Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

Hồi Ký, Tuỳ Bút: Hảo hán Sài Gòn Dân chơi Bến Nghé

Emotional, touching and pathetic Stories | Tình cảm éo le, cảm động và lâm ly.

Hồi Ký, Tuỳ Bút: Hảo hán Sài Gòn Dân chơi Bến Nghé

Postby DaMinhChau » April 13th, 2017, 6:48 pm


Hồi Ký, Tuỳ Bút
Hảo hán Sài Gòn Dân chơi Bến Nghé
Thượng Hồng





Lời mở đầu
Nhìn lại quá khứ để bước tới tương lai là điều mà chúng ta đang làm. Những người con của đất Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định luôn tự hào về quá khứ mà cha ông họ đã đóng góp để hình thành một vùng đất mà sau này mãi mãi con cháu họ được thừa hưởng.
Sài Gòn trước kia là nơi tụ hội nhiều lớp người của mọi miền đất nước, đặc biệt là lưu dân của các tỉnh miền Tây - Một thời quen gọi là Lục Tỉnh. Nhưng dù là dân xứ nào, một khi đã bén rễ với Sài Gòn thì đều có tính cách “rất Sài Gòn”. Tính cách này hiểu nôm na là sự “chịu chơi”, tính khí hảo hán...
Cụm từ “Hảo hán Sài Gòn - Dân chơi Bến Nghé” đã gắn liền với những cái tên như Phan Xích Long, Tư Mắt, Sáu Ngọ, Hai Miêng... cho đến Bảy Viễn, Hắc Bạch công tử. Họ gồm những người tốt (như Phan Xích Long) hay những kẻ ác, xu thời, thậm chí bán nước (như cha con Huỳnh Công Tấn, Hai Miêng). Trong tập sách này chúng tôi cố gắng tổng hợp nhiều nguồn tư liệu từ lời kể lại trong dân gian, từ sách báo thuở trước. Chính xác có, và còn có những giai thoại thêm thắt, nhưng dù sao cũng phản ánh được, chuyện về Sài Gòn xưa như một bức tranh nhiều sắc màu.
Để giúp quý vị có cái nhìn tổng quát và đa dạng hơn, ngoài phần giới thiệu tập “Hảo hán Sài Gòn - Dân chơi Bến Nghé”, chúng tôi còn liệt kê thêm nhiều mặt trong sinh hoạt muôn vẻ của Sài Gòn xưa, theo thứ tự:
- Hảo hán Sài Gòn - Dân chơi Bến Nghé.
- Các đại phú gia đất Sài Gòn.
- Những mỹ nhân làm điên đảo các đại phú.
- Những tản mạn về Sài Gòn xưa.
Chúng tôi hy vọng rang sau khi đọc, nếu quý vị nào hiểu biết sâu hơn, có nguồn tư liệu tốt hơn, xin góp ý chỉ giáo, để người viết rút kinh nghiệm cho những lần viết sau (tái bản) được hoàn chỉnh hơn. Rất mong.
Tác giả





Phần I
Hảo hán Sài Gòn - Dân chơi Bến Nghé



    - Dân chơi Nam Bộ thời xưa.
    - Dân anh chị tại Sài Gòn.
    - Làng võ Sài Gòn em và những võ sĩ huyền thoại.
    - Thiên Địa hội tại Sài Gòn.
    - Chuyện cậu Hai Miêng - nhà tỷ phú “Lương Sơn Bạc”.
    - Bình Xuyên - Từ huyền thoại đến thực tế.
    - Sài Gòn “tam ác”.

Hảo hán Sài Gòn Dân chơi Bến Nghé

Trong suốt 300 năm ra đời và phát triển, Sài Gòn đã sản sinh ra vô vàn sự việc, con người, từ điều tích cực đến tiêu cực... Sài Gòn muôn vẻ, muôn mặt. Trong số này, không thể không ghi lại những nét rất... Sài Gòn, đó là những nhân vật một thời được gọi là hảo hán.
Những nhân vật được người Sài Gòn nhắc tới nhiều nhất trong giới giang hồ hảo hán, trước hết phải kể đến hai người: Phan Xích Long và Tư Mắt. Hai người này tuy có hai tính cách khác nhau, nhưng lại mang nét đặc trưng rất Sài Gòn, nên thiên hạ khó quên.

Phan Xích Long xưng đế

Phan Xích Long tên thật là Phan Phát Sanh, con của Phan Núi - một viên chức cảnh sát ở Chợ Lớn. Thời niên thiếu, Phan Xích Long ít học, chỉ thích tụ tập bạn bè vui chơi. Lớn lên, không làm được thầy thông ký như cha mẹ mong đợi, Phát Sanh đi làm bồi cho chủ Tây. Tuy nhiên, con người ít học này lại có mộng lớn khó ai ngờ. Một ngày nọ, bỗng cậu ta xưng là “Hoàng đế Phan Xích Long”, tự cho mình là Thái tử của vua Hàm Nghi. Thì ra từ lâu, Phan Xích Long đã ngấm ngầm liên kết bạn bè trong giới giang hồ, lao động bị ức hiếp, những người nghèo khổ, để cùng thành lập một “hội kín” chống lại chính quyền bảo hộ Pháp. Lúc “hoàng đế” Phan Xích Long “truyền hịch” kêu gọi nổi dậy đến nhân dân vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, thì được sự hưởng ứng của khá đông người. Tuy nhiên, do tổ chức quá sơ hở, kế hoạch hành động còn non yếu, nên chỉ vài giờ sau khi nổi dậy đã tan rã. Phan Xích Long lánh ra Phan Thiết, còn đồng đảng thì lớp bị bắt, lớp rút vào bóng tối... Song ít lâu sau, họ Phan bị bắt cùng với một số lớn cộng sự và đưa ra xử tại tòa đại hình Sài Gòn, trong phiên xử kéo dài từ ngày 5 đến 12 tháng 11 năm 1913 (Quý Sửu), Phan Xích Long cùng 100 người nữa đã lãnh án khá nặng, trong đó Phan Xích Long bị án chung thân khổ sai.
Họ Phan và hai đồng đảng bị giam ở khám lớn Sài Gòn (thời ấy khám đường tọa lạc ở khu đất mà ngày nay là Thư viện thành phố, trong khu tứ giác Lý Tự Trọng - Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Lê Thánh Tôn - Nguyễn Trung Trực). Vào lúc nửa đêm ngày 12 tháng Giêng năm Bính Thìn (1916), đồng đảng của Phan Xích Long trong Thiên Địa hội bất thần tấn công khám lớn, nhằm mục đích giải thoát cho đại ca họ. Lực lượng “cướp pháp trường” này mang tính chất “Lương Sơn Bạc”. Tất cả những người tham gia đều xuất phát từ các ghe, xuồng đậu ở cầu Móng (phía Khánh Hội) mặc quần trắng áo đen, cổ đeo bùa chú lạ và nghe nói trước giờ xuất phát, họ đã uống nước sắc bùa và chỉ võ trang giáo mác với khí thế hừng hực! Thế nên, chỉ sau hai giờ “khởi binh”, lực lượng của họ đã bị dẹp tan: ba người bị bắn chết ngay tại chỗ, bốn người khác bị bắn trên đường tẩu thoát, một số khá đông bị bắt nhốt.
Tòa đại hình Sài Gòn đã kết án tử hình 38 người, và đem ra xử tại Đồng Tập Trận vào các ngày 20 tháng 2 và ngày 16 tháng 3 năm 1916. Tổng cộng có 57 “anh hùng hảo hán” chết vì “đại cuộc” của Phan Xích Long. Dân Sài Gòn cho rằng, nếu các “người hùng” này hành dộng khéo léo và tổ chức chu đáo một chút thì kết cuộc sẽ không bi thảm như vậy...

Tư Mắt

Đồng thời với Phan Xích Long là Tư Mắt. Người này không có được chí lớn và hành động chống Pháp giải thoát người nghèo như Phan Xích Long, tuy nhiên, anh ta vẫn được người Sài Gòn nhắc tới, bởi tính cách rất giang hồ vào thời ấy.
Tư Mắt tên thật là Nguyễn văn Trước, sinh ra và lớn lên tại vùng Chợ Lớn. Làm thợ hớt tóc, rồi sau đó làm chủ tiệm, mở cửa hiệu hớt tóc tại số 200 đường Marins (đường Thủy Binh, sau đổi thành Đồng Khánh, hiện nay là Trần Hưng Đạo B). Vào những ngày đầu thế kỷ XX, khắp vùng Sài Gòn, Chợ Lớn (và cả Nam Kỳ lục tỉnh) không ai không nghe danh “đại ca Tư Mắt”, bởi ông ta là tay giang hồ hảo hán bạo gan, bạo phổi, hành động nặng tính Lương Sơn Bạc nhất. Đã có rất nhiều “huyền thoại” chung quanh cuộc đời ngang dọc của con người này, đến nỗi, dù cho Tư Mắt hành động cướp bóc cũng được ngợi khen, bởi nhiều người cho rằng Tư Mắt lấy tiền của kẻ giàu đem chia cho những người nghèo.
Tương truyền, Tư Mắt có đến hàng ngàn đồng đảng ở khắp nơi. Ông ta cầm đầu những vụ cướp của nhà giàu, chứa bạc lấy xâu và cả những dịch vụ làm ăn không rõ nguồn gốc... Sở dĩ Tư Mắt được tôn là hảo hán, có lẽ do những hành động đượm chất Tống Giang, Võ Tòng của Thủy Hử, hoặc hành động như Đơn Hùng Tín trong truyện Thuyết Đường. Ai đã quen biết với Tư Mắt, từng được “anh Tư” che chở, đều bái phục chất hảo hán rặt Nam Bộ của anh ta: đàn em bất kể là người nào, nếu lúc bình sinh chịu khuất phục Tư Mắt, thì lúc hoạn nạn, dù ở hoàn cảnh nào, cũng được “anh Tư” ra tay cứu vớt. Thậm chí, có người khi bị sa cơ, ở tù, người nhà không thấy ai thăm viếng, chỉ thấy Tư Mắt hoặc đàn em của anh ta đến thăm tận khám đường, tiền bạc quà cáp đầy đủ và còn có thể được Tư Mắt bỏ tiền ra lo cho tại ngoại.
Thời đó, chính quyền Pháp hình như ngại đụng chạm đến Tư Mắt, một phần vì lực lượng “đầu gấu” trong giang hồ của Tư Mắt quá đông, nhưng phần quan trọng hơn là họ sợ chạm đến lòng ngưỡng mộ Tư Mắt của số đông dân nghèo. Có một câu chuyện được kể lại rằng, vào một ngày nọ, khi Tư Mắt cùng vài đồng bọn tới một ngôi chợ nhỏ, đang ngồi ăn uống thì bị lực lượng cảnh sát bao vây. So về tương quan lực lượng thì phía Tư Mắt thua chắc, dù đại ca có giỏi đến đâu... Nhưng, thật bất ngờ, một đám đông chẳng biết từ đâu, đã bất thần tấn công cảnh sát, giải thoát cho đại ca Tư Mắt. Sau hiểu ra mới hay, những người đó là đám dân nghèo, chỉ vì mến mộ Tư Mắt nên đã liều thân.
Ngày 14.05.1915, Tư Mắt bị đưa ra trước tòa Đại hình ở Sài Gòn, bị khép tội du côn, kèm theo tội tham gia hội kín ủng hộ ông Cường Để. Tưởng chừng với tội danh đó, người Pháp sẽ kêu một án rất nặng, nhưng thật bất ngờ, Tư Mắt chỉ phải lĩnh có mấy năm tù. Tư Mắt ở tù chẳng xảy ra vụ cướp pháp trường như vụ Phan Xích Long, có lẽ người Pháp đã có dàn xếp sao đó... Khi ra tù, Tư Mắt có vẻ trầm tĩnh hơn, dù đám dàn em vẫn một mực tôn sùng, bái phục.
Ở tuổi 50, bỗng nhiên Tư Mắt rũ áo giang hồ, có lẽ do hối lỗi những gì mình đã gây ra trong suốt một thời gian dài, nên xin vào làm công quả ở chùa Giác Lâm (Bình Thới, Phú Thọ). Nghe nói ông ta chết già trong âm thầm lặng lẽ ở ngôi chùa đó.

Dân chơi Bến Nghé

Ngoài hai tên tuổi nổi cộm nêu trên, Sài Gòn còn khá nhiều các hảo hán, mỗi người một vẻ, người hùng cũng có, xỏ lá ba que cũng không thiếu. Tất cả họ, dù là hảo hán thứ thiệt, hay hảo hán nửa mùa, đều luôn hãnh diện tự cho mình là “chơi theo kiểu Nam Bộ”, với phương châm “hành hiệp”, lấy câu hoạn nạn tương cứu, sinh tử bất ly làm đầu. Nhưng cũng không thiếu những người như Bảy Viễn, lúc còn là dân giang hồ thì luôn miệng thề thốt trọng nghĩa khinh tài, nhưng khi đã có của (do Pháp cung cấp) thì lại tỏ ra gian ác và xỏ lá không ai bằng! Song nói chung, đã là dân giang hồ chính hiệu, thuộc loại hảo hán Sài Gòn trăm phần trăm, thì luôn “chơi đẹp”, móc ruột gan ra chơi với bằng hữu, luôn tỏ ra “bảnh” khó bì!
Nói về vụ chơi bảnh, xin kể lại hai giai thoại sau đây, để cho thấy cách chơi đặc trưng Nam Bộ. Đầu tiên là Sáu Ngọ, vua cờ bạc, đồng thời là tay hảo hán cỡ bự của Sài Gòn. Một hôm, đi chơi phố Catinat (Đồng Khởi ngày nay), thầy Sáu (biệt danh do em út tặng cho Sáu Ngọ) ghé vào hiệu bán nón (mũ) do người Pháp làm chủ. Thời đó, những chiếc nón ngoại (thường là của Pháp, Ý) rất đắt tiền chỉ dành cho dân Tây hoặc nhà giàu. Vì thế, khi nhìn thấy Sáu Ngọ với trang phục lôi thôi, tên chủ tiệm người Pháp đã có ý khinh khi. Đến khi nghe thầy Sáu lên tiếng hỏi mua vài chiếc nón đội chơi, tên chủ trả lời mà có ý đuổi khéo:
- Mắc lắm, anh không mua nổi đâu!
Sáu Ngọ thông hiểu tiếng Pháp nên nghe câu nói đã nổi điên, ông ta hất hàm bảo chủ tiệm:
- Còn bao nhiêu cái nón lấy hết cho tao!
Nói xong, ông ta móc ra một xấp tiền trả “cái rẹt”!
Tên chủ người Pháp quá bất ngờ nên sau đó riu ríu gói hơn một chục chiếc nón và trịnh trọng:
- Merci Monsieur (Xin cảm ơn ngài).
Chuyện thứ hai thuộc về Hội đồng hàm Trần Trinh Trạch, cha của Hắc công tử Bạc Liêu Trần Trinh Qui (Ba Qui). Ông này tuy đã già, nhưng lúc nào cũng muốn chứng tỏ mình là “dân chơi” thuộc loại hảo hán, cho mọi người biết: “Tao như vầy, nên mới sinh ra thằng Hắc công tử Ba Qui như thế...”.
Một hôm, Hội đồng Trạch lên chơi Sài Gòn, nhân đó sắm xe hơi đem về Bạc Liêu chạy lấy oai. Ông ta ghé lại hãng Charner (Trung tâm Bách hóa TP. Hồ Chí Minh ngày nay), là nơi duy nhất bán các loại xe ô-tô mới từ châu Âu đưa qua. Thời ấy, chỉ những quan Tây cỡ lớn, hay những nhân vật phú hộ người bản xứ thuộc loại tiếng tăm lừng lẫy mới đủ khả năng sắm những chiếc xe hơi hiệu Peugeot, Delage, Panhard, Ford... đang trưng bày nghênh ngang trong cửa hàng. Bởi vậy, vào một buổi sáng chủ nhật, khi thấy một cụ già búi tóc, mặc áo bành tô, quần lụa lèo, chân đi giày hàm ếch, bước vào, những vendeur (người bán hàng) đã không thèm tiếp. Đến khi ông cụ lên tiếng hỏi giá cả từng loại xe, thì bị một tên bán hàng hỏi trịch thượng:
- Ông có bao nhiêu tiền mà dám hỏi chiếc xe đó?
Hội đồng Trạch tức khí, vừa vỗ vào hầu bao đeo ở thắt lưng vừa quát:
- Tao mua hết cả nhà tụi bây còn được nữa là.
Rồi ông ta leo lên xe, bảo thử hết chiếc này đến chiếc khác. Cuối cùng, ông ta mua chiếc Delage loại “chiến” nhất, giá trên 2.000 đồng (nên nhớ, vàng thời ấy chỉ vài chục đồng một lượng). Đến khi ông mở gói tiền toàn giấy bộ lư (tiền 100 đồng, loại tiền giá trị lớn nhất lúc đó) ra, mọi người trố mắt nhìn, mấy tay vendeur ngượng nghịu, dạ dạ vâng vâng rối rít!
Về sau, Hội đồng Trạch vẫn còn khoái chí mãi chuyện đó. Ông ta luôn khoe: “Tao cho tụi nó biết thế nào là hảo hán đất Nam Bộ!”.
“Dân chơi” Nam Bộ thời xưa
Chúng ta thường nghe nói đến cụm từ “hảo hán Nam Bộ”, để chỉ một số nhân vật đã sống khá phóng túng, hành tung ngang dọc theo kiểu Lương Sơn Bạc. Một số người là những nhân vật có thật, sống ở Sài Gòn và các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, họ có đáng được gọi là hảo hán hay “dân chơi” không?

Hắc Bạch công tử

Vào khoảng thời gian trước và trong thời chiến tranh thế giới lần thứ hai, ở Sài Gòn và các tỉnh miền Tây Nam Bộ, không ai không nghe nhắc đến Hắc công tử và Bạch công tử, đại diện cho loại “dân chơi” kỳ quặc, nổi lên như một hiện tượng “thời thượng” lúc bấy giờ. Hắc công tử tên thật là Trần Trinh Huy (Qui), con của ông hội đồng Trần Trinh Trạch (ông này là một nghiệp chủ giàu nhất ở Bạc Liêu, mà cũng có thể gọi là đại phú hộ ở các tỉnh miền Tây thời đó). Do đó, người đời quen miệng gọi cậu Ba Qui là công tử Bạc Liêu, hay Hắc công tử, bởi nước da đen mặn mà của cậu ta.
Còn Bạch công tử, đúng như biệt danh, người trắng trẻo, bảnh trai, con của một đại nghiệp chủ ở tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang bây giờ), họ Nguyễn, tên Phước, lấy tên Tây là George nên được gọi là Phước George.
Họ sinh ra và lớn lên vào cái thời Nam Bộ sống dưới chế độ bảo hộ của người Pháp, xã hội nhiễu nhương, sự phân cấp giàu nghèo khá gay gắt. Họ trở thành tầng lớp trên, được hưởng những đặc quyền mà người khác có nằm mơ cũng không thấy được. Và từ đó, họ chơi ngông, đã tạo được chung quanh mình những giai thoại được nhắc mãi...
Thiên hạ thường hay nói: “Chơi như công tử Bạc Liêu” hay “tiêu xài như Hắc Bạch công tử” là ý muốn nhắc đến thành tích phung phí của hai nhân vật này. Tương truyền, vào lúc kinh tế đắt đỏ, năm 1938, một lạng vàng giá 20 đồng, thì Bạch công tử dám mua tặng cho người yêu một chiếc ô-tô trị giá trên 1.000 đồng, làm quà sinh nhật.
Giữa Hắc và Bạch công tử luôn có sự kình chống nhau, bởi ai cũng muốn “xưng hùng”, mà thói đời “nhất sơn bất tàng nhị hổ”. Do đó, hễ có dịp là họ chứng tỏ sự “trên cơ” của mình. Tuy nhiên, nói về “chơi bảnh” thì Bạch công tử có nhỉnh hơn, nói về sự giàu có thì xem ra chàng Hắc trội hơn. Bởi vậy, hôm đó nhân chiều thứ bảy, Hắc công tử (công tử Bạc Liêu) bèn đổi “gu” chơi, không lái xe traction nữa, mà lại đi xe kéo. Ngày đó, ở Sài Gòn, dân nghèo khi đi lại chỉ dám lên xe điện (gọi là xe điển) hay xe ngựa, còn các phương tiện khác như ô-tô và xe kéo thì dành cho dân giàu. Sở dĩ dân nghèo ít dám đi xe kéo vì phương tiện đó đắt hơn xe công cộng nhiều.
Hắc công tử không đi xe kéo thông thường, mà chơi thật ngông, gọi một lúc 20 chiếc xếp hàng, nối đuôi nhau ngay trước cửa. Tất nhiên khi đi, cậu ta chỉ ngồi trên một xe, còn các xe sau: một chiếc chở bâton (gậy), một chiếc chở mũ, chiếc nữa chở cặp tiền mà công tử mang theo để đánh bạc. Còn lại những chiếc khác thì chạy không, đi kèm theo như một lực lượng hộ tống diễu hành! Cả đoàn xe do Hắc công tử dẫn đầu chạy qua khắp các phố, và cuối cùng dừng lại ở khu Đại Thế Giới (Grand Monde). Khi công tử đi đánh bạc là thế đó!
Vụ thứ hai là sự trả thù của Bạch công tử. Số là, lúc nào chàng Bạch cũng tìm cách chơi xỏ ông bạn của mình, để chứng tỏ rằng mình mới là “dân chơi” thứ thiệt. Hôm đó, nhân cùng có mặt trong dạ tiệc và do sự sắp xếp của chủ nhân, hai chàng Hắc - Bạch đã ngồi cùng bàn. Vào lúc tiệc đang hào hứng thì đèn vụt tắt, để chuẩn bị buổi khiêu vũ. Cũng đúng lúc đó, Hắc công tử vô ý đánh rơi tờ giấy “oảnh” (vinght - hai mươi đồng). Thời đó, tờ giấy hai mươi đồng khá lớn (trị giá một lạng vàng) nên công tử Bạc Liêu bật diêm quẹt cúi xuống tìm. Bất ngờ, Bạch công tử Phước George đã móc ra tờ giấy “xăng” (cent - một trăm đồng) bật diêm đốt cháy tờ giấy bạc soi cho Hắc công tử tìm tờ giấy 20 đồng.

Cậu Hai Miêng

Sở dĩ phải nhắc tới nhân vật này là vì dân chơi lục tỉnh, miền Tây Nam Bộ (bây giờ chỉ có 6 tỉnh) ngày xưa không phân biệt thành phần, xuất thân của Hai Miêng, vẫn xem ông này như một loại “hảo hán”. Hai Miêng tên thật là Huỳnh Công Miêng, con trai của tên đại Việt gian Huỳnh Công Tấn, người đã sát hại hai vị nghĩa quân anh hùng Trương Định và Thủ Khoa Huân. Được hưởng ân sủng của cha, thuở nhỏ, Hai Miêng được gửi đi học ở Philippines, được biệt đãi như một vương tôn, công tử. Về nước, đúng 20 tuổi, “cậu Hai” (một danh xưng mà Hai Miêng rất thích được gọi) đã ngang tàng hết cỡ. Cậu ta lập nhóm “Lương Sơn Bạc” (nửa mùa thôi, vì cậu có làm phản, có chống nhà nước Pháp như các hảo hán Lương Sơn Bạc ngày xưa chống Tống đâu) và thường “cứu giúp dân nghèo” bằng cách lấy công quỹ của Pháp để... tiêu xài.
Nhà nước bảo hộ Pháp chỉ thị cho các ngân khố ở các tỉnh Nam Bộ phải biệt đãi Hai Miêng bằng cách khi cậu Hai cần tiền bất kỳ lúc nào, thì có quyền tới bất cứ ngân khố ở bất cứ đâu để lấy, bao nhiêu tùy thích! Do đó, để chứng tỏ mình là “hảo hán”, là “dân chơi”, cậu Hai Miêng đã tung tiền mua chuộc đàn em, người nghèo bằng cách hễ ai thiếu hụt tiền nong, cậu Hai sẵn sàng ra tay “tế độ”. Vì thế, đi tới đâu, Hai Miêng cũng được người ta xưng tụng, kính cẩn gọi một điều “cậu Hai”, hai điều “cậu Hai”. Thậm chí sau đó, có người còn đặt hẳn một bài vè khá dài, để ca ngợi hành động gọi là “anh hùng hảo hán” của dòng máu đại Việt gian này!

Đầu trộm đuôi cướp xưng hùng

Có hai nhân vật tiêu biểu cho loại này là Tư Mắt và Sáu Ngọ. Tư Mắt thuộc về thế hệ đàn anh hơn cả những nhân vật vừa kể. Ông ta sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn vào đầu thế kỷ này. Là dân “anh chị”, trùm thế giới “giang hồ” thời đó với hai “biệt tài”: cờ bạc và cướp. Tuy nhiên, Tư Mắt chỉ cướp của nhà giàu chia bớt cho người nghèo. Còn cờ bạc thì ông ta không đánh lẻ tẻ, mà làm chủ chứa hay “bảo kê” cho các điểm đánh bạc ở Sài Gòn và vài tỉnh lân cận. Nơi nào có Tư Mắt đỡ đầu thì coi như bất khả xâm phạm, làng lính không bao giờ dám đụng tới. Hầu hết dân anh chị Nam Bộ thời ấy đều tôn Tư Mắt là đại ca.
Người tiếp nối “sự nghiệp” Tư Mắt là Sáu Ngọ. Đây là một nhân vật rất đặc biệt, chỉ làm nghề cờ bạc mà có biệt danh “thầy Sáu”. Có lẽ do Sáu Ngọ khôn khéo núp bóng Tây, nhập tịch Pháp và khéo sống như một “đại công chức”. Không phải thầy thông, thầy phán, không một chức tước gì của chính quyền bảo hộ, vậy mà khi bước ra đường, Sáu Ngọ đều ngồi ô-tô bóng loáng, lúc nào cũng có hai cận vệ kè bên, súng ngắn lận lưng. Việc duy nhất của “thầy Sáu” mỗi ngày là đi một vòng khắp Sài Gòn - Chợ Lớn để “thị sát” địa bàn, kiểm tra các sòng bạc lậu (nhưng chơi gần như là công khai) để “lấy xâu” (ăn tiền trong các vụ chứa cờ bạc).
Chính quyền Pháp ở Sài Gòn biết rõ: mỗi ngày, Sáu Ngọ thu “hụi chết” không dưới 100 sòng bạc, bỏ túi không dưới vài chục ngàn (thời điểm 20 đồng một lạng vàng), nhưng họ đã lờ đi, hoặc là ăn chia hay bất lực trước mạng lưới quá rộng của tay trùm cờ bạc này. Sáu Ngọ đã “thống trị” thế giới “đỏ đen” Sài Gòn hơn 20 năm, đến khi khu cờ bạc lớn nhất Đông Nam Á là Đại Thế Giới (Grand Monde) được chính quyền Pháp chính thức cho phép hoạt động.
Cái gọi là “hảo hán chơi ngông” theo kiểu anh hùng cá nhân rồi cũng chấm dứt. Xét ra, tính cách của những “dân chơi” này thật xa lạ với phong cách người dân miền cực Nam của Tổ quốc với bản tính bộc trực, phóng khoáng rất đáng yêu...

Dân anh chị tại Sài Gòn

Sài Gòn, ngay từ thời xa xưa, cùng lúc với sự hình thành và phát triển của nó, bên cạnh những mặt tích cực, vẫn đầy rẫy những mặt tiêu cực, mà các tay “anh chị” là một tiêu biểu.
Đất Gia Định - Sài Gòn là một vùng đất phát triển theo đà Nam tiến của ông cha ta ngày xưa. Dân mang tiếng là “cố cựu” của Sài Gòn không nhiều, trong khi đó, các lưu dân từ miền ngoài (Trung, Bắc) và miền dưới (miền Tây) có phần đông hơn.
Ngoài yếu tố dân đông, đa nguồn gốc, nên mỗi cộng đồng có “phe” riêng của mình, còn có nguyên nhân xuất phát tất yếu từ cuộc sống bon chen chốn thị thành, theo kiểu mạnh được, yếu thua, do đó Sài Gòn luôn luôn là lò xuất phát những băng nhóm “anh chị” nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh.
Người Sài Gòn sơ khai đã có thói quen “nghĩa hiệp”, đối xử với nhau nặng tính “giang hồ” theo một nghĩa tốt đẹp: giúp đỡ nhau bằng hành động hiệp nghĩa mỗi khi thấy ai đó gặp hoạn nạn, ít khi tin tưởng hay nhờ vả vào luật pháp. Thí dụ như những giai thoại được những vị cao niên kể lại, thì từ đầu thế kỷ XVII, khi có một số di dân từ miền ngoài vào, trong lúc chờ ổn định cuộc sống, đã cùng nhau neo ghe ở một đoạn sông Soài Rạp (vùng Nhà Bè ngày nay) để nương náu. Vào một hôm, họ bị nhóm thảo khấu đến từ hướng Gò Công đánh cướp. Thân cô thế cô, nhóm di dân chỉ biết kêu la cầu cứu trong vô vọng. Thật bất ngờ, chỉ ít phút sau, từ hai bên bờ sông cây cối rậm rạp đã có nhiều ánh lửa nổi lên, cùng với tiếng chiêng liên hồi vang dội. Lũ thảo khấu đã bị một số dân bản địa đông đến hàng trăm người, chẳng biết từ đâu tới, tấn công và giải nguy cho nhóm người xa lạ. Các tay “nghĩa hiệp” này chính là các hộ dân làm nghề mò cua bắt ốc, dựng lều ở hai bên kênh rạch gần đó. Họ nghèo vật chất, nhưng nhân hậu và giàu tính “hảo hán”, thường “giữa đàng thấy việc bất bằng...”. Phong cách này, các đời sau vẫn còn lại trong các tầng lớp dân chịu chơi của Sài Gòn và Nam Bộ.
Theo truyền thuyết, thì cũng xuất phát từ những cuộc tụ tập ghe thuyền lưu dân các nơi tại vùng kênh Soài Rạp đó, một người tên là Võ Thủ Hoằng đã đứng ra lập một cái chợ nổi, kết bằng những bè tre, nứa; để rồi thành danh là chợ Nhà Bè cho mãi đến ngày nay. Dân họp chợ trên bè, sống trên ghe xuồng, lều trại tạm bợ... nhưng về tính cương trực và “chịu chơi” thì khó ai bì. Bởi vậy, khi xảy ra đánh nhau giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, nhà Nguyễn đã lấy lòng được nhóm dân “nghĩa hiệp, chịu chơi” ấy, và gầy dựng bàn đạp ở vùng đất phương Nam này, để rồi sau đó ít lâu, đã phản công và thắng được nhà Tây Sơn.
Điển hình cho sự việc trên là vụ nhóm “Cái bang” ở Sài Gòn đã giải nguy cho Nguyễn Ánh, khi ông vua nhà Nguyễn này đang bôn tẩu. Truyền thuyết kể rằng, vào những năm đánh nhau ác liệt giữa Tây Sơn và tàn quân Nguyễn Ánh, một hôm Nguyễn Ánh chạy nạn tới khu vực mà ngày nay là giao lộ Nguyễn Trãi - Cống Quỳnh, vốn là khu vực tập trung dân cái bang (ăn xin) của thành phố. Chẳng phải họ biết thân thế hay thương mến gì ông vua đang bôn tẩu đó, nhưng “giữa đàng thấy chuyện bất bằng...”, họ đã ra tay cứu giúp. Bằng cách, cả làng cái bang hè nhau gõ trống, mõ, nồi niêu xoong chảo ầm ĩ, như có thiên binh vạn mã sắp xông ra, làm cho quân Tây Sơn đang truy đuổi phải chùn bước và sau cùng rút lui vì ngại... Nhờ thế, Nguyễn Ánh (về sau là vua Gia Long) đã thoát nạn. Khi lên ngôi, để tưởng nhớ công lao cứu tử, vua Gia Long đặt tên cho xóm cái bang là Tân Lộc Phường và ưu đãi họ.
Khi Pháp chiếm Sài Gòn, họ đã phát triển thành phố, mở mang phố xá, nhà cửa, đồng thời tạo ra một lớp thị dân mới. Từ đó, bộ mặt dân “anh chị” cũng đổi thay theo.
Nếu thời Gia Long, dân cái bang được thế thì sang thời Pháp, ngay buổi đầu đã nổi lên một nhóm “anh chị” rất hung hăng, nguyên là các tay bồi, bếp của các chư Tây. Bọn này ỷ thế chủ, hống hách với người chung quanh, lâu dần thành thói quen du côn, ức hiếp bất cứ ai chúng “hổng ưa”. Dù chúng dữ dằn như vậy, nhưng mọi người vẫn nhìn chúng với cặp mắt khinh thị, gọi chúng là dân “dọn bàn”, dân “bồi Tây”. Bọn này “đồn trú” tại khu Bồn Kèn (khu vực bồn phun nước Nguyễn Huệ chạy đến trước Nhà hát thành phố ngày nay), là nơi thị tứ nhất của thành phố. Bọn họ còn được gọi là du côn “Bôn-Be”, bởi đa số đều cư ngụ ở đường Paul Bert (Trần Quang Khải ngày nay).
Đối đầu với dân du đãng dọn bàn vừa nói, có nhóm “anh chị” bến tàu (Khánh Hội - Quận 4), là thành phần tứ chiếng giang hồ, chủ yếu sống quanh vùng thương cảng, làm đủ thứ nghề từ bốc vác đến “đá cá lăn dưa”, đâm thuê chém mướn. Đặc biệt, dân anh chị bến tàu rất ghét bọn “du côn dọn bàn”. Bởi theo họ thì dân dọn bàn ngoài việc dựa hơi Tây, ỷ thế của chủ và chút ít tiền do bợ đít Tây ra, chúng không có gì để đáng gọi là “anh chị”.
“Du côn bến tàu” từ bao đời đã có truyền thống lấy cái “mác” nghèo để làm “hành trang” trong mọi hành động. Họ cho rằng mình bị coi thường dưới mắt các thị dân khác, nên phản kháng bằng sự ngang ngược, bạo động. Nói chung, dân bến tàu sống rất thủy chung, và bênh vực cộng đồng hết mình.
Bên cạnh đó còn hai loại dân anh chị khác mà bất cứ ai sống lâu năm ở Sài Gòn đều nghe tên biết tiếng: dân anh chị Mạc Má Hồng (đường MacMaHon, sau này là Công Lý, rồi Nam Kỳ Khởi Nghĩa) và dân Lăng Bu Xề (khu Cống Quỳnh - Nguyễn Trãi ngày nay).
Thuở đó, thỉnh thoảng người ta được chứng kiến những cuộc đụng độ nháng lửa giữa các băng nhóm kể trên. Họ thường sử dụng dao búa, xà beng, xích sắt, củ chì, tay sắt, nên sau khi tàn trận, thường để lại thương vong rất lớn. Cảnh sát Pháp thường tỏ ra thiên vị các “anh chị dọn bàn”, xử ép các nhóm kia. Bởi vậy sự hiềm khích ngày càng tăng, năm bảy chục năm sau vẫn chưa xóa nhòa, dẫn đến cuộc thanh toán đẫm máu giữa du côn dọn bàn và anh chị Lăng xu bề vào năm 1920 tại Cột Cờ Thủ Ngữ (bến Bạch Đằng ngày nay), khiến gần 30 dân dọn bàn phải vào bệnh viện, nghe nói có 4 người tử vong. Chỉ vì ghét dân dọn bàn hống hách, nên đám cái bang Lăng xu bề đã đón lõng và rượt cả nhóm gồm 40 tên bồi bàn của các khách sạn Majestic, Continental vào thủy lộ (bến sông) rồi ra tay trừng trị.
Tuy nhiên, độc đáo nhất của những cuộc đụng độ giữa các nhóm anh chị ở Sài Gòn thuở trước chính là giữa các hội múa lân với nhau. Múa lân là loại hình giải trí của người Hoa, được du nhập vào Sài Gòn theo chân các nhóm người Hoa “phản Thanh phục Minh”. Lúc đầu chỉ cộng đồng người Hoa tổ chức những nhóm múa lân, gọi là Hội lân. Dần dần, người Việt bản xứ cũng hội nhập.
Múa lân thông thường thì không có gì để nói. Ở đây, người ta đã mượn danh nghĩa Hội lân để che giấu các hoạt động khác. Điển hình là Thiên địa hội. Chính từ các Hội lân đượm màu sắc “hội kín” đã khai sinh ra các hình thức đẳng cấp trong các phường múa lân.
Nhóm lân nổi tiếng đầu tiên của Chợ Lớn xuất phát từ Quàng Tóng Cái (Quảng Đông Nhai). Đây là một hội lân giàu có và có thế lực bậc nhất thời ấy (nửa thế kỷ XVIII). Họ có một con lân râu bạc đầu tiên gọi là Kỳ lân vương, thống trị hầu như khắp các bang hội múa lân. Cả Sài Gòn, Chợ Lớn thời ấy chỉ có hai con lân chính thức được phong Kỳ lân vương: một của Quàng Tóng Cái, một của bang Phúc Kiến ở vùng chợ Bình Tây. Mỗi khi lân râu bạc đi tới đâu, thì hầu hết lân râu đen, râu xám đều phải tránh né, co đuôi. Ngược lại, sẽ bị xử theo luật anh chị. Đã có vô số những vụ thanh toán đẫm máu chỉ vì màu râu đầu lân.
Về sau, các băng nhóm anh chị bản xứ cũng dùng đầu lân để diễu võ giương oai với nhau. Đã từng xảy ra những cuộc đụng độ kinh hồn ở cầu Ông Lãnh, Khánh Hội, mà vang dội nhất là trận chiến giữa đội lân Nghĩa Hòa của nhóm người Minh Hương vùng cầu Ông Lãnh, Cầu Muối. Trận chiến lân râu bạc đó xảy ra vào năm 1943, còn được gọi là cuộc tranh hùng giữa lân Sài Gòn - lân Chợ Lớn (Lân Nghĩa Hòa thuộc phe Chợ Lớn). “Chiến trường” đẫm máu chưa từng thấy: gần ba mươi người tử vong, gấp đôi con số đó bị thương tật, cả chục tay cầm đầu bị bắt, bị kêu án rất nặng về tội cố sát và gây rối trật tự công cộng.
Có thể nói, suốt một thời gian dài cho đến tận thập niên 60, các băng nhóm “anh chị” ở Sài Gòn vẫn còn ẩn nấp dưới chiêu bài “lân vương” để xưng hùng. Vào thời 1945-1954, nhóm Bình Xuyên của Bảy Viễn còn dùng cả súng ống để hỗ trợ cho các cuộc múa lân. Những “lân râu bạc” được bảo kê bởi các tay anh chị Bình Xuyên, khi múa ở nhà nào, thì gia chủ phải làm đúng thủ tục, phải treo thưởng đúng với đẳng cấp râu bạc. Còn bằng không, võ sĩ múa lân chẳng hiểu vô tình hay cố ý, cứ vừa múa vừa vén áo lên, để lộ vài trái lựu đạn đeo lủng lẳng!
Tuy nhiên, có người vẫn nhận xét rằng, qua thời gian, với nhiều hình thức “anh chị” khác nhau, gây ra biết bao tội lỗi, tạo nhiều sự bất bình, oán than, nhưng nói chung, dân anh chị ở Sài Gòn vẫn còn dừng lại ở một mức độ nhất định nào đó, chưa đến độ tàn bạo và hắc ám như “anh chị” ở nhiều nơi khác.

Làng võ Sài Gòn xưa và những võ sĩ huyền thoại

Dân Sài Gòn từ bao đời vốn trọng đạo nghĩa, sống phóng khoáng, nên rất thích nghề võ. Mà không riêng Sài Gòn, hầu như nơi nào ở vùng đất phương Nam cũng đều có những “thầy võ”, những võ sĩ vô danh, chuyên “thấy chuyện bất bình chẳng tha”. Vùng Thất Sơn (Bảy Núi) ở An Giang đã có bao nhiêu truyền thuyết về những tay cao thủ võ lâm, đượm màu huyền thoại, không thua gì các hảo hán Trung Hoa, song được nhắc đến nhiều, được thêu dệt và ái mộ, lại chính là các võ sĩ xuất thân hoặc “hành hiệp” tại Sài Gòn. Họ là một phần làm phong phú cho nền văn hóa, văn minh của Sài Gòn 300 năm lịch sử.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image

For this message the author DaMinhChau has received thanks:
canh_n2000
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103056
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49562 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Hồi Ký, Tuỳ Bút: Hảo hán Sài Gòn Dân chơi Bến Nghé

Postby DaMinhChau » April 13th, 2017, 6:54 pm


Võ Tây Sơn

Theo truyền thuyết, khi anh em nhà Tây Sơn nổi lên chống nhà Nguyễn, nhất là từ khi Nguyễn Lữ được phái vào Gia Định để trấn giữ vùng đất phía Nam, thì môn võ lâu đời của Tây Sơn đã được mang theo. Trong dân gian từng lưu truyền nhiều giai thoại về thú mê đá gà và các trò giải trí của vị “phó vương” Nguyễn Lữ. Những trường gà nổi tiếng được mở ra khắp vùng Gia Định, tạo nên phong trào sưu tầm và nuôi gà đá rất độc đáo ở Gia Định và các tỉnh miền Tây. Bên cạnh đó, phong trào luyện võ Bình Định cũng bắt đầu lan rộng. Dân phương Nam, từ trước đó rất mê luyện võ Thiếu Lâm (do các Hoa kiều chạy nạn Mãn Thanh mang sang), nhưng từ khi được tiếp xúc với võ Tây Sơn thì lại chuyên hướng tập luyện môn phái này. Tương truyền, đầu tiên võ Tây Sơn đã thâm nhập giới tư sĩ, nổi bật nhất là các nhà sư vùng Cần Giuộc và Chợ Quán. Những vị sư này võ nghệ rất cao cường, thường giúp dân chống lại ác thú và đánh đuổi bọn cướp.

Theo một thống kê không chính thức, trong số các phái võ ở vùng Sài Gòn - Gia Định từ thế kỷ XVIII trở về sau, đa phần thuộc nguồn gốc Tây Sơn, số còn lại là từ Thiếu Lâm tự, hoặc sự pha trộn giữa các phái để trở thành vài phái địa phương. Sau này, giai đoạn 1930-1950, những “hảo hán” xưng hùng ở Bình Xuyên, Bà Điểm, Hóc Môn, Cần Giuộc, Cần Đước như: Ba Dương, Tám Mạnh, Cố Hoạnh, Bảy Viễn, Mười Trí... ít nhiều thừa hưởng những chiêu thức võ công từ đất Tây Sơn, mà các võ sư gốc di dân như Ba Thi (Chợ Lớn), Sáu Lầu (Bình Khánh, Nhà Bè), Bộ Dực (Bến Tre), Bảy Khuyên (Hóc Môn), Hai Ngàn (Tân Khánh, Bà Trà), Tư Thêm (Vàm Láng) và Sáu Cường (Trà Vinh)... đã truyền cho họ.

Sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định, hầu như những gì của Tây Sơn đều bị triệt tiêu. Nhưng có một thứ không thể mất, đó là võ Bình Định. Những phái võ có xuất xứ từ đất võ miền Trung vẫn còn tồn tại ở Gia Định và các tỉnh Nam Kỳ. Võ Duy Dương, là võ Quan triều Nguyễn, rất giỏi võ Bình Định, khi theo Nguyễn Tri Phương vào trấn giữ Sài Gòn đã từng làm cho binh sĩ dưới quyền nể mặt bởi võ nghệ tuyệt luân của ông. Khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn, phá vỡ đồn Kỳ Hòa, Võ Duy Dương rút về cố thủ ở vùng Đồng Tháp Mười, chỉ mang 24 bộ tướng. Tương truyền, trong 24 thuộc hạ của ông võ nghệ rất cao cường. Tại cứ địa Đồng Tháp Mười, Võ Duy Dương và 24 thuộc hạ đã tụ tập binh mã, rèn luyện võ thuật cho họ, trở thành đội ngũ tinh nhuệ, thiện chiến, sau đó mở những trận tập kích, làm cho quân Pháp phải kiêng nể. Về sau, Võ Duy Dương (được dân địa phương gọi là Thiên Hộ Dương) chết, trong số đệ tử chân truyền của ông có một số người bí mật rút về vùng Thất Sơn (An Giang), tạo ra những huyền thoại võ lâm mới...

Tư Mắt và nghề võ

Trong số các nhân vật giang hồ hảo hán của Sài Gòn hồi đầu thế kỷ XX, có Tư Mắt, một nhân vật nửa tướng cướp, nửa hảo hán. Ông ta có “nghề võ” rất cao cường, khi ra “hành hiệp” thì được dân anh chị của Sài Gòn kiêng nể, tôn làm đại ca. Theo nhiều người kể lại, Tư Mắt giỏi võ Thiếu Lâm, do được một võ sư của môn phái Thái Cực Đường Lang của Thiếu Lâm tự từ Trung Hoa sang dạy cho. Nhưng một số giai thoại khác do những người từng sống chung với Tư Mắt ở chùa Giác Lâm (lúc tay anh chị này hết thời về sống nương nhờ cửa Phật tại đây) kể lại, thì võ công của Tư Mắt đích thực là võ Việt Nam có pha trộn võ Thiếu Lâm. “Anh Tư” (tên giang hồ của Tư Mắt) có vài chiêu thức cực kỳ lợi hại, trong đó, lạ lùng và nguy hiểm nhất là chiêu cầm nã thủ: khi xuất chiêu nhanh như gió, chỉ thoáng một cái, cả năm ngón tay đã chộp vào cổ họng của địch thủ, hạ gục trong nháy mắt!

Tư Mắt đã làm trùm anh chị ở Sài Gòn và cả các tỉnh Nam Kỳ một thời gian dài, từng đụng với các võ sĩ người Pháp. Chúng xem thường người An Nam, chẳng coi Tư Mắt ra gì. Có một giai thoại kể lại rằng, vào năm 1912, tên Aman, một võ sĩ quyền Anh hạng lông rất nổi tiếng, nhân theo tàu buôn Pháp ghé bến Sài Gòn, lên bờ và mở võ đài ở câu lạc bộ hàng hải Pháp, thách các võ sĩ bản xứ đấu với anh ta. Aman lớn lối tuyên bố là chấp mỗi đêm 10 võ sĩ bất kể hạng cân, của Sài Gòn lên võ đài. Ngay đêm đầu, chỉ cần một mình Tư Mắt với một đòn duy nhất, tên võ sĩ kiêu căng nọ đã bị nốc ao.

Huyền thoại Sáu Cường

Vào những năm trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, ở Sài Gòn và vùng Nam Kỳ lục tỉnh, nổi lên Sáu Cường, là võ sĩ vô địch. Ông người Trà Vinh, học võ với “một ai đó” không tên tuổi. Lúc ra “giang hồ”, Sáu Cường tròn 20 tuổi. Bấy giờ ở Sài Gòn và vùng lục tỉnh đã nổi lên phong trào “nghề võ” rất ồn ào. Hầu hết các cao thủ đều là người Pháp, Miên (Campuchia), Lào, Thái Lan. Họ thích làm mưa, làm gió trên các võ đài, khiến cho phần đông người bản xứ tức giận và cứ mong “ai đó” ra tay! Mà “người nào đó” không ai khác ngoài Sáu Cường. Ông xuất hiện đầu tiên ở một trận đấu tại thành phố Cần Thơ, do viên chủ tịch tỉnh lúc đó tổ chức cho võ sĩ Pháp gốc Ấn Độ (có bản lĩnh võ thuật rất lạ, phối hợp giữa quyền Anh và võ Ấn). Anh chàng võ sĩ này đã từng đấu 10 trận ở khu vực Đông Nam Á, thắng cả 10. Nhưng khi Sáu Cường thượng đài, thì đó là trận đầu tiên anh chàng võ sĩ gốc Ấn này bị nằm dài, ngay trong hiệp 2, bởi cú đá song phi của Sáu Cường.

Sau trận đó ba tháng, Sáu Cường lại được dịp thượng đài ở Sài Gòn, với một võ sĩ Xiêm (Thái Lan) tên là Anthuong Chay. Đây là một võ sĩ từng thi đấu nhiều nước ở châu Âu, thắng đến 30 trận, chưa biết nếm mùi thất bại. Anh ta đánh một thứ võ gọi là Muong Thai, vừa đánh bằng tay, vừa sử dụng chân đá, rất lợi hại. Kết quả: Sáu Cường lại thắng! Có thể nói, vào thời điểm đó, Sáu Cường đã trở thành một huyền thoại của làng võ Việt Nam. Hầu hết các độ võ đài ở Sài Gòn hoặc vùng Nam kỳ lục tỉnh, Sáu Cường chưa hề nếm mùi thất bại.

Từ Kid Dempsey đến Minh Cảnh

Trong những “huyền thoại” cận đại, phải kể đến võ sĩ Kid Dempsey và Minh Cảnh. Những người này đã làm rạng danh làng võ Việt Nam từ những năm trước và sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Kid Dempsey thật sự là một người Việt Nam. Tên thật là Văn Phát (Nguyễn văn Phát), sinh năm 1914, do ái mộ võ sĩ vô địch hạng nặng của Mỹ là Jack Dempsey, nên đã tự đặt cho mình cái tên Kid Dempsey. Phải nói rằng, đây là một võ sĩ Việt Nam đầu tiên từng làm mưa làm gió trên võ đài trong nước và ngoài nước. Sau khi thắng trận đầu tiên vào năm 1939, đoạt chức vô địch Đông Dương, Kid Dempsey được mời sang Pháp thi đấu. Từ đó đến năm 1958, ông lưu trú luôn tại đất Pháp, hành nghề võ sĩ ở đó, với những trận thắng vang dội các võ sĩ người Pháp tại những thành phố lớn như Paris, Marseille... rồi lấy vợ Pháp, sinh con. Năm 1958, Kid Dempsey trở lại Sài Gòn, tiếp tục thượng đài và hầu như không có đối thủ. Ông thắng hầu hết gần trăm trận đấu khắp miền Nam và cả các nước Đông Dương. Đến năm 1983, ông qua đời tại quê hương, đất Sài Gòn, trong lúc nếu muốn, ông có thể được các con của ông hiện sống ở Pháp bảo lãnh.

Sau Kid Dempsey một thời gian, năm 1944, tại Sài Gòn đã nổi lên một tài năng khác của làng võ. Đó là Minh Cảnh, một huyền thoại mới về quyền Anh. Năm đó, Minh Cảnh đoạt chức vô địch quyền Anh Đông Dương, được tổ chức tại Hà Nội. Ông vốn là đệ tử của võ sư Muôn, nhà vô địch quyền Anh Việt Nam vào thời 1938-1940, lại được các võ sư tiền bối như Sáu Cường, Thái Ngọc Kỳ (Rạch Giá) truyền dạy thêm những tuyệt kỹ, nên ở Minh Cảnh có được tinh hoa của môn quyền Anh mang đặc tính phù hợp với thể chất người châu Á, với căn bản kỹ thuật hoàn chỉnh, cộng thêm sự gan lì hiếm thấy ở một võ sĩ. Minh Cảnh đã gây được tiếng vang lớn trên võ đài toàn cõi Đông Dương. Nhiều võ sĩ châu Âu đã bị Minh Cảnh hạ đo ván ngay tại Sài Gòn, sau đó đã phải “tâm phục khẩu phục”, công nhận tài nghệ thật sự của người võ sĩ có thể hình nhỏ nhắn, nhưng cực kỳ nhanh nhẹn và dũng mãnh. Hiện nay, ông Minh Cảnh đã lớn tuổi, vẫn sống đạm bạc ở thành phố Hồ Chí Minh.

Võ Thiếu Lâm tại Sài Gòn

Nói đến võ thuật của Sài Gòn mà không đề cập đến võ Thiếu Lâm là một thiếu sót. Bởi vì, như đã nói ở phần đầu, làng võ Sài Gòn đã tích lũy cái vốn rất quý của hai nguồn cội võ thuật, đó là võ dân tộc (võ Bình Định là chính) và võ Thiếu Lâm. Chính các lưu dân gốc Trung Hoa, khi chạy nạn Mãn Thanh, đã đem sang Việt Nam các tinh hoa của võ thuật xứ họ, mà Thiếu Lâm công phu là cái gốc.

Võ Thiếu Lâm chia ra làm nhiều hệ phái ngay tại nguồn gốc của nó và khi truyền sang Việt Nam cũng giữ nguyên như vậy. Vùng Sài Gòn - Chợ Lớn là nơi tiếp nhận và sau đó phổ biến các nơi. Có thể kể ra những phái chính của võ Thiếu Lâm được truyền dạy ở Chợ Lớn ngay từ những năm của thế kỷ XVIII: Thái Cực Đường Lang, Thiếu Lâm Hồng gia, Thiếu Lâm Châu gia, Thái Lý Phật, Nga Mi, Võ Đang.

Đã có những tên tuổi cũng đáng gọi là “huyền thoại” trong làng võ Thiếu Lâm ở Chợ Lớn, như Triệu Trúc Khê, Tạ Xy Vinh, Tạ Nam, Trần Nhất Minh, Đặng văn Thành, Tăng Huê, Triệu Di Văn, Huỳnh Thuận Quý (đệ tử đời thứ ba của tổ sư Thiếu Lâm Hồng gia Hồng Hy Quang)... Những tên tuổi trên đã làm rạng danh sư tổ của họ như Trương Tam Phong, Hồng Hy Quang, Lý Bá Sơn, Ngũ Mai sư thái, Phùng Đạo Đức, Miêu Hiển, hòa thượng Chí Thiện, Tân Uyên trưởng lão, Châu gia Ngũ hổ...

Cái hay của võ sĩ Việt Nam là tuy tiếp thu cả nền võ học của nước ngoài như Thiếu Lâm, nhưng đã khéo léo cải biên, chắt lọc tinh hoa, để có riêng một vài trường phái mang đậm sắc dân tộc, gọi chung là võ Việt Nam. Người ta gọi Sài Gòn là cái nôi của làng võ, bởi sự tiếp thu rộng rãi và biết chắt lọc, phát huy như thế. Những huyền thoại của làng võ Sài Gòn sẽ còn tiếp nối những tên tuổi khác đang theo dòng lịch sử...
Thiên Địa hội tại Sài Gòn

Ngày trước, ở Việt Nam, và nói riêng ở Sài Gòn, Nam Kỳ, đã có những nhóm hoạt động bí mật chống thực dân Pháp, thường gọi là hội kín. Một trong những hội kín đó là Thiên Địa hội. Nhưng, Thiên Địa hội thực chất là hội của những người Trung Hoa. Vậy, tại sao được nhiều người Việt Nam ủng hộ trong đó có người Sài Gòn?

Nguồn gốc Thiên Địa Hội

Khi người Mãn Châu tràn vào Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XVII, dựng lên các triều đại Mãn Thanh, thì những người Hán đã bắt đầu một cuộc trường kỳ phản kháng. Họ lần lượt lập nên những tổ chức, những nhóm bí mật dưới danh nghĩa “Phù Minh diệt Thanh”. Trong số này có Thiên Địa hội. Đặc biệt là từ triều đại Hàm Phong (vua Hàm Phong là chồng của Tây thái hậu Từ Hi), khi phong trào chống đối chế độ hà khắc của nhà Thanh lên cao, thì các “hội kín” lại càng hoạt động mạnh. Việc Hồng Tú Toàn tự xưng đế, lập nên “Thái Bình thiên quốc”, đã là ngọn lửa bùng lên, lan rộng khắp nơi của các tổ chức đối lập.
Thiên Địa hội không chỉ bó gọn trong phạm vi lục địa Trung Quốc, mà còn lan ra khắp nơi có người Hoa định cư ở nước ngoài. Vào năm 1680, một bộ phận gồm khoảng 3.000 người Hán rời bỏ đất mẹ, vì sự đàn áp, truy đuổi của triều đình Mãn, đã dong buồm chạy thẳng qua Việt Nam. Toán người Hoa này đặt dưới sự lãnh đạo của Dương Ngạn Địch, Huỳnh Tấn, Trần Thắng Tài và Trần An Bình.

Khi đến Việt Nam, họ đã khôn khéo dùng quà cáp, vàng bạc đút lót cho nhà Nguyễn (lúc đó là Hiền Vương), nên đã được Hiền Vương thu nạp, cho tá túc. Bởi thời ấy Trịnh - Nguyễn đang phân tranh nên Hiền Vương sợ nếu để nhóm con cháu Hán này ở kinh đô, họ sẽ có cơ hội móc nối với chúa Trịnh, bèn đẩy toàn bộ họ vào vùng đất mới ở Đàng Trong, chỉ định cho cư trú ở vùng đất Gia Định và Định Tường (Mỹ Tho).
Dương Ngạn Địch, gốc người Phúc Kiến, chiếm đất Mỹ Tho. Còn Trần Thắng Tài, Huỳnh Tấn, Trần An Bình thì trụ ở Cù lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai thời ấy đều thuộc về trấn Gia Định). Nhóm này gốc người Triều Châu.

Thiên Địa hội chia làm hai phái, tuy cùng mục đích “Phù Minh diệt Thanh”, nhưng phương thức hành động khác nhau. Nhóm Phúc Kiến dưới danh nghĩa “Nghĩa Hùng đoàn”, tục gọi là nhóm Kèo xanh, còn nhóm Triều Châu thì danh xưng “Nghĩa Hòa đoàn” (Kèo vàng).
Thiên Địa hội âm thầm phát triển ở Việt Nam từ đó. Đối với nhóm người Hoa lưu vong, thì sự tồn tại của Thiên Địa hội là hình thức cảnh giác, để đề phòng sự truy đuổi của nhà Thanh, đồng thời nhen nhóm hy vọng giấc mơ phản Thanh phục Minh của toàn thể người Hán. Còn người Việt bản xứ tại sao lại thừa nhận và đồng hóa nó như một tổ chức của chính mình?

Thiên Địa Hội ở Nam Kỳ

Đầu tiên, Thiên Địa hội phát triển ở Cù lao Phố và Mỹ Tho, sau đó lớn mạnh ở Chợ Lớn (Đề Ngạn - Thầy Ngoòn) và dần dần lan ra khắp Nam Kỳ lục tỉnh, nơi có những người Hoa len lỏi đến sinh sống cùng người bản xứ.
Ở các vùng đất mới khai hoang, nạn cường hào ác bá nhũng nhiễu dân lành là tiền đề cho sự du nhập Thiên Địa hội vào cộng đồng người địa phương. Phần đông họ đều hiểu biết một cách lờ mờ về nguồn gốc của tổ chức bí mật này, chỉ biết rằng, đó là một hội kín của những người cô thế, nên cứ lấy đó làm chỗ dựa tinh thần để chống lại sự áp bức, bóc lột của quan lại địa phương và xa hơn là phản kháng chế độ phong kiến. Các bần nông, lao động nghèo ở các vùng xa xôi Nam Bộ, qua tác động của Thiên Địa hội đã làm nên những cuộc nổi dậy chống cường quyền, mà hậu quả thảm khốc là những cuộc tàn sát đẫm máu ở Đồng Nọc Nạn và một số nơi...
Đến khi có Đảng Cộng Sản Đông Dương ra đời, các cuộc đấu tranh mới có tổ chức, có mục tiêu cụ thể, có sách lược thì ảnh hưởng của Thiên Địa hội mới thu hẹp lại.

Thiên Địa Hội ở Sài Gòn

Đại đa số dân di trú người Hoa đều sống ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Thiên Địa hội dù là Kèo xanh hay Kèo vàng đều chung sống ở đây. Đặc biệt là sau cuộc huynh đệ tương tàn giữa hai nhóm Minh Hương Cù lao phố và Mỹ Tho vào năm 1688. Cũng như sau lần bị Ngải Vương nhà Nguyễn tàn sát, giết thủ lĩnh phe Kèo vàng Huỳnh Tấn, rồi đến lần quân của Nguyễn Nhạc (nhà Tây Sơn) kéo vào trừng trị, giết Dương Ngạn Địch (phe Kèo xanh), thì hầu như Thiên Địa hội của người Minh Hương chỉ còn lại một phái.

Tuy nhiên, cả hai phái Thiên Địa hội đều tồn tại trong các phe nhóm “giang hồ” người bản xứ. Các nhóm này đều tự xưng, lấy các hoạt động hảo hán cá nhân làm phương châm. Nhất là vào thời điểm những năm đầu thế kỷ XX, tại Sải Gòn nổi lên Nguyễn văn Trước tự Tư Mắt và Phan Phát Sanh tự Phan Xích Long, thì Thiên Địa hội mới “dậy” lên rùm beng. Tư Mắt là tay anh chị, lấy kế sinh nhai, nhưng để dễ bề chiêu dụ hảo hán, anh ta tự xưng là Thống lãnh binh Thiên Địa hội, lãnh đạo một nhóm đàn em.
Sau Tư Mắt là Phan Xích Long, người này có ý chí lớn, không chủ trương cướp bóc, chỉ phản kháng sự áp bức, cường quyền và cũng xưng là Thống lĩnh Thiên Địa hội.

Dân theo Phan Xích Long gồm các thành phần lao động nghèo ở vùng Chợ Lớn, cũng như một số đông dân miệt Cần Đước, Cần Giuộc (thuộc địa phận của tỉnh Gia Định bao gồm Sài Gòn - Chợ Lớn - giáp ranh Tân An). Họ nhất mực cho rằng Thiên Địa hội do Phan Xích Long lập nên. Có thể nói, Thiên Địa hội của Phan Xích Long được tổ chức quy mô nhất. Do vậy, khi Phan Xích Long bị nhốt ở khám lớn Sài Gòn, các toán “chi nhánh” của Thiên Địa hội vùng Cần Giuộc, Cần Đước, Chợ Lớn đã nhất tề vũ trang giáo mác, dao găm, gậy gộc và... bùa ngải, cùng kéo về đánh khám đường, giải thoát cho đại ca. Mưu sự tuy bất thành, nhưng tiếng vang của Thiên Địa hội làm chính quyền thuộc địa lúc đó phải ăn không ngon, ngủ không yên.

Tiếp nối Tư Mắt, Phan Xích Long, các nhóm “giang hồ” khác quanh vùng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đều nhất loạt “hành hiệp” dưới danh nghĩa Thiên Địa hội. Thậm chí còn có nhóm chuyên đi đánh cướp cũng vỗ ngực xưng danh với gia chủ: “Tụi tao là Kèo vàng Thiên Địa hội đây!”. Người dân lành chỉ nhìn thấy mặt rằng mày ri của các “hảo hán” đã hồn vía lên mây, còn đâu dám hỏi Kèo vàng, Kèo xanh là gì?

Thực tế, đâu có mấy người biết rõ thế nào là Kèo xanh, Kèo vàng? Tại Sài Gòn, có lần tay trùm mật thám Pháp Sanvani đã được một Kèo vàng phản bội khai báo: “Thiên Địa hội hoạt động bí mật, nên mọi hành tung đều lấy ám hiệu, ám ngữ để liên lạc nhau. Khi hai người hội viên gặp nhau ngoài đường, muốn xác minh xem có phải phe ta hay không, một người liền bật ba que diêm. Nếu người kia nhận là chiến hữu, thì lập tức cũng làm đúng như vậy. Sau màn dạo đầu đó, họ sẽ thực hiện tiếp để nhận hệ phái của nhau. Đi đâu họ cũng mang theo một cây dù (ô) đen và luôn xếp gọn, chỉ khi nào cần làm ám hiệu, họ mới giương dù lên. Lúc ấy, đối tượng sẽ nhận ra cán dù, kèo dù màu gì, xanh hay vàng.

Một chi tiết quan trọng nữa, khi nhìn thấy “phe ta” xách dù đúng theo quy định, người muốn liên lạc cần phải nhanh mắt quan sát xem cán dù móc trên cánh tay, đầu móc quay vô trong hay quay ra? Nếu quay vô thì báo hiệu đang có người theo dõi, đừng tiếp xúc, cảnh giác!
Khi bước vô nhà, nếu khách dựng dù để cán xuống dưới, là dấu hiệu sẽ ở lại lâu, còn cán quay ngược lên thì báo rằng có việc khẩn cấp cần đi ngay (nếu đội nón cũng theo phương thức úp ngửa).

Đó là những ám hiệu dành cho liên lạc trên bộ, còn đi ghe thì có cách khác. Nếu nhìn thấy ghe nào ở đầu bánh lái có một cái nón lá úp lên thì đó là hội viên Thiên Địa hội. Về sau, những ám hiệu đó bị lộ, các hội viên đổi sang cách khác tinh vi hơn. Trong đó có cách đọc vài câu thơ. Nếu là chiến hữu thì phải đọc thơ đáp lại. Những câu thơ này đã được phổ biến và quy ước trước. Tùy trường hợp mà áp dụng từng loại thơ khác nhau. Do đó, mỗi khi trong đêm thanh vắng, hay trên một đoạn sông hiu quạnh, bỗng có người cất tiếng hát, ngâm thơ, thì có thể đó là ám hiệu liên lạc của Thiên Địa hội.
Người dân Sài Gòn hay Nam Bộ nói chung, tuy đôi lúc kinh sợ và oán thán một số hành động cướp bóc của một số tay cướp cạn xưng Thiên Địa hội, song trong thâm tâm họ ngầm thán phục những người đứng lên phản kháng cường quyền như Tư Mắt, Phan Xích Long. Còn như hành động cướp cạn của bọn Bối Ba Cụm ở Tân Kiên, Tân Bửu (Bình Chánh - Gia Định) thì làm sao thiên hạ tin là Kèo xanh, Kèo vàngl Ai ở Sài Gòn, miền Nam đều biết Bôi Ba Cụm. Bôi chỉ là một bọn cướp đường sông, ở vùng Ba Cụm. Chúng bơi rất giỏi, luôn mai phục dưới nước, chờ các ghe thương hồ đi qua, chúng trồi lên, bất ngờ trèo lên ghe xuồng, bê đi bất cứ món gì chúng muốn, ngay cả nồi cơm đang nấu sôi. Tài bơi lặn của chúng xứng đáng là hậu duệ của anh em nhà họ Nguyễn trong truyện Thủy Hử. Nhiều ghe chủ đi qua Ba Cụm đã cảnh giác tối đa, cắt người canh giữ chặt chẽ, vậy mà thoắt cái, các bôi đã xuất hiện, lấy cắp và chuồn đi nhanh như bóng ma.

Bối Ba Cụm có thời cũng tự nhận mình là Kèo xanh của Thiên Địa hội.

Cuộc cách mạng mùa thu 1945 là làn gió mới thổi tới, xóa tan các áng mây mù, trong đó có màn mây bấy lâu che phủ Thiên Địa hội. Mọi người từng ủng hộ Thiên Địa hội hiểu rằng từ lâu do ngộ nhận mà ủng hộ Thiên Địa hội. Nay đã có tổ chức cách mạng có lý tưởng cao đẹp và chính nghĩa, nên họ đồng lòng ủng hộ. Đó là lý do vì sao trong cuộc Nam Bộ kháng chiến, trong hàng ngũ nhân dân yêu nước, lại có rất nhiều “cựu hội viên Thiên Địa hội” cùng tham gia.
Chuyện cậu Hai Miêng nhà tỷ phú “Lương Sơn Bạc”

Sơ lược lai lịch Huỳnh Công Miêng

Như đã nhắc đến trong bài Sài Gòn “tam ác”, Huỳnh Công Miêng là con trai trưởng của tay Việt gian Huỳnh Công Tấn (người đã phản bội, đem bán đứng vị anh hùng yêu nước Trương Định cho Pháp). Đúng ra, Hai Miêng tên là Huỳnh Công Minh, song có lẽ do húy kỵ ai đó, nên anh ta mới mang tên Miêng (đồng nghĩa, khác âm). Sinh tại Sài Gòn nhưng hầu như gần suốt thời thơ ấu, Miêng sinh sống tại Pháp (vì người Pháp nhớ công lao của Huỳnh Công Tấn nên ban đặc ân cho Tấn được gửi con sang “mẫu quốc” học hành, phía Pháp đài thọ mọi chi phí).

Sau khi đỗ tú tài toàn phần ở Paris, Miêng vào học luật ở một trường danh tiếng. Có lẽ mộng của Huỳnh Công Tấn là con mình sẽ chen chân vào chốn quan trường nhiều quyền uy và lợi lộc vào thời ấy. Nhưng mưu tính là một chuyện, còn thực tế là chuyện khác. Hai Miêng chỉ học luật được có một năm, rồi lao vào một cuộc phiêu lưu ở Paris. Hai Miêng không giống như các vương tôn công tử khác, không trác táng chơi bời trong các sàn nhảy, nhà chứa hay sòng bạc, mà lại thích giao du kết bạn với các tay hảo hán của kinh đô ánh sáng. Mont Martre, Saint Germain des Prés là những nơi qui tụ đủ các thành phần dân tứ xứ của thủ đô Paris. Tại đó, Hai Miêng được dịp kết thân với những “tay chơi” có cỡ, gốc người đảo Corse (vốn là những người có máu hảo hán, có máu băng đảng giống như dân Sicile ở Ý). Chính thời gian này đã đào luyện Hai Miêng trở thành một thứ “dân chơi” độc đáo. Những người sống cùng thời với Hai Miêng ở Paris về sau đó có dịp kể lại hành tung của chàng công tử này đã nhấn mạnh: vốn có máu ngang tàng phóng túng rất Nam Bộ, Hai Miêng hội nhập rất nhanh với các yêng hùng đảo Corse. Họ chuyên đứng làm “bảo kê” cho các sòng bạc, đường dây mại dâm sang trọng. Hai Miêng tuy nhỏ tuổi, lại là dân “An Nam”, nhưng đã sớm chứng tỏ cho các hảo hán của “mẫu quốc” biết tài nghệ, bản lĩnh của mình, khi cậu ta đóng vai trò quân sư rất có hiệu quả trong nhiều vụ việc. Được nể trọng và bắt đầu nổi tiếng thì cũng là lúc Hai Miêng được lệnh ông bố ở Sài Gòn cho người sang tận Paris bắt đem về xứ (có người mật báo cho ông ta về cuộc chơi nguy hiểm của con trai mà ông ta đặt nhiều hy vọng). Thấy trước một nguy cơ, Huỳnh Công Tấn bằng mọi giá phải kéo Miêng rời khỏi Paris lập tức.

Bị cắt ngang cuộc phiêu lưu đầy hứng thú, Hai Miêng đành bóp bụng trở về quê nhà. Cha cậu biết rõ tính con mình: nếu không tìm công việc gì cách ly Miêng với đường dây ở Paris, thì thế nào cậu quý tử cũng móc nối trở lại rồi sinh hư. Vì thế, ông ta mới gửi gắm một viên chức cao cấp người Pháp, nhờ ông này bố trí để Hai Miêng tham gia bộ máy Nhà nước. Miêng được sung vào đội quân “bình định” của Đốc phủ Trần Bá Lộc, lúc đó đang mở chiến dịch tấn công phong trào Văn Thân ở vùng Thuận Khánh (Bình Thuận, Khánh Hòa). Sự việc này cũng chứng tỏ tâm địa Việt gian của Huỳnh Công Tấn: muốn con trai mình đi vào con đường xấu xa của ông ta.

Song, chẳng hiểu do động cơ nào thúc đẩy, chỉ phục vụ Trần Bá Lộc được một thời gian ngắn, Hai Miêng bỗng dưng bỏ ngang, trở lại Sài Gòn. Từ đó anh ta chẳng màng đến danh lợi. Không thèm bất cứ công việc nào trong ngạch công chức (mà nếu muốn, thì Miêng sẽ được những chức vụ mà bao kẻ khác mơ cũng không thấy), chỉ chuyên tâm vào việc kết bè đảng, rong chơi. Chẳng mấy chốc, cái danh “Cậu Hai Miêng” đã lan rộng khắp Sài Gòn, Gia Định rồi lan ra đến tận các tỉnh Nam Kỳ.

Lưu Linh miễn tử

Người Sài Gòn thời đó không ai còn xa lạ với biệt danh Lưu Linh miễn tử thiên hạ đặt cho Hai Miêng.
Thật ra, danh xưng này nổi lên sau khi Hai Miêng bắt đầu hành hiệp một thời gian, đã đặt dấu chân hảo hán khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Hai Miêng hành động bất chấp luật lệ, muốn làm gì làm nấy, chẳng quan chức nào dám bắt tội anh ta cả. Biệt danh Lưu Linh miễn tử thiên hạ đặt cho Hai Miêng, ngầm ý nói rằng anh ta là đứa con ngang tàng, chẳng ai làm gì Bộ ưa chuộng, tán dương. Do vậy, dù biết Hai Miêng là con trai của tên Việt gian Huỳnh Công Tấn, nhưng trước các hành động tự phát, ngang tàng, bất chấp luật lệ của Nhà nước bảo hộ, người ta lại quay sang ủng hộ Hai Miêng hơn là ghét bỏ anh ta.
Lúc đầu, khi thấy con trai mình đi theo con đường phóng túng, Huỳnh Công Tấn rất bực tức và tìm đủ mọi cách ngăn chặn. Song, chỉ ít lâu sau, ông ta nhận ra một điều: để Hai Miêng tự do hành động như thế, âu cũng là cách tốt nhất mong dân Nam Kỳ quên đi cái tội ác tày trời mà ông ta đã gây ra cho nhà yêu nước Trương Định. Có lẽ, nhờ vậy mà Hai Miêng như được... chắp cánh bay cao hơn. Anh ta làm một cuộc phiêu lưu vô tiền khoáng hậu trong lịch sử mở mang đất phương Nam này. Đến nỗi vào thời đó, hễ nhắc đến tên cậu Hai Miêng là người dân đều dành cho một thiện cảm hay chí ít cũng một nụ cười khoái trá...

Vụ điển hình đầu tiên theo kiểu “cậu Hai Miêng” xảy ra ở Gò Công. Quê của Hai Miêng ở Gò Công. Bố anh theo Trương Định cũng ở đất này và sau đó bắn gãy sống lưng nhà yêu nước cũng ở vùng ấy. Người dân Gò Công căm hận, khinh khi tên đại Việt gian. Huỳnh Công Tấn cũng hiểu thế, nên hầu như ông ta không trở về quê quán kể từ khi được phong chức lãnh binh. Vậy mà, khi bắt đầu cuộc phiêu lưu hành hiệp, Hai Miêng lại chọn ngay tỉnh nhà làm trạm đầu tiên.

Hôm đó, toàn khu vực chợ Gò Công đều nghe tin cậu Hai Miêng mời tiệc tất cả những ai muốn làm bạn với cậu Hai, tại một tửu lầu thuộc loại lớn nhất tỉnh. Danh tiếng của Hai Miêng đã lan xa nên ai nấy đều háo hức muốn gặp mặt lại có dịp dự yến cùng cậu nữa thì còn gì bằng). Họ kéo tới tửu quán có dư trăm người. Hôm ấy, coi như Hai Miêng bao đứt hiệu cao lâu này. Đích thân anh ta mời rượu mọi người, quen hay không chẳng cần biết, cứ cụng ly với cậu Hai thoải mái. Chưa bao giờ có một tiệc rượu tưng bừng hào hứng đến cỡ đó. Thậm chí, đến cả dân đá cá lăn dưa, ăn mày cái bang, đầu trộm đuôi cướp, làm thuê làm mướn, cũng có mặt ở đây để chè chén no say.

Tiệc tàn, thực khách giải tán, Hai Miêng đứng dậy về công xá của tỉnh để nghỉ ngơi. Còn tiền bạc, đáng lý phải thanh toán cho chủ quán thì Hai Miêng, trước khi rời quán, phán gọn một câu: “Quan chủ tỉnh trả!”. Trong bữa tiệc đó có cả viên phụ tá của Tỉnh trưởng. Anh ta lặng câm, để rồi sau đó về trình lại với chủ. Viên Tỉnh trưởng người Pháp ức trong lòng lắm, nhưng cũng đành ngậm đắng nuốt cay ra lệnh cho thuộc hạ đem số tiền cả ngàn đồng trả cho chủ cao lâu (thời giá một lạng vàng chỉ chưa tới mười đồng!). Sở dĩ viên chủ tỉnh người Pháp phải chịu lép vế bởi vì trước đó, ông ta đã được mật lệnh phải dành mọi ưu đãi cho thân nhân Huỳnh Công Tấn, coi như một cách để người Pháp đền đáp công lao khuyển mã của Tấn. Đây là chiêu bài dụ dỗ của Pháp với những ai mềm lòng trước bả hư danh!

Vụ điển hình thứ hai diễn ra ở tỉnh Long Xuyên. Một hôm, Hai Miêng cùng đoàn tùy tùng trên trăm người, đi trên tám chiếc ghe bầu, từ Mỹ Tho xuống chợ Long Xuyên. Tin truyền miệng về sự có mặt của Hai Miêng lan rất nhanh, chỉ một giờ sau khi ghe của cậu Hai cập bến là thiên hạ đã tụ tập đen kín, từ bến sông đến bến chợ. Hai Miêng được đàn em công kênh lên giữa đám đông, anh ta chào đón bà con theo kiểu võ sĩ trên võ đài, rồi tuyên bố thật to: “Hôm nay tôi sẽ phát phiếu chẩn bần cho bà con nghèo. Ai cần thì cứ gặp người của tôi để lấy phiếu, sau đó cứ tới ngân khố tỉnh mà lãnh tiền. Mỗi người được 5 đồng!”

Chỉ sau nửa giờ, số phiếu phát ra đã lên đến số ngàn. Sau đó, chính Hai Miêng dõng dạc báo tin: “Bà con cứ đi theo tôi đến ngân khố lãnh tiền”. Anh ta đi đầu, kế đến là đám đàn em, sau cùng là cả ngàn rưỡi người dân đi theo. Họ kéo đến ngân khố ngay trong giờ làm việc. Hai Miêng vào trước, đi thẳng đến quầy phát tiền, nói như ra lệnh: “Cho gặp Trưởng ty ngân khố. Nói có cậu Hai Miêng xuống đây thăm”.

Chỉ vắn tắt có thế, vậy mà một phút sau, đã thấy một viên chức người Pháp đích thân ra đón khách. Nhác thấy số người đông đảo đứng vây kín phía trước cùng với đám bộ hạ mặt rằn ri của Hai Miêng, viên Trưởng ty ngân khố biết có chuyện chẳng lành. Ông ta chưa kịp hỏi thì Hai Miêng đã lên tiếng trước: “Hôm nay Miêng mỗ có việc qua đây. Nhân ngày trước có nợ với số bà con này một ít tiền, nay phải trả, mà lại không có sẵn tiền. Vậy phiền ngài Trưởng ty lệnh cho xuất quỹ trả giúp, theo phiếu có chữ ký của tôi. Xin cảm ơn ngài rất nhiều”. Nói xong, Hai Miêng bắt tay rồi lui ra, mất dạng. Viên Trưởng ty ngân khố tái mặt khi nhẩm tính số tiền phải chi ra, không khéo hết cả tiền quỹ! Mà không trả theo yêu cầu thì liệu với cả ngàn người khố rách áo ôm như thế, chuyện gì sẽ xảy ra? Cuối cùng, ngót 5.000 đồng được chi ra...

Củng nhờ hành động nghĩa hiệp đó nên suốt những ngày Hai Miêng lưu lại Long Xuyên, anh ta được đối xử như một anh hùng! Dân hảo hán địa phương tới “đầu quân” vô số kể, đến nỗi Hai Miêng phải “tách bến” sớm hơn dự định. Anh ta ghé Cần Thơ, rồi Bạc Liêu... Ở mỗi nơi, lại những trò tương tự diễn ra, tuy mức độ có nhỏ hơn, nhưng nói chung vẫn là cách chơi theo kiểu... cậu Hai Miêng!

Ngoài những hành động trên, Hai Miêng cùng đồng bọn còn có các hành tung chẳng khác các yêng hùng trên đảo Corse, Sicile (chỉ có điều là mức độ ngang tàng thấp hơn, nặng tính “chơi cho đời biết mặt”, lấy tiếng là chính!). Hai Miêng thường tuyên bố mình là Tống Giang của Lương Sơn Bạc, lấy tiền kẻ giàu chia cho người nghèo! Tuy phương châm hành động qua tuyên bố miệng thì ngon lành như thế, song chưa thấy lần nào Hai Miêng lấy chính tiền của cha mình chia cho dân nghèo. Huỳnh Công Tấn chắc cùng lờ đi mọi hành động của con khi thấy anh ta chỉ moi tiền của kẻ khác để làm nghĩa hiệp, còn tài sản riêng của lão thì bất khả xâm phạm!

Người Pháp rất ngán ngại những hành động của Hai Miêng, nhưng vì đã trót có chủ trương biệt đãi từ đầu, nên họ đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Tuy nhiên, về sau họ có ngầm hạn chế, chỉ chấp nhận chi trả cho cậu Hai những số tiền vừa phải. Thí dụ, khi đến bất cứ đâu, nếu Hai Miêng cần tiền chi xài việc gì đó, thì cậu cứ tới ngân khố “vay” (dù không cần trả!) một số đủ để ăn chơi trong các chuyến “lưu du”. Mà chừng như Hai Miêng cũng hiểu và biết tự kiềm chế, nên sau hai vụ lớn ở Gò Công cùng Long Xuyên kể trên, cậu Hai chỉ dừng lại ở mức vừa đủ để thiên hạ nể mặt!
Sau này, lúc Hai Miêng qua đời (không thọ lắm, chỉ ở độ tuổi trên dưới 50, có lẽ do ăn chơi trác táng quá nhiều), anh ta đã được thiên hạ lưu danh bằng loạt bài vè (Vè cậu Hai Miêng) và được giới bình dân thuộc lòng, truyền miệng. Ở hầu hết bên xe, bến tàu, Vè cậu Hai Miêng được đọc, được hát bởi các tay bán thuốc dạo, dân cái bang, hay các tay du ca dân gian... Có những cụ già vừa ngồi gảy đàn độc huyền (đàn bầu) vừa hát vè Hai Miêng, rất được ưa thích...

Bình Xuyên từ huyền thoại đến thực tế

Ai từng sống ở Sài Gòn từ năm 1975 trở về trước, đặc biệt là giai đoạn 1945-1954, đều nghe và biết về Bình Xuyên, một tổ chức tự phát, quy tụ mọi thành phần có tiếng là “đầu trộm đuôi cướp”, nhưng vẫn thường tự xưng là “hảo hán”. Họ có những hành tung đượm tính chất Lương Sơn Bạc, lại vừa nặng mùi sắt máu của bọn mafia... Có một thời, hai chữ Bình Xuyên đã làm cho người dân Sài Gòn ăn không ngon, ngủ không yên...

Bình Xuyên là gì?

Sài Gòn từ năm 1950 trở về trước còn là một thành phố mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Nhà ít, dân thưa, đường sá còn hoang vắng, thô sơ, việc giao thông của vùng ngoại thành chủ yếu dựa vào sông rạch, ghe xuồng. Ở phía Tây Nam của thành phố, tức phần đất bên kia Tân Thuận, ngày nay gọi là Nhà Bè, thời trước 1945 còn mang cái tên chung là Bình Xuyên. Làng Bình Xuyên chạy dọc từ cầu Tân Thuận, qua cầu chữ Y, vào tận cầu Mới (cầu Nhị Thiên Đường), vốn là vùng đất hoang sơ, chưa có đường nhựa. Hai con đường Trần Xuân Soạn và Phạm Thế Hiển ngày nay, lúc ấy là đường làng, chỉ có xe ngựa chạy được từng đoạn, việc đi lại hầu hết bằng xuồng, ghe.

Các vị bô lão am tường vùng Bình Xuyên, đã giải thích ý nghĩa chữ Bình Xuyên như sau: Bình là vùng đất yên bình, Xuyên có nghĩa là chằng chịt, xuyên từ chỗ này tới chỗ kia như hình chữ Xuyên (Hán). Nghĩa chung là vùng sông nước, kênh rạch chằng chịt, sống yên bình.
Song vùng đất ấy có thực bình và xuyên như cái tên của nó? Buổi ban đầu, tức những năm đầu thế kỷ XIX, thì phần nào đúng. Bởi vào thời ấy, những người lưu lạc từ các nơi khác (một số ở miền ngoài - miền Trung; số khác thì từ lục tỉnh - các tỉnh miền Tây) đã tìm đến và định cư ở vùng đất ven đô. Dân tứ xứ hầu hết nghèo, tới vùng đất mới tìm kế sinh nhai, làm ăn bằng những nghề hạ tiện nhất thời ấy, như kéo xe, đánh xe ngựa, mò cua, bắt ốc, ở đợ, vác thuê và “bạ đâu làm đó”, chẳng từ một nghề gì, miễn kiếm được miếng ăn.

Dần dần chính sự bất công của xã hội đã đẩy những con người chân đất đó vào thế chẳng đặng đừng. Mầm mống đạo tặc, cướp bóc đã bắt đầu từ đây...
Trong làng Bình Xuyên thuở ấy, khu vực được xem là nghèo nàn nhất, hoang sơ nhất là các kênh rạch mang những cái tên như Rạch Đỉa, Cây Khô, Hố Bần... cũng chính là xuất phát điểm của các băng nhóm trộm đạo, cướp bóc và xưng hùng xưng bá. Hố Bần, Rạch Đỉa từng được ví như căn cứ Lương Sơn Bạc của nhóm 108 hảo hán thời Tống ở Trung Quốc.

Nhân vật Bình Xuyên

Thực tình mà nói, không phải người nào thuộc nhóm Bình Xuyên đều xấu. Trong số họ, tuy lúc đầu cũng thuộc cánh “giang hồ” nhưng về sau đã có nhiều người giác ngộ, tham gia cách mạng chống thực dân, đế quốc. Trong số này, đáng kể là ông Nguyễn văn Mạnh (Tám Mạnh), Mai văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Nguyễn văn Rô (Bảy Rô)... là những người đã chí cốt, trung thành với cách mạng. Qua họ, dân Bình Xuyên đã phần nào nở mày nở mặt.
Tuy nhiên, vào thời ấy (1940 - 1954), vùng Bình Xuyên và những con người Bình Xuyên là nỗi ám ảnh kinh hoàng của người dân lương thiện Sài Gòn. Trong đó có Bảy Viễn, một cái tên đã biến Bình Xuyên thành cơn ác mộng. Vậy Bảy Viễn là ai?

Vào các năm 1940-1941, dân Bình Xuyên xem Dương văn Dương là “thần tượng”. Họ vừa nể, vừa thân tình với con người này, nên thường gọi ông bằng cái tên thân mật: Ba Dương. Khi ấy Ba Dương được xem là thủ lĩnh của Bình Xuyên, bởi ông đứng đầu nhóm hảo hán thường can thiệp giúp dân khi có chuyện bất bình, chuyên đi cướp kẻ giàu, đem về giúp dân nghèo tại địa phương. Dần dà, đi đâu trong khu vực Bình Xuyên cũng đều nghe tiếng ca tụng Ba Dương. Thời đó, tuy nhóm Ba Dương thực chất là một băng cướp, nhưng nhờ những hành động không thái quá và đứng về phía người nghèo, nên nhóm này được dân Bình Xuyên rất thương, không bao giờ tố cáo, mà còn che giấu khi có sự.

Vài năm sau, trong lực lượng của Ba Dương nổi lên những bộ mặt mới, báo hiệu những chuyển biến không lành về sau. Người đáng kể nhất là Lê văn Viễn, tục gọi là Bảy Viễn. Tuy nhỏ tuổi hơn Ba Dương, kém cỏi Ba Dương về nhiều mặt, nhưng ngay từ lúc mới gia nhập nhóm Bình Xuyên, Bảy Viễn đã ngấm ngầm bất phục vị thủ lĩnh của mình. Ông ta thường tuyên bố trước nhóm em út rằng: “Thà làm đầu gà hơn là đuôi phượng”, ngược với câu nói cương quyết của một hảo hán khác, vốn là bạn thân của Bảy Viễn, đó là Huỳnh văn Trí, tức Mười Trí, khi ông này nói: “Làm đuôi phượng còn hơn làm đầu gà”! Ý của Mười Trí là thà sống khiêm nhường mà thanh cao, còn hơn danh vọng mà hèn hạ.

Trong khi thanh thế của Ba Dương còn lớn, Bảy Viễn tạm thời hành động thầm lặng, nhưng cũng không kém phần dữ dằn. Bảy Viễn chuyên đánh cướp những phú thương, những tay cự phú ở Sài Gòn, Chợ Lớn và các vùng thuộc địa phận giáp ranh với làng Bình Xuyên. Một trong những vụ cướp táo bạo nhất vào những năm giữa thập niên 40 là vụ đột nhập nhà riêng và cũng là sòng bạc lớn nhất của “vua cờ bạc” Sáu Ngọ, để cướp đi một số tiền rất lớn, đồng thời cũng chính thức đối đầu với một nhân vật thuộc loại “trùm” như Sáu Ngọ, người mà ngay cả nhà đương cuộc Pháp cũng ngán ngại khi đụng đến. Mục đích của Bảy Viễn khi ra tay với Sáu Ngọ không đơn thuần vì tiền, mà chứng tỏ mình là “trùm” thực sự, chứ không phải ai khác.
Bảy Viễn từng bị bắt nhiều lần vì tội cướp của, giết người, bị đày ra Côn Đảo và sau đó thoát về đất liền dễ như người ta đi du lịch. Thời đó, các tay trùm mật thám Pháp ở Sài Gòn như Bazin, Savani một mặt truy lùng Bảy Viễn, mặt khác lại rất e dè tay này. Họ biết rằng kẻ nguy hiểm nhất trong lực lượng Bình Xuyên chính là Bảy Viễn chứ không phải Ba Dương.

Vào đầu năm 1946, lực lượng Bình Xuyên của Ba Dương đã giác ngộ, bắt đầu tham gia vào công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân Nam Bộ. Chính viên thủ lĩnh “giang hồ” nhưng có đầu óc tiến bộ này đã đích thân kéo quân đi chi viện cho mặt trận ở vùng giáp ranh giữa Bến Tre và Đồng Tháp Mười. Chẳng may, Ba Dương bị tử trận dưới làn đạn của máy bay Pháp. Đây là giờ phút quyết định cho vận số của lực lượng Bình Xuyên. Bởi khi Ba Dương chết, dù có những người khác được đưa lên thay thế, nhưng Bảy Viễn nhất định bất phục. Anh ta vừa công khai vừa âm thầm gây thanh thế, khẳng định rằng chỉ có Bảy Viễn mới là người đủ khả năng lãnh đạo nhóm Bình Xuyên!

Bình Xuyên bị bán đứng và bộ mặt thật của Bảy Viễn

Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nổ ra ở Nam Bộ, cùng với toàn dân, nhóm Bình Xuyên cũng tích cực tham gia. Song, khi Ba Dương tử trận, quyền lực phần lớn nằm trong tay Bảy Viễn, thì Bình Xuyên đã bắt đầu bị bán đứng. Dù có một thời gian, Bảy Viễn và các chỉ huy khác của Bình Xuyên kéo xuống Rừng Sác lập chiến khu, tham gia vào lực lượng vũ trang của quân khu 7, do tướng Nguyễn Bình làm khu bộ trưởng, nhưng đó chỉ là giai đoạn “thử lửa”. Chỉ những tay giang hồ có lòng yêu nước thực sự mới trụ lại với cách mạng, còn riêng Bảy Viễn thì đã sớm lộ bản chất, móc nối với phòng nhì Pháp (Deuxième Bureau). Sau đó, vào ngày 13 tháng 6 năm 1948, Lê văn Viễn, tự Bảy Viễn, đã trở cờ, kéo quân ra đầu hàng Pháp tại Sài Gòn. Viễn được phong quân hàm đại tá, được giao chỉ huy lực lượng Bình Xuyên cũ. Từ đó cái tên Bình Xuyên bắt đầu trở thành nỗi kinh hoàng cho mọi người. Bởi vì thực chất cái gọi là “lực lượng Bình Xuyên” chỉ là một nhóm ô hợp những tay đầu trộm đuôi cướp, những thành phần bất hảo, du thủ du thực, được đàn em của Bảy Viễn chiêu mộ, nhằm phô trương thanh thế, hầu lãnh nhiều lương của Pháp, đồng thời đó cũng để bắt đầu tổ chức những nhóm mafia sắt máu.

Từ năm 1948 đến 1954, Bảy Viễn là một thứ siêu “bố già”, với quyền lực gần như vô song. Có lãnh thổ, quân đội, công an mật vụ riêng và đặc biệt hơn, có nguồn tài chính dồi dào, nhờ được độc quyền khai thác các sòng bạc Kim Chung và Đại Thế Giới. Trên các đường phố Sài Gòn, Chợ Lớn, nhan nhản những binh lính đội mũ nồi xanh màu lá cây, tay lăm lăm tiểu liên. Họ là cơn ác mộng của mọi người, bởi họ chính là những “công an xung phong” được mệnh danh là hung thần Bình Xuyên.

Rồi Bảy Viễn được người Pháp phong quân hàm thiếu tướng, hầu như bỏ quên đằng sau mình các biệt danh thời “Lương Sơn Bạc” mà ông ta từng hãnh diện xưng như “thầy Tư Hoảnh-xăng” (Vincent, một cái tên Tây tự đặt), cũng như không còn nhớ cái làng Phong Đước, quận Cần Giuộc, thuộc tỉnh Chợ Lớn, nơi chôn nhau cắt rốn của mình... Tổng hành dinh của Bảy Viễn đóng tại vùng Chánh Hưng, quận 8, tức địa phận làng Bình Xuyên cũ, được ông ta đầu tư xây dựng nửa giống Lương Sơn Bạc, nửa giống như sở thú: bên ngoài binh lính canh phòng nghiêm ngặt, còn bên trong thì nuôi đủ loại thú dữ như cọp, beo, gấu, rắn... Ông ta từng huênh hoang tuyên bố với một nhà báo nước ngoài về cơ ngơi của mình: “Muốn biết lực lượng Bình Xuyên ra sao, Bảy Viễn là ai, cứ tới thăm tổng hành dinh của tôi sẽ rõ”. Mỉa mai thay, chỉ ít lâu sau lời tuyên bố hách dịch đó, tổng hành dinh và cả bản thân Bảy Viễn nữa, đã bị tan tác trước sức tấn công của binh lính Ngô Đình Diệm (Bảy Viễn bị nhóm tướng tá của Ngô Đình Diệm đánh bật ra khỏi địa phận Bình Xuyên, sau đó rút tàn quân về vùng Rừng Sác và cuối cùng tan rã, Viễn chạy sang Pháp “tị nạn”, vào những tháng giữa năm 1955). Lực lượng Bình Xuyên cũng như danh xưng làng Bình Xuyên đã bị xóa sổ từ đó. Những người dân Bình Xuyên chân chính, đã không dằn được sự căm phẫn đối với những kẻ đã bán đứng địa danh của họ...

Ngày nay, vùng đất Bình Xuyên xưa đã trở thành quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (khu vực cầu Rạch Ông Lớn, cầu chữ Y, Hiệp Ân, Nhị Thiên Đường, Chánh Hưng đã thuộc về quận 8 từ sau 1954). Nếu không nhắc lại, không khéo lớp trẻ sau này, mỗi khi đi qua những Rạch Đỉa, Hố Bần, Tân Qui... sẽ không hề biết rằng, nơi đó đã một thời khá dài, chính là vùng đất dữ, được mệnh danh là “Lương Sơn Bạc” của Sài Gòn...
Sài Gòn “Tam ác”

Bên cạnh “Tứ đại phủ” (nhất Sĩ, nhị Phương, tam Xường, tứ Định), “Tứ đại mỹ nhân ”, “Tam đại gia” (chú Hỏa, chú Hỷ, Quách Đàm), Sài Gòn còn có một bộ sậu được gọi là “Tam ác”, từng làm ô danh hòn ngọc Viễn Đông. Đó là ba nhân vật tiếng tăm bậc nhất thời Tây mới qua, quyền uy tột đỉnh, giàu sang khó ai bì, đồng thời là bọn người mà đời đời tiếng xấu không phai, lòng căm thù của thiên hạ đối với họ chồng chất.

Đệ nhất ác

Trong bộ ba “cùng hung cực ác” của đất Sài Gòn buổi giao thời (tức giai đoạn người Pháp mới chiếm đất Nam Kỳ năm 1859) thì ác danh đệ nhất phải dành cho đốc phủ Trần Bá Lộc.

Trần Bá Lộc gốc ở Cái Bè, Mỹ Tho (Tiền Giang), sớm ngoi lên ngay khi người Pháp vừa đặt chân lên đất Nam Kỳ lục tỉnh. Nhạy bén thời cuộc, hắn theo đạo Thiên Chúa để tiến thân dễ dàng hơn. Trần Bá Lộc lập nghiệp ở đất Sài Gòn, ngay từ khi người Pháp chưa biến thành phố này thành một “la perle de l’Extrême Orient” (hòn ngọc Viễn Đông). Đó là ý đồ rất thức thời của kẻ cơ hội, bởi vì ở buổi giao thời, chính quyền bảo hộ Pháp rất cần những kẻ hợp tác trung thành.

Hơn cả sự trung thành, Trần Bá Lộc đã sớm tỏ ra đắc lực, tận tụy, ngoan ngoãn. Cái lý của hắn là để trả thù sự đàn áp tôn giáo (Thiên Chúa giáo) của các vua nhà Nguyễn (cụ thể là vua Tự Đức). Từ đó, Trần Bá Lộc đã tự biến mình thành một kẻ cuồng sát. Hắn tự nguyện xin lãnh các trọng trách mà một số tay Việt gian khác ngần ngại hoặc sợ hãi không dám làm, như vụ đàn áp nhóm Văn thân ở miền Trung (Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận). Trần Bá Lộc thành công ngoài dự kiến của người Pháp, bởi trong khi đã mất đến gần ba năm mà Pháp vẫn chưa dẹp được lực lượng kháng chiến của Mai Xuân Thưởng và nhóm Văn thân, thì Trần Bá Lộc chỉ “ra tay” có vài tháng là xong! Truy ra mới rõ, sở dĩ hắn “thiện chiến” như vậy là nhờ áp dụng phương pháp “cùng hung cực ác”. Thay vì bắt được các phần tử chống đối thì đem cầm tù, chờ ngày xử theo luật, Trần Bá Lộc đã hành động gọn hơn, nhanh hơn, đó là “tiên hạ trảm vi cường”, giết lầm hơn tha lầm. Hàng ngàn người, cả nhóm chống đối lẫn thường dân vô tội, đã chết dưới bàn tay khát máu của Trần Bá Lộc! Bởi thế, con đường thăng quan tiến chức của hắn nhanh hơn bất cứ ai đương thời: từ một cai đội tầm thường, Lộc đã leo lên Tri huyện, rồi Tri phủ và sau cùng lên đến tột đỉnh với chức Tổng đốc.

Thời đó, thậm chí mãi nửa thế kỷ sau, người dân Sài Gòn và các tỉnh miền Trung, mỗi khi nghe đến tên Trần Bá Lộc đều rợn da gà, hận thù sục sôi. Đến nỗi, ngay cả các ông chủ Tây của Lộc như quan Toàn quyền Paul Doumer cũng lạnh gáy với cái ác của tên Việt gian này. Trong quyển sách Ký ức Đông Dương (L’Indochine Souvenirs), Paul Doumer đã viết: “Việc ấy là tất nhiên, ta thừa biết nó là như vậy. Nếu muốn nhân nghĩa và nếu còn có cách nào khác thì tốt hơn là đừng sai ông ta cầm quân...”

Cúc cung tận tụy, nhưng do quá tàn ác nên sau khi “hoàn thành nhiệm vụ”, chính người Pháp cũng không còn dám dùng, phải cho Lộc về hưu sớm với chức hàm Tổng đốc. May mắn cho lương dân, Trần Bá Lộc ngã bệnh và qua đời vào năm 1899 ở Mỹ Tho. Tương truyền trước khi chết, hắn trối trăn, dặn phải chôn đứng thi thể! Có lẽ còn nuôi tiếc trần gian, Lộc muốn nhìn lại chức tước, quyền uy và tiền của mà hắn trả lại cho đời...

Đệ nhị ác

Đúng ra phải xếp Huỳnh Công Tấn là đệ nhất Việt gian, bởi hắn ta mắc một tội tày trời: phản bội và dâng nạp nhà yêu nước Trương Định cho Pháp, sau khi lén bắn ông gãy sống lưng.

Tấn là người Gò Công, lúc đầu tham gia đội quân kháng chiến chống Pháp của Trương Định, được phong cấp bậc đội, gọi là đội Tấn. Bất tài nhưng giỏi mưu mô, nên sau thời gian ẩn mình dưới lốt một nghĩa quân, đội Tân đã lén móc nối với Pháp để làm nội gián. Nhà yêu nước Trương Định đã không cảnh giác nên Tấn được sung vào đội quân thân tín của ông, để rồi thừa cơ hội, Tấn đã bắn lén chủ tướng của mình (cùng lúc với việc tập kích của quân đội Pháp). Trương Định bị Pháp bắt và đưa về bắn ở Gò Công.

Huỳnh Công Tấn lập được đại công, người Pháp mừng vui khôn xiết, lập tức cất nhắc hắn lên chức lãnh binh, được hưởng các đặc quyền ít ai có được: hưởng trợ cấp khá cao suốt đời, được xếp ngang hàng với các võ quan, văn quan tột đỉnh người Việt từng phụng sự cho Pháp, các con cái của Tấn được Chính phủ bảo hộ chu cấp cho ăn học đến khôn lớn, được hưởng các quyền lợi về kinh tế, tài chính không giới hạn...
Dù lập công lớn như vậy và được lên địa vị tột đỉnh, nhưng Tấn lại bị toàn dân lên án, căm thù. Đặc biệt dân Gò Công, nơi sinh quán của hắn, nguyền rủa Tấn dữ dội. Táo bạo hơn, họ lén đặt một thạch trụ (trụ đá) ngay giữa chợ Gò Công, hài tội tên Việt gian đê tiện ấy. Thạch trụ này đôi ba phen bị chính quyền phá bỏ, nhưng phá cái này, dân xây cái khác. Cuối cùng, có lẽ thấy không thể ngăn được lòng căm hận của dân, người Pháp đành bóp bụng làm ngơ... Do đó đến đời sau, thạch trụ bêu danh Huỳnh Công Tấn vẫn còn trơ trơ tồn tại.

Tấn chạy về Sài Gòn để dễ bề tiến thân và tránh nguy hiểm. Có dinh cơ lớn ở đây, được Pháp ưu ái, nên nhất thời, quyền uy Tấn lại lấn áp nhiều người. Con trai trưởng của hắn tên Huỳnh Công Miêng được người Pháp bảo trợ cho học hành theo chương trình Pháp. Năm 13 tuổi, Miêng được cho theo học ở một trường dòng tại Pháp, sau đó học đến tú tài và về nước với ý đồ tham gia bộ máy cai trị thuộc địa. Đầu tiên, Miêng được cho theo “chinh chiến” cùng Trần Bá Lộc, bình định nhóm Văn thân ở Khánh Hòa, Bình Thuận. Trẻ tuổi, có khả năng, có thế lực, nhưng qua thời gian ngắn phục vụ bên cạnh tên đại gian ác Trần Bá Lộc (nhìn cảnh hắn ta chém người như chém chuối, tắm máu người như tắm biển, tắm sông), Huỳnh Công Miêng có hơi chột dạ, rợn người. Anh ta bỗng dưng bỏ ngang “con đường binh nghiệp”, về Sài Gòn rồi bắt đầu dấn thân theo gương các hảo hán Lương Sơn Bạc. Chuyện Huỳnh Công Miêng (hay còn gọi là cậu Hai Miêng) khá ly kỳ, đã kể ở trên.

Đệ tam ác

Người thứ ba này so với hai “đại ca” trước thì có vẻ hiền hơn. Nhưng đó là “có vẻ” thôi, chứ thật sự hắn cũng thuộc nòi ác.
Chỉ có điều khéo léo hơn nên ít bị người đời nguyền rủa. Đó là Tổng đốc (chức hàm) Đỗ Hữu Phương, còn gọi là Tổng đốc Phương. Tên hắn từng được chế độ cũ đặt cho con đường mà ngày nay gọi là Châu văn Liêm.
Ngày xưa, con đường Châu văn Liêm bây giờ còn là một con kênh, vốn là một nhánh rẽ của kênh Chợ Lớn (nay là đường Hải Thượng Lãn Ông). Ngay ở bờ kênh, chỗ bây giờ là rạp hát Thủ Đô và khách sạn Trường Thành, chính là tư dinh đồ sộ của Đỗ Hữu Phương. Hắn là người như thế nào mà leo đến bậc cao như vậy trong quan trường? Thật ra, cũng giống như lãnh binh Tấn hay Tổng đốc Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương được gọi Tổng đốc chỉ là chức hàm, do công lao phò tá chủ Tây nên được ban ơn đền đáp. “Chiến công” lớn nhất của hắn chính là vụ bán đứng nhà yêu nước Nguyễn Hữu Huân (Thủ Khoa Huân).
Số là ban đầu giữa hắn và Thủ Khoa Huân có mối thâm giao. Nguyễn Hữu Huân trong thời gian lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, do gặp nhiều khó khăn về tài chính buổi ban đầu, nên đôi lúc có nhờ Đỗ Hữu Phương giúp đỡ, theo kiểu một Mạnh Thường Quân. Thậm chí, có đôi lần, để né tránh sự săn lùng của mật thám Pháp, Thủ Khoa Huân đến ẩn náu trong nhà họ Đỗ, được hắn che chở... Ai cũng tưởng Đỗ Hữu Phương thành tâm yêu nước. Chẳng ngờ, lúc Thủ Khoa Huân gây được thanh thế lớn, được toàn dân Nam Kỳ suy tôn là lãnh tụ kháng chiến thì chính Đỗ Hữu Phương chỉ điểm cho Tây bắt ông đem hành hình tại chợ Rạch Giá!

Đó là tội ác tày trời, khó được dung tha. Bởi thế, sau vụ đó, Đỗ Hữu Phương rút cổ, co vòi sống ở Sài Gòn và lo làm giàu. Hắn là người duy nhất trong bộ “tam ác” được liệt vào danh sách “tứ đại phú” (nhất Sĩ, nhị Phương, tam Xường, tứ Định). Mà chẳng riêng gì hắn, cả bà vợ cũng nổi danh không kém, thuộc hàng nữ cự phú “hét ra tiền, thở ra bạc” một thời ở Sài Gòn. Bà ta bắt chước vợ ông Tả quân Lê văn Duyệt thời trước có dinh thự riêng, nên cũng lập ra một tư dinh mà sau này được dân Sài Gòn quen gọi là “Vườn Bà Lớn”, nay còn lại chứng tích là một tòa nhà ngói xưa, khá to, gần rạp hát Long Vân (khu Ngã Bảy). Cả hai vợ chồng Tổng đốc Phương lao vào kinh doanh bất động sản, thầu các dịch vụ buôn bán lớn. Họ giàu sụ, lại được người Pháp dành cho nhiều đặc quyền nên thời đó (cuối thế kỷ XIX) được kể là một đại gia có thế lực nghiêng thiên hạ!
Để ghi công của hắn, người Pháp đã lấy tên Đỗ Hữu Phương đặt cho một con đường vùng Chợ Lớn. Nhưng mỉa mai thay: khi hắn chết chưa được bao lâu thì “cái danh” ấy cũng bay theo luôn! Con cháu hắn xâu xé nhau, tranh giành tài sản, đã bán ngay cái cơ ngơi (tòa tư dinh) cho người Hoa kinh doanh thương mại. Có thời gian, người chủ mới đem tòa nhà này cho Sáu Ngọ (vua cờ bạc) thuê để mở sòng sát phạt nhau, làm cho nhiều người tán gia bại sản. Tìm hiểu thêm, thiên hạ lại càng ngạc nhiên khi biết rằng đám con cái nhà họ Đỗ này đâu phải tệ: năm con trai đều đỗ đạt cao, thành danh trên quan trường, thương trường, ba con gái đều lấy chồng giàu, thế lực... Vậy mà tàn tạ, mai một rất nhanh. Phải chăng oan oan tương báo, làm ác gặp ác, của thiên trả địa?
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image

For this message the author DaMinhChau has received thanks:
canh_n2000
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103056
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49562 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Hồi Ký, Tuỳ Bút: Hảo hán Sài Gòn Dân chơi Bến Nghé

Postby DaMinhChau » April 15th, 2017, 9:55 pm


[i
]Phần II
Các đại phú gia đất Sài Gòn
Huyền thoại chú Hỏa.

    - Hồn ma con gái chú Hỏa.
    - Chú Hỷ: Ông vua tàu thủy.
    - Vụ đốt tiền của công tử Bạc Liêu.
    - Bạch công tử - Tỷ phú đa tình.
    - Trương văn Bền và xà bông Cô Ba
    - Tja Ma Yeng - Nhà kinh tế trong bóng tối.
    - Làm giàu từ “Đại thế giới”.
    - Nhà tỷ phú rửa chén.
    - Nguyễn Tấn Đời và sự sụp đổ thần tài tín nghĩa.
    - Thợ sửa xe đạp trở thành chủ rạp hát.
    - Lý Long Thân và cơn sốt chim cút.
    - Trùm tài phiệt đỏ đen Sáu Ngọ.
    - Tứ Đại Phú gia đất Sài Gòn.
    - Hai “Đại gia” người Hoa ở Sài Gòn

Huyền thoại chú Hỏa

Bất cứ người nào từng sống ở Sài Gòn đều ít nhiều nghe nói đến một người có cái tên ngắn gọn: chú Hỏa. Bởi chú Hỏa vừa là một cự phú, vừa là một người mang lắm “huyền thoại” chung quanh cuộc đời ông. Tên đầy đủ của ông là Hui Bon Hoa, một người gốc Hoa.

Theo sự “xếp loại” của dân gian vào đầu thế kỷ XX, thì tại Sài Gòn có bốn người được coi như “đại phú”, đó là: nhất Sĩ, nhị Phương, tam Xường, tứ Hỏa. Chú Hỏa được xếp hàng thứ tư, nhưng theo người hiểu biết ở Sài Gòn thì ngôi thứ đó phải ngược lại, có nghĩa là chú Hỏa phải đứng hàng thứ nhất. Chỉ vì những nhân vật kia là người Việt, lại có quyền thế hơn, nên danh của họ được nêu lên đầu. Đó là Huyện Sĩ, người bỏ tiền ra xây dựng ngôi nhà thờ ngày nay mang tên “Nhà thờ Huyện Sĩ” ở đường Tôn Thất Tùng. Phương là Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, lừng lẫy với cái danh Việt gian. Còn Xường, tức là bá hộ Xường, ông trùm các dịch vụ về lúa gạo, công nghệ thời đó.

Chú Hỏa đâu đã làm giàu được ở đất Sài Gòn, trong khi chỉ là một người Hoa di cư? Về điều này, cho tới nay, vẫn còn bao nhiêu lời đồn đại, chưa biết đúng, sai ra sao. Chúng tôi chỉ ghi lại đây như một thông tin đa chiều, chớ không dám khẳng định. Có nhiều giai thoại về sự giàu to của chú Hỏa: do may mắn mua được một gánh đồng nát mà lẫn trong đó là một gói vàng lớn, do an táng mộ phần của người cha ngay chỗ “long mạch”, do bí mật mang được một số vàng và châu báu từ Trung Hoa sang.

Trong cả ba giả thuyết trên, xem ra chỉ có yếu tố thứ ba là có lý phần nào. Nhưng, có một yếu tố mà người ta đã vô tình bỏ quên, ít đề cập mỗi khi kể chuyện về chú Hỏa, đó là sự cần mẫn làm giàu.
Theo dân gian kể, thì chú Hỏa thuở ban đầu rất nghèo, lưu lạc đất Sài Gòn vào những năm hậu bán thế kỷ XIX. Ông làm một nghề mà khá nhiều người Hoa thời đó thích làm, đó là nghề “mua ve chai”. Với đôi gánh trên vai, ông đã đi bộ hầu như khắp Sài Gòn - Chợ Lớn để mua từng thứ bỏ của thiên hạ. Qua thời gian mấy chục năm, số vốn tích lũy dần dần lớn lên. Vào giai đoạn Sài Gòn đang chuyển mình từ một thành phố sơ khai lên đô thị, nhu cầu về nhà ở trở nên bức thiết, ông là một trong vài người đứng ra kinh doanh nhà, đất. Chỉ trong vòng mười năm, sản nghiệp của Hui Bon Hoa đã rất lớn. Vào thời điểm trước thế chiến thứ nhất, gia sản chú Hỏa đã ngót nghét 20.000 căn phố ở khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định. Và ông thành lập công ty “Hui Bon Hoa và các con”.

Nhiều người gần gũi với ông đều ghi nhận điều này: dù giàu tiền triệu thời đó, nhưng chú Hỏa có một cách giáo dục con cái cũng như cách tổ chức quản lý tài sản có thể gọi là khoa học và tiến bộ. Ông có nhiều con, nghe nói đến 10 người. Ai nấy đều được cho học hành đến nơi đến chốn. Điều đáng nói là trong số đông con cái của ông, chưa nghe nói có ai hư hỏng, bết bát về công danh. Một người từng làm việc trong gia đình chú Hỏa, sau này kể lại từ lúc chú Hỏa còn đương thời, ông đã lập sẵn di chúc, trong đó có phân chia gia tài một cách công bằng và tiến bộ như sau: Tài sản chung dành cho con, cháu thừa hưởng ngang nhau, tuy nhiên không người nào được tự ý rút số được chia ra để tự tiêu pha, mà tất cả phải qua một hội đồng ủy thác, được chính chú Hỏa ủy nhiệm cho Notaire (chưởng khế) sở tại. Những đứa con của chú hàng tháng được hưởng một số tiền nhất định, đủ ăn uống, tiêu pha vừa phải và học hành, đến khi nào thành thân, có gia đình. Lúc đó, nếu muốn kinh doanh gì, thì phải thông qua hội đồng ủy thác, họ sẽ cố vấn và theo dõi việc làm ăn. Tất cả những điều này nhằm không để cho người con nào ỷ lại vào tiền mà tiêu xài hoang phí, và cũng để bảo đảm công cuộc kinh doanh của dòng họ Hui Bon Hoa không thua sút ai.

Nhờ vậy nên mãi về sau này, trong những năm Sài Gòn còn bị tạm chiếm, các con cháu của Hui Bon Hoa vẫn còn quản lý một số tài sản khổng lồ. Ngày nay, con cháu của ông hầu hết sống ở nước ngoài, tiếp tục con đường kinh doanh. Dấu tích còn lại dễ thấy nhất ở Sài Gòn bây giờ là tòa dinh thự đồ sộ của chú Hỏa nằm ở khu tứ giác Phó Đức Chính - Lê thị Hồng Gấm - Calmette - Nguyễn Thái Bình. Và nếu ai còn nhớ, thì mỗi khi đi ngang qua Trung tâm cấp cứu thành phố Hồ Chí Minh ở đường Lê Lợi, chắc chắn sẽ nhận ra đó là một công trình do chính chú Hỏa dựng lên để tặng cho thành phố Sài Gòn.
Hồn ma con gái chú Hỏa
Do chú Hỏa (Hui Bon Hoa) quá giàu và được người Sài Gòn coi như một nhân vật huyền thoại, nên những điều thêu dệt quanh ông và gia đình ông cũng không ít. Trong số này có câu chuyện mà mãi đến ngày nay vẫn còn là điều bí ẩn... Chúng tôi ghi lại đây qua một số truyền thuyết, chưa chắc đã chính xác, nhưng cũng xem như là một tư liệu để góp thêm vào sự hiểu biết về chú Hỏa...

Bóng ma trong lâu đài

Vì cuộc sống của một phú hộ như chú Hỏa quá biệt lập nên mọi chuyện riêng tư của gia đình này lọt được ra ngoài chỉ bằng những lời đồn đại.
Thực hư ra sao chưa được kiểm chứng, nhưng hầu như người sống ở Sài Gòn lâu đời cũng đã từng nghe, tuy có nhiều cách bàn tán, nên có nhiều tình tiết không đồng nhất. Một trong những truyền thuyết đó là một bóng ma thường xuất hiện trong tòa dinh thự rộng lớn của gia đình chú Hỏa! Chuyện này do một số á sẫm hầu hạ trong nhà tiết lộ ra.

Họ nói rằng, cứ đêm đêm thường có những tiếng khóc tỉ tê trong một căn phòng trên lầu vắng. Và đã có lần họ nhìn thấy một người con gái mặc toàn đồ trắng, tóc xõa dài chấm đất, đứng ở dầu cầu thang. Những tôi tớ trong nhà báo chuyện này cho chủ, nhưng chủ gạt ngang và còn cấm nói ra ngoài. Một người hầu già sau này kể lại rằng bà được lệnh của bà chủ, hàng ngày phải mang một mâm cơm lên một phòng không có người ở trên lầu, mà theo bà chủ giải thích, thì đó là để cúng cho một người khuất mặt được thờ trong nhà.
Có điều lạ là cửa phòng không hề được mở, nên không biết được bên trong thờ ai. Người hầu già bưng mâm cơm mỗi bữa lên đặt vào một ô cửa nhỏ bằng một gang tay, rồi cứ để đó và đi xuống.

Người ta đã dặn bà này thật kỹ, coi như một nghiêm lệnh: “Khi mang cơm lên phải đi lùi. Đặt xong mâm cơm xuống thì phải bước đi ngay, không được quay đầu lại, nếu trái lời sẽ bị bẻ cổ hộc máu chết liền!”
Với lời đe dọa đó thì đâu có người nào dám cãi. Những mâm cơm cứ thường xuyên mang lên cúng với toàn món ngon vật lạ. Nhưng có một điều hết sức kỳ lạ là hầu như mâm cơm cúng nào khi dọn xuống cũng đều hết sạch như có người vừa ăn!
Chính điều đó đã làm cho những người hầu hạ trong nhà sợ hãi thêm. Họ tin chắc là người “khuất mặt” trong căn phòng kia đã “hiển linh” hiện hồn về!
Vì quá sợ nên người hầu xin nghỉ việc, nhưng bà đã được cho nhiều tiền cùng những lời động viên nên cuối cùng đã ở lại tiếp tục công việc “lạnh xương sống” kia!

Người đẹp trong nhà mồ

Vẫn theo truyền thuyết thì sau đó ít lâu, bỗng có tin một cô gái trong lâu đài đã mang “bệnh kín” và từ trần. Đám tang được tổ chức khá âm thầm, theo chủ gia thì bởi cô này chết nhằm giờ trùng, lại mang bệnh lạ nên không làm đám tang rình rang theo lệ con nhà giàu. Người chết được an táng trong ngôi nhà mồ ở vùng ngoại ô xa, nơi mà gia đình chú Hỏa có một ngôi biệt thự dùng để nghỉ mát cuối tuần. Người hầu già quen thuộc cũng được điều tới để lo nhang khói trong ngôi nhà mồ này, đặc biệt là mỗi bữa một mâm cơm cúng và kèm những điều kiện nghiêm ngặt như trước.

Một tháng sau, lại có một cái tin giật gân được tung ra làm thót tim mọi người chung quanh: ma hiện hồn trong nhà mồ!
Nhiều người đã rình và thấy, cứ vào lúc nửa đêm thì có một bóng trắng của một cô gái xõa tóc dài đi ra từ trong nhà mồ...
Câu chuyện ma hiện hồn đã lan truyền rộng khắp vùng, nên hễ trời tối là ít có người dám bén mảng tới. Kể cả thân nhân người chết cũng ít tới lui...

Hai tên trộm

Trên đời này, có lẽ chỉ những tay trộm đêm là không hề biết sợ ma! Bằng cớ là đã từng xảy ra những vụ đào mồ để lấy cắp vật quý chôn theo người chết.
Nhưng đó là đối với những ngôi mộ mới chôn, mộ bình thường, không có hiện tượng có ma. Chứ còn như khu nhà mồ của dòng họ chú Hỏa thì câu chuyện ma hiện hồn đã làm cho thiên hạ khiếp vía, đâu riêng gì lũ trộm?

Vậy mà có hai người không sợ. Chỉ sau khi có tin ma hiện độ vài tuần là có bóng đen lẻn vào nhà mồ lúc trời sụp tối, trăng chưa lên. Mục tiêu của chúng là chiếc quan tài của cô gái mà chúng nghi là có chôn theo nhiều của quý giá. Vì theo tục lệ người Tàu, nếu con gái cưng hay vợ yêu mà bị chết thì gia chủ cho liệm theo xác nhiều vật quý như vàng, ngọc. Đặc biệt họ tin rằng một cục vàng hay viên ngọc bỏ vào miệng cho xác chết ngậm sẽ cho người chết được an hưởng chốn suối vàng, đồng thời người sống trên dương thế cũng sẽ được hưởng phúc lộc theo, làm ăn phát đạt hơn.
Hai tên trộm dùng xà beng nạy nắp áo quan dưới ánh đèn pin. Nắp quan tài bật ra, bọn chúng phải sửng sốt kêu lên, vì quan tài trống không, chẳng có đồ đạc, cũng chẳng có xác chết!
Trong lúc hai tên còn đang ngơ ngác thì chợt xuất hiện sừng sững giữa nhà một người con gái mặc toàn đồ trắng, tóc dài quá gót, đang cất lên một tiếng rú kinh hoàng!
Hai kẻ bất lương bỏ cả đồ nghề, ù té chạy bán sống bán chết, chạy đến khi va đầu vào một gốc cây và nằm lăn ra...

Sự thật về hồn ma

Cũng như lời truyền miệng sau này về hồn ma con gái chú Hỏa, theo người am hiểu, thì chú Hỏa có một cô con gái (có người nói là cháu gái, cũng có tin nói là một cô hầu gái cưng yêu của ông chủ) chẳng may bị bệnh nan y lúc bấy giờ, đó là bệnh cùi. Bệnh phát nhanh nên dù nhiều tiền chữa cũng không khỏi được.
Đến khi bệnh hành quá, gia chủ phải nhốt cô ta vào phòng riêng, không cho ai thấy, hàng ngày mang thức ăn nuôi dưỡng. Đến lúc bệnh quá nặng thì chuyển ra nhà mồ, giả như người chết, để tránh tai mắt của mọi người. Và cũng nhằm ngăn sự tò mò của kẻ hiếu kỳ, gia chủ đã tung tin ma hiện hồn về cho thiên hạ sợ.
Thời gian sau, nghe đâu cô gái đó chết thật, xác được chôn đúng nơi cô giả chết. Và lại có tin, lần này cô ta đã hiện hồn thật?
Hư thật ra sao, theo năm tháng qua đi, cũng chẳng ai kiểm chứng được gì, và câu chuyện chìm vào quên lãng. Ngày nay còn lại chăng là ngôi dinh cơ đồ sộ kia cùng với cái danh tiếng chú Hỏa, và câu chuyện gần như hoang đường được mỗi người thêu dệt đôi chút cho thêm phần hấp dẫn.

Chú Hỷ: ông vua tàu thủy

Sài Gòn cách đây một thế kỷ không đông người và không có các phương tiện đi lại như ngày nay. Giao thông chủ yếu dựa vào đường thủy. Do đó, khi người Pháp muốn kinh doanh ngành giao thông, họ đã lập ra những công ty vận tải đường sông (Compagnie des messageries fluviales), sắm những chiếc tàu đóng từ châu Âu đem sang. Có thể nói, vào thời ấy, ngoài người Pháp, chưa ai dám nghĩ đến chuyện đứng ra cạnh tranh trong lĩnh vực này.
Song, có một người phá được cái lệ đó. Người ta không rõ ông tên họ thật là gì, chỉ quen gọi biệt danh “chú Hỷ”. Hỷ, có lẽ phát âm từ một cái tên tiếng Hoa, nhưng cũng có thể là cách gọi của người Việt để chỉ một người may mắn. Ông này sống cùng thời với Hui Bon Hoa (chú Hỏa) và cũng từ tay trắng làm nên sự nghiệp, nên những gì được kể lại về cá nhân ông sau này, đều đượm tính huyền thoại. Tuy nhiên, không một ai ở Sài Gòn thời trước lại không nghe danh về con người mà họ xem là tấm gương phấn đấu làm giàu.

Câu hát ví: “Đi tàu chú Hỷ, ở nhà chú Hỏa”, đủ nói lên mức giàu có của chú Hỷ. Nhưng làm cách nào mà một con người khố rách áo ôm lại có thể ngoi lên địa vị đôi đầu ngang ngửa với các tay trùm tư bản người Pháp vốn có ưu thế về nhiều mặt trong lĩnh vực kinh doanh tàu thủy? Điều này nhắc ta nhớ đến một khía cạnh đặc thù của người Hoa: tính cần cù, nhẫn nại và có máu liều. Chú Hỷ có thừa những điều đó. Ngày ấy, ở miền Bắc thì có ông Bạch Thái Bưởi, người đã thành công lớn trong ngành vận tải sông biển, nên có người cho rằng chú Hỷ đã bắt chước ông Bưởi khi bước vào ngành tàu thủy. Tuy nhiên, khi rà lại thời gian, thì nhận thấy rằng chú Hỷ lớn tuổi hơn Bạch Thái Bưởi và công cuộc kinh doanh tàu thủy của chú Hỷ cũng diễn ra sớm hơn ông Bưởi vài chục năm. Như vậy, có thể nói rằng người đầu tiên “làm vua” ngành tàu thủy ở Việt Nam chính là chú Hỷ (không kể các tay tư bản người Pháp).

Theo một tài liệu riêng, chúng tôi thu thập được từ vài gia đình người Hoa ở Chợ Lớn thì, chú Hỷ là một người Hoa gốc Quảng Đông (Trung Quốc), lánh nạn Mãn Thanh vào giữa thế kỷ XIX. Ông đến và định cư ở vùng Đề Ngạn (Chợ Lớn) với nghề buôn bán “hàng xén” trên sông. Cửa hiệu hàng xén của cậu trai 17 tuổi chỉ có chiếc xuồng con, một ít hàng tiêu dùng rẻ tiền, nhưng thiết thực cho đời sống như ống chỉ, kim may, muối, đường, tiêu, tỏi... Một loại tiệm “chạp phô” thu nhỏ. Vùng hoạt động của cậu ta là các kênh rạch chằng chịt của thành phố Chợ Lớn thời đó, song đôi khi cũng xa hơn, ra tận Kinh Đôi, Nhà Bè để mua hoặc trao đổi hàng hóa. Những cuộc đi lại này đã hun đúc trong lòng chú Hỷ cái mộng “làm vua” sông nước.

Một hôm, nhân cập xuồng bên hông một chiếc tàu khách thuộc Công ty vận tải đường sông của người Pháp, chú Hỷ lần đầu tiên được bước chân lên chiếc tàu to gấp trăm lần chiếc thuyền con của mình. Thấy chú dạn dĩ, lanh lẹ, viên tài công người Pháp đã hỏi đùa: “Mày có muốn đi tàu không?”. Chú gật đầu, mà không ngờ đó là cái gật đầu định mệnh. Bởi vì, chỉ sau đó vài hôm, qua sự giới thiệu của viên tài công, chủ tàu người Pháp đã đồng ý nhận cậu trai người Hoa đó vào làm chân hỏa đầu vụ trên tàu.

Trong ba năm đi khắp các miền sông nước Nam Kỳ, đôi khi còn lên tận Nam Vang (Phnom Pênh), chú Hỷ đã được mở tầm mắt, được thấy một tương lai khác rộng lớn hơn là nghề bán hàng xén trên sông của mình nhiều. Và cũng chính trong những ngày này, đã hình thành một giấc mơ trong đầu chú Hỷ: được làm chủ những chiếc tàu xuôi ngược khắp nơi. Thời đó (1883-1884), sở hữu các đội tàu thủy ở Nam Kỳ là Công ty Messageries fluviales (tàu chạy sông). Về sau đổi tên là Compagnie saigonnaise de navigation, do một người Pháp nhiều thế lực là Jules Rueff làm chủ. Đội tàu của Công ty này chạy khắp Nam Kỳ lục tỉnh (Nam Bộ) và Nam Vang, do các tài công được thuê từ Pháp sang. Bọn này tuy lái tàu giỏi, nhưng thường được trả lương rất thấp, nên sinh ra chán nản, phục vụ khách không tận tình. Có người lại nói rằng, do phải kiếm ăn thêm ngoài đồng lương chết đói, nên bọn tài công và em út thường hay vận chuyển lén lút các hàng quốc cấm như thuốc phiện đem từ Cambodge về tiêu thụ ở Sài Gòn. Nhận biết điều ấy, chú Hỷ nảy ra ý nghĩ: tại sao người mình (chú tự coi mình là người bản xứ, người Việt) không đứng ra cạnh tranh ngành này?

Với một ít vốn dành dụm được, cộng thêm tiền vay mượn, quyên góp từ đồng hương, đầu tiên chú Hỷ xin mua một chiếc tàu sắp đến ngày “trồng hành” (tàu cũ, dùng các tàu này chứa phân trồng rau, trồng hành) của Công ty mà chú đang phục vụ. Người Pháp thấy chú có ý định đó thì cho rằng chú điên, nên đồng ý bán cho với giá rẻ mạt, thâm ý muốn làm cho chú hết vốn, sáng mắt ra! Tuy nhiên, khi người Hoa muốn làm ăn, thì một mảnh giẻ rách cũng có thể biến thành một bức gấm hoa. Khi mua được chiếc tàu cũ, chú Hỷ xin nghỉ việc, để “làm gì đó chưa ai biết”. Một năm sau, tại Sở đăng kiểm tàu chở khách, người ta thấy tên chú Hỷ, đăng ký tàu sông, chở khách đi khắp Nam Kỳ lục tỉnh! Lão chủ tàu người Pháp Jules Rueff phì cười, tuyên bố với thuộc hạ: “Cho nó chết nhăn răng!”. Vì lão ta nghĩ, trong lĩnh vực tàu thủy, không ai có thể cạnh tranh với người Pháp.

Nhưng, thật bất ngờ, chỉ sau khi hạ thủy vài tháng, chiếc tàu khách mang tên Nam Long (Rồng Nam) của chủ Hỷ luôn đầy khách, hơn hẳn lượng khách của tàu Tây! Điều gì đang xảy ra vậy? Đó là câu hỏi mà Jules Rueff đang muốn được trả lời. Thì ra, rất đơn giản: khách Việt đi tàu Nam Long được tự do, thoải mái hơn và nhất là giá cả rẻ hơn!

Hỏi tại sao dám cạnh tranh kiểu đó, chú Hỷ đáp: sở phí của mình thấp, khách của mình lại bình dân, nên phải lấy giá thấp thôi.
Còn hơn thế nữa, khách đi tàu của chú Hỷ sẽ được chăm sóc kỹ hơn, ăn uống hợp khẩu vị hơn, đặc biệt là được ghé bến theo yêu cầu của khách (tàu Tây chỉ ghé bến chính, không ghé bến dọc đường, mà người Việt mình thì lại thích được lên, xuống theo nhu cầu). Từ thành công ban đầu đó, một năm sau nữa, chủ Hỷ có thêm chiếc tàu Nam Hưng (Việt Nam hưng thịnh), được mua từ Singapore mang về. Và sau năm năm, đội tàu của chú Hỷ đã lên tới 20 chiếc. Khách đi tàu đã đổ xô đi tàu “ta”, vì những cái lợi như trên. Ngoài ra, còn một điều thuận tiện khác mà khách ta rất khoái, đó là vừa đi vừa chở được hàng hóa cồng kềnh, điều mà với tàu Tây, họ không được phép.

Với cung cách làm ăn như vậy, nên chỉ vài năm, đội tàu của chú Hỷ đã trở thành đối thủ đáng gờm của tàu Tây. Lúc đầu, chú Hỷ còn khiêm nhường, luôn tránh đụng độ với lộ trình của hãng tàu Pháp, song dần dần, do thấy đã đủ lực, chú Hỷ “chơi tới bến” luôn, chẳng cần kiêng dè gì nữa. Hễ nơi nào có tàu Pháp chạy, thì có tàu Nam Long, Nam Hưng... Từ Sài Gòn đi Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá, Châu Đốc, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Nam Vang... đâu đâu cũng có tiếng “súp lê” (còi báo) của tàu chú Hỷ. Cuộc cạnh tranh đã ngang ngửa...
Và thật bất ngờ, ngoạn mục, cho đến những năm cuối thế kỷ XIX, tàu của Compagnie saigonnaise de Navigation đã phải né tàu của chú Hỷ, để tránh cảnh “xách tàu không mà chạy”. “Ta” đã thắng “Tây” một keo quá đã, như nhiều người Nam Bộ lúc đó nghĩ vậy. Chú Hỷ trở thành ông vua tàu thủy một cách chắc chắn.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, tại khu “phố Wall” của Sài Gòn (tức tập trung nhiều ngân hàng, gồm tứ giác Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Hàm Nghi - Pasteur - Bến Chương Dương ngày nay) đã hình thành một “thị trường chứng khoán” không văn tự, không quy ước chính thức, nhưng các tay mại bản hàng đầu, gồm người Pháp, người Việt, người Hoa, đã mặc nhiên công nhận Công ty tàu thủy của chú Hỷ là một trong bốn Công ty hàng đầu của Sài Gòn thời ấy (ba Công ty còn lại đều là của người Pháp). Nghe nói, đã có vài tay môi giới chứng khoán từ Hồng Kông sang, có ý định mua cổ phần của Công ty chú Hỷ. Nhưng “ông vua” này đã thẳng thừng từ chối với lời khẳng định: “Tôi đã tạo ra được nó, tất phải giữ được nó bằng sức của mình”.
Giới tư bản Pháp lủc ấy cũng không vui gì khi thấy cái gai trong mắt mình. Họ cố bành trướng trong lĩnh vực tàu thủy, nhằm chèn ép thế lực của chú Hỷ, nhưng vẫn không sao thực hiện được trọn vẹn ý đồ.

Cho đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), ở Nam Kỳ vẫn còn ưa chuộng phương tiện đi lại bằng tàu thủy của chú Hỷ. Chỉ đến khi Sài Gòn và các tỉnh có đường giao thông bộ như ô-tô, tàu hỏa, thì ảnh hưởng của tàu thủy mới giảm dần. Chú Hỷ qua đời vào đầu thế kỷ XX, sau đó con cháu ông tiếp tục nối nghiệp, và nghe nói phải tới thời điểm sau này thì việc cổ phần hóa Công ty tàu thủy của chủ Hỷ mới được thực hiện. Nhưng nghe đâu, bởi cung cách làm ăn chia năm, xẻ bảy, nên dần dần sự phát đạt không còn cao nữa.

Tuy vậy, tiếng tăm của chú Hỷ vẫn còn nguyên. Người dân Sài Gòn, Chợ Lớn mỗi khi nhắc đến tàu thủy, thảy đều nhớ đến chú Hỷ. Thậm chí, ở nước ngoài cũng có người biết tên chú Hỷ. Năm 1961, một tờ báo ở Singapore, khi viết về vận tải thủy ở Đông Nam Á, đã có nhắc đến một ông vua tàu thủy ở Chợ Lớn, mà họ gọi là Hsui, phong ông ngang hàng với nhiều “vua sông nước” khác ở châu Á.

Vụ “đốt tiền” của công tử Bạc Liêu

Lâu nay, nhiều người vẫn nghĩ những mẩu chuyện về hai anh chàng công tử khét tiếng đất phương Nam ngày xưa: Hắc công tử và Bạch công tử, chỉ là sự tô vẽ hai con người ăn chơi phóng đãng. Thực ra, Hắc - Bạch công tử ngoài “tài” ăn chơi, còn là những nhà doanh nghiệp cỡ bự ở Sài Gòn một thuở. Hắc công tử còn được gọi là công tử Bạc Liêu, bởi gốc gác ông ta xứ Bạc Liêu bạt ngàn ruộng lúa, tên thường gọi là Ba Qui, hay có biệt danh là Tám Bò, tên đầy đủ là Trần Trinh Qui. Bố là viên hội đồng (hàm) Trần Trinh Trạch, giàu “nứt đố, đổ vách”. Giàu từ đời ông, đời cha, nhờ điền sản và các cuộc kinh doanh muối, lúa gạo thuộc loại bậc nhất đất Nam Kỳ thời ấy, cho nên khi công tử Trần Trinh Qui mở mắt chào đời đã nhảy ngay lên hàng quý tộc, được giới bình dân tô vẽ huyền thoại, lại vừa được giới nhà giàu nể nang.

Thời đó, đất Nam Kỳ tuy rộng, nhưng mọi đầu mối đều đổ về Sài Gòn, nơi quy tụ mọi cuộc kinh doanh, mọi hình thức ăn chơi. Ba Qui ngay lúc 16 tuổi đã được cha mẹ cho lên Sài Gòn ăn học và sau đó không lâu sang Pháp “du học”, theo cái mode con nhà giàu thời ấy, “phải đi Tây mới làm nên đại nghiệp”.
Tuy nhiên, sau năm năm học ở Pháp, Ba Qui về nước chẳng hề mang theo bằng cấp nào, ngoài cái bằng nhảy đầm (khiêu vũ) thuộc loại cừ khôi! Cũng từ đó, đất Sài Gòn đã nổi lên “đại danh” công tử Bạc Liêu. Đó là vào những năm của thập niên 30.

Khắp Sài Gòn - Chợ Lớn, thiên hạ đều biết đến Ba Qui dưới hỗn danh “công tử Bạc Liêu”, bởi muốn phân biệt ông với công tử khác cùng thời, cũng nổi danh như ông, đó là Bạch công tử Phước George, tức công tử Mỹ Tho. (Chuyện về Bạch công tử, sẽ nói ở bài kế tiếp). Trở lại chuyện của Hắc công tử, xin kể một chuyện về “làm ăn” của anh ta, khá ngông cuồng, nhưng cũng không kém phần “lý thú” cho những doanh nghiệp ngày nay. Tất nhiên, chàng công tử này kinh doanh lúa gạo và muối, nguồn sở hữu gần như vô tận của gia đình anh ta. Thời đó, việc kinh doanh lúa gạo hầu hết nằm trong tay những đại phú thương người gốc Hoa, thuộc dây mơ, rễ má của chú Hỷ, của bá hộ Xường, nhưng khi Hắc công tử đứng ra kinh doanh mặt hàng này, thì những đại phú kia đều phải né mặt, âm thầm nhường bước. Bởi một lẽ dễ hiểu, cạnh tranh với một “núi lửa” như gia đình hội đồng Trạch thì không chột cũng què.

Hắc công tử hầu như đóng đô thường xuyên ở Sài Gòn, chỉ về Bạc Liêu mỗi khi cần tiền. Những lần trước, mỗi khi công tử hồi hương thì y như rằng, hội đồng Trạch phải mất vài chục ngàn giạ lúa để cho cậu con trai có tiền xài phá ở Sài Gòn. Nhưng lần đó thì khác, Ba Qui đã bảo thẳng ông bố: “Ba già rồi, nên nghỉ, con sẽ thay ba lo mọi thứ”. Hội đồng Trạch đã trợn tròn mắt ngạc nhiên, nhưng sau đó cũng thử để cho cậu ấm Ba Qui “kinh doanh”. Cậu Ba tổ chức thu gom lúa gạo với mục đích tích trữ, nhằm độc quyền làm giá, dự kiến sẽ hốt to. Theo tính toán thì lãi chắc, bởi lủc đó có vài tay có máu mặt đủ sức cạnh tranh với gia đình Hắc công tử, nhưng họ đều tỏ ý nhường bước, mặc sức cho Ba Qui tung hoành. Như diều gặp gió... chướng, Ba Qui tung đến vài triệu bạc (vài triệu lúc đó là hàng trăm tỷ bây giờ) để thu gom gạo, lúa. Các ghe chài vận chuyển gạo của Ba Qui nườm nượp về Sài Gòn, chứa đầy các kho thóc thuê của người Hoa. Chỉ cần vài tàu buôn ăn hàng, lập tức Ba Qui sẽ hốt bạc. Nào ngờ... vâng, trong thương trường vẫn có những bất trắc chết người, điều không may đã đến với một tay đầu cơ: lúa gạo đột ngột hạ giá đến mức không ai ngờ tới.

Thì ra, tuy ngoài mặt, các ông chủ người Hoa tỏ ra nể nang Ba Qui, nhưng trong bóng tối, họ đã ngấm ngầm phá bĩnh, bằng cách tuôn gạo trong các kho ra bán hạ giá, đồng thời báo động cho các mối lái nước ngoài (chủ yếu là Singapore và Hồng kông) biết, để họ liên tục phá giá. Ba Qui lãnh một cú quá mạng, lỗ đến trên bạc triệu.

Nhưng, đó là... chuyện nhỏ. Thua keo này, chàng lại bày keo khác. Mà lần sau thì chàng ta không dại gì dấn chân vào thương trường chi cho mệt, phải tính toán lời lỗ lôi thôi, cứ sẵn tiền của ông bố đó, tha hồ xài đến già cũng không hết. Nghĩ vậy, nên chàng Hắc quên ngay cú vừa rồi, lại tiếp tục lao vào cuộc đỏ đen, các cuộc chơi ngông, đốt tiền ở các sòng bạc Đại Thế Giới, Kim Chung. Cuộc đối đầu giữa hai công tử, một trắng một đen lại tiếp diễn...

Bạch công tử - Tỷ phú đa tình

Ở bài trước, các bạn đã nghe kể chuyện công tử Bạc Liêu, hay còn gọi là Hắc công tử. Bài này mời các bạn nghe chuyện về nhân vật thứ hai trong bộ đôi mà người đời còn gọi là Hắc - Bạch công tử. Tên cúng cơm đầy đủ của Bạch công tử là Lê Công Phước, còn gọi là Phước George. Cha của Phước là Đốc sứ Lê Công Xuân, người gốc Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay), vốn làm giàu nhờ nhiều ruộng, nhiều của chìm của nổi trong các dịch vụ làm ăn mờ ám. Dòng dõi họ Lê vốn có nhiều công lao với người Pháp thời ấy, cho nên ngoài những ưu đãi trong công cuộc làm ăn, họ còn được chính quyền bảo hộ cho nhập Pháp tịch, bởi thế Lê Công Phước mới có tên là Phước George.

Ngay từ thuở thiếu thời, Phước George đã được gia đình gửi sang Pháp du học. Và cũng giống như Hắc công tử Bạc Liêu, anh chàng Phước sau một thời gian học ở Pháp, khi về nước chỉ vỏn vẹn có một cái bằng cấp... nhảy đầm! Thất thu về học vấn, nhưng lại bội thu về vốn liếng ăn chơi, trác táng, thành tích “lẫy lừng” nhất của Phước George là mối tình giữa anh ta với cô công chúa của Sa hoàng Nicolas đệ nhị, lúc đó đang lưu vong ở Paris. Chàng Phước bằng tiền từ quê gửi sang, qua trương mục ở ngân hàng, đã rút ra tiêu xài xả láng, quyến rũ được cô gái Nga vương giả thất sủng đang cần tiền.

Qua cuộc phiêu lưu tình ái đó, Phước George đã tiêu xài khá nhiều tiền của ông bố, đến nỗi Đốc phủ Xuân phải triệu hồi cậu ấm về nước. Vốn trắng trẻo, đẹp trai, và cũng để phân biệt với một công tử đương thời, người ta đặt cho Phước biệt danh là Bạch công tử có phần kém hơn Hắc công tử Bạc Liêu, song kể về ăn chơi thì chàng Bạch lại có phần trội hơn, có lẽ do bản tính hào hoa, do đã từng mê hoặc được cả công chúa Nga. Có nhiều giai thoại về những cuộc ăn chơi trác táng, đốt tiền như đốt rác của hai anh chàng này, mà tiêu biểu nhất là chàng này đốt giấy bạc cho chàng kia tìm tiền rơi. Hắc công tử hận lắm, nhưng anh chàng biết nhẫn nhục chờ cơ hội. Và, cuộc trả thù nghe nói đã diễn ra sau đó chỉ vài tháng, khá ngông cuồng. Hôm ấy, đích thân Hắc công tử mời bạn bè từ quê nhà ở Bạc Liêu, để chiêu đãi một tiệc thật linh đình. Trong số khách đó, không thể thiếu Bạch công tử. Trong buổi tiệc, khi ăn đến món tả pín lù (bò nhúng dấm), Hắc công tử đã dùng cả một bao toàn giấy bạc bộ lư (giấy 100 đồng Đông Dương có in hình chiếc lư đồng) để dùng làm củi đốt lò! (Thời đó vàng chỉ giá 50 đồng một lạng).

Cuộc rửa hận của Hắc công tử đã làm chấn động Nam Kỳ lục tỉnh thời ấy. Phước George thấm thía điều đó hơn ai hết, nên anh chàng quyết chí tạo nên thanh thế, hầu lấn lướt địch thủ. Mục đích duy nhất của Phước là giành lại ảnh hưởng trong giới mỹ nhân đất Sài Gòn thời đó.
Bạch công tử tung “độc chiêu” bằng cách lập một đoàn hát lấy tên là Huỳnh Kỳ (thuở ấy dân chơi, hào phú rất mê đào hát, làm chủ một gánh hát lớn là một cách kinh doanh “thời thượng” vừa hốt bạc, lại vừa lấy tiếng). Gánh hát của Bạch công tử được tổ chức khá quy mô, ba chiếc ghe chài vận chuyển đoàn đi lưu diễn đây đó, được thiết kế như những chiếc du thuyền, và đặc biệt hơn nữa là cách bố trí của chủ nhà: chiếc thứ nhất có hai tầng, chia nhiều phòng, trong đó có phòng dành riêng cho ông bầu Bạch công tử và các phòng để giải trí (đánh bạc, bida). Chiếc ghe thứ hai dành cho đào kép, có cả phòng tập tuồng. Còn chiếc ghe thứ ba chỉ dành chở... đội bóng đá của gánh hát Huỳnh Kỳ! Đội bóng đá quy tụ nhiều cầu thủ có tiếng, được trả lương cao, chỉ để đá bóng mỗi khi gánh hát đi lưu diễn. Vào thời ấy, đội bóng đá này đã gây thích thú cho khán giả nhiều nơi...

Mục đích ban đầu của Bạch công tử là dùng đoàn hát để kinh doanh, nhưng bởi máu ăn chơi đã nhiễm nặng, nên dần dần gánh Huỳnh Kỳ trở thành môi trường thuận lợi cho chàng công tử trắng này tiếp tục đốt tiền. Ông Đốc phủ Xuân lúc đó đã già, những dịch vụ tài chính khác đã bắt đầu có dấu hiệu đi xuống. Thêm vào đó, với cách làm ăn như phá của Bạch công tử nên chẳng mấy chốc nhà họ Lê mang những món nợ không thể ngờ nổi.
Lúc ấy, Bạch công tử lại đưa đoàn hát đi xuất ngoại, diễn cho Việt kiều ở Pháp xem. Họa vô đơn chí, thành công chẳng được bao nhiêu, nhưng khi trở về lại bị chìm tàu ở Địa Trung Hải. Của cải đổ xuống biển, chỉ may mắn là người còn sống sót. Lúc trở lại Sài Gòn, hầu như Bạch công tử đã trắng tay. Về cuối đời, Bạch công tử sống cô độc, nghèo hơn cả những người trước đây vốn sống nhờ vào đồng tiền của ông ta.
Thế đấy, kinh doanh và trác táng không bao giờ có mảnh đất chung.

Trương văn Bền và xà bông Cô Ba

Cách đây ngót một thế kỷ, người dân Sài Gòn cũng như trên cả nước đều biết đến xà bông hiệu Cô Ba (loại xà bông thơm) và xà bông 72 phần dầu (loại xà bông giặt). Thời đó chưa có các loại bột giặt, mọi người đều dùng các loại xà bông giặt dạng cục (còn gọi là xà bông đá) cho nên hễ nói đến xà bông thì ai cũng nhớ đến thứ xà bông có ghi dòng chữ 72 phần dầu. Xà bông thơm hầu như chưa có các nhãn hiệu nước ngoài phong phú như sau này, do đó ai cũng biết loại xà bông hiệu Cô Ba. Tất cả những nhãn hiệu này đều cùng một xuất xứ, của một người chủ, đó là nhà kỹ nghệ Trương văn Bền, một kỹ nghệ gia Việt Nam có thể nói đã làm rạng danh uy tín nền công nghiệp nước ta. Thời ấy, nền kỹ nghệ nước nhà còn ở dạng phôi thai, vậy mà ông Trương văn Bền đã dám đứng ra thành lập một Công ty chuyên sản xuất chất tẩy rửa đầu tiên ở Việt Nam, đặt tên Công ty là “Trương văn Bền Và Các Con”. Xà bông được sản xuất từ dầu dừa, soude và một vài phụ gia khác, nhưng dầu dừa là chủ yếu, bởi vùng lục tỉnh (đồng bằng sông Cửu Long) có nhiều dừa, thừa sức cung cấp nguyên liệu cho việc nấu xà bông. Có lẽ ông Bền đã nghĩ đến điều đó trước khi dựng lên nhà máy sản xuất chất tẩy rửa.

Buổi đầu, có nhiều người hoài nghi về sự thành công của Trương văn Bền, bởi họ nghĩ rằng, với trình độ kỹ thuật học lỏm, máy móc thô sơ, thì làm sao một người Việt Nam có thể cạnh tranh nổi với người Pháp hoặc người Hoa nhiều thế lực, nhiều tiền cửa? Ngay những thân nhân của ông Bền lúc ấy khuyên ông không nên phiêu lưu vào ngành đó. Họ sợ ông tiêu phí hết các đồng vốn ít ỏi lúc ban đầu. Nhưng mọi lời can ngăn hầu như không làm nao núng con người có đầu óc cấp tiến, thích tự lập và đương đầu với nền công nghệ mạnh gấp nhiều lần của ngoại bang lúc ấy. Ông Trương văn Bền đã từng sống ở Phnom Pênh (Campuchia), từng đi đây đó một số nơi ở ngoại quốc, nhìn thấy sự phát triển công nghiệp ở các nước. Hơn ai hết, ông hiểu rằng, nếu quyết tâm thì không một trở lực nào có thể ngăn cản được con đường phát triển công nghệ. Ông Bền đã bắt đúng mạch, đánh đúng thị hiếu người tiêu dùng, bằng một mặt hàng mà không một đời sống văn minh nào không cần đến, đó là chất giặt tẩy. Cho tới lúc ấy (các thập niên đầu thế kỷ XX), thị trường chất tẩy rửa hầu như mở ngỏ cho các mặt hàng của nước ngoài, chủ yếu là Pháp, vừa ít vừa đắt, cung chưa đáp ứng được cầu.

Công ty “Trương văn Bền Và Các Con” đã đáp ứng yêu cầu đó một cách đúng đắn. Chỉ một năm sau ngày ra đời, mặt hàng xà bông 72 phần dầu của ông Trương văn Bền đã gần như hạ gục các sản phẩm cùng loại của nước ngoài, do giá rẻ, hợp thị hiếu người tiêu dùng và chất lượng cao.
Ngay lúc thành lập cho đến mãi sau này (gần ngót một thế kỷ), trụ sở của Công ty Trương văn Bền vẫn ở yên một chỗ: tại đường Kim Biên (bên hông chợ Kim Biên ngày nay). Sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, cung cấp cho toàn quốc, có thời xuất đi toàn Đông Dương. Nơi nào xà bông Trương văn Bền cũng được hoan nghênh.

Thành công với mặt hàng xà bông đá (xà bông giặt) rồi, ông Trương văn Bền nghĩ tới bước thứ hai, mặt hàng cao cấp hơn đó xà bông thơm. Và sản phẩm xà bông Cô Ba ra đời. Những người lớn tuổi vẫn còn nhớ ảnh bán thân của một cô gái Việt Nam (trang phục phụ nữ Nam Bộ) với áo dài, đầu chải chẻ ngôi, tóc búi, đeo kiềng vàng. Chân dung đó gọi là Cô Ba và mặc nhiên sản phẩm được gọi là xà bông Cô Ba, nhập tâm từ người bình dân cho tới giới thượng lưu. Một lần nữa, ông Trương văn Bền đã thành công lớn. Xà bông Cô Ba là sản phẩm duy nhất đã đương đầu ngang ngửa với nhãn hiệu xà bông Cadeau danh tiếng của Pháp. Không phải ngẫu nhiên mà ông Trương văn Bền chọn biểu tượng hình cô gái gọi là Cô Ba đó, cô gái đoạt danh hiệu hoa khôi của cuộc thi hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn vào thập niên 30. Cô vốn là con một ông thông phán người Sài Gòn, nghe nói có sắc đẹp thuần túy Việt Nam, đã vượt qua được hàng trăm cô gái khác đến từ nhiều nơi, để đăng quang tại vườn ông Thượng (Công viên Văn hóa TP Hồ Chí Minh ngày nay). Sắc đẹp của cô đã làm cho những người Pháp phải trầm trồ. Họ ngỏ lời mời cô sang Pháp mặc đồ đầm (Âu phục) và dự thi hoa hậu thế giới. Nhưng cô hoa hậu từ chối, tuyên bố chỉ thích mặc quốc phục (áo dài) và chỉ muốn là hoa hậu của Sài Gòn mà thôi!
Ông Trương văn Bền cách đây hơn nửa thế kỷ đã chứng minh rằng, hàng nội địa không hề thua kém hàng ngoại!

Tja Ma Yeng nhà kinh tế trong bóng tối

Vào những năm 20, khi ở vùng Chợ Lớn vang danh Quách Đàm thì trong bóng tối có một tên còn lẫy lừng hơn, đó là Tja Ma Yeng, mà người Việt tại Sài Gòn thường gọi ông ta bằng cái tên cộng “chức danh” là Má Chín Dảnh, hơn là tục danh đầy đủ. “Má Chín” để chỉ những nhà doanh nghiệp giàu có. Ông ta thuộc bang hội Quảng Đông ở Chợ Lớn, nhưng thế lực thì coi như bao trùm hết các bang hội khác của người Hoa, chỉ chuyên về.... làm kinh tế bằng nước bọt! Tja Ma Yeng là con trai trưởng của một phú thương bị phá sản, từ Quảng Đông di cư sang Hồng Kông từ thế kỷ 19. Đúng ra họ Tja (Tạ) đã lưu lại mảnh đất có nhiều cơ hội làm giàu là Hồng Kông, nhưng chẳng hiểu sao, thân sinh ông lại dìu dắt cả gia đình sang tận Sài Gòn để lập nghiệp. Ông bố của Tja Ma Yeng không buôn bán bất cứ thứ gì, chỉ tiêu xài nốt số tiền còn lại. Ba năm sau, đợi cho đứa con trai đầu là Tja Ma Yeng đủ tuổi trưởng thành, họ Tạ mới đề ra phương án làm ăn khá lạ lùng: làm kinh tế bằng nước bọt!

Ông huấn thị cho Tja Ma Yeng: “Trong thương trường muốn thành công thì điều trước tiên là phải có bộ óc nhạy bén. Sự nhạy bén của bộ óc còn quý hơn là tài sản nữa. Con là người có điều đó”. Tja Ma Yeng rất giống tính cha: can đảm, mưu lược và thông minh. Chính những điều ấy đã giúp ông từ cậu con trai một phú thương phá sản, đã trở thành một “Má Chín” chỉ trong vòng năm năm. Câu chuyện bắt đầu vào năm 1908, khi đó tại Sài Gòn đang nổi lên một “đại ca Tư Mắt”, là nhân vật trùm giới giang hồ, chuyên bảo kê sòng bạc và lãnh đạo nhóm “mafia”, thế lực nghiêng trời, gây khiếp hãi giới doanh thương người Hoa.

Giới Hoa kiều là những người lúc nào cũng muốn được yên ổn làm ăn, nên rất cần một ai đó đứng ra che chở cho mình trước những đe dọa như loại Tư Mắt. Và người đó, bỗng nhiên xuất hiện là Tja Ma Yeng!
Họ Tạ không phải tay hảo hán giang hồ, cũng không có thế lực của chính quyền, vậy mà sự xuất hiện của ông ta đã làm cho Tư Mắt và đàn em phải chùn chân, nương nhẹ tay đối với giới doanh thương người Hoa Chợ Lớn. Lý do? Mãi sau đó người ta mới biết: bằng tài nghệ riêng của mình, Tja Ma Yeng đã ngầm thương lượng với Tư Mắt, đóng góp cho nhóm này một số tiền “hụi chết” khá hậu. Thế là các phú thương người Hoa được đặt ra ngoài vòng nguy hiểm.

Nhưng tiền đâu Tja Ma Yeng thực hiện ý đồ táo bạo đó? Dĩ nhiên là không phải tiền túi của ông ta. Tất cả là do sự đóng góp của toàn giới Hoa kiều. Tja Ma Yeng chỉ là người vận động, môi giới. Nhưng để làm được, lại phải cần một “bộ óc” có tầm cỡ. Người con trai của họ Tạ đã là người duy nhất làm được việc mà cả giới Hoa kiều không một ai có khả năng. Sau vụ đó, Tja Ma Yeng nghiễm nhiên trở thành một “quân sư” đầy uy tín của cộng đồng Hoa kiều trong mọi mặt, chứ không riêng gì những cuộc dàn xếp như vừa kể trên. Vào thập niên 20 của thế kỷ XX, khi nền kinh tế của Việt Nam đã bắt đầu vươn ra thế giới bằng việc xuất nhập khẩu lương thực và hàng tiêu dùng như Đông dược, thì nhất thiết phải có bàn tay cửa Tja Ma Yeng. Ông đóng vai trò là “nhà chiến lược” hoạch định tất cả những công cuộc giao thương với nước ngoài cho giới người Hoa lúc đó. Quách Đàm muốn xuất lúa gạo cho Singapore, Hồng Kông ư? Nếu không có sự tham mưu của Tja Ma Yeng thì không thế thành công. Tja Ma Yeng bằng tài riêng của mình, đã có sự liên hệ với các nhà doanh nghiệp châu Á. Ông ta nghiên cứu thị trường thế giới và khu vực, đánh hơi đường đi nước bước của thương trường hiện tại, tương lai, rồi đưa ra những quyết định tối hậu cho Hoa kiều Chợ Lớn. Do đó, các bang hội khác nhau đã không xem Tja Ma Yeng là người Quảng Đông, họ tôn vinh ông như là “lãnh chúa” của mình. Vào thời đó, chỉ cần một cái gật hay lắc đầu của Tja Ma Yeng thì giá cả thị trường có thể thay đổi.
Chẳng mấy chốc Tja Ma Yeng giàu lên không thua gì Quách Đàm - chủ chợ Bình Tây. Và đúng như phong cách một nhà chiến lược kinh tế, Tja Ma Yeng không bao giờ chường mặt ra để thiên hạ nhận diện. Ông luôn hành động âm thầm, kinh doanh trong lặng lẽ. Nghe nói, có thời kỳ, tài sản, vốn liếng của ông ta lên tới mức bằng phân nửa sản nghiệp của người Hoa cộng lại!
Vào thập niên 30, thời kỳ kinh tế Việt Nam suy thoái, Tja Ma Yeng đã chuyển dần cuộc làm ăn và tài sản về Hồng Kông.

Tây làm giàu ở xứ ta

Cách đây trên một thế kỷ, khi thực dân Pháp hùng hổ kéo sang Việt Nam, thì bên cạnh đó, cũng có những người Pháp không dùng súng, không mang ý đồ chính trị, họ đặt chân lên vùng đất “tân thuộc địa” với một mục đích rất hòa bình: làm giàu. Họ có thể là những thương nhân từng kinh doanh phát đạt ở “mẫu quốc”, hoặc chỉ là những người mới bắt đầu bước vào thương trường, nhưng tất cả họ đã chọn Việt Nam (đặc biệt là Sài Gòn) để hằng nuôi mộng làm giàu.

Thời đó, vùng Sài Gòn - Chợ Lớn còn là hai địa phương láng giềng, có tên riêng, tính chất riêng. Theo một số người, chữ Sài Gòn có lẽ đọc trại ra từ những tiếng Tai ngon hoặc Tingon của người Hoa khi họ đặt cho vùng đất mà họ đã có mặt trước đó khá lâu. Người Hoa đã bám rễ ở vùng đất giàu tiềm năng của phương Nam này, chỉ vì họ đã nhìn thấy được Sài Gòn là nơi về sau sẽ là miếng mật ngọt hiếm có. Do đó, trong số họ đã có nhiều người phất lên rất nhanh và nổi tiếng như Hui Bon Hoa (chú Hỏa), Chú Hỷ, Tja Ma Yeng, Wang Tai, Thông Hiệp, Quách Đàm... Những thương nhân người Pháp tuy có chậm chân hơn, nhưng cũng tỏ ra không hề thua kém trong mục tiêu làm giàu.
Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ xin kể ra một số nhân vật điển hình, một thời đã là tấm gương cho những tay tư bản nước ngoài khi bắt đầu muốn đặt nền móng cho công cuộc kinh doanh của họ.

Thị trường đầu tiên được những tay tư bản Pháp nhắm là làng báo. Thời đó, ở Sài Gòn báo chí rất hiếm hoi, mà nhu cầu truyền đạt thông tin là cực kỳ quan trọng, nếu biết khai thác sẽ làm giàu mấy hồi. Có lẽ nghĩ vậy, nên ngay những ngày đầu thế kỷ XVIII, đã có vài tay trùm tư bản nhảy vào làng báo Sài Gòn. Sừng sỏ hơn cả là Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer và chủ tịch Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ Paul Blanchy. Họ vừa có chức, quyền, vừa có nghề viết lách và đặc biệt hơn cả, có vốn liếng rất lớn. Paul Blanchy đứng làm chủ tờ Le Courrier Saigonnais, còn Paul Doumer thì núp sau hậu trường tờ Le Mékong. Họ dùng báo chí để tuyên truyền cho chính sách thuộc địa của Chính phủ Pháp, đồng thời cũng dùng nó để thu lợi riêng. Trong nhiều năm, cả hai đã được lợi rất lớn qua công cuộc kinh doanh này.

Bên cạnh đó còn có Lucien Héloury chủ trương tờ L’opinion, nữ triệu phú Louis Alcan ra tờ La France D’Asie, De La Chevrotière thì tách ra khỏi nhóm của Lucien Héloury để thành lập tờ báo riêng. Đặc biệt hơn hết, trong nhóm “tư sản báo chí” này, có Ganesco, vốn xuất thân từ chánh văn phòng cho Thống đốc Rodier, gia nhập làng báo Pháp tại Sài Gòn, vỉết rất hăng, báo bán rất chạy, làm giàu rất nhanh... Nhưng Ganesco không an phận, chỉ một thời gian sau đã bỏ nghề kinh doanh “nhật trình”, đứng ra thành lập một câu lạc bộ giải trí rất lạ, đó là những cuộc đua chó (thay vì đua ngựa) gọi là ratadrome, tổ chức tận thị trấn Tầm Vu, thuộc tỉnh Tân An (tức Long An ngày nay). Đây là một hình thức cờ bạc trá hình, vừa lạ mắt, vừa hấp dẫn, nên chẳng mấy chốc chúng đã thu hút đông đảo người chơi. Ganesco hốt bạc to, làm điêu đứng trường đua ngựa Phú Thọ ở Sài Gòn.

Dịch vụ “đỏ đen” như trên còn đa dạng qua nhiều kiểu chơi. Ngoài dịch vụ đua chó, còn phải nói đến đua ngựa. Đầu thế kỷ XX, Pháp kiều Jean Duclos sau khi thành công với trường đua ở Hà Nội, đã chở cả một bầy ngựa giống châu Âu và Ai Cập vào Sài Gòn, làm “dậy sóng” dân mê cờ bạc ở trường đua Phú Thọ. Năm sau đó, đến phiên một người Pháp khác, de Monpezat, vào Sài Gòn tung hoành bằng những con ngựa đua hấp dẫn. Dân ta thua cháy túi, trong lúc giới thương nhân Tây thì ngày càng giàu. Họ bắt đầu một hiện tượng mới trong thương trường ở Sài Gòn và được thiên hạ gọi đó là “Tây làm giàu ở xứ ta”.

Các nhà hàng, khách sạn lớn, sang trọng ở đường Catinat, Bonard đều có những casino (sòng bạc) không chỉ dành cho ngoại kiều, mà còn rộng cửa để các nhà giàu bản xứ có chỗ đốt tiền. Một trong những casino nổi tiếng thời đó (cuối thế kỷ XIX) là Hotel de France ở đường Catinat, nơi hội tụ hầu như không thiếu một nhân vật tai to mặt lớn nào. Bên cạnh dịch vụ kinh doanh đỏ đen dễ hốt bạc, các nhà tư sản Tây còn ngự trị gần như độc quyền lĩnh vực khai khẩn điền địa, kinh doanh địa ốc. Có ba người Pháp, một người Ấn (dân thời ấy quen gọi là Chà Và) được liệt kê đứng đầu danh sách làm giàu về ngành đất đai.

Đầu tiên là Fernand Lafon, sớm nhìn thấy đà phát triển đô thị của Sài Gòn, nên đã mạnh dạn bỏ tiền ra mua cả một vùng đất hoang “ruồi bu” gồm khu tứ giác Verdun (Cách Mạng Tháng 8 ngày nay), Colombier (Hồ Xuân Hương), Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ), Bà Huyện Thanh Quan, với giá “bèo”. Thời ấy, khu vực này còn hoang sơ, chưa có nhà cửa, nên việc Lafon dám bỏ ra 0,5 đồng để mua 1m2 đất đã là đề tài cho mọi người cười nhạo. Vậy mà chỉ một năm sau, Lafon đã “trúng lớn” gấp trăm lần.

Mézin, nhờ quen biết với Thống đốc Nam Kỳ, được ban đặc ân mua đất giá rẻ ở tỉnh Cần Thơ. Mézin đã mua một vùng đất bạt ngàn, rồi thành lập một đồn điền lớn chưa từng thấy ở Nam Kỳ thời đó, gọi là “Đồn điền miền Tây” (domaine de L’Ouest). Trở thành “chúa đất” ở miền Tây, Mézin chuyển tiền thu được về “mẫu quốc” không xuể!

Đồng thời với Mézin, còn có Grossier, âm thầm tậu vài chục ngàn hécta ruộng ở vùng Phú Lộc, Sóc Trăng, thuê mướn nông dân bản địa làm công, để thu tô hàng năm.
Người thứ tư độc đáo hơn, là một Ấn kiều, từ Ấn Độ sang Sài Gòn với hai bàn tay trắng, nhưng nhờ có nghề truyền thống nuôi dê lấy sữa, nên đã sớm độc chiếm thị trường sữa dê. Tuy nhiên, việc làm giàu của người này do sự may mắn. Nguyên thời ấy, cả khu vực đất mà ngày nay là sân bay Tân Sơn Nhất, chỉ là bãi đất hoang vu, nhìn mỏi mắt cũng không thấy được nhà. Người Ấn này hàng ngày chăn thả bầy dê trên đất đó. Bỗng một hôm, ông ta bị cấm không cho chăn thả nữa, khác nào bị đập bể nồi cơm. Ông thưa kiện tùm lum, nhưng cuối cùng vẫn bị buộc một điều kiện: nếu muốn tiếp tục chăn thả dê, thì phải bỏ tiền ra mua đứt mảnh đất rộng đó!

Đành phải bóp bụng mà mua. Tiền thiếu đã có cộng đồng Ấn kiều ở Sài Gòn giúp (mà cụ thể là những Ấn kiều chuyên cho vay không cần thế chấp tài sản). Đất “chó ngáp” đó về sau được nhà nước Pháp trưng dụng một phần để làm sân bay, đã phải bồi hoàn cho “khổ chủ” một số tiền lớn gấp nghìn lần giá mua! Số còn lại, chủ đất đã chia lô ra bán làm đất thổ cư, mối lợi không tài nào tính nổi!
Chỉ kể sơ một số nhân vật “Tây làm giàu ở xứ ta” như trên, chúng ta đã thấy rằng, những người Pháp đã thu vén được quá nhiều nguồn lợi từ “thuộc địa” của mình. Sài Gòn trong suốt thời kỳ bị Pháp đô hộ đã phải ngậm ngùi nhìn đất đai, lợi lộc của mình lọt vào túi của người nước ngoài.

Làm giàu từ “Đại Thế Giới”

Làm giàu từ cờ bạc thì chẳng có gì để được nhắc nhở, đừng nói là khen ngợi. Tuy nhiên, bởi nét đặc thù của Sài Gòn thời xưa là sự pha lẫn giữa làm giàu bằng ý chí, bằng sự phấn đấu tự vươn lên, lại có những kẻ làm giàu bằng bóc lột, bằng những mánh khóe gian xảo. Ghi lại đây những bộ mặt đã từng một thời làm giàu bất chính, để phản ánh toàn diện hơn về bề trái của một Sài Gòn từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”.

Grand Monde (Đại Thế Giới) là một sòng bạc được người Pháp dựng lên, nhưng bị khống chế bởi những đầu nậu Hoa kiều và sau đó là những thế lực “Lục lâm thảo khấu”. Nếu so về tầm cỡ lúc đó, thì Đại Thế Giới được ví ngang với vài sòng bạc thuộc loại lớn nhất nhì của Macau. Khi thấy cái bảng hiệu bằng chữ Pháp thật to “GRAND MONDE” được trương lên trước khu đất rộng trên một hécta, dân Sài Gòn cứ ngỡ đó là một câu lạc bộ giải trí dành cho người Pháp, như câu lạc bộ Cercle sportif Saigonnais chẳng hạn. Nhưng đến ngày khai trương, thì thiên hạ mới ngớ ra, bởi điều khiển toàn bộ công việc trong Grand Monde là người Hoa, và dịch vụ của nó không phải là giải trí thể thao mà chính là một sòng bạc.

Người trực tiếp điều hành là Lâm Giống, một trùm cờ bạc từ Hồng Kông tới. Đó là một tỷ phú nhờ kinh doanh dịch vụ cờ bạc ở Macau, Hồng Kông, trước khi được móc nối tới Sài Gòn và trụ lại khá lâu ở Đại Thế Giới. Về nhân vật này, nghe nói cũng lắm huyền thoại khá ly kỳ, được thêu dệt từ chính những bạn bè đồng sự của ông ta. Theo đó, Lâm Giống thời thanh niên đã từng làm đủ nghề, từ phổ ky (chạy bàn trong quán ăn), rửa chén, quét nhà, dọn bàn ghế và hầu phòng, đánh giày cho mấy tay trùm cờ bạc. Chính nhờ nghề sau cùng đó, Lâm Giống đã làm quen với nghề cờ bạc. Từ một tên tép riu, dần dần Lâm Giống đã học được nghề, lão luyện các mánh để làm trùm. Đầu thập niên 30, họ Lâm đã có cổ phần trong hai sòng bạc lớn nhất Macau. Vào năm 1937, khi Sài Gòn lập hai sòng bạc Đại Thế Giới (Chợ Lớn) và Kim Chung (vùng cầu Ông Lãnh) thì Lâm Giống đã có mặt. Nghe nói ông ta đã đấu thầu để được quyền khai thác sòng bạc Đại Thế Giới với giá mười triệu (nên nhớ vào những năm đó, giá một lạng vàng chỉ trên dưới 100 đồng) và chịu đóng thuế 200 ngàn đồng mỗi ngày cho công quỹ.

Suốt trong thời gian xảy ra thế chiến thứ 2, khắp nơi điêu đứng vì chiến tranh và nền kinh tế suy sụp thì ở Sài Gòn, Chợ Lớn, hai sòng bạc Đại Thế Giới và Kim Chung vẫn bình yên mở ngày đêm, sát phạt nhau điên đảo. Bao nhiêu con thiêu thân đã lao đầu vào ánh đèn néon rực sáng hai chữ Grand Monde đó, bao nhiêu người đã tán gia bại sản, bao nhiêu mạng sống đã bị hủy hoại một cách oan uổng bởi cái máu đỏ đen... Lâm Giống càng ngày càng giàu, thu vào bạc tỷ một cách dễ dàng. Người ta đồn rằng, vào thời ấy, ở Sài Gòn - Chợ Lớn không ai giàu hơn Lâm Giống. Hắn đầu tư vào nhiều ngành, đặc biệt là nhà hàng, khách sạn và vũ trường (dancing). Hắn tổ chức đưa vũ nữ, gái lầu xanh từ Hồng Kông, Macau sang lũng đoạn cả thế giới ăn chơi của Hòn Ngọc Viễn Đông.

Khi thế chiến thứ hai chấm dứt, cũng là lúc Lâm Giống ngự trên đỉnh cao sự giàu sang của hắn, hắn là “vua” muốn gì được nấy, trong nhiều năm.
Đến đầu thập niên 50, một “khắc tinh” của Lâm Giống đã loại y ra khỏi cuộc chơi. Đó là Bảy Viễn. Người nào từng sống ở Sài Gòn vào thời kỳ đó, đều biết đến cái tên thuần túy Nam Bộ này. Bởi Bảy Viễn là một con người cùng lúc có đến ba, bốn chức danh: đầu đảng thảo khấu Bình Xuyên, “tư lệnh” lực lượng võ trang Bình Xuyên, chủ sòng bạc Đại Thế Giới kiêm... tỷ phú!
Bảy Viễn vào những năm đầu thập niên 40 là một trong bốn, năm tên tuổi đứng đầu của làng thảo khấu vùng Sài Gòn - Chợ Lớn (Bình Xuyên và một làng vùng ven, chạy dài từ Nhà Bè, quận 8, đến giáp Bình Chánh), từng ở tù Côn Đảo về tội cướp. Khi Cách mạng Tháng 8 nổ ra, Bảy Viễn cũng len lỏi vào hàng ngũ, đội lốt “chống Pháp” một thời gian, nhưng sau đó bị Tây mua chuộc, được người Pháp ưu đãi cho cát cứ vùng Chánh Hưng, lập nên “lực lượng Bình Xuyên”. Với cái “mác” Bình Xuyên, Bảy Viễn nhắm vào “kho bạc” Đại Thế Giới và chiếc ghế “thần bài” của Lâm Giống.

Với chủ trương sắt máu, áp dụng luật mafia, Bảy Viễn đã làm áp lực, buộc Lâm Giống phải nhường lại Đại Thế Giới cho ông ta. Lúc đó Bình Xuyên quá mạnh, Lâm Giống chẳng dại gì cưỡng lại, nên chỉ sau một đêm thương lượng, ông ta đã lẳng lặng rút lui, nhường lại toàn bộ cơ ngơi Đại Thế Giới cho Bảy Viễn. Thật ra thì đằng sau Bảy Viễn đã có một bàn tay nâng đỡ rất có thế lực, đó là Bảo Đại và Chính phủ bảo hộ Pháp. Bảy Viễn chấp nhận nâng mức thuế đóng cho Nhà nước lên năm trăm ngàn đồng mỗi ngày. Với số thuế lớn như thế nhưng Bảy Viễn vẫn còn lãi gấp năm, bảy lần. Chẳng mấy chốc Bảy Viễn trở thành một tỷ phú vượt tất cả các nhà giàu đương thời.

Tuy nhiên, loại làm giàu kiểu Bảy Viễn không bao giờ bền. Chỉ đến cuối năm 1954, xảy ra cuộc “tương tàn” giữa lực lượng Bình Xuyên và Ngô Đình Diệm, để rồi cuối cùng Bình Xuyên bị đánh tan tác, Bảy Viễn bỏ chạy sang Pháp ẩn thân. Đại Thế Giới “rụng” bảng hiệu.

Nhà tỷ phú rửa chén

Nhân vật mà chúng tôi kể ra đây còn tương đối gần với chúng ta, do một vài việc cần dè dặt, nên chỉ xin nêu tên tắt. Nhưng với người từng theo dõi thương trường Sài Gòn trước 1975 ắt không lạ tỷ phú NĐQ.
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Trung, vào những năm trước chiến tranh thế giới lần thứ 2, NĐQ không chịu sống hẩm hiu cùng quê nghèo của mình. Con người nghèo tiền nhưng có chí lớn này, vào một hôm, đã âm thầm lên tàu hỏa xuôi vào Sài Gòn, nơi cậu ta lần đầu tiên đặt bước chân đến.
Không tiền, không thân nhân, dù là thân con trai cũng thường là miếng mồi ngon cho tệ nạn xã hội Sài Gòn thời ấy. Vậy mà NĐQ đã không hề ngần ngại. Vừa xuống xe lửa ở ga Sài Gòn, cậu đã vội cuốc bộ ra khu vực trung tâm thành phố, nơi có các phố Catinat, Charner và Bonad (Đồng Khởi - Nguyễn Huệ và Lê Lợi ngày nay). Đi một lượt qua các phố phường hoa lệ, cuối cùng cậu ta dừng lại trước một nhà hàng, khách sạn sang trọng nhất thời ấy, đó là Hotel Coninental.

Ngang nhiên bước vào một nhà hàng cực kỳ sang trọng, mà ngay như dân có tiền ở Sài Gòn cũng chưa chắc đã dám mạnh dạn như vậy, kéo ghế ngồi xuống một cách đường hoàng, NĐQ không thèm nhìn ai, cậu chờ... Bồi nhà hàng loại quý tộc này, xưa nay chỉ quen tiếp những khách sang trọng, nay thấy có một cậu ăn mặc tuy sạch sẽ, nhưng lại quá đơn giản, đượm nét tỉnh lẻ, họ trịch thượng hỏi:
- Anh cần gì?
Q. nhìn vào bảng thực đơn bằng tiếng Pháp, cậu gọi một món ăn kèm theo chai rượu khai vị, rất đúng giọng Pháp, lại chững chạc, trước sự ngỡ ngàng của các phục vụ viên. Họ ngần ngừ, nhưng cuối cùng cũng phải bán hàng. Q. ăn uống xong, đòi gặp Chef d’hotel (người quản lý khách sạn). Một tay người Pháp bước tới, anh ta tỏ vẻ hoài nghi, hơi khinh thường và lại càng bực dọc hơn khi nghe Q. yêu cầu cho gặp Monsieur Directeur (giám đốc). Hỏi có chuyện gì, Q. đáp thẳng:
- Không giấu ông, tôi thật không có tiền trả bữa ăn này. Bây giờ đã lỡ ăn, tôi muốn gặp ngài giám đốc để xin thương lượng. Tôi nói rõ, tôi chỉ tạm thời thiếu, chứ không ăn quỵt.

Chef d’hotel và cả ê kíp phục vụ đều không ngớt lời thóa mạ, đòi báo cảnh sát, nhưng Q. vẫn bình tĩnh, xin được gặp chủ nhà hàng. Cũng may, vừa lúc ấy lão chủ người Pháp trờ tới, ông ta nghe được những câu đối đáp bằng tiếng Pháp của Q. nên hơi tò mò, cho mời Q. vào phòng riêng. Q. thưa chuyện:
- Thú thật với ông, tôi là một người ở tỉnh xa tới, hết tiền, lại đang đói, vì chưa tìm ra việc làm, cho nên tôi đánh bạo ăn một bữa cơm của nhà hàng ông, nhưng không ăn quỵt, nên tôi xin được làm bất cứ công việc gì ở đây, từ quét dọn, bưng bê, chà rửa toa lét cho đến rửa chén bát, miễn là giúp tôi có thể trả lại tiền bữa cơm hôm nay.

Người chủ Tây không hài lòng lắm, nhưng trước thái độ khá thành khẩn và lễ độ, cộng với những câu cú tiếng Pháp khá chuẩn của chàng trai, cuối cùng ông ta cũng bằng lòng như một cách thử việc cho những chỗ làm còn đang thiếu. Q. được bố trí cho rửa chén ở nhà bếp. Cậu ta chăm chỉ làm việc y như một nhân viên thực thụ và hiệu suất rất cao. Đúng một tuần lễ, khi được gọi lên để lĩnh lương, NĐQ đã lễ phép thưa với chủ là mình xin nghỉ việc. Cậu ta hỏi lại:
- Tiền công tôi làm so với tiền bữa ăn hôm trước đã đủ hay chưa?
- Tất nhiên là còn thừa tiền.
Lão chủ Tây cố cầm giữ cách nào, Q. cũng từ chối, anh ta nói:
- Xin cám ơn ông về lòng hào hiệp mà ông đã dành cho. Tuy nhiên, tôi có cái mộng riêng của mình nên không thể tiếp tục ở đây giúp việc được.
Trước khi chia tay, người chủ Tây còn hỏi:
- Anh có thể cho tôi biết giấc mộng mà anh đang ấp ủ là gì không?
Q. úp mở đáp:
- Làm chủ. Làm một nhà đại doanh nghiệp.
Câu trả lời của Q. lúc đó có thể làm trò cười cho người chủ Tây.
Bẵng đi một thời gian khá lâu, trong lúc ở nhà hàng Continental hầu như chẳng ai còn nhớ gì đến cậu trai ăn chực ngày nào, thì thật bất ngờ, vào một ngày cuối năm 1949, tức mười lăm năm sau, có một “ông chủ” đi xe Traction bóng loáng, bước vào khách sạn. Ông ta đặt một bàn sang trọng nhất trong nhà hàng và xin được gặp chủ nhân.

Người chủ Pháp năm xưa vẫn còn đó. Khách lên tiếng:

- Ông chủ chắc không còn nhớ tôi? NĐQ - người năm xưa ăn thiếu ông một bữa cơm, phải rửa chén để trừ.
- Tôi đã nhớ ra ông. Rất hân hạnh.

Nhờ có bằng tiểu học, lại nói lưu loát tiếng Pháp, Q. đã xin vào làm thư ký cho một đồn điền cao su, sau dần dần được cất nhắc lên làm cai thợ. Và cái đích cuối cùng của Q. đã đạt được: Làm chủ. Trong suốt thời gian dài làm việc, Q. không nhận hết tiền lương, chỉ lấy đủ tiền vặt, còn bao nhiêu cậu gởi lại chủ: tích lũy dần, đến lúc đủ tiền mua một ít cổ phần của Công ty, rồi sau đó một cơ may đến, khi chủ Tây cần bán bớt một phần Công ty, Q. đã mua trả góp.

Công ty nhỏ, lại đang hồi cây cao su bị thoái hóa, nhưng về tay Q. thì chỉ một thời gian ngắn đã phát triển trở lại. Trong vòng năm năm, Công ty cao su do Q. làm chủ đã có thể sánh ngang với một số công ty bậc trung. Khi Q. về thăm lại ông chủ nhà hàng Continental là lúc có quyền xưng mình là “triệu phú”, địa vị của anh ta trên thương trường đã được nhiều người nể nang. Những mặt khác, trong kinh doanh, có thể NĐQ chưa hẳn là một ông chủ hoàn hảo, nhưng xét về mặt thành công bằng chính ý chí của mình, thì Q. được đánh giá cao.

NĐQ tậu một ngôi nhà lớn ở đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng ngày nay), lọt vào danh sách hai mươi người giàu nhất Sài Gòn thời đó. Có lẽ giai đoạn “đẹp” nhất trong đời Q. là thời gian đó. Bởi từ 1961 trở về sau, NĐQ bắt đầu rước vào những bất hạnh: con gái ông lái xe đi chơi Vũng Tàu bị tai nạn chết thảm dưới gầm cầu Rạch Hào, tiếp theo là vụ tự phá sản (thực ra ông đã bị phá sản do nhiều nguyên nhân, trong đó sai lầm lớn nhất về cuối đời là “giấc mộng politique” (làm chính trị). Ông ta đã tập tành ứng cử để rồi nhận lấy những ê chề... Vào giữa thập niên 60, tỷ phú NĐQ đã chính thức bị xem là phá sản. Ngôi nhà ở đường Hai Bà Trưng về tay chủ khác. Q. lặn mất vào bóng tối.

Nguyễn Tấn Đời và vụ sụp đổ Thần Tài Tín Nghĩa

Những năm đầu của thập niên 70, khi cường độ cuộc chiến tranh chống Mỹ đã đến hồi khốc liệt thì cũng là thời điểm cực thịnh của hệ thống ngân hàng tư nhân ở Sài Gòn, trong đó đứng đầu là Tín Nghĩa Ngân Hàng (TNNH), hay còn gọi một cách bình dân là ngân hàng Ông Thần Tài, của ông Nguyễn Tấn Đời. Với hàng trăm chi nhánh trên toàn miền Nam, hầu như TNNH đã chiếm lĩnh toàn bộ các dịch vụ tiền gửi và cho vay. Cùng lúc đó, những công trình lớn được ông đầu tư đã mọc lên, như khách sạn Président (Trần Hưng Đạo, Q.5), bệnh viện tư loại lớn nhất nhì thành phố (đường Trần Hưng Đạo, Q.5), một hãng gạch bông có uy tín, một ngôi nhà thủy tạ (gần cầu Bình Lợi) được gọi là “nhà mát” của Nguyễn Tấn Đời và một số công trình khác.

Từ giữa thập niên 60 về trước, ở Sài Gòn chỉ những người trong giới ngân hàng là biết đến tên ông, còn người dân thì hoàn toàn xa lạ. Tuy nhiên, từ năm 67, hầu như ai cũng nghe nhắc đến tên con người có gốc gác từ Rạch Giá và Long Xuyên (Kiên Giang, An Giang ngày nay) này. Ông Nguyễn Tấn Đời vốn là một nhân viên của Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín (ngân hàng Nhà nước) trong nhiều năm, leo lên được chức trưởng phòng. Sự nghiệp công danh đang hồi hanh thông, bởi ban lãnh đạo ngân hàng đang có ý tin dùng và cất nhắc ông lên cao nữa... Bỗng một hôm, vào giữa năm 1966, ông đột ngột xin nghỉ việc. Tại sao? Đó là câu hỏi đầy ngạc nhiên của nhiều người, và chỉ được trả lời sau đó sáu tháng, khi có tin chính thức về việc ông Nguyễn Tấn Đời thành lập Ngân Hàng Tín Nghĩa. Thì ra, con người có chí lớn đó không chịu “an phận” làm một chuyên viên có thế lực ở ngân hàng Nhà nước.
Bốn năm sau, vào năm 1971, TNNH hầu như trùm thiên hạ, lấn hẳn các ngân hàng khác, kể cả Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín. Biểu tượng ông thần tài đưa cao tay với xâu tiền điếu trong tay, hầu như quen thuộc với mọi người. Ở tận các hang cùng ngõ hẻm, dân nghèo sở hữu một món tiền nho nhỏ đều có thể có cuốn sổ tiết kiệm “Thần Tài”. Nhưng, đùng một cái, tỷ phú Nguyễn Tấn Đời bị bắt! TNNH bị sụp đổ!


[/i]
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103056
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49562 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Hồi Ký, Tuỳ Bút: Hảo hán Sài Gòn Dân chơi Bến Nghé

Postby DaMinhChau » April 15th, 2017, 9:55 pm


Chuyện gì đã xảy ra cho nhà tỷ phú tiếng tăm này? Nếu theo tin tức đăng tải công khai trên các báo xuất bản tại Sài Gòn vào thời điểm đó, thì Nguyễn Tấn Đời đã phạm vào các tội làm TNNH mất cân đối thu chi và không còn khả năng chi trả cho khách hàng; cá nhân ông Đời vi phạm việc huy động vốn và đầu tư kinh doanh... Nhưng theo dư luận bên ngoài, kể cả của những người am tường nghiệp vụ ngân hàng, thì ông đã bị các đối thủ “chơi” một vố thẳng tay, hết đường chống đỡ. Đó là các tập đoàn tài phiệt đang cạnh tranh với ông, họ thấy cái thế của ông trong hệ thống ngân hàng quá lớn (theo con số được báo chí công bố lúc đó, thì tổng số tiền của TNNH lên đến 22 tỷ đồng, số tiền này lúc đó rất lớn, gần bằng tổng số tiền của tất cả các ngân hàng tư nhân gộp lại), và có khả năng ông ta sẽ bỏ vòi sang địa hạt chính trị. Một câu hỏi khác đã từng được dư luận nêu lên: phải chăng ông Nguyễn Tấn Đời đã bị thế lực của các tướng lĩnh trong quân đội Sài Gòn ra tay triệt hạ? Bởi cạnh tranh với TNNH còn có Kỹ Thương ngân hàng, một ngân hàng quân đội mà đa số vốn là của các tướng lĩnh chóp bu trong quân đội Sài Gòn, trong đó có Nguyễn văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm...

Bốn mươi tám giờ đồng hồ sau, khi chính quyền Sài Gòn ra lệnh phong tỏa tất cả các TNNH, ông Nguyễn Tấn Đời đã bị bắt tại nhà một người cháu ở đường Phan Liêm. Cuộc thẩm vấn ông Đời diễn ra chóng vánh, gần như đã được xếp đặt sẵn, để rồi tội danh được công bố như đã nói ở trên. Ông đã bị tống giam vào khám Chí Hòa, như một tội nhân đặc biệt.
Nguyễn Tấn Đời ở tù cho đến ngày Sài Gòn được giải phóng, nghe nói nhân lúc tình hình còn lộn xộn, ông ta đã thoát ra khỏi Chí Hòa, sau đó về Rạch Giá để lên tàu (do người nhà chuẩn bị sẵn) rời khỏi Việt Nam.

Thợ sửa xe đạp trở thành chủ rạp hát

Ngày nay, khi đi ngang qua đường Trần Hưng Đạo, quận I, TP Hồ Chí Minh, người ta dễ dàng nhìn thấy một rạp hát khá bề thế, mang tên Hưng Đạo, nhưng có lẽ ít người biết rõ quá trình hình thành của nó.

Vào khoảng thời gian bắt đầu nổ ra cuộc chiến tranh thế giới lần hai, Sài Gòn vẫn còn khá lạc hậu, với phương tiện giao thông cá nhân chủ yếu là xe đạp. Tại gốc giao lộ Générale Marchand và Galliéni (Nguyễn Cư Trinh và Trần Hưng Đạo ngày nay) thường ngày có cậu con trai khoảng 18-20 ngồi cặm cụi sửa xe đạp bên vệ đường. Thời đó, người dân chính gốc thành phố thất nghiệp dài dài, nói chi đến những dân nhập cư từ các tỉnh xa, do đó người ta xem việc một thanh niên ngồi sửa xe như vậy là chuyện bình thường.

Những người thường lui tới con đường đó, đặc biệt là những khách hàng từng đôi ba lần đưa xe đến sửa, đều công nhận anh thợ sửa xe ấy là một chàng trai hiền hậu, dễ thương lại rất chăm chỉ, cẩn thận. Xe hư đâu sửa đó, sửa có chất lượng, chỉ lấy tiền công vừa phải, đôi khi với những khách hàng già cả, cậu ta tự nguyện sửa miễn phí “để làm quen”. Lâu dần, khách hàng càng lúc càng đông, thậm chí có người bị hư xe ở xa cũng ráng dẫn bộ tới, để cậu sửa.

Chàng trai ấy tên là Niệm.

Một năm sau ngày ra nghề, người ta thấy chỗ bức tường phía sau lưng anh thợ sửa xe ngồi có treo lủng lẳng vài chiếc vỏ, ruột xe đạp, cùng với một ít những phụ tùng khác. Anh ta giải thích: “Để khi nào khách có nhu cầu thì mình thay cho tiện”. Thời đó không có “chợ phụ tùng” hoặc các loại phụ tùng xe được bày bán khắp nơi như ngày nay, cho nên việc phục vụ linh hoạt của cậu Niệm này rất được bà con ủng hộ. Hai năm sau, khách hàng nhìn thấy có thêm một hai chiếc xe đạp ráp hoàn chỉnh, dựng ở đó. Cậu Niệm lại giới thiệu: “Nhân tiện ráp sẵn, nếu bà con nào có cần thì mình nhường lại, giá phải chăng”. Tất nhiên là hàng của cậu ta ráp đến đâu bán được đến đó.

Sau khi Nhật đảo chánh Pháp, trong lúc Sài Gòn đang hoảng loạn vì những cuộc dội bom của phi cơ đồng minh xuống thành phố, dân chúng lo chạy tránh bom, thì ở góc đường đó, chàng trai sửa xe vẫn cứ bám trụ với “cơ ngơi” của mình, gồm bốn chiếc xe đạp vừa mới ráp, cộng với một thùng phụ tùng mới. Với cậu, giữa cái chết do bom đạn và chết đói, cậu ta sợ chết đói hơn. Vả lại, trong đầu cậu trai nghèo này, hình như còn nuôi một hoài bão...
Chiến tranh thế giới lần thứ hai vừa kết thúc, cũng là lúc người ta ngạc nhiên khi thấy chàng trai dó đứng ra thuê hẳn một góc nhà (chỗ căn phố suốt mấy năm qua cậu ta vẫn ngồi phía trước hiên nhà để hành nghề) và khai trương bảng hiệu: “Nguyễn Thành Niệm, sửa xe và bán phụ tùng xe đạp”.

Thì ra, do khéo dành dụm trong nhiều năm qua, cậu ta đã có một số vốn nho nhỏ, đủ để “dựng tiệm”. Cậu tâm sự với những người quen biết: “Cái nghèo nó làm cho mình phải bỏ dở chuyện học hành, mà không học thì khó bề lập thân. Bây giờ chỉ còn một cách là phải chí thú làm ăn, phải đi lên bằng con đường thương mãi...”. Điều đó hoàn toàn đúng. Năm năm sau, đầu thập niên 50, cả một dãy phố từ đầu đường Nguyễn Cư Trinh chạy dọc theo Trần Hưng Đạo, đến gần đường hẻm Nguyễn văn Dụng, đã quy về một mối, do một người làm chủ: Nguyễn Thành Niệm!

Cậu ta trúng nghề phụ tùng xe đạp là chủ yếu, nhưng cũng phải kể đến yếu tố cần kiệm và óc nhạy bén với thị trường. Chỉ trong vòng mười năm, từ một anh chàng sửa xe đạp tầm thường, Nguyễn Thành Niệm tậu được đến gần 30 căn phố mặt tiền đường Gallieni (Trần Hưng Đạo). Có người nói, sở dĩ Niệm mua được nhiều nhà như thế là bởi vì thời đó mọi người vừa trải qua một giai đoạn khủng hoảng do chiến tranh, bị lung lạc tinh thần, muốn bán rẻ nhà cửa để hồi hương lập nghiệp, nên giá nhà khá rẻ, và Niệm đã chộp đúng thời cơ.

Con đường “lập thân” của Nguyễn Thành Niệm đã rộng mở. Anh ta chuyển sang kinh doanh đa dạng hơn, gồm cả phụ tùng xe gắn máy, xe hơi, máy móc cơ giới nói chung. Và thế là một Công ty nhập khẩu phụ tùng xe, máy được hình thành: Công ty Indo Comptoir Nguyễn Thành Niệm. Cuối thập niên 50, đây là một trong mười Công ty xuất nhập khẩu phụ tùng cơ giới lớn nhất của Sài Gòn và có cả những chi nhánh ở khắp Việt Nam, vươn ra tới Nam Vang, Vientian, Paksé (Lào). Nguyễn Thành Niệm trở thành một tỷ phú.

Đầu thập niên 60, tại dãy phố góc đường Nguyễn Cư Trinh - Trần Hưng Đạo, cạnh trụ sở Công ty Nguyễn Thành Niệm, người ta thấy mọc lên một tòa nhà đồ sộ với chữ hiệu trên mặt tiền rất nổi: Rạp hát Hưng Đạo. Thì ra, đúng nơi mấy chục năm trước Niệm ngồi sửa xe đạp, giờ đã được dựng lên một rạp hát lớn nhất thành phố, lại do chính ông làm chủ. Có lần Nguyễn Thành Niệm đã nói với bạn bè: “Cuộc đời cũng giống như một sân khấu. Mình cố làm sao cho sân khấu lộng lẫy thì càng hay...”

Lý Long Thân và cơn sốt chim cút

Ai đã từng ở Sài Gòn từ đầu thập niên 60 đến 1975, đều ít nhiều nghe nhắc đến Lý Long Thân. Tuy chỉ là một doanh nghiệp, nhưng tay này đã “vang danh” và có thế lực “nghiêng trời” vào thời ấy, chẳng riêng gì vùng Chợ Lớn, mà lan rộng khắp miền Nam. Vậy Lý Long Thân là người như thế nào?
Muốn nói chính xác về “nhà kinh tế” này rất khó, bởi ông ta cũng giống như đa số thương gia người Hoa trên đất Việt, sống rất bí ẩn, mà hoạt động thương trường lại càng kín đáo, kỳ bí hơn. Nếu phải kể về một vụ việc điển hình, thì có lẽ nên nói đến “cơn sốt chim cút” ở Sài Gòn vào đầu thập niên 70.
Đầu tiên có nguồn tin: chim cút đẻ ra vàng (!). Tất nhiên là nhiều người đã cười mũi vào loại tin tức đó. Nhưng bỗng dưng nó trở thành sự thật, khi có những kẻ thập thò đi khắp ngõ hẻm rỉ tai và đề nghị mua ngay những cặp chim cút của ai đó đang đẻ trứng. Rồi một đồn mười, mười đồn trăm, cứ thế thị trường chim cút tăng lên vùn vụt. Và nó không dừng lại ở đó. Từng phút, từng giờ, ở đầu này, đầu nọ của thành phố Sài Gòn, đi đâu người ta cũng bàn tán chỉ môt đề tài: chim cút. Ban đầu cút đẻ được giá, sau đến cút đực, cút con, ngay cả trứng cút cũng leo giá tận trời. Phải, đó là một cơn “đại hồng thủy” về cút xảy ra ở Sài Gòn mà có thể nói, là lần đầu tiên xảy ra trên thế giới.

Tin tức thuộc loại truyền miệng, tin vịt, thì loan đi nhanh hơn là tin qua hệ thống viễn thông. Những mẩu chuyện như “ông A nhờ nuôi được năm cặp chim cút đẻ mà trúng lớn, mua được căn nhà lầu bốn tầng” đã làm cho thiên hạ cứ sốt vó lên, bỏ cả công ăn việc làm, đổ xô chạy đi tìm mua chim cút. Có một vị nhà giàu đã dốc hết tiền của ra, mua cả ngàn con chim “thần” với giấc mộng sẽ làm trùm, kết quả là chỉ sau hai tuần, một ngàn con chim cút mua bằng một ngàn cây vàng, chỉ còn trơ lại... một ngàn con chim cút rô-ti!

Thì ra, chuyện “con chim cút đẻ ra vàng” chỉ là một trò bịp của bọn xỏ lá nào đó, chúng tung ra thủ đoạn để tự những người Sài Gòn tranh giành nhau, tự đẩy nhau vào thế phá sản. Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, cơn sốt chim cút đã làm cho hàng ngàn người thất nghiệp, hàng vạn người điêu đứng, và làm cho hoạt động kinh tế ở một số đô thị miền Nam lúc đó bị chấn động, dĩ nhiên là trong một số lĩnh vực đủ cho ai đó thực hiện những ý đồ thâm độc. “Ai đó” chính là Lý Long Thân, một trùm tư bản vốn đã từ lâu khống chế nhiều hoạt động thương nghiệp của Chợ Lớn.

Nhưng tại sao Lý Long Thân lại tung ra độc chiêu đó? Đơn giản vì chỉ có biến loạn thị trường thì “đòn” tiếp theo, địch thủ mới không đỡ được, đó là sự tăng giá sắt, thép, phân bón và cả lương thực, những thứ này vốn nằm trong vòng khống chế của nhà họ Lý và một số trùm khác. Chỉ cần một cú như “dịch chim cút” thôi, nền kinh tế dưới chế độ Sài Gòn đã nằm trong vòng “cương tỏa” của họ. Bởi vậy, như chính Bộ trưởng Kinh tế của chế độ Sài Gòn vào năm 1973 đã than thở: “Mọi chủ trương, mọi sắc luật của Chính phủ, chỉ cần một cơn ‘sốt lên’ của Chợ Lớn là bốc thành khói”.
Lý Long Thân là một tỷ phú mà tài sản không thể nào thống kê nổi. Nghe nói, ông ta có chân trong một tập đoàn tư bản của châu Á, chứ không riêng ở Sài Gòn. Tiền của, tài sản riêng của ông ta được gửi ở nhiều ngân hàng trên thế giới, để nếu cần, sẽ rút êm. Mà quả vậy, khi Sài Gòn được giải phóng năm 1975, Lý Long Thân biến mất dạng.

Trùm tài phiệt đỏ đen Sáu Ngọ

Trước khi Sài Gòn nổi lên một sòng bạc thuộc loại lớn nhất nhì Á châu, được gọi là Grand Monde (Đại Thế Giới), thì dân ở đây đã biết tới một tay trùm và hệ thống cờ bạc không bảng hiệu của ông ta, đó là Sáu Ngọ. Có người nói ông ta là Lê văn Ngọ, có người bảo là Nguyễn văn Ngọ, trong khi chính đương sự thì lại thích được gọi bằng cái tên Tây P.Ngọ, Sobnng, để dễ gọi, người ta thường gọi nôm na là Sáu Ngọ, hoặc thầy Sáu.
Sáu Ngọ là ai mà nhiều người biết đến thế? Ông ta không phải là nhà chính trị, không phải Việt gian, cũng không phải là tay mại bản kiểu chú Hỏa, mà chỉ là một “trùm cờ bạc”!

Ở Sài Gòn thời ấy, người ta thường có câu cửa miệng: “Cờ bạc mà được như Sáu Ngọ thì hãy nên cờ bạc!”. Như thế đủ thấy “thầy Sáu” không phải là tự xưng, mà do chính bàn dân thiên hạ tặng cho ông, chỉ vì họ sánh Sáu Ngọ ngang hàng với nhiều loại thầy chú khác rất có máu mặt ở Sài Gòn. Phải nói rằng, dù chỉ là tay trùm cờ bạc, nhưng Sáu Ngọ đã được sự nể nang của hầu hết mọi người (tất nhiên mỗi người một kiểu nể), từ thường dân cho đến các thầy chú thứ thiệt! Bởi một lý do đơn giản, Sáu Ngọ nhờ cờ bạc mà thành cơ nghiệp. Và cũng từ cờ bạc ông ta đã, một cách nào đó, từng làm những cuộc đối đầu, gần như là sự thách thức với chính quyền Pháp ở Sài Gòn lúc ấy!

Sau thập niên 20, ở Sài Gòn còn lắm nhiễu nhương, người dân còn nhiều cơ cực, nên một trong những thú vui của họ là mê đỏ đen. Họ đánh bạc vừa mong đổi đời, cũng vừa thỏa tính ngông cuồng, do đó họ rất khoái có những tay “hảo hán” theo kiểu Sáu Ngọ.

Thuở ấy, người dân Sài Gòn dù là dân giàu, mấy ai lên xe xuống ngựa được như Sáu Ngọ. Ông ta có đến bốn chiếc ô-tô riêng, mà chiếc nào cũng thuộc loại đắt tiền, lộng lẫy. Cứ sáng sáng, “thầy Sáu” diện đồ láng coóng, đầu đội nón nỉ, tay cầm ba-toong, bảo tài xế đưa đi một vòng Sài Gòn, ghé lại các nhà hàng loại xịn như La Pagode, Brodard, hay Continental, ngồi nhâm nhi cô-nhắc, mạc-ten, phì phà thuốc lá như một quan thuộc địa thứ thiệt!

Sáu Ngọ khởi đầu sự nghiệp cũng bằng hai bàn tay trắng như những tay giang hồ hảo hán khác, nhưng đặc biệt hơn là ở chỗ ông ta biết mượn thời thế để phất lên. Ban đầu không nhiều tiền thì làm cò con, tổ chức những sòng bài rải rác ở các điểm khác nhau, trốn xâu, lậu thuế... Dần dần có tiền tích trữ khá, Sáu Ngọ bung ra làm ăn táo bạo. Ông ta nắm được cái “bệnh” chung của hầu hết nhân viên công lực thời đó là khoái ăn của đút, cho nên hễ tổ chức nơi nào thì y như rằng làng lính nơi đó đều bị thầy Sáu mua đứt. Mua bằng cách nào, đó là một nghệ thuật riêng. Đầu tiên, thầy điều tra, biết được đối thủ của mình thuộc loại nào, thích ăn chơi như thế nào, đã có “phòng nhì, phòng ba” chưa... Tùy theo tình trạng của mỗi người, các sách lược sẽ được áp dụng. Với cách đó, ít khi Sáu Ngọ thất bại, thậm chí với các quan chức người Pháp. Bởi vậy, chỉ sau một năm “kinh doanh”, Sáu Ngọ đã nghiễm nhiên trở thành một bộ mặt bự trong làng. Vào lúc xảy ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, cũng là lúc Sáu Ngọ lên ngôi “vua”, đã tóm thâu hầu như trọn các sòng bài lớn nhỏ ở khắp vùng Sài Gòn, Chợ Lớn.

Danh tiếng lẫy lừng như thế ắt có kẻ thù. Mà kẻ thù dữ dằn nhất của lão ta lại là người Pháp, tay biện lý Lafrique vốn thù ghét đỏ đen, nay lại nghe những chuyện thêu dệt về Sáu Ngọ, nên có ý chơi cho anh chàng A-na-mit này một trận lấy oai! Vừa nhậm chức chưa được bao lâu, chuyện đầu tiên Lafrique hành động là cuộc đột kích vào các sòng bạc của Sáu Ngọ. Lão chắc mẩm phen đó sẽ tận diệt cái gai mà bao nhiêu người trước không nhổ được. Nhưng... mọi việc không như lão nghĩ. Chẳng hiểu sao tin báo rất đáng tin cậy mà Lafrique nắm được thì tất cả những địa điểm làm ăn của Sáu Ngọ đều đang hoạt động, vậy mà khi đột kích vào, hầu như nơi nào cũng trống không? Như thế là sao? Không lẽ bọn Sáu Ngọ biết độn thổ, hay phép tàng hình? Hay là...

Điều hoài nghi sau cùng của tay biện lý người Pháp đã đúng. Bởi vì, khi kiểm tra lại, Lafrique biết được rằng trong số nhân viên công lực, đã có người là “tay trong” của Sáu Ngọ. Mà không chỉ một vài người, họ rất đông. Có nghĩa là, Sáu Ngọ đã mua được những tai mắt bên trong các lực lượng an ninh, những người này sẽ báo cho ông ta mọi tin tức mỗi khi có các cuộc hành quân. Bởi vậy, biện lý Lafrique luôn thất bại. Không chịu bó tay, Lafrique thề sẽ diệt cho bằng được kẻ “tử thù”, lão còn tuyên bố là nếu không thắng Sáu Ngọ, lão sẽ từ chức. Vậy mà cuối cùng lời thề đó đã không thực hiện, bởi vì Sáu Ngọ như những cánh tay ma, bị chặt cái này lập tức mọc ra cái khác.

Thực ra, Sáu Ngọ còn có những chiêu rất ngoạn mục khác mà nhà cầm quyền Pháp không ngờ tới được. Đó là sự ăn chia sòng phẳng cho mọi tay em. Hễ đàn em nào trung thành, làm được việc, thì sẽ được hưởng lợi xứng đáng, thậm chí còn được cứu sinh mạng khi lâm nguy. Từ đó Sáu Ngọ nhận được sự đền ơn đáp nghĩa tận tình.

Lúc ở trên đỉnh cao của sự nghiệp, Sáu Ngọ sở hữu một lúc trên mười ngôi biệt thự ở khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, ngoài ra còn có các cơ ngơi khác ở nhiều nơi, trị giá tài sản rất lớn. Có tiền là có tất cả, Sáu Ngọ thậm chí còn mua được quốc tịch Pháp, được ưu tiên, miễn trừ một số mặt, và nhờ thế, ông ta đã giàu càng giàu thêm. Mãi đến khi sắp nổ ra cuộc thế chiến lần thứ hai, ảnh hưởng tới các cuộc làm ăn của Sáu Ngọ vẫn còn... Lúc người Pháp cho phép thành lập Đại Thế Giới, thì những hoạt động của Sáu Ngọ mới tàn lụi dần. Công cuộc kinh doanh đỏ đen của Sài Gòn bước sang một kỷ nguyên mới...

Tứ đại phú gia đất Sài Gòn

Nhất Sĩ

Ai từng sống ở Sài Gòn trước đây, đều đã nghe câu nói: Nhất Sĩ, nhị Phương, tam Xường, tứ Định. Đó là bốn nhà giàu bậc nhất Sài Gòn, đồng thời cũng là tứ đại phú gia của cả Nam Kỳ lục tỉnh (Nam Bộ). Ngày nay, ít ai còn biết tường tận về ý nghĩa của sự xếp hạng trên, do đó, chúng tôi xin ghi lại, dựa theo những giai thoại dân gian, cũng như theo một số sách báo, tư liệu còn lưu truyền...

Sĩ là tên hiệu của Lê Phát Đạt, sinh quán ở Cầu Kho, thuộc địa phận Sài Gòn. Tên thuở thiếu thời của Đạt là Sĩ, mãi khi lớn lên, do có sự trùng hợp tên với một ông thầy dòng (Sĩ là một tín đồ Thiên Chúa giáo ngoan đạo, được theo học đạo ở nước ngoài) nên đã tự nguyện đổi tên thành Đạt, nhưng mọi người vẫn quen gọi là Sĩ. Khi trưởng thành, Sĩ về nước làm công chức cho chính quyền bảo hộ Pháp tại Sài Gòn, rồi ở tỉnh Tân An (Long An ngày nay). Là một công chức mẫn cán, lại giỏi tiếng Pháp, nên Sĩ được trọng dụng, leo từ trật thông ngôn lên tham biện.

Thuở mới ra làm công chức, Sĩ chưa phải là nhà giàu. Mãi đến khi Sĩ được thuyên chuyển từ tỉnh Tân An trở lại Sài Gòn thì mới là giai đoạn phất lên của một nhân vật mà sau này đứng đầu bộ tứ “đại phú” đất phương Nam. Nguyên là, khi ấy đất đai ở vùng Sài Gòn, kể cả vùng nội thành còn hoang sơ, dân cư tản mát. Người Pháp kêu gọi ai có tiền, có sức thì khai khẩn, xây dựng nhà cửa, sẽ được nhà nước khuyến khích và dành cho nhiều ưu đãi. Sĩ (lúc ấy đã được phong chức huyện hàm, gọi là Huyện Sĩ) được dành cho đặc ân muốn mua bao nhiêu đất đai, ruộng vườn cũng được, với giá rẻ hơn người khác. Ban đầu, nghe nói Sĩ từ chối, nhưng các viên chức Pháp cố nài ép, đốc thúc nên sau cùng Sĩ phải nhận. Sĩ mua một số ruộng đất khá lớn ở tỉnh Tân An và một số đất đai ở Sài Gòn. Không ngờ sau đó ít lâu, khi cư dân bắt đầu đông đúc, giá đất ở những vùng mà Sĩ đã mua vọt lên cao không thể ngờ! Sĩ bán đất ruộng, chừa lại đất ở Sài Gòn, thu về những món tiền kếch xù. Rồi cứ thế, Sĩ trở thành một đại điền chủ, đại phú hộ, vượt xa các nhà giàu đương thời.
Phú quý sinh lễ nghĩa, Sĩ quá thừa tiền bạc, nên hào phóng xây tặng cho họ đạo Chợ Đũi một ngôi nhà thờ được người dân Sài Gòn gọi là nhà thờ Huyện Sĩ (nhà thờ này ngày nay vẫn còn, tọa lạc tại góc đường Nguyễn Trãi - Tôn Thất Tùng).

Nhị Phương

Phương là tên của Đỗ Hữu Phương, một hàm Tổng đốc thời Pháp bảo hộ đất Nam Kỳ. Nhắc đến Tổng đốc Phương, dân Sài Gòn ai cũng biết đó là một tay Việt gian cỡ lớn, có nhiều nợ máu với nhân dân. Nhưng về mặt tài sản, thì Phương là một đại phú, đứng thứ nhì, chỉ sau Huyện Sĩ.
Về nguồn gốc tài sản kếch xù của Đỗ Hữu Phương, có người nói là do vợ Phương, thường được gọi là Trần phu nhân, giỏi tài kinh doanh nên mới có được. Nhưng theo nhiều người “rành chuyện Sài Gòn” thì chính nhờ Nhà nước bảo hộ Pháp dành cho Phương quá nhiều đặc ân, nên tiền đẻ ra tiền, sản nghiệp đã lớn lại càng lớn, vợ Phương đúng ra chỉ là người khéo giữ của.

Những giai thoại quanh nhị Phương đượm tính tiếu lâm, ngụ ý mỉa mai một con người phản dân hại nước. Trong số các giai thoại đó có câu chuyện sau đây, xin thuật lại, dựa theo tư liệu của cố học giả Vương Hồng Sển: “Tuy là người phục vụ đắc lực cho chính quyền Pháp, nhưng Tổng đốc Phương lại chỉ có vốn liếng Pháp thuộc “ba xí ba tú”. Do đó, vào một ngày kia, nhân dịp tết Tây, quan Tổng đốc nhà ta bèn nịnh quan Tây bằng một món quà béo bổ: một con dê quay vàng ngậy! Biếu quà ăn mừng năm mới thì phải giới thiệu chủng loại con vật đã được quay vàng. Khổ nỗi, do trình độ tiếng Tây của Tổng đốc nhà ta quá khiêm nhường, nên thay vì phải nói là bouc hay chèvre để chỉ con dê, ông ta đã làm một màn pác-lê bồi như thế này: Lũy mêm xối xiên, dà na bắp, dà na cót (lui même chose chien, il y a barbe, il y a corne: hắn giống như con chó, mà có râu, có sừng!). Dù cho quan Tây có hiểu được sự mô tả của kẻ cúc cung tận tụy với mình, nhưng phải cố lắm mới kìm được một tràng cười vỡ bụng”.

Tam Xường

Nhân vật đứng hàng thứ ba, gọi là tam Xường, tức Bá hộ Xường, tên thật là Lý Tường Quan, gốc người Minh Hương (người Hoa ủng hộ Minh triều, lánh nạn Mãn Thanh sang Việt Nam). Ông là một trong số ít người sớm hòa nhập vào nền văn hóa Việt Nam, theo đạo Thiên Chúa và được học trường Collège des Interprètes (trường thông ngôn của Pháp), ra làm thông ngôn cho Chính phủ bảo hộ. Với trình độ tiếng Pháp giỏi, rành tiếng Việt, lại được trọng dụng, con đường hoạn lộ của ông tràn đầy tương lai. Nhưng bất ngờ vào năm vừa đầy 30 tuổi, Lý Tường Quan tự Xường đã bỏ việc, ra ngoài buôn bán.
Ban đầu, ai cũng cho rằng ông Xường sai lầm, bởi thời buổi đó muốn nằm mơ cũng khó lòng được địa vị như ông. Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, mọi dị nghị về ông đều tỏ ra thiếu chính xác. Bởi nghề kinh doanh lương thực và dịch vụ của ông tỏ ra đắc địa vào thời Sài Gòn vừa mới phát triển. Độc quyền cung cấp thịt cá, một công việc bị nhiều người xem thường, vậy mà chỉ trong vòng chưa đầy năm năm, Lý Tường Quan đã được mọi người gọi là bá hộ Xường (bá hộ là từ chỉ những nhà giàu lớn). Ông có sản nghiệp lớn, nhà đất nhiều. Dinh thự vào thời đó (cách nay trên một thế kỷ) tọa lạc đường Gaudot (đường Hải Thượng Lãn Ông ngày nay) được nhiều người nể vì.
Chỉ tiếc một điều là, khi ông chết rồi, số sản nghiệp còn lại đã bị con cháu tranh chấp, dẫn đến những vụ kiện tụng kéo dài nhiều thế hệ sau, đến nỗi hầu như xóa sach dấu vết vào những năm giữa thế kỷ XX này.

Tứ Định

Người đứng hàng thứ tư, tức tứ Định, là Trần Hữu Định, cũng được gọi là bá hộ Định. Là nhà giàu do tự bản thân gây dựng nên cơ đồ, không tham gia hàng ngũ công bộc của chính quyền bảo hộ thời đó. Bá hộ Định vốn là con một điền chủ gốc Chợ Lớn (thuở sinh thời, ông có ngôi nhà đồ sộ ở gần cầu Pialikao, gần chợ Kim Biên và Bình Tây ngày nay). Phải nói rằng, thời buổi ấy mà ông và bá hộ Xường được đứng trong hàng ngủ “tứ đại phú” quả là điều hi hữu. Bởi nếu không quyền thế, thì chỉ làm giàu thường thường là bậc trung thôi, khó leo lên tột đỉnh như Huyện Sĩ hay Tổng đốc Phương được. Vậy mà hai ông Xường và Định đã làm được và theo nhiều người, họ không hề thua kém bao nhiêu so với hai cự phú hàng đầu.

Theo lời kể lại của những người am tường thời ấy, sở dĩ Bá hộ Định làm giàu nhanh là do đã sớm đứng ra làm một dịch vụ mà thời sau ông, chú Hỏa (Hui Bon Hoa) từng làm, đó là nghề mở tiệm cầm đồ (Mont de pieté). Nghề này đặc biệt dễ làm giàu, bởi nhiều người dân Sài Gòn vốn dĩ ăn tiêu rất phóng khoáng, có đồng nào “xào” đồng nấy, hết tiền thì có cái gì trong nhà đưa đi cầm cố, sau đó lại sắm món khác, và cứ thế... Bởi vậy, dịch vụ cầm đồ tỏ ra đắc thời. Ông Định lại biết bành trướng nghề nghiệp, ông có nhiều hiệu cầm đồ ở khắp các khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định. Khi nhiều người nhận ra sự “trúng quả lớn” của ông qua nghề đó, thì ông đã nghiễm nhiên trở thành bá hộ, vượt xa mọi đối thủ có ý cạnh tranh. Của đẻ ra của, tiểu phú hộ đã trở thành đại phú chưa đầy mười năm. Đến khi ông mất, các con cháu ông không còn mặn mà ngó ngàng “Mont de pieté” nữa, lúc đó những thương nhân người Pháp và sau ít lâu, Hui Bon Hoa phất lên, mới tiếp nối con đường của ông và thành danh “chú Hỏa”.

Những con cháu của bá hộ Định đời sau, tuy không bằng được ông cha nhưng nghe nói cũng là nhưng đại phú, sống âm thầm hơn ở đất Sài Gòn.
Ngày nay, khi Sài Gòn đang bước vào thời điểm thế kỷ XXI, hầu như mọi người ở đất này đã quên bốn con người vừa kể. Còn chăng là còn hai địa danh nhà thờ Huyện Sĩ và đường Tổng đốc Phương (nay là đường Châu văn Liêm). Việc nhắc đến họ cũng là sự phác họa lại vài nét chấm phá của một giai đoạn lịch sử Sài Gòn buổi sơ khai.

Hai “đại gia” người Hoa ở Sài Gòn

Wang Tai

Nổi về những nhân vật Hoa kiều làm giàu ở Sài Gòn, người ta thường chỉ nhắc đến tên Hui Bon Hoa (chú Hỏa), chú Hỷ và Thông Hiệp Quách Đàm (chủ chợ Bình Tây), được xem như tam đại phú gia tiêu biểu, gắn liền với sự phát triển của Sài Gòn vài thế kỷ trước. Song, Sài Gòn có hai người nữa mà tên tuổi của họ cũng thuộc hàng “đại gia” trong hàng cự phú Hoa kiều, mà vài lý do, đã ít được đề cập. Người thứ nhất là Wang Tai, mà cuộc đời gắn liền với ngành hàng hải và bến cảng của Sài Gòn năm xưa.

Ít ai ở Sài Gòn biết được tên của ông ta theo âm Việt ngữ, ai cũng chỉ quen đọc theo âm của người Pháp, gọi là Wang Tai. Tài liệu liên quan đến ông này còn lưu lại rất ít, chỉ thấy ghi trong quyển Ký ức lịch sử của ông Trương Vĩnh Ký mấy dòng như sau: “Ở khoảng giữa của Sở Thương Chánh và nhà của ông Wang Tai là con kênh nhỏ” (sau đó kênh này bị lấp đi, trở thành đại lộ de la Some, tức Hàm Nghi ngày nay). Trong sách Sài Gòn năm xưa của cố học giả Vương Hồng Sển cũng chỉ ghi vắn tắt: “Wang Tai có nhà ở Sở Thương Chánh và ông là một thương gia tên tuổi nhất nhì buổi giao thời”.

Ai cư ngụ lâu năm ở Sài Gòn đều biết Sở Thương Chánh nói trên chính là dãy nhà mà ngày nay là trụ sở Hải quan TP. Hồ Chí Minh (nằm ở bến Bạch Đằng và góc đại lộ Hàm Nghi). Như vậy, ngôi nhà của ông Wang Tai nói trong sách của Trương Vĩnh Ký có thể nằm ở góc bên này của ngả ba Hàm Nghi - bến Bạch Đằng (trước 1955, ngôi nhà này vẫn còn, xây dựng giống như nhà của Sở Thương Chánh, hiện nay đã phá bỏ, đang xây khách sạn cao tầng).

Không ai biết đích xác Wang Tai sống ở Sài Gòn vào năm nào. Chỉ thấy ghi trong vài cuốn sách rằng ông là nhân vật làm giàu lớn vào “buổi giao thời”. Như vậy có thể đoán “buổi giao thời” ở đây là thời kỳ người Pháp mới chiếm Sài Gòn (1859). Cái tên Wang Tai gợi cho người đời sau nhớ đến tên của một nhân vật Hoa kiều khác, đó là Wang Tang (Huỳnh Tấn), một trong tứ trụ Hoa Duệ cầm đầu nhóm trung thần của nhà Minh chạy trốn giặc Mãn Thanh sang Việt Nam và được các chúa Nguyễn cho cư ngụ, lập nghiệp ở Cù lao Phố và Mỹ Tho. Phải chăng Wang Tai có liên hệ họ hàng với Huỳnh Tấn?
Theo một tư liệu qua thu thập được từ một số vị lão niên từng sống lâu năm ở khu vực chợ Cũ và quận 4, thì ông Wang Tai đúng là một phú thương sống và làm giàu trong khoảng thời gian từ năm 1860 - 1890, gắn liền với các hoạt động của thương cảng.

Theo các sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và Ký ức lịch sử của Trương Vĩnh Ký ghi lại thì khi người Pháp phá thành Sài Gòn, họ đã thiêu hủy rất nhiều súng, đạn, quân dụng, đặc biệt là lúa gạo. Số lúa gạo ấy đủ sức nuôi từ sáu đến tám ngàn nhân khẩu trong vòng một năm. Trước khi lúa gạo bị đốt, có một nhóm phú thương Hoa kiều đứng ra xin mua, thay vì thiêu hủy. Họ đồng ý trả một giá rất cao, nhưng Đề đốc Rigault de Genouilly không đồng ý, e sợ rằng không khéo số lương thực ấy sẽ lọt vào tay quân Việt Nam.

“Các thương nhân Hoa kiều” kể trên, theo lời kể của dân cố cựu ở Sài Gòn, có thể do Wang Tai đứng đầu. Bởi vì, vào thời ấy, nói về khả năng kinh tế tài chính thì Wang Tai nổi trội hơn cả. Ông này vốn kinh doanh lúa gạo ngay từ khi người Pháp chưa tới: kinh doanh xuất khẩu đầu tiên ở các tỉnh phía Nam. Có thể Wang Tai đã muốn lợi dụng buổi nhiễu nhương ban đầu, khi quân Pháp còn xa lạ với thành phố Sài Gòn để đầu cơ, trục lợi. Nhưng con cáo già Rigault de Genouilly đã không nhường bước.

Sau khi người Pháp tổ chức bộ máy cai trị, các nhân vật Hoa kiều cũng chính là những nhân tố quan trọng trong cuộc đẩy mạnh thương trường ở vùng Sài Gòn - Gia Định. Điều này cũng dễ hiểu, bởi từ bao đời, người Hoa ít chịu nhường bước ai trong thương mại. Wang Tai đã phất lên từ đó. Vùng thương cảng Sài Gòn lúc đầu chưa có vóc dáng như sau này, mà chỉ là một bến cảng thô sơ dành cho các ghe thuyền cập bến. Các thương thuyền chủ yếu từ Hồng Kông, Singapore và một số nước châu Âu tới, nhập hàng tiêu dùng như vải sợi, rượu, thuốc... và xuất đi chủ yếu lúa, gạo và vài loại nông phẩm khác. Các loại hải sản và trà, cà phê mãi đến đầu thế kỷ XX mới bắt đầu xuất khẩu. Trước khi Quách Đàm đứng ra làm trùm ngành xuất khẩu lương thực, thì Wang Tai là người mở đường, coi như nhân vật tiên phong, mang danh nghĩa tập đoàn thương nhân Việt Nam. Cùng thời với Wang Tai còn có Tấn Phát, cũng là một thương nhân có cỡ, nhưng không bằng Wang Tai. Kể cả những thương nhân người Pháp như Dunlop, Sémare... cũng nể mặt, lùi một chút...
Với lợi thế buổi ban đầu như thế, nhưng tiếc rằng chỉ đến đầu thế kỷ XX, do sự cạnh tranh từ nhiều đấu thủ mới hùng mạnh, thế lực hơn, nên vai trò của Wang Tai lu mờ dần, để rồi khi Thông Hiệp Quách Đàm nổi lên từ thập niên 20 thì Wang Tai chỉ còn là dĩ vãng.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103056
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49562 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Hồi Ký, Tuỳ Bút: Hảo hán Sài Gòn Dân chơi Bến Nghé

Postby DaMinhChau » April 17th, 2017, 1:00 pm




Phần III
Các mỹ nhân làm điên đảo các đại phú
Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn.


- Cuộc thi tuyển hoa hậu đầu tiên tại Sài Gòn.
- Người đẹp của “Hòn ngọc Viễn Đông”.

Tứ đại mỹ nhân Sài Gòn

Sài Gòn xưa đã có “tứ đại phú” (nhất Sĩ, nhị Phương, tam Xường, tứ Định), phải chăng cũng có “tứ mỹ nhân”? Quả là Sài Gòn từng có một bộ tứ người đẹp có tiếng như vậy.


Cô Ba: “Hoa khôi mọi thời đại”

Ai đã từng sống ở Sài Gòn trước thập niên 60 đều không thể không nghe tiếng cô Ba, người đẹp tiêu biểu của đất phương Nam. Cô chính là người có chân dung được in trên bao xà phòng hiệu Cô Ba, của hãng Trương văn Bền. Nhưng cô Ba là ai mà xinh đẹp và được ngưỡng mộ đến như thế? Thật ra, kể cả những người nay đã ở tuổi 70-80, từng sống ở Sài Gòn, cũng không thể biết mặt thật của người đẹp này. Vì cô là một hoa khôi được phong chức danh vào thập niên 90 của thế kỷ XIX!

Không ai biết được tên tuổi thật của người đẹp, chỉ được truyền tụng bằng hai từ “Cô Ba” đặc trưng Nam Bộ. Nhưng chắc chắn một điều, cô là người Việt Nam đầu tiên được bầu là hoa hậu, được chính thức ghi danh trên báo chí Pháp ngữ ở Sài Gòn lúc ấy (thời điểm cuối thế kỷ XIX, Sài Gòn chỉ có vài tờ báo Việt, nhưng những tờ báo Pháp ngữ là được phổ biến rộng rãi, trong số này có tờ Le Courrier Saigonnais của Paul Blanchy và tờ Le Mekong của nhóm thân hữu ủng hộ toàn quyền Paul Doumer) và được người Pháp vô cùng ngưỡng vọng, bốc người đẹp lên tận mây xanh! Một nhà báo đã viết trên tờ Le Courrier Saigonnais rằng, nếu cô Ba chịu đi thi hoa hậu thế giới thì chắc chắn sẽ có thứ hạng cao! Các tay phong lưu người Pháp cũng đánh hơi được điều đó, chính thức mời cô Ba ký hợp đồng để bay sang Pháp, giới thiệu với mọi người bên kinh đô ánh sáng, rồi sau đó sẽ tạo điều kiện cho cô Ba tham dự kỳ thi hoa hậu thế giới sắp được tổ chức! Nghe nói gia đình cô Ba đã không đồng ý, có lẽ vì sợ mất con vào tay mấy lão Tây háo sắc. Mà bản thân cô Ba cũng phản đối, bởi cô cho rằng mình dự thi “hoa hậu” là để cho vui, để mọi người ngoại quốc biết là người Việt Nam cũng không thua kém ai, còn chuyện đi đua tài với năm châu, thì cô chưa nghĩ tới. Cô cũng cho rằng mỗi dân tộc có cái đẹp khác nhau, do đó đem ra so tài thì sẽ không chuẩn xác. Thật là một ý nghĩ khá tiến bộ! Về thân thế cô Ba, người ta chỉ được biết vắn tắt: cô là con gái thứ của một viên quan nhỏ người Việt giúp việc cho chính quyền bảo hộ, được gọi là thầy Thông Chánh. Cô là người con gái đẹp không ai bì kịp, như lời mô tả của cố học giả Vương Hồng Sển trong quyển sách của ông: “Đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực cao su nhơn tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi nhà nước in hình vào con tem Nhà Thơ Dây Thép (Bưu điện) và một hiệu buôn xà bông xin phép họa hình làm mẫu rao hàng: xà bông cô Ba” (trích Saigon năm xưa)...

Cô Ba Trà

Không biết có phải ngẫu nhiên hay chăng, người đẹp thứ hai trong “tứ đại mỹ nhân” lại cũng thứ ba, gọi là cô Ba Trà. Vào khoảng 1923 - 1935, hầu hết dân chơi Sài Gòn đều nghe danh, biết mặt một người đẹp bậc nhất thời ấy, đó là cô Ba Trà. Thuở xưa, dân Sài Gòn thích gọi ai đó bằng thứ tên tộc, chứ ít khi gọi “Thu Hồng, Diễm Châu” như sau này. Danh xưng cô Ba Trà hầu như nằm lòng các vương tôn công tử thời đó, mà điển hình nhất là các chàng công tử Bạc Liêu, Mỹ Tho (Hắc công tử, Bạch Công tử). Ngoài ra, những người đeo bám theo sau cô Ba Trà còn có các quan chức Pháp, các tay quan chức người Việt nhiều tiền của và thế lực, trong số này nổi trội trên hết có Còm-mi Kính, một tay chơi có cỡ, từng mê và được cô Ba Trà mê lại. Họ thường đi đôi khắp những nơi ăn chơi, những chốn phồn hoa đô hội.

Nói về sắc đẹp của cô Ba Trà, một tờ báo thời ấy đã mô ta như sau: “Mỗi cái nheo mắt của cô Ba thì hầu như tay chơi nào cũng cảm thấy tay chân rụng rời, mỗi khi cô cười, thì y như rằng rượu rót tràn, tiền tuồn ra... Người ta đã không tiếc tiền của, kể cả nhà cửa, ruộng vườn và cả sinh mạng của mình nữa, để chỉ được kề cận bên người đẹp, nhìn người đẹp nheo mắt, nuốt lấy nụ cười như hoa nở của nàng...”

Năm 1930, lúc kinh tế thế giới đang bị khủng hoảng, vậy mà nghe nói chiều nào cô Ba Trà cũng được các vương tôn công tử chở trên xe Delage mui trần, đi dạo phố Catinat, Bonard (Đồng Khởi và Lê Lợi ngày nay) để khoe sắc, khoe hương, để lòe thiên hạ. Những người cao tuổi từng sống ở Sài Gòn thời ấy kể lại rằng, mỗi lần xe họ lượn qua như vậy, thì ở phía sau có vài chục chiếc xe kéo (một dạng xích lô do người kéo phía trước, thay vì ngồi đạp như bây giờ) chạy theo như một cuộc diễu hành! Gặp bữa nào cô Ba Trà đi với Hắc hay Bạch công tử thì coi như cánh kéo xe “ủng hộ viên” được trúng mánh, các công tử sẽ vứt xuống cho mỗi người vài cắc bạc (một cắc bạc thời ấy cũng đủ một bữa chợ).

Cô Tư Nhị

Cùng thời với cô Ba Trà còn có cô Tư Nhị, Sáu Hương, Hai Thời... Nếu so về nhan sắc thì khó nói ai hơn ai. Nếu cô Ba Trà quá nổi tiếng trong giới vương tôn, công tử, thì trái lại, cô Tư Nhị lại nổi tiếng hơn trong giới văn nhân, nghệ sĩ. Cô xuất thân “trường Đầm”, có bằng diplôme và khi ra đời đã được những nhân vật có tầm cỡ trong giới báo chí thuở ấy săn đón và mời mọc tập tành viết báo. Tuy cô viết không giỏi, nhưng cũng được kể là người “biết viết lách”, nên rất dễ được nể nang, mời mọc hết tiệc này đến lễ lộc nọ. Nghe nói cô có dòng họ với Lê Phát Thanh, một triệu phú thời đầu thế kỷ XX tại Sài Gòn, thừa hưởng cái gien nhan sắc của nhà họ Lê này, nên nhan sắc của cô được ví với cô con gái rượu Phát Thanh thời trước. Lê Phát Thanh làm giàu lớn ở Sài Gòn vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Những năm đó, toàn quyền Paul Doumer đã làm cho sự nghiệp Thanh thêm vững. Qua giới thiệu, mai mối của Doumer, Lê Phát Thanh đã gả cô con gái rượu cực kỳ xinh đẹp cho một nhà báo Pháp tên là Julien Delpit. Về sau, do tiêu pha phung phí nên Delpit phá tán gần hết tiền bạc của bố vợ, đến nỗi vợ chồng phải dắt díu nhau trốn qua Lào để sinh cơ lập nghiệp... Cô Tư Nhị nhờ quen biết nhiều văn nhân, chính trị gia, nên được họ đưa lên một vị trí đặc biệt hơn cô Ba Trà. Người ta đồn rằng Tư Nhị có thời đã là nhân tình của viên Toàn quyền Pháp.
Về sau (khoảng năm 1940) nghe nói cô này chết trong nghèo túng ở một xóm nhỏ thuộc quận 5.

Cô Sáu Hương

Chỉ sau Ba Trà, Tư Nhị vài năm thì Sáu Hương nổi lên. Cô này được dân phong lưu thời đó tả lại: “Đẹp như Tây Thi! Cô có nước da trắng ngần, đôi mắt lá liễu sáng ngời, bờ môi mọng lúc nào cũng ươn ướt và luôn mỉm cười...”. Sáu Hương cũng là người có học, xuất thân trường Áo Tím (Nguyễn thị Minh Khai ngày nay) và có thời được tôn là “hoa khôi trường Áo Tím”. Vào đời, cô may mắn quen biết với một Pháp kiều già, vốn là quản lý cho nhà hàng Continental nổi tiếng, và được giúp đỡ vốn liếng. Có một giai thoại kể lại rằng, lúc mới quen Sáu Hương, quá mê nhan sắc của cô, nên lão Pháp kiều đã mạnh dạn hứa hẹn sẽ nhượng nhà hàng Continental cho cô Sáu!

Thời ấy, nhà hàng Continental là một trong hai nhà hàng khách sạn bậc nhất của Sài Gòn (cái kia là Majestic), nên trước việc lão Tây buông ra lời hứa như thế, chẳng ít người đã cười vào mũi lão ta, cho là nói phét, nhưng lão Tây già đã quả quyết: “Các người không nhớ là ngày trước, khi công tước Duc de Montpensier mới sang Sài Gòn, ông cũng mời bà công tước Comtesse de B, đến ăn và hứa với bà rằng ông sẽ mua tặng bà nhà hàng Continental đó, đã mấy ai nghĩ là sự thật? Vậy mà chỉ một năm sau, ông ta đã làm được chuyện ấy...”

Lời hứa của lão Pháp già chưa được thực hiện, không phải vì lão không có tiền, mà do lão chết đột ngột! Từ đó, cô Sáu Hương chẳng cần đến cái nhà hàng Continental mà cũng giàu và nổi tiếng. Bởi vì cô quá đẹp. Đẹp đến nỗi hầu hết những tay chơi, những triệu phú đều mê say, đeo bám như đỉa chung quanh cô. Họ thi nhau cung phụng cho người đẹp không thiếu một thứ gì, từ nhà lầu, xe hơi, cho đến những trương mục trong ngân hàng. Người ta đồn rằng, trong số những mỹ nhân thời đó, chỉ có Sáu Hương là giàu nhất! Tuy vậy, cô chỉ vang danh khoảng mười năm, rồi sau đó rút vào im lặng... Chừng như cô biết dừng lại đúng lúc, trước khi nhan sắc tàn phai. Có người nói về sau cô Sáu Hương sống sung túc với người thân ở ngôi biệt thự vùng Bà Chiểu...

Cuộc thi tuyển hoa hậu đầu tiên tại Sài Gòn

Trong bài tứ đại mỹ nhân Sài Gòn, chúng tôi có nhắc đến cô Ba (biểu tượng xà bông Cô Ba), mỹ nhân được xem là hoa khôi chính thức đầu tiên của Sài Gòn. Tuy nhiên, cuộc thi tuyển hoa hậu đầu tiên tại Sài Gòn đã ra đời từ năm 1864...
Vào năm 1863, số người Pháp lưu trú tại Sài Gòn chưa tới 600, trong đó nữ chỉ chiếm một phần tư. Tình trạng “thừa nam thiếu nữ” như vậy dễ dẫn đến sự chểnh mang công việc của các Pháp kiều nam. Từ đó, ý định tổ chức các hình thức vui chơi, giải trí cho kiều dân nảy sinh.
Thời điểm ấy, Sài Gòn chỉ có một rạp hát tạm trong ngôi nhà xây bằng gỗ của Thủy sư Đề đốc Bonard tại Place de l’Horloge (quảng trường đồng hồ), nơi này về sau chính là Vương cung thánh đường (nhà thờ Đức Bà ngày nay). Một sĩ quan cấp tá trong lực lượng hải quân Pháp nảy ra sáng kiến: tại sao không tổ chức một cuộc tuyển lựa người đẹp trong giới Pháp kiều tại Sài Gòn? Viên thiếu tá ấy đem ý tưởng của mình trình với cấp trên và đem thỉnh ý Đề đốc Bonard. Thấy lạ, Bonard duyệt ngay. Tuy nhiên, khi phổ biến tin đó trong các cuộc họp mặt cuối tuần, nhiều Pháp kiều không đồng tình vì tổng số nữ Pháp kiều chưa tới 150 người, như vậy tìm đâu ra hoa khôi thật sự? Cuối cùng, “ý tưởng lạ” đó đã phải tạm gác lại. Nhưng viên thiếu tá hải quân vẫn chưa chịu thua. Ông được một người bạn gợi ý tiếp xúc với mấy người Hoa chuyên kinh doanh hàng hải để bàn tiếp kế hoạch tổ chức. Kể từ khi người Pháp đặt chân đến Sài Gòn (1859), trước khi họ tổ chức được các dịch vụ giải trí, chính nhóm người Hoa đã giúp họ rước các vũ công, gái điếm từ Singapore sang để giúp vui.
Vào tháng 12 năm 1864, kế hoạch tổ chức cuộc thi tuyển lựa “hoa khôi Sài Gòn” được chính thức thông qua với một số quy định chính:
- Con gái tuổi từ 18-20.
- Chưa chồng.
- Con của các viên chức làm việc cho nhà nước bảo hộ.
- Thi ba phần trang phục: áo đầm, áo dài Việt Nam và... áo tắm.

Chính cái khoản thứ ba của phần thi trang phục đó đã gây trở ngại lớn. Dư luận lên tiếng phản đối mạnh làm ban tổ chức phải chùn bước. Cuối cùng, một Hoa thương đưa ý kiến: nên mời 20 cô gái Hoa cư ngụ ở Singapore sang làm nòng cốt cho cuộc thi, chấm cho họ đậu rồi công bố là con em của người Minh Hương tại Chợ Lớn. Xem ra cũng tạm ổn nên cuộc thi vẫn được tiến hành. Thời ấy chưa có các phương tiện truyền thông rộng rãi, nên nội dung cuộc thi chỉ được phổ biến trong giới Pháp kiều, Hoa kiều và một ít nơi công cộng trong thành phố. Dân địa phương không mặn mà lắm với cuộc thi quá lạ lẫm này, nên chỉ liếc qua các áp-phích quảng cáo rồi thôi... Đúng ngày Giáng sinh năm 1864, cuộc thi “Hoa khôi Sài Gòn” bắt đầu tại quảng trường Đồng hồ. Tham dự cuộc thi gồm có 20 cô gái Hoa được đưa từ Singapore sang, 10 cô là con em của giới Hoa kiều tại Chợ Lớn. Kết quả: hoa khôi là một cô gái Singapore, á khôi là con của một phú thương Hoa kiều tên W. Venchee. Kết quả thi chẳng có một tiếng vang nào, ngoại trừ tin tức được đăng trên một tờ báo Hoa ngữ tại Singapore. Người Pháp cũng không dám nhắc nhiều tới cuộc thi đó bởi họ sợ sự phê phán của người Sài Gòn. Song họ cũng không thể ngăn được. Một nhóm công chức người Việt Nam làm việc cho Pháp đã “nóng mũi”, bàn với nhau trả đũa bằng cách tổ chức một cuộc thi chọn hoa khôi Sài Gòn thực sự. Trở ngại lớn nhất đối với họ lúc đó là không có quyền và phương tiện để tiến hành cuộc thi.

May sao, một viên phó tham biện người Việt, vốn trước đó có du học bên Pháp, biết rành việc tổ chức thi hoa hậu, lại quen với vài quan chức ở Phủ Toàn quyền, nên đứng ra nhận nhiệm vụ môi giới. Người Pháp cũng muốn xoa dịu dân địa phương nên đã chấp thuận cho tổ chức một cuộc thi tuyển hoa khôi trong giới người Việt. Nhưng trong ban tổ chức đã có đến hơn phân nửa là các quan chức Pháp. Cuộc thi được quảng cáo khá rộng rãi trong các giới sinh sống tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và vài tỉnh lân cận. Có gần 100 cô gái ghi tên dự thi. Trong điều lệ chỉ cho phép trình diễn một loại trang phục là áo dài Việt Nam. Kết quả là cô Ba, con gái của một thầy Thông Chánh, một quan chức người Việt phục vụ trong Chính phủ bảo hộ, đã trở thành hoa khôi. Chính người Pháp cũng phải ngưỡng mộ nhan sắc của tân hoa khôi. Họ xin chụp ảnh để gửi về đăng báo ở Pháp. Họ đề nghị cô Ba chụp ảnh với đồ tắm, nhưng đã bị cô cực lực phản đối. Họ lại chiêu dụ cô, mời cô tham gia cuộc thi hoa hậu toàn khối liên hiệp Pháp. Cô Ba đã không choáng ngợp trước ánh sáng phù hoa nên từ chối tất cả các đề nghị, kể cả những lời mời tham dự tiệc. Việc này đã làm các quan trên phật ý. Nhưng dù sao, người Pháp cũng hiểu rằng hoa khôi Sài Gòn làm như thế là đúng, bởi cô là người phụ nữ Việt Nam thuần túy, không dễ bị ảnh hưởng của văn minh phương tây. Họ phải tôn vinh cô bằng cách cho vẽ chân dung, in lên tem thư, gọi là Mademoiselle Ba (cô Ba).

Vào năm 1868, khi người Pháp khởi công xây dựng nhà hát lớn ở phía trước Bồn Kèn (nhà hát thành phố ngày nay), vài người đã có ý định sẽ tổ chức cuộc thi mới để chọn người kế vị cô Ba. Song, trong lễ khai trương nhà hát vào năm 1900, cuộc thi hoa hậu này vẫn chưa được tổ chức. Khi đó, cô Ba đã trên 30 tuổi, sắc đẹp vẫn mặn mà, được mời làm khách danh dự.

Người Sài Gòn xưa còn truyền khẩu rằng: vào năm 1888, nhân lễ đón rước vua Cao Miên là Norodom, cô Ba dã được cử ra để dâng hoa, làm vua Miên ngây người trước sắc đẹp lạ thường.
Nghe nói, về sau, hoa khôi Sài Gòn - cô Ba đã sánh duyên với một người Việt bình thường, sống một cuộc sống rất bình dị như tất cả mọi người, không bon chen, không bị Âu hóa.

Người đẹp của “Hòn ngọc Viễn Đông”

“Mốt Sài Gòn - Sài Gòn mốt” là cách nói để chỉ một phong cách ăn mặc hiện đại và tao nhã của người Sài Gòn vốn đã có truyền thống từ rất lâu. Tản mạn về cách ăn mặc, chúng tôi ghi lại đôi nét tiêu biểu của những người đẹp và đời sống thời trang ở vùng đất phương Nam.

Đến thời trang “Hòn ngọc Viễn Đông”

Sau thế hệ “cô Ba”, giới trẻ Sài Gòn bước vào giai đoạn Tây phương hóa. Đó là thời kỳ những năm 1920 - 1945. Cùng với Hà Nội, vùng đất Sài Gòn - Gia Định là nơi quy tụ nhiều và đang hội nhập vào những trào lưu mới của châu Âu. Sài Gòn được khách nước ngoài đặt cho mỹ danh “Hòn ngọc Viễn Đông”, bởi sự phát triển văn minh đô thị thì ít, mà chính là nét đẹp của phụ nữ Sài Gòn ăn chơi hào hoa phong nhã.

Thời của những Sáu Ngọ, công tử Bạc Liêu, công tử Mỹ tho, (Hắc, Bạch công tử), cũng là thời của những mỹ nhân vang danh như cô Ba Trà, cô Tư Nhị, cô Sáu Hương. Đương thời người Pháp đã đem văn minh phương Tây vào Sài Gòn với nhiều loại hình, trong đó có mốt. Thời trang Tây lúc ấy phổ biến vẫn là robe, jupe... đặc biệt là robe dài, cổ hở rất sâu. “Dân chơi” của Sài Gòn có một số chạy theo, nhưng đa số tỏ ra dị ứng. Bởi đạo đức Á Đông không cho phép họ nhắm mắt chạy theo thời trang lai căng. Do vậy chiếc áo dài vẫn là thứ quốc phục truyền thống được ưa chuộng và tôn vinh. Những mỹ nhân nổi tiếng, dù có điều kiện mặc đầm và chạy theo mốt phương Tây, nhưng hầu như hình ảnh tiêu biểu của họ vẫn là trang phục áo dài.

Thời gian trước và sau thế chiến thứ nhất (1914-1918), thời trang phổ biến của phụ nữ Sài Gòn (và chung cả Nam Bộ) là áo dài cắt may theo phong cách hoàng tộc Huế. Từ năm 1930, cách ăn mặc đã chịu ảnh hưởng Hà Nội. Những năm 1930 -1945 là thời kỳ hoàng kim của áo dài “tay ráp”, “tay phùng”, đặc biệt là kiểu Le Mur (của Cát Tường). Các giai nhân thường cặp với Hắc, Bạch công tử như cô Ba Trà, Tư Nhị... luôn luôn nổi bật trong áo dài lụa, gấm. Má đánh phấn hồng, môi đỏ son, tóc “tăng-gô” thả đuôi gà. Có hai loại “ăn diện”. Gái khuê các, con nhà trâm anh thì áo dài kín đáo, trang điểm như vừa kể, chân mang hài nhung. Con gái “mới” thì đã biết đi giày cao gót, nhất là trong những lễ hội có khiêu vũ. Thời ấy, mốt sơn móng tay chưa phổ biến, nhưng các cô “tân thời” đã biết tỉa lông mày. Kiểu lông mày lá liễu (mỏng như lá liễu, vòng nguyệt) là thú “thời thượng” kéo dài trên 40 năm, và vẫn còn hợp thời cho đến thập niên 60. Đến cuối những năm 60, phụ nữ Sài Gòn mới chuộng cách kẻ lông mày đậm bằng bút chì sáp.

Có thể nói, qua một chặng đường dài với nhiều thay đổi cách tân, trang phục của phụ nữ Sài Gòn vẫn là chiếc áo dài. Và nhìn lại thời trang của Sài Gòn xưa vẫn còn đọng lại ít nhiều đến ngày nay. Chiếc áo dài truyền thống đã sống qua nhiều thế kỷ với các cô gái Bến Nghé - Sài Gòn, và sẽ vẫn còn lâu dài nữa...
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103056
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49562 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Hồi Ký, Tuỳ Bút: Hảo hán Sài Gòn Dân chơi Bến Nghé

Postby DaMinhChau » April 18th, 2017, 11:04 am


Phần IV

Những tản mạn về Sài Gòn xưa



    Chuyện phiếm về ba cái “Long mạch” của Sài Gòn.
    - Võ Tòng đả hổ giữa Sài Gòn.
    - Sài Gòn một thuở.
    - Những cuộc phiêu lưu tình ái của Hắc công tử, Bạch công tử.
    - Gặp người tình nhỏ, tuổi Rồng của Bạch công tử.
    - Chợ Hôm, Xóm Củi, Cầu Hoa.
    - Con đò Thủ Thiêm.
    - Sài Gòn thời Trần.
    - Sài Gòn phố cũ, đường xưa.
    - Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa.
    - Đua chó đuổi mèo trò chơi Sài Gòn xưa.
    - Đại Thế Giới từ thiên đàng đến địa ngục.
    - Dân nhà giàu Sài Gòn xưa chơi xe.

Chuyện phiếm về ba cái “Long mạch” của Sài Gòn

Long mạch - mạch rồng - thuộc khoa địa lý học Đông phương, được truyền tụng và phát triển mạnh ở Trung Hoa từ thời xa xưa. Ở ta, các truyền thuyết về long mạch phần nhiều đượm tính hoang đường, song vẫn còn nhiều người tin và từ đó nổi lên chuyện tìm long mạch của Sài Gòn từ hơn 300 năm trước cho đến thời cận đại...

Long mạch của Wang Tai

Năm 1859, người Pháp chiếm Sài Gòn và bắt đầu xây dựng thành phố. Họ vẽ họa đồ đường nội ô và các công trình trọng điểm, đến năm 1868 giao cho một nhân vật người Hoa đứng ra thầu xây dựng: ông Wang Tai, còn có tên phiên âm khác là Zhang Hongtai - âm Hán Việt: Trương Hoàng Phái.
Trương Hoàng Phái còn có tên khác là Zhang Peilin (Trương Phát Lâm), vốn là người tỉnh Quảng Đông (Trung Hoa) chạy nạn Mãn Thanh sang Việt Nam trước năm 1850 và lập nghiệp tại vùng đất Bến Nghé. Sở dĩ người Pháp tin tưởng Wang Tai là do họ thấy tòa nhà của ông này xây dựng tọa lạc tại ngã ba sông Bến Nghé và rạch cầu Sâu (đầu con rạch này thuở ấy có hầm nhốt cá sấu để xẻ thịt bán như thịt bò, thịt lợn). Đó là tòa nhà ba tầng theo lối Singapore, Wang Tai đã xây dựng từ trước khi người Pháp tới. Thời ấy, đây là tòa nhà lớn, sang trọng và bề thế số một của Sài Gòn (về vị trí tòa dinh thự này, ngày nay bạn có thể nhận ra: đó là chỗ trụ sở Hải quan TP Hồ Chí Minh, con rạch cầu Sấu giờ đã biến thành đại lộ Nguyễn Huệ). Ngoài danh tiếng của người giàu nhất nhì Sài Gòn - Bến Nghé thời ấy, Wang Tai còn là nhà thầu xây dựng có học nghề từ Singapore (Wang Tai còn kinh doanh nhiều ngành khác như vật liệu xây dựng, chủ rạp hát). Theo tài liệu xưa còn lưu lại thì Wang Tai đã tham gia xây dựng bưu điện Sài Gòn, nhà thờ Đức Bà và tòa nhà Tổng ngân khố (kho bạc hiện còn tồn tại trên đường Nguyễn Huệ).

Năm 1868, trong khi chờ xây cất trụ sở, Hội đồng thị xã Sài Gòn đã đặt vấn đề mua lại tòa nhà nổi trên của Wang Tai với giá khá cao, nhưng ông này nhất quyết không bán. Một thương nhân người Hoa dám cưỡng lại lệnh của chính quyền bảo hộ Pháp quả là chuyện lạ. Nhiều người lo ngại cho Wang Tai, nhưng ông vẫn giữ được ý định và chỉ bằng lòng cho thuê một phần nhà để Hội đồng thị xã (Xã Tây) làm việc tạm. Lý do của vụ này khá bí ẩn, mãi về sau mới được tiết lộ: Wang Tai không thể bán ngôi nhà đó, bởi vì nó được xây trên long mạch! Thì ra, khi từ Quảng Đông di cư sang Bến Nghé, chạy từ đầu rạch cầu Sâu dọc theo bờ sông đến quá chỗ mà sau này Pháp cho dựng lên cột cờ Thủ Ngữ, được gọi là “Long Địa” (đất rồng). Lập nghiệp nơi đó sẽ phát to. Đặc biệt là khu đất nằm ở ngay góc bờ sông, Bến Nghé với rạch cầu Sấu cực tốt, nó chính là long mạch (vị trí hiện nay: bến Bạch Đằng - Nguyễn Huệ)! Wang Tai đã cho xây ngay bờ sông cách rạch Cầu Sấu 200m (cạnh cột cờ Thủ Ngữ sau này) rạp hát Quảng Đông, còn tòa nhà đúng long mạch thì có tên Tây là Hotel Wang Tai.

Vô tình, Wang Tai làm ăn càng ngày càng phát đạt lên nên ông càng tin tưởng vào thế đất được thầy địa lý chỉ. Người Pháp rất “cay” vụ Wang Tai không nhượng nhà. Họ cố tìm mọi cách để ép ông, nhưng vẫn không lay chuyển được. Cuối cùng họ phải hạ độc thủ: cuối năm 1879, Pháp vu cho Wang Tai tội phải liên đới chịu trách nhiệm về vụ một số người Hoa trong bang hội Quảng Đông dính líu tới tổ chức bị cấm Thiên Địa hội. Trước sức ép quá nặng của Pháp, năm 1880 Wang Tai đành phải nhượng lại Hotel Wang Tai. Người Pháp lập tức cho lấp con rạch cầu Sấu, biến thành Boulevard Churner (đại lộ Nguyễn Huệ sau này) và san bằng ngôi nhà ba tầng đồ sộ!

Long mạch của Quách Đàm

Thông Hiệp Quách Đàm cũng là một Hoa kiều, người đã làm giàu từ hai bàn tay trắng, với đôi quang gánh mua ve chai. Ông này khi bắt đầu có tiền đã nhờ thầy địa lý chỉ cho nơi có long mạch để xây nhà. Nơi đó chính là rạch Chợ Lớn (nằm ở khu vực đường Châu văn Liêm và Hải Thượng Lãn Ông ngày nay), xưa có ngã ba sông. Trọn đoạn đường từ cầu Chà Và chạy dọc theo đường Hải Thượng Lãn Ông tới bến xe Chợ Lớn và một nhánh rẽ chạy thẳng từ trước Bưu điện quận 5 theo dọc đường Châu văn Liêm hiện nay tạo thành một đoạn sông ba nhánh mà thầy địa lý gọi là Lưu hà phi long (nước chảy như rồng bay), về sau, khi nghe tin chính quyền thành phố có ý định lấp hai nhánh sông để mở đường bộ, ông Quách Đàm đã phản đối quyết liệt, thậm chí đã phải xây tặng Nhà nước bảo hộ ngôi chợ Bình Tây để đổi, nhưng cũng không giữ được cái long mạch trước nhà. Nghe nói do long mạch bị tắc, nên chỉ mười năm sau, tỷ phú Quách Đàm đã thân bại danh liệt, tài sản bị khánh kiệt...

Long mạch của Nguyễn văn Thiệu

Tưởng đâu chuyện long mạch đã chết theo Wang Tai và Quách Đàm, nào ngờ nó vẫn còn đó cho đến tận thập niên 60. Thời Nguyễn văn Thiệu lên làm Tổng thống ngụy Sài Gòn, việc đầu tiên ông ta làm là nhờ thầy địa lý (rước từ Đài Loan sang) xem lại “thế đất” của “Phủ đầu rồng” (từ ngữ trên báo chí Sài Gòn gọi Phủ Tổng thống ngụy tức Dinh Độc Lập, ngày nay là Dinh Thống Nhất).

Chẳng biết thầy địa lý nói sao với đại tá Y (viên sĩ quan này là chuyên gia về chiêm tinh đẩu số riêng cho Thiệu) mà ngay sau đó, Thiệu sai Y đứng ra trông coi xây dựng một kỳ đài ở chỗ Hồ Con Rùa ngày nay. Về danh nghĩa thì đó là Công trường quốc tế nhằm lập bia (con rùa đội bia) ghi công các quốc gia đã đóng góp giúp cho chế độ Việt Nam cộng hòa. Nhưng kỳ thực, tấm bia cao gần 20 m nằm trên lưng con rùa, phía trên cũng có hình bông hoa đang nở, chính là... cái đuôi con rồng!

Tại sao là đuôi rồng? Chính viên đại tá Y sau đó đã thú nhận: Thiệu rất tin dị đoan, ông ta nghe lời thầy địa lý Đài Loan nói rằng “Thủ đầu rồng” nằm trên một long mạch ngầm, mà đuôi chính là chỗ Công trường Quốc tế (hồ Con Rùa). Chỗ ấy ngay từ ngày người Pháp xây Dinh Norodom (tiền thân của Dinh Độc Lập), họ đã cho dựng một tháp nước (Chateau d’eau de Saigon). Đến năm 1921, tháp bị phá bỏ... Sự phá bỏ tháp đồng nghĩa với chặt đứt cái đuôi (mạch) rồng. Do vậy, bằng mọi giá phải lắp lại cái đuôi cho nó (cái đuôi xòe trên lưng con rùa ở hồ Con Rùa), cũng có nghĩa là thêm cái đuôi cho đầu rồng (ám chỉ chế độ Thiệu), giúp cho nó vẫy vùng.

Vẫy vùng đâu không thấy, chỉ thấy từ ngày khánh thành cái “đuôi rồng” ấy, chế độ Thiệu càng bị lung lay (nội bộ xâu xé nhau, nhân dân vùng tạm chiếm nổi lên chống đối mạnh) và trước những đòn tấn công như bão táp của lực lượng cách mạng, phải sụp đổ vào tháng 4 năm 1975!

Võ Tòng đả hổ giữa Sài Gòn

Cách nay hơn 200 năm, Sài Gòn là vùng đất hoang sơ. Năm ấy cũng là một năm Dần (Tân Dần - 1771), vào lúc nửa đêm, tại làng Tân Kiêng (nay là khu Chợ Quán, thuộc Q.5 - TP Hồ Chí Minh) bỗng nổi lên tiếng trống chiêng inh ỏi, với tiếng la thất thanh của lương dân bảo động: “Hổ về! Hổ về!”. Đó là một “ông Hổ” thật, to lớn, hung dữ, đang đói khát tìm mồi... Và đó không phải là lần đầu, mà như một thói quen, thỉnh thoảng hổ lại mò về quậy phá con người giữa chốn đô thành...

Chung quanh ngôi đình Tân Kiểng, Chợ Quán ngày trước là rừng, với kênh rạch chằng chịt, nguyên có tên là làng Tân Cảnh, nhưng do kỵ húy tên của Hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) nên phải gọi trại ra là Tân Kiểng (địa danh bến đò Long Kiểng và vài nơi khác ở Sài Gòn có chữ Cảnh đều phải đổi ra như vậy). Trước khi Nguyễn Ánh bị anh em nhà Tây Sơn đánh đuổi chạy vào Nam, tới đóng đô ở Gia Định (Sài Gòn ngày nay) vào năm 1772, thì một năm trước đó, ngay tại làng Tân Kiểng này đã xảy ra một cuộc thư hùng có một không hai, giữa hai nhà sư và con mãnh hổ từng gây khiếp đảm nhiều người.

Thuở ấy, nói chung toàn vùng Sài Gòn còn rất hoang vu. Khu làng Tân Kiểng nằm giáp ranh giữa Bến Nghé và Đề Ngạn (Chợ Lớn), nên có phần đông đúc dân cư hơn, nhưng chung quanh còn nhiều rừng cây, sông ngòi chằng chịt, nên cứ đêm đến là dân làng ai về nhà nấy, cửa đóng then cài. Vào một đêm tối trời cuối tháng Chạp, một phụ nữ làm nghề vựa lá lợp nhà, dậy sớm để nấu cơm cho chồng mang theo ghe đi chở lá, sau khi tiễn chồng ra bến xong, chị ta quay lên gian nhà nhỏ của mình ở đầu chợ Tân Kiểng. Bỗng chị đứng khựng lại, mồm há to định hét lên mà chẳng phát nên lời. Trước mặt chị lù lù một “ông ba mươi” đang chiếu cặp mắt như hai hòn lửa đỏ về phía chị! Con mãnh thú mỗi lúc càng tiến đến gần hơn. Vừa lúc ấy có một nhóm người xách đèn đi chợ sớm, họ vừa đi vừa nói chuyện làm kinh động, nên con mãnh hổ hơi chùn bước. Song, do quá sợ khi nhìn thấy cảnh tượng trước mắt, đám đông thay vì hô to cho hổ sợ thì lại ù té chạy. Hổ phóng tới và loáng cái đã mất dạng trong đám cành lá rậm rạp. Nó đã kịp vồ và mang theo người đàn bà xấu số kia vào rừng.

Câu chuyện hổ vồ người giữa xóm dân cư làm kinh động cả vùng, chẳng những về đêm, mà ngay cả ban ngày, hầu như ai nấy đều nơm nớp lo sợ, chỉ đi thành đoàn, ít khi dám đi một mình. Làng xã cũng sợ hãi không kém, họ tổ chức những toán tráng đinh đi tuần đêm với mõ chiêng, cứ nghe động tịnh hơi cọp là đánh chiêng trống lên inh ỏi. Vậy mà nào có ngăn được tai họa. Vào tháng Giêng năm ấy, cũng tại địa điểm họp chợ, hổ lại về hai đêm liền, suýt nữa sát hại thêm nhân mạng. Phủ, huyện đã có thông báo treo giải thưởng khá lớn cho ai diệt trừ hổ dữ, nhưng đã qua nhiều tháng vẫn chẳng ai dám ra tay. Vào cuối tháng 4, lại xảy ra một tai nạn thảm khốc nữa. Lần này, hổ táo tợn hơn, đã xông thẳng vào một nhà ở phía nam chợ Tân Kiểng và vồ hai đứa trẻ đang nằm ngủ trên giường.

Nỗi khiếp hãi đã lên tới tột cùng! Người dân ở chợ Tân Kiểng đã bắt đầu tính đến việc bỏ nhà đi lánh nạn. Đúng lúc đó có một nhà sư chùa Kim Tiên (chùa nằm ở bên kia cánh đồng bìa làng Tân Kiểng) xuất hiện và xin diệt hổ. Đó là sư Tăng Ân, không phải người địa phương, mà cư ngụ ở một ngôi chùa vùng Cần Giuộc đến tạm cư ở chùa Kim Tiên để bốc thuốc trị bệnh cho bá tánh. Ông xưa nay chỉ chuyên nghề thuốc, chưa tỏ rõ nghề võ, nên khi nghe ông xin đả hổ, mọi người đều không tin tưởng, lại có phần lo ngại. Họ khuyên nhà sư không nên liều lĩnh, song ông vẫn quyết tâm chuẩn bị đón hổ dữ.

Theo lệ thường, cứ vào canh ba thì hổ từ cánh rừng bên cạnh mò ra chợ. Đêm đó cũng thế, nó nhanh như chớp, thoắt cái đã nhảy từ bờ mương cạn qua trước khu nhà vựa lá. Nơi đó có một “con mồi” đang nằm trùm chăn ngủ say. Hổ nhẹ nhàng bước tới, mắt long lên, móng vuốt vươn ra chuẩn bị hành động. Chợt... vút một cái, cả khối đen đang trùm chăn lao bắn về phía trước với sức mạnh tối đa. Bị bất ngờ, hổ ta vươn vuốt chụp vào vật đang tấn công nó. Nhưng đòn tấn công đó chỉ là đòn giả, khi đến gần, bóng đen lạng sang một bên, đồng thời tung ra một đòn cầm nã thủ cực kỳ dũng mãnh. Đòn vừa ra đó đã trúng ngay đích, xé toạc một mảng da ở cổ con hổ dữ, làm cho nó kêu rông lên đau đớn. Càng đau, hổ càng hung tợn, lồng lên phản công ác liệt.
Cuộc tử chiến chỉ chấm dứt sau khi có thêm một người nữa xuất hiện tiếp tay. Hổ bị hạ tại chỗ. Mọi người vui mừng vây quanh hai con người tài ba đó. Thì ra, một là nhà sư Tăng Ân, còn người kia chính là Trí Năng, đồ đệ của ông. Cả hai vừa cho dân làng mục kích một trình độ võ công ít ai ngờ được. Những chiêu thức đúng là võ thuật Thiếu Lâm tự. Tuy nhiên, chính sư Tăng Ân đã tiết lộ, võ công của ông và đồ đệ chính là võ Việt do ông đã dày công nghiên cứu và luyện thành.

Từ hôm đó, chẳng riêng vùng Tân Kiểng, mà khắp Gia Định thành, ai cũng ca tụng nhà sư Tăng Ân đả hổ, họ ví ông tài nghệ siêu phàm như Võ Tòng trong truyện Thủy Hử đời Tống.

Khi Nguyễn Ánh lánh nạn Tây Sơn vào Sài Gòn, đã đích thân đi tìm nhà sư, để cầu ông này giúp một tay. Tương truyền rằng sư Tăng Ân chỉ tiếp Nguyễn Ánh một lần, khéo léo từ chối lời mời, rồi sau đó tìm cách lánh mặt luôn, dù đã được hứa hẹn nhiều điều lợi lộc.
Ngày trước, Sài Gòn chưa có hệ thống cống thoát nước, nhưng dưới nền chùa Kim Tiên đã có một đường hầm lớn, nối từ đó qua tận chùa Gia Điền ở Bàu Sen (thời đó, vùng bệnh viện Chợ Quán - Tân Kiểng nằm giữa một cánh đồng, một phía giáp với rừng cây, còn phía bên kia thì giáp với khu đầm lầy gọi là Bàu Sen, nơi ấy vẫn còn lưu lại địa danh đến ngày nay, tức khu vực Bàu Sen ở đoạn Nguyễn Trãi - Trần Bình Trọng và An Dương Vương, thuộc Q.5 - TH). Nghe nói, do không muốn hợp tác với Nguyễn Ánh, nhà sư Tăng Ân đã âm thầm đào địa đạo đó, để lánh mặt khi cần. Cũng có người nói rằng nhà sư có chân trong một hội kín gì đó.

Sau thời hổ lộng hành ở làng Tân Kiểng nói trên, hơn 100 năm sau, tức vào thời người Pháp xâm chiếm Sài Gòn, phát triển, đô thị hóa rộng lớn, vậy mà các thú hoang vẫn còn nhiều ở các vùng phụ cận. Nhiều sách báo, cũng như lời kể trong dân gian về hổ xuất hiện thường xuyên ở Nhà Bè, Thủ Đức, Bình Chánh... Nhưng đến lúc ấy, các tin tức đó không còn làm cho người dân hoang mang nữa, mà trái lại, nó gây hấp dẫn với một số người thích săn bắn. Vào đầu thế kỷ XX, Hoàng tử Henri d’Orleans của Pháp, Thái tử Đan Mạch Waldemar và Công tước de Montpensier là những khách săn bắn thường xuyên có mặt ở Sài Gòn để tìm bắn hổ, voi. Tuy nhiên, dù với súng săn tối tân, vũ trang tận răng, nhưng họ đã không lập được kỳ tích như nhà sư Tăng Ân.

Sài Gòn một thuở

Sài Gòn mà chúng ta đang sống ngày nay là một thành phố Hồ Chí Minh hiện đại, đang phát triển, tiến lên công nghiệp hóa... điều mà cách đây nửa thế kỷ, người ta không bao giờ hình dung nổi. Sài Gòn một thuở là hình ảnh khác xa những gì đang có ngày hôm nay. Chưa hiện đại, chưa văn minh cao, nhưng có một cái gì đó rất đặc trưng, rất khó quên... Gợi lại những gì ngày nay không còn nữa, như một hồi ức đẹp, thiết nghĩ không phải là vô bổ.

Phong cách Sài Gòn

Ở đây muốn nói đến phong cách rất riêng của người Sài Gòn vào thời xa xưa ấy mà mãi đến nay vẫn còn có thể bắt gặp ở đâu đó. Chỉ xin kể một mặt nho nhỏ thôi: cái cách kiếm tiền và cách sống.

Thời đó (cách 50 năm về trước), cụm từ “tay làm, hàm nhai” đối với người Sài Gòn là một ý nghĩa “lãng mạn”, dân lao động Sài Gòn đã làm và nhai có khác hơn các nơi trong nước. Một người đạp xích lô (trước kia là xe kéo) lam lũ, cực nhọc “cuốc” từng cuốc, kiếm từng đồng, từng cắc, vậy mà chiều chiều vẫn lai rai “ba sợi” với vài chai “la-de” (la bière La rue - hiệu bia nổi tiếng của hãng BGI thời đó) với tôm khô củ kiệu. Và sáng nào, dù “túng” hay không, bác phu xe vẫn thong thả chất “má bầy trẻ” cùng hàng lố con cái, ra ngồi “tiệm nước” (quán bán cà phê và thức ăn) để chén một bữa no nê. Hôm nào trúng mánh thì cà phê sữa, bánh bao hay hủ tiếu, còn như “thất” thì cũng cho mỗi nhóc tì một cái “giò cháo quẩy” chấm cà phê! Có người hỏi anh ta, tại sao không dành dụm, lại “hàm nhai” hết như thế? Anh ta vô tư trả lời: “Ăn hết rồi kiếm nữa, lo gì!”.

Đó là dân lao động, còn dân thầy, dân cậu thì sao? Tầng lớp này được chia ra làm mấy hạng: loại “dân cậu” là thành phần giàu, ăn chơi sang, đi cao lâu (restaurant) nhảy đầm, đánh bạc. Loại “thầy chú” gồm đa số công chức, tư chức và “thầy chú” còn để ám chỉ dân áp phe, dân “cò bót” (cảnh sát, công an chìm, nổi). Có một khu vực rất đặc biệt ở Sài Gòn, mà ai đi sớm ngang qua đó, là thấy các “thầy chú” ngồi đầy ở các quán nước. Đó là khu Nguyễn Công Trứ (trước gọi là đường Le Fèvre) và chợ cũ đường Hàm Nghi (thời đó gọi là boulevard de la Some). Như một thông lệ, sáng nào họ cũng tụ tập, không thiếu mặt nào của dân áp phe kinh tế tài chánh, vì quanh đó là trụ sở các ngân hàng (có thời nó được gọi là Wall Street của Sài Gòn).
Còn một nơi tụ hội nữa của các “thầy chú” có thời được gọi là “Radio Catinat”, là các quán ở đường Catinat (Đồng Khởi bây giờ). Quán La Pagode, Continental, Givrai, Brodard là bốn nơi ngày nào cũng có mặt các tay thuộc cánh áp phe chính trị, dân nhà báo trong, ngoài nước. Họ gặp mặt trao đổi tin tức, tung tin thật có, vịt cồ có, đủ loại trên đời, để rồi từ đó truyền đi khắp nơi. Bởi vậy, dân Sài Gòn gọi đó là trụ sở của đài phát thanh, hay dễ nhớ hơn với cụm từ “Radio Catinat”.

Sài Gòn với những món ăn

Người Sài Gòn làm nhiều, tiền nhiều, nhưng khoản ăn chơi đã chiếm một phần quan trọng trong sinh hoạt thường ngày của họ. Xích lô, xe kéo còn có máu ăn chơi kiểu đó, nói gì thành phần khác. Sài Gòn bốn mươi năm trước không có nhiều chốn ăn chơi như ngày nay. Nói về quán ăn thì có thể điểm tên một số “cao lâu” của người Hoa như: Đồng Khánh, Ngọc Lan Đình, Ái Huê, Đại La Thiên, Soái Kình Lâm, Á Đông, Bát Đạt, Tân Lạc Viên... và không thể không kể tới các quán “bò bảy món”. Đây là một đặc trưng của món ăn Sài Gòn, cũng như Hà Nội có chả cá Lã Vọng, bánh tôm Hồ Tây...
“Đi ăn ngoài” của người Sài Gòn thời trước không kể các quán cơm thố của người Hoa thì hầu như người nào cũng thích đưa vợ con, bạn bè đi ăn bò bảy món. Nổi tiếng nhất và lâu đời nhất ở Sài Gòn từ trên nửa thế kỷ trước, là quán Au Pagolac (Chợ Lớn) và sau đó là Ánh Hồng (Phú Nhuận). Có người nhận xét rằng, nếu nói về món ăn chơi thì bò bảy món mới đúng nghĩa là để ăn chơi, vì với bảy món trong một bữa, mỗi món chỉ cần ăn một ít, ăn qua một lượt đã tới món khác, do đó, dù bảy món cùng một thứ thịt bò, vậy mà một người có thể thanh toán trọn vẹn cả repas (bữa ăn) một cách thoải mái mà không hề chán ngán.

“Đi ăn đồng quê” là nói đến kiểu “đi ăn ngoài” ở ngoại thành của Sài Gòn thời trước. Sài Gòn trước đây không ngột ngạt người và xe như bây giờ, người ta vẫn thích chiều chiều chở nhau ra vùng ngoại ô Nhà Bè, Bình Chánh, Thủ Đức, vừa hóng gió, vừa thưởng thức các món đặc sản. Phú Lâm, Bình Chánh nổi tiếng với các quán Đồng Quê (ở Phú Định) và Ba Râu (Bình Điền) do có những đặc sản tôm cá rất ngon (món chạo tôm ở Đồng Quê có thể nói là ngon nhất thời đó). Hướng Nhà Bè thì nổi danh với các quán “thủy tạ” trên các ao cá, với các món “độc chiêu” là gỏi cá chìa vôi. Một thời, món cá này là một đặc sản được quảng cáo là “có một không hai”, bởi nghe nói loại cá có cái tên rất lạ này chỉ thấy ở vùng nước mặn Nhà Bè, Phú Xuân (có thể một số nơi khác cũng có, nhưng với tên gọi khác). Thịt cá chìa vôi giòn, ngọt hơn cá chẻm, nên khi trộn gỏi, có vị rất ngon và lạ miệng. Người ăn thích nhất là ngồi trên sàn nhà, có thể nhìn thấy cá lội dưới ao, thích con nào chỉ con đó và sẽ được nhà hàng bắt lên làm ngay trước mặt, dọn ăn nóng sốt sau vài chục phút.
Hướng Thủ Đức thì được dân chơi đêm ưa thích. Các cô cậu thì đi nhảy ở vũ trường đến một, hai giờ sáng, có thể thoải mái chở nhau lên tận Thủ Đức để ăn nem, hoặc bánh canh bột lọc. Thủ Đức còn có một quán ăn đặc sản rất được ưa chuộng là quán Con gà quay với món gà quay cơm nếp độc đáo.

Sài Gòn với những cuộc chơi

Có ăn thì phải có chơi, chơi lành mạnh cũng có, nhưng không nhiều, ngoài các Công viên Bách Thảo (Thảo Cầm Viên), Vườn Ông Thượng (Tao Đàn), người Sài Gòn thời ấy không có những Kỳ Hòa, Đầm Sen như ngày nay. Trò chơi dành cho người lớn thì lại không thiếu. Đó là các vũ trường và các sòng bạc. Những vũ trường tiêu biểu, tồn tại từ trước năm 1954, gồm có: Mỹ Phụng, Đại Nam, Tabarin, Văn Cảnh, Au Chalet Tour d’Ivoire (thuộc vùng Sài Gòn) và Melody (thuộc Chợ Lớn), các “dân chơi” đều thuộc nằm lòng những cái tên ấy và nhẵn mặt từng ngóc ngách vũ trường. Sau này vào thời kỳ Mỹ, mới có thêm các Queen Bee, Ritz, Maxim’s...

Nhưng nổi trội và hấp dẫn nhất có lẽ là các sòng bạc. Người Pháp đã dựng lên ba sòng bạc thuộc loại lớn nhất nước (nếu không muốn nói là lớn nhất Đông Nam Á) tại Sài Gòn từ trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, đó là Kim Chung, Đại Thế Giới và trường đua ngựa Phú Thọ.
Gần 30 năm tồn tại, Kim Chung và Đại Thế Giới đã “thiêu” hàng vạn người mê đỏ đen. Người tán gia bại sản, kẻ thân bại danh liệt. Người ta ví đó là hai chốn địa ngục trần gian giữa hòn ngọc Viễn Đông. Còn trường đua Phú Thọ thì từ khi thành lập, chưa bao giờ là đấu trường thể thao như có người muốn gán cho nó. Đơn thuần, nó chỉ là cái lò sát phạt đỏ đen với bao mưu ma chước quỷ (làm độ, gian lận...) chẳng khác gì Kim Chung, Đại Thế Giới (hai casino này đã bị xóa tên từ năm 1956), giờ đây nếu các bạn muốn biết nó ở đâu thì chính Khu Dân Sinh bây giờ là Kim Chung ngày trước, còn Đại Thế Giới đã trở thành Nhà văn hóa Quận 5 (đường Trần Hưng Đạo B).

Dù không muốn, nhưng cũng không thể không nhắc tới những chôn lầu xanh đầy tai tiếng, nhớp nhúa một thời: xóm Bình Khang (gần rạp hát Vườn Lài quận 10 ngày nay) dành cho khách mua hoa nội địa và khu Borden (giới bình dân thường gọi là Bọt-Đền) ở góc đường Galiéni (Trần Hưng Đạo) và Nguyễn Khắc Nhu (ngày nay là câu lạc bộ Trần Hưng Đạo và dãy nhà của công ty Bách Hóa thành phố), nơi chuyên phục vụ “hoa” cho lính viễn chinh Pháp. Dân hay quân vào các nơi đó, đều được mua vé công khai, giống như mua vé hát hay vé vào vườn Bách thú.

Về giải trí văn hóa, thì có hai loại hình chính: rạp xi-nê (chiếu phim) và rạp cải lương. Những rạp xi-nê đầu tiên giờ đã biến mất, như Catinat (ở trong hành lang bán tranh bây giờ, ngang hông khách sạn Caravelle phía đường Đồng Khởi), rạp Majestic (bây giờ là nhà hàng dancing Maxim’s), rạp Long Thuận (góc đường Nguyễn An Ninh và Trương Định) và những rạp vẫn còn lưu lại dấu tích như Eden (Đồng Khởi), Casino (Sàigòn, Đakao), Vĩnh Lợi, Lê Lợi, Nam Việt, Hồng Bàng, sau năm 1954, Sài Gòn mới có thêm Đại Nam (vào đầu thập niên 1960 có thêm Rex), còn khu Chợ Lớn thì có Oscar, Palace (Đồng Tháp và Đống Đa bây giờ) và một số rạp nhỏ khác... về rạp cải lương, hát bội thì có Nguyễn văn Hảo (Công Nhân), Thành Xương (đầu đường Yersin, góc Colonel Grimau - Phạm Ngũ Lão) nay đã hư sập. Vào đầu thập niên 1960, mới có thêm hai rạp Hưng Đạo và Quốc Thanh. Các nhà hát lớn (nhà hát thành phố) thường được gọi là nhà hát Tây và rạp Norodom (rạp Thống Nhất, giờ trở thành hội trường xổ số kiến thiết) chủ yếu dùng để hòa nhạc.
Về khách sạn thì chỉ có hai cái được gọi là “quốc tế” đó là Continental vào thập niên 1950 mới bắt đầu được xây dựng. Hầu hết các khách sạn ở Sài Gòn thời trước chủ yếu chỉ là những “phòng ngủ” nhỏ, được gọi nôm na là “nhà ngủ”, để phục vụ cho dân bản xứ. Các nơi này luôn kết hợp ba thứ: ngủ + gái bán dâm + động phù dung (á phiện). Dân anh chị hay các thầy nhà báo, thường hay ghé “nhà ngủ” làm vài “cặp” nhựa đen (chỉ thuốc phiện) trước khi đi hành sự, gọi là để lấy khí thế.

Còn nhiều lắm những điều tốt có, xấu có của một Sài Gòn thời xa xưa... Nhưng dù ở mặt nào, Sài Gòn vẫn có nhiều điều để nhớ, nhiều cái không thể nào quên... Nếu có dịp nào đó, ta lại nói đến một số khía cạnh nữa của Sài Gòn một thuở...
Những cuộc phiêu lưu tình ái của Hắc công tử, Bạch công tử

Chuyện Hắc công tử, Bạch công tử (công tử Bạc Liêu, công tử Mỹ Tho) ở Nam Bộ đã có nhiều người kể lại, dưới nhiều hình thức, với nhiều tình tiết, giai thoại... Song có lẽ những chuyện chơi ngông và những cuộc phiêu lưu tình ái của họ là đề tài lý thú nhất, buồn cười nhất. Chúng tôi xin ghi lại hai cuộc tình được xem là tiêu biểu nhất của hai chàng công tử ăn chơi khét tiếng ở Miền Nam một thời...

Cuộc tranh giành người đẹp của Ba Qui

Lúc mới đặt chân lên đất Sài Gòn vào năm 1938, Trần Trinh Qui đã có ngay cái “hỗn danh” Tám Bò, thay vì Ba Qui theo đúng thứ của cậu ta trong gia đình. Về cái hỗn danh này, có người kể lại rằng, vào thời đó, người nông dân nào làm ruộng mà có được một đôi bò để kéo cày, thì được gọi là trung nông, được bốn đôi gọi là phú nông. Bốn đôi bò (8 con) trị giá bằng 4.000 giạ lúa, một tài sản khá lớn đối với mọi người; nhưng với Ba Qui (Trần Trinh Qui, con trai thứ của ông Hội đồng hàm Trần Trinh Trạch, đại nghiệp chủ ở Bạc Liêu) thì chỉ là con số lẻ. Khi ấy Ba Qui mới 18 tuổi, chân ướt, chân ráo đến “Hòn ngọc Viễn Đông”, thường bị các vương tôn công tử thành phố coi là “công tử vườn”. Có lẽ do vậy, nên trong một canh bạc với các đại phú thương, Ba Qui thay vì đặt tiền, đã đặt mỗi canh bạc bằng đơn vị “bốn đôi bò”! Kết quả, hôm đó cậu Ba đã thua đến mười lần bốn đôi như thế và cũng từ ấy, cậu ta nổi tiếng thành danh luôn là cậu “Tám Bò” (để bạn dễ hình dung, chúng tôi đưa ra con số so sánh: hiện nay ở nông thôn miền Tây Nam bộ, nông dân bán một ngàn giạ lúa thì mua được một chiếc xe Dream, có nghĩa là, ngày xưa, mỗi lần Ba Qui thua bốn đôi bò, là vừa nướng vào sòng bạc khoảng 20 cây vàng!).
Nổi danh ở các chiếu bạc, nhưng ở các lĩnh vực khác, chàng công tử Bạc Liêu này vẫn chưa được nể trọng lắm. Bởi vậy, trước ngày sang Pháp du học theo lệnh của gia đình, Ba Qui đã “thề” trước bạn bè rằng, cậu ta sẽ trở thành trùm, dù cho phải bán hết ruộng muối và lúa của ông thân sinh ở Bạc Liêu!
Sau năm năm “du học” trời Tây, Ba Qui trở lại Sài Gòn với cái bằng... đăng-xê (dancer, khiêu vũ, hay còn gọi là nhảy đầm theo cách nói ở Nam Bộ). Và đúng như “lời nguyện”.

Ba Qui đã chơi... “mát trời” nên lập tức khẳng định thế đứng của chàng công tử Bạc Liêu lắm của, chơi ngông và đào hoa số một! Mục tiêu đầu tiên khi vừa quy cố hương của cậu Ba là một người đẹp đang nổi tiếng như cồn trong giới vương tôn lúc đó, hoa khôi Tuyết Lan!

Đúng ra Nguyễn thị Tuyết Lan chưa từng dự thi hoa hậu, cũng chẳng đạt được chức danh bà hoàng sắc đẹp, song bởi sắc đẹp của cô nghiêng nước đổ thành, nên được người ta tặng cho mỹ danh “hoa khôi”. Vào năm 1943, ở Sài Gòn, Tuyết Lan là số một, là bà hoàng của mọi cuộc yến tiệc, vui chơi. Nhân tình của cô toàn là những tay cỡ bự, vừa giàu sụ lại vừa nhiều thế lực, nhưng chưa một ai độc chiếm được nàng. Thời đó, một đối thủ đáng gờm của Ba Qui là Phước George, tức Bạch công tử, hay còn gọi là công tử Mỹ Tho, người cũng đang ngắm nghía Tuyết Lan. Ba Qui biết mình phải làm gì để chiếm thế thượng phong, để được là kẻ chiến thắng trên tình trường! Cậu ta tuyên bố với bạn bè: “Moa sẽ chiếm cho bằng được Tuyết Lan, dù phải đổi cả sản nghiệp của ông già moa!”.

Nói là làm. Chỉ hai tuần sau khi về nước, Ba Qui đã tổ chức ngay một buổi dạ tiệc lớn chưa từng có ở ngôi biệt thự mới, tọa lạc tại đường Chasseloup Laubat. Khách mời hầu như không thiếu một ai và dĩ nhiên là phải có Bạch công tử Phước George!
Và thật bất ngờ, đóa hoa tuyệt sắc xuất hiện bên cạnh chàng Hắc công tử Ba Qui, không ai khác hơn là nàng Tuyết Lan! Khi đến bắt tay Bạch công tử, Ba Qui cố tình trêu chọc: “Vợ chồng moa rất hân hạnh được Monsieur Phước George đến tệ xá!”. Điều này có nghĩa là hoa khôi Tuyết Lan đã chấp nhận làm “Hắc phu nhân”.

Sau đó, mọi người đều biết chuyện, để chiếm được người đẹp, Hắc công tử đã mua tặng cho nàng ngôi biệt thự dùng làm nơi tổ chức dạ tiệc hôm ấy và có lẽ còn có cả ngàn đôi bò theo kiểu trị giá bò để đánh bạc! Bạch công tử tạm thua keo đầu. Tất nhiên là chàng Bạch ấm ức lắm, nhưng vốn là người hào hoa, lại tính toán thâm hơn, nên Phước George giả bộ như chẳng có gì xảy ra để âm thầm toan tính một cuộc phục thù, rửa hận. Cuộc rửa hận còn “lưu danh muôn thuở” mà như chúng ta đều nghe kể, đó là vụ Bạch công tử đốt tờ giấy bạc 100 đồng (cent piastres) để soi sáng cho Hắc công tử tìm tờ giấy 20 đồng (giấy “Hoảnh”, tức vingt piastres, hai mươi đồng) trong một bữa tiệc do Bạch công tử mời, có mặt cả người đẹp Tuyết Lan!
Gặp người tình nhỏ, tuổi Rồng của Bạch công tử

Hắc công tử và Bạch công tử gần như là một “huyền thoại” ở Sài Gòn xưa nói riêng và Nam Kỳ lục tỉnh nói chung. Chung quanh họ, người ta đã kể, viết biết bao nhiêu chuyện. Gần một thế kỷ đã qua đi, mọi chuyện gần chìm trong quên lãng... vậy mà thật bất ngờ, chúng tôi đã gặp một người yêu của Bạch công tử...

“Con rồng nhỏ” của Bạch công tử

Ngồi trước mặt tôi là một phụ nữ đã 84 tuổi, song người ta vẫn gọi bà là cô. Cô Sáu Ngọc Sương. Cuộc gặp gỡ “cô Sáu” diễn ra vào buổi sáng ngày 6 tháng 12 năm 1999, tức sau hơn sáu mươi năm so với thời điểm mà người ta vẫn thường nhắc đến một con người: Bạch công tử của xứ Nam Kỳ lục tỉnh.
Già, yếu, bước đi chậm, nhưng cô sáu Ngọc Sương vẫn còn cái nét mỹ nhân của một thời vàng son. Cô vào đề ngay khi tôi nhắc tới “Phước George” - chàng Bạch công tử.

Phước George thường kêu tôi bằng “con rồng nhỏ”. Bởi tôi tuổi Thìn. Ảnh tuổi Mão, lớn hơn tôi 13 tuổi. Khi gặp Phước George thì tôi mới 19 tuổi. Ngày đó, ai cũng nói con Sáu Ngọc Sương là người tình nhỏ của Bạch công tử. Nhìn căn phòng chưa đến chục mét vuông, trong khu dưỡng lão dành cho nghệ sĩ ở đường Âu Dương Lân, Q.8, TP Hồ Chí Minh, tôi đoán người phụ nữ này sống một mình. Cô Sáu tâm sự:
- Tôi không còn người thân nào cả, cũng may nhờ Nhà nước, nhờ Hội Nghệ sĩ sân khấu thành phố, nên tôi còn có chỗ nương thân qua ngày ở dây.
- Nhưng ngày xưa, người ta còn nhớ khi cô Sáu sống với Phước George, cô đã có với ông ấy một đứa con?
Giọng cô Sáu Ngọc Sương trầm xuống, đượm buồn:
- Đúng là có một đứa con gái.
- Cô ấy...?
- Nó vẫn còn sống. Năm nay 63 tuổi, đang sống ở Pháp.
Sau một tiếng thở dài, cô Sáu tiếp:

- Cái tên Ly Ly của nó chính là do Phước George đặt. Hồi ấy, ổng thương con bé lắm, nhưng cái máu trăng hoa đa tình của người ấy, khiến cho con nhỏ ngay từ lúc còn nằm trong nôi đã hầu như không thấy mặt cha.
- Nhưng nhiều người lại nói rằng Phước George ít khi bỏ rơi người phụ nữ nào có con với ông ta?
Cô Sáu Ngọc Sương lắc đầu:
- Không phải đâu. Con người ấy đi đâu là “gieo rắc” đến đó. Đặc biệt là với người đàn bà nào ông ta thương thật lòng.
Cô Sáu như cố nhớ lại một thời dĩ vãng đã xa, cái thời hoa mộng nhất của một cô gái nghèo, từ một tỉnh miền Trung vào đất Sài Gòn tìm chỗ dung thân...
Sinh ra ở một vùng quê ven biển Phan Thiết, cho đến năm cô Sáu 17 tuổi thì có người bảo: “Chỉ có Sài Gòn mới thay đổi được cuộc đời cơ cực”. Thế là cô Sáu tìm về vùng đất hứa. Nghèo, ít học, lại không nơi nương tựa, nên khi có người dìu dắt cho làm “tì nữ” của gánh hát, Sáu ưng ngay. Gánh hát đầu tiên trong đời cô gái trẻ là gánh Trần Đắc. Cũng ở đó, cô chọn cho mình một cái tên nghệ sĩ: Ngọc Sương, ghép với tên gọi là Sáu thành ra Sáu Ngọc Sương có từ dạo ấy.

Đoàn Trần Đắc rã gánh và có lẽ do trời định, Sáu Ngọc Sương “đầu quân” cho gánh Huỳnh Kỳ. Cô gặp ông chủ Phước George - Bạch công tử và “con rồng nhỏ” đã bị con “mèo ngao” vồ lấy. Có người nói đó chỉ là cuộc tình trăng hoa của Phước George, bởi cùng thời ấy trong tay chàng công tử Bạch này có hàng chục, hàng trăm cô gái khác, trong số này có cả những giai nhân tuyệt sắc thời ấy như Lucie B., cô Ba Trà...
Theo một người thân cận với Phước George, khi đã xế bóng, chính ông ta đã thú nhận: “Trong vô số những giai nhân, tôi thương con Sáu nhất. Nó không vụ lợi như nhiều người khác. Chỉ tiếc là ngày ấy tôi quá nhiều mối tình. Cái mà tôi cho má con Ly Ly chỉ là mối tình lẻ...”

Ai là vợ chính thức của Bạch công tử?

Khó mà trả lời chính xác. Bởi lúc sinh thời, chưa ai nghe nói Phước George cưới vợ bao giờ. Chỉ có các cuộc phiêu lưu tình ái gần như vô tận. Hơn chục giai nhân khá nổi tiếng thời ấy đã nói rằng họ là “madame George” và kê ra những đứa con mang dòng họ Lê (Bạch công tử tên thật là Lê Công Phước).
Hoa khôi Lucie B., từng một thời sống chính thức với Phước George, đi đâu cũng xưng là madame George, nhưng khi Phước cặp với cô Ba Trà, thì giai nhân chim sa cá lặn này lại dõng dạc tuyên bố: “Anh ấy chỉ có mình tôi!”.

Phước George quả đã gắn bó với cô Ba Trà một thời gian dài, tiêu tốn chẳng biết cơ man nào tiền của cho người phụ nữ này. Gánh hát Huỳnh Kỳ của Bạch công tử lập nên cũng chính là để vui lòng Ba Trà. Song sự thật chưa bao giờ Ba Trà là vợ của Phước George.

Thời Phước George đi “phiêu lưu” ở Pháp, khi cặp bồ với nàng công chúa Nga lưu vong, tưởng chừng như ông đã có “vợ đầm”, vậy mà chỉ một năm sau, Phước George lại về Sài Gòn và đi với hàng tá phụ nữ khác. Cuối năm 1941, khi vừa thoát nạn trong vụ đắm tàu ở Địa Trung Hải, Phước George đã thổ lộ với người bạn thân: “Mình suýt nữa chết thành ma không vợ. Nghĩ mà tức cười, bao nhiêu là nhân tình, đến khi cần chưa chắc có một ai nhỏ cho một giọt nước mắt!”. Lời than vãn này không ngờ lại đúng với cuộc đời về chiều của Bạch công tử.

Cô Sáu Ngọc Sương bùi ngùi kể lại đoạn kết rất buồn của người gây sóng gió một thời:
- Lúc sống, chẳng ai “lên voi” bằng Phước George - Bạch công tử. Cả Nam Kỳ lục tỉnh đều biết tiếng, nghe tên, Tây đầm đều biết, vậy mà khi nằm xuống chẳng có một người thân chôn cất. Chết cô đơn, nghèo túng, âu cũng là nhân quả.

Cô Sáu Ngọc Sương nói rằng ngày Phước George qua đời, ở tuổi trên 60, lúc đó đã là thời xế bóng, tàn tạ của một công tử ăn chơi khét tiếng Nam Bộ. Ông đã lãng phí qua những cuộc chơi mấy chục năm, đã đốt tiền vào các sòng bạc, tiệm nhảy và nhan sắc đàn bà... để rồi khi cuối đời, trong tay chẳng còn chút gì. Bạn bè thương tình, đưa di thể về an táng ở quê nhà (huyện chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho). Loạn lạc nổi lên, chính người chôn Phước George cũng chẳng làm sao tìm lại được nấm mồ của ông ta ở đâu.
Cô Sáu Ngọc Sương nói thật chậm, khi tiễn tôi ra về:
- Tôi vẫn ao ước có ngày tìm được mộ anh Phước George, đốt cho ảnh nén nhang. Nhưng có lẽ không còn kịp nữa rồi. Tôi đã quá yếu...
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103056
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49562 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Hồi Ký, Tuỳ Bút: Hảo hán Sài Gòn Dân chơi Bến Nghé

Postby DaMinhChau » April 18th, 2017, 11:13 am


Chợ Hôm, Xóm Củi, Cầu Hoa

Những chứng tích thành địa danh của Sài Gòn xưa, từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, ngày nay còn lại rất ít, thậm chí có những nơi chỉ còn lại cái tên. Như chỗ hồ Con Rùa hiện thời. Ngày xưa, lúc người Pháp mới tới, một trong những công trình họ dựng lên đầu tiên là “Tháp cấp nước” gọi là “Château d’eau de Saigon” (xây năm 1878), mục đích trữ nước ngọt cung cấp cho cư dân thành phố. Thời đó, dân thành phố còn rất ít, độ vài trăm ngàn người, nên buổi đầu lượng nước chứa trong tháp còn đủ dùng. Song, sau đó dân tăng lên dần nên đến năm 1921, Thị trưởng thành phố đã phải ra lệnh phá bỏ, và biến nơi đó thành “Công trường chiến sĩ trận vong”, được dân Sài Gòn gọi tắt là Công trường chiến sĩ. Công trường này cũng “thọ” không lâu. Đến giữa thập niên 60, Nguyễn văn Thiệu làm Tổng thống, công trường được đổi tên “Công trường viện trợ Quốc tế”, với một công trình kiến trúc mới: một hồ nước rộng, ở giữa có một vọng đài, và đặc biệt là một bia đá cao trên 20m, khắc tên những đồng minh của “chế độ Việt Nam cộng hòa” đã có công viện trợ tiền, của, súng đạn cho chính quyền Sài Gòn. Cái tên Công trường viện trợ quốc tế nghe dài ngoằng, khó nhớ, nên dân Sài Gòn lại đặt cho nó cái tên khác: Hồ Con Rùa, bởi bên dưới cái bia đá có đúc một con rùa thật to (kim quy đội bia). Cho mai đến sau này, cái tên “Hồ Con Rùa” gần như là tên chính thức.

Về cái “Phủ đầu rồng” tức Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất), khởi thủy do người Pháp xây, dùng làm Dinh Toàn quyền. Lễ đặt viên đá xây dựng đầu tiên vào ngày 23 tháng 2 năm 1863, hoàn thành sơ bộ vào năm 1869. Mãi đến năm 1875, mới hoàn tất phần trang trí bên trong. Viên Toàn quyền Đông Dương (người Pháp) ngụ ở đây, do đó được đặt tên là Dinh Toàn quyền, nhưng người Sài Gòn quen gọi nó là Dinh Norodom, có lẽ vì dinh này nằm trên đường Norodom (nay là đường Lê Duẩn). Sau đó, dinh dành cho Quốc trưởng và Tổng thống. Đến năm 1961, trong cuộc chính biến giữa Ngô Đình Diệm với các phe phái, Dinh Độc Lập bị hai phi công của phe đối lập ném bom, phá hủy một phần lớn. Ngô Đình Diệm chuyển “Phủ Tổng thống” sang Dinh Gia Long (đây là Dinh phó soái trước kia), và cho xây lại dinh mới (do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ kiểu và chỉ huy xây dựng, hoàn thành khoảng giữa thập niên 60, duy trì mãi đến nay).

Gần Dinh Độc Lập có Vương cung Thánh đường (thường gọi là nhà thờ Đức Bà). Nơi này trước khi xây ngôi thánh đường (khởi công ngày 7 tháng 10 năm 1877) nguyên là “Công trường Đồng Hồ” (Place de l’Horloge), nơi đặt một đồng hồ lớn, bốn mặt. Cách nhà thờ Đức Bà hơn 500m, nằm trên đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi), có “Nhà hát lớn”, xây dựng vào năm 1898, khánh thành ngày 1 tháng 1 năm 1900.
Đối diện với Dinh Độc Lập, ở đầu kia đường Norodom, ngay từ năm 1864, người Pháp đã cho lập Vườn Bách thảo (sau này nuôi thêm thú, nên đổi tên là Thảo Cầm Viên). Cách đó 500 mét là Thủy xưởng (Arsenal), sau đổi thành xưởng Bason.

Dân Sài Gòn quá quen thuộc với Cầu Bông (vùng Đakao), nhưng chắc ít người biết trước kia nó có tên là cầu Cao Miên (vua Cao Miên thời trước thường ngự ở đây thưởng hoa, do hoa được trồng chung quanh nhà thủy tạ dựng ở nơi xây cầu ngày nay), sau đổi lại là Cầu Hoa. Qua thời Minh Mạng, vì kỵ húy tên một bà phi của vua (bà này tên Hoa) nên cầu được đổi thành cầu Bông.
Cầu Kiệu (nối đường Hai Bà Trưng với Phú Nhuận) nguyên có tên là “Cầu Xóm Kiệu”, bởi nơi đó, vào thời kỳ đầu thành lập Sài Gòn, là chỗ trồng và trữ kiệu (củ kiệu) cung cấp cho toàn thành phố.

Cầu Kiệu bắc ngang qua con kênh mà sau này ta gọi là kênh Nhiêu Lộc (nối theo rạch Thị Nghè). Truy ra thì Nhiêu Lộc là tên vị quan nhà Nguyễn có công xây dựng thành phố Sài Gòn thuở sơ khai (có mộ chôn ở vòng rào sân bay Tân Sơn Nhất). Còn rạch Thị Nghè, là lấy tên con gái của ông Nguyễn Cửu Vân. Nguyên chồng bà này là một ông Nghè (đỗ nghè) giữ chức lại mục trong dinh Tả quân Lê văn Duyệt. Do thương chồng, hàng ngày phải từ nhà bên kia sông (phía làng Thanh Mỹ, chợ Thị Nghè ngày nay) đi làm ở trung tâm thành phố, nên bà đã xuất tiền riêng làm một cây cầu gỗ ngang qua sông, dân chung quanh gọi là cầu Bà Nghè, sau đổi thành Thị Nghè, về sau, cầu được xây dựng thành cầu đúc kiên cố.
Cũng ở gần Thị Nghè, có nơi gọi là Văn Thánh. Nơi này theo tài liệu của ông Trương Vĩnh Ký thì là miếu thờ Đức Thánh Khổng Phu Tử, gọi là Văn Thánh Miếu. Hiện nay không còn dấu vết, chỉ còn địa danh Văn Thánh.

Lăng Ông ở Bà Chiểu là mộ phần và nơi thờ cúng Tả quân Lê văn Duyệt. Ông Lê văn Duyệt từ trần năm 1832, đến năm 1835, do con nuôi là Lê văn Khôi làm loạn, nên bị vua Minh Mạng trị tội bằng cách san bằng ngôi mộ, trên nấm mộ còn bị xích sắt. Mãi đến năm 1848 mới được vua Tự Đức ân xá, cho xây lại như mộ cũ, còn đến hiện nay.

Còn địa danh Lăng Cha Cả là để chỉ nơi phần mộ của Bá Đa Lộc (Évêque d’Adran), nằm ở đầu đường Trương Minh Giảng (nay là Lê văn Sỹ) và Võ Tánh (nay là Hoàng văn Thụ), chỉ còn lại cái tên gọi do quen miệng.

Trở lại trung tâm Sài Gòn, nơi trước đây gọi là nhà thương Đồn Đất (hay là Hôpital Grall), nguyên buổi đầu đó là Hôpital Militaire (Dưỡng đường quân sự), sau đổi là Grall, dành cho người Pháp, sau dần dần thu nhận cả người Việt (ngày nay là Bệnh viện nhi đồng 2).

Vườn Ông Thượng (nay là công viên văn hóa Tao Đàn), vốn xưa kia là “Ngự Hoa Viên” của thượng công Tả quân Lê văn Duyệt (thuở chưa xây Dinh Độc Lập, thì biệt thự của bà phu nhân Lê văn Duyệt nằm lọt trong vòng rào dinh sau này. Thời đó, oai danh của ông Lê văn Duyệt ở Sài Gòn - Gia Định rất lớn, nên những nơi nào lớn, đẹp thường được mang chức danh của ông. Gọi là Vườn Ông Thượng là vì thế. Còn một tên nữa, đó là “Vườn Bờ-rô”. Về tên gọi này, cho đến nay vẫn chưa có ai giải thích chính xác là xuất xứ từ đâu? Theo một số giả thuyết do cố học giả Vương Hồng Sển ghi lại, thì có những từ được nghi là xuất xứ của “Bờ- rô”: préau (sân chơi ở trường học hay tu viện), hoặc do chữ Moreau, lại có người cho rằng Bờ-rô chính là chữ pelouse (bãi cỏ) mà ra. Xem ra, thuyết sau cùng này có lẽ đúng hơn (pelouse = bãi cỏ).

Trước 1960, trường Y Khoa Sài Gòn còn đặt tại số 28 Tastard (nay là Võ văn Tần), tức chỗ Nhà trưng bày tội ác chiến tranh hiện nay. Còn chỗ câu lạc bộ Phan Đình Phùng thì vốn là một vườn hoa mang tên Công viên Vạn Xuân.

Khám đường Sài Gòn trước năm 1950 tọa lạc tại số 69 đường Lagrandière (nay là Lý Tự Trọng), tức chỗ khu vực của Thư viện quốc gia sau này.
Trường trung học Lê Quí Đôn ngày nay, xưa kia là trường học dạy cho con em người Pháp và các nhân vật bản xứ có quốc tịch Pháp, dân nhà giàu, được gọi là trường Chasseloup - Laubat, sau đổi lại là Jean Jacques Rousseau.

Chợ Bến Thành trước khi được xây dựng (1913) nguyên là một ao sình lầy rộng lớn chạy dài qua gần cầu Ông Lãnh, người Pháp đặt tên là Marais Boresse (Đầm Bồ-rệt), sau được san lấp và cất chợ, để thay thế ngôi chợ cũ ở vùng Hàm Nghi - Phủ Kiệt sau này. Gọi là Bến Thành là vì cất trên bến trước cổng thành Sài Gòn.

Khu vực chợ Đũi có từ xa xưa, vốn hồi đó là nơi chuyên bán đũi, lụa, phạm vi của chợ gồm khu Boresse lên tới đường Richaud (nay là Nguyễn Đình Chiểu) xuống tới ga xe lửa (gần nhà thờ Huyện Sĩ).

Vùng bờ sông có cầu Ông Lãnh. Đây là chức danh của ông Lãnh binh triều Nguyễn. Còn cầu Muối thì do nơi đó xưa ở bến đậu thuyền, trên bờ có nhiều vựa muối, nên lâu ngày thành danh là chợ cầu Muối.

Cách đó không xa là Cầu Kho. Có tên này là do từ thế kỷ XVII, nơi đó có nhiều kho chứa lương thực để cung cấp cho toàn thành phố, ngày nay vẫn còn một số dấu tích.

Phía trên, đường Frèvre Louis (nay là đường Nguyễn Trãi) có thành ô-ma camp des Mares), nơi đó thời Gia Long, Minh Mạng còn là chốn ao, vũng, cây cối hoang vu. Qua thời Pháp, quân đội Pháp dùng làm doanh trại, nên gọi là Camp des Mares (trại binh vũng lầy), sau 1954 là “Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia” Sài Gòn.

Về địa danh “Đồng Tập Trận” (Pleine des tombeaux), được ghi nhận là trọn con đường Lý Thái Tổ và vùng phụ cận ngày nay, chạy dài lên tận khu vực gọi là Mả Ngụy (nay là hồ Kỳ Hòa và một phần đường 3-2). Tuy gọi là Đồng Tập Trận, chứ thực sự đó là bãi tha ma, nơi để bắn xử tội nhân. Ở gần đó, chỗ Ngã Bảy (sau rạp hát Long Vân) có ngôi nhà xưa mà thời trước gọi là “Vườn Bà lớn” hay “Vườn xoài” là biệt thự của phu nhân Tổng đốc Phương (tức Đỗ Hữu Phương).

Tên gọi Chợ Quán là bởi xưa kia dân chúng họp chợ dưới những cây me đại thụ (gần bệnh viện Chợ Quán ngày nay), chung quanh có nhiều quán lều buôn bán tấp nập. Lâu dần thành tên, đến ngày nay tên Chợ Quán vẫn còn đó.

Ở Sài Gòn cũng có Chợ Hôm, Chợ Mai như Hà Nội. Chợ Mai ở vào khu vực chợ Nancy hiện nay, xưa ở đó có con rạch gọi là rạch Bà Đô (sau lấp đi, chỗ Trần Hưng Đạo - Nguyễn văn Cừ). Còn Chợ Hôm thì hình như ở gần chợ Hòa Bình hiện thời. Một nơi bán sáng, một nơi họp chợ vào buổi tối.
Đi sâu vào Chợ Lớn, có những địa danh nghe rất lạ như cầu Chà Và, chợ Xóm Củi. Gọi là cầu Chà Và vì xưa kia (thời Tây mới qua) có một số người gốc Java cư ngụ, chuyên bán vải, nên lâu ngày nơi đó được dân địa phương gọi là cầu Chà Và (Java). Còn Xóm Củi là vì nơi ấy là vựa củi lớn nhất của thành phố.

Nơi được xem như trung tâm đô thị ngày xưa của Chợ Lớn, đó là khu phố Quảng Tông Cái (Quảng Đông Nhai), tên Pháp là Rue de Canton (đường Quảng Đông). Thời trước, các nhà buôn lớn của người Hoa đều tập trung ở đó.
Chợ Lớn còn có những địa danh như cầu Xóm Chỉ (chuyên kéo chỉ), kênh Tàu Hủ (Arroyo Chinois) là con kênh nối liền đường thủy từ Bến Nghé (Sài Gòn) vào tận Chợ Lớn. Trên kênh này có những cây cầu như cầu Ông Lớn (Ông Lớn là gọi một cách tránh né tên tộc của Đỗ Hữu Phương), cầu Lò Gốm, Lò Siêu (sản xuất gốm, siêu) và đặc biệt có “kênh Vòng thành” (Canal de Centure). Kênh Vòng thành là một dự án táo bạo của Pháp thuở mới chiếm Sài Gòn. Thời ấy, Đô đốc Bonard truyền cho kỹ sư Coffyn vẽ họa đồ con kênh đào từ rạch Chợ Lớn đi vòng lên đồn Cây Mai, đi thẳng ra Đồng Tập Trận, xuyên tới tận Cầu Kiệu, tạo ra một con kênh vành đai, bao bọc Sài Gòn - Chợ Lớn vào giữa như một ốc đảo (có lẽ nhằm mục đích để kiểm soát và phòng thủ?). Họ huy động đến 40.000 nhân công để đào con kênh, ngang 20m, sâu 6m, dài trên 6km. Tuy nhiên, do một số yếu tố khách quan, nên dự án bị bỏ dở, kênh chỉ đào được một đoạn phía Chợ Lớn đến đồn Cây Mai (sau này đã bị lấp mất).

Còn một con kênh nữa, từng có nhiều dấu ấn, đó là rạch Phố Xếp, tức chỗ ngã tư Tổng đốc Phương (nay là Châu văn Liêm) và Khổng Tử (xưa có tên Gaudot, rồi Bonhoure, hiện nay là Hải Thượng Lãn Ông). Trên bờ con kênh này có ngôi nhà rất to của ông Thông Hiệp Quách Đàm (chủ chợ Bình Tây), sau kênh bị lấp, ngôi nhà và cả ông chủ cũng đi vào quá khứ. Ngoài những địa danh kể trên, Sài Gòn - Chợ Lớn còn rất nhiều những địa danh khác nữa. Phần nhiều mang tên làng, thôn, xã, ấp thời xưa như Phú Thọ, Bình Quới, Phú Lâm, Tân Bình, Tân Sơn Nhất, Tân Sơn Nhì, Khánh Hội, Nhà Bè... có địa danh còn lưu lại đến ngày nay, có nơi đã biến dạng, bị xóa tên, nhường cho các công trình mới, địa danh mới...

Con đò Thủ Thiêm

Dân cựu trào Sài Gòn đều thuộc lòng hai câu hò rất quen thuộc:

“Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm”.


“Con đò Thủ Thiêm” thường ví các cô gái tuổi đời chưa quá 20, ngày ngày chèo những chiếc đò ngang, đưa đón người qua lại giữa hai bên bờ con sông Sài Gòn, đoạn chảy qua bến chợ của thành phố Sài Gòn, mà người Pháp thời đó đọc là Pinghe, tức Bến Nghé. Thủ Thiêm là tên một làng, tuy chỉ cách trung tâm Sài Gòn chưa đầy năm trăm mét, nhưng ngày xưa đã được xem như là “Xóm nhà quê”.

Chính cái xóm nhà quê đó lại luôn là cầu nối giữa một bên là chốn phồn hoa đô hội, đang trên đà phát triển kể từ buổi khởi đầu, khi có cuộc Nam tiến của ông cha ta vào những ngày tháng lịch sử; và bên kia, dọc theo bờ sông nơi những lưu dân từ mọi miền đất nước tựu về tìm kế sinh nhai. Nơi ấy hàng ngày cung cấp cho đô thị Sài Gòn hàng ngàn thợ thuyền, những người ít học, nghèo tiền, nhưng lại tràn đầy sức lực, chịu thương chịu khó, góp phần cho hoạt động của các cơ xưởng như thủy quân công xưởng (Arsenal) - sau này là xưởng Bason - Sở thùng (sở vệ sinh), Nhà đèn (nhà máy điện chợ Quán).

Con đò Thủ Thiêm đóng vai trò quan trọng và gây nhiều ấn tượng, bởi vì Sài Gòn xưa đường bộ ít, xe cộ chưa nhiều (ngày đầu chủ yếu là xe thô sơ, xe ngựa...) nên chưa có cái mà sau này người ta gọi là “bến xe”. Thử tưởng tượng nếu thời ấy không có những con đò nhỏ qua lại bến sông Thủ Thiêm, thì người hai bên đi lại bằng gì? Hai bên tuy cách nhau một dòng sông, vậy mà khác nào vạn dặm trùng dương. Hai câu hát trên đã ngụ ý nói rằng, dù ai có làm gì, nói gì, con đò Thủ Thiêm vẫn cứ đưa, vẫn muôn thuở cần cho mọi người... Theo ông bà kể lại thì thuở xưa, bến đò phía bên Sài Gòn chưa được xây kè và cầu nổi lên xuống như ngày nay, mà chỉ là một bờ sông đất, có tạo những bậc lên xuống lót bằng ít đá xanh. Buổi đầu, từ cuối thế kỷ XVII đến những năm đầu thập niên 10-20 của thế kỷ XVIII, bến đò Thủ Thiêm đặt ở hai nơi: một ở chỗ cột cờ Thủ Ngữ, còn bên kia ở gần xưởng Bason. Sau đó, có lệnh của quan Tổng trấn Gia Định, dồn hai bến làm một, đặt chỗ lên xuống ở bến phà hiện giờ. Lý do của việc di dời này được kể lại rằng: Ngày đó, tại bến sông Sài Gòn (bến Bạch Đằng ngày nay) ở đầu kia (đường Loro - sau đổi là Cường Để và hiện thời là đường Tôn Đức Thắng) quá gần với cổng thành Sài Gòn (nằm ở khoảng đường Lê Thánh Tôn và Tôn Đức Thắng hiện nay), còn đoạn gần cột cờ Thủ Ngữ thì thuở ấy có xây hai tòa nhà trên sông, dành cho vua, gọi là Thủy Các và Lương Tạ. Nhà xây trên bè tre, theo kiến trúc Đông phương, kiểu dáng cung đình Huế.

Theo tài liệu của cố học giả Vương Hồng Sển, thì ngày xưa, chỗ bến sông từ Thủy xưởng (Arsenal) đến cột cờ Thủ Ngữ được gọi chung là “Bến Ngự” (nơi vua ngự vui chơi, hóng mát), xuất phát từ tiếng Cao Miên gọi là Compongluong (người Việt ta âm ra là Tầm Phong Long) cũng có nghĩa là “bến vua”. Vốn nơi này là chỗ dành riêng cho vua, quan và giới quý tộc ngày xưa lui tới, hóng mát giải sầu... Đối diện với Bến Ngự là xóm Thủ Thiêm, hay còn gọi là xóm Thủy hoặc xóm Tàu Ô. Về hai địa danh này được giải thích rõ như sau: nguyên chỗ đối diện với Thủy xưởng (Arsenal), phía bờ Thủ Thiêm, khi người Pháp chiếm Sài Gòn, họ đã vừa lập Arsenal, vừa lập Thủy Trại, là nơi chuyên đóng tàu chiến. Dân địa phương đặt xóm đó là “xóm Thủy Trại”, sau đọc ngắn lại là “xóm Thủy”. Còn từ “xóm Tàu Ô” là bởi vùng bờ sông Thủ Thiêm thuở người Pháp chưa đến chính là căn cứ địa của nhóm thương lái kiêm hải tặc đường biển gốc Tàu (Hoa) di chuyển trên những chiếc thuyền, buồm toàn một màu đen (nên gọi là Tàu Ô). Bọn này quy thuận chúa Nguyễn, được đặt cách cho sinh sống ở vùng Đồng Nai (Cù lao Phố) và vùng Gia Định, Sài Gòn (do việc này mà vùng Đề Ngạn - sau gọi là Chợ Lớn - mới thành nơi tập trung toàn người Hoa). Nhóm Tàu Ô cũng dùng Thủ Thiêm làm bàn đạp, quậy phá thành phố Sài Gòn. Sau này, khi người Pháp đã làm chủ thành phố, họ vẫn còn sợ sự quấy nhiễu đó, nên luôn đặt lực lượng hải quân trong tình trạng phòng thủ. Những khẩu đại pháo mà hiện nay ta còn thấy đặt ở dọc bờ sông trước doanh trại hải quân gần Bason và ở vài nơi khác, là tàn tích của công cuộc phòng thủ thời ấy.

Khi xóm Tàu Ô tan rã, những chiếc thuyền với cánh buồm đen không còn nữa, thì Thủ Thiêm trở lại cuộc sống bình nhật của nó. Song, do bị ảnh hưởng bởi một thời gian dài sống chung với bọn cướp biển, nên dù muốn dù không, dân địa phương cũng chịu ảnh hưởng phần nào. Cộng thêm vào đó, các lưu dân từ khắp nơi tụ về, chuyên sống bằng nghề sông nước, cũng là nguyên nhân làm cho vùng Thủ Thiêm thêm đậm sắc đặc trưng là vùng “Thủy Trại” (một cách ám chỉ nói Thủ Thiêm là nơi quy tụ dân hành nghề hắc đạo bằng đường thủy). Người ta kể nhiều giai thoại về nghề “thủy tặc” ở một bên bờ sông của Sài Gòn này. Năm 1898, viên thuyền trưởng tàu buồm Hà Lan, sau một tuần cập bến Sài Gòn, khi về nước kể lại và sau đó được một báo ở Paris đăng tải. Chuyện rằng, vào một đêm, khi ông ta đang ngủ trong phòng riêng ở chiếc tàu của mình, bỗng nhìn thấy một bóng đen len lén bước vào. Ông choàng dậy định kêu lên, vì cho rằng hắn là kẻ trộm, nhưng bóng đen đó ra dấu thân thiện và lên tiếng khe khẽ như trấn an. Lúc đó, vị thuyền trưởng mới vỡ lẽ thì ra là một cô gái người bản xứ. Cô ta rất bạo dạn, bước thẳng tới chỗ ông và sà ngay vào lòng, gợi ý một chuyện mà bất cứ người đàn ông nào cũng biết. Đến khi trời gần sáng, lúc choàng tỉnh giấc, viên thuyền trưởng mới hay rằng cả tài sản trong túi quần của ông ta đã không cánh mà bay cùng với cô gái lạ! Một vài tàu khác, khi neo đậu ở đoạn sông Thủ Thiêm, cũng đều gặp những vị khách không mời: họ leo lên từ dưới nước, sau khi cuỗm vài món đồ rồi nhảy xuống sông, lặn một hơi tới bờ bên kia. Lực lượng “thủy tặc” vùng Thủ Thiêm có tay nghề cao siêu hơn so với nhiều nơi. Theo nhận xét của các thủy thủ nước ngoài, thì dân Thủ Thiêm còn “trên cơ” dân cảng Aberdeen ở Hồng Kông.

Tuy nhiên, dân “thủy tặc” Thủ Thiêm có một truyền thống rất đặc biệt: lấy của chứ không hại người. Điều này được chính các thủy thủ nước ngoài xác nhận. Họ kể rằng, các thủy tặc sau khi lẻn lên tàu, đột nhập vào các phòng riêng, lấy trộm vài thứ rồi rút đi ngay. Lỡ gặp người, họ chỉ chống cự để thoát thân, khi không thoát được thì chấp nhận cho bắt giữ, không bao giờ dùng hung khí để chống trả. Điều này có người cho rằng, bởi họ tin tương, dù có bị bắt thì 30 giây sau, khi được giao lại cho lực lượng an ninh bến cảng hay tuần tra đường sông, họ cũng sẽ được thả dễ dàng... Cho nên, họ không cần phải vay “nợ máu”.

Vào những năm toàn dân ta kháng chiến chống Pháp, những con đò nhỏ qua lại bến Thủ Thiêm đã từng vận chuyển cán bộ, vũ khí từ An Khánh, Thủ Thiêm vào nội thành Sài Gòn. Có người kể lại rằng vào năm 1948, trong một đêm mưa gió, có một con đò chở đầy tài liệu và vũ khí đưa từ bờ Thủ Thiêm sang Sài Gòn, khi đò sắp cập bến, cô lái đò phát hiện trên bờ có bọn “lính kín” mai phục. Rất bình tĩnh, cô lật ngay chiếc đò cho chìm, còn cô thì như một con rái cá, lặn một mạch mất dạng! Từ đó, bến đò Thủ Thiêm và những người chèo đò luôn là mục tiêu theo dõi của cảnh sát, mật vụ. “Bắp non mà nướng lửa lò, đố ai ve được con đò Thủ Thiêm”, quả đúng với truyền thống của vùng bến đò lâu đời này. Ngày nay, dù bên cạnh bến đò ngang đã có một bến phà hiện đại hơn, phà lớn, chạy nhanh, chở được cả người lẫn xe cộ, nhưng người đi lại vẫn còn thích dùng những con đò nhỏ chèo tay, hay sử dụng máy “đuôi tôm” Lohler. Cách đây gần 40 năm, khi Sài Gòn còn bị tạm chiếm, có tin đồn chẳng biết xuất xứ từ đâu, rằng Nhà nước sẽ dẹp bỏ hai thứ ở bến Bạch Đằng, đó là cột cờ Thủ Ngữ và bến đò Thủ Thiêm, vì xét ra không còn cần thiết nữa. Dạo đó, nhiều người bàn tán xôn xao, đa số đều lo lắng, nhất là dân sống nhờ những con đò. Song, rất nhiều người khác am tường hơn, đã dám tiên đoán chắc nịch: “Dẹp cái gì thì dẹp, nhưng hai thứ đó vẫn còn mãi!”.
Sài Gòn “thời Trần”

Nhắc lại chuyện Sài Gòn xưa mà không ghi lại chuyện Sài Gòn “ăn” là một điều thiếu sót. Bởi vì, ngay từ thuở những di dân đầu tiên đến định cư và tạo nên một Sài Gòn ngày càng lớn rộng văn minh, cái ăn, cái mặc là những cái đi đầu. Thế cho nên thường ở cửa miệng nhiều người có câu: “Lo cái ăn rồi lo cái mặc”. Và không hiểu do đâu và từ bao giờ, những món ăn nổi tiếng, đặc trưng của Sài Gòn thường gắn thêm biệt danh: “Đệ nhất thời Trần”.
Sài Gòn cùng giống như đa phần những miền đất phương Nam, phần nhiều những mặt của đời sống đều mang âm hưởng của nơi xuất phát, tức gốc rễ của các lưu dân. Tuy nhiên, về “văn hóa ẩm thực” thì lại có khác. Vì thế, nhiều người am tường phong cách Sài Gòn đã kết luận: nghệ thuật ẩm thực của người Sài Gòn không cầu kỳ, tinh tế như miền Bắc hay nặng tính cung đình như Huế, mà mang đặc trưng của món ăn thực dụng, mộc mạc và đậm đà.

Bánh xèo - “Đệ nhất thời Trần”

Khi nói rằng bánh xèo là món “đệ nhất” của Sài Gòn, thì nhiều người phản đối, cho là không đúng, bởi bánh xèo là một món ăn rất bình thường, đâu có gì gọi là đặc trưng hay “thời Trần”? Nhưng, cái “đệ nhất” của bánh xèo là ở mặt khác.

Còn nhớ, vào thập niên 1950 - 1960, tại đường La Caze (nay là Nguyễn Tri Phương) có một quán ăn chuyên bán đặc sản Nam Bộ có tên: quán Hoa Lý. Đứng đầu thực đơn là món bánh xèo, rồi kế tiếp là chả giò, mì cuốn, bún, bánh đập, chạo tôm, bánh tằm bì... Bố tôi là khách hàng ruột của quán, nên có lần ông kể: “Hoa Lý thành danh là nhờ món bánh xèo. Ở Sài Gòn, nếu kể về ‘nghề bánh xèo’ thì quán Hoa Lý đi đầu, không đâu sánh bằng”.

Sau này, khi có dịp tiếp xúc với người đang kinh doanh quán Hoa Lý (thuộc thế hệ con cháu của người sáng lập) tôi được biết thêm nhiều điều khá lý thú về món bánh xèo và phong cách kinh doanh của quán ăn đó. Theo lời kể của con cháu chủ nhân, ngay từ thập niên 30, khi Sài Gòn còn nhiều món ăn do người Pháp, người Hoa nấu, thì một người Việt Nam gốc miền Tây đã dám đứng ra cạnh tranh bằng chính món ăn dân tộc mình, mở quán ngay vùng trung tâm Hoa kiều (đường Nguyễn Tri Phương). Lúc đầu, nhiều người cho rằng quán ăn “đi lạc đường” đó sẽ sớm dẹp tiệm. Nào ngờ, lúc khai trương, nó đã đông khách.
Món bánh xèo và “bạn hữu” của nó đã sớm chinh phục người Hoa Chợ Lớn. Họ đã thích thú ăn với nước mắm pha chế, thay vì chỉ quen dùng xì dầu như từ bao giờ.

Nói về bánh xèo, cần ghi nhận thêm điều này: cách chế biến bánh xèo của Sài Gòn có chút biến đổi, so với các nơi khác ở miền Nam. Bánh xèo Sài Gòn với nhân gồm tôm (tép) để nguyên con, thịt ba rọi (ba chỉ) xắt mỏng, thêm giá và tráng lớp trứng. So với nơi khác thì là tôm băm nhuyễn, củ sắn và đậu xanh nguyên hạt. Về rau ăn kèm, người Sài Gòn ăn bánh xèo với rau thơm, xà lách, nhưng đặc biệt có thêm cải bẹ xanh. Một dân sành ăn giải thích rằng: “Bánh xèo là món ăn nhiều mỡ, dễ ngán, nên khi ăn kèm với dưa chua trong nước mắm, mùi thơm của rau và đặc biệt là vị đắng của cải bẹ xanh sẽ làm cho vị được kích thích hơn, khoái khẩu hơn...”.

Suông - Món bún cao cấp

Có lẽ chỉ có Sài Gòn mới có món ăn gọi là “suông” này. Đây là món bún, na ná như các loại bún khác ở Nam Bộ như bún nước kèn (nấu với cá), bún Rạch Giá (bún nước lèo, gồm tôm, thịt, cá...)... Song, bún suông lại là món ăn được chế biến riêng tại Sài Gòn. Có thể gọi đây là bún cao cấp, nhất là thời nay khi nó nấu với tôm! Thông thường trong mỗi tô bún hay hủ tiếu, người ta chỉ điểm thêm một hay vài con tôm loại vừa, chứ ít khi dùng toàn tôm như trong món suông. Tôm được giả nhuyễn, giống như cách làm chạo tôm, “suông” được người ăn tán thưởng bởi hương vị ngọt ngào đặc biệt của nó. Ở Sài Gòn có một nơi mà vào thập niên 1960 - 1970 được nhiều người nhớ đến mỗi khi muốn ăn món suông: nhà hàng Thanh Thế (ở góc đường Nguyễn Trung Trực - Tạ Thu Thâu). Thợ nấu ở Thanh Thế có một bí quyết riêng, nên món “suông” của họ luôn được người sành ăn ưa chuộng.
Vào thời điểm trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, Sài Gòn đã biết đến món “suông”. Theo truyền khẩu thì người sáng chế ra món ăn đó là ông chủ khai sinh ra nhà hàng Thanh Thế.

Chạo tôm - Món ăn đãi khách

Là một trong những món “ăn chơi”, song chạo tôm lại rất ít được đưa ra các bữa ăn thông thường. Thứ nhất, bởi vì đó là món ăn được chế biến khá cầu kỳ, cộng thêm vài bí quyết và đặc biệt là rất... tốn tiền, bởi nó làm toàn bằng tôm. Mà phải là tôm lớn, đắt tiền. Người ta gọi chạo tôm là món ăn đãi khách bởi vì thế. Chỉ những khách quý mới được mời ăn món “thời Trần” đó. Mà các nhà hàng ở Sài Gòn không phải nơi nào cũng có chạo tôm, hoặc nếu có thì chưa chắc đã ngon, đã đạt yêu cầu của một món ăn thuộc hàng “quý tộc”. Từ năm 1950, tại vùng ngoại ô Sài Gòn, quán Đồng Quê (Phú Định) đã khẳng định mình là một trong những quán tiên phong thực hiện thành công món chạo tôm. Đồng Quê được xem như tiêu biểu cho món ăn đặc sản ở Sài Gòn trong những năm từ 1950 đến mãi về sau này...

Các món thịt bò

Người Sài Gòn trước đây không chuộng cách ăn thịt bò tái, có lẽ phở Bắc sau này được “Sài Gòn hóa” và được dân Bến Nghé khoái khẩu, thực sự “nhập cư” Sài Gòn vào đầu thập niên 40, qua một con đường vòng: Từ Hà Nội, phở theo chân một nhóm thợ mộc gốc Bắc vào vùng Thuận An (Lái Thiêu), Thủ Dầu Một, để rồi sau đó nhập vào Sài Gòn và chinh phục được dân Nam.
Năm 1954, khi có số đông người miền Bắc đến sinh sống tại Sài Gòn, người dân ở đây mới thực sự làm quen với phở Bắc. Những nơi vang danh thuở đó như phở Minh (hẻm rạp Casino Sài Gòn), phở 79 đường Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi), sau đó mới có phở Huyền, Hòa Pasteur, phở gà Hồng Hương (Nguyễn Thiện Thuật), phở Bình, phở Hiền Vương (nay là Võ thị Sáu). Một thế hệ mới người Sài Gòn lớn lên sau 1954 đã quen dần với món thịt bò theo kiểu Bắc. Họ chấp nhận theo phong cách ăn của hai miền. Nhưng dù sao thì dân nặng theo cái “gu” Sài Gòn vẫn khoái khẩu những món bò như chả đùm, bò nướng lá lốt, bò cuốn mở chài, bò đớp, bò viên... Trong thực đơn gọi là “bò bảy món”.

Các món cá

Sài Gòn là thủ phủ của miền Nam, cho nên cá, tôm là thức ăn chính. Và cá được chế biến đa dạng. Một trong những món ngon từ cá ở Sài Gòn là cá lóc nướng trui. Từ giữa thập niên 50 (khoảng 1954), nếu bạn nào sống ở Sài Gòn, ắt phải biết tới quán Biên Thùy, khu vực cầu Ông Lãnh. Nơi đây là chợ cá đồng nổi tiếng, nên người nghĩ ra việc mở quán ăn với thức ăn toàn cá, tôm là một sáng kiến hay. Bạn có thể tìm tới để thưởng thức món cá lóc nướng trui thơm, giòn và ngọt lịm, vì cá luôn tươi, sống, khách thích con nào cứ chỉ vào thùng, sẽ được chiều ngay. Dân sành ăn đều đồng ý rằng, con cá lóc ăn ngon nhất là món “nướng trui”. Quán Biên Thùy nướng cá bằng lửa than, chứ thật ra, đúng điệu phải nướng bằng rơm: xiên con cá bằng một cây que, rồi dựng đứng con cá lên (cắm một đầu que xuống đất), sau đó chất rơm rạ chung quanh và đốt. Qua hai lần rơm cháy hết là chín cá. Cá nướng theo kiểu này bảo đảm ngọt thịt hơn, vì còn nguyên vẩy, nguyên nhớt, khi lửa cháy bên ngoài, tất cả chất ngọt đều rút vào thịt bên trong. Dân Sài Gòn dù sang trọng đến đâu, dù đi Tây, đi Tàu về, vẫn khoái ăn món cá nướng theo kiểu hoang dã kể trên. Một món cá nữa, cũng được kể thuộc “thời Trần” của người Sài Gòn là cá chìa vôi. Loại cá này có nhiều ở vùng Nhà Bè, nên được dân địa phương khai thác, thu hút khách sành ăn bằng cách: bắt cá thả vào ao, trên ao dựng một quán ăn. Khách có thể vừa ngồi ăn vừa chỉ bất cứ con cá nào đang lội dưới ao, chủ quán sẽ “thích thì chiều” lập tức. Gỏi cá chìa vôi được liệt vào danh mục “bát trân” (tám món ngon) của Sài Gòn.

Những món “thời Trần” huyền thoại

Gọi như vậy chỉ vì đó là những món ăn dù có thật, nhưng người bình thường ít khi gặp, ít có dịp được ăn. Những món này đúng ra là của người Hoa Chợ Lớn, nhưng đã trở thành “thời Trần Sài Gòn” từ hơn một thế kỷ qua.

Trong thực đơn của đồng bào Sài Gòn gốc Hoa, có hai món được liệt kê vào hàng “Đệ nhất kỳ Trần”, đó là óc khỉ và chân gà siêu lực. Món óc khỉ sống được “huyền thoại hóa”, nào là món ăn của Thái hậu Từ Hi, của Đại tướng Miên Canh Nghiêu (nhà Thanh), cho nên khi nằm trong thực đơn ở những cao lâu vùng Chợ Lớn đã treo giá tận trời, chỉ những tay giàu tiền của mới thưởng thức được. Món “chân gà siêu lực” nặng tính cầu kỳ và huyền thoại hơn là thực tế. Vẫn ở các cao lâu vùng Chợ Lớn, gà là món ăn không đắt tiền, nhưng do việc chế biến món này nhiều công và hơi “lập dị”, nên thực khách phải chấp nhận một mức giá khá “huyền thoại”. Một con gà trống tơ sung sức, được tắm rửa sạch sẽ (đặc biệt là đôi chân) trước khi lên “đoạn đầu đài”: cho con gà vào một cái sân rộng, có rào chung quanh, thả một con chó đã được huấn luyện trước để nó đuổi con gà chạy. Một con đuổi một con chạy, cho đến khi nào con gà kiệt sức, vừa ngã quỵ xuống, thì lập tức sẽ bị chặt phăng đôi chân và cho ngay vào một nồi súp đã nấu sẵn. Hai chân gà “siêu lực” (vì vận động đến tối đa sức lực) sẽ là món bổ dưỡng cực kỳ! Mỗi người ăn một cặp là... đã đời luôn.

Vẫn món gà đó, nhưng lại có cách chế biến thứ hai! Cho con gà lên một tấm vỉ sắt được nung cho nóng dần. Gà bị nóng nên phải chạy nhảy liên tục, cho đến lúc quỵ xuống và... “phụp” một nhát, họ chặt lấy đôi chân!

Còn có thể kể về hàng trăm món nữa, cũng đáng liệt vào “thời Trần” của Sài Gòn. Song, có lẽ chỉ vài món tiêu biểu như trên, cũng đã đủ để phác họa về phong cách ẩm thực của người dân Sài Gòn từ xa xưa đến ngày nay: Món ăn ngon không chỉ là món đắt tiền (như bánh xèo, cá nướng trui...), nhưng khi đã đắt tiền thì phải thật quý hiếm, cầu kỳ (như óc khỉ, chân gà...). Từ ba trăm năm trước cho đến giờ vẫn thế...

Sài Gòn phố cũ, đường xưa

Ngày nay, khi bạn qua lại trên những nẻo đường của TP Hồ Chí Minh, có khi nào bạn thắc mắc về “ngày xưa” của chúng? E rằng chỉ vài mươi năm nữa thôi, chẳng còn mấy ai nhớ về nguồn gốc của những nơi chốn mà cách đây vài trăm năm đã từng xảy ra bao sự kiện, bao kỷ niệm buồn vui.

Đường trên, dường dưới và đường giữa

Khi người Pháp khởi công xây dựng đường phố Sài Gòn, hình như họ chỉ chú trọng đến một khu vực thu hẹp gồm phạm vi các quận 1, 2, 3, 5 ngày nay. Cũng dễ hiểu, thời đó, thành phố Sài Gòn còn hoang sơ, làm sao đủ sức mở rộng một lúc đến 12 quận nội thành như bây giờ? Do đó, khi phóng đường, các kỹ sư đã nhắm vào các trục lộ chính đi từ Bến Thành (Sài Gòn) đến vùng Đề Ngạn (Chợ Lớn) của người Hoa. Hai trong những con đường được phóng đầu tiên là Đường Trên (Route Haute) và Đường Dưới (Route Basse). Cả hai đều do kỹ sư người Pháp Olivier de Puymanuel vẽ họa đồ.

Đường Trên khởi đầu từ ngã sáu Sài Gòn, chia làm hai đoạn chạy thẳng vô Chợ Lớn. Đoạn đầu tiên mang tên Frèvre Louis (từ năm 1954 đổi là Võ Tánh). Đoạn thứ hai mang tên Marétchal Joffre (sau đổi thành Nguyễn Trãi - ngày nay cả đoạn Võ Tánh và Nguyễn Trãi đều thống nhất mang tên Nguyễn Trãi). Con đường cắt ngang, phân chia hai đoạn của Đường Trên trước đây tên là Rue de Nancy, sau 1954 đổi là Cộng Hòa, từ 1975 mang tên Nguyễn văn Cừ. Đường Trên là con đường huyết mạch, trước kia muốn đi từ Bến Thành vào Chợ Lớn, các loại xe cộ đều sử dụng, vì nó rộng lớn và thông suốt. Trên đường đi qua, có những di tích và địa danh như nhà thờ Huyện Sĩ, thành Ô Ma (Camp des Maret).

Còn Đường Dưới (Route Basse) tức là đường mé sông, chạy từ Bến Nghé, dọc kênh Bến Nghé, chạy thẳng vô kênh Tàu Hủ (Arroyo - Chinois), ngoài tên gọi Route Basse, sau đó chính thức mang tên là Quay de Belgique (sau 1954 đổi là Bến Chương Dương và tên đó tồn tại đến ngày nay, còn đoạn thuộc Quận 5 thì mang tên Bến Hàm Tử). Cả hai con đường này, vào thế kỷ XIX, đều có đường xe hỏa chạy dọc theo, nối tận Bình Triệu, Lái Thiêu.
Đã có Đường Trên, Đường Dưới, ắt phải có Đường Giữa? Vào đầu thế kỷ XX, các nhà thiết kế đô thị đã nghĩ đến kế hoạch mở một con đường quan trọng nữa, mà ngay lúc còn là đề án, nó được đặt tên là Route Centrale (Đường Giữa). Đường phóng khá lớn (lớn nhất Sài Gòn lúc đó), rộng 30m, cho nên khi hình thành, người dân Sài Gòn quen gọi là đường Ba Mươi. Đó chính là đại lộ Trần Hưng Đạo ngày nay (thời trước, tên là Boulevard - Galliéni).

Thuở ban đầu, người ta dự tính cho con đường huyết mạch này bắt nguồn từ trước nhà hát lớn (nhà hát Thành Phố hiện nay) chạy qua trước mặt chợ Bến Thành, rồi đi thẳng vào Chợ Lớn, đúng nghĩa con đường xuyên trung tâm thành phố. Lúc đó, hai con đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ còn là hai con kênh cạn, đầy sình lầy. Khi kênh được lấp xong, chẳng hiểu vì lý do gì, nơi khởi đầu của đường 30 lại chuyển đến trước giao lộ Trần Hưng Đạo và Calmette ngày nay. Thế là đoạn kênh rộng lớn trước nhà hát lớn chợ Bến Thành được mang tên là Boulevard Bonard (đại lộ Lê Lợi từ năm 1954). Theo những người cố cựu ở Sài Gòn, Đường Giữa trước khi lấp chỉ là những kênh, ao, đầm lầy, nhà cửa thưa thớt như cảnh quê. Những thành phần cặn bã xã hội như cướp giật, đĩ điếm, thường tụ tập chốn này, nhất là khu vực kênh Bà Đô (chỗ ngả tư Trần Hưng Đạo và Nguyễn văn Cừ hiện nay). Năm 1914, đường mới được mở, còn là đường đất, chỉ có xe thô sơ lui tới, đến năm 1928 mới được trải đá và sau tráng nhựa. Lễ khánh thành rất trọng thể, đồng thời với việc khai trương đường xe điện đầu tiên ở các tỉnh Nam Kỳ. Đường xe điện này chạy theo đường ray lắp đặt giữa tim đường, suốt từ Chợ Cũ Sài Gòn đến Chợ Lớn, là phương tiện vận chuyển công cộng được liệt vào loại hiện đại nhất thời đó. Đến năm 1953, khi hợp đồng khai thác mãn hạn, chính quyền Sài Gòn nhận thấy phương tiện xe điện không còn hữu dụng nữa, đã ra lệnh dẹp bỏ.

Tên đường cũ, những kỷ niệm

Con đường ngày nay mang tên Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thời xưa có tên là Luro, từ năm 1954 đổi là Cường Để (đoạn từ xưởng Ba Son đến giáp với đường Lê Duẩn bây giờ. còn từ khúc quanh cuối xưởng Ba Son chạy đến cầu Quay, Khánh Hội, gọi là Bến Bạch Đằng). Đường Luro có xưởng hải quân (Arsenal) Ba Son, nơi Chủ tịch Tôn Đức Thắng từng làm công nhân. Ngoài ra, đó còn là địa điểm mà thời xưa, cổ thành Sài Gòn được xây dựng. Con đường lớn chạy từ cửa vườn Bách Thảo (Thảo Cầm Viên) đến trước Dinh Thống Nhất ngày trước mang tên là đại lộ Norodom, sau 1954 đổi thành Thống Nhất, hiện nay mang tên Lê Duẩn. Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, trước mang tên là Rousseau, từ cuối đường này, chỗ thông Thảo Cầm Viên, là các con đường Lagrandière (Gia Long cũ, nay là Lý Tự Trọng), l’Espagne (Lê Thánh Tôn), cạnh đó là Mossard (Nguyễn Du), Lafont (Chu Mạnh Trinh), Grall (Đồn Đất). Tất cả đều cắt ngang con đường mang tên Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng) là con đường mà đầu dưới giáp bến Bạch Đằng, nơi dựng bức tượng của Đề đốc hải quân Pháp Rigault de Genouilly, người chỉ huy chiếc tàu chiến cho quân đổ bộ đánh phá thành Sài Gòn. Tượng bằng đồng dựng năm 1879, cao nghệu trên bờ sông như một bóng ma, dân Sài Gòn gọi là tượng “Một Hình”. Năm 1945, khi nhân dân ta nổi lên giành chính quyền, sinh viên, học sinh và thợ thuyền đã hạ bệ pho tượng xuống, đem nấu chảy để đúc súng đạn bắn trả lại quân thực dân xâm lược.

Song song với đường Paul Blanchy là con đường được xem như đẹp nhất Sài Gòn qua nhiều thời kỳ, cũng là con đường được trải nhựa đầu tiên ở thành phố này, nên được dân địa phương gọi là đường Keo Su, tên chính thức là đường Catinat, ngày nay được đặt tên Đồng Khởi. Ở đoạn cuối con đường, có một khách sạn đẹp nhất mang tên Majestic, còn đầu trên của nó lại tọa lạc một địa danh, mà tới ngày nay, mỗi khi nhắc đến, người Sài Gòn còn rùng mình, đó là “bót Catinat”, nơi chính quyền thực dân giam giữ và tra tấn nhiều người Việt Nam yêu nước.

Cũng trên đường Catinat này, ngoài nhà hát lớn, còn có những nơi chốn mà người Sài Gòn nào cũng còn nhớ, như nhà hàng khách sạn Continental, nhà hàng La Pagoide (nay là Trung tâm điều hành du lịch, ở góc Lê Thánh Tôn và Đồng Khởi), Givral và Bodard. Riêng nhà hàng Givral ở góc đường Đồng Khởi và Lê Lợi, vào cuối thế kỷ XIX mang tên Café de la Musique, đến năm 1905 đổi chủ trở thành Pharmacie (hiệu thuốc tây) Solirène và sau cùng mới mang tên Givral như ngày nay. Khách sạn Caravelle mới được xây dựng vào cuối thập niên 50, do một người Pháp gốc Nga làm chủ.

Đường Nguyễn Huệ, trước mang tên lão Đề đốc Charmer, nguyên là con kênh lấp chạy từ con sông Bến Nghé lên tận Hôtel de Ville (Tòa thị sảnh) thời chính quyền Sài Gòn gọi là Tòa Đô chánh, nay là trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố. Một số người dân Sài Gòn vẫn quen gọi đường Nguyễn Huệ là đường Kinh Lấp.

Con đường lớn chạy từ Cột Cờ Thủ Ngữ (Paul de Blagueuers) lên giáp Công trường Quách thị Trang ngày nay, xưa có tên là Boulevard de la Somme (sau đổi là đại lộ Hàm Nghi). Cắt ngang Hàm Nghi và Lê Lợi là hai con đường xưa mang tên Pellerin (Pasteur) và MacMahon (rồi đổi là Charles de Gaulle), từ năm 1954 là Công Lý, hiện nay mang tên Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Khu vực chợ Bến Thành ngày nay, xưa là một vùng ao hồ nước đọng, được người Pháp gọi là Marais Boresse. Do đó, con đường Yersin hiện nay, xưa mang tên là đường Boresse (dân địa phương quen gọi là đường Bồ-Rệt). Con đường Nguyễn Thái Học trước kia có tên là Kitchener. cắt ngang Kitchener, con đường chạy thẳng lên chợ Thái Bình là đường Colonel Grinnaud, nay là Phạm Ngũ Lão. Con đường Cống Quỳnh thì trước năm 1954 mang tên Arras, nhưng trước đó nữa, vào những năm đầu thế kỷ XIX, nó mang tên Blancshubé, lại còn có tên là Đường Nước Nhỉ, bởi nơi con đường chạy qua vốn là một con kênh cạn, có khe nước chảy rỉ rả quanh năm.

Con đường lớn và dài, chạy từ cầu Thị Nghè đến giáp ngã sáu Nancy (Nguyễn văn Cừ ngày nay) đầu tiên mang tên Chasselop Laubat, rồi Hồng Thập Tự, nay là Nguyễn thị Minh Khai. Nơi đó có ngôi trường trung học nổi tiếng một thời, mang cùng tên với con đường (ngày nay là trường trung học Lê Quí Đôn), nơi từng đào tạo nhiều nhân vật nổi tiếng sau này, trong đó có cả hoàng thân Norodom Shihanouk cũng từng theo học một thời gian.
Song song với Chasselop Laubat là đường Richaud (sau đổi thành Phan Đình Phùng, bây giờ là Nguyễn Đình Chiểu), trước đây chỉ chạy từ kho đạn (Rạch Thị Nghè) đến chợ Vườn Chuối, đầu thập niên 1950 mới mở thêm đến giáp đường Lý Thái Tổ, xưa là đường Rachaud Prolongée, (Richaud nối dài). Đường Võ văn Tần ngày nay, trước gọi là đường Tastard (sau 1954 đổi lại là Trần Quí Cáp), vốn chỉ đến quá rạp hát Nam Quang một chút, năm 1953, mới kéo dài thêm đến giáp đường Cao Thắng.

Con đường dài chạy từ ngã sáu Sài Gòn đến tận ngã tư Bảy Hiền, ngày trước, thời Minh Mạng đã có, gọi là đường Thuận Kiều, qua thời Pháp được đặt tên là đường Verdun, rồi Lê văn Duyệt, đến nay mang tên Cách mạng Tháng 8. Con đường cắt ngang Verdun chạy từ ngã bảy ra cầu Phan Thanh Giản, ngày trước có tên là Lizé, còn được gọi là đường Hai Mươi, sau đổi là Phan Thanh Giản, nay là Điện Biên Phủ (đường General Lizé đầu tiên kéo dài suốt đến ngã sáu Chợ Lớn, mà sau này một đoạn mang tên là Minh Mạng, nay là Ngô Gia Tự).

Những con đường quanh Verdun Chasselop Laubat gồm có đường Léon Combe (Sương Nguyệt Anh). Duran Ton (Bùi thị Xuân) ngày trước nổi tiếng là nhửng con đường yên tịnh và có những hàng cây ven đường đẹp nhất thành phố, một thời có ngôi nhà của công tử Bạc Liêu Trẩu Trinh Qui (Ba Qui). Rồi còn có đường Comlumbier Hồ Xuân Hương) nơi có ngôi trường Colette sơn đỏ nổi tiếng.

Về phía Chợ Lớn, con đường Hùng Vương nối dài từ ngã sáu Nancy vô, trước đây mang tên Boulevard Frédéric Drouhet. Còn đường Trần Phú trước là Nguyễn Hoàng, và xưa nữa mang tên General Huntziger. Đường An Dương Vương ngày xưa chỉ chạy từ khoảng nhà thờ ngã sáu ra đến chợ An Đông, mang tên là Boulevard Thomson. Từ chỗ mũi tàu giáp với đường Trần Phú bây giờ, vào cuối thế kỷ XIX còn là con kênh chạy suốt đến đường Nancy, qua khu vực làng Thợ Đúc (Village des Fondeurs) cổ (nằm ở khu tứ giác Trần Bình Trọng - An Dương Vương - Trần Phú - Nguyễn văn Cừ ngày nay). Đại lộ Nguyễn Tri Phương bây giờ, thời Pháp có tên là Boulevard La Caze (dân quen gọi là đường La Cai), nơi kể từ lúc lập đường cho đến về sau này có truyền thống là đường phố buôn bán sầm uất, đặc biệt là dành cho người Hoa.

Và còn nhiều nữa, hầu hết đường phố của Sài Gòn, Chợ Lớn, thời xưa đều mang tên Pháp, như đại lộ Khổng Tử có tên là đường Gaudot hay là Bonheure, đường Trang Tử là Quai de Fou-Kien, Jaccaréo là Tản Đà, đường Lý Thường Kiệt đoạn quận 5 ngày nay, trước kia mang tên Maréchar Foch còn đoạn từ góc trường đua Phú Thọ chạy qua chợ Tân Bình, xưa có tên là Rue des Rochetons (thời kỳ 1954-1975 tên là Nguyễn văn Thoại)... Nếu kể hết ra đây chắc còn lâu. Chỉ xin nhắc lại một số đường phố tiêu biểu, để ít nhiều bạn có thể hình dung lại phố phường Sài Gòn thuở sơ khai. So sánh với ngày nay, chắc bạn thấy một Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh - đã thay đổi nhiều, rất nhiều...

Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa...

Những năm đầu thế kỷ này, Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ hầu như chưa quen với các loại xe có động cơ. Bởi vậy mới có mấy câu hát huê tình:
“Cúc mọc bờ ao kêu bang cúc thủy
Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa,
Viết thơ thăm hết nội nhà,
Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm em!”

Thời đó, muốn đi lại từ Sài Gòn tới các tỉnh phải dùng ghe tàu. Đi lại bằng tàu thuyền, nên khoảng cách 70 km giữa Sài Gòn và Mỹ Tho đã xem là xa lắm (xa đến nỗi chỉ có thể “viết thơ thăm hết nội nhà” chớ khó bề thăm viếng). Các tàu chở khách chạy bằng máy hơi nước đầu tiên do người Pháp đứng ra khai thác, sau đó đến người Hoa (người Việt Nam thì mãi đến những năm chiến tranh thế giới lần thứ hai mới chen chân vào lĩnh vực này!).
Vào những năm đầu thế kỷ XX đã có một chiếc xe hơi duy nhất được chở bằng tàu thủy qua Sài Gòn. Chiếc xe này vốn được một người Mỹ gốc Pháp (ông J. Whifer) đem dự triển lãm ở một nước châu Á, định chở về xứ, nhưng khi ghé bến Sài Gòn đã nổi hứng đem lên bờ và đặt tại trụ sở Port de Commerce (Sở Thương Chánh), chủ yếu để giới thiệu, chứ không lăn bánh. Chiếc Aston Martin, một loại xe rất độc đáo, đã sản xuất bằng thủ công nhưng đẹp và có tính năng ưu việt, là niềm tự hào của người Mỹ thời ấy.

Đến khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra, tại Sài Gòn đã có 14 chiếc xe hơi, chủ yếu là của Nhà nước bảo hộ dành cho các quan chức cấp cao. Mãi đến đầu thập niên 20, Sài Gòn và toàn Nam Kỳ lục tỉnh mới có gần 200 xe hơi, gồm các hiệu Delage, Panhard, Peugeot, Traction Citroen. Cũng chính thời điểm này, “dịch” chơi xe bắt đầu ở Sài Gòn. Nói là “dịch”, vì nỗi đam mê này lây lan rất nhanh như một thứ bệnh. Người mở hàng là một cự phú gốc Mỹ Tho, ông Lê Công Xuân (bố đẻ của Lê Công Phước, tự Phước George, tức Bạch công tử).
Khi ấy ông Xuân còn ở tuổi trung niên, sớm giàu lên nhờ điền sản của ông cha ở vùng Gò Công. Vào thời điểm đó, sau Sài Gòn, Mỹ Tho được kể là thành phố lớn thứ hai ở các tỉnh Nam Kỳ, do vậy những sinh hoạt ở đây cũng không thua kém Hòn ngọc Viễn Đông là bao. Đặc biệt là dân nhiều tiền của, có máu mặt, xuất phát từ Mỹ Tho nhiều hơn bất cứ nơi đâu.

Lê Công Xuân có quốc tịch Pháp, được chính quyền thuộc địa ưu ái phong cho, nên dân Mỹ Tho quen gọi là Đốc phủ Xuân. Năm 1920, khi Thống đốc Nam Kỳ sử dụng chiếc xe Panhard lộng lẫy thì hình ảnh đó lọt vào mắt xanh cùa Xuân. Ông ta tuy nhà cửa ở Mỹ Tho, nhưng lưu ngụ, ăn chơi thì tại Sài Gòn (có người nói ông ta có “phòng nhì” ở đây!). Phủ Xuân có tiếng là “chơi bảnh” nhất thời ấy, nên một khi cái gì đã “lọt mắt xanh” thì ông ta phải làm, phải có cho bằng được mới xong.

Thuở ấy, giá mỗi chiếc xe hơi không dưới một ngàn đồng (giá vàng vào khoảng 10-20 đồng/lượng), là khoản tiền nằm mơ cũng không thấy đối với một dân thường và quá sức đối với một nhà giàu bậc trung. Vậy mà Đốc phủ Xuân đã com-măng (đặt hàng) một lúc hai chiếc Panhard như vậy (giống y chang xe của Thống đốc Nam Kỳ). Ông ta dành một chiếc để đi lại khi ở Sài Gòn, còn một chiếc đưa về Mỹ Tho dành cho “lệnh bà” đi “đậu chếnh” (đánh bạc). Người dân quê ngơ ngẩn nhìn mỗi khi “xe hơi” của Xuân chạy qua. Không như ngày nay mỗi khi có ô-tô chạy về làng, thì lũ trẻ bám theo sau xe mà hò hét, chỉ trỏ. Ngày xưa, mỗi khi thấy xe chạy vụt qua, trẻ con hết hồn vía, cắm đầu bán sống bán chết mà trốn và sợ như tà ma. Đến thập niên 30, ô-tô đã khá phổ biến. Sài Gòn đã xuất hiện đầy đủ các hiệu xe, chủ yếu là của Pháp, Đức, Anh. Những chiếc xe ngựa độc mã, song mã, xe mui kiếng (kính) từng ngự trị hàng thế kỷ ở đây, đành thưa dần nhượng bộ.

Nhân đây cũng xin nói qua về thú sử dụng xe ngựa của dân Sài Gòn. Vào khoảng thế kỷ XVIII-XIX, người dân bình thường thì đi bộ, xe “thổ mộ” (do ngựa kéo, chở khách), chỉ các quan chức mới dùng các loại xe độc mã (một ngựa kéo), song mã (hai ngựa) và “xe kiếng”. Xe một ngựa dành cho các vương tôn công tử, mệnh phụ, tiểu thư đi lại. Còn xe hai ngựa thì dành chở các quan nhân mặc phẩm phục, các phú hào có quyền thế. Còn xe kiếng (xe do ngựa kéo, mui gõ, chung quanh che kính kín gió như ô-tô thời sơ khai) thì dùng đưa đón các thượng khách Nhà nước, những gia đình quyền quý. Về sau này, phổ biến hơn, xe kiếng dành chở các tao nhân quan khách, mệnh phụ tiểu thơ đi dạo quanh thành phố...

Vào gần cuối thập niên 30, Sài Gòn nổi lên những “dân chơi” có cỡ như Sáu Ngọ, Hắc công tử, Bạch công tử... cùng là lúc “dịch chơi xe” bùng nổ mạnh. Người Sài Gòn vẫn còn nhớ chuyện các chàng công tử Mỹ Tho, Bạc Liêu chơi ngông; mỗi lần đi đâu, họ thường thuê vài chục chiếc xe kéo, sử dụng chỉ một chiếc, còn chiếc kia chở... nón, cane (gậy) và số còn lại chạy xe không (nhằm diễu hành phô trương chơi). Cho nên khi có “mốt” chơi xe hơi thì mặc các chàng công tử chứng tỏ “hào khí dân chơi” của mình!

Giai thoại kể rằng Bạch công tử Phước George một hôm đã phát biểu giữa buổi tiệc có đông người: “Trước đây ông già moa đã từng chơi trội hơn Thống đốc Nam Kỳ, thì nay moa cũng sẽ cho toàn cõi Nam Kỳ lục tỉnh này biết mặt thế nào là phong cách của Bạch công tử!”. Vừa nói, anh ta vừa rút ra một tờ báo chuyên giới thiệu các kiểu ô-tô nổi tiếng thế giới, vừa chỉ vào một chiếc Rolls-Royce cực kỳ sang trọng. “Một tháng nữa, moa sẽ có chiếc xe này. Nó là độc nhất vô nhị ở Việt Nam”.

Hắc công tử Trần Trinh Qui cũng có mặt trong buổi ấy chỉ nhếch môi cười rồi quay đi.

Ngay sáng hôm sau đã diễn ra cuộc đua sắm xe hơi của hai chàng công tử. Ba Qui (Hắc công tử) tuy không tuyên bố, nhưng từ sáng sớm đã thấy anh chàng có mặt ở hãng Chaener, ôm theo một bó bạc trên một trăm ngàn đồng để đặt một chiếc Rolls-Royce. Người nhận đặt hàng từ chối bởi lý do gì đó, nhưng Hắc công tử vẫn cương quyết đặt lại cả số tiền mang theo. Trưa hôm ấy, Bạch công tử Phước George cũng có mặt cùng mục đích với Ba Qui.
Đúng một tháng sau, thay vì nhận được chiếc xe đặt mua, thì cả hai khách đều nhận một... thư cảm ơn, đồng thời cũng để từ chối bán hàng của hãng Rolls-Royce!! Lý do: Rolls-Royce chỉ bán theo một tiêu chuẩn nhất định. Ngoài tiêu chuẩn đó thì dù có mua giá nào, hãng cũng không bán! Tiêu chuẩn đó là: chỉ bán cho những nhân vật tầm cỡ thế giới. Hai chàng công tử Việt Nam chỉ còn biết bặm môi tức tối và đành bằng lòng với hai chiếc Delage, hai chiếc Traction. Về sau, Hắc công tử còn mua đến hơn chục chiếc Traction, định kinh doanh xe khách, nhưng chưa kịp làm thì phải bỏ ngang vì lý do riêng. Bảy Viễn nổi lên sau này đã “thừa hưởng” sáng kiến của Ba Qui: từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, ông ta đã tổ chức được đoàn xe khách toàn hiệu Traction chạy đường Sài Gòn - Vũng Tàu, Sài Gòn - Đà Lạt...

Có một giai thoại nữa liên quan đến Bạch công tử và cái thú chơi xe. Chuyện kể rằng, vào thời cực thịnh của mình, Bạch công tử có trong tay hàng tá giai nhân, từ cô Ba Ngoạn, Sáu Hương, đến cả những người đẹp dân chơi từ Hồng Kông, Singapore sang... Song, nghe nói chàng ta lại si tình một cô gái quê ở Mỹ Tho (từ lúc Phước George 20 tuổi, trước khi được Đốc phủ Xuân cho đi du học ở Pháp). Cô gái ấy là nữ sinh Collège Mỹ Tho, nhưng nhà ở một xã hẻo lánh trên đường về Gò Công. Đúng hơn, đây là mối tình đơn phương: chỉ chàng công tử con nhà giàu là nặng tình, còn phía nàng thì trước sau hơn chục lần đã từ chối lời tỏ tình, kể cả những món quà đắt tiền của chàng cũng bị trả lại, không hề làm lung lay trái tim người đẹp.

Khi mua được xe hơi đời mới, Bạch công tử đích thân lái về tận quê nàng, định trước là khoe của, sau nữa mong nàng có thể siêu lòng mà ban cho chàng một chút tình cảm. Nào ngờ, ông bố của cô gái vốn là một nhà nho khí tiết đã không chút động lòng trước vật chất xa hoa, trái lại còn thẳng cánh... mời khách ra về, cấm cửa không cho đưa xe hơi vào sân nhà ông! Tức khí, nhưng vốn si tình, sau đó Phước George còn đôi ba lần sai người đưa quà cáp đến biếu, cùng những lời nhắn gởi, hẹn hò nàng. Trước khi lên đường sang Pháp du học, Phước George bèn đổi sách lược. Thay vì trực tiếp diện kiến, chàng đã viết một lá thư tình tứ, trong đó đưa một đề nghị hết sức hấp dẫn: sẽ đưa nàng cùng đi Pháp du học, nếu đồng ý thì phúc đáp và lên Sài Gòn gấp, Phước sẽ đợi.

Thư gửi đi, Phước đợi mãi sáu tháng sau vẫn chưa thấy hồi âm. Ngày lên đường đã gần kề, Phước sốt ruột quá nên lại phải về quê một phen nữa. Nhưng, thật trớ trêu: khi chàng đến nơi thì cũng là lúc... lễ đưa dâu đang cử hành! Cô dâu không ai khác, là nàng. Phước bèn hỏi lá thư, nàng ngạc nhiên vì không hề nhận được, Phước George tóm lược nội dung thư cho nàng nghe khiến người đẹp hối tiếc thật sự. Nàng nói: “Gì chứ được đi Pháp thì dù ba em có ngăn, em cũng trốn đi!” (nghe mà rụng rời tay chân!). Phước rủ nàng bỏ trốn, nhưng nàng lặng lẽ đáp: “Ván đã đóng thuyền, đành thôi...”
Tới nhà “dây thép” (bưu điện) lục tìm, Phước George bắt gặp lá thư của mình nằm trong hộc tủ. Hỏi tại sao, chàng facteur (phát thư) đáp tỉnh bơ: “Thư đi như vậy là nhanh. Có cái còn phải mất cả năm!”. Như vậy đó. Thời ấy, mọi cái đều như rùa, đặc biệt là ngành bưu điện. Chẳng biết vô tình hay hữu ý mà trên thư có in hình... một con rùa chở trên lưng một đống sách nặng nề!

Từ Sài Gòn đi Mỹ Tho (70km), tàu thủy chạy gần một ngày mới tới. Không có điện thoại liên tỉnh, vào năm 1925 mới thiết lập “đường dây thép” (điện tín). Củng vào thời gian đó, đường tàu hỏa Sài Gòn - Mỹ Tho được khánh thành, toa đầu tiên được vinh dự mang tên Thống đốc đầu tiên của Nam Kỳ Le Myre de Vilers. Cha con Bạch công tử là một trong số ít người bản xứ hãnh diện sắm được xe hơi chạy về làng (từ Sài Gòn về chỉ mất 2 giờ). Nhanh là vậy, bảnh là vậy, thế mà có bức thư tình gởi bưu điện mất hơn sáu tháng chưa tới nơi!
Nhân nhắc tới chiếc xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho (dân quen gọi là “xe lửa Mỹ”) chợt nhớ tới hai câu ca:

Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành,
Tàu Tây hết chạy, anh mới đành xa em.


Có ai ngờ, năm 1955, đường sắt nối dài Sài Gòn - Mỹ Tho đã hết đắc dụng, bị phá bỏ. Còn tàu Tây (tàu thủy) thì trước đó đã vắng bóng do các tay Phú Lăng Sa cút hết về nước. Ga xe lửa trước chợ Bến Thành cũng không còn hợp thời vào những năm 60. Hai câu hát một thời gây ấn tượng cũng mất luôn tác dụng:

Mười giờ tàu lại Bến Thành.
Súp lê vội thổi, bộ hành lao xao.


Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Sài Gòn tiến bộ hơn lên, nhà cửa với xe cộ nhiều hơn, những chiếc xe từ Pháp (Peugeot, Citroën, Renault...), Đức (Mercedes, Volswagen... ). Mỹ (Ford, Dodge, Chevrolet...), Anh (Moris, Paubard, Bnetley đã tràn ngập thị trường. Sẵn máu hào phóng, các dân chơi Sài Gòn lại càng nổi tiếng về chơi xe. Trung tâm Sài Gòn không còn nhà ga xe lửa (ga Bến Thành dời về Hòa Hưng), đường xe điện chạy từ Bến Thành vào Chợ Lớn đã bị gỡ bỏ vào năm 1954. Nhưng mãi đến đầu thập niên 60, khi những hãng xe đò thi nhau ra đời, đường sá mở mang gấp đôi ba lần, nhất là khi quốc lộ 1 được nới rộng, tráng nhựa phẳng phiu, thì người ta mới chính thức quên câu hát:


Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa...
Đua chó đuổi mèo trò chơi Sài Gòn xưa


Vừa chiếm Sài Gòn, người Pháp đã bắt tay ngay vào công cuộc thay đổi bộ mặt của thành phố, với nhiều công trình xây dựng, mở mang đường sá, đô thị... Đến năm 1906, cái gọi là cờ bạc công khai mới thật sự xuất hiện ở đây. Năm đó, Pháp kiều Jean Duelos chở từ Hà Nội vào Sài Gòn tám con ngựa giống Ả Rập, loại ngựa tốt mã, lớn con, chạy đua giỏi. Mục đích của Duelos đã rõ: sẽ tổ chức loại hình đua ngựa tại Sài Gòn.

Thời ấy, dân Sài Gòn chưa hề biết kiểu đua ngựa theo cách của người Tây phương. Có chăng chỉ là nghe đồn về các cuộc đua ngựa từ Hà Nội (cũng do Jean Duelos tổ chức). Trước khi đặt chân đến Sài Gòn, Duelos đã khôn khéo cho phe cánh của mình xâm nhập trước. Những người này đã chọn vùng đất cao ở khu vực Phú Thọ Hòa để lập trường đua ngựa lần đầu tiên. Một số người Sài Gòn bắt đầu làm quen với môn chơi mới mẻ này, rồi sau đó thì say mê theo kiểu... đỏ đen. Khi đã đam mê rồi thì không thể bỏ được và kịp đến khi Jean Duelos đem ngựa từ Bắc vào, một cơn sốt đua ngựa rộ lên không thể ngờ nổi, không ai can nổi. Chỉ trong vòng sáu tháng, với gần 200 cuộc đua, con số “hiến thân” đất Sài Gòn đã tăng đến phát sợ. Nhiều người vỡ nợ, tán gia bại sản do đua ngựa. Nhưng sức đam mê thì không giảm. Duelos hốt bạc triệu đợt ấy.

Qua đến năm 1912, “đua ngựa” đã lên đến cao trào. Pháp kiều Monpezat tiếp bước Duelos làm trùm trường đua. Trường đua Phú Thọ ra đời trong hoàn cảnh ấy. Cũng vào năm này, một Pháp kiều khác, Ganesco, nguyên là con trai một nhà báo Pháp, nổi tiếng ở Paris, do bố quen thân với vị Thống đốc Nam Kỳ vừa nhậm chức là Rodier nên được gửi sang Sài Gòn phục vụ Dinh Thống đốc, chức chánh văn phòng. Nhưng giữ chức không lâu, Ganesco bỏ việc, theo nghề viết báo, bởi nhận thấy nghề báo ở Nam Kỳ đang có cơ phát triển. Nhưng cũng chẳng được bao lâu, Ganesco lại bị thu hút bởi một cuộc làm ăn mới lạ và hấp dẫn: tổ chức đua chó! Đã có đua ngựa, vậy tại sao không đua chó như các nước phương Tây đã làm?

Ganesco đến thương lượng với người thầu trường đua Phú Thọ, dùng trường đua này cho việc đua chó. Monpezat (chủ trường đua ngựa) bài bác ngay ý tưởng của Ganesco, với lý do là: người dân An Nam vốn không thích đua chó vì chưa quen và cùng bởi chó quá nhỏ con, chạy trông không hấp dẫn...
Bị từ chối, Ganesco rất ức, nghĩ rằng Monpezat xấu bụng do sợ các cuộc đua chó sẽ làm ảnh hưởng đến đua ngựa, vì đua chó ít phải đầu tư vốn liếng hơn do chó giá rẻ, dễ nuôi, trò này giết chết các cuộc đua ngựa quá tốn kém và tổ chức phức tạp. Không chịu bó tay, Ganesco nghĩ ngay tới một địa điểm khác, có khả năng cạnh tranh với đua ngựa của Sài Gòn, mà lại thu hút được khách chơi từ Sài Gòn tới, đó là huyện Tầm Vu, thuộc tỉnh Tân An, nơi chỉ cách Sài Gòn chưa đầy 50km. Nguyên trước đó không lâu, Ganesco từng có lúc ngồi ghế chánh tham biện ở Tân An nên có quan hệ thân thiện với nhiều viên chức địa phương, rất thuận lợi cho cuộc tổ chức cờ bạc này.

Thế là Ganesco bày ra trò đua chó ở Tầm Vu. Trước ngày khai trương, Ganesco đăng “bố cáo” trên các báo Pháp ngữ xuất bản ở Sài Gòn, đồng thời yết bảng cáo thị ở trước mặt chợ Tầm Vu để “bá tánh tường lãm”, nội dung cáo thị: giải thích cách đua chó, nêu các luật lệ cuộc đua, cách thức đánh cá và trúng thưởng.

Theo đó, đua chó khác với đua ngựa ở chỗ: ngựa thì chạy với sự điều khiển của nài, còn chó thì không có ai điều khiển, chỉ chạy với con mồi nhử phía trước. Cách thức cụ thể như sau: một đường đua rộng tương đương với đua ngựa, các con chó đua được nhốt trong cũi (lồng) xếp hàng ngang ở điểm xuất phát. Phía trước mặt chúng, cách mười mét là những con thỏ hoặc chuột bạch được buộc chặt vào một đầu cây sào di động. Khi có hiệu lệnh xuất phát cuộc đua, người ta đồng loạt thả chó ra khỏi chuồng, đồng thời cho cây sào di động chạy dọc theo đường đua, mang theo con mồi nhử phía trước. Nhưng đã tính toán trước, nếu lũ chó càng chạy nhanh, thì người ta di chuyển cây sào càng nhanh, để không bao giờ chó có thể bắt được mồi. Con chó đua nào đuổi khỏe, vượt qua mức quy định trước là thắng...

Do mới lạ và hấp dẫn nên các cuộc đua chó của Ganesco nhanh chóng thu hút mạnh “tuyệt phích” (dân đánh cá ở cuộc đua ngựa, chó) từ Sài Gòn - Chợ Lớn, làm cho trường đua ngựa ở Sài Gòn phải lao đao.

Trong cạnh tranh, chẳng ai kể tình đồng hương! Lão Tây Monpezat nóng mũi với thành công của Ganesco, nên nghĩ cách phá bĩnh. Trước tiên là đầu độc đàn chó đua ở Tầm Vu, làm cho lực lượng đàn chó này hao hụt đáng kể. Đó là những con chó berger nhập từ Đức, Pháp rất khỏe, rất khôn, đã được huấn luyện kỹ. Bị hao hụt chó, các cuộc đua bị ảnh hưởng mạnh. Cũng may, một vài giống chó địa phương đã kịp thích nghi, được đưa vào thế chỗ.
Cuộc cạnh tranh bất chính không dừng lại ở đó. Một hôm, thỏ, chuột bạch được nuôi để làm mồi nhử chó đã bị đầu độc chết sạch. Việc này nguy hiểm hơn vụ hao hụt chó. Bởi thời ấy rất ít người nuôi thỏ ở các tỉnh Nam Kỳ, cả chuột bạch cũng thế, dẫn đến việc tìm vật thay hầu như không thể giải quyết tức khắc được. Ganesco đau đầu, nghĩ không ra con vật làm mồi thay cho thỏ, chuột bạch. Thay bằng chuột đồng thì không đủ sức hấp dẫn bằng hai tên “tiền bối” của chúng.

May thay, có một quan chức địa phương hiến kế: nên dùng mèo làm mồi nhử! Ý hay! Với con mèo sống ở đầu sào thì sức hấp dẫn với lũ chó cao hơn thỏ, chuột. Sở dĩ người phương Tây xưa nay không dùng mèo là do họ quý con vật nuôi thân thiết đó. Còn ở Nam Kỳ thời ấy, người ta còn dám ăn cả thịt mèo...
Các cuộc đua chó với mồi nhử là mèo, thay vì chuột như thông lệ càng lúc càng hấp dẫn. Nhưng có một rắc rối nhỏ khi các báo tường thuật cuộc đua, họ vẫn quen gọi đó là cuộc đua chó bắt chuột (Ratadrome) thay vì phải gọi cho đúng là Chatadrome (chó bắt mèo). Hỏi tại sao không gọi cho chính xác, một nhà báo Pháp đã nói: “Nếu các anh muốn tiếp tục cuộc đua, thì cứ giữ tên cũ là Catadrome (chó bắt chuột). Chứ gọi đúng tên chó bắt mèo sẽ bị các hội bảo vệ vật nuôi phản đối, khó bề duy trì cuộc chơi!” Nghe có lý nên những nhà tổ chức đành chịu, mặc dù từ đó, các cuộc đua chó ở Tầm Vu chỉ dùng mèo làm mồi nhử.

Về việc này, một người có ông nội từng cộng tác với Ganesco thời xưa thuật lại: sở dĩ thời ấy Ganesco không dùng mồi giả (làm bằng gỗ hay vật nhân tạo) hình con thỏ, con chuột bạch để treo ở đầu sào, là bởi yêu cầu của tuyệt phích địa phương là đòi con mồi phải thật và còn sống.

Năm 1913, trường đua ngựa ở Sài Gòn phát triển mạnh, nên cuộc cạnh tranh giữa nhóm này với nhóm đua chó ở Tầm Vu càng căng thẳng hơn (cần nói thêm một chi tiết: tuy các cuộc đua chó được tổ chức ở Tầm Vu, Tân An, nhưng do những Pháp kiều từ Sài Gòn xuống làm ăn, và đa số dân tuyệt phích là người Sài Gòn - Chợ Lớn, nên người ta vẫn quen gọi là “đua chó Sài Gòn”).

Trong bất cứ cuộc cạnh tranh nào đều có người thắng kẻ bại. Mà người chiến bại lại là Ganesco. Trong lúc ông ta vượt qua bao cuộc phá bĩnh và cứ ngỡ là sẽ tồn tại lâu dài, chợt một “tai nạn nghề nghiệp” đã làm hỏng mọi việc làm ăn của ông ta. Nguyên vào một buổi đua “Đô Hội” (cuộc đua quy tụ những con chó đua hay nhất) có rất nhiều quan chức Pháp ở Sài Gòn về tham dự, giữa chừng, con mèo làm mồi bị xổng dây buộc, rơi xuống giữa đường đua và bị lũ chó đua hăng máu vật chết tươi, trước mắt hàng chục ngàn khán giả! Quá bất nhẫn, chính Thống đốc Rodier đã tức tốc ra lệnh dẹp ngay cái trò chơi độc ác này.

Dù sau đó, Ganesco có lý giải, hứa thay đổi bằng con mồi giả, nhưng lệnh cấm đã ban hành, không rút lại. Thế là từ ấy, trò “Đua chó bắt mèo” tuyệt tích. Dù sao cũng thấy rõ khi đi “khai hóa văn minh”, những kẻ thực dân không chỉ mang theo rượu, thuốc phiện để thực hiện ngu dân mà còn có cả những trò chơi đỏ đen để móc hầu bao dân bản xứ!

Đại Thế Giới từ thiên đàng đến địa ngục

Từ Sáu Ngọ đến Đại Thế Giới

Sài Gòn vào những ngày đầu thế kỷ XX nổi lên những tay “yêng hùng”, những tay lục lâm, nhưng lại thích tự xưng mình là hảo hán. Trong số này phải kể trước tiên là Tư Mắt và Sáu Ngọ mà chúng tôi đã nói khá kỹ ở trên. Giờ chỉ xin nhắc qua về Sáu Ngọ, một người có dính líu tới “lịch sử đỏ đen” của Sài Gòn.

Người ta nói, người Pháp đến Việt Nam vào hạ bán thế kỷ XIX nhằm khai phá một nước chậm tiến, nhưng lại mang theo hai thứ họa lớn: sự xâm lược đô hộ và một nếp sống sa đọa, ngoại lai. Sự sa đọa đầu tiên là nạn cờ bạc, hút xách. Nói như thế không có nghĩa là ở Việt Nam trước đó không có cờ bạc và các tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, nếu có thì củng ở mức độ nhỏ, một thứ tệ nạn “nội địa”. Phải đợi khi người Pháp có mặt, đồng thời được sự “tiếp tay” của một số người Hoa kiều, thì những gì của ngoại bang mới thực sự xâm nhập vào Việt Nam, đặc biệt là vùng đất phía Nam của nước ta (Sài Gòn là tiêu biểu). Người dân Sài Gòn đã bắt đầu nghe nói về những “thiên đàng” đỏ đen ở Macau, Monte-Carlo và Las Vegas. Và một hậu quả tất yếu của sự “lây nhiễm” này là sự ra đời của các sòng bạc, những nơi mang hình thức casino, và sự nổi lên của những “ông trùm”, trong số này có Sáu Ngọ.

Sáu Ngọ được dân Sài Gòn gọi bằng thầy Sáu, không phải do có chức tước gì, hay giàu sang phú hộ gì, mà chỉ vì là trùm. Ông ta nổi lên từ hàng dân đen, có máu giang hồ và có mộng làm “dân cậu”. Đầu tiên “thầy Sáu” bắt chước Tây, đứng ra lập các Xẹc (Cerle - Câu lạc bộ giải trí) riêng cho người Việt Nam. Thực chất đây là các sòng bạc, được tổ chức lén lút, trong phạm vi hẹp, tuy nhiên mức sát phạt thì không nhỏ.

Vào những năm đầu thế kỷ, hệ thống sòng bạc của Sáu Ngọ hiện diện khắp Sài Gòn - Chợ Lớn và các vùng phụ cận. Sáu Ngọ là chủ chứa, là trùm, hay gọi là “đầu nậu” cũng được, và nếu cần có thể gọi là “bố già” của một dạng mafia thời đó. Ông ta tổ chức băng nhóm những tay anh chị, du côn để bảo vệ công việc làm ăn, đồng thời để trấn áp những địch thủ dám phá bĩnh việc “kinh doanh” của thầy Sáu. Giống như kiểu mafia Ý, Sáu Ngọ gần như mua đứt làng lính, mua cả những quan tòa, biện lý người Pháp nổi tiếng dữ dằn, để vô hiệu hóa mọi cản trở hoạt động của ông ta. Sáu Ngọ còn chơi trội, dùng tiền mua luôn quốc tịch Pháp, lấy tên là Paul, và lộng hành càng dữ dội hơn.

Đứng trước tình hình đó, một số quan tòa Pháp tỏ ra cứng rắn hơn, trong số này có biện lý Lafrique. Ông này quyết bằng mọi cách triệt hạ cho được Sáu Ngọ, đôi lần làm cho “Vua cờ bạc” phải điêu đứng. Nhưng rồi bằng nhiều mánh khóe, thủ đoạn, Sáu Ngọ vẫn tồn tại, và nạn cờ bạc vẫn lan rộng ở Sài Gòn, đến các tỉnh Nam Kỳ. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới việc ra đời một casino quy mô lớn hơn, đó là Đại Thế Giới và Kim Chung.

Đại Thế Giới (Grand Monde) được người Pháp chính thức cho thành lập với lý do: thà cho cờ bạc công khai, có lấy thuế, còn hơn để kiểu cờ bạc lén lút nhưng tràn lan như kiểu của Sáu Ngọ, vừa thất thu thuế, vừa bị xúc phạm đến quyền lực của Chính phủ bảo hộ Pháp.

Cùng lúc thành lập với Đại Thế Giới có sòng bạc Kim Chung ở khu vực Cầu Muối, Cầu Ông Lãnh (nay là khu Dân Sinh, phường Cầu Ông Lãnh, TP Hồ Chí Minh), nhưng Kim Chung có quy mô kém hơn, đối tượng chơi thuộc loại bình dân hơn Đại Thế Giới, nên mỗi khi nhắc tới casino tiêu biểu của Sài Gòn, người ta hay nói đến Đại Thế Giới.

Đại Thế Giới tọa lạc trên đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo - Quận 5), trong một khuôn viên rộng mênh mông, vòng rào tường cao, cửa ra vào có bảo vệ mặc đồng phục canh gác cẩn mật, người ra vào tự do, nhưng không phải ai cũng mạnh dạn vào, bởi muốn bước vào phải có tiền và bởi cái “sát khí” của thần đỏ đen luôn vừa quyến rũ thiên hạ, lại vừa hù dọa mọi người. Trên cổng lớn rực sáng ánh đèn néon, hàng chữ Grand Monde (Đại Thế Giới), như một lời xác nhận với mọi người dân Sài Gòn rằng, nơi đó là sòng bạc được Nhà nước bảo trợ, cứ mặc tình mà sát phạt!

Ai là chủ nhân Đại Thế Giới?

Phép hoạt động là của Nhà nước cấp, nhưng tư nhân điều hành. Ngay từ đầu khai trương, ai cũng tưởng Sáu Ngọ hay vài tay có máu mặt sở tại sẽ được cho đứng thầu, nhưng không, chủ thầu là một tay nào đó từ Hồng Kông đến. Sở dĩ người Pháp cho các tay Hồng Kông trúng thầu vì họ hiểu rằng, chỉ có những người từng am tường về tổ chức sòng bạc tầm cỡ thì mới có khả năng đưa Đại Thế Giới lên ngang tầm với các sòng bạc ở châu Á. Người trúng thầu vốn xuất thân từ các sòng bạc ở Macau, đã sành sỏi về tổ chức casino, do đó ông ta đã rập khuôn từ mọi hình thức đến mọi mánh khóe. Cùng kéo sang “miền đất hứa” mới với chủ còn có những cô hồ-lì (người đứng điều khiển cuộc chơi của từng môn đỏ đen, theo cách gọi của người Trung Hoa) xinh đẹp và sành điệu, thừa sức làm vừa lòng khách chơi, dù có bị thua cháy túi! Ngay từ lúc mới mở cửa, Đại Thế Giới đã thu hút ngay con số đỏ đen kỷ lục: tuần lễ đầu luôn có một vạn người tới thử thời vận mỗi ngày, nhà chứa thu không dưới một triệu đồng (một triệu đồng bạc Đông Dương hồi đó hết sức lớn, bằng bạc tỷ bây giờ). Tiền nộp cho Nhà nước không phải ít, từ 200 nghìn, sau lên 300 nghìn và có lúc lên đến 500 nghìn/ngày, vậy chủ chứa vẫn hốt đậm hơn bất cứ ngành kinh doanh nào khác.

Khách chơi lúc đầu còn giới hạn trong giới trung lưu, đến người nhiều tiền, lần hồi thu hút tới những giới bình dân, cả phu kéo xe, phu bốc vác bến tàu, vì có đủ hình thức chơi, từ hốt me, tài xỉu, đến roulette... Người chơi không cần phải “động não” nhiều, và cũng không cần có nhiều vốn. Nhiều thua nhiều, ít thua ít, chỉ không đánh mới không thua! Vậy mà Đại Thế Giới như có bùa, như là ma túy gây nghiện, nó có thứ ma lực lạ lùng càng lúc càng lôi cuốn người chơi lao vào như con thiêu thân trước ánh đèn tự tìm cái chết mà ngỡ mình sắp động đến ánh sáng vinh quang.
Thế là bước đầu người Pháp thắng một keo quan trọng. Loại được Sáu Ngọ một cách nhẹ nhàng, hiệu quả...

Cuộc chiến đỏ đen

Gọi là cuộc chiến vì không còn từ ngữ nào để dùng cho sát nghĩa hơn. Cuộc chiến giữa khách chơi và nhà cái, cuộc chiến giữa bản thân người chơi với gia đình họ, và cuộc chiến cực kỳ quyết liệt giữa những thế lực để giành quyền chi phối sòng bạc Đại Thế Giới. Từ ngày Đại Thế Giới mở ra, đã có không biết bao nhiêu gia đình chịu thảm cảnh. Có người là công chức cấp cao của Nhà nước, giàu sang tột bực, vậy mà chỉ trong vòng vài tuần “làm quen” với Grand Monde, đã nướng hết sản nghiệp vào đó, và tất nhiên là nướng luôn cả cuộc đời. Có những người vợ, những cô này bà nọ, chỉ vì ham vui, vào thử vài lần, rồi đam mê vào tiếp và... cuối cùng lột hết vòng vàng nữ trang, lấy cắp cả tiền ở nhà “cúng” sạch cho sòng bạc, sau đó là “cúng” luôn cả cái ngàn vàng của mình! Thời đó cầu Bình Lợi (thuộc quận Bình Thạnh bây giờ) được xem là nơi kết liễu những cuộc đời bất hạnh, sau một đêm cháy túi ở Đại Thế Giới...
Cả Sài Gòn, vùng phụ cận, cả Nam Kỳ lục tỉnh và cũng không thiếu người ở miền xa của đất nước đổ xô vào Sài Gòn, về với Đại Thế Giới lập lòe ánh sáng ma quái, để chơi trong thoáng giây, để khóc cạn nước mắt và cả để chết. Vậy mà Đại Thế Giới vẫn như một luồng thác lũ, không thể ngăn nổi. Trong khi đó một cuộc đổ xô khác, ở phía những thế lực muốn nắm Đại Thế Giới, cũng đến hồi quyết liệt. Hồi ông vua cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại, Đại Thế Giới lại như rồng lên mây, như được chắp thêm cánh bay. “Đức quốc trưởng” Bảo Đại đã được người Pháp giao lại nguồn lợi Đại Thế Giới, như là một món quà ân thưởng, làm cho ông vua sành cờ bạc này thích thú không gì bằng. Đệ nhị thế chiến nổ ra, tình hình sôi sục khắp nơi, nhưng vẫn không ảnh hưởng gì đến sòng bạc Đại Thế Giới, nếu không muốn nói là còn thêm sức để phất mạnh hơn ở tương lai.

Giai đoạn “cao trào” nhất của Đại Thế Giới là thời điểm giới “yêng hùng lục lâm” và vài tay chính trị hàng đầu của chính quyền Sài Gòn chĩa mũi dùi vào sòng bài. Từ năm 1947 đến 1953, nhiều lần Đại Thế Giới nằm trong tầm ngắm của nhiều người. Đến khi xảy ra cuộc đối đầu chính trị giữa phe Ngô Đình Diệm với phe trung thành của vua Bảo Đại, thì rõ ràng có một người rắp tâm muốn nuốt chửng “cái máy hốt bạc này”. Người đó là Bảy Viễn, thủ lĩnh nhóm Bình Xuyên. Vốn là tay “anh chị”, từng nuôi mộng như Sáu Ngọ, nên khi được quyền lực trong tay, được “Hoàng đế cuối cùng” ủng hộ, được các tướng lãnh thân Pháp hậu thuẫn, Bảy Viễn đã làm một cuộc “đảo chánh”, lật đổ sự thống trị của các nhà thầu người Hồng Kông khỏi lãnh địa Đại Thế Giới. Bình Xuyên đã trúng thầu khai thác Đại Thế Giới với giá 500 ngàn đồng mỗi đêm, thừa sức có tiền nuôi quân đóng bên kia cầu chữ Y của họ, và thả sức ăn tiêu, bỏ túi riêng. Đại Thế Giới như một mỏ vàng gần như vô tận, ai nắm được nó thì nắm được cả sức mạnh chính trị về tay mình. Đã có lúc người ta ngỡ là Bảy Viễn sẽ trở thành một nhân vật hàng đầu nhờ khai thác được nguồn béo bở đó. Kịp đến khi nổ ra cuộc “huynh đệ tương tàn” trong nội chính Chính phủ miền Nam lúc đó, giữa Ngô Đình Diệm và Bình Xuyên, cuối cùng Bình Xuyên bị thua, tan rã, và Đại Thế Giới cũng bị khai tử luôn. Những ngày đầu năm 1955 đã đánh dấu ngày tàn của Grand Monde, khi chính quyền thời đó trước áp lực của quần chúng, đã phải ngậm ngùi ký lệnh dẹp sòng bạc lớn Đông Nam Á.
Người Sài Gòn thở phào nhẹ nhõm mỗi khi đi ngang qua nơi vừa “thiên đàng” vừa “địa ngục” mà không còn nhìn thấy mấy chữ Grand Monde - Đại Thế Giới...


HẾT
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103056
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49562 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox


  • Similar topics
    Replies
    Views
    Author

Return to Emotional Stories | Truyện Tình Cảm.

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest