. Phe này có hữu thân vệ điện tiền chỉ huy sứ Đàm Can, Đô-nguyên soái, Tổng trấn Thăng-long Đào Cam-Mộc.

Phe thứ nhì không chịu, định tôn đứa con sáu tháng của Long-Đĩnh lên ngôi vua. Hai phe định kéo quân về đánh nhau. Giữa lúc đó lạc hầu Thân Thiệu-Anh, thống lĩnh lực lượng biên phòng phía Bắc tập trung quân, tuyên cáo rằng, nếu triều đình không tôn Lý Công-Uẩn lên làm vua. Ông đem quân về làm cỏ.

Sợ chiến tranh xẩy ra, Vạn-Hạnh thiền sư giảng hòa bằng cách tạo trao quyền cho Lý Công-Uẩn làm vua. Đợi sau này tìm được con vua Lê, sẽ trả lại ngôi.

Biết rằng các vua Đinh, Lê, nhờ võ công oanh liệt, mà được ngôi vua. Thuận-thiên hoàng đế chỉ dựa uy tín sư phụ là thiền sư Vạn-Hạnh, lại là phò mã mà đắc vị. Cho nên nhà vua hết sức chăm lo chính sự, giảm thuế, giảm chi, khuếch trương văn học. Nhờ vậy, đân chúng sống trong thanh bình, no ấm như thời vua Hùng, vua An-dương, vua Trưng.

Hồng-Sơn đại phu thấy Lý Công-Uẩn chiếm ngôi của nhà mình. Ông cũng chẳng thiết cái ngôi vua, vừa lao tâm khổ tứ, vừa bận rộn. Nhưng đi đâu cũng nghe sĩ dân thiên hạ xỉ mạ Ngọa-triều, rồi họ cho rằng con của Đại-Hành hoàng đế đều như nhau. Uất khí, ông mưu trung hưng Lê triều, dùng y đạo trị dân, rửa tiếng nhục cho tổ tiên. Vì vậy ông đào tạo học trò, truyền bá y học, cùng ban ân đức cho dân, chuẩn bị.

Giữa lúc đó, nhà Tống muốn đánh chiếm các nước phía Nam như Đại-lý, Đại-Việt, Chiêm-thành, Lão-qua, mở mang bờ cõi. Để dò đường, triều đình cử sứ đoàn Triệu Thành xuất hiện với chiêu bài Hưng diệt, kế tuyệt, ý muốn có đội quân người Việt giết người Việt, khi một bị diệt, một suy yếu, tinh lực không còn, Tống đem quân sang chiếm. Triệu Thành định giả lập lại nhà Đinh. Nhưng khi thấy Đinh Toàn tài năng không làm bao, lại chẳng có uy tín gì. Trong khi đó, y biết Hồng-Sơn đại phu chính thị Nam-quốc vương Lê Long-Mang, ơn đức trải khắp Hoa-việt, võ công lại là một trong Đại-Việt ngũ long. Triệu Thành gạt phăng Đinh ra ngoài, đến Vạn-thảo sơn trang tìm Hồng-Sơn đại phu ngỏ ý ấy.

Là người thông kim bác cổ, đại phu vốn sẵn có tinh thần bài Hoa. Ông chưa quyết định, thì người yêu của ông, Lâm Huệ-Phương xuất hiện. Huệ-Phương tuổi còn trẻ, mà kiến thức thực siêu việt. Nàng trình bầy cho ông nghe tất cả những âm mưu dành dân lấn đất của người Tống ở Bắc-biên. Ông nắm được chủ mưu của Tống: Trước phá tan thành trì 207 khê động của Đại-Việt. Sau đó khích người Việt đánh người Việt trong nước, rồi thừa cơ đem quân vượt biên.

Ông tỏ ý nghi ngờ thiện ý của triều Tống. Những cái gương cũ còn đó: Thời vua Trưng có thầy trò Lê Đạo-Sinh. Mới đây Kiều Công-Tiễn dẫn quân Nam-Hán vào, cuối cùng đều đi đến kết quả thản khốc. Chính ông trước đã nêu cao chính nghĩa. Ông tuyên bố ai đến ông cũng trị. Ngoại trừ ba loại người, ông cũng trị, nhưng với điều kiện. Một là bệnh nan y, mà các đệ tử ông không trị được. Hai là người Hoa. Ba là con cháu họ Lý.

Tin Hồng-Sơn đại phu tức Lê Long-Mang tước Nam-quốc vương lan truyền mau lẹ. Chưởng môn phái Đông-a Trần Tự-An đích thân đến Vạn-thảo sơn trang thăm ông. Rồi Trần Kiệt, Phạm Hào đi Tản-viên hỏi ý kiến chưởng môn Đặng Đại-Khê. Đặng Đại-Khê hứa sẽ trả lời trong ngày đại hội võ lâm Đại-Việt. Sở đĩ Đặng chưa dám quyết định, vì trong phái đang có sự tranh chấp.

Chưởng môn phái Mê-linh, sư thái Tịnh-Tuệ cũng chưa có quyết định rõ rệt. Chỉ có chưởng môn phái Tiêu-sơn, cương quyết giúp họ Lý. Hồng-Sơn đại phu tin rằng, quá phân nửa võ lâm nghiêng về Lê, lại thêm áp lực triều Tống rằng nếu Lý không lùi, thì Tống đem quân sang. Như vậy ắt võ lâm Đại-Việt sợ chiến tranh, ép Lý thoái vị, trả ngôi vua cho Lê.

Ông tin rằng Lý Công-Uẩn phải thoái vị. Ông dùng nhân đức cai trị dân, sẽ không sợ bọn Tống nữa.

Hồng-Sơn đại phu chuẩn bị thực chu đáo. Hiện ông có đệ tử khắp nơi. Mỗi người đều mở một y viện chữa bệnh cho dân chúng, gây cảm tình. Mỗi đệ tử lại mở một võ đường huấn luyện thanh thiếu niên.

Trước đây các võ đường của Sài-sơn thường bị lực lựơng Hồng-thiết giáo cùng lực lượng Hồng-hương thiếu niên của Nguyên-Hạnh chống phá. Từ ngày Triệu Thành đến Vạn-thảo sơn trang, tự nhiên hai lực lượng này đều tỏ ý thân thiện với hệ thống Sài-sơn. Ông đâu có ngờ trong bóng tối, Triệu Thành ra lệnh cho đám trưởng lão gian tế Hồng-thiết giáo cùng Nguyên-Hạnh phải giúp ông, hầu ông quyết tâm hơn.

Khi về Thăng-long dự đại hội võ lâm Đại-Việt, ông đã âm thầm ra lệnh cho đệ tử các nơi chuẩn bị. Nếu họ Lý không chịu thoái vị, sẽ khởi binh, cơ sở các địa phương nổi dậy chiếm lấy chính quyền, rồi kéo về Thăng-long.

Tới Thăng-long, ông cùng các đại đệ tử trú ngụ ở y viện Yên-lãng tại Cổ-loa, do đệ tử của tên Hoàng Giang đại phu chưởng quản. Vừa tới nơi, người vợ yêu của ông là Lâm Huệ-Phương xin ông cho phép dẫn Lê Văn đi thăm bà con. Ông tuyệt không ngờ bà con đó là Khai-quốc vương Lý Long-Bồ. Huệ-Phương tới phủ Khai-quốc vương gặp đúng lúc Thiệu-Thái, Thanh-Mai bị nạn. Nàng xin mang hai người đến Cổ-loa trị bệnh.

Thanh-Mai vừa là con gái chưởng môn phái Đông-a, bạn thân của ông, đương nhiên ông phải tận tình cứu chữa. Hơn nữa Thanh-Mai là đệ tử yêu của ông, vì vậy ông dùng hết khả năng cứu nàng.

Còn Thân Thiệu-Thái, ông nhận chữa trị, với điều kiện. Bây giờ ông gọi Mỹ-Linh với Thiệu-Thái lên để tuyên bố về điều kiện đó.

Hoàng Giang đại phu nói với Mỹ-Linh, Thiệu-Thái:

– Sư phụ tôi cứu thế tử. Điều kiện của sư phụ tôi giản dị thôi: Trong suốt cuộc đời, cả hai vị không được xử dụng võ công chống sư phụ tôi cũng như các đệ tử bản phái trong bất cứ trường hợp nào. Vậy hai vị hãy quỳ trước bàn thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu thề đi.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

– Tưởng điều kiện gì khó khăn, chứ điều kiện đó thì dễ quá. Dù Hồng-Sơn đại phu không bắt tuyên thệ, chỉ nguyên đại phu trị bệnh cho Thanh-Mai thôi, mãn đời mình cũng chẳng dám vô phép với đệ tử của người.

Hai người thắp hương, quỳ gối trước bàn thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu khấn:

” Đệ tử Lý Mỹ-Linh, Thân Thiệu-Thái xin tuyên thề trước bàn thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu rằng trọn đời không bao giờ dám chống lại Hồng-Sơn đại phu cũng như phái Sài-sơn trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nếu đệ tử sai lời, sẽ chết dưới muôn nghìn đao, kiếm.”

Hồng-Sơn đại phu cười rất tươi, ông gật đầu:

– Không ngờ Lý Công-Uẩn lại có những đứa cháu thông minh, mẫn tiệp, trọng lời hứa như vậy.

Dương Bình bảo Mỹ-Linh:

– Thôi, bệnh thế tử khỏi rồi. Xin công chúa đem thế tử về thôi.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh hành lễ, rồi ra đi…

Hồng-Sơn đại phu hỏi:

– Sư mẫu với Thanh-Mai đâu?

Dương Bình thưa:

– Sư mẫu với sư muội đang ở nhà thủy tạ. Để đệ tử mời về.

Dương Bình ra một lúc, trở về cùng với Huệ-Phương, Thanh-Mai. Hồng-Sơn đại phu đứmg dậy đón Huệ-Phương, mời nàng ngồi. Ông trịnh trọng nói:

– Hôm nay ta mời phu nhân cùng đến họp với các vị đệ tử, để chuẩn bị đại hội võ lâm Đại-Việt trong ba ngày nữa. Kiến thức phu nhân quảng bác, ta mong phu nhân sẽ giúp ta phục hồi nghiệp lớn của tổ tiên. Ở đây ta có chín đại đệ tử, cùng Thiếu-Mai, Thanh-Mai mười một. Chúng ta duyệt lại tình hình lần cuối cùng trước khi thực hành.

Ông cầm tay Thanh-Mai bắt mạch, rồi bảo Thiếu-Mai:

– Con cho sư tỷ uống thang thứ mấy rồi.

– Thưa bố, sư tỷ uống thang thứ ba rồi.

Ông tát yêu Thanh-Mai:

– Từ lâu ta mong tìm một con bé thông minh, lanh lợi, lại có kiến thức rộng, nhất là lòng nhân đạo, để truyền nghiệp. Hà… không ngờ anh ta, sư huynh Tự-An lại có đứa con gái bảo bối này. Hôm trước bố con mới tới đây cùng sư thúc của con. Lâu ngày chúng ta mới gặp nhau. Gớm, bố của con xưa sao, nay vẫn vậy, ngang ngược không coi ai ra gì.

Thanh-Mai nghe sư phụ phê bình bố, nàng bật cười:

– Tự lâu lắm sư phụ không gặp bố con, rồi cứ tưởng bố con thay đổi. Bố con nhu nhã, thực là nhu nhã, khi ngang tàng, dù là Ngọc-Hoàng đại đế, Diêm-La lão tử, người cũng ngang. Không biết hồi trẻ bố con có ngang quá ghẹ như hiện nay không?

Hình ảnh thời thơ ấu sống lại với Hồng-Sơn đại phu. Bấy giờ ông mới mười hai tuổi. Sư phụ của ông dẫn ông đến Thiên-trường thăm chưởng môn phái này tên Trần Trí-Đức. Trước khi đi, phụ hoàng căn dặn ông rằng:

” Đại hiệp Trần Trí-Đức là một hào kiệt hiếm có của nước Việt mình. Khi ta tiếp sự nghiệp vua Đinh, người định kéo đệ tử về Hoa-lư hỏi tội ta. Ta những tưởng nội chiến khó tránh khỏi. Không ngờ trên đường về Hoa-lư, khi nghe quân Tống kéo sang, người dừng lại, cho sứ đến gặp ta, để bàn truyện đánh Tống. Chính người suất lĩnh đệ tử phái Đông-a phụ trách mặt trận Bạch-đằng. Thắng Bạch-đằng, người lên Chi-lăng tiếp viện với ta. Sau khi giặc hết, người bảo ta :Đáng lẽ tôi hỏi tội nhà vua về việc đoạt ngôi của con vua Đinh. Song bây giờ nhà vua đã thắng giặc Tống, sĩ dân đều phục, tôi không có lý do gì hỏi tội nữa. Mong nhà vua lấy đức trị thiên hạ như vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng.”

Ta tôn phong vương tước, người chối. Vậy con tới Thiên-trường cần khéo léo học hỏi, kết thân với những đệ tử phái Đông-a ngang tuổi, học lấy điều hay.

Khi tới Thiên-trường, ông được làm quen với năm thiếu niên cùng tuổi Trần Tự-An, Vũ Anh, Hoàng Hùng, Phạm Hào, Trần Kiệt. Năm người với ông như quen nhau từ thủa nào. Gặp nhau là thân, không muốn rời nhau. Khi luyện võ, khi hái hoa quả ăn, khi nhảy xuống sông tắm, nô đùa với nhau. Thế rồi họ kết làm huynh đệ.

Sau hơn tháng ở Thiên-trường. Ông trở về với ngôi hoàng tử. Khi được phong tước Nam-quốc vương, tổng trấn vùng Thanh-hóa, ông viết thư sai người mời năm vị nghĩa huynh, nghĩa đệ đến dự lễ tấn phong. Nhưng đúng thời gian đó, đại hiệp Trần Trí-Đức qua đời, nên các đệ tử phải cư tang không đi được. Vương đành sai người đến điếu tang. Sau đó những biến cố dồn dập diễn ra, vương cùng Thiên-trường ngũ kiệt không được gặp nhau.

Cho đến ngày Lê Long-Đĩnh đem quân đánh Thanh-hóa, vương xấu hổ, ẩn danh, đến nay mới xuất hiện. Cái đặc điểm là trong thời gian ẩn thân, ông theo dõi rất kỹ hành trạng của võ lâm, của Thiên-trường ngũ kiệt. Thiên-trường ngũ kiệt ngược lại, không biết tin tức gì của ông. Họ không thể nào tưởng tượng nổi Hồng-Sơn đại phu với Lê Long-Mang là một.

Thanh-Mai được bố cưng chiều rất mực, nhưng chưa bao giờ được nghe bố kể lại cho nghe về thời thơ ấu của ông. Nàng biết Hồng-Sơn đại phu thương yêu đệ tử như con, nên nàng tò mò hỏi:

– Sư phụ. Hồi xưa bố con ngang lắm hả?

– Nếu nói rằng ngang, cũng thực ngang. Nói rằng tình cảm cũng thực tình cảm. Đại ca của ta, hà… hà … không nghe lời bất cứ ai, ngoại trừ bạn với đệ tử. Hôm trước người với Vũ Anh tới đây, mà không báo trước.

Ông kể đến đó, Thanh-Mai thấy nét mặt các sư huynh đều cười nửa miệng. Nàng đoán bố mình đã làm một cái gì lạ lùng lắm, để lại trong lòng họ một kỷ niệm vui. Nàng hỏi Hoàng Giang:

– Sư huynh! Bố em đã làm gì?

Hoàng Giang bật cười:

– Sư muội đã biết trong Vạn-thảo sơn trang của chúng ta chia ra ba khu rõ rệt. Một là khu Văn-lang trong đó có điện Kinh-dương. Hai là khu Âu-lạc trong đó có điện Âu-cơ. Bà là khu Lĩnh-nam, trong đó có các vùng Nam-hải, Quế-lâm, Tượng-quận, Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam. Trong điện Kinh-dương, sư phụ tạc tượng Tam-hoàng thờ. Sư muội có biết Tam-hoàng của ta với của Trung-quốc khác nhau thế nào không?

Thanh-Mai nheo mắt:

– Sư huynh làm như em con nít không bằng. Trong trang của bố em cũng thờ Tam-hoàng. Người Việt mình thờ Tam-hoàng có hai quan niệm. Một là Phục-Hy, Thần-Nông và Kinh-Dương. Hai là Kinh-dương, An-dương, Nhị-Trưng. Hôm đầu tiên đến Vạn-thảo sơn trang, thấy trong điện Kinh-dương thờ Kinh-Dương, An-Dương, Nhị-Trưng. Còn Tam-hoàng của Trung-quốc là Phục-Hy, Thần-Nông, Hoàng-Đế. Ta với Trung-quồc cùng tổ Phục-y, Thần-Nông. Triều đại Thần-Nông thứ tư trở đi, tức vua Đế-Minh mới chia ra làm hai. Bắc là vua Đế-Nghi tức Trung-quốc. Nam là vua Kinh-dương tức Đại-Việt mình.

Hoàng Giang thấy cô sư muội thông kim bác cổ, ông kinh sợ:

– Xin lỗi sư muội. Ta quên mất sư muội là con gái cưng của chưởng môn phái Đông-a nổi tiếng bác học. Để ta tiếp, Trong điện Kinh-dương sư phụ tạc tượng Tam-hoàng, xếp ngồi ngang nhau. Hai bên, mỗi bên người để tượng ba người, theo tư thế đối diện nhau. Tổng cộng sáu tượng. Đó là tượng Thiên-trường ngũ kiệt với sư phụ. Ý sư phụ muốn Thiên-trường ngũ kiệt với người lúc nào cũng phải noi gương Tam-hoàng.

Đến đây ông bật cười:

– Sáng hôm đó, ta cùng mấy sư huynh đệ lên điện Kinh-dương lễ. Như thường lệ ta cho đặt xôi, gà, trái cây lên bàn thờ, rồi xì xụp lạy. Sau khi lễ, ta ngồi đọc sách. Ta đọc được mấy trang, thấy con gà trên bàn thờ biến mất. Hai đĩa xôi chỉ còn một nửa. Hai tượng đang ăn xôi, tay cầm đùi gà nhai tóp tép.

Hoàng Giang kể đến đó, từ Hồng-Sơn đại phu cho đến các đệ tử đều cười lăn cười lộn.

– Ta kinh hoàng, mở to mắt nhìn, thấy tượng của thân phụ sư muội và tượng của sư thúc Vũ Anh đang xơi thịt gà với xôi. Ta cho rằng hai vị chết rồi hiện hồn về, vội quỳ xuống khấn : Sư bá, sư thúc hẳn qua đời rồi, nay linh thiêng về chứng giám. Xin anh linh hai vị chờ một lát. Đệ tử thỉnh sư phụ đến. Sư phụ đệ tử nhớ hai vị lắm. Tượng sư thúc Vũ Anh nói : Hay lắm, người mau đi gọi sư phụ đến. Vì chúng ta từ trên Thiên-cung chỉ giáng hạ có một lúc thôi. Ta chưa kịp đi mời, thì sư phụ đã tới. Người nhảy xổ lên, ôm lấy thân phụ sư muội, rồi hai vị khóc như trẻ con.

Thanh-Mai không biết bố đã ước hẹn gì với Hồng-Sơn đại phu. Nàng vờ hỏi:

– Sư phụ! Bố con tới chơi mấy ngày rồi lại đi?

– Sư huynh ta ở lại mười lăm ngày. Trong mười lăm ngày, hai ta bàn truyện làm thế nào cho nước giầu dân mạnh. Làm thế nào để nước Việt mình vĩnh viễn không sợ người Hoa sang chiếm. Chúng ta phác họa chương trình bốn giai đoạn. Hôm nay ta loan báo cho phu nhân cùng các đệ tử biết.

Ông đưa măt nhìn Dương Bình:

– Con trình bầy bốn giai đọan đi.

– Giai đoạn thứ nhất, chiếm lại quyền trị nước từ họ Lý. Sư phụ tạm giữ quyền cai trị.

Thanh-Mai đưa mắt nhìn Huệ-Phương. Hai người như cùng ý nghĩ:

– Hỏng to rồi. Hai ông này mà hợp lại e nghiêng nước mất. Không biết chàng phản ứng ra sao?

– Giai đoạn thứ nhì, liên kết võ lâm Chiêm-thành, Chân-lạp, Lão-qua, Xiêm-la, Đại-Việt, Đại-lý, Mân-Việt tức các vùng Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam. Tổ chức đại hội anh hùng, bầu người thủ lãnh. Như xưa kia đã bầu vua An-dương thời Âu-lạc vua Trưng thời Lĩnh-nam.

Thanh-Mai hỏi:

– Như vậy sư phụ không làm vua nữa sao?

Hồng-Sơn đại phu dơ bàn tay làm hiệu gõ vào đầu Thanh-Mai:

– Con bé này! Mi chỉ biết kính, biết yêu sư phụ, mà không hiểu sư phụ tý nào cả.

Thanh-Mai chù mỏ ra:

– Con có gần sư phụ nhiều đâu mà biết. Bố con cũng mới tìm được sư phụ, nên trước đó đâu biết gì mà dạy bọn con.

Thiếu-Mai ôm lấy vai Thanh-Mai:

– Đúng đấy. Để em nói về bố cho Thanh-Mai biết. Này Thanh-Mai. Nếu bố Thanh-Mai chủ trương tiêu dao với cỏ cây. Nhưng khi nước hữu sự lại xách gươm bảo vệ. Thì ngược lại bố em chủ trương, trước hết đòi quyền hành từ kẻ vô tài bất đức tức họ Lý lại, để rửa tiếng xấu rằng họ Lê không phải toàn như bác Ngọa-triều. Sau đó đại hội võ lâm anh hùng thiên hạ, cử người tuấn kiệt ra lãnh đạo. Bấy giờ bố em sẽ phủi tay vui với cỏ cây như Nghiêm Tử-Lăng thời vua Trưng. Chứ bố em đâu có thích làm vua!

Huệ-Phương tiếp:

– Tôi với phu quân cùng một ý nghĩ. Làm vua như bác Long-Đĩnh mới sướng thân xác nhưng làm nhục tổ tiên, làm cho nước khổ, dân nghèo. Còn làm vua, mà phải lo cho nước giầu dân mạnh thì đâu có sướng? Làm vua bất quá được dân kính sợ trước mặt, nhưng không biết người ta giết lúc nào. Còn Hồng-Sơn đại phu hiện khắp thiên hạ đều cảm đức, thì làm đại phu hơn làm vua. Thứ nhì, làm vua bất quá nhiều tiền, nhiều của, nhưng cũng đến ngày ba bữa. Vì vậy cho nên sau khi đại hội anh hùng thiên hạ xong, lập tức lui về ngao du thắng cảnh đất nước.

Thanh-Mai hỏi:

– Sư phụ, giả như có người nào đó, được anh hùng thiên hạ phục vì đức, vì tài. Người đó nguyện gánh nhiệm vụ đòi ngôi vua nhà Lý. Sư phụ có lui lại, để người đó hành sự không?

Hồng-Sơn đại phu nói:

– Lui, lập tức ta lui. Nếu có người như vậy, bố cháu cũng lui. Nhưng hiện giờ ta chưa thấy ai có khả năng đó.

Thanh-Mai nhìn Huệ-Phương, nàng thấy Huệ-Phương nháy mắt, ý muốn ngăn cản nàng nói về Khai-Quốc vương. Nàng vội vàng ngừng lại, nói lảng:

– Sư huynh! Giai đoạn ba là gì?

– Giai đoạn ba, cùng vị vua Đại-việt mới bầu lên hết sức khuếch trương văn học, thao luyện võ công, dẫn dắt dân chúng canh tác. Chỉ ít năm sau nước giầu dân mạnh. Bấy giờ chuyển sang giai đọan thứ tư, liên kết với các nước Liêu, Kim, Tây-hạ, Thổ-phồn cùng tiến công tiêu diệt Tống. Cắt Tống làm nhiều mảnh. Đại-việt không chiếm đất Tống, mà chỉ đòi lại đất nước như hồi Lĩnh-nam, tức nay gồm Lưỡng-Quảng, Đại-lý.

Dương Bình tiếp:

– Chúng ta đang ở giai đoạn một. Chỉ còn mấy ngày nữa, đại hội anh hùng võ lâm Đại-việt. Trước đây, khi vua Ngọa-triều băng, con còn thơ ấu. Sư phụ lại qui ẩn, cho nên Vạn-Hạnh thiền sư mới đề nghị cho Lý Công-Uẩn lên tạm quyền. Võ lâm im lặng, không có phản ứng gì. Nay sư phụ xuất hiện. Chúng ta có nguyên một phái Sài-sơn, người nhiều, đức thịnh. Lại được phái Đông-a, người còn nhiều hơn, hết sức hỗ trợ. Gần đây, không hiểu sao, bọn Hồng-Thiết giáo tự nhiên cũng cho người về qui phục. Bọn này tuy tà môn, nhưng chúng cũng có quá khứ yêu nước. Hôm rồi, Nguyên-Hạnh đại sư ở chùa Sơn-tĩnh cử người về tỏ ý hoan hô sư phụ đòi lại ngôi vua. Đại sư Nguyên-Hạnh ngang vai với quốc sư Minh-Không, trị sự trưởng chùa Sơn-tĩnh, thống lĩnh mấy vạn thiếu niên Hồng-hương.

Thanh-Mai nghe nói lạnh người. Vì nàng biết rằng Thuận-thiên hoàng đế hoàn toàn dựa vào phái Tiêu-sơn để được làm vua. Mà chi nhánh của Tiêu-sơn là Sơn-tĩnh. Lực lượng Sơn-tĩnh có tổ chức Hồng-hương thiếu niên, rất đông đảo. Nguyên-Hạnh qui phục Hồng-sơn, tức phản phái Tiêu-sơn. Như vậy coi như lực lượng Tiêu-sơn còn có một nửa.

Dương Bình chờ cho cử tọa im lặng, tiếp:

– Lý Công-Uẩn dựa vào 207 khê động Bắc-biên do con gái làm vua Bà cai trị. Nhưng trong 207 Khê-động đó, sắc dân Nùng mạnh, đông hơn cả. Nùng Dân-Phú, đứng trên hết thống lĩnh mười châu Quảng-nguyên. Dưới có con tên Nùng Tồn-Phúc thống lĩnh châu Thảng-do. Nùng Tồn-Lộc thống lĩnh châu Vạn-nhai. Cháu tên Dương-Đạo thống lĩnh châu Tả-giang. Y còn có đệ tử tên Lý Tự thống lĩnh châu Thất-nguyên. Uy tín Dân-Phú muốn lấn át vợ chồng Thân Thừa-Qúi. Hôm rồi, cha con Dân-Phú cũng thân đến Vạn-thảo sơn trang xin qui phục.

Thanh-Mai tuy bề ngoài im lặng, mà trong lòng than thầm:

– Hỏng bét. Làm sao bây giờ?

– Trong lúc anh hùng đại hội, sư phụ xuất hiện, đặt vấn đề với đại sư Minh-Không chùa Tiêu-sơn về vấn đề chính thống của ngôi vua Đại-việt. Bấy giờ võ lâm anh hùng đều lên tiếng đòi Lý Công-Uẩn thoái vị. Nhân đó sư phụ cũng hứa để cho họ Lý vẫn được an toàn.

Huệ-Phương hỏi Hồng-sơn đại phu:

– Anh. Em có thắc mắc. Tỷ dụ Lý Công-Uẩn không chịu thoái vị. Không lẽ bấy giờ anh hùng thiên hạ chia hai, phe ủng Lý đánh nhau với phe ủng Lê. Thế thì Đại-việt tan nát hết. Chúng ta có thắng thế, mà võ lâm mười phần chết tám chín, còn hy vọng gì nước giầu, dân mạnh, để đòi đất cũ?

Dương Bình kính cẩn:

– Thưa sư mẫu, trong kế hoạch đã dự trù điều đó. Hôm trước Bình-nam vương nhà Tống có đến đây. Vương gia hứa trong lúc đại hội võ lâm, phía Nam quân Chiêm kéo đến biên cương. Phía Tây quân Lào ép vùng Thanh-hóa. Phía Bắc đại quân Tống đóng trọng binh ở Ung, Liêm châu. Ngoài khơi chiến thuyền đậu ở Nam-hải. Nếu Công-Uẩn không lui, khó giữ được ngôi.

Huệ-Phương lắc đầu:

– Khó lắm. Tôi sợ một mặt Lý không lùi. Võ lâm Đại-Việt đang giết nhau, phương Nam quân Chiêm, Lào tiến vào. Bắc quân Tống kéo sang, chúng ta thành Lê Đạo-Sinh thời Lĩnh-nam mất.

Nàng nghiêng khóe mắt phụng, hướng khuôn mạt tươi như hoa nhài ban mai:

– Anh ơi! Mình mưu cầu cho nước giầu dân mạnh, mà lại dựa trên bọn gian xảo nhà Tống, bọn hèn hạ Chiêm, Lào, còn chi thể diện con cháu vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng?

Hồng-Sơn đại phu thấy kiến thức vợ mình quả không tầm thường. Bà trông rộng nhìn xa muốn hơn ông. Ông cúi đầu suy nghĩ một lúc, rồi nói:

– Ta chỉ ép Lý. Nhưng cho Lý một thời gian ba tháng suy nghĩ. Như vậy võ lâm Đại-Việt không thể chém giết nhau.

Thanh-Mai xen vào:

– Trong thời gian suy nghĩ đó, nếu quân Tống, Chiêm, Lào sang thì sao?

Hồng-Sơn đại phu thở dài:

– Trường hợp đó, ta theo gương nội tổ cháu. Tất cả ngừng tranh chấp, đuổi Tống, diệt Chiêm trước đã.

Huệ-Phương mỉm cười:

– Như vậy anh mới xứng đáng đứng trong Đại-Viêt ngũ long, anh hùng thiên hạ đều qui phục.

Huệ-Phương hỏi chồng:

– Hôm rồi anh trị cho Thiệu-Thái. Anh có bắt Mỹ-Linh, Thiệu-Thái phải theo mình, chống lại Lý không?

Hồng-Sơn đại phu lắc đầu:

– Trước khi trị, anh bắt chúng hứa rằng sẽ làm bất cứ việc gì anh sai khiến. Chúng đã tuyên thệ. Sau khi trị khỏi bệnh rồi, Hoàng Giang định bắt chúng tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của anh trong việc đòi ngôi vua từ Lý. Nhưng nghĩ lại, mình đường đường là đại tôn sư, lấy đức trị người, lấy y đạo cứu người, mà lại bắt cháu chống ông, thực quả là đồ bất nhân. Như vậy anh hùng thiên hạ, ai theo mình? Cho nên, anh chỉ bắt chúng thề không được chống mình là đủ.

Huệ-Phương nắm tay chồng, ánh mắt nàng chan chứa tình cảm, nhưng long lanh như hạt sương sớm. Mặt nàng tươi như hoa hải đường:

– Em có ông chồng đạo đức như vậy, thực không uổng tấm nhan sắc.

Thiếu-Mai hỏi Thanh-Mai:

– Sư tỷ. Sư tỷ định dự đại hội võ lâm với phái Sài-sơn hay phái Đông-a?

Thanh-Mai đưa mắt hỏi ý kiến sư phụ. Hồng-sơn đại phu vẫy tay:

– Con phải trở về với phái Đông-a ngay. Bố con đang mong đợi con lắm đó. Bố cũng như bốn chú con đều lo lắng về tình hình sức khỏe của con. Vậy con nên về cho sớm. Ngày mười rằm ta sẽ gặp con.

Tan họp, Huệ-Phương dắt Thanh-Mai dạo chơi khu trồng hoa của y viện Yên-Lãng. Hai người đẹp đi giữa muôn hoa tươi thắm, tà áo bay phầt phới. Nhìn trước nhìn sau không có ai, Huệ-Phương nói nhỏ vào tai Thanh-Mai:

– Thanh-Mai này. Truyện mình với Khai-quốc vương, Thanh-Mai biết rồi chứ?

Thanh-Mai đáp nhỏ:

– Khi Thanh-Mai về Thăng-Long, mới được vú Tú thuật cho biết. Thực sự, chàng gặp phu nhân là yêu ngay. Say đắm phu nhân. Yêu phu nhân, chàng muốn phu nhân hạnh phúc. Nhưng giữa cái ích kỷ nhắm mắt hưởng thụ, với cái tạo hạnh phúc cho phu nhân, chàng chọn lối hành động thứ nhì.

Huệ-Phương nắm chặt tay Thanh-Mai:

– Em thực có diễm phúc. Trước khi về với phái Đông-a, em phải gặp chàng trước, cho chàng biết hết tình hình. Bọn Tống mưu đồ sâu sa lắm. Hiểm độc không chừng. Chúng chỉ mong sao cho võ lâm Đại-Việt chém giết nhau, tinh lực yếu đi. Ta biết hết. Ta tuy làm vợ đại phu, nhưng không dám nói thực âm mưu bọn Tống ra. Nói chưa chắc chàng tin, mà có khi chàng còn nghi ngờ nữa.

– Ý phu nhân muốn nói???

– Dù đại phu thiết kế sao, cũng nằm trong việc Tống mưu cướp nước mình. Bọn mình tuy phận gái. Song đạo lý tộc Việt định: Khi nước hữu sự, trách nhiệm gái trai chung. Hai ta phải nắm lấy vụ này.

Nàng ngửa mặt nhìn trời:

– Đây thuộc âm mưu cướp nước của bọn Tống. Một mặt chúng cho Dương-Bá tức Nguyên-Hạnh trường kỳ mai phục ở phái Tiêu-sơn chạy theo đại phu. Như vậy phái Tiêu-sơn bị chia hai. Một mặt, chúng lôi kéo bọn Nùng Dân-Phú, chia đôi lực lựơng Bắc-biên theo đại phu. Ta sợ, giờ phút trót, phái Mê-linh, Tản-viên cũng khó tránh khỏi nạn chia rẽ. Đương nhiên giữa anh hùng đại hội, phu quân ta cùng Thiên-trường ngũ hiệp ép Lý Công-Uẩn thoái vị, sẽ được anh hùng thiên hạ theo. Võ lâm chia hai đánh nhau. Cuối cùng, Lý cho giáp sĩ xuất hiện. Thắng hẳn về Lý. Lý thắng, sẽ lệnh cho các quan địa phương tiêu diệt hạ tầng cơ sở Sài-sơn, Đông-a, Sơn-tĩnh, Nùng Dân-Phú. Các nơi kia trước thế nguy phải chống lại. Thế là trên toàn quốc có chiến tranh tự diệt. Đợi cho hai bên kiệt quệ, bấy giờ Tống chỉ cho một đạo quân sang… Cái nạn mất nước sao thoát khỏi?

Thanh-Mai rùng mình tỏ ý cương quyết:

– Như vậy em phải khuyên chàng nên lui hay sao? Nghĩa là chàng không nên dùng giáp sĩ, cố tránh nạn võ lâm tương tàn?

– Ý chị không phải thế. Chị muốn nói rằng, em khuyên chàng nên có hành động thích hợp mà thôi.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái bái tạ Hồng-Sơn đại phu, rời y viện Yên-lãng lên đường về Thăng-long.

Mỹ-Linh đã hẹn gặp Huệ-Phương nói truyện với nhau, nhưng bây giờ nàng không thấy Huệ-Phương đâu, đành cùng Thiệu-Thái ra về.

Lần đầu tiên Mỹ-Linh được đi ra ngoài tự do một mình. Hai người rời y viện Yên-lãng, đi dọc theo bờ sông. Mỹ-Linh hỏi Thiệu-Thái:

– Từ đây đến chỗ đóng của đạo quân Đằng-hải không xa. Chúng mình tới đó đưa thẻ bài của chú hai ra, mượn hai con ngựa, về Thăng-long.

Thiệu-Thái nói nhỏ:

– Ngàn năm một thủa chúng mình được đi chơi thế này, anh em mình thuê xe ngựa trở về thích hơn. Chúng ta ra chợ Cửa-Bắc ăn quà đi.

Nghe nói đến ăn quà, mặt Mỹ-Linh tươi lên:

– Ừ nhỉ, nhưng em không mang theo tiền.

Thiệu-Thái sờ tay vào túi, may quá, trong túi có một đĩnh bạc, chàng nói:

– Một đĩnh bạc này, đủ cho hai anh em mình ăn quà đến một tháng.

Chợt nhớ ra điều gì, Mỹ-Linh nói nhỏ:

– Thôi không ăn quà nữa, về mau. Trễ, chú hai không lột da, cũng đánh què.

Thiệu-Thái cười:

– Em thông minh thì thông minh thực, nhưng không hiểu thấu ý cậu hai. Tại sao lúc đi, cậu lại bắt anh em mình mặc quần áo nâu như con nhà nông dân? Đó, cậu đã dự trù trường hợp chúng mình lẫn vào dân chúng, không ai chú ý. Tức cậu hai cho phép chúng mình đi ăn quà.

Hai người vượt qua xóm Thượng, đến cửa Bắc. Chợ Cửa-Bắc đang ngày phiên, dân chúng các vùng xung quanh như Uy-nỗ, Dục-nội, Dục-tú, Cương-nỗ, Kính-nỗ kéo nhau về buôn bán.

Thiệu-Thái đã từng ra ngoài, kinh nghiệm nhiều, chàng dẫn Mỹ-Linh len lỏi vào chợ, qua khu bán tơ, vải, đến khu bán ngũ cốc. Hết khu ngũ cốc, đến khu hàng quà. Khu hàng quà họp trong bốn cái đình. Các bà bán quà thấy một cặp thiếu niên ăn mặc như trẻ con nhà quê. Họ tuyệt không ngờ đó là công chúa, thế tử.

Mỹ-Linh thấy hàng bún ốc, nàng thèm quá, kéo áo Thiệu-Thái:

– Anh ơi, ngồi đây đi.

Hai người ngồi xuống hai cái ghế thấp. Cô hàng bún ốc đon đả mời:

– Cô cậu xơi bát to hay bát nhỏ.

Thiệu-Thái biết người yêu tham ăn, mà dạ dày lại nhỏ quá, chàng nói:

– Chị cho tôi hai bát nhỏ.

Cô hàng bốc bún bỏ vào bát, lấy đũa gắp rau thơm, rau muống chẻ nhỏ như sợi tóc, ngâm nước cong queo để lên trên bún. Cô gắp thêm tý mắm tôm, ba lát ớt, rồi múc ốc trong nồi bằng đồng, đang đun sôi sục đổ lên trên. Nước nấu ốc có váng mỡ vàng ngậy, tẩm ngay vào những sợi bún.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh bưng bát bún ốc ăn. Mỹ-Linh hỏi:

– Chị ơi, rau thơm ăn bún ốc bắt buộc phải là kinh giới, tía tô với ngổ hay sao, mà chị không cho húng
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 96412
Has thanked: 35581 times
Have thanks: 48791 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: June 12th, 2018, 1:56 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Postby DaMinhChau » August 5th, 2017, 10:55 pm


Hồi thứ bốn mươi bẩy

Đại Việt Hồng Thiết Giáo


Cô hàng được dịp trổ tài:

– Không phải thế. Như nếu về mùa Đông, rau muống không có, thì ăn bún với rau riếp. Rau riếp hơi tanh, phải dùng lá tỏi non, lá mùi, hành lá chẻ. Bây giờ đang mùa Thu ăn với rau muống thì phải dùng kinh giới, tiá tô với ngổ. Ấy là lá thơm ăn sống. Còn gia vị nấu với bún ốc, phải là xương xông với lá lốt, nếu không thì tanh lắm.

Phía sau hàng bún ốc là hàng chả cá. Hàng chả cá có nhiều người ăn, bà hàng chả cá cùng cô con gái đang ra sức tiếp khách. Cậu con trai hì hục quạt lửa, khói lên mù mịt. Khách vừa ăn, vừa dụi mắt.

Mỹ-Linh trông thấy chả cá, hỏi bà hàng:

– Bà cho anh em chúng tôi ăn đi.

Nghe hỏi, bà hàng biết ngay hai cô cậu này chưa từng ăn chả cả ở chợ bao giờ. Vì những người ăn quà ở chợ, họ sẽ nói bà cho tôi một xâu, hay hai xâu, chứ không bao giờ nói trống không như vậy.

Bà không nói gì, cười toe toét:

– Cô câu chờ một tẹo đi.

Bà gắp bún cho vào bát. Tay bà bốc đậu lạc xay rắc lên trên, lại ít rau thơm thái nhỏ rắc đều trên mặt bún. Bà lấy một cái bát nhỏ, múc mắm tôm chanh, lẩn vẩn có mấy khoanh ớt đỏ, rồi cầm bình cà cuống nhỏ vào vài giọt.

Cô con gái để bốn xâu cá tẩm nghệ vàng ngậy trên đĩa, lòng đĩa lót đầy thì là, bầy ra trước mặt hai người. Cô lấy rau muống chẻ, rau thơm bỏ vào cái rổ, chỉ lớn bằng cái bát ăn canh đưa cho Mỹ-Linh:

– Cô xem này, rau muống tôi chẻ có tinh không? Rău muống ăn với chả cá phải đủ năm thứ rau thơm: kinh giới, tía tô, tỏi, hành, mùi. Thiếu một thứ là mất ngon.

Cậu con trai quạt nồi đun mỡ sôi sục. Cậu nói lớn:

– Tránh ra, tránh ra, phỏng da, cháy thịt.

Cậu đổ mỡ sôi lên hai đĩa cá. Mỡ gặp cá, nổ lên những tiếng lép bép. Muì cá, mùi gia vị bị mỡ đốt chín bốc lên thơm lừng.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh định cầm đũa ăn. Bà hàng nói:

– Khoan, cô cậu ơi, mỗi gắp cá, một gắp rau thơm, một gặp bún, thêm miếng bánh đa, một hột đậu lạc nữa, mới đủ mùi vị.

Hai người không nói, không rằng, vừa ăn, vừa ngẫm nghĩ hương vị quê hương, đồng ruộng đất Việt. Mỹ-Linh chú ý đến ngón tay cậu con trai. Cậu dùng ngón trỏ vẽ vẽ trên mặt cái mâm, trong khi cậu nháy nàng. Mỹ-Linh kinh hãi:

– Không lẽ cậu là người của Khu-mật-viện?

Cậu vừa viết vừa hát nghêu ngao:

Hò la, hò lẩy,
Con gái bẩy nghề.
Ngồi lê là một.
Dựa cột là hai.
Nói dai là ba.
Ăn quà là bốn,
Trốn việc là năm.
Hay nằm là sáu.
Hay cáu là bẩy.

Trong khi hát, tay cậu viết mấy chữ: Theo dõi bọn Tống, chúng đang vào chợ. Không cần về Thăng-long vội.

Mỹ-Linh nheo mắt tỏ vẻ hiểu biết. Nàng vừa ăn vừa quan sát.

Ăn xong Mỹ-Linh nói nhỏ:

– Ăn ở chợ thế này, vừa ăn, vừa dụi mắt vì khói cay mới ngon. Chứ ăn ở phủ, người đầu bếp dọn lên, thiếu hẳn không khí ồn ào, mất đi một nửa cái ngon.

Nàng vừa nói đến đó, thì thoáng thấy phía bên kia đình chợ, Triệu Huy đi với một người lạ. Cả hai mặc quần áo nâu, đội nón lá như nông dân Việt. Nàng thúc cúi chỏ vào hông Thiệu-Thái. Thiệu-Thái ngơ ngác không hiểu gì. Nhưng chàng vốn tuân phục Mỹ-Linh, thấy Mỹ-Linh đưa mắt ra hiệu, chàng không hỏi thêm. Mỹ-Linh nói nhỏ:

– Anh trả tiền mau, có chuyện.

Thiệu-Thái vội trả tiền. Mỹ-Linh lôi chàng đứng khuất sau cột đình, rồi chỉ cho thấy Triệu Huy.

Thiệu-Thái kinh ngạc:

– Bọn này âm mưu gì đây, nên mới ẩn thân vào lớp áo dân chúng. Anh em mình theo sát, để có thể khám phá ra kịp thời.

Triệu Huy không biết bị người theo dõi, y thản nhiên len lỏi đi trong chợ. Qua chợ, y theo người kia đi vào một ngõ nhỏ. Ngõ chỉ vừa hai người đi. Hai bên là hai hàng dậu dăm bụt cắt xén cực kỳ tinh vi.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh theo bén gót bọn Triệu Huy. Đi hết hàng dậu dâm bụt, tới hàng dậu trúc, có cái cổng nóc lợp ngói. Người đi cùng Triệu Huy giật chuông. Cánh cổng mở. Hai người bước vào, cổng đóng lại.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nhìn trước, nhìn sau không có ai, hai người vọt mình qua hàng dậu trúc vào trong vườn. Một con chó vàng to như con nghé thấy hai người thì đứng xổ dậy định sủa. Thiệu-Thái móc tay vào miệng rít lên mấy tiếng như tiếng chó mừng. Con chó chạy lại vẫy đuôi.

Mỹ-Linh không ngạc nhiên, vì hồi đi cùng Bảo-Hòa, nàng đã thấy bà chị họ giả tiếng chó nhiều lần. Hôm ở Hồng-hương cốc, Thiệu-Thái cũng dùng tiếng loài chó, dụ được đàn chó của Cao Thạch-Phụng.

Mỹ-Linh núp vào dưới bụi hoa Mẫu-đơn, ghé mắt theo dõi bọn Triệu Huy. Còn Thiệu-Thái thì xoa đầu con chó.

Từ cổng vào, qua cái ngõ nhỏ lót bằng những viên đá xanh dày. Hai bên có hàng rào trồng bằng những cây ngâu. Ngâu đang độ hoa nở vàng ối hương thơm ngào ngạt. Hết ngõ, tới cái sân gạch vuông mầu gạch cua. Trong sân, hai chậu cảnh, cắt tỉa thành hình đôi hạc, cao hơn đầu người. Giữa tọa lạc cái bể cạn. Trên bể trồng trúc.

Sau sân sừng sững ngôi nhà ngói kiến trúc theo kiểu thời Văn-lang: bốn mái cong, lợp ngói đỏ. Giữa nóc, tượng một đôi hổ chầu ngọn lửa đỏ chói. Nhà làm trên nền khá cao. Từ sân phải leo lên chín bục mới tới hành lang. Bốn góc hành lang dựng thẳng bốn cột bằng ỗ lim, khảm xà cừ. Ánh sáng chiều vào xà cừ, phản chiếu ngũ sắc lung linh như ngọc. Sau lớp hành lang tới những cánh cửa rộng, lớn.

Từ trong nhà, một người quần trắng, áo dài xanh, đầu quấn khăn như Nho sinh bước ra. Y chắp tay hành lễ với Triệu Huy:

– Kính chào Triệu an phủ sứ. Tại hạ ngưỡng mộ uy danh an phủ sứ đã lâu. Hôm nay mới được diện kiến.

Mỹ-Linh nghe tiếng nói của người này, bất giác nàng rùng mình. Y chính là Trương Yêm, một tên quản gia của phụ vương nàng.

Nguyên niên hiệu Thuận Thiên tứ tư (1013), ông nội nàng thân cầm quân đánh dư đảng của Hồng-thiết giáo ở vùng Hạc-xác, Kim-hoa, Vĩ-long. Phụ vương nàng theo trong quân. Sau khi phá giặc, quan quân giải phóng một số tù binh bị gịăc bắt giam. Trong số tù binh đó có Trương Yêm. Trương Yêm cảm kích, nguyện một đời xin làm nô bộc cho phụ vương nàng. Thuận Thiên hoàng đế thấy Trương Yêm tinh khôn, biết võ công, có ý muốn phong cho y chức quan nhỏ. Nhưng y từ chối, muốn làm nô bộc trả nghĩa mà thôi. Dần dần y trở thành người quản gia. Y làm việc liên miên ngày đêm. Tỳ nữ, bộc phụ, vệ sĩ trong vương phủ đều kính trọng y.

Mỹ-Linh tự hỏi:

– Tại sao tên Trương Yêm này lại đi với Triệu Huy. Nghe nói, y không vợ, không con. Tại sao y lại có dinh cơ to lớn như thế này?

Triệu Huy vái dài:

– Hoàng Văn tiên sinh quá khen, làm tại hạ ngượng ngùng.

Mỹ-Linh kinh hãi:

– Không lẽ tên Trương Yêm này lại là Hoàng Văn, một trưởng lão khét tiếng độc ác của Hồng-thiết giáo?

Hoàng Văn mời Triệu Huy vào nhà. Mỹ-Linh nói nhỏ vào tai Thiệu-Thái:

– Anh leo lên cây chay kia ẩn thân, bảo vệ em. Để em nghe xem xem chúng bàn truyện gì nghe.

Thiệu-Thái không tâm vận sức vào hai chân, chàng nhún mình, vọt lên cành cây chay, ẩn vào chỗ lá rậm rạp, đưa mắt nhìn xung quanh. Không thấy có người, chàng bắt chước tiếng chim, hú sẽ ba tiếng. Mỹ-Linh phóng mình lên mái ngói. Nàng dùng chân móc vào mái nhà, rồi chuyền theo kèo, ghé mắt nhìn vào trong. Bất giác nàng ngẩn người ra.

Bên trong, hơn mười người, ngồi xung quanh cái bàn hình bầu dục. Người ngồi đầu bàn là Triệu Thành, cạnh y còn Đông-Sơn lão nhân, Địch Thanh, Vương Duy-Chính, Triệu Huy, lão họ Hoàng. Phía bên kia ba người mặc quần áo theo lối Bắc Biên của người Nùng. Một người cụt tay, tuổi đã già. Một người khoảng sáu mươi, thân thể hùng vĩ. Một người nàng đã biết mặt, đó là tên Lý Tự, thủ lĩnh châu Thất-nguyên, nằm giữa biên giới Ung-châu nhà Tống với Đại Việt. Ngoài ra còn môt ni cô, tuổi đã già, và một người đàn ông tuổi khoảng bẩy chục, mặt lúc nào cũng cúi gầm xuống.

Tên Trương Yêm đứng lên chắp tay hướng Triệu Thành hành lễ:

– Khải tấu vương gia, anh em thần tuy ở phương trời xa, lúc nào cũng mỏi mắt ngưỡng cổ nhìn về Bắc, mong đại quân Thiên triều, chỉ ngọn cờ xuống Nam, cùng nhau ra sức phò tá, để tỏ tấm lòng trung nghĩa. Thần xin trình với vương gia, các anh hùng hiện diện hôm nay.

Y chỉ vào người cụt tay:

– Vị này là thủ lĩnh mười châu vùng Quảng-nguyên, họ Nùng tên Dân-Phú. Nùng đại huynh võ công trác tuyệt. Hồi còn trẻ, một thanh kiếm chinh phục hết các sắc dân Nùng, thống nhất thành châu Quảng-nguyên. Trước kia, bản triều chưa lập, Nùng đại huynh khuất thân theo về Đại-lý. Từ khi đức Thái-tổ, Khải-vận, Lập-cực, Anh-võ, Duệ-văn, Thần-đức, Thánh-công, Chí-minh, Đại hiếu hoàng đế dựng nước, Nùng đại huynh là người đầu tiên gửi sứ thần về qui phục.

Mỹ-Linh cười thầm:

– Bọn hủ Nho nhà Tống nịnh chúa đến thế là cùng. Cái ông Triệu Khuông-Duẫn cướp ngôi của người ta, mà khi chết, họ chắp đến hai mươi chữ để gọi. Tại sao không gọi là Tống Thái-tổ có gọn không?

Nùng Dân-Phú đứng dậy, chắp tay hướng Triệu Thành hành lễ. Triệu Thành nở nụ cười nham hiểm. Hai mắt y tít lại:

– Nùng tên sinh có biết tại sao trước đây triều đình chưa phong chức tước cho tiên sinh không?

Vương Duy-Chính đáp:

– Thần đã gửi tấu chương về triều, nhưng chưa thấy chiếu chỉ ban ra.

Triệu Thành lắc đầu:

– Cô gia muốn giữ kín hành tung cho Nùng tiên sinh, nên lưu chiếu chỉ lại cho đến hôm nay, lát nữa cô gia sẽ tuyên đọc thánh chỉ phong chức tước cho Nùng tiên sinh. Chức tước của tiên sinh có đẳng cấp chính đáng, chứ không phải cái chức hàm làm thủ lĩnh mười châu của Đại-lý phong cho đâu. Bọn Đại-lý có mắt như mù, một nhân tài như Nùng tiên sinh mà chúng không phong cho lấy một chức quan xứng đáng.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

– Triều Tống nhân tài có hàng vạn, thế mà Triệu Thành lãnh đạo được, quả y có tài. Y chỉ nói mấy câu, vừa mua lòng bọn họ Nùng, vừa chia rẽ với Đại-lý. Gớm thật!

Triệu Thành tiếp:

– Tương lai, một giải Bắc Biên, triều đình sẽ phong cho Nùng tiên sinh làm vua. Con cháu đời đời kế nghiệp. Biết đâu, đời sau, con cháu hưng thịnh lên, cất quân chiếm Đại-lý, triều đình cũng sẽ phong cho. Bấy giờ đường đường một triều đại văn thành, võ đức, thua gì Lý Công-Uẩn?

Trương Yêm chỉ người to lớn ngồi cạnh Nùng Dân-Phú:

– Vị này là trưởng nam của Nùng đại huynh tên Tồn-Phúc. Hiện Nùng đại huynh tuổi hạc đã cao, cho nên mọi quyền hành mười châu đều do Tồn-Phúc thống lĩnh. Võ công Tồn-Phúc rất cao thâm. Năm trước đây, đấu với Đặng Đại-Khê chưởng môn phái Tản-viên hơn trăm chiêu, bất phân thắng bại.

Nùng Tồn-Phúc đứng dậy hành lễ.

Triệu Thành gật đầu:

– Đại-Khê là một trong Đại Việt ngũ long, mà Nùng huynh đấu ngang tay, thì bản lĩnh Nùng huynh đã đến chỗ tối cao vậy.

Mỹ-Linh nghe giọng nói Trương Yêm, nàng càng kinh ngạc:

– Nghe y nói, rõ ra giọng kẻ cả với Nùng Tồn-Phúc, ngang với Nùng Dân-Phú. Vậy trước khi theo phụ vương nàng, địa vị trong võ lâm của y không tầm thường.

Trương Yêm chỉ vào ni cô già:

– Vị này là Hoàng-Liên sư thái, sư thúc của Tịnh-Tuệ, chưởng môn phái Mê Linh.

Bọn Triệu Thành cùng bật lên tiếng “úi chà”. Vương Duy-Chính nói:

– Tại hạ ở Trung-nguyên nghe danh sư thái như sét nổ bên tai. Nào kiếm thuật vô địch Đại Việt, Đại-Lý. Nhất là hai cao đồ của người, nổi danh Hoàng-liên-sơn thần kiếm. Chưởng môn phái Mê Linh Tịnh-Tuệ, sư muội Tịnh-Huyền đều bại dưới tay hai vị. Sư thái ẩn trên tuyệt đỉnh Hoàng-liên-sơn đã lâu. Nay mới hạ sơn, phò tá thánh chúa.

Mỹ-Linh kinh hoàng nghĩ:

– Hôm trước đại hiệp Trần Tự-An bàn về phái Mê Linh có nhắc đến mụ Hoàng Liên này. Nghe nói hồi còn trẻ võ công mụ rất cao thâm, kiếm thuật thần thông. Hoa-Minh thần ni, sư phụ của thái cô Tịnh-Huyền bại dưới tay thị. Đáng lẽ thị được truyền chức chưởng môn, nhưng thị lại tằng tịu với chính nam đệ tử của mình. Việc bại lộ, thị bị khai trừ khỏi môn hộ. Thị tức giận bỏ lên núi Hoàng-liên-sơn thu nhận học trò, lập ra Hoàng-liên bang. Hoàng-liên bang qui phục Nhật-hồ lão nhân, đi lại trên giang hồ làm không biết bao nhiêu việc ác độc. Võ lâm Đại Việt nghe đến tên mụ đều táng đởm kinh hồn.

Hoàng-Liên cười:

– Hễ thánh thiên tử tỏa hào quang tới đâu, thì dù tiên, dù thánh cũng phải tuân theo.

Trương Yêm lại chỉ lão già to lớn:

– Vị này họ Đỗ tên Xích-Thập, sư thúc Đặng Đại-Khê.

Địch Thanh bật lên tiếng ái chà:

– Đỗ tiên sinh. Phải chăng trước đây tiên sinh chỉ đánh có ba chưởng, khiến vô địch thần quyền Giang-hạ bỏ mình chăng?

Đỗ Xích-Thập mỉm cười:

– Một chút tiếng tăm, không bõ cho Địch trạng nguyên cười.

Địch Thanh hướng Triệu Thành:

– Mừng cho vương gia. Đỗ tiên sinh chịu xuất động theo vương gia, thì không còn sợ gì Đại Việt ngũ long nữa.

Vương Duy-Chính chỉ vào Trương Yêm nói:

– Vị này họ Hoàng tên Văn, trước đây sang Trung-nguyên phò giúp Thiên-triều. Khi đến tuổi già, xin được về Giao-chỉ nghỉ ngơi, nhưng lúc nào cũng hướng về Trung thổ. Hoàng tiên sinh là đại diện của Bình-nam vương gia. Khi vương gia ban lệnh cho các vị, sẽ ban qua Hoàng tiên sinh.

Mỹ-Linh tỉnh ngộ:

– Thì ra Trương Yêm là người của Khu-mật viện nhà Tống cài vào Đại Việt cũng giống như Nguyên-Hạnh. Nguy thực. Y ở trong vương phủ, bất cứ động tĩnh gì của triều đình y cũng biết, rồi cung cấp cho Tống.

Đến đó bỗng Triệu Huy run run chây tay, mặt tái mét đi, dường như đau đớn lắm. Y lui lại phía sau, ngồi vận công. Hoàng Văn, Đỗ Xích-Thập, Hoàng Liên mặt tái mét đưa mắt nhìn nhau, rồi hỏi Triệu Thành:

– Vương gia. Triệu an phủ sứ bị bệnh gì vậy?

Triệu Thành thở đài:

– Cách đây hơn tháng, cô gia cùng sứ đoàn trên đường từ Thiên-trường về Thăng-long. Giữa đường gặp một bọn cướp. Chúng ta giao chiến với chúng, rồi bị trúng độc.

Hoàng-Liên mặt càng sợ hãi hơn:

– Sứ đoàn có bao nhiêu người bị trúng độc?

Triệu Thành thấy tình trạng dường như nguy kịch, y đáp gọn lỏn:

– Toàn thể. Nhẹ nhất là Minh-Thiên đại sư. Nặng nhất là Quách Quỳ.

Hoàng Văn cầm mạch Đông-Sơn lão nhân rồi hỏi:

– Có phải sau khi giao chiến khoảng một giờ, thì lão sư cảm thấy tay sưng lớn, ngứa ngáy, lẫn đau đớn vô cùng. Rồi từ hôm đó tới giờ cứ mỗi ngày lên cơn một lần không?

Đông-Sơn lão nhân chưa trả lời, thì Vương Duy-Chính, Địch Thanh đều lên cơn. Mặt tái mét, chân tay run rẩy, mồ hôi vã ra như tắm.

Đỗ Xích-Thập trầm tư một lúc rồi nói:

– Vương gia! Bọn đánh thuốc độc không thể là trộm cướp được. Bởi hắn biết xử dụng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Như vậy họ là đệ tử của Hồng-thiết giáo. Cứ như thần nghĩ, người có khả năng phát chưởng này, phải có công lực rất cao thâm. Như vậy điạ vị họ trong Hồng-thiết giáo không nhỏ. Giáo chúng Hồng-thiết giáo có thể giết lầm người chứ không bao giờ trộm cướp.

Triệu Thành gật đầu:

– Chúng tôi bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng ư? Tôi tưởng từ khi Quách Ngạn-Uy, Đỗ Ngạn-Tiêu chết rồi thì loại chưởng pháp kịch độc này bị thất truyền. Có ngờ đâu ngày nay vẫn còn người biềt xử dụng.

Nói rồi y tường thuật giản lược vụ giao chiến trên sông Hồng-hà cho Hoàng Văn nghe.

Bọn Hoàng Văn tuy làm tế tác cho Tống, nhưng chúng dấu nhẹm vụ chúng là trưởng lão trong hội đồng giáo vụ trung ương Hồng-thiết giáo. Hoàng Văn thì hoàn toàn lợi dụng Hồng-thiết giáo để phò trợ Tống. Ngược lại Đỗ Xích-Thập lại muốn mượn thế Tống, để làm giáo chủ. Còn mụ Hoàng Liên, là tình nhân của Xích-Thập. Mụ chẳng có chủ kiến gì.

Nghe Triệu Thành tường thuật, Hoàng Văn đưa mắt liếc Xích-Thập, rồi nói bâng quơ:

– Đúng thế thì ít ra người cầm đầu bọn giao chiến với vương gia phải có địa vị trưởng lão của Hồng-thiết giáo Trung-quốc hay Đại Việt.

Y hỏi lại Đông-Sơn lão nhân:

– Bọn này chỉ giao chiến rồi bỏ đi, hay có gì khác không?

– Có. Sau khi chúng đi, ta khám phá ra việc chúng trộm hết số vàng bạc, châu báu, cùng thơ tín tối mật của vương gia.

Việc lấy trộm sách, cũng như vàng bạc châu báu là do Thanh-Mai sai tráng sĩ Thiên-trường làm, chứ không phải bọn Đại-lý. Nhưng bọn Tống tưởng là bọn Đại-lý.

Triệu Thành là người nắm Khu-mật viện nhà Tống trong tay, gì mà y không hiểu những uẩn khúc của Hồng-thiết giáo Trung-quốc, Đại Việt. Trước khi sang Đại Việt, y đã nghiên cứu thực kỹ những người mà Khu-mật viện nhà Tống gửi sang làm gian tế.

Ghi chú

Nguyên tắc căn bản của phép dụng gián tức gián điệp của Hoa-Việt cổ thời có ba điều. Một là cô tác. Tức người nào, nhóm nào hoạt động chỉ mình người đó, nhóm đó với Khu-mật viện biết mà thôi. Tránh cho nhóm khác, người khác biết. Sợ khi bị lộ, thì chỉ mất một nhóm, để khỏi mất hết. Hai là nghịch hành. Nghiã là hành động ngược lại với chủ đích. Như gian tế Tống gửi sang Việt, phải tỏ ra thù hằn với Tống, không đội trời chung. Ba là nhu nhuyễn. Nhu nhuyễn là lúc nào cũng đóng vai hiền lành, dễ thương, để người xung quanh không bới móc, đễ yên thân.

Vì vậy y không cho nhóm Nguyên-Hạnh biết nhóm Hoàng Văn. Y biết rõ việc bang Nhật-Hồ Trung-quốc bị thất truyền thần công Hồng-thiết, hầu giải vĩnh viễn Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Ngay đến công thức chế thuốc giải, mỗi năm uống một lần, cũng thất truyền nốt. Chính vì vậy, mà Hồng-thiết giáo Trung-quốc chỉ có thể đánh người, làm cho người trúng độc. Bốn mươi chín ngày sau chết. Chứ chúng không thể cho thuốc giải, hầu bắt nạn nhân tuân theo mệnh lệnh chúng.

Khi Triệu Thành gặp Nguyên-Hạnh hỏi về công thức chế thuốc giải, y trả lời rằng người duy nhất biết là Đỗ Lệ-Thanh. Nhưng Lệ-Thanh chết rồi, thành ra y cũng bó tay.

Dọc đường từ Thanh-hóa về Trường-yên, Thiên-trường. Triệu Thành nghe nói Hồng-thiết giáo Trung-quốc sai người sang tìm tông tích Nguyên-Hạnh, Đỗ Lệ-Thanh. Bọn này còn đánh mấy chục thiếu niên Hồng-hương tử thương, mà Nguyên-Hạnh bó tay không trị được.

Xích-Thập đưa mắt hỏi Hoàng Văn:

– Dù người đánh là Hồng-thiết giáo Trung-quốc hay Đại Việt, thì thuốc chữa cũng giống nhau.

Đông-Sơn lão nhân thấy Xích-Thập nói vậy, lão biết bọn này có thể cứu lão. Lão nói với Triệu Thành:

– Xin vương gia nhờ Hoàng hầu trị cho.

Triệu-Thành khẩn thiết nói với Xích-Thập:

– Xin tiên sinh cứu cô gia cùng các bạn đây. Nguyện không bao giờ quên ơn.

Xích-Thập lấy ra hai bình thuốc. Một bình viên đỏ, một bình viên xanh để lên bàn:

– Nguyên Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng có hai loại. Đầu tiên Nhật-Hồ tiên sinh học Hồng-thiết độc chưởng trong Hồng-thiết kinh. Loại chưởng này đánh trúng ai, mỗi ngày lên cơn một lần khoảng hai giờ, đau đớn cùng cực, rồi trong bốn mươi chín ngày chết. Nếu uống thuốc giải, thì khỏi. Nhưng lần sau bị trúng chưởng, vẫn đau đớn như thường. Còn nếu dùng Hồng-thiết thần công giải chất độc, sau này có trúng độc nữa, cũng không sao.

Y bắt mạch Triệu Thành, tiếp:

– Nhật-Hồ lão nhân học Hồng-thiết kinh, rồi trở về Trung-thổ, phối hợp với chất độc của sâu, bọ, rắn rết chế ra Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng, truyền tại Trung-quốc. Nếu trúng loại chưởng này, không trị, mỗi ngày lên cơn một lần, trong bốn mươi chín ngày cũng chết. Còn nếu dùng thuốc giải chỉ khỏi một năm mà thôi. Hàng năm phải uống thuốc giải một lần. Bằng không lại cũng lên cơn mà chết.

Đông-Sơn lão nhân hỏi:

– Thế sau khi uống thuốc giải, nếu trúng độc nữa, có bị đau đớn không?

– Bị như thường. Còn nếu dùng Hồng-thiết thần công hoá giải chất độc, thì hàng năm không phải uống thuốc nữa.

Y móc trong bọc ra viên thuốc xanh:

– Đây là thuốc giải Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng Trung-quốc.

Tần ngần một lát rồi y tiếp:

– Sau này Nhật-Hồ tiên sinh về Đại Việt, cải biến Nhật-hồ Chu-sa độc chưởng thành Ngũ-độc Nhật-hồ chu sa chưởng. Ai trúng chưởng, thì mỗi năm phải uống thuốc giải một lần. Không có thuốc giải, chết sau bốn mươi chín ngày. Nhưng dù uống thuốc, mỗi tháng lên cơn một lần, đau đớn khủng khiếp trong hai giờ. Còn như dùng Hồng-thiết thần công giải độc hàng tháng không đau nữa. Hàng năm không phải uống thuốc giải.

– Nhưng sau này có trúng độc lại không?

– Có.

Xích-Thập đưa cho Triệu Thành năm viên thuốc mầu xanh:

– Vương gia phân phối cho các vị đây uống. Nếu khỏi hẳn, thì người đánh là bọn Hồng-thiết Trung-quốc. Nếu trong vòng một tháng, thấy lên cơn, ắt do bọn Hồng-thiết Đại Việt đánh, mỗi vị cần uống một viên thuốc đỏ này.

Triệu Thành phân phân phát thuốc cho cả bọn uống. Địch Thanh, Triệu Huy, Vương Duy-Chính vận khí nuốt thuốc vào khoảng nhai dập miếng trầu, cơn đau tan biến hết. Chúng xúm vào tạ ơn Hoàng Văn với Đỗ Xích-Thập.

Triệu Thành hỏi:

– Hoàng quân hầu, người biết chế thuốc này ư?

Hoàng Văn vốn là quân lưu manh. Y nghĩ thầm:

– Tội gì mà khai với Triệu-Thành. Để Thành biết chế thuốc, mình đâu còn được trọng dụng nữa?

Y trả lời lấy lệ:

– Thưa vương gia, tiểu tướng dùng tiền bạc, mua được hai bình này của giáo chúng Hồng-thiết giáo.

Triệu Thành tinh tế hơn:

– Như vậy Hồng-thiết giáo Đại Việt còn biết cách chế thuốc giải. Nếu Hoàng hầu có thể dùng thực nhiều tiền bạc mua công thức chế thuốc về cho Khu-mật viện thì hay biết bao. Nếu ai cung cấp được đơn chế thuốc. Cô gia sẽ tâu lên thiên tử phong cho tước vạn hộ hầu, thưởng vàng vạn lượng.

Hoàng Văn kính cẩn:

– Thần nguyện sẽ cố gắng.

Triệu Thành hắng rặng một tiếng rồi kéo mọi người trở về với kế hoạch:

– Cô gia nhận chỉ dụ từ thiên tử, sang kinh lược Giao-chỉ, Chiêm-thành, Lão-qua, để chính đốn lại vùng Nam-biên. Khi cô gia sang, mới biết Lý Công-Uẩn lộng hành, phạm thượng. Thứ nhất y chỉ được phong Nam-bình vương, kiểm hiệu thái sư, coi quận Giao-chỉ. Thế mà y tiếm xưng hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Tội này không thể tha. Đất Giao-chỉ là một quận của Thiên-triều, thế mà y tự xưng quốc hiệu Đại Việt. Đó là hai tội không thể tha thứ. Trước đây, nhân Lê Long-Đĩnh hoang dâm quá độ qua đời. Công-Uẩn chỉ là tên tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ, nhân chúa mới chết, con còn thơ, cướp sự nghiệp của họ Lê. Ba điều không thể dung thứ.

Y ngừng lại, bưng chén nước trà uống rồi tiếp:

– Cô gia được chỉ dụ toàn quyền giải quyết mọi sự ở Nam biên. Nếu Thiên-triều không trị tội Lý Công-Uẩn, thì các xứ man di sẽ theo đó làm loạn. Bọn gian thần tặc tử từ đó nảy lòng lang dạ thú, làm điều nghịch thiên như bọn Vương Mãng, Tào Phi ở Trung-quốc.

Y đập tay xuồng bàn:

– Mấy hôm nữa, trước anh hùng đại hội đất Giao-chỉ, cô gia sẽ lớn tiếng trách mắng Lý Công-Uẩn, làm cho y không còn uy thế. Sau đó cô gia bắt y bỏ quốc hiệu, niên hiệu. Không phải cô gia có ý đè nén người Việt. Mà cô gia chỉ muốn cho sĩ dân Giao-chỉ biết Lý Công-Uẩn không xứng đáng cai trị đất này. Nếu Lý Công-Uẩn biết cái họa diệt tộc, phải trả ngôi vị cho con cháu nhà Lê. Khi con cháu nhà Lê trở lại, biết thần phục Thiên-triều, chăm lo chăn dắt muôn dân, bấy giờ cô gia tâu với Thiên-tử cho dùng niên hiệu, quốc hiệu.

Y đưa mắt nhìn cử tọa một lượt, rồi tiếp:

– Cô gia gặp các vị hôm nay để bàn kế hoạch tách võ lâm Giao-chỉ với họ Lý, cùng khuông phò con cháu Lê Hoàn.

Đỗ Xích-Thập hỏi:

– Thưa vương gia, không biết vương gia đã tìm ra con cháu của Lê Hoàn chưa? Hiện họ ở đâu?

Triệu Thành đưa mắt cho Vương Duy-Chính. Duy-Chính mỉm cười:

– Vương gia dốc tâm hưng diệt, kế tuyệt, đã tìm ra con trai thứ năm của Lê Hoàn tên Long-Mang, trước đây được phong Nam-quốc vương.

Đỗ Xích-Thập mở to mắt:

– Vương gia mới sang đây chưa đầy một năm, mà đã thành công như vậy sao? Thần ra công tìm kiếm năm năm liền, mà không ra tông tích bất cứ con cháu xa nào của Lê Hoàn thôi chứ đừng nói Lê Long-Mang. Y hiện ở đâu?

Trừ đám tùy tùng của Triệu Thành, còn lại cử tọa đều kinh ngạc vô cùng. Vương Duy-Chính chưa trả lời ngay vào câu hỏi:

– Long-Mang hiện là một người có võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Uy tín, ân đức của y bao trùm khắp Giao-chỉ, Quảng-tây, Quảng-đông. Đệ tử của y hành sự khắp nơi.

Ni sư Hoàng Liên chau mày suy nghĩ, rồi lắc đầu:

– Võ lâm Giao-chỉ bần ni biết hết. Bàn về võ công thì ngoài Đại Việt ngũ long ra còn Nùng sư huynh. Đỗ sư huynh đây. Long-Mang là ai? Không lẽ y là người của Hồng-thiết giáo?

Vương Duy-Chính mỉm cười:

– Sư thái nghĩ kỹ xem.

– Còn hai lão gìa Sùng-Phạm với Bố-Đại của phái Tiêu-Sơn, hai vị này không thể là Long-Mang.

Đỗ Xích-Thập chợt kêu lên:

– Thôi đúng rồi, y chính là Hồng-Sơn đại phu.

Triệu Thành đáp gọn lỏn:

– Đúng thế!

Hoàng Liên cất giọng the thé như xé lụa:

– Thôi Lý Công-Uẩn ơi, phen này mi chết nhé. Hồng-Sơn đại phu ơn đức trải khắp nơi, đệ tử đông, mỗi người coi một cơ sở. Ông ta cất tay một cái thì tên chăn trâu họ Lý rồi đời.

Triệu Thành bỗng đứng lên dõng dạc nói:

– Có thánh chỉ của đức kim thượng. Tất cả quì xuống.

Từ Đông-Sơn lão nhân cho tới Đỗ Xích-Thập đồng quì xuống, hướng về phương Bắc. Triệu Thành lấy trục giấy trong cái ống đeo sau lưng xuống. Y mở ra đọc lớn:

Thừa thiên hưng vận Thiên-thánh hoàng đế nhà Đại Tống chiếu phong
Cho các đại thần Nam-biên đã dày công khuông phò xã tắc:

Nùng Dân-Phú
Kiểm hiệu thái bảo,
Quảng-Nguyên tiết độ sứ.
Vạn-nhai hầu.
Thực ấp nhị thiên hộ.
Thực phong nhất thiên hộ.

Nùng-tồn-Phúc
Tuần kiểm thiếu bảo,
Quảng-nguyên chiêu thảo sứ.
Thực ấp nhất thiên hộ,
Thực phong ngũ bách hộ.

Cha con họ Nùng quì gối lạy tám lạy tạ ơn.

Bọn Vương Duy-Chính, Địch Thanh xúm vào chúc mừng cha con họ Nùng. Triệu Thành nói với Hoàng Liên, Đỗ Xích-Thập, Hoàng Văn:

– Cô gia mong các vị lập công, trong việc phù Lê diệt Lý, sau đó ấp phong các vị sẽ ở quanh Thăng-long chứ không phải ở miền Bắc. Cái chức tể tướng triều Lê không ai ngoài Xích-Thập. Thái úy tổng đốc quân mã dành cho Hoàng Văn. Vua Bà Bắc Biên nhất định là sư thái Hoàng Liên.

Hoàng Văn vẫy tay. Từ trong nhà, sáu thiếu nữ quần áo lụa xanh, tha thướt bưng ra sáu cái khay đựng đồ ăn, bầy sang bàn bên cạnh.

Mỹ-Linh lại kinh hoảng. Vì sáu thiếu nữ đó trước đây đều là cung nga hầu hạ trong phủ Khai Thiên Vương. Nhân đến tuổi hai mươi hai, phụ vương nàng cho về lấy chồng. Không hiểu sao nay lại là tỳ nữ của Hoàng Văn?

Hoàng Văn đứng lên nói:

– Vương gia cùng các vị giá lâm tệ trang, tiểu nhân xin kính thỉnh dùng bữa cơm lạt, gọi là làm duyên.

Cả bọn đứng lên, sang bàn bên cạnh. Triệu Thành được mời vào ghế chủ vị. Kế đó đến Vương Duy-Chính, Đông-Sơn lão nhân, Địch Thanh, rồi mới tới bọn Nùng. Thấp nhất là Đỗ Xích-Thập.

Hoàng Văn cầm bình rượi đưa lên cao nói:

– Đây là rượu cất bằng nếp than. Uống vào không hại người, mà còn bổ đưỡng. Trong bình rượu này ngâm chín con tắc kè đực. Rượu nếp than ngâm với tắc kè vùng Thanh-hóa nổi tiếng bổ thận tráng dương.

Nói rồi y rót rượu mời khách. Triệu Thành cầm chung rượu dơ cao lên:

– Mời các vị. Chung rượu này chúc các vị thành công.

Mọi người nâng chung rượu uống.

Vương Duy-Chính hỏi Hoàng Văn:

– Hoàng quân hầu. Quân hầu đã cắt người canh gác cẩn thận chưa? Trước khi bàn đến mật kế, có cần đi kiểm soát lại xung quanh nhà không?

Hoàng Văn cười:

– Vương chuyển vận sứ đừng lo. Quanh nhà này, tôi cho phục một đội mười con chó. Ngoài các ngả vào đây đều có người canh gác cẩn thận.

Mỹ-Linh cười thầm:

– Thế nhưng chó của mi lại không cắn bọn ta mới tuyệt.

Tuy nghĩ thế, nàng cũng phải qui tức thật cẩn thận, vì với bản lĩnh bọn Hoàng Liên, Đỗ Xích-Thập, Đông-Sơn lão nhân, nàng chỉ cần thở nhẹ một tiếng, là chúng khám phá ra ngay. Dù nàng có bản lĩnh nghiêng trời lệch đất, e cũng không thoát khỏi tay chúng.

Vương Duy-Chính hắng rặng một tiếng rồi nói:

– Chỉ còn mấy ngày nữa là đại hội võ lâm. Không biết mục đích đại hội là gì? Ai đứng ra tổ chức.

Hoàng Liên khúm núm:

– Lệ từ hơn trăm năm nay, mỗi năm một trong bẩy môn phái đứng ra tổ chức một lần. Năm nay đến lươt phái Mê Linh. Địa điểm là bãi Hội-phụ, Lê-xá, Thị-thôn. Chương trình không có gì đặc biệt. Điểm chính là tế Bắc-bình vương Đào Kỳ cùng vương phi Nguyễn Phương-Dung. Sau đó, tới phần tuyển ngũ anh, ngũ hùng, ngũ hào và ngũ kiệt. Đặc biệt đại hội năm nay, các tôn sư võ phái xét lại vấn đề ngôi vua Đại Việt.

Triệu Thành ngơ ngác:

– Cuộc thi võ ra sao?

– Võ lâm Đại Việt định rằng, mỗi phái được cử ra năm người theo thứ tự võ công cao bậc nhất, nhì, ba, tư, năm. Những thí sinh bậc nhất sẽ tranh đấu với nhau. Cuối cùng tuyển năm người võ công cao nhất là Ngũ-anh. Sau đó tuyển tới năm người bậc nhì là Ngũ-hùng, năm người bậc ba là Ngũ-hào, cuối cùng là Ngũ-kiệt. Tất cả hai mươi lăm người trúng cách, đều đươc bổ dụng vào các chức võ quan của triều đình.

Đông-Sơn lão nhân khen:

– Sáng kiến này hay đấy. Nhưng ai sẽ là giám khảo, trọng tài?

Hoàng Liên hỏi Hoàng Văn:

– Quân hầu, người có biết không? Bần ni ở trên tuyệt đỉnh Liên-sơn, không rõ cho lắm.

Hoàng Văn thở dài:

– Sáng kiến này của Vạn-Hạnh quốc sư. Kể từ khi Lý Công-Uẩn lên cầm quyền. Mục đích cung ứng nhân tài cho triều đình. Giám khảo bao giờ cũng có ba người. Một người đo phái võ đứng tổ chức cử ra. Năm nay là phái Mê Linh. Một người do thái-úy cử ra. Như vậy năm nay sẽ do tên ôn con Lý Long-Bồ đề cử. Một người do quốc sư cử ra. Quốc sư hiện thời là Minh-Không, sư huynh của Lý Công-Uẩn. Còn luật lệ, mỗi năm do binh bộ thượng thư đưa ban hành ra. Thể lệ sẽ công bố trước khi đấu.

– Những ai được quyền ứng thí? Ai không được quyền ứng thí?

– Một là do môn phái cử ra, cũng có người không do môn phái cử ra. Những người này phải tới binh bộ thi sơ tuyển. Năm nay nghe đâu số thí sinh tự do tới hai mươi người. Bất cứ ai cũng có quyền ứng thi hết.

Triệu Thành ngồi bật dậy:

– Làm thế nào chúng ta cho một số đệ tử trà trộn vào thi. Sau khi trúng tuyển sẽ nắm binh quyền trong tay. Lúc hữu sự tiện biết bao?

Hoàng Văn gật đầu:

– Vương gia thực minh kiến. Bọn tiểu nhân đã tính đến việc đó rồi. Trong hai mươi người thi tự do, có mười người của bọn thần. Trong đó đệ tử của thần chiếm bốn. Đệ tử của Nùng tiết độ sứ chiếm hai. Đệ tử của Hoàng Liên sư thái chiếm bốn. Đệ tử của Đỗ huynh chiếm hai.

Triệu Thành hài lòng. Y gật đầu tỏ ý khen tặng. Hoàng Văn tiếp:

– Đầu tiên giờ Dần ngày mười rằm, chưởng môn nhân các phái đến trước bàn thờ dâng lễ, dâng hương. Sau đó ai về chỗ người ấy. Tiếp theo là tế. Đến giờ Ngọ thì Lý Công-Uẩn đến dâng hương, cùng lễ vật. Sau đó ngừng. Hôm sau anh hùng đến Cổ Loa xem duyệt binh. Đến chiều Lý Công-Uẩn đãi tiệc cùng bàn quốc sự. Ngày thứ ba thi võ. Thi võ cũng tại Cổ Loa.

Vương Duy-Chính nói với Triệu Thành:

– Thưa vương gia, vậy chúng ta sẽ phá đại hội này như sau. Khi chưởng môn các môn phái đến dâng hương, chúng ta xuất hiện với tư cách quan khách. Hoàng Liên sư thái, chỉ trích Tịnh-Tuệ không đử đức cũng như tài làm tôn sư. Sau đó sư thái đánh bại Tịnh-Tuệ, đoạt bắt y suy cử làm tôn sư. Đỗ Xích-Thập tiên sinh cũng xuất hiện, đánh bại Đặng Đại-Khê chiếm quyền đại tôn sư phái Tản-viên. Thế là trong Đại Việt ngũ long, ta có hai, đương nhiên thêm Trần Tự-An phái Đông-a, Hồng-Sơn đại phu phái Sài-sơn theo ta. Chúng ta bốn người, trong khi Minh-Không cô độc.

Triệu Thành khoan khoái vỗ vai Vương Duy-Chính:

– Mưu kế tuyệt vời.

Vương Duy-Chính tiếp:

– Khi Đại Việt ngũ long họp nhau bàn quốc sự, vương gia đứng lên trách Lý Công-Uẩn về việc tiếm quốc hiệu Đại Việt, tiếm xưng hoàng đế. Tất nhiên Công-Uẩn phải lùi bước, xin bỏ quốc hiệu, niên hiệu. Đến đây vương gia rời gót ra đi. Khi vương gia lui rồi, thì Hoàng Liên sư thái, Đỗ Xích-Thập sư huynh đứng lên thống mạ Công-Uẩn hèn hạ, làm nhục quốc thể, yếu cầu Đại Việt ngũ long bắt y thoái vị. Đương nhiên Trần Tự-An, Lê Long-Mang khoan khoái cùng ép Công-Uẩn. Thế là mọi sư thành công tốt đẹp.

Trên xà nhà Mỹ-Linh nghe bọn gian bàn kế, nàng nhủ thầm:

– Hỏng bét rồi. Như vậy thì ông mình sẽ phải trả ngôi cho Hồng-Sơn đại phu. Không biết chú hai sẽ giải quyết ra sao.

Bỗng Triệu Huy lại kêu lên tiếng ái chà. Mặt y đỏ phừng phừng như người say rượu. Đỗ Xích-Thập chạy lại bắt mạch. Triệu Thành hỏi:

– Cái gì vậy?

– Triệu an phủ sứ bị trúng thêm một thứ phấn độc qua đường hô hấp nữa. Thứ phấn này tác dụng hơi giống Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng.

Vương Duy-Chính ngồi xổm dậy:

– Vậy thì bọn giao chiến với chúng ta thuộc bang Nhật-hồ Trung-quốc. Đúng rồi. Tôi nghe đám đệ tử Nguyên-Hạnh cũng bị trúng thứ phấn này. Có bọn chết. Có bọn còn bị bệnh. Riêng bọn bị trúng trên núi Dục-thúy không hiểu sao tự nhiên khỏi.

Mỹ-Linh cười thầm:

– Cái đó thì sai. Bọn bị trúng độc trên núi Dục-thúy do chị Bảo-Hòa, Thanh-Mai cho thuốc giải.

Vừa lúc đó cả bọn Triệu Thành đều có hiện tượng giống Triệu Huy. Chúng nghiến răng ngồi vận công chống độc. Trong khi đó bọn Hoàng Văn lăng xăng chay đi chạy lại. Hơn giờ sau, cơn đau tự biến mất.

Đỗ Xích-Thập thở dài:

– Như vậy bang Nhật-hồ trung quốc chế ra lối phóng độc mới bằng phấn. Không biết có tác dụng giống như Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng hay khác? Điều quan trọng, chúng ta phải tìm ra bọn này, đòi thuốc giải. Bằng không thì nguy lắm.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 96412
Has thanked: 35581 times
Have thanks: 48791 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: June 12th, 2018, 1:56 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Postby DaMinhChau » August 7th, 2017, 2:30 pm


Hồi thứ bốn mươi tám

Thiên Hạ Qui Tâm


Hoàng Liên hỏi Triệu Thành:

– Vương gia. Nhược bằng Lý Công-Uẩn bất chấp luật lệ võ lâm, y cho thiết kị bao vây, bắt hết anh hùng võ chặt đầu thì hỏng bét. Vương gia thử nghĩ coi, tỷ như bên Đại-tống, chỉ cần một người nào đó là mối lo ngại, đe dọa cho triều đình, ắt vương gia đã đem quân bắt cả nhà y chặt đầu. Nay bên Đại Việt, Lý Công-Uẩn không lẽ không làm được việc đó?

Nùng Dân-Phú cũng nói:

– Huống hồ trước đây Lê Ngọa-triều dùng hình pháp cai trị dân. Y muốn giết ai thì giết, mổ bụng đàn bà đẻ làm trò vui, chặt dao vào đầu tăng ni để tiêu khiển, đốt người trên cột đồng lấy làm khoan khóai, trói người nhìn nước lên cho chết ngộp giải khuyây. Ngược lại Công-Uẩn là đệ tử yêu của Bồ-tát Vạn-Hành, con nuôi Bồ-tát Lý Khánh-Vân. Y được nuôi dạy trong núi Tiêu-sơn từ nhỏ. Tính tình y cẩn trọng, văn mô, vũ lược, võ công không thua Đại Việt ngũ long. Khi lên ngôi vua, y đại xá cho cả nước, nhà tù trống rỗng. Kế đó y cho triệt bỏ hết hình phạt khắc nghiệt đo luật vua Đinh để lại như chặt tay, cho cọp ăn thịt, nấu vạc dầu. Trong mười bẩy năm trị vì, không có một án tử hình nào. Y cho ai có việc oan ức, đến trước điện Càn-nguyên đánh trống khiếu nại. Đích thân y sẽ xử vụ kiện đó. Vì vậy dân chúng ca tụng y đức không kém vua Hùng, vua Trưng.

Đỗ Xích-Thập thở dài:

– Tháng hai năm Thuận Thiên nguyên niên (1010) y về thăm châu Cổ-pháp là cố hương. Y đem lụa phát cho các bậc kỳ lão. Rồi y ban chiếu rằng trong toàn quốc, bất kỳ nam, nữ, ai tới tuổi sáu mươi đều được ban lụa. Ai đến tuổi bẩy mươi, sẽ được triều đình ban lụa may áo đỏ, ngồi trên bục cao, con cháu phải làm lễ tế sống. Tháng bẩy, y xuất khố hai vạn quan tiền, lập tám cảnh chùa.

Triệu Thành đưa con mắt nghiêm khắc nhìn Vương Duy-Chính. Vương kinh sợ run người lên. Thành hỏi:

– Vương chuyển vận sứ, những tin này người có biết không? Tại sao trong các biểu tâu trình về tình hình Giao-chỉ không nói tới?

Vương Duy-Chính lạnh người, y nói lắp bắp:

– Khải tấu… vương… vương gia. Những truyện nhỏ nhặt đó, thần biết hết, nhưng không tâu về triều.

Sự thực không phải Vương-duy-Chính bỏ qua những chi tiết đó. Y từ chân đậu tiến sĩ xuất thân, nên những việc làm của vua Lý Thái-tổ để thu phục nhân tâm, y cố tình che dấu, có như vậy triều Tống mới quyết tâm theo đề nghị của y, xua quân chiếm Đại Việt. Y nghĩ, với tài kiêm văn võ của y, nếu triều đình đánh Đại Việt, y sẽ được cầm quân. Chiếm xong Đại Việt, thì cái tước công, tước vương khó chạy khỏi tay. Cho nên y luôn tâu về triều những xấu xa của Đại Việt. Do thế Triệu Thành cứ tưởng vua Lý Thái-tổ là người đi ở chăn trâu cho chùa, chứ không có tài có đức gì.

Qua lời thuật của Hoàng Liên, Đỗ Xích-Thập, Hoàng Văn hôm nay, trong lòng y đã nảy ra những khâm phục đối với vua Lý.

Y hỏi Hoàng Văn:

– Hoàng hầu, người đem tất cả những công việc Lý Công-Uẩn đã làm từ khi lên ngôi vua đến giờ thuật cho cô gia nghe. Tám ngôi chùa đó là chùa nào?

Hoàng-Văn không giám dấu diếm:

– Trong thành Thăng-long dựng tám cảnh chùa. Sau đó còn xay thêm chùa Hưng-thiên, Vạn-tuế. Ngoài thành dựng chùa Thắng-nghiêm, Thiên-vương, Cẩm-uy, Long-hưng, Thánh-thọ, Thiên-quang, Thiên-đức. Đã hết đâu, các chùa đổ nát, y xuất công nho tu bổ hết.

Triệu Thành gật đầu:

– Như vậy Lý Công-Uẩn có tài đế vương. Bên nhà Đại-tống ta dùng Nho để lập kỷ cương cai trị thiên hạ. Bên Đại Việt, Phật giáo ăn sâu vào quần chúng, y xuất thân đệ tử một cao tăng, con nuôi một cao tăng, đó là một điều y thu được nhân tâm. Mới lên ngôi, bỏ hình pháp hà khắc cho dân, tức đem lòng nhân thay bạo tàn. Hai điều y thu phục được nhân tâm. Hành động này y bắt chước vua Cao-tổ nhà Hán. Khi Cao-tổ đánh chiếm Hàm-dương, người cho bãi bỏ luật Tần Thủy-Hoàng, ban ước pháp ba chương, dân chúng các nơi hướng về ngài hết. Y lại giữ nguyên họ Lý của nghiã phụ, đó tỏ ra người đại hiếu, đại nghĩa. Người theo Nho, theo Phật đều khâm phục y. Ba điều y thu được nhân tâm. Y bỏ tiền xây chùa, tu bổ chùa, để dân chúng các nơi có chỗ lễ bái, đến chùa nghe kinh, tức nhiên giữ đạo đức. Đó là cách dạy dân của đế vương.

– Cũng năm này, tháng bẩy, y xá thuế ba năm cho cả nước. Tha thuế cho người còn nợ mấy năm trước. Tháng tám độ cho hơn ngàn người làm sư, phát ra một nghìn sáu trăm tám mươi lạng bạc đúc quả chuông lớn treo ở chùa Đại-giác.

Triệu Thành vỗ đùi đánh đét một cái:

– Trong lịch sử các đế vương, vị nào không tăng thuế đã được khen đại minh quân. Đây không những không tăng, còn xá thuế nợ cũ, xá thuế ba năm liền. Thế, không thu thuế, y lấy tiền đâu chi dụng trong nước?

Hoàng Văn móc trong túi ra cuốn sách nhỏ, đọc:

– Y đặt ra năm điều tiết kiệm. Một, không trả lương cho quân, mà cấp ruộng. Ai đi lính, được cấp ruộng, tùy theo đẳng trật. Lính trơn được hai mẫu ruộng khỏi nộp thuế. Hai, cho cung nga, thái giám về dân dã làm ăn, nên chi dụng trong hoàng cung tiết giảm rất nhiều. Ba, cấm các hoàng hậu, thân vương, công chúa cùng các quan dùng dân, lính làm tôi tớ. Bốn, cấp ruộng cho hoàng hậu, cung nga, vương thân, chứ không phát tiền. Năm, cấm các quan tiệc tùng, đình đám.

Triệu Thành gật gật đầu:

– Không trả lương, mà cấp ruộng có hai điều lợi. Thứ nhất, bắt buộc quan lại, quân lính ngoài thời gian làm việc, phải canh tác. Thứ nhì, sản lượng trong nước tăng. Không ngờ Lý Công-Uẩn lại giỏi vậy. Việc y độ cho hơn nghìn người làm sư. Đương nhiên các sư đó trở thành người thân tín của y. Các sư trụ trì ở chùa, hàng ngày dạy dỗ dân chúng lương thiện, làm cho kỷ cương trong nước được trọng. Các sư đó nhớ ơn y, sẽ không tiếc lời ca tụng y. Dân chúng lại kính trọng y hơn. Hà… không biết trong nước hiện có mấy thứ thuế?

Hoàng Văn đáp:

– Niên hiệu Thuận Thiên thứ tư (1013), tháng hai, y ban hành chiếu qui định sáu thứ thuế. Một, thuế đầm, ao, ruộng, đất. Hai, thuế bãi dâu. Ba, thuế sản vật ở núi rừng. Bốn, thuế mắm, muối. Năm, thuế sừng tê, ngà voi, hương liệu. Sáu, thuế gỗ, hoa quả. Y qui định rất chi tiết như thuế ruộng, chia làm mười loại khác nhau mà thu. Ruộng đất của binh lính, quan võ được miễn thuế. Ngược lại của hoàng hậu, thái tử, công chúa vẫn phải nộp. Chùa, đền miễn thuế.

Địch Thanh nhìn Triệu Thành:

– Vương gia, đúng như vậy thì thuế Giao-chỉ quá nhẹ. So với Trung-quốc không có thuế đinh. Thuế đinh thường gây oán hận trong dân chúng rất nhiều. Y lại không đánh thuế trâu, bò, gia súc. Dân chúng sẽ thi nhau chăn nuôi. Như thế nước mau giầu lắm. Lại không đánh thuế các nhà buôn, hầm mỏ. Chắc chắn hầm mỏ được khai thác mạnh. Dân càng mau giầu.

Triệu Thành dục Hoàng Văn:

– Người kể tiếp đi.

– Niên hiệu Thuận Thiên thứ mười lăm (1014) tháng chín, phát 310 lạng bạc trong kho, đúc chuông treo ở chùa Hưng-thiện. Tháng mười xuất tám trăm lạng bạc đúc chuông treo ở chùa Thắng-nghiêm và lầu Ngũ-phụng. Niên hiệu Thuận Thiên thứ bẩy (1016) được mùa to. Dân chúng giầu có, no ấm, Công-Uẩn không nhân dân trúng mùa thu thêm thuế, trái lại năm sau (1017) y xuống chiếu tha thuế ruộng cho cả nước.

Đông-Sơn lão nhân vỗ bàn:

– Giỏi. Y thấy trúng mùa, sợ dân lười không làm việc. Y xá thuế khen thưởng. Dân sẽ nghĩ phải làm sao cho trúng mùa nữa để được xá thuế nữa. Khôn! Khôn thực!.

– Niên hiệu Thuận Thiên thứ chín (1018), y tha nửa thuế ruộng cho cả nước. Năm thứ mười lại độ dân làm sư, bỏ tiền trong kho đúc chuông chùa Hưng-thiện, Đại-giáo, Thắng-nghiêm. Năm thứ mười lăm (1024) y bỏ tiền riêng của mình xây chùa Chân-giáo trong thành Thăng-long. Cũng năm này, tháng mười, y ban chiếu, những người trên năm mươi tuổi, không có con, cháu, được cấp tiền, gạo, vải , giao cho các xã phải trông coi, nuôi dưỡng. Nhà nào có từ bốn con trở đi, dưới tuổi mười sáu, mỗi con được miễn thuế một mẫu ruộng. Nhà nào nghèo, xuất kho cấp gạo, vải sao cho đủ ăn, đủ mặc. Y lập mỗi huyện một y viện. Mỗi xã có thầy lang săn sóc dân chúng.

Triệu-Thành hừ một tiếng, rồi tiếp:

– Thảo nào ta đi khắp nước, thấy toàn nhà ngói, không thấy ăn mày, dân chúng giầu có sung túc. Họ làm ruộng từ sáng tinh mơ cho đến tối mịt. Lý Công-Uẩn được lòng dân như vậy, mà bây giờ hạ y xuống thực khó thay. Làm sao bây giờ? Triều đình thấy phía Bắc có bọn Kim, Liêu, phía Tây bọn Tây-hạ, Thổ-phồn mạnh, nên bỏ không muốn đánh các nước này, giao cho ta nghiên cứu đánh Giao-chỉ. Tình hình này đánh cũng dở, bỏ lại tiếc. Làm sao đây?

Y đưa mắt nhìn Vương Duy-Chính. Hàn quang của y làm Vương lạnh người. Y rùng mình nghĩ:

– Mình những tưởng vì thiên tử lập đại công, mở mang bờ cõi xuống Nam, nên trong biểu tâu trình, mình dấu một số sự việc. Đợi khi triều đình đã gây hấn với họ Lý, việc đã rồi. Nay tuy vương gia chưa ra mặt, nhưng kế hoạch đã chuẩn bị đầy đủ. Chỉ còn mấy ngày nữa, giữa anh hùng đại hội, vương gia ép Lý bỏ quốc hiệu, niên hiệu nữa, coi như công nhiên khai chiến. Bấy giờ triều đình có muốn lui, thì giữa Giao-chỉ với Tống coi như thù hận không lấp nổi. Mình phải nói mấy câu, cho vương gia bước tới bước nữa mới xong.

Nghĩ vậy, y hướng vào Triệu Thành:

– Vương gia. Từ trước đến nay, anh hùng, hào kiệt Giao-chỉ sở dĩ được dân chúng khâm phục, không phải ở việc xây chùa, đúc chuông, mà ở việc lập được võ công. Thời An-Dương có Lý Thân, Cao Nỗ, Vũ Bảo-Trung. Thời Đông-hán có Trưng Trắc, Trưng-Nhị. Thời Tam-quốc có Triệu-Ẩu. Sau này có Lý Bôn, Dương Diên-Nghệ, Ngô Quyền, Đinh Bộ-Lĩnh, Lê Hoàn. Đây Lý Công-Uẩn không có gì cả. Y chỉ nhân chúa chết, con còn dại, dùng binh đao cướp nghiệp của người, nên anh hùng thiên hạ bất phục.

Y chỉ vào Nùng Dân-Phú, Đỗ Xích-Thập, Hoàng Liên:

– Bằng cớ, trước mặt vương gia, ba vị võ lâm đệ nhất cao thủ muốn triệt hạ y. Lại nữa Lê Long-Mang, Thiên-trường ngũ kiệt. Hào kiệt theo Lý chỉ có mấy ông sư ở chùa Tiêu-sơn, đâu đáng kể. Vả lại, trong đất Giao-chỉ này, hơn nghìn năm thuộc Trung-quốc, dân chúng tự coi mình như người Hoa. Nay chỉ cần thiên triều kéo quân sang đánh cho Lý một trận, họ sẽ nghiêng theo Tống.

Triệu Thành lại tỏ ra lạc quan:

– Thôi, đã trót đành phải theo. Nào, bây giờ chúng ta cần làm gì nào?

Vương Duy-Chính dùng Lăng-không truyền ngữ, nói như rót vào tai Triệu Thành:

– Hồi nãy sư thái Hoàng Liên sợ khi lâm sự, Lý Công-Uẩn sẽ điểm giáp binh vây bắt anh hùng, hào kiệt đem chặt đầu về tội phản loạn thì hỏng hết việc. Vương gia đừng lo, đây là điều chúng ta mong mà không được.

Triệu Thành cau mày:

– Người nói sao?

Vương Duy-Chính tiếp:

– Mục đích của triều đình muốn cho bên Giao-chỉ chia năm, sẻ bẩy chém giết nhau. Triều đình đứng tọa thủ bàng quan. Trai cò tranh đấu, ngư ông đắc lợi. Giả tỉ mà Lý Công-Uẩn điểm giáp binh diệt võ lâm, chắc chắn sẽ có cuộc đổ máu kinh hoàng. Phái Tiêu-sơn, Tây-vu chém giết nhau với phái Sài-sơn. Trong nội bộ phái Tản-viên, bọn theo Đặng Đại-Khê chém giết nhau với bọn theo sư huynh Xích-Thập. Bọn theo Tịnh-Tuệ đại chiến với bọn theo sư thái Hoàng Liên. Phái Tiêu-sơn, bọn theo Nguyên-Hạnh giết bọn theo Minh-Không. Tất nhiên bọn Tiêu-sơn, Đại-Khê, Tịnh-Tuệ theo Công-Uẩn sẽ được giáp binh yểm trợ thắng thế. Bọn thua kéo về trang ấp, khởi loạn.

Y ngừng lại, nhìn quanh, rồi tiếp:

– Lê Long-Mang, Nguyên-Hạnh có tổ chức khắp nơi, nếu họ ra tay trước, có lẽ ngay ngày đầu, đã chiếm được một phần ba nước. Trong khi Lão-qua, Chiêm-thành mang quân tới. Đợi cho quân Chiêm, Lào cùng Lý đánh nhau nghiêng ngửa. Ta cho thủy quân vùng Quảng-đông đổ lên mặt Nam tiếp Chiêm-thành, chiếm Thanh-hóa, Trường-yên. Mặt Bắc ta đóng trọng binh, ép Lý Công-Uẩn thoái vị. Tất nhiên dân chúng, quan lại sợ quân thiên triều, chạy theo Lê Long-Mang. Đến đây Lý, Lê đều kiệt quệ. Cuối cùng một Lý, hay một Lê thắng, tinh lực trong nước hết. Ta kéo trọng binh sang đóng, nhưng vẫn để cho chúng tồn tại, không có quyền hành gì. Ta sai chúng đem phần tinh lực cuối cùng đánh Chiêm, chiếm Lào. Dĩ nhiên chiếm xong, chúng hoàn toàn tê liệt. Ta đặt quan, chia quận hiện cai trị cả ba xứ Việt, Chiêm, Lào. Trên cao ta vẫn để cho người bản sứ ngồi làm vua bù nhìn.

Triệu Thành tin tưởng vào Vương Duy-Chính phần nào:

– Chỉ còn mấy ngày nữa đại hội anh hùng. Chúng ta cứ thế mà làm. Các vị có gì thay đổi, xin liên lạc với Cổ Loa hầu Hoàng Văn.

Trên xà nhà Mỹ-Linh chợt tỉnh:

– Thì ra tên Hoàng Văn này tước phong Cổ Loa hầu. Bọn triều Tống thực khả ố. Tên Hoàng Văn theo chúng chinh chiến. Khi thành sự, chúng phong cho khu đất của Đại Việt. Như vậy dù muốn dù không tên Hoàng Văn này phải cố công giúp Tống chiếm Đại Việt, mới hy vọng hưởng lộc Cổ Loa.

Triệu Thành nâng chén rượu lên:

– Nào mời các vị cạn chung này. Chúng ta cứ thế mà làm.

Sau đó bọn chúng ăn uống chán rồi, Vương Duy-Chính hỏi Hoàng Văn:

– Hoàng quân hầu, bây giờ chúng ta phải ra về bằng cách nào, để che dấu tung tích Khu-mật viện bọn Giao-chỉ? Nhất là võ lâm.

Hoàng Văn chỉ vào cái tủ kê giữa phòng:

– Vương gia với Đông-Sơn lão sư, Địch trạng nguyên, Vương đại nhân cứ theo đường này mà đi, có trời cũng không biết. Còn Nùng hầu cùng Nùng huynh tôi sẽ phái người đưa ra khỏi đây. Riêng Triệu an phủ sứ, Đỗ lão sư, Hoàng sư thái cùng Lý trại trưởng, lúc vào bằng đường chợ, bây giờ cũng ra bằng đường chợ.

Triệu Thành nhìn ra ngòai trời, y nói:

– Thôi, chúng ta giải tán. Bây giờ không chừng cuối giờ Dậu rồi.

Hoàng Văn đứng dậy mở cánh tủ ra. Vương Duy-Chính chui vào trước, tiếp theo đến Đông-Sơn lão nhân. Triệu Thành đi sau cùng.

Mỹ-Linh kinh ngạc:

– Cái tủ kia lớn tuy lớn thực, nhưng giỏi lắm chứa được ba người . Tại sao bọn chúng tám người chui vào lọt?

Nàng đoán:

– Phải rồi, phía sau tủ thông sang gian phòng bên cạnh. Từ phòng bên cạnh, chúng sẽ ra bằng ngả khác.

Hoàng Văn đóng cánh cửa tủ lại, y bảo Triệu Huy:

– An phủ sứ cùng với sư huynh Lý trại chủ ra khỏi xóm nay, xin cứ tới cuối chợ thuê xe ngựa về Thăng-long, không nên la cà chỗ khác, e gặp võ lâm phiền phức lắm.

Hoàng Văn gọi một thiếu niên:

– Đoàn, mi dẫn Nùng hầu cùng huynh theo phía sau vườn ra chợ.

Còn lại Đỗ Xích-Thập, Hoàng Liên, Hoàng Văn. Xích-Thập hỏi Hoàng Văn:

– Sư huynh nghĩ sao?

– Qua cuộc họp vừa rồi, ta thấy rõ ràng bọn Tống chuẩn bị chiếm Đại Việt sát nhập làm quận huyện. Chúng ta hiện chưa thể có quyết định gì hơn, ngoại trừ chờ anh em về đủ, rồi lấy quyết định chung. À, tôi nghe nhị sư huynh bị bắt giải về Thăng-long, việc này ra sao?

Hoàng Văn thở dài:

– Nhị sư huynh hành sự không cẩn trọng, lại muốn mau có kết quả, nên mới ra nông nỗi. Y ẩn thân trong phái Đông-a từ bao lâu nay, đâu có ai hay. Hồi bọn Triệu Thành đến Thiên-trường mua chuộc phái Đông-a. Nhị sư huynh khẩn báo cho chúng ta biết. Chúng ta quyết định giết chết con trai Trần Tự-An, để gây ra hố chia rẽ giữa phái Đông-a với Tống. Không ngờ nhị sư huynh sơ hở, bị lộ, rồi bị Trần Kiệt bắt được.

Nghe đến đây Mỹ-Linh tỉnh ngộ:

– Thì ra bọn này thuộc bang Nhật-hồ. Không biết bọn Nhật-hồ âm mưu gì, mà chúng mai phục trong các võ phái, triều đình đã đành. Chúng còn mai phục trong bọn Tống nữa. Rõ ràng Hoàng Văn trước đây theo Tống chinh chiến, được phong tới tước hầu. Y trở về Bắc Biên hoạt động cho Nhật-hồ. Khi phụ vương ta đánh căn cứ của Nhật-hồ, y gỉa làm tù nhân, kẻ thù của Nhật-hồ ẩn vào vương phủ. Y làm quản gia giả, tước hầu của Tống đối với y cũng giả. Y đích thực người của Nhật-hồ. Ta im lặng, theo dõi, may ra tìm được thủ phạm hại vương mẫu ta.

Đỗ Xích-Thập hỏi Hoàng Văn:

– Nhị ca hiện bị Khu-mật-viện giam giữ. Không biết tại nhà giam nào? Chúng ta phải tìm cách cứu ra.

Hoàng Văn lắc đầu:

– Ta đã dò hỏi Khai Thiên Vương, nhưng chính vương cũng không biết. Để thủng thẳng, ta sẽ cố gắng tìm chỗ giam giữ, rồi cứu ra.

Đỗ Xích-Thập móc trong túi ra tờ giấy. Y trao cho Hoàng Liên:

– Sư muội xem, thư của đại ca đây. Đại ca cho biết bang Nhật-hồ bên Trung-quốc lại tái lập. Nhưng bang không còn giữ được toa thuốc giải Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Cho nên bang chủ phái Chu An-Bình cùng hai đứa cháu sang Đại Việt tìm tung tích một cặp vợ chồng. Chồng tên Dương-Bá, vợ tên Đỗ Lệ-Thanh. Hai người này sang đất Việt từ lâu. Chính Đỗ Lệ-Thanh còn giữ thang thuốc giải, cũng như tâm pháp luyện Chu-sa độc chưởng. Họ cũng ra công tìm kiếm anh em chúng ta.

Hoàng Văn hứ một tiếng:

– Tìm anh em chúng ta? Tìm bóng chim tăm cá còn hy vọng, chứ tìm anh em chúng ta e đến muôn kiếp. Sư phụ quả thực thần nhân. Người an trí chúng ta như thế này, ngay anh em chúng ta cũng không biết rõ đích xác hành trạng của nhau hống hồ người ngoài.

Hoàng Liên cười:

– Thế họ đã tìm ra tông tích vợ chồng Dương Bá chưa?

– Họ thấy tổ chức Hồng-hương thiếu niên của Nguyên-Hạnh hơi giống lối tổ chức Hồng-thiết giáo Tây-vực, nên theo dõi kỹ. Họ nghi Nguyên-Hạnh là Dương Bá. Nhưng thấy vợ Nguyên-Hạnh là Cao Thạch-Phụng chứ không phải Đỗ Lệ-Thanh. Tuy nhiên họ ra tay tàn bạo, đánh hơn năm chục thiếu niên Hồng-hương bằng Chu-sa độc chưởng, đốt nhà trong Hồng-hương mật cốc khiến gần hai chục thiếu niên Hồng-hương chết cháy. Hôm sau họ lại phóng độc mấy chục người nữa. Thế nhưng bọn thiếu niên Hồng-hương không đứa nào bị chết. Chúng chỉ rên siết hai ngày rồi khỏi.

Xích-Thập lắc đầu:

– Vậy có thể bọn Chu An-Bình không phải người của bang Nhật-hồ, hoặc giả Chu-sa độc chưởng của Trung-quốc bị mai một đi, chứ có đâu bị trúng chưởng, chỉ đau đớn hai ngày rồi hết.

Mỹ-Linh cười thầm:

– Tin tức bọn này hồ đồ thực. Nhưng chúng đâu có biết rằng bọn thiếu niên Hồng-hương trúng chưởng, đau đớn hai ngày, rồi người Khu-mật-viện xuất hiện cho thuốc giải, để chúng phải làm người dò thám cho triều đình. Chúng cũng không biết Nguyên-Hạnh đích thực là Dương-Bá, lại càng không biết Đỗ Lệ-Thanh theo triều đình.

Hoàng Văn móc trong túi ra hai các thẻ bài trao cho Xích-Thập, Hoàng Liên:

– Này lục đệ, thập muội. Đây thẻ bài của phủ Khai Thiên Vương. Hãy cầm lấy để làm phương tiện di chuyển trong kinh thành. Tai mắt bọn Khu-mật-viện nhan nhản khắp nơi. Chỉ cần sơ hở một chút, lộ tung tích ngay. Ta dặn trước, từ nay tới lúc đại hội, tuyệt đối tránh di chuyển để khỏi lộ hình tích, cho đến phút chót. Bây giờ hai em cầm thẻ bài này, nghiễm nhiên thành nô bộc, vệ sĩ trong phủ Khai Thiên Vương, dù cho thằng bé con Long-Bồ cũng không dám gây hấn. Thôi ta đưa các em về Thăng-long.

Hoàng Văn sai người đánh xe ra. Cả ba lên xe, ra khỏi trang. Đợi chúng đi rồi, Mỹ-Linh mới vẫy Thiệu-Thái. Cả hai nhảy xuống hàng hiên.

Mỹ-Linh chỉ vào cái tủ:

– Chúng mình mau theo dõi bọn chúng.

Trên cái giá cạnh tủ có treo nhiều vũ khi. Thiệu-Thái lấy con dao trủy thủ. Mỹ-Linh lấy thanh kiếm đeo vào hông.

Thiệu-Thái mở cánh tủ. Phía sau cánh tủ quả có con đường hầm. Hai người đóng cánh tủ lại, rồi men theo hầm mà đi. Ngay cửa đường hầm có ngọn đèn dầu leo lét, nhưng cũng đủ ánh sáng. Hầm khá rộng. Hai người dò từng bước hướng phía trước. Cứ một quãng lại có ngọn đèn. Đi được một mấy trăm bước, hàm chia làm hai ngả. Một đi thẳng và một sang trái. Đường sang trái có đèn. Còn đường đi thẳng thì tối om. Thiệu-Thái ngừng lại, hỏi Mỹ-Linh:

– Chúng ta đi lối nào?

– Cứ đi thẳng xem sao!

Thiệu-Thái cầm ngọn đèn, lần theo đường thẳng mà đi. Được năm, sáu trượng, lại chia làm hai ngả nữa. Một sang phải, và một đi thẳng. Thiệu-Thái quẹo sang phải. Đi mươi trượng, gặp cửa chắn ngang. Cửa làm bằng song sắt lớn hơn ngón tay. Hai cánh cửa cột lại bằng sợi xích lớn, có khóa. Nước từ trên nóc hầm ri rỉ chảy theo song sắt xuống không ngớt. Hai bên hông hầm, hai cửa bằng gỗ kín mít, mùi hôi thối xông ra nồng nặc.

Thiệu-Thái soi đèn vào cửa. Sau cửa, đường hầm vẫn còn dài hun hút. Đã kinh nghiệm về vụ Hồng-hương mật cốc, chàng mở to mắt nhìn.

Mỹ-Linh nói sẽ vào tai Thiệu-Thái:

– Lại hầm giam người. Không biết tên Hoàng Văn giam ai ở trong hầm này? Bang Nhật-hồ gớm thực.

Hai người tới đứng trước song sắt nhìn. Mỹ-Linh đề nghị:

– Chúng ta làm cách nào vào trong này, không chừng đường hầm còn dài nữa cũng nên.

Thiệu-Thái hít hơi, không tâm, áp dụng lối vận công mà Huệ-Sinh dạy chàng, tay bẻ mạnh, hai cây sắt cong đi. Mỹ-Linh hoan hô một tiếng, nàng chuồn vào trước. Thiệu-Thái chui theo. Vào sâu bên trong năm trượng nữa, có ánh sáng chiếu ra rất rõ. Phía trước là ngõ cụt, với hai phòng giam. Hai phòng nằm liền nhau. Cả hai phòng đều có cửa sắt, với những thanh sắt to bằng cổ tay. Sau cửa sắt có hai phòng xây bằng đá ong.

Chợt Mỹ-Linh kêu lên tiếng ái, rồi đứng sát lại bên cạnh Thiệu-Thái. Thiệu-Thái gật mình hỏi:

– Mỹ-Linh, cái gì vậy?

Mỹ-Linh run run chỉ vào hai bên cửa sắt. Thiệu-Thái nhìn theo: Ngay dưới đất, sát khung cửa bên trái, có mười xương đầu lâu trắng hếu. Đầu lâu xếp thành ba tầng. Tầng dưới cùng bốn cái. Tầng thứ hai ba cái. Tầng thứ ba hai cái, và tầng cao nhất một cái. Tất cả đặt ngay ngắn trên mấy dống xương chân tay.

Phản ứng tự nhiên chàng nhìn sang bên phải cũng một đống tương tự.

Chàng định thần nhìn vào trong cửa sắt đối diện. Giữa phòng, một người đàn ông, ngồi theo tư thức luyện công. Người y xương xương, chòm râu dài tới rốn, khuôn mặt hơi dài. Mũi thẳng. Hai mắt nhắm lại. Cạnh lão, một người đàn bà nằm dài, dáng người thon thon, khuôn mặt trái xoan, tóc đen mướt, để chảy dài xuống ngang vai, toả ra lưng, ngực. Da mặt thiếu phụ trắng xanh. Thiếu phụ mặc chiếc áo cánh mầu xanh lá cây, quần lụa đen, rất tươm tất. Còn lão già một tay nắm bàn tay phải thiếu phụ. Một tay đặt lên nhũ hoa nàng.

Phòng giam lão rất rộng. Trong kê một cái giường, trên có nệm cỏ. Một cái bàn để cạnh giường. Trên bàn một bình hoa tươi, cắm bốn bông hồng bốn mầu. Hai cái đĩa lớn, trên xếp đủ thứ trái cây. Cạnh đó, một kệ chứa không biết bao nhiêu sách vở mà kể. Phòng còn một cửa nhỏ thông sang căn phòng con. Trong phòng con có chỗ đi đại tiểu tiện, một chum nước lớn. Một cái bếp nhỏ, than cháy đỏ rực. Trên bếp, dường như đang đun nấu, cái nồi đất bốc hơi thơm thơm như mùi gà hấp.

Thiệu-Thái đưa mắt nhìn Mỹ-Linh như ngụ ý hỏi:

– Đây phòng giam lão già hay mật thất để lão luyện công? Mà lại có bếp nấu nướng?

Phía bên phải còn một phòng nữa. Cách trần thiết tương tự như phòng lão già gầy. Trong phòng còn lão già khác to lớn, cũng đang ngồi trên giường, xũa chân xuống dưới dọc sách. Một thiếu phụ gương mặt còn rất trẻ, quì gối bóp chân cho y. Bếp của y cũng đang nấu món gì đó, cùng hương thơm như bên lão già gầy.

Lão già to lớn ngừng đọc sách, ném cho Mỹ-Linh, Thiệu-Thái một cái nhìn lãnh đạm, rồi tiếp tục dán mắt vào trang giấy. Thiệu-Thái chú ý đến thiếu phụ bóp chân cho lão già.

Thiếu phụ này trẻ hơn thiếu phụ đang nằm dài nhiều. Tuổi nàng ước độ hai mươi ba, hai mươi bốn là cùng. Mái tóc nàng quấn trần trên đầu, cột bằng chiếc khăn mầu vàng tươi để hở cái cổ trắng ngần. Áo, quần nàng đều bằng lụa mầu mỡ gà. Chiếc áo cánh tuy hơi rộng, nhưng vẫn hiện ra cái lưng tròn, bộ ngực khá nở nang. Bàn chân, bàn tay nàng trắng mịn, thon như búp măng. Mỹ-Linh suýt bật lên tiếng kêu, vì gương mặt thiếu phụ rất quen, mà trong nhất thời nàng không nhớ ra rằng đã gặp ở đâu?

Mỹ-Linh sống giữa rừng người đẹp đã quen, thế mà khi thấy thiếu phụ này, nàng cũng phải công nhận là người nhan sắc hiếm có.

Lão già gầy mở mắt ra, nhìn Mỹ-Linh, Thiệu-Thái bằng đôi mắt sáng loáng, rồi cất tiếng hỏi:

– Tiểu thư, công tử. Các vị là ai? Các vị do bọn Hoàng Văn sai đến hay đến vì lý do nào khác?

Mỹ-Linh đáp:

– Chúng tôi vô tình lạc vào đây. Nếu các vị bị giam, chúng tôi sẵn sàng cứu các vị.

Nàng nói với Thiệu-Thái:

– Anh ơi, liệu anh có bẻ được song sắt cứu mấy người này ra không?

Thiệu-Thái trầm ngâm một lúc rồi lắc đầu:

– Khó quá, song sắt lớn thế này, làm sao anh bẻ được?

Lão già gầy nói rất khoan thai, giọng đầm ấm:

– Hai cô chú kia. Làm sao cô chú lọt vào đây được? Cô chú muốn cứu chúng ta ra ư? Khó lắm. Hãy nhìn hai mươi bộ xương khô kia. Đó toàn những người toan cứu chúng ta ra cả.

Thiệu-Thái hỏi:

– Tiền bối là ai? Tại sao lại bị giam vào đây? Ai đã giam tiền bối như thế này?

Người kia thở dài:

– Các người có thiện tâm cứu ta, ta cảm ơn lắm. Ta là ai, các người chả cần biết làm đếch gì. Còn ai giam ta ư? Người đó tên Lê Ba.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh cùng bật lên tiếng úi chà. Vì Lê Ba đệ tử thứ ba của Nhật-hồ lão nhân. Hồi Thập-nhị sứ quân, y hoạt động ở vùng Thanh-hóa. Trong khi tứ sư đệ của y là Nguyễn Chí được ủy nhiệm của Nhật-hồ lão nhân coi suốt một giải từ Thanh-hóa vào đến Chiêm-thành. Lê Ba thất học, nhưng y cực kỳ sảo quyệt, y điều khiển giáo chúng Hồng-thiết giết người không gớm tay. Y lại dâm đãng hơn con quỷ dâm dục.

– Tiền bối bị giam vào đây lâu chưa? Lê Ba thuộc Hồng-thiết giáo, đệ tử Nhật-Hồ lão nhân. Vậy ra lão tiền bối là kẻ thù của Hồng-thiết giáo đấy. Năm nay tiền bối bao nhiêu tuổi rồi?

– Ta bị Lê Ba giam, nhưng ta không phải kẻ thù của Hồng-thiết giáo cũng như Nhật-hồ. Ta bị giam trong này có lẽ đã hai mươi năm. Ta đoán mò vậy thôi, vì thấy trải qua hai mươi mùa lạnh. Còn ta bao nhiêu tuổi ư? Năm nay ta đúng một trăm tuổi. Phải, một trăm tuổi chẵn.

Lão chỉ sang phòng bên phải:

– Người to béo kia do ta giam vào đây. Ta giam y được hai năm rồi đích thân ta vào thả y ra. Giữa lúc đó ta bị Lê Ba đánh thuốc mê giam lại.

Người đàn bà nằm trước mặt lão đã ngồi dậy. Nàng rót nước bưng đến đưa cho lão. Lão cầm lấy chung trà, tay kia vuốt lưng nàng, cử chỉ cực kỳ thân thiết như một cặp tình nhân trẻ.

Lão chỉ vào người đàn bà:

– Còn nàng mới vào đây bầu bạn với ta. Nàng có tên Vũ Thiếu-Nhung.

Lão nói vọng sang với người to béo:

– Đến giờ ăn cơm trưa rồi.

Thiếu-Nhung sang phòng bên cạnh, lấy ra cái đĩa khá lớn, bưng nồi đổ thức ăn vào. Nàng cầm đũa, vun lại thức ăn cho tươm tất. Sau đó cho đĩa vào khay bưng ra. Dưới ánh sáng ngọn đèn trong phòng, Mỹ-Linh chú ý xem họ ăn uống gì: trên khay một đĩa đựng mấy con chim sẻ quay, một điã đựng hai nhát giò thủ đã cắt thành từng miếng. Một bát mọc. Món ăn chính trong điã lớn, khói bốc nghi ngút. Dường như giữa đĩa có một con thỏ hay con cá lớn, hấp lẫn với miến, mục nhĩ, nấm hương, kim châm, cùng nhiều gia vị khác.

Hai lão già cũng như hai người đàn bà đều quì gối, chắp tay trước ngực, lớn tiếng đọc kinh.

Ta pha tà ka la
Sa sa thanh thí u tơ lơ ma
Củng thiên chi ha ha
Đạo ta cà mạ thì di hu.

Họ đọc nhanh quá, Thiệu-Thái ngơ ngác hỏi sẽ Mỹ-Linh:

– Họ đọc bằng tiếng gì vậy?

Mỹ-Linh nhớ lại truyện cũ. Hôm nàng dự lễ Lệ-hải Bà-vương. Bọn Đông-Sơn lão nhân, Địch-Thanh bị Hồng-hương thiếu niên bao vây. Địch Thanh cất cao giọng đọc bài kinh này, lập tức thủ lĩnh Hồng-hương thiếi niên Hoàng Can líu ríu tạ lỗi rồi rút lui như mèo cụt đuôi. Hôm nay, vô tình nàng được nghe lại.

Mỹ-Linh nói sẽ vào tai Thiệu-Thái:

– Chắc họ đọc kinh Hồng-thiết giáo.

Thiếu phụ bị giam chung với lão già béo bây giờ mới lên tiếng:

– Cô cậu kia có đói không? Mời cô cậu ăn cơm với chúng ta nhé?

Lời nói của nàng mang giọng kẻ cả, coi hai ngưới như con cháu.

Mỹ-Linh từ chối:

– Chúng tôi không đói.

Lão già béo chỉ thiếu phụ, giới thiệu với Mỹ-Linh:

– Cô nương. Ta giới thiệu với cô nương, đây là Chu Vân-Nga, được đưa vào giúp ta luyện công mấy tháng nay.

Vân-Nga cầm đũa vặn một cái, đầu con thỏ đứt lìa. Nàng gắp bỏ vào cái bát, rồi đưa cả đũa, bát cho Mỹ-Linh:

– Cô nếm thử cái đầu nhân sâm này. Ngon lắm, lại tăng tiến sức khoẻ. Con sâm này đã ninh nhừ, hồi sáng bọn Lê Ba sai người hầu đem vào, thành ra nguội. Ta hâm lại cho nóng.

Mỹ-Linh đã được nếm đủ mọi cao lương mỹ vị, sơn hào, hải sản. Nhưng nàng chưa biết con nhân sâm ra sao. Nàng tiếp bát, đũa từ tay Vân-Nga, đưa lên mũi ngửi, mùi vị hơi tanh như cá. Nàng chưa dám ăn, tay bưng bát, hỏi:

– Tiền bối, con nhân sâm bắt ở đâu vậy?

Lão già gầy bỏ đũa, nghiêm trang đáp:

– Cái tên con nhân sâm này do lão phu đặt ra. Không phải nhân sâm như sâm của sứ Cao-ly đâu. Nguyên sau khi lão phu học được trọn bộ Hồng-thiết kinh rồi trở về Trung-quốc truyền giáo. Lão phu truyền thần công cho không biết bao nhiêu đệ tử. Nhưng chỉ có gã Đặng Đại-Bằng tiến triển mau không thể tưởng tượng được. Lão phu cũng như gã, không hiểu tại sao. Riêng lão phu lão phu cho rằng gã có điều bí ẩn gì dấu diếm. Sau thời gian dài theo dõi, lão phu thấy gã nuôi trong nhà mấy thanh nữ. Mỗi đêm gã ôm ấp một thanh nữ mà ngủ. Lão phu hỏi tại sao, gã cho biết đó là thuật Thái âm bổ dương.

Mỹ-Linh là một công chúa, tuổi lại còn nhỏ, nàng chưa từng nghe một câu nói tục, chứ đừng nói nghe đến những truyên dâm đãng. Nghe đến thuật thái âm bổ dương, nàng ngơ ngác hỏi:

– Thái âm bổ dương à? Tiểu nữ chưa nghe qua?

Vũ Thiếu-Nhung tỏ ra hiểu biết Mỹ-Linh, nàng đáp thay lão già:

– Thái âm bổ dương là thuật chăn gối của người Trung-quốc, Lĩnh-nam từ hơn nghìn năm trước để lại. Mục đích giúp cho trai, gái dựa vào nhau mà khoẻ mạnh trẻ trung.

Mỹ-Linh nhăn mặt không muốn nghe, nàng hỏi lảng sang truyện khác:

– Lão tiên sinh, tiểu nữ vẫn không hiểu con nhân sâm bắt ở đâu?

– Mỗi đêm Đặng Đại-Bằng đều ôm một thanh nữ mà mgủ. Trong khi ngủ, y hấp khí của thanh nữ. Thanh nữ hấp khí của y. Thành ra cả hai người đều trẻ lâu, khoẻ mạnh. Riêng Bằng, hàng tháng hút kinh huyết của thiếu nữ, vì vậy công lực y tiến mau vô cùng. Từ đấy lão phu với y hợp được thuật Thái âm bổ dương vào phép luyện Hồng-thiết thần công.

Lão chỉ vào đĩa nhân sâm hấp:

– Sau khi về Đại Việt, lão phu ngẫm ra rằng, dùng lối hút kinh nguyệt của thiếu nữ luyện công, chẳng qua là lấy tinh huyết của phụ nữ mà thôi. Tinh huyết của phụ nữ chỉ có âm chất. Nếu như có thêm dương khí vào mới khiến cho Hồng-thiết công trở thành mạnh. Lão phu nghĩ, con người ta muốn cho chân khí mạnh, sao không dùng thuật ăn uống phụ vào cho mau.

Lão hỏi Mỹ-Linh:

– Này tiểu thư, người có biết cấu thành của chân khí như thế nào không?

Mỹ-Linh đã nghe Hồng-Sơn đại phu giảng hôm nàng đến Vạn-thảo sơn trang, nay nàng còn nhớ:

– Tiểu nữ biết. Chân khí cấu thành do Tiên-thiên-khí và Hậu-thiên-khí.

– Dĩ nhiên, nhưng Tiên-thiên-khí là gì?

– Tiên-thiên-khí, là khí của con người khi chưa chào đời. Đầu tiên hạt tinh khí của người cha, gieo vào người mẹ. Sau khi kết thai, tinh khí hấp thụ khí huyết của mẹ tức nguyên khí. Tinh khí, nguyên khí hợp với nhau thành Tiên-thiên khí. Khi người ta sinh ra đời rồi, thở hít khí trời tức thiên-khí, ăn uống tức địa khí. Thiên-khí, địa-khí hợp lại thành Hậu-thiên-khí.

– Giỏi. Tiên-thiên, Hậu-thiên khí hợp lại thành Chân-khí. Khi luyện công, thở hít thiên khí thuộc lẽ đương nhiên, dễ dàng. Ăn uống là nguồn gốc của Hậu-thiên khí. Khi con người sinh ra rồi, tinh khí của cha, nguyên khí của mẹ vốn đã cố định, liệu có thay đổi được không? Các gia, các phái khác cho rằng không đổi được. Nhưng Hồng-thiết giáo của lão phu cho rằng đổi được.

Thiệu-Thái tỏ vẻ khinh bỉ:

– Nhờ tiên sinh với Đặng Đại-Bằng sáng chế ra lối hút kinh huyết của phụ nữ áp dụng vào luyện công.

Nhật-Hồ lão nhân biết Thiệu-Thái mỉa mai mình, nhưng lão thản nhiên, tỏ ra hãnh diện:

– Đúng thế. Nhưng đó, hồi ở bên Trung-quốc. Khi trở về Đại Việt, lão phu nghĩ rằng dùng lối hút kinh huyết, chỉ được âm huyết, sao bằng trộn lẫn âm huyết với tinh khí, có phải bổ được Tiên-thiên khí, mà võ lâm cổ kim đến giờ chưa ai vựơt qua được không?

Thiệu-Thái rùng mình nghĩ:

– Lão già này một đại ma đầu có khác. Y nghĩ được, làm được những gì, mà cổ kim chưa ai dám nghĩ, dám làm. Vì vậy mà giáo chúng Hồng-thiết giết người, lại cho rằng đạo đức, thì ra thế.

Chàng hỏi với vẻ ngạo mạn:

– Chắc tiên sinh cùng các cao đồ mỗi tháng đều hút kinh huyết của thiếu nữ, rồi hút tinh khí của thiếu niên để luyện công, cho nên võ công giáo chúng Hồng-thiết giáo mới mạnh thế.

Lão già gầy mỉm cười tự phụ:

– Đâu có, nếu hút tinh khí của con trai, kinh huyết của con gái, vẫn không thành được Tiên-thiên khí. Ví như ta ăn thịt, ăn cơm, sẽ thành máu huyết. Nhưng đem thịt với cơm trộn vào với nhau, sao thành máu huyết được? Công tử, tiểu thư thử nghĩ xem, làm thế nào tạo thành Tiên-thiên-khí?

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái ngẩn người ra suy nghĩ một lúc, rồi lắc đầu:

– Bọn tiểu bối nghĩ không ra.

Lão già béo nói vọng sang:

– Cô cậu làm sao mà biết? Sư phụ tôi có trí tuệ cao nhất hoàn vũ, người mới nghĩ ra được. Phương pháp hợp tinh khí, nguyên khí, trời đất đã sinh ra từ khai thiên lập địa đến giờ rồi, mà không ai để ý.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 96412
Has thanked: 35581 times
Have thanks: 48791 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: June 12th, 2018, 1:56 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Postby DaMinhChau » August 10th, 2017, 9:07 pm


Hồi thứ bốn mươi chín

Đệ Nhất Trưởng Lão


Thấy Mỹ-Linh vẫn chưa hiểu, lão già gầy tiếp:

– Có gì đâu, mỗi người đàn bà là cái máy hợp tinh khí, nguyên khí đó. Khi họ thụ thai, thành bào thai, bào thai chính thị khối Tiên-thiên-khí.

Một tia sáng lóe ra trong đầu óc Mỹ-Linh, nàng chú ý nhìn vào bát nhân sâm, lấy đũa bới xem cái đầu nhân sâm, thực giống một cái đầu trẻ con. Nàng thét lên hãi hùng:

– Thì ra tiên sinh lấy bào thai, đem hấp mà ăn. A-di Đà-Phật. Tiên sinh thành quỉ chứ đâu phải người?

Nàng để cái bát, trong có đầu bào thai, với đôi đũa xuống đất, rồi đọc kinh vãng sinh.

Mỹ-Linh được giáo dục về từ bi, hỷ xả của Phật-giáo từ nhỏ. Giận hờn trong đạo Phật một hình thức bị quỉ A-tu-la phân thân nhập vào người, cũng có một tội. Cho nên, dù khi bị bọn Tống hãm hại, bị bọn Triệu Huy hành hạ, bị Hồng-Sơn đại phu khinh khiến, bị Nguyên-Hạnh giam trong mật cốc, nàng cũng nói năng ôn nhu, nhỏ nhẹ, cư xử khoan hoà, chưa bao giờ nàng nặng lời với bất cứ ai.

Hôm nay lần đầu tiên trong đời, nàng không kiềm chế được, đã thốt ra lời lẽ nặng nề với Nhật-Hồ. Thốt ra xong, biết như vậy không xứng đáng với ngôi vị công chúa, đệ tử của Bồ-tát Huệ-Sinh. Nàng bình tĩnh trở lại:

– A-di Đà-Phật, đức Phật từ bi tha thứ cho tiểu nữ. Tiểu nữ nói lời vô phép với tiên sinh.

Ngược lại với Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đã từng thay thế cha mẹ cầm quân ở Bắc Biên, chàng coi bọn này là thứ tội phạm đáng giết. Chàng hừ một tiếng rồi hỏi:

– Như vậy, tiên sinh cùng quí cao đồ nấu bào thai ăn, để luyện công, gọi bào thai bằng tên con nhân sâm?

– Đúng thế. Đây, món ăn trân quí vô cùng.

Thiệu-Thái nghĩ đến một ngày nào đó, chàng đem truyện thày trò y ăn bào thai cáo với quan hình-bộ thượng thư, xử tội chúng. Nên chàng khai thác thêm:

– Nhưng tiên sinh lấy đâu ra bào thai mà ăn? Không lẽ tiên sinh bắt đàn bà, mổ bụng ra hay sao?

Nhật-Hồ liếc con mắt sáng loáng vào Thiệu-Thái:

– Hồng-thiết giáo, kết nạp giáo chúng, đặt trên lòng trung thành. Cho nên giáo chúng tuyệt đối tuân lệnh chúng ta. Trong Hồng-thiết giáo, cho nam nữ tự do luyến ái.

– Tiên sinh theo Hồng-thiết giáo ư?

Hai lão già cười:

– Cô nương đần thực. Từ nãy đến giờ mà cô nương chưa biết chúng ta ư?

Mỹ-Linh đã nghe Khai Quốc Vương nói, sở dĩ Hồng-thiết giáo bành trướng mạnh, nhờ giáo điều chủ trương cho trai gái tự do luyến ái, không cần quyền cha mẹ, cũng không nhất thiết trọng chữ trinh. Nàng hỏi:

– Chắc trai gái giáo chúng tự do luyến ái, khi có thai rồi, lấy bào thai đo dâng cho tiên sinh ăn hàng ngày?

Lão già gầy lắc đầu:

– Đâu phải mình ta ăn, mà toàn thể đệ tử bản giáo đều ăn. Khi thai được ba tháng, cho uống một số thuốc thông máu, thai bị trụy. Lấy thai đó hấp ăn như hấp cá, hấp gà.

Thiệu-Thái ghê tởm lão, nhưng chàng vẫn cố ghìm lại:

– Khi ở ngoài, tiên sinh ăn con nhân sâm đã đành. Bây giờ tiên sinh với tiền bối này bị giam, mà Lê Ba vẫn cung cấp bào thai cho ăn, lại bắt giam phụ nữ trẻ đẹp hiến cho, để đêm đêm nằm ngủ hấp khí, cũng như cung phụng đủ mọi thứ quí báu. Kể ra họ cũng tử tế với tiên sinh đấy chứ?

– Tử tế ư? Người chưa hiểu đấy thôi. Y còn muốn học hết thần công của lão phu.

Nghe lão già gầy nói, Mỹ-Linh tỉnh ngộ:

– Ta nghe sư phụ Huệ-Sinh nói, giữa Thiền-công nhà Phật với thần công các phái khác nhau ở chỗ một bên từ bi hỉ xả, đánh người, mà không có ý sát phạt, chỉ hoá giải khi người đánh ta. Một bên sát thủ cực mạnh. Tuy nhiên cả hai bên đều quang minh chính đại. Còn nội công của tà môn thường dùng độc chất, độc trùng luyện, để hại người. Hồng-thiết công Tây-dương lấy chất độc luyện công, đi vào đường tà ma. Lão già kia lai lịch ra sao? Lão đem Hồng-thiết công hợp với cái thuật dâm đãng của người Hoa, rồi lại tự mình tìm ra lối luyện công kinh khiếp này. Bọn Hồng-thiết giáo thực kinh tởm. Ta phải tâu hết mọi sự với ông nội mới được.

Sau khi ăn uống xong, lão già gầy hỏi lại câu hỏi trước:

– Này cô chú kia, làm sao cô chú lọt vào đây đựơc? Cô chú là ai?

Mỹ-Linh sợ Thiệu-Thái thổ lộ thân thế, nàng đáp vội:

– Bọn tiểu bối vốn người ở Thăng-long, vô tình khám phá ra sau tủ của Hoàng Văn có đường hầm, rồi lần theo đường hầm tới đây.

Người già to béo cười nhạt:

– Cô ơi, cô đẹp thế kia, mà cô nói dối tôi làm gì vậy? Nếu cô chú không có nội công thâm hậu, làm sao bẻ song sắt cửa ngoài mà vào đây?

Mỹ-Linh chưa kịp trả lời, có tiếng gầm gừ, rồi mùi hôi khủng khiếp xông ra. Lão già cười nhạt:

– Phải cẩn thận. Bọn giữ hầm biết có người đột nhập vào, thả cọp ra ăn thịt các ngươi đấy. Trong hai mươi mốt người đã vào đây, mười hai người bị cọp vồ chết rồi ăn thịt. Tám người có bản lĩnh khá, đánh chết cọp, nhưng bị xông thuốc mê, rồi cho cọp ăn thịt bẩy người.

– Thế còn một người nữa đâu?

– Người đó là ta. Ta vào đây phóng thích tên to béo kia, rồi bị tên Lê Ba thả cọp ra ăn thịt. Ta đập chết cọp xong, bị xông thuốc mê.

Đến đó tiếng cọp gầm gừ lớn hơn. Rồi trong bóng tối, Mỹ-Linh thấy bốn ngôi sao xanh lè, đang từ từ tiến tới. Nếu trước kia, Mỹ-Linh đã kinh hoảng, nhảy tránh. Bây giờ võ công của nàng đã đến trình độ cao thâm. Nàng thản nhiên đứng nhìn đôi cọp đang chậm chạp lại gần. Đây là đôi cọp xám, cao lớn, hùng vĩ. Chúng gầm gừ, nhe hàm răng trắng ởn, lưỡi đỏ lòm.

Thiệu-Thái bảo Mỹ-Linh:

– Hôm trước anh đã dạy em cách chế ngự cọp. Em thử áp dụng xem sao.

Cổ thời, nước Việt, nơi có nhiều thú dữ. Người Việt phải chống trả với chúng, lâu ngày những phương pháp đó trở thành một bản lĩnh. Cho đến thời Lĩnh-nam, nữ anh hùng Hồ Đề đặt hẳn thành hệ thống. Đệ tử phái Tây-vu dạy đủ mọi loại thú dữ để sai khiến như canh gác, săn bắn. Trong các loại thú được huấn luyện thành binh đội chống giặc gồm có hổ, báo, trăn, ong, voi, khỉ, ưng, và chó sói. Các đạo quân này đã làm cho quân Hán kinh tâm động phách bao phen.

Khi thấy vận nước sắp nguy, vua Trưng ra lệnh cho Trưng Nhị, Phương-Dung, Phùng Vĩnh-Hoa, Đào Kỳ chép tất cả võ công, học thuật lại thanh bộ Lĩnh-Nam vũ kinh lưu truyền hậu thế. Khi vua Trưng tuẫn quốc, công chúa Hồ Đề còn tiếp tục kháng chiến. Đệ tử Tây-vu lập thành môn phái. Nghệ thuật nuôi, dạy thú mỗi đời thêm kinh nghiệm, cho đến phò mã Thân Thừa-Quý, trở thành tinh vi.

Công-chúa Lĩnh-nam Bảo-hòa được tôn lên làm vua Bà Bắc Biên, đã gửi về cho Khu-mật-viện hơn trăm chim ưng, để làm nhiệm vụ trinh sát, đưa thơ. Thiệu-Thái, Bảo-Hòa được học bản lĩnh này. Trong chuyến đi Thanh-hóa, hai anh em cỡi hùm, sai chim ưng, vỗ về cho chó khỏi cắn.

Khi Mỹ-Linh gặp Bảo-Hòa, hai chị em rất tương đắc. Bảo-Hòa thấy nàng muốn cỡi hùm của Thiệu-Thái. Bảo-Hòa dạy nàng mấy chục tiếng để sai khiến. Sau đó, Thiệu-Thái dạy nàng hàng mấy trăm tiếng nữa. Hôm nay, trước hai con hùm này, nàng bình tĩnh bóp miệng, bóp cổ nói với chúng mấy câu. Quả nhiên hai con hùm đang gầm gừ, tự nhiên im hẳn.

Thấy hiệu nghiệm, nàng gọi chúng. Chúng vẫy đuôi, tiến lại gần. Mỹ-Linh ôm lấy cổ chúng. Nàng uốn cong lưỡi lên xử dụng ngôn ngữ loài cọp nói với chúng. Chúng nằm xuống đất. Nàng với Thiệu-Thái ngồi dựa lưng vào chúng, tay gãi cho chúng. Chúng thích quá, liếm tay nàng thân thiết như con chó với chủ nhân.

Lão già kinh ngạc:

– Này cô nương. Cô nương với thủ lĩnh 207 khê động Bắc Biên Thân Thiệu-Anh là chỗ thế nào?

Mỹ-Linh thấy lão già tuy bị giam, mà từ đầu tới cuối ngôn ngữ cẩn trọng, lịch sự, nàng nghĩ thầm:

– Người này tất phải có lai lịch rất lớn. Định lực của ông ta cao thâm khôn lường.

Nàng đáp:

– Thưa tiền bối, cháu chưa từng gặp tiền bối Thân Thiệu-Anh bao giờ.

Lão già biết Mỹ-Linh không muốn thố lộ gia thế. Lão cười:

– Cô nương không muốn lộ chân tướng cũng được.

Lão nói nhỏ:

– Lúc cô nương vào đây, ta thấy bước chân của cô nương nhẹ như chim, nhất định cô nương luyện nội công âm nhu của phái Mê Linh đến trình độ tối cao. Ta e Hoa-Minh thần ni của phái Mê Linh có còn sống cũng thua cô nương. Ta thấy tiếng nói của cô nương ngân dài, tiếng nọ cách tiếng kia đều, hẳn cô nương còn luyện Thiền-công nhà Phật, dường như của phái Tiêu-sơn. Ta lạ một điều…

Lão ngừng lại một lát rồi lắc đầu:

– Kỳ thực. Phái Tiêu-sơn không nhận nữ đệ tử, mà sao cô nương lại học được nội công phái này?

Người to béo từ đầu đến cuối không lên tiếng, bây giờ y mới nói:

– Còn thiếu niên kia, phải chăng người là đệ tử của phái Tiêu-Sơn?

Thiệu-Thái không biết nói dối, chàng khai:

– Tiểu bối không có sư phụ. Tiểu bối học võ công với phụ thân.

– Phụ thân à? Rõ ràng bước đi của người trầm, vang truyền đi rất xa, đây là nội công của phái Tiêu-sơn. Tiêu-sơn có hai loại đệ tử. Loại tục gia, loại là xuất gia. Nội công của người là nội công của kẻ xuất gia. Phụ thân người đâu có xuất gia, mà biết nội công này truyền cho người?

Những gì lão già gầy nói, chứng tỏ lão có kiến thức quảng bác về võ học. Võ công lão chắc cao thâm lắm, nên lão mới có khả năng tay không giết cọp.

Đến đó, có tiếng chân người, rồi một gã đàn ông mặc quần áo đen từ ngoài tiến vào. Dường như gã đã già, mái tóc lốm đốm trắng đen. Gã đó khoanh tay trước ngực cười nhạt:

– Hai đứa bay là ai, mà đột nhập vào đây?

Mỹ-Linh chỉ vào ba người bị giam:

– Tiểu bối đang muốn hỏi ông là ai? Tại sao dám giam giữ người trái phép? Ông không tôn trọng luật của hoàng đế, tội đáng chém đầu. Ông có mau thả ba vị này ra không?

Mỹ-Linh quên mất mình đang đóng vai cô gái dân dã, mà dùng ngôn ngữ của cô công chúa trách cứ.

Người bịt mặt cười nhạt:

– Mi bảo ta thả y ư? Mi có biết y là ai không đã?

– Dĩ nhiên tiểu bối không biết. Tiểu bối đang muốn thỉnh tiền bối danh tính bốn vị này.

Người bịt mặt chỉ người to béo:

– Chỉ nguyên tên ma đầu này thôi, tay y đã nhúng không biết bao nhiêu máu mà kể. Số người y giết, nếu đem thây chất lại, e cao hơn núi Hoàng-liên-sơn.

Lão già to béo cười nhạt:

– Cô nương. Ta biết lòng dạ cô nương tốt, muốn cứu người. Nhưng ta nói tên ta ra e cô nương kinh tởm ta ngay. Ta tên Nguyễn Chí.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh cùng bật lên tiếng « Ủa » kinh ngạc.

Nguyễn Chí là đệ tử thứ năm của Nhật-hồ lão nhân, rất được lão tin dùng. Võ công của y cao thâm ngang với đại sư huynh Vũ Nhất-Trụ. Hơn bốn mươi năm trước, y được sư phụ trao cho nhiệm vụ phát triển bang ở vùng Chiêm-thành, Trà-lô, Nghệ-an, Thanh-hóa. Bang chúng Nhật-hồ các vùng này do y điều khiển, giết người không gớm tay.

Sau khi bang Nhật-Hồ bị vua Đinh đánh bại, y vẫn ẩn thân bí mật hoạt động, điều khiển bang chúng giết người. Về sau vua Lê Đại-Hành đem quân vào dẹp, đánh chiếm tổng đường, tìm thấy xác y dập nát ở một cửa hầm. Từ đấy võ lâm quên y. Không hiểu sao nay y lại bị giam ở đây.

Mỹ-Linh đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác:

– Lão tiền bối chả là sư đệ của Lê Ba ư? Thời Thập-nhị sứ quân, lão tiền bối tuy là sư đệ, nhưng được Nhật-hồ lão nhân cho trông coi toàn thể giáo chúng miền Nam Đại Việt. Trong khi Lê Ba chỉ coi một vùng Thanh-hóa. À phải rồi, vì y tranh quyền nên giam tiền bối.

Nguyễn Chí lắc đầu:

– Không phải thế. Lão già kia vừa nói rằng lão giam ta mấy năm, rồi thân vào thả ra. Trong khi đó Lê Ba xua cọp ăn thịt lão. Lão đập chết cọp, rồi bị Lê Ba xông thuốc mê.

Mỹ-Linh nói với người bịt mặt:

– Tiền bối không muốn thả ông Nguyễn Chí cũng được. Còn vị tiền bối trăm tuổi, với hai người đàn bà kia, tiền bối mau thả ra.

Người bịt mặt cười khẩy:

– Lão già kia tuy nói năng ngọt ngào, nhưng lão là một đại ma đầu khét tiếng. Tay lão đẫm máu gấp vạn lần Lê Ba, Nguyễn Chí.

Mỹ-Linh hỏi lão già:

– Tiên sinh. Tiên sinh cho bọn tiểu bối biết đại danh.

Lão già vuốt râu cười:

– Ta ư! Ta là sư phụ của Lê Ba, Nguyễn Chí.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nhảy lùi lại một bước. Nàng mở to mắt ra:

– Tiên sinh là Nhật-hồ lão nhân ư?

Lão già cười đầy vẻ tự đắc:

– Ừ, đúng thế.

Thiệu-Thái hỏi lão:

– Thực lạ quá, Lê Ba làm trưởng lão Hồng-thiết giáo, xuất từ cửa tiên sinh. Nguyễn Chí hẳn cũng thế. Tại sao tiên sinh giam Nguyễn Chí? Tại sao Lê Ba giam tiên sinh?

Nhật-Hồ thở dài:

– Ta lầm lẫn. Lúc đầu ta tin Nguyễn Chí, y lại có tài. Ta cho y coi miền Nam Đại Việt. Sau Lê Ba dèm pha rằng Nguyễn Chí đi thẳng với giáo chủ Xích Trà-Luyện, định hất ta ra ngoài. Ta lo sợ, gọi Nguyễn Chí về nhận lệnh, rồi giam ở đây. Nhưng ảnh hưởng của Nguyễn Chí lớn quá, ta phải dối rằng y chết rồi.

Lão rơm rớm nước mắt:

– Sau ta mới khám phá ra, chính Lê Ba muốn đi thẳng với giáo chủ Hồng-thiết, nên y gả con gái cho con trai giáo chủ Bát-Nặc. Y mưu hất ta ra. Ta hối hận, vào tù thả Nguyễn Chí. Trong khi ta đang mở khóa. Lê Ba thả cọp ăn thịt ta. Ta đánh chết cọp, y đốt thuốc xông khói vào. Ta ngạt hơi mê mệt không biết gì. Khi tỉnh dậy thấy mình bị giam.

Mỹ-Linh rùng mình về đám Nhật-hồ:

– Thế tại sao y không giết tiền bối, mà chỉ giam thôi?

– Dễ quá. Tất cả các đệ tử đều được học Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Sau khi chưởng này đánh trúng ai, người đó phải tuân theo lệnh của bản giáo. Như vậy, mỗi năm vào tiết Đông-chí sẽ được cho một viên thuốc giải. Tuy được uống thuốc giải không chết, nhưng hàng tháng bị lên cơn đau đớn không thể tưởng tượng được một lần. Cơn đau dài ước hơn hai giờ. Còn muốn trục toàn thể độc chất ra khỏi cơ thể, khỏi uống thuốc, cũng như không bị đau hàng tháng chỉ có một mình giáo chủ được truyền tâm pháp hoá giải mà thôi. Y giam ta, mục đích muốn được truyền tâm pháp đó. Ta nhất quyết không truyền. Vì ta truyền cho y, lập tức y giết ta.

Thân mẫu Mỹ-Linh bị chết một cách đau đớn, ai cũng cho rằng trúng phải Nhật-hồ độc chưởng. Sau này nàng nghe phu nhân của Hồng-sơn đại phu, phu nhân của Trần Tự-An đều chết về chưởng này. Nàng run run hỏi:

– Lão nhân, phải chăng lão nhân đã ám hại vương phi Khai-Thiên?

Hỏi câu này xong, nàng biết không phải lão. Vì lão bị giam vào đây hơn hai mươi năm rồi. Trong khi vương mẫu của nàng mới qua đời có mấy năm.

Lão chỉ người bịt mặt:

– Cái gì phu nhân Khai-thiên? Lê Hoàn đã phong cho ai làm Khai Thiên Vương hẳn? Cô nương hỏi tên bịt mặt kia thì rõ hơn. Y họat động ở vùng Cổ Loa này từ lâu, y biết hết.

Mỹ-Linh chợt nhớ ra lão già này bị giam vào đây hai mươi năm rồi. Hai mươi năm trước, đang thời kỳ trị vì của Lê Ngoạ-triều. Dễ thường y không biết triều Lê đã chấm dứt, ông nội nàng lập triều Lý, đời đô ra Thăng-long.

Người bịt mặt lên tiếng:

– Hai đứa bay chịu trói đi thôi. Hoặc nếu mi đỡ được của ta ba chiêu, ta sẽ trả lời mi.

Nói rồi y vung tay ra chiêu hổ trảo chụp Thiệu-Thái. Thiệu-Thái « hú » một tiếng, hai con cọp nhảy lên vồ người bịt mặt. Người bịt mặt quát tháo ra oai. Hai con cọp như sợ hãi uy của y, ngừng lại. Y chỉ vào Mỹ-Linh, Thiệu-Thái ra lệnh tấn công. Hai con cọp ngần ngừ chưa nhảy lên.

Thiệu-Thái dùng tiếng cọp hú gầm. Hai con cọp nhảy lên vồ người bịt mặt. Y kinh hoàng, vòng tay một cái, đẩy một con văng vào cửa. Con thứ nhì nhảy đến, y phóng một cước vào cổ nó. Đau quá, hai con cọp lui lại quật đuôi xuống đất, nhe răng đe dọa, nhưng không dám tấn công nữa.

Võ công người bịt mặt quái dị vô cùng, Thiệu-Thái, Mỹ-Linh chưa từng thấy qua. Mỹ-Linh kinh hãi về kình lực của người bịt mặt. Có lẽ công lực của y còn cao hơn bọn Triệu Thành một bậc, ngang với công chúa An Quốc không chừng. Nàng chợt nhớ, hôm ở Thiên-trường, tên Đặng Trường đấu ngang tay với Trần Kiệt, một trong Thiên-trường ngũ kiệt. Tên này là sư huynh sư đệ của Đặng Trường, võ công của y không tầm thường được.

Nhật-Hồ lão nhân nói lớn:

– Cô cậu chịu trói đi thôi. Cô cậu không địch nổi y đâu. Y là đại đệ tử của ta, tên Vũ Nhất-Trụ đó. Nếu cô cậu ra chiêu, đỡ đòn, sẽ bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng ắt toi mạng.

Nghe đến Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng, Thiệu-Thái tỉnh hẳn người. Hồi ở phủ Khai Quốc Vương tại Trường-yên, chàng đã được Đỗ Lệ-Thanh truyền cho tâm pháp luyện, để sau này gặp người nào trúng chưởng Chu-sa, chàng còn ra tay trị cho. Nay nghe đến chưởng này, chàng bình tĩnh lạ thường.

Thiệu-Thái kéo Mỹ-Linh về sau lưng mình như để che chở cho nàng. Chàng vận sức ra hai tay, chuẩn bị đối phó. Nhưng Mỹ-Linh lách mình một cái, đã đứng trước chàng.

Vũ Nhất-Trụ quát lên một một tiếng, y vung tay gạt vào vai Mỹ-Linh. Mỹ-Linh cười nhạt, nàng rút kiếm ra khỏi vỏ, chĩa đầu kiếm vào vai mình. Nếu Nhất-Trụ tiếp tục chụp vai nàng, chính y bị thương. Nhất-Trụ chuyển tay, biến thành chỉ chọc vào mắt nàng. Mỹ-Linh di chuyển kiếm chĩa thẳng vào ngực Nhất-Trụ. Y kinh hoàng bật ngửa người về sau tránh mũi kiếm. Y vừa đứng xuống lại cảm thấy cổ đau nhói. Kiếm Mỹ-Linh đã dí vào cổ. Y dơ tay toan đoạt kiếm nàng, Mỹ-Linh di chuyển kiếm, nếu Nhất-Trụ tiếp tục, cánh tay y bị đứt. Y quát lên Một tiếng, thụp người xuống, lăn đi mấy vòng, định nhảy lên, mũi kiếm Mỹ-Linh dí vào ngực.

Chán nản, y chửi thề:

– Con bà nó. Con mọi kia, mi giết ta thì giết đi. Ta không phục, vì mi dùng tà thuật.

Nhật-Hồ lão nhân cười khanh khách:

– Nhất-Trụ. Người không biết, đừng có nói bậy. Đây là kiếm pháp chính tông của Đại Việt, chứ không phải tà thuật. Có tên Long-biên kiếm pháp.

Mỹ-Linh thu kiếm lại, mỉm cười. Nhật-Hồ lão nhân hỏi:

– Tiểu cô nương, lão già này mắt kém, không biết cô nương học võ công này của vị nào trong phái Mê Linh.

Mỹ-Linh chưa kịp trả lời, lão lẩm bẩm một mình:

– Chiêu Thu nhật bạch lộ, biến sang chiêu Hoành thiên mang mang sao lại nối liền được nhỉ. Này tiểu cô nương, trả lời lão đi chứ?

Mỹ-Linh chỉ Nhất-Trụ:

– Tiểu nữ chưa thể trả lời được. Tiểu nữ chỉ muốn vị tiền bối này trả lời cho mấy câu.

Vũ Nhất-Trụ cười nhạt:

– Vừa rồi người dùng kiếm, ta dùng tay, dĩ nhiên mi thắng ta. Ta muốn thằng ôn con kia đỡ của ta ba chiêu. Nếu y đỡ được, coi như ta thua, ta thả hai người ra, ta sẵn sàng trả lời những câu hỏi của người.

Thiệu-Thái mỉm cười:

– Xin tiền bối dạy dỗ cho mấy chiêu.

Vũ Nhất-Trụ phóng vào ngực Thiệu-Thái một quyền. Mùi tanh hôi nồng nặc bốc ra, làm Mỹ-Linh buồn mửa. Thiệu-Thái dùng tay trái gạt mạnh. Tay phải chàng trả lại một quyền. Hai tay chạm nhau, Vũ Nhất-Trụ cảm thấy nội lực đối thủ như có như không. Bao nhiêu kình lực trên tay y biến mất. Y kinh hoàng nhảy lùi lại tần ngần suy nghĩ:

– Thằng bé con này đệ tử của ai, mà Thiền-công mạnh đến không tưởng tượng được? Dường như Chu-sa độc chưởng vô hiệu đối với y thì phải? Trên đời ta, chỉ thấy gã thầy chùa Bố-Đại, Sùng-Phạm, Minh-Không luyện tới mức này mà thôi.

Nhất-Trụ nhảy lên đá một cước vào ngực Thiệu-Thái. Thiệu-Thái trầm người xuống tránh. Cước vừa qua đầu chàng, chàng phóng một quyền vào bụng y. Y vung tay đỡ. Bộp một tiếng, Nhất-Trụ nhảy lui lại cười:

– Thằng lỏi kia, người chết đến nơi rồi.

Thiệu-Thái ngơ ngác, không hiểu gì, Nhật-Hồ lão nhân nói:

– Cháu ơi, cháu trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng rồi. Không tin, cháu thử đưa tay lên mà xem. Có phải tay bị tím bầm lại không?

Thiệu-Thái đưa tay lên xem, tay chàng vẫn như thường. Chàng ngơ ngẩn:

– Tay tiểu bối vẫn như thường.

Bỗng Vũ Nhất-Trụ rùng mình một cái, rồi kêu lên tiếng « ái ». Tiếp theo người y run run. Y vội lấy trong bọc ra một hộp thuốc, đổ ra hai viên, rồi bỏ vào mồm nuốt trửng. Y vận công, cho thuốc mau tan.

Nhật-Hồ lão nhân trợn mắt, há hốc mồm ra:

– Tiểu thí chủ. Người…người cũng biết xử dụng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng ư? Ai đã dạy người?

Mỹ-Linh sợ Thiệu-Thái khai thực, nàng nói:

– Anh tôi là đệ tử phái Tiêu-sơn. Tiêu-sơn là danh môn chính phái, đâu biết luyện độc chưởng?

Nhật-Hồ lão nhân nhăn mặt:

– Ta biết người xuất thân Tiêu-sơn, mà Thiền-công mạnh không thua gì Vạn-Hạnh. Có lẽ chỉ đại-sư Sùng-Phạm hay Bố-Đại hoà thượng mới có công lực này. Nhưng rõ ràng người dùng nội lực Tiêu-sơn, luyện Chu-sa độc chưởng. Người đấu với Vũ Nhất-Trụ. Hai bên cùng xử dụng độc chưởng, người nào công lực thấp, sẽ bị độc chất của đối thủ cùng với độc chất của mình chạy ngược trở về. Cho nên Nhất-Trụ trúng độc rồi.

Vũ Nhất-Trụ đang ngồi ôm tay, vận công chống độc. Người y toát ra mùi hôi tanh khủng khiếp.

Mỹ-Linh bảo Thiệu-Thái:

– Hãy giữ tên này lại, đừng cho y chạy ra.

Thiệu-Thái túm áo Nhất-Trụ liệng vào trước cửa phòng giam Nhật-Hồ lão nhân. Bỗng y bật lên tiếng « ái » rồi lại run rẩy, đau đớn.

Nhật-Hồ cười ha hả:

– Thuồc giải của bản giáo, chỉ có thể trị cho ngươi, trong trường hợp bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng, do công lực Hồng-thiết giáo truyền vào người. Đây người bị truyền độc chất Chu-sa ngũ độc bằng Thiền-công, chỉ người có công lực Hồng-thiết giáo tối cao, biết tâm pháp hút tuyệt nọc độc ra, mới cứu được người. Người có vận công cũng vô ích.

Vũ Nhất-Trụ quì gối hướng Nhật-Hồ:

– Sư phụ, xin sư phụ cứu đệ tử. Đệ tử nguyện cải tà, qui chính, tuyệt đối trung thành với sư phụ.

Nhật-Hồ lão nhân cười nhạt:

– Khi nhập giáo, mi chả từng tuyên thệ như thế ư? Rồi mi cũng cùng tên Lê Ba hại ta. Ta tin mi thế nào được? Thôi bây giờ ta tạm trị cho mi khỏi đau, rồi sau này cứu mi hay không, tùy vào sự trung thành của mi.

Lão thò tay qua cửa vỗ vào lưng y hai cái nhẹ nhàng. Nhất-Trụ rên lên một tiếng, rồi ngồi im.

Nhật-Hồ lão nhân cười nhạt:

– Nhất-Trụ, ta tạm phóng vào người hai chiêu, để chất độc không nhập vào tâm tạng. Sau đó sẽ trị cho người sau. Người chịu đầu hàng ta chưa?

Nhất-Trụ thở dài:

– Đệ tử đầu hàng. Sư phụ, từ nay đệ tử cải tà qui chính, nguyện trung thành mãn kiếp với sư phụ.

Bỗng Nhất-Trụ kêu lên tiếng « ái » rồi, lại run rẩy, mồ hôi vã ra, tỏ vẻ đau đớn cùng cực.

Nhật-Hồ lão nhân hỏi:

– Sao? Không khá ư?

Nhất-Trụ lắc đầu, mồ hôi vã ra như tắm.

Lão hỏi Thiệu-Thái:

– Công tử, người có biết cách trị cho Nhất-Trụ không?

Mỹ-Linh nói với Nhật-Hồ lão nhân, cùng Nguyễn Chí:

– Này hai vị tiền bối. Hai vị có hứa khi được cứu ra khỏi đây, sẽ không hại người, anh tôi sẽ cứu quí vị.

Người đàn bà ở trong phòng Nhật-Hồ lão nhân bây giờ mới lên tiếng:

– Thiếu hiệp, cô nương, xin cứu tôi ra với!

Mỹ-Linh hỏi:

– Bà cho biết danh tính? Tại sao lại bị bang Nhật-Hồ giam vào đây?

– Tôi tên Vũ Thiếu-Nhung. Tôi là vợ của Hồng-Sơn đại phu. Tôi bị bắt đem vào đây để hầu hạ Nhật-Hồ lão nhân.

Mỹ-Linh kinh hãi:

– Bà nói sao? Phu nhân của Hồng-Sơn đại phu bị người ta đánh Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng chết đã lâu rồi kia mà. Làm sao có thể còn tại thế.

Nhật-Hồ lão nhân cười:

– Không phải vậy đâu. Khi đệ tử Nhật-Hồ ra tay, muốn đánh chết người cứ đánh. Ngoài ra còn lối vận công đặc biệt. Khi vận công lối này đánh ra, người trúng chưởng cũng đau đớn đủ bốn mươi chín ngày, rồi mạch không nhảy nữa, chân tay lạnh, mặt tái mét. Ai cũng tưởng chết, nhưng sự thực chỉ ngất đi. Đệ tử Nhật-Hồ chỉ việc đợi người ta đem chôn, rồi cậy nắp quan tài, lấy xác ra, cho uống ba thang thuốc, lại khoẻ như thường. Bấy giờ dùng vào việc khác.

Nguyễn Chí tiếp lời Nhật-Hồ lão nhân:

– Bà này bị Lê Ba đánh một chưởng. Sau bốn mươi chín ngày, bà ta ngất đi. Lão Hồng-Sơn cho khâm liệm, để ở điện Kinh-Dương. Đêm Lê Ba đột nhập, cậy nắp quan tài, cho một xác chết khác vào, rồi mang bà ta ra, cứu tỉnh.

Mỹ-Linh run run hỏi:

– Thế còn phu nhân của vương phi Khai Thiên Vương, ai hại? Bây giờ vương phi ở đâu?

Nguyễn Chí chỉ Vũ-nhất-Trụ:

– Hai vị hỏi y. Vì chúng ta bị giam trong này, không biết gì cả.

Vũ Nhất-Trụ nghiến răng chịu đau, y nói:

– Tôi giam ở một nơi khác.

Mỹ-Linh mừng run lên:

– Người giam vương phi ở đâu? Nói mau?

Nhất-Trụ nghiến răng:

– Đằng nào ta cũng chết. Ta không nói.

Thiệu-Thái điểm ngón tay vào huyệt Đại-trùy, Đản-trung của Nhất-Trụ. Y bớt đau liền. Chàng dỗ y:

– Người không chết được đâu. Ta hứa, nếu người chỉ cho ta nơi giam vương phi Khai Thiên Vương cùng phu nhân đại hiệp Trần Tự-An, ta sẽ cứu người.

– Được, tôi xin dẫn đường.

Mỹ-Linh hỏi Vũ Thiếu-Nhung:

– Phu nhân. Phu nhân có biết tại sao Lê Ba lại giam phu nhân ở đây không?

Vũ Thiếu-Nhung nghiến răng:

– Khi tôi mê đi, tôi biết rõ mọi việc xung quanh diễn ra. Nào chồng, nào con khóc. Nào họ niệm tôi. Nào Dương Ẩn cậy quan tài đưa tôi ra. Nào cho tôi uống thuốc tỉnh. Dương Ẩn tra khảo, bắt tôi cung khai nguồn gốc Hồng-Sơn đại phu. Tôi nhất định không khai. Bắt tôi cung khai nơi đại phu cất mật thư Thiên vương mật dụ tôi cũng không khai. Y giam tôi ở đây bắt tôi hầu hạ lão tiên sinh. Bấy giờ tôi mới biết Dương Ẩn tên Lê Ba.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cùng bệt lên tiếng « a » kinh ngạc. Vì trưởng lão Lê Ba trong hội đồng giáo vụ trung ương Hồng-thiết giáo có uy tín rất lớn. Y nổi tiếng con quỷ dâm dục, giết người không gớm tay. Còn Dương Ẩn khác hẳn, ông tu theo Lão, thuộc phái Sài-sơn, sư thúc Hồng-sơn đại phu, đạo cao, đức trọng, rất ít xuất hiện. Không ngờ hai người lại là một.

Vũ Thiếu-Nhung nói đến đó mặt bà đỏ lên, vẻ bẽn lẽn hiện ra.

Thiệu-Thái chợt nhớ lại, trước đây Đỗ-lệ-Thanh kể rằng:

– Hồng-thiết giáo dạy người ta thuật dùng Âm dương hỗ căn để giữ cho người trẻ trung mãi. Thuật này bên Tây-dương không có. Khi Nhật-Hồ lão nhân về Trung-thổ, cùng với các đệ tử Hồng-thiết giáo, giỏi về y học, đã hợp với y học Hoa-Việt, khai sáng lối luyện công, bổ dương mới tên là Âm dương hỗ căn. Cho nên các trưởng lão trong Hội đồng giáo vụ trung ương nào cũng thế, tuổi trên tám mươi, mà vẫn trẻ trung khoẻ mạnh.

Sau đó chàng hỏi chi tiết, Đỗ Lệ-Thanh chỉ vào Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, ngụ ý không dám nói về thuật đó trước mặt hai người.

Thiệu-Thái hỏi Nhật-Hồ lão nhân:

– Lão tiên sinh. Tiểu bối có một thắc mắc. Tại sao các vị đệ tử của lão tiên sinh khi giam tiên sinh, còn ưu đãi tiên sinh như thế này?

Nhật-Hồ hừ một tiếng:

– Thế nào là ưu đãi? Bọn chúng giam ta dưới hầm như thế này, mà bảo rằng ưu đãi ư?

Thiệu-Thái chỉ vào Vũ Thiếu-Nhung:

– Nếu như họ coi tiên sinh như tù, ắt họ đóng gông tiên sinh, chứ có đâu cho giường, nệm đẹp thế kia. Hàng ngày còn cung cấp hoa cắm trong phòng, quả tươi để ăn, lại còn bắt phụ nữ đẹp hầu hạ.

– Nếu y không cung cấp những thứ đó cho ta, ta sẽ chết. Ta chết ắt chúng tuyệt vọng học tâm pháp.

Mỹ-Linh kinh hãi nghĩ:

– Vũ Thiếu-Nhung bị giam vào đây hầu lão già Nhật-Hồ. Còn vương mẫu của ta, không biết bây giờ bị giam ở đâu? Có lẽ chúng cũng bắt hầu hạ một tên khốn nạn nào như thế này chứ không sai. Thiếu-Nhung vì sợ chúng đánh thuốc độc giết chồng con, mà không giám tự tử. Phụ nữ giầu đức hy sinh nhất cũng không thể hơn bà.

Mỹ-Linh an ủi bà:

– Phu nhân quả thực xứng đáng liệt nữ. Thà chết để bảo vệ chồng. Nhưng bây giờ không cần thiết nữa. Đại phu đã xuất hiện với cái tên Lê Long-Mang. Ai cũng biết đại phu với Nam-Quốc vương là một.

Mỹ-Linh hỏi Vũ Nhất-Trụ:

– Người hãy đưa chìa khóa, để ta mở cửa cứu mấy vị này.

Nhất-Trụ lắc đầu. Y định mở miệng nói, nhưng đau quá. Y rên hừ hừ.

Thiệu-Thái giật khăn bịt mặt của Vũ Nhất-Trụ ra. Bất giác Mỹ-Linh kinh hoàng. Y chính thị Đàm Can, cha đẻ của Đàm Toái-Trạng, Đàm quí phi, Đàm An-Hòa. Hiện y được phong tới Đô nguyên soái, cấp bậc cao nhất trong hàng võ quan. Chức tới Tổng trấn Thăng-long. Nàng gặp y một lần, trong dịp tấn phong con gái làm quí phi. Bấy giờ nàng còn nhỏ, nên nay y không nhận được nàng. Nhưng nàng nhận ra mặt y.

Mỹ-Linh cười nhạt:

– Phải chăng tên thực mi tên Đàm Can, đẻ ra Đàm Toái-Trạng, Đàm quí phi và Đàm An-Hoà?

Vũ Nhất-Trụ run run đáp:

– Chính thế!
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 96412
Has thanked: 35581 times
Have thanks: 48791 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: June 12th, 2018, 1:56 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: THUẬN-THIÊN DI-SỬ

Postby DaMinhChau » August 13th, 2017, 12:15 am


Hồi thứ năm mươi

Hồng Thiết Thần Công


Mỹ-Linh hỏi Vũ Nhất-Trụ:

– Mi đưa chìa khoá đây, để ta mở cửa thả tù nhân ra.

Vũ Nhất-Trụ lắc đầu:

– Cửa này có ba khóa. Một do tôi giữ, một do Lê Ba giữ, một do Hoàng Văn giữ. Phải có ba chìa khóa mới mở được.

Mỹ-Linh hỏi Nhật-Hồ:

– Y nói có đúng không?

– Y nói không sai. Trước đây, khi mới làm hầm này, các phòng giam chỉ có một khoá. Sau khi ba tên Nhất-Trụ, Hoàng Văn, Lê Ba phản lão phu, chúng không tin nhau, mới làm thêm hai khoá nữa. Mỗi đứa giữ một chìa. Lúc nào cả ba cùng đem chìa khoá mới mở được. Như khi đưa một mỹ nhân vào giúp ta luyện công, cả ba tên đều đến. Chúng xông thuốc cho ta mê đi, sau đó đẩy nàng vào, rồi cùng nhau khóa lại.

Mỹ-Linh hỏi Vũ Thiếu-Nhung:

– Bá mẫu. Y nói có đúng không?

Vũ Thiếu-Nhung gật đầu. Bà thấy Mỹ-Linh gọi mình bằng bá mẫu, hỏi lại:

– Cô nương! Cô nương có quen biết với Hồng-Sơn đại phu ư?

Mỹ-Linh chỉ vào Thiệu-Thái:

– Anh tôi đã chịu ơn cứu tử của đại phu. Còn tôi, tôi là bạn của Thiếu-Mai với Lê Văn.

Vũ Thiếu-Nhung rưng rưng nước mắt:

– Tôi… tôi không xứng đáng với Hồng-Sơn đại phu. Tôi còn mặt mũi nào nhìn Thiều-Mai, Lê Văn nữa?

Thiệu-Thái đứng đinh tấn vận sức kéo song sắt thử, nhưng không nhúc nhích.

Nhật-Hồ lão nhân nói:

– Vô ích. Cửa này làm bằng những thanh thép lớn, cứng vô cùng. Kéo sao nổi. Trừ phi… trừ phi. Nếu có nội lực dương cương của Tiêu-sơn, hợp với nội lực âm nhu của Mê Linh, thêm vào nội lực cương nhu hợp nhất như của ta, may ra bẻ được.

Mỹ-Linh bảo Thiệu-Thái:

– Anh có nội lực Tiêu-sơn, hợp với nội lực âm nhu của em. Vậy ta cùng đẩy một song thử xem.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh vận khí, hít một hơi dài, đẩy song sắt. Song hơi nhúc nhích, cong đi hơn tấc.

Nhật-Hồ lão nhân kinh ngạc:

– Con nhỏ này tại sao lại có nội công âm nhu cao thế này? Thực trên đời ta chưa từng thấy qua. Ta e Hoa-Minh thần ni cũng thua nó xa. Như vậy có thể bẻ song sắt, thoát cũi rồi đây.

Lão nói:

– Được rồi, hai cô cậu đẩy, tôi kéo thử xem. Phải cẩn thận lắm mới được. Những thanh sắt cửa này đều nằm trong cơ quan. Khi bẻ hai thanh, làm cơ quan chuyển động. Nếu có ai rút then cài ở trên nắp hầm ra, hầm sập, tất cả đều bị chôn thây, làm ma chết ngộp.

Mỹ-Linh ngơ ngác hỏi:

– Lão tiên sinh, hầm này do ai đào, đào từ bao giờ?

Nhật-Hồ nói nhỏ:

– Do chính lão phu cùng một số giáo chúng âm thầm đào. Đào xong bao nhiêu thợ lão phu giết sạch. Thành ra bí mật chỉ mình lão phu biết mà thôi.

Lão hỏi Vũ Nhất-Trụ:

– Khi các người giam ta, ai cư ngụ trong tổng đường bản giáo?

– Thưa sư phụ, khi lão nhân gia bị giam rồi, đệ tử cùng với Hoàng Văn, Lê Ba lục trong phòng sư phụ, tìm di thư, bí lục võ công, nhưng không thấy gì cả. Sau cùng Lê Ba tìm được bản đồ căn hầm. Bọn đệ tử thấy bản đồ hầm chỉ là nơi giam tù, không quan trọng, nên giao cho y giữ.

Nguyễn Chí lo lắng:

– Như vậy nguy lắm. Tên Lê Ba thế nào cũng nghiên cứu kỹ bản đồ. Nếu khi chúng ta bẻ song sắt, cơ quan chuyển động, y biết, y rút cái then ra, hầm sụt e chết chôn hết.

Nhật-Hồ hỏi Nhất-Trụ:

– Mọi khi, mỗi lần đến thăm ta, các người đi một lúc, sao nay chỉ có mình người. Hai tên kia đâu?

Nhất-Trụ đáp:

– Hoàng Văn chạy theo Khu-mật viện nhà Tống. Còn Lê Ba chạy theo Hồng-thiết giáo Tây-dương.

Nhật-Hồ nguyền rủa:

– Con bà nó. Hai tên khốn nạn.

Mỹ-Linh kinh ngạc. Từ lúc gặp Nhật-Hồ, nàng thấy lão ôn nhu, văn nhã, rõ ra đại tôn sư. Khi lão thuật đến chỗ dùng giáo chúng đào hầm, rồi giết sạch, lão thuật một cách thản nhiên. Thế mà nay nghe hai đệ tử chạy theo Tây-dương Hồng-thiết giáo với Khu-mật viện Tống, lão văng tục.

Lão hiểu ý Mỹ-Linh, phân trần với nàng:

– Cô nương nên biết Hồng-thiết giáo tuy gốc ở Tây-dương, lão phu đem về Đại Việt, để tổ chức một nước Việt theo khuôn mẫu của người, mưu tìm hạnh phúc cho dân. Chứ lão phu không phải như bọn Lê Đạo-Sinh, Kiều Công-Tiễn bán nước. Thế mà nay hai tên đồ đệ khốn nạn vô tư cách như vậy, lão phu tha thứ sao được.

Lão bảo Nhất-Trụ:

– Còn người. Bấy lâu nay người theo ai?

– Đệ tử không theo ai hết, vì vậy tuy làm đại sư huynh, mà hai tên Lê Ba, Hoàng Văn kết nạp giáo chúng thành phe cánh, chống đệ tử.

Nhật-Hồ nói với Mỹ-Linh, Thiệu-Thái:

– Nào, chúng ta thử bẻ song sắt xem sao?

Ba người vận sức, đẩy, kéo một lượt. Thanh sắt từ từ chuyển động, cong đi, chạm vào song sắt kế tiếp.

Mỹ-Linh chỉ thanh sắt cạnh:

– Nào, chúng ta đẩy thanh này.

Ba người lại vận sức kéo nữa. Thanh sắt kia cong đi liền. Nhật-Hồ lão nhân chui ra khỏi phòng giam. Y chắp tay hướng Thiệu-Thái, Mỹ-Linh:

– Lão phu đa tạ công tử, tiểu thư đã ra tay nghĩa hiệp cứu lão phu. Ân này nguyện không bao giờ quên.

Ba người lại bẻ song cứu Nguyễn Chí, với Chu Vân-Nga.

Hai người vừa ra khỏi phòng giam, có tiếng lọc cọc. Nhật-Hồ biến sắc lắng tai nghe:

– Các người có thấy tiếng cọc cọc không?

Chưa ai kịp trả lời thì ầm ầm, gió tạt vào cực mạnh, bụi bay mù mịt. Mọi người giật mình kinh hoàng, nhìn lại: Phía sau, hầm đã sập, lối ra bị mất. Đèn trong phòng bị tắt. Chỉ còn mấy điểm than hồng ở bếp chiếu ra.

Vũ Nhất-Trụ kinh hãi:

– Trời đất ơi! Nguy quá, hầm đã sập rồi.

Nguyễn Chí bảo Chu-vân-Nga:

– Mau đốt đèn lên.

Chu Vân-Nga vào bếp, đốt đèn lên. Không khí trong phòng ngột ngạt khó chịu vô cùng.

Thiệu-Thái hỏi Nhật-Hồ:

– Này lão tiên sinh, hầm này do tiên sinh xây, ắt tiên sinh biết rõ rằng có cơ quan làm sập hầm, hẳn có cơ quan thoát ra chứ?

Nhật-Hồ thở dài:

– Hầm này do lão phu dùng giáo chúng âm thầm đào. Những bí mật về cơ quan chỉ mình lão phu biết. Khi bọn Nhất-Trụ, Lê Ba, Hoàng Văn bắt giam lão phu, Lê Ba tìm ra nơi cất bản đồ. Vì vậy hôm nay y mới ra tay. Không có lối nào thoát ra cả.

Có tiếng người trầm trầm vọng vào:

– Các người tưởng thoát ra được ư? Hầm này có cơ quan. Các người đẩy cong các thanh sắt đi, làm chuyển động. Ta rút then cài, khiến cho hầm bị sụt, mất đường ra. Các người tự chôn mình. Vậy đừng trách ta nhé. A ha, muôn ngàn năm sau, không ai biết Nhất-Trụ chết vì lý do gì… Này đại sư ca, người chết rồi, ta đương nhiên thay sư phụ làm giáo chủ.

Vũ Nhất-Trụ trỗi dậy:

– Lê tam sư đệ, mau điều động giáo chúng đào đất cứu chúng ta ra.

Có tiếng cười khành khạch:

– Đại ca ơi! Cứu đại ca, tiểu đệ được lợi gì không? Đại ca nổi tiếng bài ngoại. Nếu tiểu đệ cứu đại ca ra ắt Tây-dương giáo chủ Hồng-thiết giáo nổi giận. Tiểu đệ đâu có hy vọng được chỉ định kế chức giáo chủ thay sư phụ?

Nhật-Hồ lão nhân lên tiếng:

– Lê Ba, người cứu ta ra, ta sẽ truyền tâm pháp giải trừ Chu-sa Ngũ-độc chưởng và truyền chức vụ giáo chủ cho người.

Bọn Vũ Nhất-Trụ, Hoàng Văn, Lê Ba bàn nhau giam Nhật-Hồ lão nhân, chỉ với mục đích bắt lão truyền tâm pháp giải Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng.

Tâm pháp Chu-sa độc chưởng là gì? Hơn trăm năm trước hai người Tây-vực tên Mã-Mặc, An-Hiền, nhân luyện tập nội công sai lầm, bị điên loạn, rồi làm nhiều điều ô danh võ lâm. Hai người bị vua quan đương thời lùng bắt, trốn vào rừng ẩn thân, sống lẫn với thú vật, côn trùng, nhân đó viết ra bộ vũ kinh tên “Hồng-thiết”.

Người đương thời khinh bỉ coi như bọn tà ma, ngọai đạo. Hơn trăm năm sau, một người thợ tên Lệ-Anh ở vùng băng tuyết, nhân ăn cứơp, giết người, bị vua chúa lùng bắt. Y sang Tây-dương, tìm được bộ Hồng-thiết kinh, luyện thành Chu-sa độc chưởng. Y lập ra Hồng-thiết giáo. Lệ-Anh tự xưng giáo chủ. Hồng-thiết giáo ngụy xưng tôn chỉ Dân vi quý hô hào giáo chung nổi dậy chống vua chúa. Thành công. Y giết hết vua, quan, quý tộc, phú gia, rồi cai trị nước. Giáo-chúng Hồng-thiết nổi tiếng sắt máu, tàn sát không biết muôn ức nào người.

Nhật-Hồ lão nhân, người đất Cửu-chân, nhân sinh vào thời loạn , có lòng yêu nước, muốn giúp dân thoát khỏi cảnh tranh dành, chém giết mà không sao được. Ông lưu lạc sang Tây-vực, giáo chủ đời thứ nhì là Xích Trà Luyện nhận làm đệ tử. Do đó ông được truyền bộ Hồng-thiết kinh, trong đó có ba phần. Phần đầu dạy về các độc chất, cùng cách xử dụng, chữa trị. Phần thứ nhì dạy về luyên độc công, cùng độc chưởng. Phần thứ ba dạy về triết lý quân chính, chủ trương diệt tất cả các tôn giáo khác,vua, chúa, nhà giầu.

Khi Nhật-Hồ thành tài. Xích Trà Luyện sai về Trung-quốc truyền giáo. Nhật-Hồ lão nhân biến chế từ Chu-sa độc chưởng thành Chu-sa ngũ-độc chưởng. Ông không giám truyền Hồng-thiết giáo, mà chỉ lập ra bang Nhật-Hồ. Trong thời gian ở Trung-quốc, Nhật-Hồ thu nhận một số đệ tử, truyền bản lĩnh cho. Vì lão người Việt, nên lão bị đệ tử tên Lưu Trí-Viễn tìm cách lật đổ. Lão chán nản bỏ về Đại Việt.

Tri-Viễn thấy sư phụ vắng mặt một thời gian. Y tưởng sư phụ chết rồi, bèn vỗ ngực tự nhận mình sáng lập ra bang Nhật-Hồ. Người đời Hoa lãng quên tên Nhật-Hồ. Ít lâu sau, Trí-Viễn nghe bên Đại Việt có Hồng-thiết giáo. Lão đâu biết sư phụ còn sống, mà tưởng nhân vật nào đó mới ra đời.

Trí-Viễn gửi sứ giả sang kết thân với Hồng-thiết giáo Đại Việt. Bấy giờ mới nảy ra Nhật-Hồ lão nhân còn sống. Đã ném lao, phải theo lao. Y tuyên bố Hồng-thiết giáo Đại Việt, do y sai người lập ra. Để minh chứng sự thực, y đổi tên thành Đông-Nhật, rồi đặt ra hệ thống Hồng-thiết danh. Cứ lấy chữ cuối tên sư phụ đặt cho chữ đầu tên đệ tử. Cho nên các đệ tử khét tiếng của Đông-Nhật lão nhân có tên Nhật-Quang, Nhật-Hải, Nhật-Sơn, Nhật-Minh, Nhật-Long. Sau đó lão cho đệ tử phao rằng chính Nhật-Hồ lão nhân là đệ tử lão.

Ai thắc mắc hỏi tại sao lấy tên Đông-Nhật. Lão trả lời: Ta được thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh sai xuống phương Đông giải thoát chúng sinh, như ánh sáng mặt trời chiếu muôn vật. Lão giải thích tên của đồ đệ Nhật-Hồ rằng: Chữ Nhật, để nối tiếp chữ Đông-Nhật. Còn chữ hồ chỉ lần đầu tiên bang thành lập ở hồ Động Đình.

Sau Đông-Nhật lão nhân xuất lĩnh giáo chúng lập ra nhà hậu Hán thời Ngũ-quý.

Trở về Đại Việt, Nhật-Hồ thu nhận một lúc mười đệ tử, bí mật lập bang. Lão chia lãnh thổ Đại Việt thành mười vùng, giao cho mười đệ tử phụ trách việc truyền giáo bí mật. Một lần nữa lão biến đổi Chu-sa ngũ độc chưởng khác đi, thành Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Nhật-Hồ lão nhân chỉ thị cho đệ tử bằng mọi cách xâm nhập vào các đại môn phái, dùng độc chưởng khống chế những nhân vật trong phái, rồi dần dần nắm quyền lãnh đạo. Cuối cùng đi đến nắm quyền cai trị toàn quốc như giáo chủ Xích-trà-Luyện.

Kinh nghiệm về vụ Đông-Nhật lão nhân phản sư phụ, trong mười đệ tử, lão truyền cho tất cả bộ Hồng-thiết-kinh. Nhưng lão giữ lại một phần làm bùa hộ mệnh. Những đệ tử luyên Hồng-thiết công, phải dùng nọc độc của rắn, rết, tằm, nhện, bò cạp cho cắn vào tay mình, rồi vận công cho nhập cơ thể. Sau khi thành công, mỗi năm, đến tiết Đông-chí, cần uống một viên thuốc giải trừ. Nếu không sẽ đau đớn, khốn khổ trong bốn mươi chín ngày rồi chết. Ai bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng cũng thế. Lão dạy cho đệ tử chế thuốc giải. Nhưng lão không dạy đệ tử phép luyện công, để hóa giải toàn bộ chất độc trong người, khỏi uống thuốc mỗi năm.

Trong các đệ tử lão, người nào cũng xuất thân lưu manh bậc nhất. Nhưng có ba tên gian xảo nức tiếng tên Vũ Nhất-Trụ, Lê Ba và Hoàng Văn. Ba tên này tìm cách bắt giam lão, cướp tâm kinh, học phương pháp giải trừ vĩnh viễn độc chất.

Nhân lão sủng ái nhất là Nguyễn Chí, định khi sắp chết chỉ định y làm người thừa kế. Lê Ba thấy vậy, tìm cách phao vu Nguyễn Chí sắp phản bang, chạy sang Tây-dương xin giáo chủ Hồng-thiết giáo công nhận. Nhật-Hồ tin thực, cho giam Nguyễn Chí lại, dối rằng y chết rồi. Sau ba năm, lão thấy chính Lê Ba sai người sang Tây-dương Hồng-thiết quốc, cầu giáo chủ phong mình làm thống lĩnh phía Nam Trung-quốc. Lão hối hận, vào nhà tù, thả Nguyễn Chí ra. Lão bị Lê Ba xông thuốc mê, bắt giam.

Lúc đầu Vũ Nhất-Trụ, Lê Ba, Hoàng Văn tin tưởng giáo chủ Hồng-thiết quốc Tây-vực truyền cho chúng phương pháp giải trừ nọc độc. Không ngờ chính giáo chủ Tây-dương Hồng-thiết quốc cũng bị thất truyền phương pháp này. Ba người nghĩ chỉ có sư phụ là người duy nhất còn biết thần công.

Ba tên ra lệnh cho đệ tử tra khảo Nhật-Hồ để biết phương pháp vận công giải độc. Bị giam, Nhật-Hồ lão nhân cùng một lò độc với nhau, lão đâu lạ gì bọn đệ tử. Lão biết, nếu lão khai ra, lập tức chúng giết lão. Lão im lặng hơn hai mươi năm liền.

Bây giờ, thình lình lão hứa truyền tâm pháp đó cho Lê Ba, khiến Nguyễn Chí, Vũ Nhất-Trụ đều kinh ngạc không ít. Lê Ba ngần ngừ một lúc rồi nói vọng vào:

– Sư phụ, người muốn đệ tử cứu ra, người đọc tâm pháp trước đi.

Nhật-Hồ hỏi lại:

– Hoàng Văn đâu? Ta muốn truyền một lúc cho các người.

– Hoàng Văn hiện vắng mặt.

Nhật-Hồ nói lớn:

– Vậy người nghe đây.

Rồi lão đọc:

Nhật-Hồ chu sa chưởng,
Dĩ độc luyện thần công.
Công thành tất khí tụ,
Ngũ độc nhập vào tâm.

Cứ thế lão đọc năm mươi câu quyết, rồi nhắc lại:

– Khi luyện, người phải dùng thang thuốc như sau: Kinh giới một cân, Tía-tô hai cân, Mộc-hương nửa cân, Xạ-hương nửa cân, Phòng-phong một cân, Ma-hòang ba cân, Quế-chi hai cân, Gừng tươi hai cân, Cam thảo hai lượng. Tất cả nấu lấy nước cho vào chum. Mỗi ngày ngâm mình trong đó luyện hai giờ. Luyện trong ba ngày, phải thay nước khác. Cứ như thế luyện trong một tháng, sẽ được một thành.

Thiệu-Thái nghe Nhật-Hồ giảng cho đệ tử, chàng biết ông ta dạy láo. Hôm trước Đỗ Lệ-Thanh cho thang thuốc, cùng phép luyện khác hẳn. Phép giải độc càng phức tạp.

Lê Ba thúc:

– Còn phần sau ra sao?

– Khi luyện xong phần thứ nhất, cần có người nào nội công cao gấp bội, để tay vào huyệt Bách-hội, đẩy chất độc cho luân lưu khắp cơ thể.

Lê Ba biết lão chưa muốn truyền hết, vì sợ y không buông tha lão. Vì ham muốn ngôi giáo chủ, y phải tùng quyền. Y suy nghĩ:

– Suốt hai mươi năm nay, mình đe dọa thế nào, lão cũng không thuận truyền tâm pháp giải độc, thế mà nay bỗng dưng lão đồng ý là tại sao?

Nghĩ một lúc, y hiểu liền:

– Những lần trước, nếu lão truyền cho ta. Ta luyện một đoạn, sẽ đòi đoạn hai, rồi ba. Nay lão hứa truyền cho ta ngụ ý rằng: Nếu ta không cứu lão ra, khi luyên xong đoạn một lão đã chết đói. Vì vậy bắt buộc ta phải cứu lão. Ta mà đào đất cứu lão, khi lão tự do rồi, liệu lão có để ta sống không? Được, ta có cách.

Đã có chủ ý, y nói vọng vào:

– Sư phụ. Xin chờ một lát, đệ tử sẽ sai người đào đất cứu sư phụ.

Lát sau có tiếng chân người đi, rồi tiếng cuốc xẻng đụng nhau, rõ ràng nhiều người đang đào đất. Nguyễn Chí lắng tai nghe ngóng, mắt nhìn lên nóc hầm, sau khi tìm ra chỗ người ta đang đào phía trên, y nói thực nhỏ:

– Sư phụ, chúng đang đào chỗ này.

Nhật-Hồ lão nhân nói nhỏ với Thiệu-Thái, Mỹ-Linh:

– Này cô cậu. Tên Lê Ba là đứa ngu dốt nhất trong đám đệ tử của ta. Nhưng y lại xảo quyệt nhất. Ta đánh lừa để nó đào đất cứu ta. Ta ước lượng khi chúng đào gần tới, sẽ thọc xuống một cái ống, hun khói độc, đợi chúng ta mê man, rồi mới đào tiếp, đem giam chúng ta ở chỗ khác. Vì vậy, ta phải tính trước.

Lão chỉ chỗ hầm bị sụt:

– Chỗ kia tuy sụt, nhưng đất xốp, chúng ta dùng các thanh sắt này đào. Giỏi lắm ba, bốn trượng đến chỗ hầm trống. Khi tên Lê Ba xông thuốc xuống, tưởng chúng ta mê man. Y cho đào nữa, chúng ta đã đi khỏi. Vậy bây giờ chúng ta cùng đào. Hễ chúng ta xong trước, ta thắng chúng. Còn chúng ta chậm hơn, bị chúng bắt.

Nhật-Hồ lão nhân, Nguyễn Chí, Vũ Nhất-Trụ mỗi người cầm một thanh sắt, vận sức, đào đất. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cùng Vũ Thiếu-Nhung, Chu Vân-Nga đứng sau chuyển đất, đá. Cả sáu người công lực đều cao thâm, nên đào rất nhanh. Đào được hơn hai trượng, đất bắt đầu xốp.

Đang khi bốn người đào, tự nhiên tiếng cuốc xẻng trên trần hầm im bặt, rồi có tiếng bình bịch.

Nguyễn Chí cười:

– Tên Lê Ba thực khả ố. Quả đúng như sư phụ nói, chúng đang đóng cọc xuống, để xông thuốc mê. Mình phải đào mau.

Sáu người ra sức đào, nhưng đào thêm hai trượng nữa vẫn chưa thấy khoảng trống. Trong khi đó tiếng đóng cọc mỗi lúc một rõ.

Vũ Nhất-Trụ lắng tai nghe, rồi lắc đầu:

– Dường như chúng đóng xuống nhiều ống chứ không phải một đâu.

Bốn người lại đào được hơn trượng nữa. Bỗng trên nóc hầm có mấy giọt nước chảy xuống, rồi nước túa ào ào như thác đổ.

Nhật-Hồ lão nhân kinh hãi:

– Bọn Lê Ba không hun khói như ta tưởng. Chúng dùng cọc thông nhiều lỗ, rồi xả nước xuống, cho chúng ta chết ngộp. Phải đào cho nhanh.

Nước ào ào tuôn xuống mỗi lúc một nhiều. Phút chốc đã đến ngang lưng mọi người. Hai con cọp bị ngập nước, chúng gầm lên, dựng đứng thân mình , hai chân trước vin vào tường.

Nhật-Hồ nói sẽ:

– Chúng ta phải giả sặc nước.

Vũ Nhất-Trụ nói lớn:

– Lê Ba, người xả nước xuống như thế này, sư phụ chết, người hy vọng gì học được tâm pháp. Trời ơi, nước tới cổ rồi.

Lê Ba cười lớn:

– Đại sư ca ơi! Tiểu đệ nói cho đại sư ca nghe một bí mật. Khi tiểu đệ cùng với đại ca và tứ đệ sang cầu Tây-dương giáo chủ Hồng-Thiết giáo truyền tâm pháp. Giáo chủ biết đại ca bài ngoại, tứ đệ làm gian tế cho triều Tống, vì vậy người chối rằng tâm pháp đó bị thất truyền. Người âm thầm hứa với tiểu đệ làm sao trừ được đại ca với tứ đệ, người sẽ truyền tâm pháp cho. Tiểu đệ tìm mãi không ra dịp. Hôm nay nhân tứ đệ đi với bọn Tống. Đệ vờ đau liệt dường, trao chìa khóa cho đại ca thăm sư phụ, rồi chôn đại ca cùng sư phụ một thể. May thực, đại ca hành sự đúng như đệ ước đoán. Thôi đại ca ơi, tiểu đệ sẽ đổ thêm nước cho sư phụ, đại ca, cùng ngũ đệ sớm về với tổ tiên Hồng-thiết giáo.

Đến đó nước lại ào ào tuôn xuống.

Bẩy người dùng hết sức bình sinh đào đất, đào được hơn trượng nữa, thì nước đã tới ngang cổ. Nước dâng cao, tuy nguy hiểm, nhưng làm cho đất phía trước mềm ra, đào mau hơn.

Nhất-Trụ tính toán rồi nói:

– Chỉ còn hơn trượng nữa tới chỗ ngã tư hầm. Chúng ta đào mau, chậm trễ, Lê Ba làm sụt hết hầm vô phương thoát nạn.

Y nói tới đó, bị sặc nước. Trong căn hầm nhỏ, bẩy người với hai con hổ chỉ còn chút ít không khí thở. Hai con hổ ngộp thở, chúng rống lên những tiếng kinh khủng.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái phải qui tức, để khỏi bị ngộp. Trong lúc choáng váng, đầu óc Mỹ-Linh loé lên một tia sáng: Hôm ở trong hầm đá Cửu-chân, nàng đọc trong bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, đoạn nói về Giao-long công của công chúa Gia-hưng Trần Quốc, dậy người ta qui tức, có thể lặn dưới nước hàng giờ. Nàng nhẩm ôn lại, vận khí thử, thấy trong người khoan khoái vô cùng. Nàng ghé tai Thiệu-Thái nói nhỏ:

– Anh hít một hơi đầy, dẫn khí về trung đơn điền. Sau đó toả ra khắp chu thân, rồi ngưng thở, dẫn khí đi rất chậm theo vòng Đại-chu-thiên.

Thiệu-Thái làm theo, quả nhiên bao nhiêu cái ngộp, khó chịu biến mất.

Ba thầy trò Nhật-Hồ, cùng với Vũ Thiếu-Nhung, Chu Vân-Nga đã bắt đầu ngộp thở. Hai con cọp lăn lộn trong giòng nước một cách tuyệt vọng.

Một khắc sau, nước ngập kín hầm. Thầy trò Nhật-Hồ tuyệt vọng buông các thanh sắt, không đào nữa, ngồi im qui tức.

Chỉ Thiệu-Thái, Mỹ-Linh vẫn vô sự.

Nguyên thời Lĩnh-Nam, công chúa Gia-Hưng Trần Quốc lĩnh ấn đại đô đốc, thống lĩnh thủy binh, đã sáng chế ra Giao-long công. Người luyện Giao-long công có thể lặn dưới nước hàng giờ đồng hồ. Vì vậy đạo Giao-long binh của Lĩnh-Nam làm mưa làm gió trong trận Độ-khẩu, Xuyên-khẩu, Động Đình, Nam-hải và Lãng-bạc. Mỹ-Linh học thuộc tâm pháp này trong hầm đá, không ngờ lúc nguy cấp, nàng đem ra áp dụng, lại có kết quả.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái thấy thầy trò Nhật-Hồ ngộp thở. Hai người cầm thanh sắt đào tiếp. Đào được hơn trượng nữa, khi Thiệu-Thái thọc thanh sắt vào đất, bỗng thấy nhẹ hỗng. Chàng tỉnh ngộ nghĩ thầm:

– Đã đào tới chỗ hầm trống rồi.

Chàng cầm thanh sắt quay ít vòng rồi rút ra. Nước theo lỗ hổng tuôn đi. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái chọc thêm mươi lỗ, nước từ từ hạ xuống. Phút chốc chỉ còn ngang gối. Hai người đào thêm một lát nữa, lỗ hổng lọt một người chui ra. Không khí ào vào. Hai người hít một hơi, thở phào ra.

Mỹ-Linh bắt mạch Vũ Thiếu-Nhung, Chu Vân-Nga thấy hai người ngất xỉu, chứ chưa chết. Nàng xem đến thầy trò Nhật-Hồ cũng không hơn. Hai con cọp thì chết từ hồi nào. Nàng bảo Thiệu-Thái:

– Chúng ta đem thầy trò Nhật-Hồ rời khỏi đây tức khắc.

Trên trần tiếng xẻng cuốc im lặng. Nước vẫn từ trên nóc hầm túa xuống. Biết bọn Lê Ba tiếp tục đổ nước, Thiệu-Thái bàn:

– Chúng ta giả ngộp nước, nằm đây, chờ bọn Lê Ba đào tới, ta chỗi dậy giết chết chúng cho bõ ghét.

Mỹ-Linh lắc đầu:

– Giáo chúng Nhật-Hồ toàn một bọn xảo trá, chúng ta đem xảo trá đấu với chúng thì thua tiệt. Chi bằng chúng ta tránh chúng đi là hơn. Phàm khi đổ nước, chúng cố đổ cho đầy. Chúng thừa biết rằng nước đầy ắt phía trên ứ lại. Nếu ta để nước tháo đi như thế này, chúng nghi. Chi bằng ta lấp hố cho mau, khi nước đầy hầm, trên mới ứ được.

Hai người khuân đá, đất lấp hầm. Khoảng hầm sụt dài tới hơn hai trượng, nên khi lấp lại, nước không tràn ra nữa.

Mỹ-Linh cắp Nhật-Hồ, Thiếu-Nhung, Chu Vân-Nga. Thiệu-Thái cắp Nhất-Trụ, Nguyễn Chí chui ra khỏi chỗ bị đất sụt. Tới ngã tư hầm, có ngọn đèn sáng, Mỹ-Linh nhìn theo ngọn đèn phía trước mà đi.

Vừa lúc đó, một tiếng ầm vang lên, gió quạt vào mặt hai người. Mỹ-Linh kinh hoảng nhìn lại phía sau, cả quãng hầm nàng vừa đi qua, bị làm cho sập rồi.

Nàng hô lớn:

– Chạy mau.

Qua hai khúc quẹo nữa, đường hầm cụt, có bậc thang leo lên.

Thiệu-Thái nói nhỏ:

– Phía trên này có thể là nhà bọn Lê Ba, phải cẩn thận.

Chàng khẽ đẩy, cánh cửa từ từ mở ra. Chàng leo lên. Thì ra lại một căn hầm nữa, tối om. Chàng lần mò, sờ soạng xung quanh hầm, không có lối thông, hay cửa. Chàng sờ lên trên đầu, không khó nhọc, chàng tìm ra cánh cửa thép.

Chàng đẩy mạnh, cửa mở ra. Ánh sáng lùa vào, làm chàng lóa mắt. Chàng chui ra khỏi hầm. Mỹ-Linh nhảy theo. Dụi mắt nhìn xung quanh, thấy mình đang ở trong căn phòng khá lớn. Cửa hầm chính là cái sập gụ lớn, chạm trổ rất công phu. Cạnh sập một cái tủ cánh, bằng gỗ trắc, dường như để quần áo. Ngoài ra không có gì khác.

Mỹ-Linh vận khí để tay vào huyệt Trung-uyển Vũ Thiếu-Nhung. Bà ọc lên một tiếng, mửa nước ra. Đồ chừng bà mửa hết nước rồi, nàng để tay vào huyệt Đản-trung, dồn chân khí sang. Bà hắt hơi một cái mở mắt, ngơ ngác nhìn quanh. Bà òa lên khóc.

Mỹ-Linh nói nhỏ:

– Nín đi, bá mẫu được cứu sống rồi. Đây vẫn còn ở hiểm địa, chớ có lên tiếng.

Mỹ-Linh lại vận khí chữa chu Chu Vân-Nga.

Thiệu-Thái định vận công cứu thầy trò Nhật-Hồ. Mỹ-Linh cản lại:

– Thầy trò bọn Hồng-quỉ này độc công cực kỳ thâm hậu, chúng mới bị ngộp đây. Để hơn giờ nữa, chúng chưa chết đâu. Cứu tỉnh chúng lại e nguy vô cùng.

Mỹ-Linh mở cửa phòng ngủ, trước phòng, một vườn hoa chia làm bốn khu, trồng toàn một thứ hoa quế. Bốn khu bốn mầu, đỏ, vàng, trắng và hồng nhạt.

Ký ức Mỹ-Linh thấy khu vườn khá quen thuộc. Dường như nàng đã đến một lần rồi, nay nhất thờ nàng không nhớ ra ở đâu. Bỗng nàng à lên một tiếng: Hồi vương mẫu mới mất, nàng theo Đàm qúi phi đi Cổ Loa chơi. Quí phi dẫn nàng đến nhà quốc cữu Đàm Can. Nay Đàm Can lột mặt nạ thành Vũ Nhất-Trụ. Thì ra đây là dinh Vũ Nhất-Trụ. Nàng ngạc nhiên vô cùng, không hiểu người nhà Vũ Nhất-Trụ đi đâu vắng?

Nàng biết nhà Nhất-Trụ không xa chỗ đóng quân của đạo binh Đằng-hải làm bao. Nàng định quay vào, dặn Thiệu-Thái giữ tù nhân, còn mình đến đạo Đằng-hải, hỏi mượn xe giải chúng về Thăng-long. Chợt thấy một lão già đang cầm cái dao cắt hoa ngoài sân.

Nàng dặn sẽ Thiệu-Thái:

– Để em bắt sống lão già này, thẩm vấn tình hình Nhất-Trụ.

Vèo một cái, nàng tới bên lão, rút kiếm chí vào cổ. Dường như lão không biết võ công. Lão thấy một cô gái ướt như chuột, đầu tóc rối bù, dí kiếm vào cổ. Lão run lật bật:

– Cô nương là ai, sao lại định giết tiểu nhân?

– Người trong trang đi đâu cả?

– Thưa, quốc cữu mới vừa đây xong, không rõ người ở đâu. Còn phu nhân, với tỳ nữ, đều đi Lộc-hà lễ đền thờ Bắc-bình vương.

– Trong nhà có xe ngựa không?

– Có, một cỗ lớn, một cỗ nhỏ.

– Người dẫn ta đi, thắng cỗ lớn ra đây.

Lão già kinh sợ, dẫn Mỹ-Linh đi thắng xe, đưa đến trước phòng ngủ. Mỹ-Linh gọi Thiệu-Thái ra. Thiệu-Thái chất ba thầy trò Nhật-Hồ lão nhân lên xe, rồi bảo Thiếu-Nhung, Vân-Nga:

– Xin hai vị hãy lên xe, chúng ta phải rời nơi đây khẩn cấp.

Lão già làm vườn thấy Vũ-nhất-Trụ đầu tóc tả tơi, người ướt sũng. Lão kinh khủng, hỏi Mỹ-Linh:

– Đàm quốc cữu làm sao thế này.

Mỹ-Linh đáp:

– Quốc cữu bị gian nhân ám hại, chúng ta đưa người đi cấp cứu. Bây giờ mi đánh xe cho chúng ta về Thăng-long gấp. Ta nhắc lại, nếu người có hành vi gì khác, ta giết người liền. Người tên gì?

– Tiểu nhân là Trịnh Đức.

– Được, đi mau lên.

Trịnh Đức buông mành che kín xe, rồi ra roi cho hai ngựa chạy. Một lát thành Thăng-long hiện ra phía trước. Trịnh Đức hỏi:

– Thưa cô nương vào cửa nào?

– Người cho xe chạy vào cửa Đan-phượng

Mặt lão già Đức hơi biến đổi đôi chút. Lão cho xe chạy qua cửa Quảng-phúc, rồi tới Đại-hưng, tới cửa Đan-phương hiện ra trước mắt. Đến gần cửa Đan-phượng, Mỹ-Linh ra lệnh:

– Người cho xe vào cửa, rồi quẹo sang trái.

Lão Đức kinh hãi:

– Bên trái là điện Uy-viễn, nơi Khu-mật viện đóng. Xe vào đó ắt tiểu nhân bị chặt đầu.

Mỹ-Linh quát:

– Im mồm! Tuân lệnh ngay, bằng không, ta giết liền.

Xe vào trong thành, quẹo sang trái. Phía tới điện Uy-viễn. Xe chưa tới cung, có hai dũng sĩ cầm bảo đao chặn lại. Mỹ-Linh nhận ra hai vệ sĩ của Khai Quốc Vương. Nàng mở mành ra nói:

– Anh Quế, anh Nam. Bình-Dương đây, cho xe vào mau!

Hai vệ sĩ thấy cô công chúa ngàn vàng, con gái Khai Thiên Vương, con nuôi Khai Quốc Vương, em kết nghĩa của người quản Khu-mật viện Tạ Sơn, mà đầu tóc rối bù, ngồi trong xe, với mấy người quần áo ứơt sũng. Chúng kinh hoảng, vội mở cửa phủ cho xe đi.

Nam cầm dùi đánh ba tiếng trống.

Xe vào tới sân trong phủ Uy-viễn. Tạ Sơn đã chạy ra cùng với Ngô Thuần-Trúc theo sau còn bốn người, mà nàng nhớ nhung ngày đêm: Tự-Mai, Tôn Đản, Lê Thuận-Tông, Hà Thiện-Lãm. Bé Ngô Thường-kiệt cũng có mặt.

Tạ Sơn ngoắc tay ra lệnh, ba võ sĩ ra vác thầy trò Nhật-Hồ vào.

Mỹ-Linh chỉ ba người nói:

– Ba đại ma đầu của Hồng-thiết giáo. Chúng bị ngộp nước, mau cứu tỉnh. Phải cẩn thận, vì võ công chúng rất cao.

Phủ đệ của Khai Quốc Vương ở điện Giảng-vũ, ngay cạnh điện Uy-viễn. Mỹ-Linh dẫn Vũ Thiếu-Nhung, Chu Vân-Nga, Thiệu-Thái theo ngả sau về phủ Khai-Quốc. Vú Tú thấy Công-chúa, Thế-tử ướt như chuột thì kinh hoàng. Mỹ-Linh dơ tay vẫy, ý muốn nói: Đừng hỏi lôi thôi.

Nàng chỉ vào Vũ Thiếu-Nhung, Chu Vân-Nga:

– Lấy quần áo của tôi cho hai vị này thay. Dẫn hai người đi tắm.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cũng đi tắm rửa. Tắm, thay y phục, trang điểm xong, nàng xuống phòng ăn. Vú Tú đã dọn cơm lên sẵn.

Bà nói:

– Công-chúa có tin mừng.

Mỹ-Linh hỏi:

– Tin gì đấy vú? Thím hai khỏi bệnh thì tôi biết rồi.

– Có người mà Công-chúa đêm nhớ, ngày mong đã về đây.

– Ai thế vú? Sư phụ ư? Chú hai ư ? Hay chị Bảo-Hòa chăng?

Trong tâm Mỹ-Linh chỉ có sư phụ, lúc nào cũng cười tươi như Bố-Đại hoà thượng, mà lòng nàng tưởng nhớ ngày đêm, sau đó đến Khai Quốc Vương. Ông chú đầy uy quyền, bận rộn tối mắt, nhưng luôn dành cho nàng tình yêu vô bờ bến. Chú nàng vừa là bố, vừa là mẹ. Gần đây thêm Bảo-Hòa, niềm an ủi lớn cho nàng.

Vú Tú cười, mở cửa, một thiếu phụ, một thiếu nữ chạy vào với hai con chó. Mỹ-Linh mừng quá đứng dậy ôm lấy thiếu phụ:

– Vú Hậu! Ninh!

Quả thực nàng cũng thương vú Hậu như thương mẹ. Xa bà đã mấy tháng nay, nàng đinh ninh bà ở Trường-yên. Không biết nay sao cũng về Thăng-long, lại dẫn thên cô em sữa Ninh cùng hai con chó. Nàng ôm chầm lấy vú Hậu, ấp đầu vào ngực vú. Nàng cảm thấy một mùi thơm quen quen từ người vú Hậu, mà từ lâu, nàng ngẫm ra chỉ vú hậu mới có cho nàng. Cả hai cùng rơm rớm nước mắt. Nàng nói:

– Con thương vú vô cùng.

Hai hàng nước mắt vú Hậu chảy dài trên má:

– Tiểu tỳ nhớ Công-chúa quá, nên cùng con Ninh về đây đã hai ngày, mong Công-chúa mãi.

Mỹ-Linh mời vú Hậu, cùng Ninh ngồi. Nàng vuốt ve hai con chó thân yêu, rồi nói:

– Vú và em Ninh ăn cơm chung với con nghe!

Thời bấy giờ, tôi tớ nhà bình dân cũng không được ngồi ăn cùng chủ. Huống hồ Mỹ-Linh là Công-chúa. Nhưng Mỹ-Linh, ở với Khai Quốc Vương. Vương cho phép bất cứ tôi tớ, tỳ nữ nào, mà chủ nhân mời, đều được ngồi ăn chung. Vú Hậu, Mỹ-Linh cùng ngồi ăn.

Vũ Thiếu-Nhung nước mắt dàn dụa nói với Mỹ-Linh:

– Cô nương, ra cô nương là Công-chúa đấy. Tiểu nhân thực vô phép. Tiểu nhân nghĩ mình tội lỗi quá nhiều. Mong rằng Công-chúa rộng dung cho tiểu nhân đến khi gặp lại Hồng-Sơn đại phu. Sau khi nói với người mấy câu, rồi tiểu nhân tự xử, chứ không giám để ô uế đến lưỡi gươm của quan nha.

Mỹ-Linh vẫy tay:

– Bá mẫu cùng tiểu nữ vừa chung nhau một hoạn nạn, đừng nói đến cái gì khác hơn việc ta lấy lòng đãi nhau. Ăn xong chúng ta mau thẩm cung bọn Nhật-Hồ. Còn nhiều người bị chúng giam cầm, cần cứu ra.

Từ lúc được cứu tỉnh, Chu Vân-Nga không nói một câu. Bây giờ nàng mới lên tiếng:

– Công-chúa. Ngay khi gặp Công-chúa trong hầm, tôi đã nhận ra Công-chúa. Nhưng Công-chúa không nhận ra tôi. Công-chúa có biết tôi là ai không, mà lại cho tôi ăn cùng mâm. Biết đâu tôi phạm trọng tội thì sao?

Mỹ-Linh gắp nhát cá trê rán dòn, chấm vào bát nước mắm gừng, bỏ cho Chu Vân-Nga:

– Tôi không cần biết lý lịch chị. Dù chị là quân giặc cướp, chị có tội với luật nước. Dù chị giết người, chị bị kết án tử hình. Đối với tôi, chị ở hoàn cảnh đáng thương, đáng xót. Nhan sắc chị thuộc loại hiếm có trên đời, mà bị giam dưới hầm sâu, làm kẻ hầu cho Nguyễn Chí, thực còn gì đau khổ hơn nữa?. Tôi cứu chị ra, mời chị ăn bữa cơm, rồi bấy giờ chị là ai, có tội hay không sẽ bàn sau. Ăn cơm đi chị.

Vân-Nga cảm động òa lên khóc.

Luân-lý, luật pháp người Việt ngay từ thời vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng đều coi đức tính trinh-tĩnh của phụ nữ cực kỳ quan trọng. Khi cha mẹ hứa hôn rồi, coi như đã có chồng. Chồng chết phải ở vậy suốt đời dù chưa cưới.

Còn những phụ nữ lấy chồng, có mai mối, sau khi lấy chồng chỉ biết có chồng. Lỡ ra bị cưỡng hiếp, phải tự tử để bảo toàn danh tiết. Đến khi vua Ngô Quyền dựng lại chính thống, tạm dùng lại luật Lĩnh-Nam. Trải qua loạn Thập-nhị sứ quân, đất nước ở trong một thời kỳ cực kỳ rối loạn, cho nên khi thống nhất giang sơn, vua ban hành luật nghiêm khắc. Phụ nữ thất tiết, bị xử tử hình, không có trường hợp giảm khinh. Vua Lê Đạo-Hành lên ngôi, chưa kịp ban hành luật, vẫn giữ luật cũ.

Khi vua Lý Thái-Tổ lên ngôi, bấy giờ Nho-giáo đã có chỗ đứng vững trong xã hội. Luật triều Lý đặt cơ sở trên nhân trị của Nho-giáo, thêm một phần ảnh hưởng của Phật-giáo, khép người phụ nữ vào một khuôn khổ luân lý rất khắt khe.

Chỉ cần người phụ nữ để người đàn ông khác nắm lấy tay, ôm trong tay, hoặc trông thấy bộ phận kín của mình coi như phạm tội bất trinh. Còn để người khác phạm vào thân thể liệt vào tội ô danh thất tiết. Cả hai tội đều đưa đến hình phạt. Nặng nhất bắt đến trước con voi, để nó dùng chân đạp lên người. Đó là tội voi dầy. Thứ đến cho cột chân tay vào bốn con ngựa, rồi đánh cho ngựa chạy ra bốn phía, cơ thể bị xé làm bốn mảnh. Đó là tội ngựa xé.

Nhẹ hơn nữa, bị xử giảo, tức thắt cổ cho đến chết, hoặc chém đầu. Tất cả ba tội trên, sau khi chết, cơ thể đem ra đồng cho diều hâu, cho quạ ăn thịt. Trường hợp nhẹ nhất, chỉ bị đem ra giữa chợ đánh đòn, gọt đầu, lấy vôi bôi lên cho tóc không mọc được nữa, rồi cho xuống bè chuối, thả trôi sông.

Những hình phạt đó, phổ thông đến dân chúng. Vì vậy, cho đến nay, khi người ta nguyền rủa đàn bà, thường dùng câu Con voi dầy, ngựa xé kia hoặc Con diều tha, quạ mổ kia hoặc đồ trôi sông, đòn chợ.

Vũ Thiếu-Nhung, Chu Vân-Nga vốn gái có chồng, bị Hồng-thiết giáo bắt giam, đáng lẽ phải tự tử ngay, để bảo toàn trinh tiết. Nhưng hai người không làm thế, mà cam tâm hầu hạ, cho Nhật-Hồ, Nguyễn Chí dầy vò bao năm. Tội quá nặng, không được quyền giảm khinh. Nay họ biết Mỹ-Linh là Công-chúa, chắc chắn đã khinh khiến, kinh tởm, khi biết họ phạm tội. Vì vậy cả hai mới thốt ra lời bi thương. Không ngờ Mỹ-Linh lại lảng ra truyện khác, dùng lời nói êm dịu phủ dụ họ.

Đúng ra, Mỹ-Linh thẩm vấn hai người đàn bà này trước, rồi giải qua quan tiết độ sứ Thăng-long xử tội, mà nàng cố tình lờ đi. Hơn nữa còn cho ngồi ăn chung.

Mỹ-Linh đâu phải không biết tội trạng hai người? Khi nàng được thầy dạy văn giảng về nhân trị, nàng tâm niệm, nếu có dịp, nàng sẽ thử đem đạo đức cảm hoá. Trước đây, khi gặp Đỗ Lệ-Thanh, mụ phạm tội làm gian tế cho Tống, không cần xét xử, đem ra xử lăng trì, tức xẻo từng miếng thịt. Hoặc ít ra, Mỹ-Linh cật vấn chi tiết về những tội trạng của mụ. Nhưng nàng lờ đi, vì vậy Đỗ cảm động, nguyện theo hầu nàng với Thiệu-Thái cả đời. Bây giờ nàng lại áp dụng với Thiếu-Nhung, Vân-Nga. Quả nhiên hữu hiệu.

Vũ Thiếu-Nhung nhắm mắt hồi tưởng lại thời thơ ấu…

Quan Tiết-độ sứ tổng trấn kinh thành Trường-yên, Vũ Hoàng-Quân, nguyên xuất thân làm một võ tướng, có chiến công trong trận đánh Chi-lăng với Tống, được vua Lê Đại-Hành tín cẩn. Vũ tiết độ sứ vốn là đệ tử phái Sài-sơn, sư thúc của Nam-quốc vương Lê Long-Mang. Vì vậy Nam-Quốc vương thường tới dinh Tiết độ sứ chơi, để học hỏi thêm võ công. Vũ tiết độ sứ chỉ có một con gái duy nhất tên Vũ Thiếu-Nhung. Trời cho tấm nhan dắc diễm lệ, lại giỏi nghề đàn ca. Trong khi Nam-quốc vương ra vào dinh Vũ tiết độ sứ, ông được quen với Thiếu-Nhung.

Trai tài, gái sắc gặp nhau, họ cảm nhau ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Tin này đồn ra ngoài, vua Lê Đại-Hành sai sứ đến hỏi Thiếu-Nhung, phong làm vương phi Nam-Quốc. Không ngờ trong lễ tấn phong, anh của Nam-Quốc vương là Lê-long-Đĩnh nhìn thấy. Y mê chết lên chết xuống, nhưng chỉ ngậm bồ hòn, chờ dịp.

Niên hiệu Ứng-thiên thứ mười hai, đời vua Lê Đại-Hành, nhằm năm Kỷ-tỵ (1005). Khai-Minh vương Lê Long-Đĩnh giết anh, lên làm vua, rồi sai tướng đem quân vào Thanh-hóa bắt Nam-Quốc vương Lê Long-Mang. Mục đích của Long-Đĩnh không phải diệt trừ em, mà bắt Vũ Thiếu-Nhung. Nam-Quốc vương là người bác học đa năng nhất trong các hoàng tử con vua Lê. Nếu Vương mốn làm vua, sĩ dân thiên hạ, không ai mà không vui mừng. Thấy anh gây điều bạo nghịch, Vương đã chán nản thế sự. Đúng lúc ấy, được tin quân Tống chuẩn bị sang đánh.

Nếu Vương chống cự với anh, tất thắng, rồi nhân đó lên làm vua, hẳn dễ như trở bàn tay. Nhưng Vương sợ rằng giữa lúc hai bên đại chiến, hoặc sau khi một bên thắng, một bên bại, tinh lực kiệt quệ, quân Tống tràn sang, e cái nạn mất nước khó tránh. Vương bèn niêm phong kho lẫm, đêm treo ấn, lẳng lặng dẫn Thiếu-Nhung bỏ đi cùng gia bộc thân tín, khai đất, lập ra Vạn-thảo sơn trang. Vương dấu tên, dấu họ, chỉ dùng danh xưng Hồng-Sơn đại phu.

Tuy vậy, ngoài gia bộc ra, chỉ có sư phụ đại phu, cùng những người vào vai sư thúc, sư bá biết rõ chân tướng Vương. Vương yêu thương Thiếu-Nhung rất mực. Hai người có với nhau người con gái đầu lòng tên Thiếu-Mai, người con trai thứ nhì tên Lê Văn, rồi tai vạ xẩy đến… Nàng bị người ta phóng độc chưởng.

Đến đây nàng khóc òa lên, không dám nghĩ tiếp nữa.

Vân-Nga cũng òa lên khóc theo, nàng nói với Mỹ-Linh:

– Công chúa! Nếu tôi không phạm tội, tôi là người trên Công-chúa.

Mỹ-Linh kinh ngạc:

– Khi mới gặp, nhìn bóng dáng chị quen quá. Tôi không nhớ rõ đã gặp ở đâu.

– Tôi là thứ phi của Đông Chinh Vương.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái kinh hoàng nhớ lại truyện cũ. Năm năm trước đây, Thuận Thiên hoàng đế tuyển con gái Tiết-độ-sứ Chu Toàn-Minh tên Chu Vân-Nga cho Đông Chinh Vương làm cung phi. Lập-Nguyên hoàng hậu có ý định để nàng sống trong cung ít lâu, rồi sẽ phong làm Vương-phi. Được một năm, Chu Vân-Nga bị mất tích, trong lần về thăm nhà ở vùng Mê Linh. Đông Chinh Vương ra sức tìm tòi, đều vô hiệu. Hai năm sau, truyện đó chìm vào dĩ vãng. Không ngờ bây giờ Mỹ-Linh tìm ra nàng ở trong đường hầm tại Cổ Loa.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

– Chu Vân-Nga tội nặng khó tha thứ. Bà ta được tuyển làm cung phi cho chú nàng là Đông Chinh Vương, thân thể cao quí biết dường nào. Đúng ra nàng ở vai thím mình. Mình với Thiệu-Thái trông thấy phải quì gối hành đại lễ. Không biết sự thực về vụ này ra sao. Mình cứ để Khu-mật-viện làm việc.

Nàng á lên một tiếng:

– Thì ra thím. Thảo nào lúc mới vào hầm, cháu thấy gương mặt thím quen quen. Việc này lớn quá, cháu không có thẩm quyền giải quyết, để ông nội định đoạt. Thôi chúng ta ăn cơm đã.

Cơm xong, Mỹ-Linh dẫn Thiệu-Thái, Thiếu-Nhung, Vân-Nga sang Khu-mật viện. Nàng thuật sơ lược tất cả những gì thấy ở nhà Hoàng Văn cùng các biến chuyển một lượt.

Ta Sơn nói:

– Công-chúa thực may mắn, tìm ra tất cả âm mưu của bọn Tống. Nhưng cho đến giờ phút này, sư huynh cũng không biết chủ trương của bọn Hồng-thiết giáo ra sao. Sư huynh đã cho cứu tỉnh, gông ba thầy trò Nhật-Hồ rồi.

Mỹ-Linh nhớ ra điều gì:

– Còn gã Trịnh Đức, sư huynh giam gã ở đâu?

Tạ Sơn nói sẽ vào tai nàng:

– Y vốn người của Khu-mật-viện, cho vào ẩn ở trong phủ Đàm Can. Sư huynh thưởng bạc, truyền trở lại nhà y. Còn bọn Nhật-Hồ chờ lát nữa ta hỏi cung. Có điều không bao giờ sư huynh ngờ quản gia của phủ Khai-Thiên lại là Hoàng Văn, tên ma đầu đứng hạng ba của Nhật-Hồ lão nhân. Rồi nữa Đàm Can lại chính thị Vũ Nhất-Trụ. Vụ này thực không nhỏ.

Thấy vắng bóng Bảo-Hòa đâu, Thiệu-Thái hỏi:

– Bảo-Hoà đâu?

– Các đệ tử Tây-vu tề tựu dự anh hùng đại hội đóng ở ngoài thành, vì vậy Quận-chúa cũng phải về chầu hầu vua Bà. Vua Bà có chỉ dụ, nếu Thế-tử về, đến chầu hầu ngay.

Thiệu-Thái là con chí hiếu, nghe chỉ dụ của mẹ, chàng vội đứng lên nói với Mỹ-Linh:

– Anh phải đi chầu mẹ ngay. Ngày đại hội, chúng ta sẽ gặp nhau.

Chàng lấy ngựa lên đường.

Tạ Sơn đứng lên kiểm điểm:

– Thuận Thiên cửu hùng, còn thiếu Vương-gia, Thanh-Mai, Thanh-Nguyên nữa là đủ. Nào chúng ta thẩm vấn bọn Nhật-Hồ.

Mọi người vào phòng thẩm vấn. Tạ Sơn bảo Mỹ-Linh:

– Công-chúa hiểu rõ nội tình bọn chúng. Xin công chúa thẩm vấn thì hơn. Giữa Công-chúa với sư huynh, có tình sư huynh, sư đệ cái gì cũng xong hết. Ngặt vì tên Trương Yên làm quản gia phủ Khai-Thiên. Tên Vũ Nhất-Trụ vai Quốc-cữu. Chức vụ Điện-tiền chỉ huy sứ, quản Khu-mật-viện của sư huynh không đủ uy quyền hỏi cung chúng.

Tự-Mai không chịu:

– Sư huynh, em nghĩ khi anh hỏi cung, anh là đại diện của luật pháp, đại diện của Đại Việt hoàng đế. Ai phạm tội, anh cũng có quyền chấp pháp chứ?

Lâu ngày không gặp cậu sư đệ bác học, thông minh, Mỹ-Linh nắm lấy tay Tự-Mai, liếc ánh mắt sáng như sao, rồi nở nụ cười:

– Bộ Quốc-triều hình thư có dự trù khoản gọi là Bát nghị, nên anh hai khó lòng hỏi cung y.

Tự-Mai, Thuận-Tông, Thiện-Lãm, Tôn Đản nhao nhao lên:

– Bát nghị là kí gì vậy?

Mỹ-Linh thư thả kể:

– Từ khi ông nội chị lên làm vua, người ban hành mấy bộ luật tạm thời. Trong đó có bộ Quốc triều hình thư. Trong Hình-thư dự trù trường hợp giảm khinh, gọi là Bát nghị. Bát nghị đã có trong bộ luật thời Lĩnh-Nam, do công chúa Phùng Vĩnh-Hoa sọan. Nay bộ Hình-thư chỉ chép lại mà thôi.

Tự-Mai gật gật đầu:

– Em nghe bố nói một lần, nhưng không rõ cho lắm. Bát nghị nội dung ra sao?

– Bát nghị bao gồm tám trường hợp được giảm khinh. Những người ở trong trường hợp sau đây, khi phạm tội, sẽ được giảm khinh:

Một, nghị thân, tức trường hợp thân thuộc trực hệ của Hoàng-đế.

Hai, nghị cố, tức những người bạn hữu của hoàng đế.

Ba, nghị hiền. Tức những người nổi tiếng đạo đức, trong nước.

Bốn, nghị năng. Tức những người tài ba.

Năm, nghị công. Tức những người có huân công với xã tắc.

Sáu, nghị quý. Tức những quan lớn. Võ từ cấp phó tiết độ sứ. Văn từ cấp thái bảo.

Bẩy, nghị cần. Tức những người nổi tiếng làm việc xiêng năng.

Tám, nghị bảo. Tức những người giầu có, được đem tiền chuộc tội.

Nàng nhấn mạnh:

– Vũ Nhất-Trụ được phong quốc cữu. Y liệt vào hàng Nghị thân. Vì vậy nhị sư huynh không có quyền thẩm cung y. Đúng ra, thân phụ của chị tước Khai Thiên Vương, chị là Quận-chúa ngang vai với Nhất-Trụ. Chị cũng không được hỏi cung y nốt. Nhưng chị được phong Công-chúa, nên cao hơn y một bậc. Chị hiểu rõ vị thế của sư huynh. Dù làm quan lớn đến đâu cũng không thể so sánh với bọn ngoại thích. Chị thấy tên Vũ Nhất-Trụ sinh ra Đàm quí phi, người đang được ông nội sủng ái. Bây giờ ngoài chị ra, chỉ có chú hai mới đủ tư cách thẩm cung y.

Mỹ-Linh quyết định phải ngồi chấp cung y:

– Nhật-Hồ vốn xảo trá

khôn cùng. Tiểu muội không đủ kinh nghiệm thẩm cung chúng. Sư huynh hỏi cung đi. Tiểu muội góp ý với sư huynh.

Thị vệ dẫn Nhật-Hồ lão nhân vào. Mỹ-Linh nhỏ nhẹ:

– Lão tiên sinh, người ta sinh ra thọ được bẩy mươi tuổi là hiếm lắm. Nay tiên sinh đã tới trăm tuổi, mà Khu-mật-viện gông lão tiên sinh như thế này thực không phải. Sở dĩ thị vệ không giám để tiên sinh thư thả vì võ công tiên sinh quá cao thâm, nên họ phải làm vậy. Việc này thực bất đắc dĩ. Mong lão tiên sinh lượng thứ.

Nhật-Hồ lão nhân bị giam hai chục năm, mọi biến chuyển, lão không biết gì. Lão hỏi:

– Đây thuộc phủ nào? Cô nương cứu ta hai lần, nên dù cô nương giết ta, ta cũng không buồn. Huống hồ cô nương gông ta. Cô nương là ai?

Mỹ-Linh ra lệnh cho thị vệ:

– Các người mau tháo gông cho lão tiên sinh!

Nhật-Hồ cười ha hả. Tiếng cười của lão làm mọi người ù tai, chóng mặt. Lão quát lên một tiếng vung tay mạnh. Hai cái tay gông gẫy rời. Lão bóp mạnh vào cái gông cổ, gông cũng gẫy nốt. Lão nói:

– Lão phu tưởng cô nương gông lão phu, lão phu chịu. Chứ còn người khác, gông lão phu sao được!

Lão đến cạnh Vũ Thiếu-Nhung, ngồi bên bà. Bất chấp công đường đông người, lão cầm tay bà đầy vẻ trìu mến như một cặp tình nhân trẻ.

Mỹ-Linh thấy Thiếu-Nhung không phản đối, nàng nhăn mặt, tỏ vẻ bực mình. Tuy vậy, nàng vẫn truyền rót nước trà mời lão uống. Trong lòng nàng nổi lên cơn bão táp:

– Như thế Thiếu-Nhung công khai nhận có tình ý với lão, chứ bà đâu có bị ép buộc? Thực bí mật, thực huyền bí. Mình phải điều tra cho ra manh mối mới được.

Tạ Sơn chỉ Mỹ-Linh:

– Thưa giáo chủ. Công chúa Bình-Dương cứu giáo chủ ra. Người muốn giáo chủ trả lời mấy câu. Hiện giáo chủ đang ngồi trong Khu-mật viện Đại Việt.

– Thì ra cô nương là Công-chúa của Lê triều đấy.

Mỹ-Linh lắc đầu:

– Lê triều hết số từ mười tám năm rồi. Đương kim thiên tử là Thuận Thiên hoàng-đế, ông nội tiểu nữ.

Thấy Nhật-Hồ ngơ ngơ ngác ngác. Tạ Sơn tóm tắt tình hình hai mươi năm qua cho lão nghe qua. Chàng tiếp:

– Còn Hồng-thiết giáo của tiên sinh công bố rằng tiên sinh qua đời từ hai chục năm trước. Họ xây lăng cho tiên sinh lớn lắm. Mõi ngày có hàng mấy trăm giáo đồ đến lễ tiên sinh đấy. Lê Ba cho phổ biến một di chúc của tiên sinh.

Mặt Nhật-Hồ tái đi:

– Láo thực, tôi có viết di chúc bao giờ đâu?

Tạ Sơn hỏi:

– Bị tù bấy nhiêu năm. Bây giờ được tự do, tiên sinh định làm gì?

Nhật-Hồ thở dài:

– Việc đầu tiên lão phu phải giết chết bọn phản thầy, rồi sau đó chính đốn lại Hồng-thiết giáo.

Có tiếng Khai Quốc Vương dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai Tạ Sơn, Mỹ-Linh:

– Hãy tìm cách phóng thích khéo lão này, để tự tay lão giết hết bọn ma đầu. Mình khỏi cần ra tay.

Tạ Sơn biết Khai Quốc Vương ngồi ở phòng bên cạnh nghe chấp cung. Chàng yên lòng tiếp:

– Người ta nói tiên sinh có mười đại đệ tử, Vậy họ là ai?

– Lão phu nhất tâm cứu nước, nên thu dụng, huấn luyện nhiều đệ tử. Nhưng trong đó có mười tên khá nhất. Lão phu căn cứ vào ai nhập môn trước làm sư huynh. Ai nhập môn sau làm sư đệ. Chứ không căm cứ trên tuổi tác, bản lĩnh. Đại đệ tử của lão phu tên Vũ Nhất-Trụ, tức Đàm Can như các vị biết. Y đã được bị bắt cùng lão phu. Về võ công y cao thâm nhất.

– Thế tiên sinh giao cho Nhất-Trụ nhiệm vụ gì?

– Y tiềm ẩn ở Hoa-lư, bám sát triều đình. Sau này triều đình thiên đô về Thăng-long, y cũng về theo.

Mỹ-Linh muốn biết tin Vương mẫu, nàng hỏi:

– Có phải y tiềm ẩn, khống chế các quan trong triều đình không?

– Đúng thế!

Lão uống một hớp nước trà, rồi nói:

– Đệ nhị đệ tử tên Đặng Trường. Y tiềm ẩn trong phái Đông-a. Mục đích ăn cắp di thư của phái này. Nhưng võ công phái Đông-a chép bằng thuật ngữ đặc biệt. Tuy y ăn cắp được, nhưng rút cuộc vẫn như không. Trong các đệ tử của lão phu, Đặng Trường tên ác độc nhất. Nghe nói dường như y bị bại lộ, bị bắt thì phải. Hà, công lực của y đâu phai tầm thường, không biết ai mà có bản lĩnh bắt sống y?

Tự-Mai cười:

– Lão tiên sinh bị tù lâu quá thành ra không biết gì về sự tiến hoá của võ học Đại Việt. Đặng-Trường mưu giết tại hạ, nhưng không thành, y đấu võ với sư thúc tại hạ, bị người bắt sống.

Nói rồi Tự-Mai thuật chi tiết diễn biến vụ Đặng Trường cho Nhật-Hồ nghe. Nhật-Hồ lão nhân nói với Tự-Mai:

– Trần công tử. Công tử có thể diễn lại một vài chiêu võ công của Đặng Trường không? Ta không tin y bị bắt dễ dàng như vậy.

Tự-Mai bảo Mỹ-Linh:

– Chị Mỹ-Linh. Em làm sư thúc Trần Kiệt, chị làm Đặng Trường, chúng ta thử diễn lại một vài chiêu cho lão tiền bối thấy.

Mỹ-Linh diễn lại những chiêu võ công của Đặng Trường. Còn Tự-Mai diễn lại những chiêu của Trần Kiệt. Cho đến chiêu cuối cùng, Đặng Trường ngã lăn ra, miệng ri rỉ chảy máu.

Nhật-Hồ lão nhân cười:

– Thiên-trường ngũ kiệt bị Đặng Trường lừa rồi. Nếu y dùng võ công Hồng-thiết giáo, không dễ gì Trần Kiệt thắng nổi. Vì vậy y dùng võ công Đông-a. Võ công Đông-a của y là võ công học lóm, sao bằng bản lĩnh chân thực?

Tự-Mai kinh ngạc:

– Tại sao y không dùng võ công chân thực, để đến nỗi bị bắt?

Nhật-Hồ vuốt râu lắc đầu:

– Các vị đây chưa ai hiểu Hồng-thiết giáo cả!

Mỹ-Linh bật lên tiếng ái chà:

– Tôi hiểu rồi. Đặng Trường biết rằng tung tích bị lộ. Nếu y dùng bản lĩnh chân thực đấu với sư thúc Trần Kiệt, ắt sư thúc phải dùng hết mười thành công lực. Dù y có thắng, ắt Thiên-trường ngũ kiệt cũng tìm cách bắt y. Bấy giờ, y khó tránh khỏi cái chết. Chi bằng giả thua, để bị bắt. Khi giải giao cho quan nha, y sẽ được đưa về Thăng-long. Trong thời gian đó, y tìm cách vượt ngục, hoặc thông tin cho đồng bọn cứu ra.

– Đúng thế!

Tạ Sơn kéo mọi người trở về thực tại:

– Còn đệ tử thứ ba của tiên sinh tên gì. Hiện y ở đâu?

– Y có tên là Lê Ba. Xuất thân làm thợ rèn. Y được lão phu thu làm đệ tử, cho quản trị giáo chúng vùng Thanh-hóa. Y ẩn thân trong phái Sài-sơn, theo dõi Hồng-Sơn đại phu từ lâu. Mục đích ăn cắp di thư Sài-sơn tên Thiên vương mật dụ. Sau cùng khống chế phái này, hầu nắm quyền chưởng môn.

Vũ Thiếu-Nhung nói với Nhật-Hồ:

– Anh lầm mất rồi? Trong Vạn-thảo sơn trang, không có ai tên Lê Ba cả. Em đâu có bị Lê Ba bắt giam? Em bị sư thúc Dương Ẩn bắt đấy chứ?

Bà suýt bị chết ngộp, mới tỉnh nên đầu óc còn mơ hồ. Khi ở trong hàm đá, bà đã được biết Lê Ba chính là Dương Ẩn rồi, nhưng bây giờ bà quên mất.

Bà nói với lão bằng giọng tha thiết như với người yêu.

Trong lòng Thiếu-Nhung nổi lên một cơn bão tố. Suốt bốn năm qua, bà được giam chung với Nhật-Hồ. Một mặt bà phải phục thị lão như nữ tỳ. Một mặt bà ăn ở với lão như tình nhân. Hàng ngày lão hút nước tiểu, hàng tháng hút kinh huyết của bà để luyện công. Thế nhưng, những bí ẩn xung quanh bà, lão không hề hở môi. Hôm nay lão mới khai ra. Thế mà trong những năm chung sống, bà cứ tưởng lão thương yêu, sủng ái bà. Nào ngờ lão dùng bà như một thứ thuốc mà thôi, không tình, không nghĩa gì cả.

Nhật-Hồ lão nhân nhìn Vũ Thiếu-Nhung, lão vuốt râu cười:

– Y ẩn vào hang rồng mà dùng tên thực sao được? Y dùng tên giả. Y leo lên tới điạ vị khá cao trong phái Sài-sơn, cao hơn cả Hồng-Sơn đại phu. Trong môn phái, y đóng vai đạo đức, không tranh dành với ai. Nên ai cũng nể y.

Vũ Thiếu-Nhung bật lên tiếng la lớn:

– Không lẽ sư thúc Dương Ẩn?

– Đúng thế.

Đạo sư Dương Ẩn nổi danh đạo cao, đức trọng trong võ lâm. Ông thuộc vai sư thúc Hồng-Sơn đại phu. Quanh năm ông đóng cửa luyện võ, học thuốc cùng các học thuật khác. Ông ta không bao giờ tranh chấp với ai. Đối với đệ tử lớn, nhỏ, ông luôn tỏ vẻ từ ái, nói năng ngọt ngào. Chính Hồng-Sơn đại phu cũng kính nể ông ta bằng một thái độ đặc biệt.

Vũ-thiếu-Nhung lắc đầu không tin:

– Khó hiểu quá.

Nhật-Hồ hừ một tiếng:

– Có gì mà không hiểu. Khi sư phụ Hồng-Sơn qua đời, có hai người tranh chức chưởng môn với Lê Long-Mang. Nhưng Mang được Ẩn trợ giúp, nên thắng hai người kia. Sau khi Long-Mang lên nhậm chức, có lần Ẩn xin được coi cuốn sổ Thiên-vương mật dụ. Nào ngờ Long-Mang tuy nhớ ơn Ẩn, nhưng vẫn không thỏa mãn ước vọng của y. Bởi luật lệ phái Sài-sơn, cuốn sổ đó, chỉ chưởng môn mới được coi mà thôi.

Lão ngừng lại nhìn Thiếu-Nhung:

– Cho đến một đêm kia, y nhập mật thất định ăn cắp cuốn sổ đó. Em trông thấy tri hô lên. Y đánh em một chưởng nhẹ vào lưng. Lập tức em đau đớn như xé da, xé thịt. Bấy giờ tiếng la của em làm đệ tử trong phái đến đông bao vây. Y vội bỏ trốn. Từ đấy mỗi ngày em lên cơn một lần, đau đớn kể sao cho siết. Đến đêm thứ ba, Hồng-Sơn về. Y dùng hết khả năng y học cũng không trị được bệnh cho em. Một lần Hồng-sơn đi vắng, có người bịt mặt đến gặp em. Y xưng là người của Hồng-thiết giáo. Y cho biết em bị trúng Chu-sa Nhật-Hồ ngũ độc chưởng. Nếu em chỉ cho y chỗ cất sổ Thiên-vương mật dụ, y sẽ cho em thuốc giải. Em cương quyết từ chối, vì vậy đau đớn đúng bốn mươi chín ngày, rồi lúc ngất đi. Hồng-Sơn đại phu tưởng em chết, cho liệm vào áo quan. Đêm hôm đó, Lê Ba lén cậy nắp áo quan, đem em ra, thay vào đó bằng con chó bị giết chết, rồi đóng nắp quan tài như cũ.

Tạ Sơn quay lại hỏi Thiếu-Nhung:

– Phu nhân! Xin phu nhân cho biết sau đó sự thể ra sao?

Thiếu-Nhung e thẹn, không muốn nói, nhưng bà biết sự thể không khai không được. Vì người chấp cung bà là chưởng quản Khu-mật-viện, đại diện Đại Việt hoàng đế. Bà nghĩ thầm:

– Đằng nào ta cũng ô danh, thất tiết rồi. Ta không còn mặt mũi nào về Vạn-thảo nhìn đệ tử nữa. Ta nói thực hết, hầu triều đình tru diệt bọn Hồng-thiết giáo.

Nghĩ vậy, bà ngửng mặt lên nhìn Mỹ-Linh:

– Khi tôi đau đớn quá, người mệt lả, thiếp đi. Trong lúc mê mê tỉnh tỉnh, tôi thấy con, đệ tử xúm xít bên cạnh khóc lóc. Sau đó đại phu trở về. Đại phu bắt mạch tôi, lắc đầu nói gì, tôi không nghe rõ. Rồi tôi bị khâm liệm, bỏ vào quan tài. Biết mình sắp bị chôn sống, tôi muốn gào thét lên mà mở miệng không ra. Tôi mê đi, khi tỉnh lại,thấy mình đang nằm trên dường. Cạnh dường, một thiếu phụ. Tôi hỏi thiếu phụ, tại sao tôi ở đây, thiếu phụ không trả lời.

Nhật-Hồ vuốt chòm râu bạc:

– Thế sau đó mấy ngày em bình phục?

– Năm ngày sau.

Mỹ-Linh không muốn cho Thiếu-Nhung phải khai đoạn bị cưỡng dâm trước mặt mọi người. Nàng hỏi Nhật-Hồ:

– Tiên sinh! Đệ tử thứ tư của tiên sinh tên Hoàng Văn. Đệ tử thứ năm tên Nguyễn Chí. Phải chăng đệ tử thứ sáu tên Đỗ Xích-Thập? Thứ mười tên Hoàng Liên?

Nhật-Hồ kinh ngạc:

– Công-chúa, công-chúa biết cả rồi ư?

Tạ-Sơn mỉm cười:

– Chúng tôi đang muốn thỉnh tiên sinh về đệ tử thứ bẩy, tám, chín. Từ trước đến giờ Hồng-thiết giáo của tiên sinh hành sự thường bí mật, ít ai biết rõ.

Nhật-Hồ hỏi ngược lại:

– Lão phu có bắt buộc phải khai không? Nếu bắt buộc, hẳn lão phu đóng vai bị cáo. Lão phu bị cáo tội gì? Xưa nay có ba loại người dù phạm tội nào cũng được tha. Một, sau bẩy mươi tuổi. Hai, sau khi phạm tội mười năm. Ba, không biết mà phạm. Nay lão phu ở trong cả ba trường hợp. Lão phu xin từ chối trả lời.

Đến đó có tiếng nói vọng vào:

– Tiên sinh nói hay không tùy tiên sinh. So về tuổi tác, tiên sinh đã ở ngoài cái tuổi chịu hình. Bộ Hình-thư có trường hợp giảm khinh cho những người tuổi trên bẩy mươi. Nay tiên sinh đến tuổi một trăm, tội lỗi gì cũng không thể đem xử. Huống hồ tiên sinh bị giam đã hai mươi năm. Dù có phạm tội, là phạm tội với triều Lê. Chứ bấy giờ bản triều chưa lập.

Mỹ-Linh nhận được tiếng Khai Quốc Vương, nàng đứng dậy ra đón vương. Vương từ ngoài vào cùng với Nùng-Sơn tử, Huệ-Sinh. Thấy Huệ-Sinh, lòng Mỹ-Linh ấm lại:

– Sư phụ. Sư phụ tâm vẫn thường an lạc chứ?

Huệ-Sinh cười chúm chím:

– Sư phụ an, có an, mà lạc thì không. Bởi bỗng nhiên cô đệ tử Mỹ-Linh mất tích. Nào ngờ trong cái mất tích lại xuống ngục A-tỳ cứu mẫu thân như ngài Mục-Kiều-Liên.

Khai Quốc Vương ôm đầu Mỹ-Linh vào ngực mình, tay bẹo má nàng:

– Con gái chú giỏi quá.

Nhật-Hồ lão nhân bị giam lâu ngày, lão không biết Khai Quốc Vương. Nhưng thấy tất cả mọi người đứng dậy hành lễ với Vương, lão biết Vương có địa vị không nhỏ. Lão cũng chắp tay xá một xá.

Tạ Sơn, Mỹ-Linh trình bày mọi chi tiết với Huệ-Sinh, Khai Quốc Vương. Vương nói:

– Sư huynh biết truyện này quan trọng, vội về đây giải quyết.

Vương quay lại chỉ vào Huệ-Sinh, Mỹ-Linh ,nói với Nhật-Hồ lão nhân:

– Lão tiên sinh! Tại hạ Lý Long-Bồ, đệ tử phái Tiêu-sơn. Vị này pháp danh Huệ-Sinh, sư phụ của tại hạ. Còn Mỹ-Linh là cháu gọi tại hạ bằng chú.

Vương trịnh trọng đưa ra tấm danh thiếp:

– Sắp tới ngày giỗ Bắc-bình vương Đào Kỳ, tiểu bối kính mời tiên sinh đến dự. Trước lễ ngài, sau chúng ta cùng bàn việc cứu nước. Bây giờ tiên sinh cần gặp chư đệ tử, xin tiên sinh cứ tự tiện.

Vương bảo viên thị vệ hầu cận:

– Người thay ta, chọn một con ngựa tốt tặng tiên sinh.

Vương móc trong bọc ba nén vàng:

– Lão tiên sinh từ trong ngục ra, tiền không có, quần áo rách hết rồi. Xin tiên sinh cầm ít bạc vụn để tiêu vặt.

Nhật-Hồ cười, tay lão vuốt râu:

– Đa tạ Vương-gia.

Lão nói với Mỹ-Linh:

– Đa tạ Công-chúa cứu lão. Lão nguyện báo đáp. Về những điều Công-chúa thẩm vấn, xin Công chúa cho lão phu nghỉ ngơi mấy ngày đã. Sau đó lão phu mới có thể nói được. Lão phu bị giam hai mươi năm nay, bây giờ mới thấy ánh sáng mặt trời.

Lão chỉ Vũ Thiếu-Nhung:

– Đối với Hồng-Sơn, coi như nàng đã chết. Lão phu cứu sống nàng. Nàng với lão phu thành vợ chồng trải hơn bốn năm, xin Công-chúa đừng bắt lão phu xa nàng.

Mỹ-Linh lắc đầu:

– Tiểu nữ cần hỏi phu nhân đây ít câu đã. Sau đó sẽ trả lời tiên sinh.

Mỹ-Linh bảo một thị vệ:

– Người đưa lão tiên sinh ra ngoài.

Nhật-Hồ theo thị vệ ra ngoài.

Tạ Sơn xướng:

– Gọi Vũ Nhất-Trụ vào.

Thị vệ áp giải Vũ Nhất-Trụ tới. Y chỉ mặt Tạ Sơn:

– Tên họ Tạ kia. Mi lấy tư cách gì mà gông cổ ta như thế này? Cái chức Điện tiền chỉ huy sứ của mi so với ta chỉ bằng hạt vừng, hạt đậu. Mi hỗn láo với ta, phạm tội đại bất kính, toàn gia sẽ bị phanh thây.

Tạ Sơn chỉ vào Mỹ-Linh:

– Đàm quốc cữu. Tiểu tướng ở chức vị Điện tiền chỉ huy sứ, dĩ nhiên không đủ tư cách thẩm cung một vị Thái-phó, Đô nguyên soái, kiêm quốc cữu. Nhưng vị này, e thừa tư cách.

Vũ Nhất-Trụ nhìn Mỹ-Linh, y nhận ra nàng cùng Thiệu-Thái đã qua lại mấy chiêu trong hầm Cổ Loa. Y hỏi:

– Y thị là ai?

– Là Công-chúa Bình-Dương.

Vũ Nhất-Trụ nhăn mặt:

– Công chúa Bình-Dương? Ta nghe con gái của Khai Thiên Vương tên Mỹ-Linh được phong Công-chúa Bình-Dương. Thị chỉ biết đọc sách, có đâu võ công cao như cô nương này.

Vũ Nhất-Trụ chợt nhận ra khuôn mặt Mỹ-Linh hơi giống Khai Thiên Vương. Y hỏi:

– Công-chúa điện hạ. Lão thần hiện giữ chức Đô nguyên soái, đóng vai Quốc cữu. Cháu ngoại của lão thần là em của Khai Thiên Vương, còn cao hơn công chúa một vai. Như vậy lão thần cao hơn Công-chúa đến ba bậc. Công-chúa gông đại thần như thế này đây? Theo luật bản triều, lão thần được hưởng Bát nghị. Ai được hưởng Bát nghị, không thể bị gông.

Mỹ-Linh nghĩ đến Vương mẫu, nàng muốn biết ngay hiện tình ra sao, nên lời nói có vẻ khắt khe. Nghe Vũ Nhất-Trụ than, nàng trở về với bản tính hiền hậu, nhỏ nhẹ:

– Đàm quốc cữu. Dường như khi soạn bộ Hình-thư, Quốc-cữu cũng dự thì phải. Bộ hình thư dự trù khoản Bát-nghị, đúng ra Quốc cữu được hưởng giảm khinh. Nhưng có ba tội không được giảm khinh là tạo phản, tư thông với ngoại quốc và đại nghịch bất đạo. Quốc-cữu thân làm đại thần, võ tới Đô nguyên soái, văn tới Thái phó. Con gái làm Quí phi. Con trai làm Tuyên-vũ-sứ. Toàn gia được hưởng hoàng ân. Thế mà Quốc-cữu lại qui phục bọn Hồng-thiết giáo. Hơn nữa Quốc-cữu bắt giam Vương-phi của Thái-tử. Quốc cữu phạm cả ba tội đại nghịch, còn khoan hồng ở chỗ nào được nữa?

Vũ Nhất-Trụ thở dài:

– Lão phu đã từng làm việc ở Khu-mật-viện. Theo luật bản triều chỉ có quan Thái úy mới được quyền thẩm cung lão phu.

Mỹ-Linh chỉ Khai Quốc Vương:

– Quốc cữu hãy quay lại sau, xem ai đây?

Vũ Nhất-Trụ quay lại, thấy Khai Quốc Vương, y không còn hồn vía nào nữa. Y biết với vị Vương gia này, y không thể qua mặt được. Y thở dài, cúi mặt xuống.

Mỹ-Linh nghĩ đến Vương-mẫu không biết sống chết ra sao, nàng hết lịch sự được nữa:

– Trong hầm người đã nói với ta rằng người giam Vương-mẫu ta cùng phu nhân Thiên-trường đại hiệp. Vậy người giam ở đâu phải khai ra?

– Nếu lão phu không khai thì sao?

Tự-Mai quát lên:

– Ta có cách!

Vũ Nhất-Trụ thấy Tự-Mai tuổi còn nhỏ, bất quá mười lăm, mười sáu. Y khinh thường cười lên hô hố.

Tự-Mai vọt người tới, tay nó điểm vào huyệt Bách-hội, Đại-trùy của Nhất-Trụ. Nhất-Trụ né mình tránh, nhưng y bị gông chân, tay, nên không thoát khỏi bàn tay Tự-Mai. Người y rung động một cái, rồi bật lên tiếng kêu ái. Y cảm thấy khắp người như bị hàng ngàn mũi kim đâm vào da thịt, đau đớn không bút nào tả xiết. Nhưng tính quật cường, y nghiến răng chịu đau.

Nguyên lúc Thiệu-Thái ở trong hang đá với Bố-đại hoà thượng. Chàng thấy ông chĩa ngón tay chỏ dồn chân khí vào huyệt Bách-hội, Đại-trùy của Mỹ-Linh, khiến nàng khỏi đau đớn. Sau khi rời hang đá, chàng hỏi ngài tại sao điểm tay hai cái mà hết đau đớn. Ngài dạy:

“Trong người con nhí nhiễm Chu-sa độc chưởng. Chu-sa độc chưởng phát xuất từ Hồng-thiết công, là thứ công lực ma quái. Muốn trừ ma công, phải dùng Thiền-công nhà Phật. Ta điểm ngón tay, dồn Thiền-công vào hai huyệt trên, bao nhiêu ma khí quanh huyệt bị hoá giải, cho nên khỏi bị đau”.

Hồi nãy Thiệu-Thái rời Khu-mật-viện đi chầu thân mẫu. Tạ Sơn hỏi chàng phương pháp khống chế Nhất-Trụ. Thiệu-Thái ghé tai Tự-Mai dặn: Chỉ cần vận khí điểm vào huyệt Đại-trùy, Bách-hội, phân tán chân khí của y, lập tức y bị đau đớn. Quả nhiên bây giờ Nhất-Trụ giở quẻ. Tự-Mai đem ra áp dụng hữu hiệu

Hết quyển II
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 96412
Has thanked: 35581 times
Have thanks: 48791 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: June 12th, 2018, 1:56 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

PreviousNext

  • Similar topics
    Replies
    Views
    Author

Return to Emotional Stories | Truyện Tình Cảm.

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest