Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Emotional, touching and pathetic Stories | Tình cảm éo le, cảm động và lâm ly.

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 29th, 2017, 7:21 pm


HỒI THỨ HAI MƯƠI

Hồng Sơn Đại Phu

Đình làng Vạn-thảo tọa lạc trên khu đất rộng rãi, xung quanh có tường gạch. Muốn vào đình phải qua cái cổng bằng đá xanh. Sân đình lát bằng những phiến đá lớn. Giữa sân có hai tấm bia. Quách Thịnh chỉ bia:

– Thưa quận chúa, hai tấm bia kia để khắc tên tuổi những người có chức, tước, văn học trong làng. Một tấm khắc tên quan văn, một tấm khắc tên quan võ.

Vượt qua sân, vào đình. Đình là một ngôi nhà lớn, dài ước khỏang ba mươi bước, tường gạch, mái ngói. Giữa đình có bệ. Trên bệ thờ thần thành hoàng. Khi Bảo-Hòa bước vào đình, thì mõ làng đã trải chiếu hoa từ bao giờ. Sát chân bệ thờ là một chiếu cạp điều. Thường chiếu này dành cho tiên chỉ, rồi tới bốn chiếu nhì. Một chiếu dành cho lý trưởng, phó lý, trương-tuần lại-dịch, thủ qũi. Một chiếu dành cho năm ông giáp trưởng. Ba chiếu còn lại dành cho các hào mục, các vị bô lão tuổi từ sáu mươi trở đi. Sau đó hơn ba mươi chiếu dành cho tất cả mọi người dân trong làng, tuổi từ mười sáu trở lên.

Về triều Lý, mỗi xã như một nước nhỏ tự trị. Hàng tháng xã họp một lần để bàn việc như một tiểu quốc hội ngày nay. Hội đồng hàng xã làm lệ làng. Thường lệ làng phải tuân theo luật nước. Nhưng khi luật nước quá khác biệt với đời sống dân chúng, lệ làng vẫn cứ được thi hành. Câu tục ngữ phép vua thua lệ làng phát xuất từ đấy.

Quách Thịnh mời chị em Thanh-Mai ngồi vào chiếu nhất của mình, rồi đứng dậy chắp tay hướng vào cử tọa:

– Trình quan viên hàng xã. Sở dĩ tôi cho đánh trống triệu tập các quan viên bất thường. Vì làng ta gặp đại phúc, được công-chúa điện-hạ, cùng tiên cô giá lâm.

Chàng kể sơ lựơc về 207 khê động Bắc biên, cùng gốc tích họ Thân, cho tới trận đánh Như-hồng mà chàng tham dự. Khi chàng kể đến việc Bảo-Hòa được cọp nuôi dưỡng, dân chúng súyt xoa, hướng nàng lạy liên tiếp. Quách Thịnh thuật đến việc bọn Triệu Anh sang Đại-Việt ăn trộm, rồi bị Bảo-Hòa sai thú vật bắt. Cuối cùng chàng chỉ vào Mỹ-linh giới thiệu là công chúa. Còn Thanh-Mai chàng giới thiệu giản dị là chị em kết nghĩa của Mỹ-linh. Dân chúng thấy Mỹ-Linh, Thanh-Mai mảnh khảnh, mặt đẹp huyền ảo. Họ nghĩ thầm:

– Tiên với công chúa có khác. Đẹp thực.

Mỹ-Linh hỏi:

– Khoan rồi hãy họp. Xin Quách hầu cho chị em chúng tôi lễ thần thành hoàng đã. Thần thành hoàng ở đây đã có sắc phong chưa?

Quách Thịnh đứng dậy đốt hương trao cho chị em Thanh-Mai:

– Thưa điện-hạ thần thành hoàng làng chúng tôi họ Trần húy Đại-Sinh. Về thời vua Trưng được phong làm tiên ông. Ngài rất giỏi nghề thuốc. Đương thời ngài có đến đây ẩn cư ba năm, trồng cây thuốc, dạy dân y đạo. Từ đó đến nay dân làng không dám sao lãng, tiếp tục nghề xưa. Vì vậy làng có tên Vạn-thảo. Làng tôi là nơi sản xất nhiều thầy thuốc danh tiếng trong nước.

Chị em Mỹ-Linh lễ thần xong, nàng hỏi han chi tiết về đời sống dân chúng rất cặn kẽ. Lý trưởng hướng vào Bảo-Hòa:

– Khải tấu tiên cô. Lệ làng có khoản nói rằng: khi một vị thần, một vị có huân công với xã tắc viếng làng, được quyền thêm hay sửa đổi lệ. Không biết tiên cô với công chúa có muốn thay đổi khoản nào trong hương-ước không?

Mỹ-Linh đưa mắt nhìn Bảo-Hòa. Bảo-Hòa nói sẽ vào tai nàng mấy câu. Mỹ-Linh mừng lắm, gật đầu liên tiếp. Bảo-Hòa đứng dậy:

– Làng này sở dĩ giầu có, nảy sinh nhiều người tài, một là vì dân làng quyết tâm, chịu khó làm việc. Hai là nhờ địa linh. Hôm nay cô đến đây, thấy đàn bà con gái xinh đẹp, nết na, tài như trựơng phu. Cô xin đề nghị đổi hương ước như thế này: đàn bà, con gái được hưởng mọi quyền như đàn ông con trai. Ngược lại họ cũng phải luyện tập võ nghệ, giữ làng như hoàng nam.

Trong đình chỉ có đàn ông, con trai ngồi họp. Đàn bà con gái phải đứng ngòai. Tuy đứng ngòai, nhưng họ nghe rất rõ lời Bảo-Hòa nói. Họ vỗ tay đồng lọat. Đợi tiếng vỗ tay dứt, Mỹ-Linh hỏi:

– Này Quách hầu, này cụ lý, mỗi vị có mấy vợ?

Quách Thịnh chắp tay:

– Tiểu nhân đã từng ở Lạng-châu về, lẽ nào giám quên chỉ dụ của vua Bà. Tiểu nhân chỉ có một vợ thôi. Cụ lý cũng vậy.

Mỹ-Linh cười:

– Phần tôi. Tôi xin đổi hương ước như thế này: trong làng này trai chỉ được lấy một vợ mà thôi. Nhược bằng sau khi lấy nhau ba năm, mà vợ không sinh con nối dòng, thì phải xin phép tiên-chỉ, lý trưởng và trưởng-tộc cho được quyền lấy vợ lẽ. Tuy nhiên không được bỏ vợ cả.

Đúng ra Thanh-Mai không có quyền thay đổi hương ước. Nhưng Quách Thịnh thấy nàng là em kết nghĩa của Khai-quốc vương, thì khác chi công chúa? Vì vậy chàng cũng mời Thanh-Mai phát biểu ý kiến. Thanh-Mai nói::

– Thời Lĩnh-nam, vua Trưng là nữ, tể tướng Nguyễn Phương-Dung, tư-đồ Phùng Vĩnh-Hoa, cùng không biết bao nhiêu nữ tướng… Thế thì trong xã bầu tiên chỉ, lý trưởng, phó-lý. Các bà, các cô cũng có quyền ứng cử.. Sau này xã Vạn-thảo có nữ lý-trưởng, nữ tiên chỉ thì thực là tuyệt. Nào xin các vị cho ý kiến!

Lại dịch đứng dậy chắp tay vái chị em Thanh-Mai, rồi thưa:

– Tấu lạy tiên-cô cùng nhị vị công chúa. Tiên-cô cùng công chúa dạy, chúng con xin tuân. Có điều luật của bản triều định rõ: khi đàn bà phạm vào một trong thất xuất tức tội nặng, cho quyền chồng bỏ. Nay đổi lại chỉ cho lấy vợ lẽ, mà không cho bỏ, e trái luật của đức hoàng-đế.

Bảo-Hòa hỏi Mỹ-Linh:

– Thất xuất là gì vậy?

Mỹ-Linh nói lớn như muốn cho dân chúng cùng nghe:

– Luật của bản triều qui định rằng khi người đàn bà phạm tội thất xuất thì chồng có quyền bỏ. Thất xuất là:

1.Vô tử tức là không con.

2.Dâm dật, là ngoại tình.

3.Bất sự cậu cô, là thiếu bổn phận phụng dưỡng bố mẹ chồng.

4.Khẩu thiệt, tức lắm điều, nhiều lời.

5.Đạo thiết, tức trộm cắp.

6.Đố kỵ, là ghen tuông.

7.Ác tật, bị phong cùi.

Bảo-Hòa suy nghĩ một lúc, rồi đáp:

– Chúng ta có câu phép vua, thua lệ làng. Đây là lệ làng mà. Không con chẳng qua do cơ thể bẩm sinh không được bình thường, hoặc bệnh họan, chứ đâu phải là tội? Phàm người đàn bà phạm tội khác trong thất xuất thì chồng được bỏ. Còn không con, thì chồng không được bỏ.

Cuộc hội họp đến chiều mới ngừng. Làng làm cỗ đãi khách. Trong khi cả làng đang ăn cỗ, thì có tiếng trống từ cổng vọng về, rồi tiếng tù và thổi. Lý trưởng đứng dậy, gọi Lê Phụng-Hiểu :

– Chú trương tuần theo tôi ra cổng, xem có truyện gì?

Vừa lúc đó, một hoàng nam đến trước Mỹ-Linh hành lễ:

– Khải tấu công chúa, có một đại-tướng dẫn hơn nghìn quân kị đến trước cổng, xin vào yết kiến công chúa.

Mỹ-Linh truyền lệnh:

– Quân đóng ở ngoài làng. Còn tướng cho vào.

Hoàng nam ra được một lát, rồi trở lại với Ngô An-Ngữ, Tạ Diệu-Chi. Hai đứa trẻ Thường-Kiệt, Thường-Hiến cũng theo vào. Ngô An-Ngữ hành lễ với Mỹ-Linh:

– Tiểu-tướng được lệnh bài, vội đem quân đến đón công-chúa. Công chúa vắng mặt hơn tháng qua, làm tiết-độ-sứ cùng anh em tiểu nhân tìm khắp nơi.

Chàng nhìn Thanh-Mai:

– Ta tìm không thấy sư muội, vội sai người về Thiên-trường báo cho sư phụ biết. Chắc sư phụ cũng sai người đi tìm.

Chàng nói với Bảo-Hòa:

– Chỉ riêng đại-sư Huệ-Sinh, cùng thế tử Thân Thiệu-Thái vẫn ở trên chùa Sơn-tĩnh. Đại-sư nói Công chúa, quận chúa với sư muội tuy bị nạn, song qua ba bẩy hai mươi mốt ngày thì hết. Nay quả nhiên đúng như vậy.

Đôi chim ưng bay lượn trên trời kêu réo như có truyện gì khẩn cấp. Bảo-Hòa ra sân gọi chúng xuống. Nàng lấy thư dưới chân chúng ra coi, rồi xé nhỏ bỏ vào vũng nước. Nàng cầm bút viết đầy một trang giấy, gấp lại bỏ vào ống đựng thư dưới chân chim, rồi hú lên một tiếng, chúng bay bổng lên trời, biến vào đám mây mù.

Quách Thịnh truyền dân làng giải tán, chỉ còn lại chức sắc. Mỹ-Linh tường thuật sơ lược mọi biến chuyển cho Ngô An-Ngữ nghe, rồi nàng truyền lệnh:

– Tướng quân hợp cùng dân trong làng bắt cho được Đinh Toàn cùng Quách Quỳ. Tôi đưa Bảo-Hòa đến Vạn-thảo sơn trang chữa bệnh. Còn ba tên Tống này, tướng quân giải thẳng về kinh, để triều đình định đoạt.

Thanh-Mai nghe Mỹ-Linh truyền lệnh, phán xử đâu ra đấy, nàng mừng thầm trong lòng:

– Mới có mấy tháng qua mà Mỹ-Linh như thay đổi thành một người khác. Hồi mình gặp nàng, cái gì cũng hỏi, cái gì cũng ngơ ngác. Bây giờ thì phát lệnh, hành sự không khác gì một quân sư. Cứ đà này, thì chỉ vài năm nàng có kém gì thân mẫu Bảo-Hòa?

Sự thực thì Mỹ-Linh được ông nội là vua Lý Thái-tổ giao cho Nho thần Lý Đạo-Thành dạy dỗ. Đạo-Thành là một nhà Nho chân chính, ông muốn tạo nàng thành một người phụ nữ khuôn mẫu của Nho gia, một người vợ hiền thục, nết na, hết lòng hiếu với cha mẹ, thuận với chồng. Những gương phụ nữ trong sách vở Nho-gia như vợ vua Văn-vương, như thân mẫu Khổng-tử được coi là khuôn vàng thước ngọc. Phu xướng phụ tùy, chứ trong nhà, vợ không quyết định việc gì cả. Vì vậy nàng chẳng biết gì về xã hội Đại-Việt. Khi gặp biến cố xẩy ra, nàng không có phản ứng.

Từ hôm xẩy ra vụ thân mẫu qua đời, đưa đến nàng xin đi Trường-yên ở với chú là Khai-quốc vương, cuộc đời nàng hòan tòan đổi mới. Khai-quốc vương muốn cháu mình phải như những anh thư thời Lĩnh-nam. Ngày ngày vương đem sử thời Lĩnh-nam dạy nàng. Rồi đi đâu vương cũng mang nàng theo. Vốn có căn bản học thức sâu sa, nay được đi vào thực tế, nàng tiến rất nhanh. Lúc gặp Thanh-Mai, nàng mới thấy Côi-sơn đại hiệp Trần Tự-An dạy con thực tế hơn thầy nàng nhiều. Nếu nói về Tứ-thư, Ngũ-kinh thì nàng bỏ xa Thanh-Mai. Nhưng nói về lịch sử anh hùng dân tộc, cùng ứng phó ngoài đời nàng chỉ là đứa trẻ ngờ ngệch.

Trong chuyến đi nàng gặp bà cô là sư thái Tịnh-Huyền, với vóc dáng một vị ni sư đắc đạo, võ công tuyệt đỉnh, kinh lịch có thừa. Lại được gặp cô đang làm vua bà vùng Bắc-biên, rồi Bảo-Hòa. Hai người quyết đoán sự kiện, đối phó với biến cố thực tinh tế, mau chóng. Nàng đã thay đổi hẳn quan niệm của Nho gia.

Hàn Diệu-Chi lắc đầu:

– Công chúa đi như vậy, chúng thần không yên tâm. Thần xin dẫn hai cháu Tuấn, Hiến theo hầu công chúa một thể.

Biết không đừng được, Mỹ-Linh nhìn Bảo-Hòa như phân trần điều gì. Nhưng Bảo-Hòa trúng độc đã hơn tháng, người mệt nhừ, nàng đang thiêm thiếp ngủ. Nàng than thầm:

– Đi đâu mà đem quân lính theo thì còn thú vị gì nữa. Ta phải dùng quyền mới được.

Mỹ-Linh nghiêm mặt nói với Ngô An-Ngữ:

– Tướng quân với phu nhân án binh tại đây chờ tôi được rồi. Từ làng đến sơn trang không xa mà. Huống chi chú hai muốn tôi kinh lịch ngoài đời. Kinh lịch ngoài đời, mà đi đâu cũng phải có người theo giữ thì bao giờ bằng cô tôi cho được.

Bảo-Hòa nói với Hàn Diệu-Chi:

– Đa tạ sư thúc lo cho Mỹ-Linh. Nhưng sư thúc ơi, ra khỏi sơn trang giáp địa phận của núi Băng-sơn, nơi Hồng-sơn lão nhân ở. Lão nhân là một trong Đại-Việt ngũ-long, trong địa giới của người, không ai giám đánh đập con chó con mèo, chứ đừng nói đánh người? Còn sư thúc đi theo vì sợ lão hại Mỹ-Linh ư? Nếu lão hại, thì liệu sư thúc có cản nổi không?

Diệu-Chi nhận Bảo-Hòa có lý. Nàng gật đầu:

– Chúc công chúa lên đường may mắn.

Thanh-Mai đốc thúc mọi người lên xe, trực chỉ cổng nam, hướng Vạn-thảo sơn-trang. Xe ra khỏi cổng nam làng, theo hương lộ mà đi. Lê Phụng-Hiểu chỉ ngọn núi trước mặt:

– Kia là núi Băng-sơn, nơi Hồng-Sơn lão nhân ở.

Xa xa, hai ngọn núi cao vòi vọi tiếp giáp với nhau theo hình thước thợ. Chỗ tiếp giáp tạo thành khe núi. Dưới khe, nước chảy. Đến lưng chừng sườn núi, vách thẳng đứng, tạo ra thác nứơc. Thác ở trên cao đổ vào ngọn đồi dưới chân múi tạo thành chín ngọn suối nhỏ. Trông như chín con rồng đang ngoai từ núi xuống cánh đồng.

Càng đến gần, tiếng thác đổ càng lớn hơn. Xe qua mấy cây cầu bắc ngang suối, tiến đến cổng sơn trang. Trước cổng có bẩy tám người đang đứng chờ. Người nào lưng cũng mang vũ khí. Thanh-Mai ngạc nhiên, tự hỏi tại sao họ không vào trang. Lê Phụng-Hiểu đến trước một trung niên thiếu phụ, lưng đeo bảo kiếm thi lễ:

– Tỷ tỷ. Tại sao các vị tới đây lại không vào?

Trung niên thiếu phụ không trả lời, tay chỉ tấm bảng treo trên cổng. Lê Phụng-Hiểu nhìn lên, chàng đọc:

Kính cáo.

Đây là tư thất của Hồng-Sơn đại phu. Nơi này chỉ dành cho bạn hữu, thân nhân của người. Những ai bị bệnh, xin đến trước cổng chính của y viện.

Còn quý khách tới sơn trang, xin đứng chờ. Sơn trang sẽ có người ra hướng dẫn vào. Trong trang trồng rất nhiều hoa cỏ độc. Bằng bước qua cổng, lỡ trúng độc chết, trang chủ không trách nhiệm.

Mỹ-Linh nhìn đám người tới trước. Họ chia làm hai nhóm. Một nhóm ba người, đi trên chiếc xe bò. Người đánh xe là một cô gái da trắng mịn, đôi mắt sắc như dao cau, lạnh như nước suối mùa đông, loang lóang như tia nắng mặt trời ban mai. Trên xe, một người đàn ông cuốn chăn nằm dài, đang rên rỉ, dường như ốm nặng. Cạnh ông, có người đàn bà ngồi bưng mặt khóc thút thít, trên lưng đeo một cây bảo kiếm.

Mỹ-Linh nhìn cô gái, nàng nghĩ thầm:

– Ta tưởng trên đời, người đẹp nhất là mẫu thân ta, sau đến quý phi Đàm Thụy-Châu của ông nội. Không ngờ cô gái này còn có vẻ sắc sảo hơn cả mẹ ta, nhu nhã hơn Đàm quý phi. Chắc cô biết võ, nên mới đeo bảo kiếm bên cạnh.

Nhóm thứ nhì gồm bốn người. Họ cỡi ngựa. Trong bọn họ, có thiếu phụ đeo kiếm trả lời Lê Phụng-Hiểu. Ngoài ra còn một trung niên nam tử và hai thiếu niên một cao, một lùn.

Cả hai nhóm chỉ đưa mắt liếc qua bọn Thanh-Mai rồi lơ đãng nhìn trời. Thiếu niên lùn nói với thiếu phụ:

– U ơi, hay là u để con vào trong trang xem sao. Con sợ họ đi vắng cả . Chứ nếu có nhà, không lẽ chúng ta chờ từ sáng đến gìơ mà không biết? Thằng Mẫn mệt lắm rồi.

Thiếu phụ xoa đầu con:

– Minh, đừng nóng nảy. Hồi trưa u thấy phía bếp nhà họ có khói bốc lên. Hẳn họ nấu ăn, mới có lửa.

Thanh-Mai đưa mắt nhìn đứa trẻ tên Mẫn. Người nó gầy như cái que, hơi thở hổn hển, đôi mắt lờ đờ. Cạnh đó, một người đàn ông tướng mạo đường bệ, thản nhiên đứng nhìn nước suối chảy.

Bỗng trên trời có tiếng chim kêu. Bảo-Hòa ngước mắt nhìn lên, đôi chim ưng đang bay như tìm kiếm nàng. Nàng rút trong túi ra chiếc tù và, thổi liên tiếp một hồi dài. Đôi chim ưng ré lên gọi nhau, rồi đáp xuống.

Trung niên thiếu phụ kêu lên tiếng ủa kinh ngạc, rồi đưa nắt nhìn chồng. Bảo-Hòa gỡ ống tre ở chân chim mở nắp đổ ra. Trong có mảnh giấy nhỏ. Nàng đọc qua, lấy đá đánh lửa châm đốt đi. Đợi cho tờ giấy cháy hết. Bảo-Hòa hú lên một tiếng dài, đôi chim cất cánh bay bổng lên trời, từ từ khuất trong đám mây.

Bảo-Hòa chắp tay hướng hai toán người tới trước:

– Trời về chiều, mà chúng ta đợi mãi không thấy người ra đón. Tiểu nữ mạn phép gọi người trong trang. Nếu qúi vị thấy khó chịu, thì bịt tai lại.

Nói xong, nàng cho hai ngón tay vào miệng, hú lên một tiếng lảnh lót, dài liên miên bất tuyệt. Lúc đầu hai thiếu niên còn chịu được. Chỉ khắc sau, họ phải bịt tai nghiến răng như đau đớn lắm.

Quả nhiên, sau tiếng hú của Bảo-Hòa, trong trang xuất hiện một thiếu niên bước ra. Bọn Thanh-Mai bật lên tiếng ủa, vì y chính là cậu bé cỡi ngựa đánh nhau với bọn Quách Quỳ hôm trước.

Thiếu niên thấy bọn Thanh-Mai, thì cười tủm tỉm:

– Người xưa nói: tam sinh, hữu hạnh. Tiểu đệ lại được gặp các vị tỷ tỷ tại Van-thảo sơn-trang. Tiểu đệ họ Lê tên Văn, con út trang chủ. Thế nào bọn chệt đâu rồi?

Thanh-Mai đáp:

– Bọn chúng bị chúng tôi bắt trói lại, giải lên quan rồi.

Lê Văn hỏi:

– Vị đệ tử Tây-vu nào vừa giá lâm?

Thanh-Mai chỉ Bảo-Hòa.

Lê Văn mời:

– Xin thỉnh quý vị vào trang.

Lê Văn đi trước dẫn dường, mời mọi người ngồi vào trong căn nhà khách. Căn nhà khá rộng. Mọi vật dụng đều bằng tre hun khói rất thanh nhã. Lê Văn rót nước mời khách rồi nói:

– Mời quý khách xơi nước. Hồng-Sơn tiên sinh sắp ra.

Tiếng dép lẹp kẹp từ trong nhà đi ra. Thanh-Mai, Mỹ-Linh, Bảo-Hòa cùng đưa mắt nhìn nhau, vì bước chân trầm, tiếng động vang đi rất xa. Chứng tỏ người này có nội công rất thâm hậu, ít ra cũng bằng Huệ-Sinh, Tịnh-Huyền. Một người đàn ông tuổi khoảng năm mươi, mặc quần áo nâu, mắt sáng như sao. Mật mũi hồng hào. Trán rộng, cằm vuông. Người hơi mập một chút.

Lê Văn giới thiệu:

– Vị này là Hồng-Sơn đại phu, bố tôi.

Thanh-Mai kinh ngạc, đứng lên chào. Khi mới nghe tên Hồng-sơn đại phu, nàng tưởng ông phải già lắm, nào ngờ không lớn tuổi hơn thân phụ nàng. Mắt ông sáng lóang. Trên mặt có những vết dăn, làm cho ông có tứơng hổ. Ông lớn người, song có đôi bàn tay thực đẹp mịn màng, tươi hồng. Mỹ-Linh tự nhủ:

– Không ngờ mặt ông không đẹp, mà tay ông đẹp thế. Trong hòang cung, nào thiếu cung tần, mỹ nữ xinh đẹp, mà mình chưa thấy ai có bàn tay đẹp như thế này.

Hồng-Sơn đại-phu lên tiếng:

– Tại hạ đang mải mê chế thuốc, nghe tiếng hú lảnh lót của một cao đồ phái Tây-vu, vội vàng ra nghênh đón.

Mỹ-Linh hỏi:

– Chắc tiên-sinh có mối giao hảo với phái Tây-vu?

Hồng-Sơn đại-phu gật đầu:

– Không những giao hảo, mà còn có nhiều liên hệ nữa. Tại hạ với lạc hầu Thân Thiệu-Anh quen biết nhau từ lâu. Cũng vì quen biết, mà tại hạ phải ẩn cư ở đây.

Chợt ông đưa mắt nhìn Bảo-Hòa:

– Cô nương là ai? Tại sao bị trúng độc của phái Tây-vu?

Ông tiến lại bên Bảo-Hòa cầm tay bắt mạch. Bắt tay trái xong lại bắt tay phải. Cuối cùng ông bảo nàng há miệng, nhìn lưỡi, rồi nói:

– Cô nương bị trúng phải phấn Nhuyễn-cân của phải Tây-vu. Phấn này chính tại-hạ là người chế ra, tặng lạc hầu Thiệu-Anh, dùng làm bảo vật bảo vệ biên cương. Người trúng phấn này, mỗi ngày lên cơn sốt một lần. Khi cơn sốt hết, mồ hôi vã ra. Chân tay bải hoải vô lực. Sau bẩy lần bẩy là bốn mươi chín ngày thì chết. Ngoài thuốc giải của tại hạ chế ra, thì không thuốc nào chữa được. Tuy nhiên, dùng châm cứu cũng chữa được, nhưng chỉ thoát chết. Còn công lực hoàn toàn mất.

Ông chau mày:

– Cô là đệ tử Tây-vu, mà sao lại bị trúng độc của phái này? À phải rồi, chắc cô lầm lỗi gì, mới bị người trên phạt phải không? Cô ơi, phàm làm đệ tử, lầm lỗi, bị sư phụ phạt là truyện thường. Sao cô không năn nỉ xin tha, mà lại tới đây xin chữa bệnh? Ta không chữa cho cô đâu.

Bảo-Hòa kinh ngạc:

– Đại-phu! Từ ngày sinh ra đời đến giờ, cháu chưa từng nghe ai nói đến phấn Nhuyễn-cân có thuốc giải, mà chỉ nghe nói phải dùng châm cứu chữa trị mà thôi.

Đại-phu chau mày lại:

– Lạ thực, khi ta dạy Thân Thiệu-Anh chế phấn độc, cũng dạy y chế thuốc giải tại sao cô nương lại chưa từng nghe qua?

Ông cầm tay, bắt mạch Bảo-Hòa lần nữa, rồi nhăn mặt:

– Phàm người bị trúng phấn Nhuyễn-cân, phải ở nơi thoáng khí, không được sử dụng võ công. Đây, ngược lại, sau khi trúng độc, cô nương đã giao chiến với người, rồi ở trong phòng tối thiếu khí thở.

Mỹ-Linh kinh ngạc:

– Đúng như đại phu dạy. Sau chị cháu bị người ta đánh thuốc độc, rồi giam vào hầm đá gần tháng. Nhưng có điều chị cháu không hề sử dụng võ công.

Hồng-Sơn đại-phu chau mày lại bắt mạch lần nữa:

– Rõ ràng tiểu cô nương đây giao chiến với người của phái Thiếu-lâm, bị trúng Kim-cương chưởng của họ. Dường như là chiêu Vô tướng vô sắc. Người này là tục gia đệ tử chứ không phải là tăng.

Thanh-Mai phục quá. Nàng gật đầu:

– Đúng rồi. Hôm ấy sư muội cháu bị người ta đùng chiêu Vô tướng vô sắc đánh cho nghẹt thở, rồi phóng chất độc vào người.

Đại-phu trầm ngâm:

– Khi thoát khỏi nhà tù, tiểu cô nương viếng Vạn-hoa sơn-trang, hít hương thơm Thập đại danh hoa, thành ra phế tạng bị thương. Sau đó lại sử dụng thần công Tây-vu, điều khiển hổ, báo, vì vậy độc chất chạy vào tới tâm tạng. Cô nương thử hít mạnh một hơi mà xem, có phải sau khi thở ra, trong phế dường như bị kim châm không? Trong lòng cô nương bồi hồi không yên. Vì đó là độc chất chạy vào tâm. Y thư nói tâm chủ thần chí khi tâm bị chất độc xâm nhập, thì thần chí hỗn lọan, trong lòng hồi hộp không yên.

Ông ngồi ngay ngắn dậy hỏi Bảo-Hòa:

– Cô nương thuộc động nào, châu nào ở bắc biên?

Bảo-Hòa thụp xuống đất hành đại lễ:

– Thưa tiên sinh. Ông nội cháu chính là Thân Thiệu-Anh. Cháu là con của…

Mặt đại-phu hiện lên một luồng hắc khí:

– Vậy cô nương là con Thân Thừa-Quý với con gái Lý Công-Uẩn?

Mỹ-Linh thấy nét mặt của ông biến đổi, cùng cách gọi ông nội mình là Lý Công-Uẩn chứ không gọi là Thuận-thiên hoàng đế thì biết ông có thù hận với họ Lý nhà nàng. Bảo-Hòa gật đầu:

– Vâng, mẹ cháu là Lĩnh-Nam bảo quốc, Hoà Dân Công Chúa.

Hồng-Sơn đại-phu đứng dậy:

– Không chữa. Ta không chữa cho cô nương. Điều thứ nhất, cô là cháu Thân Thiệu-Anh. Điều thứ nhì cô là cháu Lý Công-Uẩn. Mời cô nương rời khỏi đây.

Mỹ-Linh hỏi:

– Tai sao vậy tiên sinh?

– Tại vì ta với Lý Công-Uẩn có mối thù bất cộng đái thiên. Ta giữ ba lời nguyền. Một là không chữa cho tụi Tầu, hai là không chữa cho những ai trong tộc thuộc họ Lý. Ba là chỉ nhận chữa những bệnh không ai chữa được.

Lão hỏi Mỹ-Linh:

– Còn cô, cô là ai?

– Tiểu nữ là cháu nội của Thuận Thiên Hoàng Đế họ Lý tên Mỹ-Linh được phong công chúa Bình-Dương. Không biết tiên sinh có thù oán gì với họ Lý mà lại nguyền như vậy?

– Giữa ta với Lý Công-Uẩn không thù không oán. Nhưng y cướp ngôi của nhà Lê, là điều sĩ dân trong thiên hạ không ai khâm phục cả.

Trong đời Mỹ-Linh, nàng kính trọng ông nội như một vị thần. Nay nghe đại phu mạ lỵ ngài, nàng không chịu được:

– Tiên sinh liệu lời mà nói. Tiểu nữ là con cháu người. Tiên sinh nhục mạ người như vậy thì tiểu nữ không để yên đâu.

Đại-phu đổ quạu:

– Văn, con bắt đứa con gái này ngậm miệng cho bố xem.

Lê Văn hơi ngập ngừng một chút, rồi nó vung tay túm sau cổ Mỹ-Linh. Mỹ-Linh lạng người tránh, nhưng không kịp, Lê Văn đã túm được cổ nàng. Nàng há miệng định chửi, thì nhanh như chớp, Lê Văn nhét vào miệng nàng trái chuối cau. Nó mỉm cười:

– Trời ơi chị xinh đẹp thế này, mà sao già mồm thế? Mời chị xơi trái chuối cau. Chuối cau Vạn-thảo sơn trang có tiếng thơm, và ngọt.

Mỹ-Linh nhai trái chuối, nuốt cả vỏ. Nàng rút kiếm của Thanh-Mai đưa vào cổ Lê Văn bằng một chiêu thần tốc. Mọi người kêu thét lên, tưởng nó khó tránh khỏi cái chết. Không ngờ nó lộn đi một vòng, rồi bật người dậy. Nó tưởng như vậy là thoát khỏi lưỡi kiếm của nàng. Không ngờ khi nó bật người dậy thì mũi kiếm Mỹ-Linh đã di chuyển theo dí vào cổ nó. Biết gặp kình địch, nó né đầu tránh, rồi rút trong bọc ra một ống tiêu bằng trúc gạt kiếm Mỹ-Linh. Choang một tiếng, kiếm Mỹ-Linh vuột khỏi tay, bay lên cắm vào cột nhà.

Cánh tay Mỹ-Linh gần như tê liệt.

Nguyên Mỹ-Linh là đệ tử của phái Tiêu-sơn. Nàng mới học kiếm pháp Mê-linh do Tịnh-Huyền dạy. Mà kiếm pháp này lấy mau thắng chậm, lấy động chế tĩnh. Vì khinh thường nàng dùng kiếm dí vào cổ người, hóa ra lấy tĩnh chế động. Khi Lê Văn dùng ống tiêu gạt, đáng lẽ nàng phải biến chiêu để tránh sở đoản. Nàng lại giữ nguyên. Vì vậy kiếm bị bay mất.

Mỹ-Linh chạy lại nhổ kiếm. Trong đầu óc nàng vang lên tiếng Tịnh-Huyền giảng:

– Kiếm pháp lấy mau thắng chậm. Nếu học được 72 thức trấn môn, thì chiêu nọ nối với chiêu kia liên miên bất tuyệt, dù đối phương mạnh đến đâu cũng không sợ.

72 thức trấn môn trong tấm bia đá hiện ra. Nàng nhẩm đi nhẩm lại, rồi vung kiếm tấn công nữa. Hồng-sơn đại-phu cười nhạt:

– Được, cho cháu Lý Công-Uẩn, đấu với con ta, xem ai thắng, ai bại.

Mỹ-Linh đánh bốn chiêu. Bốn chiêu nối liền thành một dây, khiến Lê Văn phải lui lại ba bước mới tránh khỏi.

Hồng-Sơn đại-phu thấy chiêu kiếm của Mỹ-Linh hung hiểm lạ thường, lão hỏi:

– Này cô nương. Cô nương ra bốn chiêu kiếm liền, đúng là Mê-linh kiếm pháp. Đến chiêu thứ tư chiêu thức không đổi. Thế nhưng biến hoá khác thường. Phải chăng cô nương tự chế ra?

Thực ra bốn chiêu đều là Mê-linh kiếm pháp, song chiêu thứ tư Mỹ-Linh áp dụng phép kết hợp của 72 thức trấn môn, nên linh diệu khác thường.

Mỹ-Linh đã có một ý niệm về việc sử dụng kiếm pháp Long-biên. Nàng lại xuất liền một dây mười chiêu. Chiêu nọ nối với chiêu kia, khiến Lê Văn chỉ còn lo chống đỡ. Đến chiêu thứ mười bốn, thì ống tiêu bị văng lên không. Mỹ-Linh chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Nàng tần ngần đứng nhìn đối thủ.

Từ Hồng-sơn đại-phu cho đến Thanh-Mai đều kinh ngạc, rõ ràng Mỹ-Linh ra chiêu ngượng ngập như người mới học. Kiếm pháp của nàng là kiếm pháp Long-biên, thế mà dường như các chiêu biến hóa lạ lùng, không ai ngờ tới. Hồng-sơn đại phu bảo con:

– Thằng vô dụng, mi thua rồi, lui lại đi.

Tất cả những người hiện diện đều biết rằng võ công, công lực Mỹ-Linh thua Lê Văn xa. Khi nàng sử dụng kiếm lần đầu rõ ràng còn bỡ ngỡ. Sau khi thất bại, nàng đổi đi một chút khiến Lê Văn bị thua.

Thiếu phụ đeo kiếm hỏi Mỹ-Linh:

– Này công chúa. Tại hạ nghe nói công chúa học võ với Khai-quốc vương. Mà Khai-quốc vương là đệ tử phái Tiêu-sơn, tại sao công chúa biết sử dụng kiếm pháp Long-biên của phái Mê-linh?

Mỹ-Linh vốn tính chân thật, nàng đáp:

– Tôi học kiếm với thái cô.

Hồng-sơn đại-phu lên tiếng gọi:

– Thiếu-Mai đâu.

Một thiếu nữ trong nhà chạy ra. Thanh-Mai nhận ra, nàng là thiếu nữ đi cùng Lê Văn hôm trước. Võ công nàng cực cao, chỉ cần đánh một chiêu, hai anh em Triệu Huy đều lạc bại.

Hồng-Sơn đại phu chỉ Mỹ-Linh:

– Cô nương đây là công chúa Bình-dương, cháu Lý Công-Uẩn. Ba chiêu đầu cô bị thua Lê Văn, đến chiêu thứ tư, thì cô biến đổi kiếm pháp, khiến y bị thua. Con hãy lĩnh giáo mấy chiêu kiếm của cô cho bố xem

Thiếu nữ mỉm cười nói với Mỹ-Linh:

– Mời công chúa.

Mỹ-Linh biết muôn ngàn lần mình không phải đối thủ của Thiếu-Mai. Nàng ước đoán bản lĩnh Thiếu-Mai còn cao hơn Tạ Sơn với chú nàng một bậc. Tuy vậy nàng nghĩ:

– Nàng này tuổi tác, võ công hơn mình xa. Chắc nàng không đả thương mình đâu. Đã vậy mình cứ tấn công, không cần thủ.

Nàng vung kiếm đánh xéo từ dưới lên trên. Thiếu-Mai né tránh dễ dàng. Mỹ-Linh thuận tay đánh chiêu khác, thiếu nữ cũng né tránh. Cứ thế Mỹ-Linh đánh hết 72 chiêu Long-biên kiếm pháp.

Thiếu nữ bảo Mỹ-Linh:

– Cô nương mơí sử dụng Long-biên kiếm pháp lần đầu, còn thô sơ lắm. Thôi mời cô nương ra sân ôn lại đi. Khi nào thành thạo, ta sẽ đùa với cô nương.

Nói rồi nàng đẩy một chưởng. Mỹ-Linh bay bổng ra giữa sân. Nàng đáp xuống cạnh bụi hoa trà. Nhìn nụ cười khinh khi của Thiếu-Mai, Mỹ-Linh tức ứa máu lên cổ. Nàng nhủ thầm:

– Ta học nghệ không tinh, để người khinh khiến ông nội. Tại sao ta không luyện kiếm tại đây được?

Nàng luyện lại 72 thức Long-biên kiếm pháp, rồi chuyển ra biến hóa. Mỗi thức có 36 chiêu thành 2592 chiêu.

Hồng-Sơn đại-phu không thèm đếm xỉa đến Mỹ-Linh, quay lại hỏi Thanh-Mai:

– Còn cô nương. Cô nương có phải là công chúa nữa chăng?

Thanh-Mai thản nhiên:

– Thưa tiên sinh, tiểu nữ họ Trần, tên Thanh-Mai thuộc phái Đông-a.

Mặt ông trầm tĩnh trở lại:

– Cô với Côi-sơn đại hiệp là chỗ thế nào?

– Tiểu nữ là con gái của người.

Đại-phu phóng chưởng tấn công Thanh-Mai liền. Chưởng chưa ra, mà nàng đã cảm thấy ngộp thở. Biết nguy hiểm, nàng vận đủ mười thành công lực xuất chiêu Đông-hải lưu phong, chân bước lui một bước để hóa giải bớt kình lực đối phương. Bình một tiếng. Nàng lảo đảo lui lại. Cánh tay như tê liệt. Nàng kinh hãi nghĩ:

– Quái nhân này nổi tiếng là thần-y đương thời, tính tình cổ quái đã đành, mà võ công cực kỳ cao thâm. Chiêu vừa rồi ông ta chỉ vận có ba thành cộng lực, chứ nếu ông ta mạnh tay thì mình còn sống thế nào được?

Đại-phu cười khành khạch, vỗ đầu Thanh-Mai:

– Đúng, cháu đúng là con người bạn ta. Thế nào bố vẫn mạnh khỏe chứ?

– Thưa tiên sinh, thì ra tiên sinh là bạn của bố cháu?

– Chúng ta chơi với nhau từ hồi còn để chỏm. Đã lâu lắm rồi ta không gặp bố cháu.

Bỗng mặt ông nhăn lại:

– Chiêu Đông-hải lưu phong vừa rồi của cháu quả đúng là võ công phải Đông-a, nhưng dường như nội công thì không hoàn toàn đúng.

– Thưa sư bá, quả như sư bá dạy.

Rồi nàng kể truyện Huệ-Sinh dạy Thiền-công cho nàng như thế nào. Đại-phu cười:

– À thì ra thế. Lão thầy chùa Huệ-Sinh đâu rồi?

– Đại sư hiện đang ở chùa Sơn-tĩnh.

Đại-phu nhảy phắt lên:

– Sơn-tĩnh à? Tại sao lão lại ở Sơn-tĩnh. Đến đó coi chừng thằng thầy chùa ăn thịt chó Nguyên-Hạnh nó hại ngầm thì đi đời.

Ông ngồi vuốt tóc Thanh-Mai:

– Hà hà, bạn ta có đứa con gái vừa xinh đẹp, vừa giỏi võ. Cháu phải ở đây với ta, ta dạy cháu tất cả bản lĩnh chữa bệnh của ta. Ừ, cháu mà học được nghề thuốc, rồi đi khắp nơi trị bệnh cho dân chúng, thì tuyệt.

Thanh-Mai thấy tính tình ông thất thường. Yêu ai thì yêu hết lòng, ghét ai thì ghét cả họ hàng nhà người ta. Ông muốn dạy nàng, mà không hỏi ý kiến bố nàng đã đành, đến nàng ông cũng không cho phát biểu ý kiến. Chợt ông chỉ Bảo-Hòa, hỏi Thanh-Mai:

– Cháu ngoan, tại sao cháu lại đi chung với mấy đứa cháu Lý Công-Uẩn?

Thanh-Mai kể sơ lược truyện nàng gặp Mỹ-Linh với Bảo-Hòa cho ông nghe, rồi tiếp:

– Nếu sư bá có hiềm khích với triều Lý, thì cũng nên nghĩ tới lạc hầu Thân Thiệu-Anh mà trị cho cháu gái người.

Đại-phu gọi Bảo-Hòa:

– Để ta nói cho cô biết tại sao ta lại cũng có thù với ông nội cô. Thủa thiếu thời, ta thường cầm quân chinh phạt vùng núi rừng Bắc biên. Ta gặp một người võ công cực cao, đang thống lĩnh 207 khê-động miền Bắc. Y với ta kết làm huynh đệ. Chính ta dạy y chế thuốc Nhuyễn-cân. Không ngờ khi vua Lê Ngọa-triều tại vị. Y chỉnh đốn binh mã định đem quân về đánh. Vừa lúc đó Lê Ngọa-triều băng hà. Y làm áp lực bắt triều thần phải tôn Lý Công-Uẩn lên ngôi vua, bằng không y kéo quân về. Quần hào sợ nội chiến, phải tôn Lý lên làm vua. Do vậy nhà Lê mất nghiệp.

Ông thở dài buồn bã:

– Vì vậy ta bẻ đũa thề, tuyệt tình với Thân Thiệu-Anh. Ta là kẻ thù của Lý Công-Uẩn và Thân Thiệu-Anh.

Mắt phượng quắc lên, Bảo-Hòa đứng dậy:

– Ta thà chết chứ không để người thù của ông ngoại chữa cho ta. Mỹ-Linh, chúng ta đi thôi.

Hồng-Sơn đại-phu búng tay một cái, bốn viên thuốc bay ra với tốc độ quay cực nhanh, nhưng đi rất chậm, bật lên những tiếng vo vo, inh tai nhức óc hướng ba người, Thân Bảo-Hòa, Lê Phụng-Hiểu, Trần Thanh-Mai. Ba người vung tay bắt. Khi thuốc sắp tới tay, thì tan ra thành bụi. Một mùi hương thơm nồng nực bốc lên. Ba người lảo đảo ngã ngồi xuống. Lão vẫy tay một cái một thiếu nữ sau màn bước. Lão chỉ Thanh-Mai:

– Con bé này là con gái yêu của bạn ta. Nó đang bị mệt. Các người đem vào phòng Vạn-hương nằm nghỉ. Ta vừa cho nó hấp một viên thuốc định thần, khi nó thức, các người nấu cháo cá quả cho nó ăn.

Lão chỉ vào bọn Bảo-Hòa:

– Ta bắn ra ba viên thuốc, nhưng con bạn ta thì được hấp thuốc định thần. Còn các người thì ta cho thưởng thức Hàn-ngọc đan. Các người tưởng Vạn thảo sơn-trang là chỗ ai muốn đến thì đến, muốn đi thì đi hẳn. Các người đã hỗn hào với ta, thì ta làm cho muốn sống không xong, muốn chết không được. Các người chịu khó nằm đó, cho đến khi nào con bé Mỹ-Linh kia thắng được Thiếu-Mai, ta sẽ chữa cho, và tha về.

Từ đầu đến cuối, hai nhóm người đến xin chữa bệnh ngồi im không lên tiếng. Bây gìơ đại-phu mới chú ý đến. Ông hỏi:

– Các vị là ai?

Trung niên thiếu phụ chỉ vào đứa con tên Mẫn:

– Thưa tiên sinh, chúng tôi cầu tiên sinh chữa cho đứa con của chúng tôi.

Đại-phu nắm tay, cầm mạch đứa nhỏ, trầm ngâm một lúc rồi nói:

– À bệnh này thì những cái thứ lang băm chữa không được đâu. Có phải tư hồi sáu bẩy tháng, nó bị lên cơn sốt, rồi bị ho, bị đau cổ họng. Bà tìm thày thuốc. Thày cho uống Ma-hòang, Quế-chi, Sinh-khương, Cam-thảo. Bệnh khỏi. Nhưng chỉ ít lâu lại tái phát. Và cứ thế kéo dài năm này qua năm khác. Đến năm thứ ba, nó biến thành suyễn, thầy lang lại cho uống Ma-hòang, Cam- thảo, Hạnh-nhân, Thạch-cao. Bệnh suyễn hết, nhưng từ đấy chân tay nó bị lạnh, ăn không được, chứng suyễn cứ phát đi, phát lại hòai.

Trung niên nam tử chắp tay:

– Đúng như tiên sinh dạy. Chẳng dấu gì tiên sinh, chính tôi là thầy lang chữa cho con tôi. Tiên sinh đã biết tường tận, hẳn có thể cứu được cháu.

– Cứu thì cứu được. Trước khi điều trị, tôi cần biết căn cước các vị.

Thiếu phụ khai:

– Chồng tôi họ Trịnh tên Thư, hiện làm nghề buôn bán, cũng biết chút ít y lý, nên thường hay tự chữa bệnh cho vợ con. Chúng tôi quê ở Đồn-sơn. Nhà chỉ có hai đứa con trai.

Đại-phu gật đầu:

– Như vậy con ông bà đủ điều kiện được điều trị. Để tôi nói về chứng bệnh thằng bé cho ông bà nghe. Con người ta chia làm hai phần là Tiên thiên khí và Hậu thiên khí. Khởi đầu, con người chỉ là hạt tinh khí của cha, bắn vào bà mẹ. Tinh khí đó được bào cung của mẹ nuôi dưỡng bằng nguyên-khí cho đến lúc sinh ra. Tinh-khí của cha, Nguyên-khí của mẹ hợp lại thành Tiên thiên khí. Sau khi người ta sinh ra, thở hít khí trời tức Thiên-khí, ăn uống thực vật là Địa-khí. Thiên-khí, Địa-khí thành Hậu-thiên khí. Bệnh của con người chia làm hai loại. Một là do Tiên-thiên-khí hai là do Hậu-thiên-khí. Bệnh của cháu thuộc Tiên-thiên-khí. Trong khi ông bà giao-hợp ,nhằm giữa lúc người ông đang bị bệnh phổi, họăc bị đau bao tử, vì vậy cháu mới bị loại bệnh này. Hoặc gỉa trong khi bị bệnh, bà ăn nhiều thức ăn khó tiêu, thành ra Tiên-thiên-khí của cháu yếu đuối. Khi Tiên-thiên-khí yếu đuối, thì sự hấp thụ hậu thiên kém đi, sinh ra khí huyết đều hư.

Ông sờ tay lên bụng thằng bé, rồi tiếp:

– Khí huyết hư nhựơc, bị ngoại tà xâm nhập qua đường da, đường hô hấp. Thầy lang cho uống Ma-hòang, có vị cay, tính lại nóng. Cay thì làm hàn tan, nóng để trị hàn. Ma-hòang có tính chất làm ra mồ hôi. Quế-chi tính cũng cay, nhiệt, lại làm thông dương khí, trị phong hàn rất tốt. Sinh-khương tính ấm, giải biểu phụ với Ma-hòang, Quế-chi. Bệnh cảm của cháu khỏi. Nhưng khỏi rồi, mấy hôm sau phong hàn lại tái nhập. Cứ như thế trong nhiều năm, tà nhập vào tới phế. Phế tạng bị hư, thành suyễn.

Ông ấn tay vào lưng đứa trẻ:

– Thầy lang cho uống Ma-hoàng, đúng, Hạnh-nhân để khỏi ngứa cổ, trị ho đúng. Thạch-cao tính hàn, hạ nhiệt. Đúng. Nhưng trong khi gốc của bệnh là khí huyết hư nhược vẫn còn. Nếu cứ dùng công phạt như thế mãi, thì tà tuy trục ra, mà bệnh nhân khô kiệt rồi chết. Đối với đứa trẻ này, phải dùng phép phù chính. Tức phải bổ Tiên-thiên khi, cùng bổ Hậu-thiên khí.

Ông cầm bút viết:

Phục-linh một tiền,

Nhân-sâm nửa tiền,

Bạch-truật một tiền,

Quế-chi nửa tiền,

Cam thảo ba miếng.

Ông gọi tiểu đồng:

– Con đem thuốc đổ vào siêu, cho ba bát nước, khi còn nửa bát đem cho thằng bé này uống.

Trịnh Thư hỏi:

– Thưa tiên-sinh, tại hạ không hiểu nguyên lý của thang thuốc này. Xin tiên sinh giải cho.

– Gốc bệnh của cháu là tỳ vị hư nhược. Phục-linh bổ tỳ. Tỳ là gốc của sự vận khí. Khi tỳ mạnh, cháu ăn uống ngon. Bạch-thuật cùng tính năng như Phục-linh. Phụ với Phục-linh. Nhân-sâm để bổ Tiên-thiên khí, cùng bổ thận khí. Quế-chi dương tính mạnh, thông dương, trợ tâm khí. Còn Cam-thảo là dược vị hòa Trung-tiêu mà thôi.

Thình lình đứa trẻ ho mấy tiếng, rồi lên cơn suyễn, khò khè trong cổ. Ông mỉm cười:

– Không hề gì. Ta trị suyễn bằng châm cứu.

Ông cầm kin châm vào huyệt Đại-trữ, Phong-môn, Phế-du, Khuyết-âm-du dùng tay xoay kim. Trong cổ thằng bé hết khò khè liền. Ông lật thằng bé dậy, châm vào huyệt Thiên-đột, Hiệp-cốc, rồi xoay kim. Chỉ trong vòng hai mươi tiếng đập tim, thằng bé thở như thường.

Đến đó tiểu đồng mang thuốc ra cho thằng bé uống. Ông dặn:

– Ông bà dẫn cháu về làng Vạn-thảo nghỉ ngơi. Mai lại đem cháu tới, tôi trị tiếp.

Vợ chồng Trịnh Thư chắp tay:

– Còn tiền tạ thầy thế nào, mong tiên sinh dậy cho.

– Không vội, hãy lo cứu đứa bé này đã. Tạ với biếu làm gì vội. Đợi khỏi bệnh rồi ta mới nhận tạ.

Vợ chồng Trịnh Thư dắt con, tạ từ lão rồi ra cửa. Bây giờ ông mới hỏi Lê Văn:

– Còn ai không?

– Thưa bố còn một người bệnh nữa. Để con mời vào.

Lê Văn dẫn thiếu phụ đi với cô gái có đôi mắt đẹp vào. Đại phu hỏi thiếu phụ:

– Thưa bà. Bà cần ta điều trị cho ai?

Thiếu phụ cùng người đàn ông đang nằm bất động thấy vị đại phu rất quen mặt, mà không nhận ra là ai. Bà chỉ người đàn ông đang nằm bất động, nói:

– Thưa tiên-sinh, cháu không có bệnh gì. Người bị bệnh là bố cháu. Bố cháu họ Lâm tên Tín làm nghề đánh cá.

– Bà có phải là tộc thuộc họ Lý họăc người Tầu không?

– Thưa không. Có điều…

– Không có điều gì cả. Bà không ở trong hai điều đó là được rồi.

Người đàn bà lạy thụp xuống đất:

– Thưa tiên sinh, mong tiên sinh cứu chồng tôi. Nguyên cách đây mười năm, một đêm bị lên cơn sốt mê mệt. Hôm sau cổ tay phải sưng lớn. Thầy lang cho uống thuốc trấn thống, bẩy ngày sau thì khỏi. Thế rồi sau đó khi thì nửa tháng, khi thì một tháng bệnh tái phát. Dần dần hai đầu gối sưng lớn, xương méo đi. Hiện nay cổ, hai cùi chỏ, cườm tay, đầu gối sưng, xương méo hết. Chân tay phù thủng, đi, đứng không được.

Ông bắt mạch, xem lưỡi bệnh nhân, rồi nói:

– Bệnh của ông không có gì đáng ngại cả. Ông ta bị phong thấp lâu ngày, trị không khỏi, rồi nó chạy vào xương. Y học cổ gọi là tý chứng. Bà đi một mình với ông, hay còn có ai đi theo?

Thiếu phụ chỉ ra ngoài:

– Tôi còn cháu gái đi theo. Vì không có lệnh của tiên sinh, cháu không dám vào.

Bà gọi vọng ra ngòai:

– Huệ-Phương. Đại phu truyền con vào.

Cô gái có đôi mắt đẹp bước vào. Cô trông thấy Hồng-Sơn đại phu thì đứng dừng lại, bật lên tiếng kêu:

– Là… là… tiên sinh đấy sao?

Hồng-Sơn đại phu quên mất xung quanh ông còn nhiều học trò, bệnh nhân. Ông ngỡ ngàng:

– Huệ-Phương. Huệ-Phương. Ta tưởng kiếp này không gặp lại cô nương nữa.

Huệ-Phương cũng không tự chủ được, nàng ngã vào lòng ông. Đám đệ tử cùng con cháu ông vội giải tán. Trong phòng chỉ còn lại bố mẹ Huệ-Phương.

Hai người ôm nhau một lúc, rồi ông buông nàng ra. Nước mắt như mưa, nàng nói:

– Em đi tìm anh khắp đất nước Đại-Việt, sang cả Trung-quốc hai năm qua mà không gặp. Nào ngờ… nào ngờ ông trời có mắt.

Hình ảnh hai năm cũ trở về. Bấy giờ Huệ-Phương là cô gái 17 tuổi, nổi tiếng văn hay chữ tốt, thi thư đều thông. Nàng lại là đệ tử của phái Sài-Sơn, nên từ may mặc đến bếp núc đều hay. Nhan sắc nàng có một không hai. Không biết bao nhiêu người đến đánh tiếng hỏi, mà bố mẹ nàng không nhận lời.

Vào một ngày mùa đông, mưa phùn gió lạnh. Bố nàng bị đau nặng. Nàng phải đội mưa đi tìm thầy lang. Không ngờ tìm hết thầy này đến thầy khác, không thầy nào nhận lời. Quá mệt mỏi, nàng bị xỉu trên đường đi.

Giữa lúc đó, một trung niên nam tử cỡi ngựa đi qua. Ông thấy một thiếu nữ nằm bên đường, vội nhảy xuống cứu. Nhưng ông là đàn ông, nàng là gái, làm sao bây giờ? Ông phải tùng quyền ôm nàng lên ngựa, rồi dùng ngón tay chỏ điếm huyệt Nhân-trung cho nàng. Nàng từ từ mở mắt ra, nhưng người run lên vì lạnh. Ông đành ôm chặt nàng vào lòng, rồi phi ngựa đi tìm quán trọ. Vào quán, ông nhờ đốt lò sưởi cho nàng sưởi, tuy nhiên tay vẫn để vào huyệt Đản-trung của nàng mà truyền chân khí cứu cấp. Huyệt Đản-trung nằm trên ngực, giao điểm của trung tuyến ngực với đường nối hai đỉnh vú. Sáng hôm sau nàng tỉnh hẳn. Ông đưa nàng về nhà, rồi từ biệt lên đường. Trung niên nam tử đó là Hồng-Sơn đại-phu.

Sau cuộc cấp cứu đó, tình cảm nảy sinh. Ông tương tư Huệ-Phương. Ngược lại Huệ-Phương cũng tương tư ông. Mấy tháng sau, không chịu được thương nhớ, ông trở lại tìm Huệ-Phương, thì bố mẹ cho biết tại triều có chiếu chỉ thiên tử tìm một trăm con gái đẹp tiến cung. Huệ-Phương có tên trong danh sách. Trong một trăm cô gái, Huệ-Phương được một hoàng tử lọt mắt xanh, tuyển làm phi tần. Trước khi lên đường, nàng khóc lóc thảm thiết, thú thực mối tình với bố mẹ. Nàng lấy bộ quần áo, cùng chiếc khăn mà nàng mang hôm gặp Hồng-Sơn đưa gửi bố mẹ, nói rằng thế nào ông cũng trở lại. Vậy xin trao khăn, quần áo cho ông. Hẹn kiếp sau tái ngộ.

Ông nhận cái áo cánh mầu nâu, cái quần lụa đen và cái khăn hồng quàng cổ trở về sơn trang. Cứ đêm đêm. Ông đem áo, quần, khăn của nàng ra hít lấy hơi, tìm lại hương hoa ngày cũ. Nhiều khi ông muốn mạo hiểm vào cung, tìm nàng, giải thoát mang về đây, nhưng rồi lại chần chờ. Hôm nay, sau mấy năm thương nhớ, nàng lại hiện đến.

Huệ-Phương ngồi ngay ngắn, sửa lại y phục, rồi hỏi đại-phu:

– Anh ơi! Bệnh này do đâu mà có?

– Bệnh này thuộc vào loại hỗn hợp, một nửa do ngoại tà ở ngoài xâm nhập. Một nửa do cơ thể suy nhược sinh ra. Đầu tiên do huyết hư, tỳ dương hư, thận dương hư, rồi phong, thấp, hàn xâm nhập mà thành.

Huệ-Phương ngơ ngác không hiểu. Khi ngơ ngác, đôi mắt nàng đẹp lạ lùng. Hồng-sơn đại-phu giảng:

– Cơ thể con người cũng như vũ trụ, phân làm âm, dương. Khí là dương, huyết là âm. Ngũ tạng là tâm, can, tỳ, phế, thận là âm. Lục phủ đại-trường, tiểu trường, tam-tiêu, bàng-quang, vị, đởm là dương. Nhưng trời đất sinh ra trong âm có dương, trong dương có âm. Vì vậy thận cũng phân ra thận âm, thận dương. Tâm phân ra tâm âm, tâm dương… Cơ thể con người cần điều hòa âm dương. Nếu âm dương bất điệu sinh ra bệnh. Mỗi tạng, mỗi phủ đều có khí âm dương chống bệnh. Dương chống âm, âm chống dương.

Huệ-Phương bật lên tiếng « a »:

– Em hiểu rồi. Để em nói xem có đúng không nghe. Cứ như anh nói, cơ thể của bố em bị huyết hư. Huyết là âm. Khi âm huyết không đủ thì phong tà xâm nhập. Như vậy phong là dương tà.

Đại-phu giật mình:

– Em thông minh thực, chỉ thoáng một cái đã đoán ra. Cơ thể thân phụ em bị huyết hư, nên phong tà nhập. Thận dương hư bị hàn nhập. Bởi thận dương chủ chống với ngoại hàn. Khi thận dương hư, thì hàn tà nhập. Cuối cùng tỳ chủ vận hóa thủy thấp. Khi tỳ dương hư, thì thủy thấp nhập cơ thể. Kết lại vì huyết, thận, tỳ hư, nên phong, hàn, thấp nhập cơ thể.

Mỹ-Linh đang luyện kiếm ngoài sân, lời đối đáp của đại phu cùng Huệ-Phương lọt vào tai nàng. Nàng nhớ lại, thầy dạy văn của nàng là Lý Đạo-Thành đã giảng Kinh-dịch cho nàng rất tường tận. Thái-cực sinh Lữơng nghi là âm dương. Lưỡng nghi sinh Tứ-tượng. Tức là trong âm cũng sinh ra âm dương. Trong dương cũng sinh âm dương nữa là Bát-quái. Trong 72 thức Long-biên kiếm pháp, mỗi thức biến ra 36 chiêu thành 2592 chiêu, nàng đã hiểu, cho nên khi biến từ 72 sang 2592 nàng thắng Lê-Văn. Bây giờ 2592 chiêu nàng biến ra âm, dương thành 5184 chiêu. Nhưng một chiêu đâm ra, thì thế nào là âm, thế nào là dương?

Trong khi đó, đại-phu đang giảng cho Huệ-Phương:

– Trong cơ thể con người thì trên là dương, dưới là âm. Phải là dương, trái là âm. Lưng là dương, bụng là âm. Cơ thể sao phải thăng bằng giữa khí và huyết, giữa phải và trái, giữa trên và dưới, giữa trước và sau. Như vậy thì trong người khỏe mạnh. Em đeo kiếm thì hẳn biết võ công. Khi sử dụng võ công em cũng phải phân ra công là đương, thủ là âm. Thở ra là âm, hít vào là dương. Như vậy sẽ không bị mệt mỏi.

Huệ-Phương ngơ ngác:

– Xin anh nói rõ hơn rõ hơn.

Hồng-sơn đại-phu đối với Huệ-Phương cực kỳ nhu nhã. Ông cầm ống tiêu tà tà đưa ra một chiêu, rồi từ từ chuyển sang phải. Từ phải chuyển lên trên, rồi cười:

– Như chiêu vừa rồi, anh đâm về trước. Từ trước anh có thể biến sang phải là dương hoặc sang trái là âm. Nhưng anh chuyển sang phải. Tại vị trí phải anh chuyển lên trên là dương, xuống dưới là âm. Mà này em ơi. Khi anh chuyển như vậy, em đâu có biết rằng anh vận sức hay không? Nếu vận sức là dương, không vận là âm. Trong khi ra chiêu, vận sức hay không chỉ mình mình biết. Khi vận sức là dương, là thực chiêu. Khi không vận sức là âm, là hư chiêu.

Hôm ở dưới hầm đá, Mỹ-Linh thấy kiếm quyết thì học, chứ thực sự nàng không hiểu. Bây giờ nghe quái nhân kể, nàng mới bừng tỉnh ngộ:

– Thì ra thế. Từ 72 thức. Mỗi thức có 36 chiêu thành 2592, cộng âm dương thành 5184. Nếu biến hóa tam hư thất thực thì có ba mươi sáu ngàn, ba trăm lẻ chín chiêu thực, và mười lăm ngàn năm trăm năm mươi hai chiêu hư. Tổng cộng 51.851 chiêu. Trong những chiêu đó, có 72 thức mối nối, nối liền các chiêu với nhau.

Nghĩ vậy tay nàng múa kiếm như mây trôi, như nước chảy, liên miên bất tuyệt. Múa một lúc, nàng ngừng lại, vì trời đã tối.

Lê Văn ra sân nói:

– Công chúa, mời công chúa vào xơi cơm. Tôi nói nhỏ cho công chúa biết, bố tôi là người rất tốt. Tuy vậy đôi khi cố chấp. Công chúa yên tâm. Tôi có cách khuyên bố tôi. Công chúa đừng buồn.

Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Lê Phụng-Hiểu được đưa vào căn nhà bằng tre, trang trí toàn bằng tre. Lê Văn chỉ bàn:

– Bố tôi giao cho tôi tiếp các vị. Mời các vị dùng chút ít thổ sản Vạn-thảo sơn trang.

Mỹ-Linh nhìn lên bàn: có hai món ăn chính, mà nàng chưa từng biết.

Lê Văn tủm tỉm cười:

– Chắc công chúa chưa từng ăn qua các món này phải không?

Hết quyển II
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103105
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49567 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » May 1st, 2017, 8:30 pm


QUYỂN III
– hồi 21 — 30 –

HỒI THỨ HAI MƯƠI MỐT

Long Biên Kiếm Pháp


Lê Văn chỉ lên bàn:

– Vạn-thảo sơn-trang hân hạnh kính mời quí khách dùng chút ít thổ sản lấy thảo. Món đầu tiên là canh rau đay, mướp hương nấu với cua đồng. Chắc các vị cười rằng mướp hương, rau đay, cua đồng, đâu mà chẳng có, tại sao tại hạ lai đại ngôn rằng thổ sản bản trang?

Nó lấy trong chạn ra một quả mướp lớn bằng cổ tay. Khác với mướp thường, quả mướp này có năm múi như trái khế, da xanh ngắt, chư không xanh lợt như mướp thường:

– Đây là mướp hương, nấu với rau đay mới thơm. Còn nấu với mùng tơi thì hương giảm đi. Đay thường có hai lọai, đay đắng, trồng lấy vỏ làm dây, đan túi. Đay ngọt dùng nấu canh ăn. Đay Vạn-thảo của chúng tôi khác với đay khác là không có nhớt.

Bảo-Hòa thấy cảm tình với Lê Văn, nàng hỏi:

– Còn cua đồng, chắc cua đồng Vạn-thảo cũng khác với cua đồng nơi khác?

– Chị nói đúng. Xã Vạn-thảo nằm dưới chân núi, nước đồng Vạn-thảo do suối chảy xuống. Nước suối trong, sạch, mang theo mầu đất núi. Cua ăn mầu nước suối vừa béo, vừa không tanh. Các các vị nhìn đây, gạch cua đỏ tươi, riêu nổi lên nhiều hơn .

Từ lúc vào trang, Lê Phụng-Hiểu không nói một câu. Bây giờ chàng mới lên tiếng:

– Cậu Văn này, cậu nên nói về cách nấu canh cua đồng của mình khác với nơi khác cho quý khách nghe một thể.

Lê Văn nhìn Phụng-Hiểu:

– Dường như anh là trương-tuần của xã Vạn-thảo thì phải? Thực là quít làm, cam chịu. Vì mấy chị này cứng đầu mà anh bị giam. Thôi, đừng buồn nghe.

Quay lại phía Mỹ-Linh, Lê Văn nói:

– Cách nấu canh rau đay, cua đồng như thế này. Rau thái thực nhỏ, nhỏ như sợi tóc càng tốt. Nếu là đay Vạn-thảo, thì nấu luôn. Còn đay các nơi khác phải vò trong rá vo gạo, rồi rửa sạch nhớt đi. Mướp thì gọt vỏ, thái thành từng miếng nhỏ bằng đầu ngón tay. Cua đồng đem lột mai để riêng. Còn lại thân cua, cho vào cối dã thực nhuyễn, sau đó cho vào rá đồ với nước. Đồ xong, phải gạn nước mầu cẩn thận, vì khi dã cua, vỏ cua tan ra thành sạn. Sạn nặng, chìm xuống dưới. Nếu không gạn, nấu cả sạn, ăn vào, ê răng chết.

Nó chỉ vào cái nồi đất trên bàn:

– Bây giờ, nấu canh. Cho nước mầu, rau đay, mướp vào nồi nấu. Nhớ thêm một muỗm mắm tôm. Trong khi đó mai cua, ta dùng tăm ngoáy gạch vào cái bát. Đợi khi canh sôi, cho gạch vào. Rau đay, mướp hương mau chín, chỉ cần sôi hai đợt là phải bắt ra.

Miệng nói tay nó cầm muôi múc canh vào, bắt đặt trước mặt mọi người:

– Mời các vị húp thử.

Mỹ-Linh bưng bát húp một hơi, hương vị xông lên ngạt ngào.

Lê Văn chỉ vào một đĩa cà pháo:

– Cà pháo Vạn-thảo muối chua, chấm mắm tôm, ăn với canh rau đay, mới hợp cách.

Miệng nói Lê Văn xới cơm mời khách. Nó tiếp:

– Trang Vạn-thảo chúng tôi có 9 ngọn suối chảy xuống khe đá. Nước từ khe đá đổ ra cánh đồng. Trên cánh đồng sinh sản ra loại cá bống mít. Cá bống mít kho với hạt tiêu mới thực là ngon.

Mỹ-Linh thấy Lê Văn quả thực cởi mở, vui vẻ, hiếu khách, khác với ông bố, vui, buồn thất thường. Bảo-Hòa bị bệnh nặng, người nàng mề mệt, tuy vậy thấy thái độ của Lê Văn, nàng giảm bớt phần nào ác cảm với Hồng-Sơn đại phu. Nàng hỏi:

– Cá bống là cá bống, chứ tại sao là cá bống mít?

– Cá bống có hai lọai. Cá bống thường, da hơi vàng, dài bằng hai ngón tay. Ăn cũng ngon. Còn một loại cá bống nữa, thân hình tròn như hạt mít, da mầu tím, khi bụng chửa, buồng trứng căng lên, càng chắc nịch. Cá bống mít kho khô như thến này, ăn mới có mùi thơm.

Một là lạ miệng, hai là đói, Mỹ-Linh, Bảo-Hòa ăn nhiều gấp đôi ngày thường. Bảo-Hòa hỏi:

– Này cậu Văn, không hiểu tại sao đại phu lại thù oán ông ngọai tôi, mà cậu lại tử tế với bọn tôi?

– Có gì mà không hiểu. Bố tôi thù họ Lý vì họ Lý cướp ngôi vua của họ Lê. Mà bố tôi thuộc giòng giống vua Lê. Còn tôi, tôi không thích bố tôi làm vua, nên tôi không thù họ Lý.

Vì Lê Văn chỉ nhỏ hơn Bảo-Hòa, Mỹ-Linh ba bốn tuổi, vì vậy họ dễ thân thiện với nhau. Bảo-Hòa hỏi:

– Cứ như nội công, ngoại công của cậu, cao hơn Mỹ-Linh nhiều. Thế mà thình lình Mỹ-Linh thắng cậu, cậu có buồn không?

Lê Văn cười:

– Buồn gì mà buồn, đấu võ phải có khi thắng khi bại, chứ có đâu thắng mãi thì chán chết. Chị Mỹ-Linh, tôi biết Mê-linh kiếm pháp của chị, chị mới xử dụng lần đầu. Song có điều chị biến hóa đi, tôi giả vờ thua. Tôi biết làm vậy bố tôi buồn. Nhưng tôi không nỡ thẳng tay với người bệnh, nhất là người bệnh lại xinh đẹp như tiên nữ. Ước gì tôi có bà chị đẹp như hai chị. Trong khi chị chiết chiêu với chị tôi, chị bị tấn công quá không kịp suy nghĩ, tôi phân biệt được kiếm pháp của chị chỉ có 72 thức, mỗi thức biến hóa ra 36 chiêu.

Mỹ-Linh muốn thăm dò căn bản võ công của Lê-Văn, nàng nói:

– Bây giờ chúng ta đấu lại. Tôi chỉ dùng những chiêu thức căn bản xem cậu có thắng được tôi không?

Lê-Văn gật đầu:

– Tôi chỉ muốn thua chị. Chị đẹp như thế này, tôi có bổn phận phải thua. Nhưng chị muốn mượn tôi để luyện kiếm, thì tôi ráng làm vui lòng chị. Bây giờ thế này, nếu tôi thắng thì tất cả người bên chị phải ăn một bát ớt hiểm. Ngược lại tôi thua, thì phải gọi các chị bằng chị cả đời.

Nó nói sẽ:

– Tôi sẽ ăn cắp thuốc giải của bố tôi cho các chị uống.

Bảo-Hòa, Mỹ-Linh tìm thấy ở Lê Văn một con người mẫn tiệp, rộng rãi, tự nhiên họ nhớ tới Tự-Mai, không biết bây giờ ở đâu, làm gì?

Lê Văn lấy một thanh kiếm, bái tổ, nhường Mỹ-Linh ra chiêu trước. Mỹ-Linh cứ theo thứ tự từ thức thứ nhất, đến thức thứ 72, cùng biến chiêu diễn ra. Quả nhiên nàng không thể thắng được Lê Văn. Khi nàng đánh đến thức cuối cùng, lại trở về thức thứ nhất. Lê Văn đưa ngang kiếm, vận sức gạt mạnh. Choang một tiếng, kiếm Mỹ-Linh rơi xuống đất.

Lê Văn la lên:

– Chị thua rồi. Phải ăn ớt ngay.

Nói rồi Lê Văn lấy hai cái bát nhỏ, múc đầy ba bát ớt đỏ chói để trước mặt Bảo-Hòa, Mỹ-Linh, Lê Phụng-Hiểu:

– Quân tử nhất ngôn. Mời các vị xơi ớt.

Mỹ-Linh, Phụng-Hiểu kinh hoàng, vì làm sao nuốt nổi bát ơt hiểm? Còn Bảo-Hòa, vì tự ái, nàng bốc ớt bỏ vào miệng ăn. Không ngờ ớt không cay, mà lại ngọt, thơm tho vô cùng. Nàng định lên tiếng hỏi, thì Lê Văn nháy mắt lia lịa.

Biết có điều gì bí mật, nàng tiếp tục ăn hết bát ớt ngọt, đến quả cuối cùng mới thấy cay muốn cắt họng. Lê Văn ra hiệu bảo nuốt, nàng nuốt luôn. Mỹ-Linh, Phụng-Hiểu không hiểu gì, cũng bốc ớt ăn. Lạ một điều, sau khi ăn xong, bao nhiêu cái mệt mỏi của phấn Nhuyễn-cân biến đâu mất.

Lê Văn nói lớn:

– Nào bây giờ chị Mỹ-Linh luyện kiếm với tôi nữa đi chứ?

Mỹ-Linh là người thông minh tuyệt đỉnh. Nàng biết Lê Văn cho mình ăn thứ trái cây gì đó giống trái ớt, vừa thơm vừa ngọt. Trong bát ớt chỉ có một trái ớt cực kỳ cay. Nàng cảm động, cầm kiếm tà tà đánh ra. Bây giờ nàng áp dụng phép biến hóa phân âm-dương. Kiếm chiêu bay lượn đẹp vô cùng. Tay phải xử dụng kiếm. Tay trái bắt kiếm quyết. Thời gian ứơc hơn giờ, nàng đã đánh hết tất cả các thức, cùng biến hóa âm dương.

Lê Văn cười:

_ Bây giờ mỗi chiêu chị lại biến hóa đi, kiếm pháp trở thành phức tạp vô cùng. Thôi chúng ta tạm nghỉ, mai tiếp tục.

Lê Văn dẫn Bảo-Hòa, Mỹ-Linh đến một căn sàn nhà tre, bắc ngang qua suối. Nó thoăn thoắt leo thang lên trước, lấy đá đánh lửa, đốt đèn:

– Căn nhà này, Sơn-trang dùng cho bệnh nhân nghỉ lại. Trong có bốn cái dường. Chị Bảo-Hòa với Mỹ-Linh nghỉ tại đây. Còn anh Phụng-Hiểu sẽ có chỗ ngủ riêng. Tôi xin nói trước, trong trang có rất nhiều cây cỏ độc. Các chị đừng có dại mà trốn đi, nguy hiểm lắm. Ngày mai, tôi sẽ xin bố tôi tha cho các chị.

Nói dứt, nó dẫn Phụng-Hiểu rời nhà sàn đi về hướng chân núi.

Mỹ-Linh bàn:

– Chị Bảo-Hòa này. Từ lúc rời đền thờ Tương-liệt đại-vương, em thấy chị luôn luôn viết thư, nhận thư từ đôi chim ưng. Chị liên lạc với ai vậy?

Bảo-Hòa mỉm cười:

– Em thử đoán xem? Em mà đoán được, chị mới phục.

– Cũng dễ thôi. Thứ nhất chim ưng không phải của chị. Dễ gì chị sai khiến mãi được. Chắc chị liên lạc với chủ nhân của chim ưng phải không?

Bảo-Hòa lắc đầu:

– Sai. Chị liên lạc với anh Thiệu-Thái.

Nghe nói đến Thiệu-Thái, mặt Mỹ-Linh nóng bừng lên. Nàng muốn hỏi thăm, mà tự nhiên khựng lại. Bảo-Hòa trêu:

– Mạ mạ gọi anh Thiệu-Thái về Lạng-châu gấp, vì tháng bẩy này phải làm lễ cưới rồi.

Mỹ-Linh muốn nghẹn thở. Không tự chủ được, nước mắt chảy quanh. Bảo-Hòa tuyệt không ngờ cô em họ mình lại dễ tin, dễ súc cảm như vậy. Ngay từ hôm gặp nhau, nàng đã biết giữa Mỹ-Linh với Thiệu-Thái nảy sinh mối nhu tình. Muốn thử Mỹ-Linh, nàng nói đùa một câu, nào ngờ Mỹ-Linh khóc.

Bảo-Hòa nghĩ thầm:

– Mạ mạ ta đã hỏi vợ cho anh Thiệu-Thái, không ngờ trong chuyến đi này anh Thái gặp Mỹ-Linh. Rồi đây sẽ ra sao?

Nàng tát yêu Mỹ-Linh:

– Chị nói đùa đấy. Anh Thiệu-Thái đã liên lạc được với cậu hai. Cậu hai sai anh Thiệu-Thái dùng chim ưng theo dõi hành trình của chúng ta.

Nghe đến chú hai, lòng Mỹ-Linh ấm lại. Từ khi mẹ nàng qua đời, Khai-quốc vương trở thành người thân nhất của nàng. Ông chú này vừa đóng vai ông thầy, vừa đóng vai bà mẹ, vừa đóng vai ông bố. Nàng nghĩ thầm: tại sao phụ vương ta lại không đầm ấm như chú hai? Tuy hỏi vậy, nàng tự trả lời được ngay chú hai không vợ, không con, cho nên ông có nhiều thời giờ săn sóc nàng. Còn phụ vương nàng, nhiều vợ đông con, thời giờ đâu săn sóc nàng nữa.

Chợt bảo-Hòa để tay lên miệng, ra hiệu cho Mỹ-Linh im lặng, vì có tiếng chân người đang đi về phía mình. Hai người lắng tai nghe. Có hai tiếng bước chân rõ rệt, một trầm-trọng, một nhẹ nhàng. Mỹ-Linh thua Bảo-Hòa về kinh nghiệm, lịch lãm. Chứ về nội công nàng cao hơn nhiều. Nàng lắng tai nghe, nói sẽ:

– Có hai người tất cả. Một người bước chân trầm trọng, chắc là một cao thủ, bản lãnh cỡ anh Tạ Sơn. Một người nhẹ nhàng, dường như là đàn bà hay trẻ con. Võ công bình thường thôi.

Bảo-Hòa bàn:

– Hai đứa mình leo lên cây nhãn trước căn nhà này, xem bọn họ tới đây có việc gì. Nằm trong nhà, lỡ ra, khó xoay sở.

Nhanh như vượn, hai nàng bám cây nhãn leo lên cành lớn nấp, nhìn xuống. Hai bóng người tiến tới bên bờ suối, ngừng lại nghe ngóng động tĩnh, rồi nhẹ nhàng lội qua. Họ lắng tai một lát, rồi nhảy lên trước cửa căn nhà sàn. Một người đánh lửa lên, đốt vào mấy nén hương. Trong ánh lửa, Bảo-Hòa nhận ra là Quách Quỳ với Triệu Huy.

Nàng kinh hãi nghĩ:

– Rõ ràng Triệu-Huy bị bắt trói ở xã Vạn-thảo. Còn Quách Quỳ trốn cùng với Đinh Tòan, sao bây gìơ cả hai lại có mặt nơi đây? Dường như chúng xông thuốc mê để bắt nàng thì phải?

Sau khi xông thuốc mê, hai người đẩy cửa bước vào. Chúng đánh lửa lên soi khắp hai gian nhà. Triệu Huy kinh hãi:

– Hai con nhỏ trốn mất rồi. Dường như chúng chạy chơi đâu, vì hành lý còn để đây mà?

Quách Quỳ nói:

– Chúng ta tắt lửa, chờ chúng trở về hãy ra tay.

Triệu Huy tắt lửa liền. Hai người núp vào sau cánh cửa.

Đêm về khuya, tiếng dế rên rỉ khắp sơn trang. Thỉnh thoảng có tiếng cú rúc vang trên nền trời. Tiếng quốc kêu đêm hè não nuột. Triệu Huy chờ lâu không thấy chị em Bỏ-Hòa, y nói:

– Lạ quá, hay là có biến cố gì rồi. Hành lý chúng nó ở đây, mà chúng nó đi đâu?

Tính Bảo-Hòa tinh nghịch, nàng hái trái nhãn non, vận sức vào ngón tay búng một cái. Trái nhãn trúng trán Quách Quỳ. Nó giật mình kêu ái một tiếng:

– Sư thúc. Cháu bị trúng ám khí.

Triệu Huy lên tiếng:

– Cao nhân nào xin xuất hiện.

Mỹ-Linh bật lên tiếng cười. Biết đã bị lộ, nàng từ cành nhãn đáp xuống. Trong khi còn lơ lửng trên không, tay phải rút kiếm đưa vào cổ Triệu Huy. Triệu Huy khinh thường, đưa tay bắt.

Mỹ-Linh biến chiêu, mũi kiếm hướng ngực y. Y hỏang hốt nhảy lùi lại hai bước. Mỹ-Linh di chuyển theo. Y vội vọt mình lên cao tránh kiếm. Mỹ-Linh biến chiêu thần tốc hướng mũi kiếm lên trời. Ở trên cao, Triệu Huy không tránh được. Y rút kiếm khoa dưới chân, gạt kiếm Mỹ-Linh. Mỹ-Linh điểm một cái. Hai mũi kiếm chạm nhau trên không toé lửa. Nàng lùi lại hai bước, khoanh một vòng, kiếm quang bao phủ khắp người Triệu Huy. Triệu Huy uốn cong người lui lại tránh khỏi.

Đúng ra với chiêu kiếm đó, sau khi đắc thế, Mỹ-Linh đánh tiếp một chiêu nữa, thì Triệu Huy đã bỏ mạng. Một là nàng thiếu kinh nghiệm chiến đấu, hai là võ công nàng vốn thua xa Huy, thành ra nàng vẫn còn úy kị y, không giám truy sát.

Trong bóng tối, Triệu Huy chưa nhận ra Mỹ-Linh. Y thấy những chiêu kiếm hiểm độc, thì cho rằng người tấn công mình là một cao nhân. Hơn nữa, y nhận ra rằng đáng lẽ đối thủ có thể giết mình, mà lại ngừng tay. Y tưởng đối thử chỉ muốn cảnh cáo y mà không nỡ giết. Y lễ phép:

– Đa tạ tiền bối nhẹ tay.

Mỹ-Linh vung kiếm tấn công tiếp. Nàng đã có kinh nghiệm, cho nên chiêu nọ nối tiếp chiêu kia liên miên bất tuyệt. Lúc đầu Triệu Huy còn trả đòn được mấy chiêu. Sang đến chiêu thứ hai trăm trở đi, y chỉ lo chống đỡ. Y thấy những chiêu đối thủ đánh ra hung hiểm lạ thừơng, chiêu nào cũng bao hàm từ nội công cho đến ngoại công khắc chế với kiếm pháp của y. Thế nhưng những chiêu đó có thể giết y trong chớp mắt, thì lại biến đổi sang chiêu khác. Trong lòng y nghĩ rằng người đối địch với y là một kiếm khách, võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Người này chỉ muốn biểu diễn cho y thấy rằng võ công y còn thấp kém lắm mà thôi. Nghĩ vậy, y an tâm, thủng thẳng chiết chiêu.

Còn phần Mỹ-Linh, kiếm chiêu phát ra liên miên bất tuyệt. Lúc đầu nàng còn phải chú ý vận sức phát chiêu nào âm, chiêu nào dương. Về sau, nàng đã có ý niệm, thuận tay muốn phát âm, dương tòng tâm tuôn ra. Mỗi khi thấy Triệu Huy bị nguy khốn, nàng lại đổi chiêu.

Là công chúa, cháu nội vị hoàng đế xuất thân cư sĩ Phật-giáo, được thấm nhuần triết lý từ bi hỷ xả. Hàng ngày dù chỉ có ý tưởng giết con sâu, cái kiến nàng cũng không nỡ, huống hồ làm con người đau khổ. Bọn Triệu Huy tuy có manh tâm sang Đại-Việt ăn cắp di thư, chẳng qua y tuân chỉ của vua Tống. Hàng ngày, thầy dạy văn Lý Đạo-Thành đã giảng triết lý trung-quân, ái quốc cho nàng nghe. Nàng cũng từng đọc sử Trung-quốc, Lĩnh-nam, các sử gia không ngớt ca tụng những người chết cho đất nứơc. Vì vậy nàng càng không nỡ giết y.

Hơn tháng qua, y tuy có giam giữ chị em nàng thực, song nói năng vẫn lịch sự, nuôi ăn rất chu đáo. Nếu y ác độc, đã cho chị em nàng mỗi người một kiếm, rồi vứt xác vào rừng thực là giản dị. Do đó, nàng chỉ phóng chiêu, sao cho sắp tới người y, thì ngừng lại.

Chiết được hơn trăm chiêu nữa, nàng chợt nhớ đến lý thuyết tam hư, thất thực. Lý thuyết này là phần cuối của tuyệt kỹ kiếm pháp Long-biên, nàng đem ra áp dụng.

Triệu Huy đang lo chống trả vã mồ hôi ra, thì đột nhiên thấy kiếm pháp của đối thủ biến ảo, nhanh không thể tưởng tượng nổi. Y lùi dần, lùi dần, mồ hôi ra nhễ nhãi. Y muốn bỏ chạy, nhưng làn kiếm bao phủ khắp người.

Biết chắc phải chết. Y ngửa mặt lên trời than:

– Bệ hạ ơi. Bình-nam vương gia ơi. Hôm nay Triệu Huy đành bỏ thân ở đất Giao-chỉ để tỏ lòng trung với Đại-Tống. Chỉ mong triều đình lao tưởng đến mẹ già, con thơ của thần.

Than rồi, y thu kiếm lại không đỡ, cũng chẳng trả đòn, vung lên hướng cố tự vẫn.

Thình lình một bóng người từ dưới nhà sàn vọt lên, gạt kiếm của Triệu Huy, rồi tấn công Mỹ-Linh. Người đó lên tiếng:

– Sư đệ, có ta tiếp chiến đây.

Triệu Huy nhận ra tiếng nói của Ngô Tích. Y mừng qúa, vòng kiếm tấn công Mỹ-Linh. Thế là hai anh em y đấu với nàng.

Bảo-Hòa quan sát trận đấu, nàng kinh ngạc:

– Thật kỳ lạ. Mới mấy hôm trước đây mình không hề nghe nói Mỹ-Linh học kiếm bao giờ. Mà sao nay nàng lại biết xử dụng? Ban ngày nàng ra mấy chiêu tuy tinh diệu, nhưng rõ ràng lần đầu tiên xử dụng. Thế rồi nàng biến chiêu thắng Lê Văn. Sau chị của Lê Văn chiết chiêu với nàng, thì nàng xử dụng cả một pho kiếm rất kỳ ảo, nhưng vẫn chưa quen tay. Đến khi nàng luyện một mình, ta thấy đã tinh thục. Tiếp đến nàng đấu với Lê Văn, thì những chiêu kiếm trở thành biến ảo không thể tưởng tượng. Từ nãy đấu với Triệu Huy, lúc đầu còn chưa đủ chế thắng y. Bây giờ thì nàng làm chủ tình hình hoàn toàn. Ta thực không hiểu nổi. Ta cứ ngồi đây xem nàng có thắng nổi hai anh em Triệu Huy không?

Được Ngô Tích tiếp chiến, tinh thần Triệu Huy lên cao. Bao nhiêu cái mệt mỏi biến mất. Y múa kiếm như mây trôi, như nước chảy phản công.

Thấy Ngô Tích nhập cuộc, Mỹ Linh vẫn không luống cuống, nàng tiếp tục ra chiêu. Bây giờ nàng áp dụng hư, hư, thực, thực. Anh em Ngô Tích không biết chiêu nào hư, chiêu nào thực mà trả đòn. Thành ra bọn y cứ phải nhảy nhót, la hét để trợ oai. Nhảy nhót được một lúc, cả hai anh em đều mệt nhoài, kiếm chiêu rối loạn. Chợt Ngô Tích lên tiếng:

– Vệ-vương. Nếu vương gia không tiếp tay với bọn tôi, thì coi như anh em chúng tôi tuẫn quốc hôm nay ở đây. Chúng tôi tuẫn quốc không có gì đáng tiếc. Song có điều cái mộng trở về làm vua Giao-chỉ của vương gia e không thực hiện được.

Đinh Toàn nghe Ngô Tích lên tiếng, y vội rút kiếm tấn công Mỹ-Linh. Kiếm pháp của anh em Ngô Tích là Thiếu-lâm kiếm pháp. Còn kiếm pháp của Đinh Tòan là Hoa-lư kiếm pháp. Thành ra Mỹ-Linh phải chống với ba người, hai lọai kiếm pháp. Nàng mới tập võ không lâu, công lực còn non kém, chỉ dựa vào những tuyệt chiêu mà thắng đối thủ. Từ đầu đến giờ trải trên ba trăm chiêu, công lực cạn dần, chiêu thức của nàng kém linh họat. Nàng không còn nhảy, đuổi theo đối phương được nữa, mà chỉ đứng im một chỗ xuất chiêu. Bọn Ngô Tích, Đinh Tòan cũng nhận thấy thế. Chúng ra sức tấn công xung quanh nàng.

Trong lúc quá mệt mỏi, Mỹ-Linh nghĩ:

– Thôi rồi, hôm nay mình khó tránh khỏi cái chết. Khi chết ta sẽ được về thế giới cực lạc của đức Phật A-di-đà.

Thình lình một bóng người từ dưới nhà sàn vọt lên. Người này tung một chưởng, đẩy lui Đinh Toàn. Y đánh một quyền vào trước mặt Ngô Tích. Ngô cảm thấy ngộp thở, lộn ra sau hai vòng. Người đó lại búng tay một cái, thanh kiếm Triệu Huy đang hướng Mỹ-Linh bật trở lại. Sau khi đánh lui ba cao thủ, người đó vọt mình lên cao, biến vào đêm tối.

Nhờ người lạ mặt đẩy lui ba đối thủ, Mỹ-Linh định tâm lại: Mình đáng chết thực, phàm khi đối đầu với cường địch, mà mình kinh hãi, sao Thiền-công phát huy được.

Nghĩ vậy nàng buông lỏng chân khí. Vô tình hình thức đó đúng vào lối luyện công của phái Tiêu-sơn, mà Huệ-Sinh đã dạy nàng. Một chiêu đánh ra, không lực, chạm vào mũi kiếm của Đinh Tòan. Hai mũi kiếm đính liền vào nhau. Vừa lúc đó Mỹ-Linh chuyển kiếm đỡ chiêu của Ngô Tích. Kiếm của Ngô lại bị dính vào kiếm nàng. Triệu Huy thấy lạ, y định giết nàng. Song nghĩ lại vừa rồi nàng tha chết cho y bao phen. Y đẩy một chiêu vào cườm tay nàng, định đánh rơi kiếm đối thủ. Không ngờ khi thấy kiếm sắp tới cườm tay Mỹ-Linh. Nàng nghiêng người đi một cái, kiếm Triệu Huy lại chạm vào kiếm của nàng. Thế là bốn thanh kiếm dính thành một chùm.

Mỹ-Linh thấy hiện tượng kỳ lạ, đầu óc căng thẳng, nàng cứ cho rằng mình bị giết rồi, nên buông lỏng kình lực. Bốn người đứng im trong tư thế bất động. Trong khi đó bọn Ngô Tích, Đinh Toàn tưởng Mỹ-Linh muốn đấu nội lực với mình. Chúng dồn chân khí ra kiếm mong cả ba kết thúc tính mạng đối thủ. Không ngờ chân khí ra bao nhiêu, bị mất hút bấy nhiêu. Trong khỏang nhai dập miếng trầu, chân khí cả ba người bị kiệt. Cả ba lảo đảo ngã xuống. Bấy giờ Mỹ-Linh mới bừng tỉnh, thu kiếm về. Nàng cảm thấy chân khí trong người đầy ắp như sắp nổ tung ra. Bao nhiêu mệt nỏi biến mất.

Trong khi Mỹ-Linh đấu với bọn Triệu Huy, Bảo-Hoà nhìn rất rõ, người xuất hiện đánh lui bọn cường địch cứu Mỹ-Linh, chính là nhà sư trẻ, mà nàng đã quen ở Bắc-biên.

Nghĩ lại, hồi ấy, nàng đùa, đòi cưới nhà sư làm chồng. Những tưởng nhà sư xấu hổ, bỏ chạy. Không ngờ nhà sư cảm động, đỏ mặt lên tỏ ra bị xúc động. Từ đấy, mỗi khi nghĩ đến nhà sư trẻ, tim Bảo-Hoà lại đập mạnh.

Hôm đại hội Lệ-Hải bà vương, muốn cứu nàng, nhà sư nhảy vào vòng chiến, tay cặp nàng, thối lui. Người nàng áp vàp nhà sư. Từ đấy trong lòng nàng nảy sinh một tình cảm khó diễn tả.

Hôm nay, nhà sư lại xuất hiện. Nàng nghĩ thầm:

– Hay là chàng… thương yêu mình?

Bảo-Hòa từ trên cây nhảy xuống, hỏi Mỹ-Linh:

– Biểu muội. Có sao không?

Mỹ-Linh đáp:

– Không, dường như bọn này bị trúng gió thì phải.

Bảo-Hòa nhặt kiếm định kết liễu tính mệnh bọn Triệu Huy.

Huy kinh hãi nói:

– Cao nhân đã thắng tại hạ thì muốn mổ, muốn giết cứ giết. Triệu Huy này có chết cũng vì chữ trung, đâu có tiếc than. Tuy nhiên tại hạ muốn biết cao nhân là ai, thì chết mới nhắm được mắt.

Mỹ-Linh cười:

– Ngô chiêu-thảo-sứ, Triệu an-phủ-sứ thực đáng bậc trung quân ái quốc. Hãy nhặt kiếm lên. Ta tha chết cho đấy.

Bảo-Hòa thắp đèn lên. Bọn Triệu Huy kêu lên tiếng ái chà, chúng không ngờ người tha chết cho chúng là Mỹ-Linh.

Mỹ-Linh khoan thai hỏi:

– Ngô chiêu-thảo-sứ. Người hãy trả lời cho ta mấy câu hỏi. Thứ nhất, tại sao người đang bị giam tại xã Vạn-thảo, mà lại có mặt tại đây?

Ngô Tích kính cẩn nói:

– Thưa công chúa, tiểu-nhân cùng sư đệ được một cô gái cắt dây trói cho chạy thoát. Anh em tiểu nhân vượt hàng rào xã trốn trong rừng, rồi lần mò đến đây theo dõi công chúa.

Bảo-Hòa ngắt lời:

– Cô gái nào mà lại cắt dây trói cho các vị?

Triệu-Huy nhìn sư huynh, rồi mỉm cười:

– Hôm trước, trong chợ, khi trả tiền cho cô hàng bún riêu, vô tình sư huynh nói một câu gì đó, làm cô cảm động. Trong lúc anh em tiểu nhân bị giam, vị tướng quân Ngô An-Ngữ xin lý trưởng cung cấp thức ăn chiều cho anh em tiểu nhân. Ông lý sai cô hàng bún riêu nấu cơm, đem đến cho tù nhân ăn. Cô hàng cảm động vì sư huynh tại hạ trả cho nhiều tiền qúa, âm thầm cắt nhớm dây trói cho sư huynh. Đêm, sư huynh vận sức giật mạnh tay, dây trói đứt hết, rồi cởi trói cho anh em tiểu nhân.

Ngô Tích gốc là văn nhân, vốn lãng mạn. Y quỳ gối xuống hành đại lễ với Mỹ-Linh, rập đầu binh binh mấy cái:

– Công chúa điện hạ. Vì công chúa tha chết, nên tiểu nhân không giám dấu diếm, đã khai thực. Mong công chúa tha cho cô gái bán bún riêu. Tiểu nhân xin chịu tội chết thay cho cô.

Nói rồi y cầm kiếm đưa lên cổ, chiêu thức nhanh vô cùng. Mỹ-Linh vội rút kiếm, khẽ gạt. Choang một cái, kiếm của y văng lên cao, cắm vào cột nhà. Mỹ-Linh sững sờ tự hỏi:

– Tại sao công lực ta lại cao thế này?

Nàng ngẩn ngơ giây lát rồi nói với Ngô Tích:

– Ngày xưa trong lúc gia đình ly tán, Ngũ Tử-Tư đi trốn, đói khát ẩn thân trong bụi lau, được người con gái thương xót cho cơm ăn. Người đời khen là kỳ nữ. Nay Ngô chiêu-thảo-sứ cũng gặp kỳ duyên, thực đáng mừng. Tôi hứa tha cho cô hàng bún riêu đó. Dường như cô tên là Thanh-Trúc thì phải.

Mỹ-Linh đã hứa tha cho bọn y. Bảo-Hòa vẫy tay:

– Thôi các vị hãy đi đi.

Bọn Ngô Tích, Đinh Toàn nhặt kiếm uể oải lê bước đi.

Thình lình có tiếng nói lạnh lùng:

– Khoan. Đây là Vạn-thảo sơn trang. Cô gái này tha cho người là quyền của cô. Còn Vạn-thảo sơn-trang, thì dễ gì bọn Tầu các ngươi muốn vào lúc nào thì vào, muốn ra lúc nào thì ra đâu?

Có nhiều tiếng bước chân người đi, rồi đèn đuốc sáng choang. Một toán người xuất hiện. Trong đó có Thiếu-Mai, Lê Văn, Lâm Huệ-Phương. Huệ-Phương trông thấy Triệu-Huy, mắt phượng quắc lên:

– Tên Triệu Huy kia, người có nhớ ta không?

Triệu Huy gặp đường cùng, tuy nhiên y vẫn không mất phong độ. Y thản nhiên nói:

– Nhớ chứ sao không nhớ. Người là bọn ăn gian nói dối, buôn lậu tại bạc dịch trường Giang-đông thuộc Khâm-châu. Ta là biên cương trọng thần, bắt cha con người bỏ tù, tịch thu hàng hóa. Đó là điều đương nhiên. Sau cha con người vượt ngục về Giao-chỉ. Ta lờ đi, không yêu sách đòi Giao-chỉ bắt nộp là may rồi.

Thiếu-Mai hất hàm:

– Ta không cần biết người là ai. Đã lén lút vào Vạn-thảo sơn trang, ta bắt được, phải đi theo ta.

Triệu-Huy còn lưỡng lự. Thiếu-Mai vẫy tay, một thiếu niên trên hai chục tuổi nhảy vèo đến chụp y. Y lạng người đi tránh. Không ngờ thiếu niên chuyển động thân mình, túm gáy y, nhấc bổng lên như nhấc con gà. Tay kia chụp Đinh Toàn. Trong khi đó Lê Văn chụp Ngô Tích. Huệ-Phương chụp Quách Quỳ.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

– Trước ta cứ tưởng võ công Tiêu-sơn vô địch. Không ngờ ngoài bầu trời này còn bầu trời khác. Thiếu niên kia võ công có lẽ ngang với anh Tạ Sơn chứ không ít.

Lê Thiếu-Mai vẫy chị em Bảo-Hòa:

– Xin hai vị cô nương theo chúng tôi, để xử trí bọn này.

Nàng móc trong túi ra bốn viên thuốc, vung tay một cái. Bốn viên thuốc nhỏ bay ra kêu rít lên, trúng đầu gối bọn Ngô Tích. Cả bọn cảm thấy đầu gối lạnh toát.

Lê Thiếu-Mai ra lệnh:

– Hãy bỏ bọn chúng xuống. Ta cho mỗi đứa nếm một viên Hàn ngọc đơn, chúng không trốn được đâu.

Nàng đi trước, dẫn mọi người theo con đường lát đá rất đẹp. Tới bờ một cái hồ, nàng nói với Mỹ-Linh:

– Đây là hồ nhân tạo. Nhân nước suối chảy ngầm thấm qua núi, rồi vọt lên chỗ này. Thân phụ tôi xây đá xung quanh thành hồ.

Mỹ-Linh để ý, thấy hồ khá rộng, xung quanh bờ xây bằng đá. Hồ có cây cầu bắc từ bờ ra ngôi nhà thủy tạ xây theo hình bát giác. Trong nhà ánh sáng chiếu xuống hồ lung linh đẹp vô cùng. Lê Văn đi trước dẫn đường. Nó đẩy cửa vào nhà. Trong nhà, Hồng-Sơn đại-phu đang ngồi trước án thư. Cạnh ông, một cái bàn dài, Lâm Tín đang nằm dài trên đó, người đầy kim. Bà vợ Lâm Tín ngồi sau bàn. Thanh-Mai ngồi cạnh lão.

Lê Thiếu-Mai nói với cha:

– Thưa bố, con đã mời các quý khách tới ra mắt bố.

Hồng-Sơn đại-phu nhìn thấy Ngô Tích, Triệu Huy, mặt ông hiện ra nét sát khí:

– Bọn mi là người Tống phải không? Thiên đường có nẻo mi không tới. Địa ngục không đường dẫn xác vào. Đêm khuya thanh vắng, bọn mi tới sơn-trang của ta làm gì?

Ngô Tích đứng dậy chắp tay hành lễ:

– Thưa tiên-sinh, bọn chúng tôi nguyên xuất thân tiến sĩ Đại-Tống, phụng chỉ thiên-tử sung vào sứ đoàn sang Chiêm. Chẳng may dọc đường đại sư huynh chúng tôi trúng phải Nhuyễn-cân-hương. Nghe danh tiên sinh là Hoa-Đà tái thế, nên mạn phép tới cầu tiên sinh trị cho. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ nhì, ngày rằm tháng tám sang năm, Thiên-tử mở Thiên-hạ anh hùng đại hội ở Biện-kinh. Nghe tiên sinh là Thái-sơn Bắc-đẩu võ lâm Lĩnh-Nam, nên anh em tại hạ tới mời tiên sinh tham dự.

Rồi y nói rõ mục đích đại hội. Trong khi đó Triệu Huy mở bọc lấy ra một tờ thiếp mời với năm nén vàng, bỏ lên đĩa, hai tay cung cung kính kính bưng đến để trước mặt Hồng-Sơn đại-phu. Ông cầm thiếp mời lên xem, mỉm cười:

– Trong thiếp này ghi rõ người đứng ra tổ chức là Bình-nam vương, lĩnh chức Phụ quốc thái úy. Tổng quản Khu-mật-viện Triệu-Thành. Vậy Bình-nam vương đâu?

Triệu Huy đáp:

– Vương gia hiện đang trên đường sang Chiêm-quốc. Lúc trở về thế nào cũng đến thăm tiên-sinh.

Thanh-Mai cười nhạt:

– Sư phụ! Sư phụ đừng nghe mấy người này nói láo. Bọn họ có ba người, với thằng bé Quách Quỳ là bốn. Quách Quỳ là con cháu đại tướng Quách Quân-Biện, xưa bị đức Thái-tổ nhà ta (tức vua Lê Đại-Hành) bắt giam ở Hoa-lư. Hồi đó y học được chử Khoa-đẩu, cùng nói tiếng Việt. Y mưu phục thù, đem chữ Khoa-đẩu dạy con cháu. Bây giờ triều Tống cho thằng bé này theo sứ đoàn với mục đích ăn cắp di thư, hầu học võ công Lĩnh-Nam.

Nàng nhìn Bảo-Hòa:

– Ba người này tuy văn đỗ tiến-sĩ, nhưng võ họ cung có bản lĩnh. Họ nổi danh là Tung-sơn tam kiệt. Người lớn nhất trong bọn họ là Triệu Anh lĩnh chức lang-trung trong Khu-mật-viện nhà Tống. Trong khi đấu võ với chị Bảo-Hòa, bị chị ấy tung phấn Nhuyễn-cân. Cho nên anh em y đến đây xin chữa bệnh. Trên đường đi họ bắt trói con với Bảo-Hòa, Mỹ-Linh mang theo. Khi đến làng Vạn-thảo, bị Bảo-Hòa dùng thú rừng tấn công bắt giam. Không hiểu bằng cách nào họ vượt ngục, rồi tới đây mưu bắt Bảo-Hòa, Mỹ- Linh một lần nữa.

Hồng-Sơn đại-phu hỏi con gái:

– Tên Triệu Anh đâu?

Thiếu-Mai hất hàm cho Lê-Văn:

– Thằng cà chớn, giải tên Triệu Anh lên đây.

Nàng nói với Ngô Tích:

– Trong khi các người đi vào địa phận làng Vạn-thảo, chúng ta đã theo dõi. Các người được cô hàng bún riêu cứu thóat, rồi trốn vào khe suối ẩn thân. Ta biết thế nào các người cũng đến sơn-trang, vì vậy để cho các người vào, hầu trúng cỏ độc mà chết. Không ngờ các người định bắt Mỹ- Linh, Bảo-Hòa, bị Mỹ-Linh đánh bại. Ta theo dõi, liền cho người ra khe núi bắt tên Triệu Anh về giam trong sơn trang.

Lê Văn giải Triệu Anh tới. Phấn độc Nhuyễn-cân-tán ngấm vào trong người lâu ngày, khiến sắc mặt y xanh mứơt.

Khi mới vào nhà thủy tạ, Đinh, Toàn nhìn thấy Hồng-Sơn đại-phu, tự nhiên trong lòng ông rộn lên một mối cảm khái buồn rầu, lẫn hận thù. Ông cố moi óc xem, đã gặp ở đâu, mà chưa tìm ra. Hồng-Sơn đại-phu chợt quay lại nhìn Đinh Toàn. Ông cũng ngờ ngợ, dường như quen với Đinh, mà không nhớ đã gặp nhau hồi nào?

Thanh-Mai chỉ Đinh Tòan giới thiệu với Hồng-sơn đại-phu:

– Thưa sư phụ, vị này nguyên trước đây là Vệ-vương Đinh Toàn, con út của vua Tiên-Hòang nhà Đinh.

Đại-Phu kinh ngạc:

– Ta không tin. Vệ-vương đã chết trong trận đánh Cẩm-thủy trấn Thanh-hóa, xác rơi xuống sông, mất tích, đã mấy chục năm rồi, chứ đâu còn tới ngày nay?

Mỹ-Linh đã từng nghe Hồng-Sơn đại-phu nói cá nhân lão không thù hằn gì ông nội nàng. Nhưng ông nội nàng cướp ngôi nhà Lê, vì vậy lão không đội trời chung với họ Lý. Võ lâm không ai biết xuất thân của lão. Lê Văn họ Lê, mà y là con trai đại-phu, vậy chắc ông họ Lê. Như vậy không chừng ông là con cháu của Lê Hòan cũng nên. Nếu ông là con cháu Lê Hòan, thì ông có mối thù không đội trời chung với Đinh Toàn. Đinh đang theo bọn Tống mưu phục hồi ngai vàng. Ta cũng nên nhân dịp này nói toẹt âm mưu bọn Tống ra, hầu chia rẽ bọn chúng với ông.

Mỹ-Linh mỉm miệng cười:

– Hồng-Sơn tiên sinh. Tiên sinh không tin ư? Chính Vệ-vương gia đây đã thuật cho chị em tiểu nữ nghe. Hồi vương còn nhỏ, sau khi vua Tiên-hoàng cùng Nam-Việt vương Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết chết, triều thần tôn người lên làm vua. Bấy giờ người còn nhỏ, Thái-hậu Dương Vân-Nga tư thông với Lê Hoàn cướp ngôi của người. Người phải cắn răng nhẫn nhục, nhờ thân mẫu che chở cho. Khi Lê Hoàn mang người theo, rồi cho cận vệ bắn lén phía sau. Người giả vờ ngã xuống sông, lặn trốn đi.

Hồng-sơn đại-phu cau mặt:

– Nói láo.

Mỹ-Linh nhìn sắc mặt ông biến đổi, nàng đóan chắc ông là con cháu họ Lê. Nàng tiếp:

– Người trốn sang Trung-quốc, cầu vua Tống cho mượn quân đem về chiếm lại ngôi. Nhưng vua Tống còn ghê sợ trận Chi-lăng, Bạch-đằng, nên không giám. Bây giờ nhà Tống đã giầu mạnh. Vua Tống sai Bình-nam vương dẫn tới bốn năm sứ đòan sang Đại-Việt thăm dò đường xá, mua chuộc nhân tình, rồi sai tướng đem quân hộ vệ vương gia làm vua Đại-Việt.

Thấp thoáng một cái, đại-phu đã vọt tới trước, rồi lui trở về chỗ cũ. Áo Đinh Toàn bị xé tung, lưng lão bị hở, phía sau lưng có vết thẹo lớn.

Hồng-Sơn đại-phu gật đầu:

– Quả nhiên người là Đinh Toàn.

Đinh Toàn bật lên tiếng kêu kinh ngạc, tay lão run run chỉ Hồng-Sơn đại-phu:

– Lê Long-Mang. Người đích thị Lê Long-Mang, con thứ sáu của Lê Hoàn. Người được phong là Nam-quốc vương trấn thủ vùng Vũ-long. Khi Lê Long-Đĩnh, cùng Long-Việt tranh ngôi vua, người án binh bất động. Vì vậy sau này Long-Đĩnh lên ngôi vua, vẫn cho người giữ chức cũ. Lúc Lý Công-Uẩn cướp ngôi nhà Lê, người bỏ quan chức, treo ấn, trốn đi. Ta tưởng người đi đâu, hóa ra ẩn thân ở đây làm thầy lang.

Đinh Toàn nhìn Hồng-Sơn đại-phu như muốn ăn tươi nuốt sống:

– Hồi ta còn bé, sống trong cung với anh em người. Anh em người đánh, chửi ta nhục nhã vô cùng. Bây giờ võ công người đến trình độ vô địch thiên hạ. Ta lại bị trúng độc của con gái người, chân tay cử động khó khăn. Vậy người giết ta đi cho tuyệt hậu hoạn, bằng không sẽ có ngày ta giết hết tông tộc nhà ngươi để trả thù.

Hồng-Sơn đại-phu nhìn bọn Triệu Huy:

– Từ trước đến nay, ta chữa bệnh, có biệt lệ. Một là không chữa cho tông tộc nhà Lý. Hai là không chữa cho người Tống. Ba là chỉ chữa những bệnh mà không ai chữa được.

Ông nhìn Thiếu-Mai tiếp:

– Vạn-thảo sơn trang vẫn có biệt lệ. Nếu ai tự ý xâm nhập, sẽ bị bỏ tù. Ta chỉ tha ra khi nào chính tù nhân hoặc người nhà y có khả năng thắng một trong hai con của ta.

Lão chỉ vào Thiếu-Mai:

– Đây là một trong hai con ta. Các người có khả năng thắng thì ta tha cho.

Đinh Toàn thở dài:

– Nhưng chân bọn ta trúng Hàn ngọc hoàn tê liệt, làm sao xử dụng được võ công?

Hồng-Sơn đại-phu cười nhạt:

– Dễ lắm.

Nói rồi ông vung tay, bốn viên thuốc bay ra hướng vào Đinh Toàn và bọn Ngô Tích. Chân tay bọn này cử động được liền.

Đinh Toàn chỉ Mỹ-Linh:

– Ta đấu kiếm với đứa cháu Lý Công-Uẩn, bị nó dùng tà đạo làm tiêu hao hết công lực của ta. Ít ra phải hơn mười ngày, ta mới phục hồi được. Nếu mi anh hùng cứ để bọn ta ra đi, mười ngày sau bọn ta trở lại tái đấu.

Hồng-Sơn đại phu cùng Thiếu-Mai ôm bụng cười. Đinh Toàn bực mình:

– Các người cười cái gì?

Thiếu-Mai chỉ Mỹ-Linh:

– Này Vệ-vương gia. Đầu óc người có còn minh mẫn không đấy. Cô công chúa cành vàng lá ngọc của họ Lý này, mới học được ba cái múa của tên Lý Long-Bồ. Sau tuy được lão thầy chùa Huệ-Sinh thu làm đệ tử, nhưng bản lĩnh còn thua xa thằng cà chớn Văn nhà này. Hôm qua, con bé chiết chiêu với Lê Văn, nó xử dụng mấy chiêu kiếm Long-biên xiêu vẹo, thì bản lĩnh đâu mà làm tiêu hao công lực các người. Nếu sự thực như vậy, thì bản lĩnh các người không đáng để sơn trang ta ngó tới.

Thiếu-Mai chợt nhớ mới hai hôm trước, nàng đã đấu với anh em Ngô Tích một chiêu trên đường đến làng Vạn-thảo. Sau mỗi chiêu, nàng thấy tay ê ẩm đến nửa gìơ mới hết. Bản lĩnh như vậy đâu có tầm thường. Nàng đến bên Ngô Tích bắt mạch, quả thấy trầm, mà trì, rõ ràng là mạch của người suy kiệt đến chỗ cùng cực.

Nàng suy nghĩ:

– Phàm người học võ, thì mạch bao giờ cũng hồng, đại. Chứ có đâu trầm trì.

Nàng tiếp tục bắt mạch Triệu Huy, Đinh Toàn, cũng cùng tình trạng.

Hồng-sơn đại phu hỏi:

– Cái gì vậy?

– Bố, họ nói thực. Cả ba người mạch đều trầm, trì.

Hồng-Sơn đại-phu liếc nhìn Mỹ-Linh, rồi quay lại hỏi Lê Văn:

– Mi lớn mật thực, giám ăn cắp thuốc giải Nhuyễn-cân phấn của bố cho bọn này uống.

Lê Văn quỳ gối trước bố:

– Bố ơi! Con nghĩ việc thù oán giữa bố với ông của chị Mỹ-Linh, Bảo-Hòa là việc người lớn. Bố là đại tôn sư võ học, sao lại thù tới bậc hậu bối? Vì vậy con ăn cắp thuốc của bố trộn vào với Kỷ-tử cho họ ăn.

Mỹ-Linh cảm động:

– Cậu Văn, thì ra cậu bầy ra đấu võ với bọn tôi, làm bọn tôi thua, rồi cậu trộn thuốc giải với Kỷ-tử cho bọn tôi uống. Cậu… cậu… tốt với bọn tôi quá.

Lê Văn cười:

– Tôi vốn cảm tình với các chị, thì dù các chị có thua, tôi đâu nỡ lòng nào bắt các chị ăn một bát ớt? Chẳng qua quả Kỷ-tử mầu đỏ giống qủa ớt, tôi cho các chị ăn hầu phục lại sức khỏe sau gần tháng bị giam dưới hầm. Trong bát Kỷ-tử, tôi trộn vào một viên thuốc giải. Các chị ăn vào cay khè lửa ra, các chị tưởng là ớt thực.

Tính khí Hồng-Sơn đại phu kỳ cục thực, song lại rất thương con cháu. Tuy biết con làm trái với ý mình, nhưng ông chỉ cười xòa:

– Thằng bất trị. Bố phải đành què mới được.

Thình lình ông đứng dậy vung chưởng đánh xuống đỉnh đầu Mỹ-Linh. Chưởng phong chưa xuất ra hết, mà nàng đã ngộp thở. Nàng kinh hãy, vội vận khí xuất một chiêu Tiêu-sơn Lăng-gìa chưởng đỡ. Bình một tiếng, nàng lảo đảo ngã ngồi xuống. Tai nàng phát ra những tiếng vo vo không ngớt. Nàng vội hít một hơi chân khí, lấy lại bình tĩnh, đứng nhìn ông. Nàng biết ông mới vận có ba thành công lực.

Sau khi phát chiêu thử công lực Mỹ-Linh, đại-phu lặng im một lúc rồi nghĩ thầm:

– Hồi chiều ta thấy con nhỏ này nội lực coi như không có gì, còn thua cả Lê Văn. Không hiểu sao bây giờ lại hùng hậu như thế này? Nội lực này tuy không bằng ta, nhưng e Thiếu-Mai cũng thua.

Ông khoan thai nói với Đinh-Toàn:

– Đúng. Các vị nói đúng. Nội lực con nhỏ này không tầm thường.

Ông hỏi Mỹ-Linh:

– Này công chúa. Trong nội lực của công chúa, dường như bao gồm nội lực Tiêu-sơn, Mê-linh, còn pha lẫn nội lực Thiếu-lâm, Hoa-lư nữa.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103105
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49567 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » May 2nd, 2017, 7:13 pm


HỒI THỨ HAI MƯƠI HAI

Vạn Thảo Sơn Trang


Ông cật vấn Lê Văn về những diễn biến xẩy ra. Từ lúc nó đãi cơm Mỹ-Linh cho đến khi luyện kiếm cùng nàng. Sau đó nó cùng Thiếu-Mai phục phía trước nhà sàn theo dõi bọn Triệu Huy.

Nghe Lê Văn kể, mặt Hồng-Sơn đại-phu đờ ra.

Ông bảo Lê Thiếu-Mai:

– Con hãy chiết mấy chiêu với công chúa cho bố xem.

Thiếu-Mai biết bố mình muốn tìm hiểu võ công Mỹ-Linh. Nàng chắp hai chưởng vào nhau:

– Công chúa, tôi xin công chúa chỉ điểm cho mấy chiêu.

Nói rồi nàng từ từ đẩy ra một chưởng. Mỹ-Linh vốn đã úy kị bọn Triệu Huy, thế mà hôm trước trên đường đến đây, nàng thấy Thiếu-Mai đánh một chiêu làm Ngô Tích, Triệu Huy lạc bại. Bây giờ Thiếu-Mai thách đấu, nàng tự biết muôn ngàn lần mình không thể đối chiêu với bậc tiền bối này. Tuy vậy nghĩ đến nét mặt Hồng-Sơn đại-phu coi khinh ông nội mình, Mỹ-Linh bỏ ra ngòai sống chết, vận khí xuất một chiêu trong Tiêu-sơn Tượng-đầu chưởng đỡ. Bộp một tiếng, Thiếu-Mai rung động toàn người, bật lui hai bước. Trong khi Mỹ-Linh cũng lùi liền ba bước.

Khi thấy Mỹ-Linh vận khí phát chiêu, Thanh-Mai lo lắng cho nàng, không chết cũng bị thương. Nào ngờ kết qủa chính Thanh-Mai cũng không ngờ tới. Nàng nhủ thầm:

– Kỳ lạ không. Công lực Mỹ-Linh vốn thua xa cả Tự-Mai, Bảo-Hòa. Không hiểu sao, ta mới xa nàng có mấy giờ, mà công lực nàng bỏ xa bọn Triệu Huy đã đành, mà còn muốn hơn Thiếu-Mai nữa. Chiêu vừa rối rõ ràng nàng không biết phát lực, bằng không, mình e Thiếu-Mai cũng thua.

Thiếu-Mai hít một hơi, vận khí tiến lên phát chưởng nữa. Chưởng phong ào ào phát ra. Mỹ-Linh cũng hít một hơi, phát chiêu Tiêu-sơn Tượng đầu chưởng tên là Nhu huyễn hư không. Đây là chiêu âm-nhu, đặt cơ sở trên chữ không nhà Phật. Chưởng phong không có gió. Bộp một tiếng, chưởng của Thiếu-Mai mất tăm mất tích. Nàng lảo đảo lùi lại. Trong khi đó mặt Mỹ-Linh đỏ tươi lên như uống rượu. Nàng đứng im bất động. Rõ ràng thắng bại đã phân.

Hồng-Sơn đại-phu hỏi con gái:

– Cái gì vậy?

– Con không biết nữa. Chưởng phong của con bị hút mất. Tay trở thành vô lực.

Thiếu-Mai lại tấn công bằng một kỳ chiêu. Vốn liếng võ học Mỹ-Linh chỉ có mấy bài quyền nhập môn của phái Tiêu-sơn, và pho Tiêu-sơn Tượng-đầu chưởng. Nàng thấy chiêu số Thiếu-Mai tinh diệu, kỳ ảo, thì bỏ ra ngoài sống chết, cứ tùy chiêu chống đỡ.

Những người ngoại cuộc, từ Hồng-sơn đại phu cho tới bọn Ngô Tích, Thanh-Mai đều kinh ngạc không ít. Vì Thiếu-Mai thì chiêu số kỳ diệu, kinh nghiệm dư thừa, công lực hùng mạnh. Còn Mỹ-Linh chỉ có mấy chiêu quyền thô sơ, chống đỡ ngượng ngập. Nhưng cứ mỗi chiêu nàng đánh ra, nội lực như thác đổ, như băng tan, khiến Thiếu-Mai không thắng được nàng.

Bọn Ngô Tích nhìn nhau nghĩ thầm:

– Bọn mình đáng chết thực. Bấy lâu giam giữ con nhỏ này mà không hề biết công lực nó cao thâm như vậy. Thôi rồi, chắc nó giả tảng để dò xét hành tung bọn mình đây. Bây giờ mình khám phá ra thì đã muộn.

Ngay chính Mỹ-Linh, nàng cũng không biết công lưc ở đâu sinh ra hùng mạnh như thế. Bình bình, bình nàng đỡ liền ba chiêu của Thiếu-Mai. Trong khi mải suy nghĩ, tòng tâm xử dụng, vô tình đúng vào lý thuyết vô nhân tướng, vô ngã tướng, vô chúng sinh tướng trong kinh Kim-cương, nội tức ào ào tuôn ra. Thiếu-Mai bật lui đến bốn năm bước mới đứng vững. Chân khí trong người gần như bị tuyệt.

Hồng-Sơn đại-phu cũng như Mỹ-Linh không hiểu là phải. Hơn nghìn năm trước, công chúa Trần Năng được Khất-đại-phu thu làm đệ tử. Ông truyền nội công dương cương của phái Tản-viên cho đệ tử. Trong lần viếng thăm núi Tam-sơn trên hồ Động-đình, Trần Năng được Bồ-tát Tăng-giả nan-đà giảng kinh Lăng-gìa, rồi kinh Bát-nhã cho. Bà hiểu, mà không biết áp dụng vào việc luyện nội lực. Phải đợi đến trận đánh đồi Vương-sơn, giữa lúc bà đấu với Trần Nghi-Gia đến chỗ nguy kịch. Tăng-giả Nan-đà bèn đọc đoạn đầu kinh Lăng-già lên. Trần Năng ngộ được, chuyển vào nội lực, mà thắng Trần Nghi-Gia, rồi thắng luôn chồng y là Phan Anh.

Sau đó trong trận đánh Trường-sa, Trần Năng giao chiến với đám đệ tử của Lê Đạo-Sinh là Đức-Hiệp, Hoàng Đức, Võ Hỷ, Ngô Tiến-Hy. Bốn người đấu nội lực với bà. Bà áp dụng phép không tâm, lập tức trong người như chiếc hồ rỗng. Bao nhiêu chân khí của đối thủ bị thu vào hết.

Sau này Bắc-bình vương Đào Kỳ cùng công-chúa Phùng Vĩnh-Hoa chép bộ Lĩnh-Nam võ kinh cũng chép phương pháp tổng hợp Thiền-công của Trần Năng vào. Nhưng vì sợ võ kinh lọt vào tay quân thù, công chúa Nguyệt-Đức xen vào bằng bẩy mươi hai thuật ngữ đặc biệt. Trần Năng đặt ra bài ca khuyết giải thích các thuật ngữ đó. Bà truyền miệng cho đệ tử. Khi bà tuẫn quốc, võ công của bà tuy thất truyền, nhưng khẩu quyết vẫn còn lưu lại. Hồi thành lập phái Mê-linh, một trong hậu duệ của Trần Năng đem bài ca khuyết đó dạy cho sư thái Tịnh-Huyền. Tịnh-Huyền truyền cho Mỹ-Linh. Do vậy Mỹ-Linh luyện thành.

Luyện Vô-ngã tướng thiền công cực khó, mà cực dễ. Thứ nhất phải hiểu đến cùng kỳ cực kinh Kim-cương. Thứ nhì, tâm tính phải đơn thuần. Như trong trận đồi Vương-sơn, Trưng Nhị, Sa-Giang cực kỳ thông minh, lại không giác ngộ, hiểu được. Trong khi tâm tính Trần Năng đơn sơ, chỉ nghe qua, đã vào tới cõi Vô-thượng Bồ-đề.

Mỹ-Linh quả có cơ duyên kỳ lạ. Nàng được học chữ Khoa-đẩu. Được một cao tăng đắc đạo giảng dạy thực kỹ kinh Lăng-gia, Kim-cương, Bát-Nhã. Rồi vô tình theo chú ra ngoài, bị bọn Đàm An-Hoà giam trong nhà tù, được Tịnh-Huyền truyền cho bài ca khuyết Long-biên kiếm pháp cùng Vô-ngã tướng Thiền-công. Tâm tính nàng lại đơn giản. Do vậy nàng luyện thành một thần công vô thượng của thế gian.

Hôm ở trong hầm đá, Mỹ-Linh đọc đến đọan này trên bia, nàng âm thầm luyện thử, song chỉ thấy trong lòng trống rỗng. Nàng có cảm tưởng bao nhiêu nội lực Tiêu-sơn luyện từ nhỏ mất hết. Nhưng trong người khỏe mạnh vô cùng. Nàng không biết, cho rằng nội lực bị tiêu hao, chứ đâu có biết nội lực chuyển vào đơn điền, và trở thành sức hút. Nàng hoảng sợ, vội bỏ không luyện nữa. Song từ nhỏ, mỗi tối đi ngủ, nàng đọc kinh Bát-nhã đã quen, vì vậy trong giấc ngủ, tiềm thức làm việc, nàng lại vận công theo trong Lĩnh-Nam vũ-kinh. Sau gần tháng, nội lực Tiêu-sơn trong người nàng đã qui liễm xong. Người nàng như một cái bình trống không. Khi đấu với anh em Ngô Tích, họ định dùng nội lực hại nàng. Không ngờ bao nhiêu nội lực bị nàng thu mất. Đinh Toàn nhập cuộc, cũng không tránh khỏi tai kiếp. Vì vậy trong người nàng hiện chứa nội lực của ba cao thủ. Cho nên khi Hồng-Sơn đại phu phát chiêu thăm dò, mới thấy trong người nàng có nội công Tiêu-sơn, Hoa-lư và Thiếu-lâm.

Hồng-Sơn đại-phu phất tay:

– Công chúa, người đã thắng con gái ta. Vậy người có thể rời sơn-trang được rồi. Nhưng ta có một thắc mắc, người học võ với thằng bé con Lý Long-Bồ, được phong cái gì Khai-quốc vương. Tên này tuy võ công cao thực, nhưng ta e cũng không hơn công-chúa. Vậy ai mới đích thực là sư phụ của công-chúa?

Tính Mỹ-Linh chân thực, nàng đáp:

– Thưa tiên sinh, từ nhỏ cháu học võ khai tâm với vương-mẫu. Vương-mẫu là đệ tử phải Mê-linh. Sau lớn lên cháu học với thúc-phụ và cuối cùng được đại-sư Huệ-Sinh thu làm đệ tử.

Hồng-Sơn đại-phu nghĩ thầm:

– Tất cả những người dạy con bé này đều không có gì xuất sắc. Lão thầy chùa Huệ-Sinh dường như đắc đạo thành Bồ-tát rồi, song khó có thể luyện cho đệ tử có công lực cao thâm ở tuổi nhỏ như vậy? Không chừng nó có cơ duyên ăn được thức ăn gì đặc biệt, nên công lực mới đầy ắp mau chóng đến thế.

Mỹ-Linh chỉ Bảo-Hòa, hỏi đại-phu:

– Tiểu bối đa tạ tiên-sinh quá khen. Chẳng hay tiên sinh có thể cho chị Bảo-Hòa cùng đi chăng?

Hồng-Sơn đại-phu lắc đầu:

– Có hai điều kiện. Một là Bảo-Hòa không được nhận lão Lý Công-Uẩn làm ông ngoại. Hai là thị có thể đỡ được của Thiếu-Mai mười chiêu.

Mỹ-Linh xịu mặt xuống:

– Chị em tiểu nữ đi cùng đi. Về cùng về. Tiểu nữ xin ở lại đây cùng chị Bảo-Hòa.

– Được, công chúa cứ tự tiện.

Mỹ-Linh dẫn Bảo-Hòa trở về căn nhà sàn. Trải qua cuộc đấu võ, hai người đặt mình xuống là ngủ liền.

Bảo-Hoà tỉnh giấc vào giữa đêm, vì chỗ Hồng-Sơn đại phu phóng thuốc vào đau đớn vô cùng. Nàng mở cửa ra sân, nhìn trăng, ngắm hoa. Nàng nhớ lại hồi theo dõi bọn Địch Thanh, có một đêm trăng, nàng đã cùng nhà sư trẻ ngồi bên bờ suối nói truyện suốt đêm. Từ đó trong tâm nàng thường nghĩ đến nhà sư luôn. Nàng thở dài:

– Dù ta có thương nhớ chàng. Chung cuộc vẫn như hoa trong gương mà thôi. Chàng… chàng là một nhà sư.

Chợt nàng để ý thấy có bóng một người, ánh trăng chiếu nghiêng xuống sân. Thình lình nàng quay trở lại. Bóng đó chính là nhà sư, mà nàng thương nhớ bấy lâu. Cho rằng đây là một giấc mơ, nàng hỏi:

– Có phải anh đấy không?

Nhà sư rời chỗ nấp, tiến tới. Bảo-Hòa ngả vào lòng chàng. Nhà sư ôm chặt lấy Bảo-Hoà. Hai người lặng đi giờ lâu.

Trên không, một đám mây trắng che lấp mặt trăng. Có tiếng vạc ăn đêm kêu não nùng, pha lẫn với tiếng dế.

Nhà sư hỏi:

– Bảo-Hoà! Em bị trúng độc đấy ư?

– Đúng thế. Độc chất đã được Lê Văn cho uống thuốc giải hết rồi. Nhưng em bị đại phu phóng Hàn-ngọc đơn vào đầu gối, không đi xa được.

Nhà sư nói:

– Để anh dùng nội công trục bớt chất độc Hàn-ngọc băng ra cho em bớt đau. Sau đó, phải dùng châm cứu trị mới được.

Nhà như đỡ Bảo-Hoà ngồi xuống ghế, đối diện với mình, rồi áp hai tay ông vào hai bàn tay Bảo-Hòa. Bảo-Hòa rùng mình, cảm thấy như người bị ném vào lò lửa. Lát sau, mồ hôi nàng xuất ra như tắm.

Khoảng ăn xong bữa cơm, Bảo-Hoà cảm thấy buồn ngủ đến không mở mắt ra được. Nhà sư thu tay về, rồi nói với Bảo-Hòa:

– Thôi em vào nhà ngủ đi.

Nói rồi ông hôn phớt lên má nàng một cái, vọt mình biến vào màn đêm.

Hôm sau hai chị em tỉnh giấc, thì mặt trời lên cao. Mỹ-Linh xuống suối rửa mặt, dùng tay vốc nước uống. Nước suối thực trong, mát vô cùng. Muì hương, mùi hoa đưa lại ngào ngạt.

Hai chị em rảo bước, hướng chân núi dạo chơi. Mỹ-Linh kinh ngạc vô cùng, vì rõ ràng mới hôm qua, Bảo-Hoà bị trúng Hàn-ngọc đơn, đi đứng cực kỳ khó khăn, mặt tái xanh, mà bây giờ, nàng bước đi thoăn thoắt, da mặt tươi hồng như không hề trúng độc.

Bảo-Hòa nhìn đường lối trong trang chằng chịt, than:

– Cách đây mấy ngày chúng mình thăm Vạn-hoa sơn-trang đã cho là rộng, không ngờ Vạn-thảo sơn-trang còn rộng hơn. Hôm qua Lê Văn chỉ cho chúng mình cách phân biệt đường lối, chứ không, lỡ lạc đường vào vùng trồng cây-cỏ độc thì e mất mạng.

Mỹ-Linh nhìn những luống hoa thơm bạt ngàn, đỏ, vàng đủ mầu, mà nàng không biết tên. Nhiều lúc nàng định hái hoa chơi. Nhưng nghe lời Lê Văn dặn rằng phàm những hoa trong trang mà không biết tên thì tuyệt đối không nên đụng chạm vào. Ngay những hoa có biết tên, cũng không nên hái. Hoa này không độc, nhưng mang theo bên mình, tới vùng có thứ hoa khác ,mà hai thứ hợp với nhau, sẽ thành độc tố rất nguy hại.

Qua hơn trăm luống trồng cây thuốc, tới chân ngọn đồi. Trên đồi trồng toàn thông. Gió thổi, lá thông reo vi vu như những tiếng than thở của cặp tình nhân không trọn vẹn.

Bảo-Hòa hỏi Mỹ-Linh:

– Em làm sao mà nội công cùng kiếm pháp tiến mau như vậy?

Mỹ-Linh tường thuật việc Tịnh-Huyền dạy kiếm pháp Long-biên cùng những thuật ngữ như thế nào. Rồi trong hầm đá, nàng học dược 72 thức trấn môn với bài quyết biến hóa. Sau đó đem ra đấu cùng Lê Văn, cùng bọn Triệu Huy. Còn nội công, nàng luyện theo lối không tâm trong Thiền-công.

Mỹ-Linh bàn:

– Chị Bảo-Hòa này. Hồng-sơn đại-phu bắt chị phải đỡ được của Thiếu-Mai mười chiêu, mới cho chị rời sơn-trang. Em nghĩ, từ nhỏ chị luyện võ công dương cương quen rồi. Chị cũng được luyện 12 chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Hay bây giờ, em đọc khẩu quyết toàn bộ pho Phục-ngưu thần chưởng, chị thử luyện xem. Biết đâu không thành công?

Bảo-Hòa gật đầu:

– Ừ, em bàn đúng đấy, gặp lúc đói đầu gối phải bò. Không lẽ suốt đời bị giam ở đây sao? Có điều Phục-ngưu thần chưởng chị học do truyền khẩu, có lẽ sai lạc khá nhiều. Bây giờ em thử đọc phần tổng quyết xem có giống nhau không!

Mỹ-Linh đọc lại từ đầu đến cuối bẩy mươi hai câu tổng quyết. Bảo-Hòa gật đầu:

– Một vài từ ngữ không giống nhau. Nhưng đại ý đều không khác biệt. Bây giờ em đọc cách luyện chiêu Ác ngưu nan độ cho chị nghe.

Mỹ-Linh lại đọc một hơi. Bảo-Hòa gật đầu:

– Cách luyện, cách phát chiêu, cách biến hóa thì đúng. Nhưng cách vận-khí thì không hoàn toàn giống nhau.

Bảo-Hòa hít hơi vận khí đánh thẳng vào một gốc thông lớn bằng cổ tay. Cây thông rung lên như bị bão.

Mỹ-Linh nhắc:

– Phần tổng quyết nói rằng Phàm phát chiêu phải có ý niệm mình sẽ đánh vào một bức tường đá. Ý thủ rằng tường đá sẽ bị đánh vỡ ra từng miếng. Như vậy mới đạt được cái uy lực. Em thấy chị phát chiêu, mạnh thì có mạnh, nhưng không làm gẫy cây thông, thì chưa phải là Phục-ngưu thần chưởng.

Bảo-Hòa tỉnh ngộ, nàng tập trung tinh thần, hít một hơi không khí, vận lực đẩy về phía trước. Bình một tiếng, cát, bụi bay mịt mù. Mỹ-Linh reo:

– Gần được rồi đấy.

Bảo-Hòa đứng im vận khí một lúc, đưa nội tức từ đơn điền lên đầu vai. Một lực đạo hùng hậu làm tay nàng muốn rung lên. Nàng lại phát chiêu Ác ngưu nan độ hướng vào cây thông ban nãy. Bình một tiếng, cây thông bị tiện đứt ngang ở giữa như dao chặt một nhát ngon.

Mỹ-Linh reo lên. Nàng cầm cây thông lên coi, chỗ đứt bằng phẳng. Hai chị em ôm lấy nhau, lặng đi một lát vì mừng.

Mỹ-Linh nói:

– Bây giờ chúng ta bắt đầu luyện từng chiêu một. Trước hết phải chỉnh đốn lại những chiêu chị đã biết cho đúng, rồi mới luyện những chiêu mới.

Hai chị em luyện đến trưa thì chỉnh xong mười hai chiêu. Mỹ-Linh thắc mắc:

– Chị Bảo-Hòa này. Em nghe nói Phục-ngưu thần-chưởng là võ công trấn môn của phái Tản-viên. Pho chưởng này không truyền cho nười ngoài môn phái. Vậy ai đã dạy chị?

Bảo-Hòa mỉm cười:

– Chị được học Phục-ngưu thần-chưởng trong một lần theo ông nội viếng thăm tổng-đường phái Tản-viên. Sư bá Đặng-đại-Khê, chưởng môn phái Tản-viên sủng ái chị cùng cực. Ông là người giỏi về khoa tướng-số. Mới nhìn thấy chị, ông đã yêu thương như con cháu. Ông vuốt tóc chị khen là tóc mây. Ông dặn chị : « Cháu đã được ông nội là đệ nhất cao nhân đương thời luyện võ cho. Ta không dám xen vào. Nhưng nhìn tướng cháu, ta biết sau này sự nghiệp của cháu không tầm thường. Phái Tản-viên nhà ta, từ xua có một tuyệt kỹ trấn môn là Phục-ngưu thần chưởng do tổ-sư Sơn-Tinh chế ra gồm 36 chiêu, đặt trên cơ sở dương cương. Sau Vạn-tín hầu nhân dó chế ra 36 chiêu âm-nhu khắc chế với các chiêu dương cương. Đến thời vua An-Dương thì bị thất truyền chỉ còn mười tám chiêu. Sau Bắc-bình vương Đào Kỳ có cơ duyên tìm lại luyện trọn vẹn cả âm lẫn nhu, mà thành anh hùng vô địch. Nay pho chưởng này bị thất truyền, chỉ còn mười hai chiêu dương cương. Ta dạy cháu. Biết đâu sau này, cháu lại có cơ duyên tìm được ».

Bảo-Hòa ngước mắt nhìn mây trôi, tay nàng nhặt quả thông ném xuống suối:

– Sau khi học chị đã đem ra xử dụng nhiều lần, nhưng thấy uy lực không mạnh thì cho rằng pho chưởng này bị người đời huyền thọai hóa đi, chứ thực sự không hơn gì những pho chưởng khác làm bao. Bây giờ chị được Mỹ-Linh đọc khẩu quyết cho nghe, mới vỡ lẽ ra rằng trong pho chưởng này có ba phần độc lập. Một là cách vận-khí, hai là cách phát-chiêu, ba là cách biến hóa. Người học chỉ luyện một phần thì cũng có kết qủa, luyện hai phần thì kết qủa mạnh hơn. Nếu luyện cả ba phần thì kết quả mới thực sự phát huy được hết sức mạnh.

Mỹ-Linh đọc khẩu quyết chiêu Tứ ngưu phân thi cho Bảo-Hòa:

– Tứ ngưu phân thi là chiêu thửc chỉ khó ở phần biến hóa, chứ không khó ở phần luyện. Trước hết khí trầm đơn điền, rồi chuyển phân ra hai chân, hai tay, sau đó buông lỏng chân khí mà phát chiêu.

Bảo-Hòa vừa vận khí thì cảm thấy chân đau nhói lên, mặt mày tái mét. Cho rằng mình vận khí sai, nàng làm lại lần nữa, chân lại đau nhói. Nàng bật lên tiếng Ái.

Mỹ-Linh hỏi:

– Cái gì vậy?

Bảo-Hòa chỉ vào chân:

– Chị vận khí đến đây thì bị đau nhói lên.

Mỹ-Linh thở dài:

– Đúng rồi. Hôm qua Hồng-sơn đại-phu phóng vào người chị viên Ngọc-hàn đơn, để chị không thể đi đâu xa được. Lê Văn nói : Trúng phải Hàn-ngọc đơn thì không thể di chuyển quá hai dậm. Khi di chuyển quá hai dậm, chân bị đau nhói. Chị vận khí xuống chân cũng như di chuyển, chân đau là phải. Thôi, hôm nay mình tạm nghỉ đã.

Hai người hướng căn nhà thủy tạ đi xuống. Vừa sắp bước qua mỏm đá, Bảo-Hòa kéo Mỹ-Linh ngừng lại núp vào bụi cây, tay để lên miệng ra hiệu im lặng. Bên kia giòng suối, Hồng-Sơn đại-phu đang sóng đôi rảo bước cùng Lâm Huệ-Phương. Huệ-Phương chỉ vào tảng đá cạnh suối:

– Anh ơi. Chúng ta ngồi đây nghỉ một tý đã. Cảnh trí u tịch quá. Ước gì em được sống ở trong sơn trang này mãi mãi.

Hồng-Sơn đại-phu mỉm cười:

– Sơn-trang của anh là nơi hủ lâu, trong chốn rừng sâu thế này, mà được một tiên nữ như em ở lại thì còn gì hân hạnh bằng. Anh chỉ sợ em ở chẳng được bao lâu, lại bỏ đi.

Huệ-Phương ngứơc mắt nhìn mây trôi, con mắt nàng đẹp không thể tưởng tượng được. Tay nàng ngắt một bông hoa trà, cài lên túi áo đại-phu. Nàng thở dài:

– Anh ơi! Em không biết phải nói thế nào anh mới tin cho. Song thân em chỉ có một mình em lại là gái. Hai người suốt đời buôn bán dọc ngang. Tiền của tuy giầu có thực, nhưng vẫn buồn vì không có con trai. Người khuyên em phải chọn lấy một tấm chồng đủ bằng này điều kiện. Một là phải có đức, biết thương dân, thương nước. Hai là có võ công cao. Ba là biết hưởng cái thú thanh nhàn của thiên nhiên.

Mỹ-Linh nói thầm vào tai Bảo-Hòa:

– Chị này yêu ông đại-phu rồi đây. Không biết em gặp chị ấy ở đâu trông quen quá. Đúng rồi, em có gặp nàng một lần ở Thăng-long.

Huệ-Phương ngước mắt nhìn đại-phu:

– Thân phụ em còn nói: khi tìm được người như vậy, thì dù tuổi nào, dù làm lẽ, làm nàng hầu cũng cam. Khi mới gặp anh, em thấy anh là mẫu người em đi tìm. Thế rồi sóng gió đến, chúng mình xa nhau. Em lặn lội hàng vạn dặm đi tìm anh, chỉ mong dâng hiến cuộc đời cho anh.

Tay nàng ngắt bông hoa, đứng tựa bên cây Ngọc-lan đưa mắt nhìn trời xanh. Hồng-Sơn đại-phu quì xuống ôm lấy hai đầu gối nàng:

– Em thực là tiên nữ của đời anh.

Hồng-Sơn đại-phu nắm lấy tay Huệ-Phương. Nàng run lên bần bật. Ông bế bổng nàng lên, đặt ngồi vào trong lòng mình. Huệ-Phương gục đầu vào người ông. Một tay ông quàng vai, một tay ông vuốt ve cánh tay nàng. Bàn tay ông đẹp vô cùng, mịn màng, nhỏ như bàn tay thiếu nữ.

Bảo-Hòa, Mỹ-Linh là hoàng hoa khuê nữ, tuy có nghe nói đến yêu đương, song rất ít. Mỹ-Linh chỉ gọi là biết chút ít yêu khi gặp Thân Thiệu-Thái. Còn Bảo-Hòa thì gần như chưa bao giờ nghĩ tới. Bây giờ hai người chứng kiến cảnh yêu đương, tuy không muốn nhìn, mà không thể nào tránh được. Hai người biết nội công Hồng-Sơn rất cao, chỉ cần hai người thở mạnh một tiếng, thì lập tức ông ta phát giác ra, e khó toàn mạng.

Một lúc sau, Hồng-Sơn buông Huệ-Phương ra. Huệ-Phương nói như trong giấc mơ:

– Năm nay em đúng mười chín. Anh mới 51 tuổi. Em muốn anh cho em một đứa con. Đứa con sẽ đẹp như mẹ nó, và thông minh như bố nó. Anh góa vợ từ lâu, chẳng may tục huyền với một người đàn bà vừa đần độn, vừa đanh ác, làm anh phiền muộn không ít. Bây giờ người ấy đã ra đi rồi, em đến với anh.

Huệ-Phương chưa nói dứt lời thì có ba tiếng trống từ xa vọng lại. Hồng-Sơn đứng dậy nói:

– Có quí khách từ xa tới thăm. Sơn-trang đánh trống mời anh về. Huệ-Phương, kể từ giờ này, em cứ coi như em là vợ chính thức của anh. Bây giờ có khách. Em là chủ mẫu sơn trang, tiếp với anh.

Hai người hướng căn nhà Bát-giác, dùng khinh công chạy tới. Mỹ-Linh, Bảo-Hòa rời chỗ nấp. Bảo-Hòa cười:

– Không ngờ Hồng-Sơn tiên sinh tuổi đã cao, mà còn gặp duyên tình kỳ lạ. Ông ta cũng nhiều tình cảm đấy chứ ? Chỉ duy có điều ông ta thù hận ông ngoại, thành ra có nhiều điều quá đáng. Thôi chúng ta đi về, không Lê Văn đợi cơm.

Còn cách nhà sàn mấy trăm bước, hai người nhận ra Lê Văn đang đứng trước nhà chờ đợi. Thấy Bảo-Hòa, Mỹ-Linh từ xa đi lại, Lê Văn cười toe toét:

– Hai chị lên đồi thông hả? May mà không gặp bố em. Bố em cũng đi về phía đó với giai nhân. Hôm nay coi bộ ông cao hứng lắm. Em sẽ ăn cắp thuốc giải chữa Hàn-ngọc đơn cho các chị.

Mỹ-Linh thấy Lê Văn dễ thương lạ lùng, trái hẳn với ông bố. Nàng hỏi:

– Cậu Văn này. Hôm qua chị đâu ngờ cậu giả đấu võ với chị, rồi cho chị uống thuốc giải. Cậu làm trái lại với lệnh của bố, không sợ bố đánh đòn sao?

Lê Văn chù mõm ra làm xấu:

– Chị đừng nhìn bề ngòai mà xét đoán con người. Bố em là người dễ tính nhất thiên hạ. Đặc biệt là đối với con, cháu. Bọn em muốn gì ông cũng chiều hết, miễn là học cho giỏi, và tập võ cho chuyên. Hôm qua, ông biết em giả vờ thua chị, ông cũng cười xòa. Khi biết em ăn cắp thuốc chữa cho các chị, ông chỉ mắng em là thằng cà-chớn rồi thôi. Hôm nay em đã ăn cắp thuốc giải chữa cho Lê Phụng-Hiểu, thả anh ta về làng Vạn-thảo rồi.

Bảo-Hòa hỏi:

– Thế thân mẫu cậu đâu?

Lê Văn xịu mặt xuống, nó trả lời bằng giọng trầm trầm:

– Mẹ em chết từ năm em mười tuổi. Tính ra năm nay đã bốn năm rồi.

Mỹ-Linh cũng bị mất mẹ. Nàng nghe Lê Văn nói, thì thông cảm mối buồn mất mẹ. Nàng tiến lên nắm tay nó:

– Bố em là y sĩ đại tài, mà không cứu được mẹ em ư? Mẹ em bị bệnh gì vậy?

Lê Văn thở dài:

– Bố em cũng không biết đó là bệnh gì nữa. Ông chỉ biết mẹ em bị người ta dùng võ công đẩy chất độc ngấm vào tạng phụ. Mỗi ngày vào giờ Thân, lại lên cơn đau đớn không biết đâu mà kể.

Mỹ-Linh nắm lấy tay Lê Văn:

– Có phải khi lên cơn, mẹ em gập người lại, mặt đỏ tươi không?

– Đúng. Sao chị biết?

– Chính vương mẫu của chị cũng bị bệnh tương tự. Sau đúng bẩy lần bẩy là bốn mươi chín ngày thì chết.

– Thế trước khi chết, vương mẫu chị có dặn gì không?

– Không. Bà chỉ xin phụ vương dạy chị học võ, và xin giao chị cho thúc phụ trông coi.

Lê Văn nghiến răng:

– Mẹ em lúc sắp lâm chung nói rằng bà bị người ta dùng Nhật-hồ Chu-sa chưởng đánh trúng. Người ám toán ra lệnh cho mẹ em phải làm việc cho Nhật-hồ lão nhân, thì sẽ được trao thuốc giải. Mẹ em không muốn phản bố em, đành chịu chết.

Mỹ-Linh đã tìm ra cái chết của mẹ nàng: mẹ nàng bị trúng Nhật-hồ Chu-sa độc chưởng. Chắc người đánh muốn bà phải tuân theo điều kiện phản bội triều đình, mà bà không làm, đành chịu chết. Người chủ trương là Nhật-hồ lão nhân. Một người chỉ nghe tên, mà không ai biết gốc tích, hình dạng lão ra sao. Lão muốn khốâng chế mẫu thân nàng, rồi mẫu thân Lê Văn, không biết để âm mưu gì?

Mỹ-Linh hỏi:

– Cậu có mấy anh chị em? Bố có bao nhiêu vợ?

– Hai đứa. Chị Mai lớn nhất, rồi đến em. Bố em chỉ có một mẹ em thôi. Khi mẹ em chết đoạn tang, bố em tục huyền với một người đàn bà nhỏ hơn ông mười hai tuổi, vừa xấu, vừa đần, vừa ngu.

Mỹ-Linh kinh ngạc:

– Với địa vị của ông, thì thiếu gì những con gái lương gia, sắc nước hương trời. Mà ông lại đi lấy người vợ như vậy?

Lê Văn thở dài:

– Chỉ vì thương bọn em mà ông lầm lẫn như vậy. Ông tưởng lấy vợ con nhà hèn hạ, vừa xấu, vừa ngu, để mụ không dám tàn ác với bọn em. Nào ngờ…

Bảo-Hòa đã từng thay bố mẹ qua lại 207 động bắc biên, nhiều kinh nghiệm sống. Nàng ngắt lời Lê Văn:

– Như vậy là hỏng rồi. Mụ quá ngu, thì không thể nào hiểu được cuộc sống của ông chồng có địa vị cao cả đến tột đỉnh. Mụ đần, dốt hơn em, mà lại là mẹ kế thì sao dạy dỗ em được. Thành ra suốt ngày mụ gây gổ với em. Thế là hai vợ chồng bất hoà vì em xung đột với mụ. Ngoài ra ông bà không thể trao đổi với nhau những khó khăn, những tâm sự.

– Đúng thế. Mới cưới về, ngày nào mụ cũng gây với bọn em. Hồi đầu bọn em còn nể nang. Về sau, bọn em cũng gây lại. Mỗi lần gây nhau, bố em buồn lắm. Mụ gây cả với bố em. Bố em tức mình không thèm nói với mụ câu nào nữa. Hơn nửa năm, mụ bỏ đi.

Nó chỉ về phía nhà bát giác:

– Từ lúc gặp cô Huệ-Phương, bố em như đổi mới. Hôm qua Huệ-Phương nói tryện với bố em cả đêm. Sáng nay hai người dẫn nhau lên đồi thông.

Mỹ-Linh dò la phản ứng của Lê Văn:

– Em có nghĩ rằng bố em say Huệ-Phương không?

– Càng tốt. Huệ-Phương xinh đẹp, lại là người kinh lịch. Chắc chắn sẽ làm cho bố em vui vẻ. Em đã nói truyện với cô ấy. Cô ấy thích em lắm…À thôi, hai chị đi ăn cơm chứ.

Lê Văn dẫn chị em Bảo-Hòa đi về hướng đông, nơi có nhiều dẫy nhà nằm san sát .Ở giữa, một căn nhà rộng, theo hình vuông, cao ba tầng, mái uốn cong, lợp ngói đỏ tươi. Tầng dưới cùng bốn mặt vuông vức. Ngoài hàng hiên có năm cây cột gỗ lim, chạm trổ rất tinh vi. Tiếp nối hàng hiên, từơng xây bằng những tảng đá xanh. Cửa bằng gỗ trắc sơn đỏ chói.

Bảo-Hòa hỏi:

– Nhà cửa trong sơn-trang cao đẹp không kém gì cung điện ở Thăng-long của đức vua. Ai ở đây vậy ?

– Không có ai ở hết. Ngôi nhà này có ba tầng. Tầng trên cùng làm nơi thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu, thờ tổ sư. Tầng thứ nhì làm Tàng-kinh các, để đệ tử trong trang đến đọc sách. Tầng dưới cùng làm Đại-sảnh-đường, nơi hội họp. Căn nhà này mang tên Điện Kinh-dương. Trước bốn mặt của điện Kinh-dương, mỗi mặt đều có chín dẫy nhà nằm song song nhau. Tổng cộng 36 dẫy. Mỗi dẫy cách nhau bằng một cái vườn hoa. Đây là nơi cho những bệnh nhân ở xa đau nặng, cần ở lại điều trị. Cả khu mang tên Văn-lang.

Bảo-Hòa đã từng thấy viện dưỡng thương của bố mẹ nàng, dùng trị bệnh cho tướng sĩ vùng biên giới. Tuy to lớn, nhưng so với khu trị bệnh này, thì thua xa. Nàng thắc mằc:

– Tôi xem mỗi dãy có chín phòng. Vậy mỗi phòng chứa được bao nhiêu người ?

– Mỗi phòng mười tám giường. Mỗi dãy 162 giường. Tổng cộng 5832 giường.

Mỹ-Linh ái một tiếng:

– Như vậy có bao gìơ trang nhận bệnh nhân đầy hết số dường không?

– Có chứ. Hiện nay chỉ còn khỏang hơn trăm giường trống mà thôi. Để em chỉ cho các chị biết. Vạn-thảo sơn trang do chính tay bố em dựng lên mới mấy chục năm. Trang chia lam ba khu vực rõ rệt. Khu Văn-lang là khu các chị vừa đi qua. Trong khu có điện Kinh-dương, nhà Thủy-tạ xây trên hồ nước, là nơi bố em ngồi thưởng hoa, ngắm cảnh, cũng như tiếp khách riêng. Hôm trước nếu các chị đến bằng cổng chính, tất sẽ do đệ tử của bố em tiếp nhận, phân loại rồi chữa. Mà các chị đến bằng cửa riêng chỉ dành cho người nhà, nên đụng nhằm bố em. Xui thực xui. Nhưng mà lại hên. Khu thứ nhì là khu Âu-lạc.

Lê Văn dẫn chị em Bảo-Hòa qua một khu nữa. Khu thứ nhì kiến trúc giống như khu Kinh-dương, Lê Văn giới thiệu:

– Khu này tên là Âu-lạc. Ngôi nhà lầu ba tầng tên là điện Âu-cơ. Tầng thứ nhất là Giảng-y-đường. Nơi bố em dạy học. Tầng thứ nhì là Vạn-thảo-đường, nơi chứa thuốc. Tầng dưới cùng là Luyện-đan-đường, nơi chế thuốc. Còn 36 dẫy nhà, dùng làm nơi ăn, ở của đệ tử, cùng những người giúp việc.

Một lát đi qua ngôi nhà kiến trúc rất đặc biệt, từ cột, cho tới tường đều bằng gỗ. Mái không lợp ngói như những ngôi nhà khác, mà lợp bằng rạ. Ngôi nhà hình tròn, có bốn cửa thông ra bốn phía.

Lê Văn giới thiệu:

– Ngôi nhà này có tên Nghinh-tân-các là nơi tiếp khách quí. Đúng ra các chị là tù nhân của sơn trang, thì ở ngôi nhà hôm qua. Sau vì chị Mỹ-Linh thắng chị Mai, nên bố coi trọng hơn, cho các chị ra ở nhà của thượng khách.

Nó chỉ tay lên đồi:

– Khu thứ ba là khu Lĩnh-nam, tức khu trồng hoa, cỏ, cây thuốc, mà các chị đã đi dạo chơi nhiều lần. Khu thứ ba chia làm sáu phần, mỗi phần mang tên vùng đất thời Lĩnh-nam như Nam-hải, Quế-lâm, Tượng-quận, Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam.

Đúng như Lê Văn nói, khi Mỹ-Linh bước chân vào căn nhà tròn, thì có hai thiếu nữ áo lụa vàng nhạt, quần lụa đen bước ra lễ phép mời vào. Lê Văn nói:

– Hoàng Mai, Hoàng Cúc, đây là công chúa Bình-Dương và quận chúa Bảo-Hòa. Hai người phải lo phục thị chu đáo. Nếu có gì sơ xuất, bố tôi đánh đòn đó. Thế nào cơm đã dọn chưa?

Hoàng Cúc đáp:

– Thưa công-tử, tất cả đã sẵn sàng chờ quí khách.

Lê Văn nhìn bàn ăn, nó mỉm cười:

– Hôm nay hai chị được ăn thêm mấy món đặc biệt. À đây là món canh cải bẹ nấu ca rô. Đây là món cá rô kho keo. Ờ, lại còn món nem nữa.

Lê Văn mời Bảo-Hòa, Mỹ-Linh ngồi. Bảo-Hòa thấy trên bàn có bốn đôi đũa. Nàng hỏi:

– Này cậu em, còn ai nữa đây?

Có tiếng đáp thanh thóat:

– Còn Thanh-Mai chứ ai nữa

Thanh-Mai từ ngoài bước vào. Mỹ-Linh mừng quá đứng dậy hỏi:

– Chị Thanh, chị ở đâu?

Thanh-Mai chỉ lên đầu:

– Chị ở trên lầu. Các em cũng sẽ ở đó với chị. Mấy món này chị thân làm để đãi Bảo-Hòa đấy. Canh cải bẹ xanh nấu với cá rô là món ăn hơi cầu kỳ, mà ngon. Cách nấu như thế này. Cá rô đánh sạch vảy, rồi cho vào nồi luộc chín. Sau đó gỡ thịt riêng ra. Còn xương thì cho vào cối dã nhỏ thành bột. Đổ nước vào lọc riêng nước mầu với bã xương. Nước mầu cho vào nồi, thêm một muỗng mắm tôm nấu lên. Cải bẹ xanh thái thực nhỏ như sợi tóc. Đợi khi nước sôi, thì cho rau vào. Chờ khoảng nhai dập miếng trầu, thì bắt ra. Trước khi bắt, giã nhỏ một củ gừng bằng ngón chân cái cho vào.

Mỹ-Linh hỏi:

– Tại sao canh cải bẹ xanh lại phải cho gừng, mà không cho hồ-tiêu?

Thanh-Mai lắc đầu:

– Chị chỉ biết nấu mà không hiểu tại sao.

Lê Văn cười:

– À cái này dễ thôi. Cải bẹ xanh tính vốn co rút, lại mát. Nếu mát qúa thì ăn vào dễ đau bụng. Gừng tính chất phát tán lại nóng, có thể hòa giải tính co rút và mát của cải bẹ xanh.

Mỹ-Linh gắp một con cá rô kho bỏ vào bát. Thanh-Mai cản lại:

– Hôm trước anh Tạ Sơn nói :Mỹ-Linh chưa được ăn cá rô. Vì cá rô xương cứng. Ăn vào dễ bị hóc. Nên ngự trù không giám nấu dâng lên đức vua cùng hoàng-tử, công-chúa. Để chị vẽ cho Linh ăn, nếu không sẽ bị hóc.

Thanh-Mai vẽ xong, Mỹ-Linh gắp ăn. Cá rô ít tanh, lại kho keo, thịt cá dai, cứng như thịt gà, thơm tho, có vị bùi đưa lên mũi.

Mỹ-Linh than:

– Cá rô kho keo ăn ngon như thế này, mà năm nay mười bẩy tuổi em mới được ăn. Chị Thanh, dạy em kho cá đi. Kỳ này về hoàng cung, em sẽ làm cho bố ăn.

Thanh-Mai giảng:

– Cá rô phải chọn con lớn. Nếu có trứng càng tốt. Đánh vảy, cắt gai thực kỹ, nhớ cắt mang, lấy go ra. Sau đó rửa với chanh họăc dấm cho hết nhớt. Không cần mổ ruột, ăn cả ruột lẫn mật. Mật cá rô không đắng, trái lại giúp cho bớt mùi tanh. Đem cá ướp muối, kẹo đắng khỏang nửa ngày, rồi đổ nước xấp xỉ bằng cá, đun lửa thực nhỏ. Khi nước sắp khô, phải trở cá luôn. Lúc cá thật keo lại, thì ngừng.

Mỹ-Linh hỏi Lê Văn:

– Tại sao khi ăn cá trê, phải lấy ruột ra. Còn ăn cá quả với cá rô lại ăn cả ruột? Trong y-học có nói về vấn đề này không?

Lê Văn vui vẻ đáp:

– Khoa ăn uống của tổ tiên mình, tất cả đều được đặt trên cơ-sở y học cả. Chị nên biết cá trê thuộc loại ở dưới bùn, không có vảy, nhiều nhớt, thuộc âm tính nhất trong các lọai cá. Thịt nó đã tanh, thì ruột nó còn tanh hơn. Hiện không có loại rau thơm nào hòa giải được cả, nên không thể ăn.

Lê Văn cầm đũa vẽ con cá rô, moi ruột ra bỏ vào bát Mỹ-Linh:

– Còn cá quả cũng như cá rô, chúng là lọai cá dương sống trong âm, bởi chúng nó rất mạnh. Cá quả cũng như cá rô là lọai dương, mà sống trong bùn, trong nước đất thuộc âm, ăn vào thường hay bị sưng chân, nổi mụn ngứa. Cho nên khi làm thịt hai lọai cá này, không nên vứt bộ đồ lòng đi. Cần ăn lòng của chúng, để chống độc chất nhiễm trong thịt chúng. Phải biết rằng hai loại cá sống trong bùn lầy đầy chất độc, thế mà nó chịu đựng được, thì trong thân phải có sức chống âm hàn, chống mùi tanh của bùn. Cơ quan chống lại được bùn lầy của chúng là bộ đồ lòng.

Trong bốn người, thì Thanh-Mai lớn tuổi nhất. Thứ đến Bảo-Hòa, rồi Mỹ-Linh. Nhỏ nhất là Lê Văn. Lê Văn nói truyện rất có duyên. Vì vậy bữa ăn trôi qua thực mau lẹ.

Có một hồi trống vọng về. Lê Văn đứng lên nói:

– Trống tập họp các đệ tử ở đại sảnh đường. Chắc có việc gì quan trọng. Em mời các chị cùng đi cho vui.

Bảo-Hòa trầm ngâm:

– Chúng tôi không phải đệ tử trong trang .Không biết có nên tham dự chăng?

Lê Văn nắm tay Bảo-Hòa kéo dậy:

– Theo tục lệ trang, thì đại hội có nghĩa là cần thông báo một tin tức gì cho tất cả những người hiện diện, ngoại trừ bệnh nhân. Các chị cũng là người cư trú trong trang, các chị cũng có quyền tham dự.

Lê Văn dẫn chị em Thanh-Mai đến đại sảnh đường khu Văn-lang. Mọi người đang lục tục kéo tới.

Lê Văn giảng:

– Các chị phải trông y phục mà phân biệt loại người. Những người mặc quần trắng, áo trắng là đệ tử của sơn-trang. Họ học cả y lẫn võ. Những người mặc quần đen, áo xanh, thì họ là người giúp việc bếp nước, lau chùi, giặt quần áo cho bệnh nhân. Những người mặc quần áo nâu thì là người trồng thuốc, làm vườn. Còn những người không mặc quần áo đồng phục, là gia nhân, họ hàng nhà em. Khi đại hội như thế này, người đệ tử cao niên nhất của bố em đứng triệu tập.

Trong đại sảnh đông nghẹt, mà không một tiếng động. Mọi người như quen với lối sinh hoạt này rồi. Họ âm thầm tìm chỗ ngồi. Thanh-Mai liếc nhìn: họ chia nhau ra ngồi từng khu riêng biệt. Khu áo trắng, khu áo xanh, khu áo nâu và khu… không đồng phục.

Thanh-Mai được Lê Văn mời ngồi vào khu sát bục sân khấu. Nàng thấy bọn Triệu Anh, Đinh Toàn cũng được dẫn tới ngồi vào khu dành cho quan khách, nhưng họ ngồi cách xa nàng. Không thấy Lê Phụng-Hiểu, Thanh-Mai ngạc nhiên hỏi Lê Văn.

Nó nói nhỏ:

– Anh ta là người trong làng Vạn-thảo, bố em không có lý do gì bỏ tù anh ta. Em đã ăn cắp thuốc giải Hàn-ngọc đơn cho anh ta uống, đưa anh ta về rồi.

Một trung niên nam tử mặc quần áo trắng lên bục, dơ tay cho mọi người im lặng, rồi anh ta nói lớn:

– Thưa các vị đồng trang. Hôm nay trang chúng ta có quý khách tới thăm. Qúi khách muốn chúng ta tham dự một việc quan trong thiên hạ. Tôi nhắc lại một việc quan trọng của thiên hạ, chứ không phải việc quan trọng Đại-Việt. Sư-phụ tôi không giám tự quyết, mời các vị cùng nghe, rồi cho ý kiến chung.

Thanh-Mai hỏi nhỏ Lê Văn:

– Đại sư huynh của em tên gì vậy?

– Anh tên Dương Bình. Trước đây anh có người cô ruột làm hoàng-hậu của vua Đinh tên Dương Vân-Nga. Khi vua Đinh chết, bà lại được vua Lê phong làm Đại-thắng hoàng-hậu. Võ công anh rất cao, mà tài phục dược cũng thần sầu.

Thanh-Mai nói nhỏ:

– Như vậy Dương Bình với Đinh Toàn là con cô con cậu à?

– Đúng thế.

Dương Bình đợi cho tiếng ồn ào giảm bớt, chàng lại nói lớn:

– Nhân tiện đây tôi cũng xin báo cho các vị biềt, sư phụ tôi mới kén được sư mẩu.

Cả sảnh đường im lặng. Mọi người chờ Dương Bình loan tin tiếp xem người ấy là ai. Bởi Hồng-Sơn đại-phu là người võ công đệ nhất đương thời, ngoài ra ông lại là đại-phu nức danh, một tay cứu không biết bao nhiêu người, ân huệ trải khắp thiên hạ, Gần đây hàng trăm người đến mối lái, ông không nhận. Thình lình ông cưới một người đàn bà vừa xấu, vừa đần, vừa ngu, vừa không có đức. Y thị về trang đã gây ra không biết bao nhiêu điều buồn cho mọi người. Thế rồi hơn năm sau mụ bỏ đi. Ai cũng mừng rỡ. Bây giờ lại thấy loan báo trang chủ cưới vợ, thành ra ai ai đều hiện ra nét lo âu.

Dương Bình tiếp:

– Sư mẫu là người trong võ lâm, nhưng không thuộc đại môn phái nào. Tuy tuổi trẻ, nhưng người đã từng hành hiệp suốt một giải biên giới phía bắc Đại-Việt, sang tới vùng Mân-Quảng bên Trung-quốc.

Chiêng trống đánh liên tiếp ba hồi liền. Lê Văn nói nho nhỏ để chị em Thanh-Mai nghe:

– Bố em với khách tới đấy!

Dương Bình hô mọi người đứng dậy. Hồng-Sơn đại phu mặc quốc phục thời vua Hùng. Bên cạnh ông, Huệ-Phương mặc quần lụa đen, áo mầu đỏ chói, cổ choàng chiếc khăn mầu xanh, dây lưng cũng xanh .Lưng nàng đeo bảo kiếm. Đám đệ tử thấy nàng phơi phới như tiên nữ, thì bật liên tiếng súyt xoa. Cạnh đó là ba người khách. Thoáng trông thấy bọn khách, chị em Thanh-Mai suýt bật lên tiếng kêu. Vì họ chính là Triệu Thành, Vương Duy-Chính, và Minh-Thiên

Nàng nói sẽ vào tai Lê Văn:

– Này cậu. Bọn này chính là bọn Tống chị đã nói cho cậu nghe đó.

Hồng-Sơn đại-phu mời khách an tọa. Hai nữ đệ tử mặc áo xanh, bưng nước, trái cây mời khách. Triệu Thành thấy bọn thuộc hạ cùng Đinh Toàn ngồi trong đại sảnh, mà y lờ đi như không biết.

Dương Bình hướng xuống dưới, chàng vận nội lực nói lớn:

– Thưa các vị đồng trang. Hôm nay sơn trang chúng ta hân hạnh được đón mấy vị qúi khách đến viếng thăm. Vị thứ nhất là hoàng đệ đức hoàng đế nhà đại Tống. Ngài hiện lĩnh chức Phu-quốc thái-úy, quản Khu-mật-viện tước phong Bình-nam vương. Vương gia cùng sứ đoàn sang Chiêm-quốc, nhân tiện ghé sơn trang thăm sư phụ chúng ta.

Triệu Thành đứng dậy cho mọi người hoan hô.

Dương Bình lại tiếp:

– Tùy tòng vương gia, còn có Minh-Thiên đại-sư, thủ tọa Đạt-ma đường chùa Thiếu-lâm, và đại-nhân Vương Duy-Chính, xuất thân tiến sĩ, cũng là cao thủ phái Võ-đang, hiện đang giữa chức chuyển-vận-sứ vùng Quảng-tây.

Triệu Thành đứng lên vận nội lực nói lớn:

– Thưa Hồng-Sơn tiền bối. Thưa các vị huynh, đệ, tỷ, muội. Bản nhân được chỉ dụ của hoàng huynh kinh lý vùng phía nam hoàng-triều cương thổ. Khi còn ở Trung-nguyên, tại hạ đã nghe danh đại-phu như sét nổ bên tai. Nào võ công đệ nhất Nam-thiên, nào y tài không thua Hoa-Đà, Biển-Thước. Cho nên bản nhân qua đây, xin có chút lễ mọn kính tặng tiên sinh, trước tỏ lòng biết trọng hiền của thiên tử. Sau là trọng thưởng đức cứu nhân độ thế của tiên sinh.

Y vẫy tay một cái, Vương Duy-Chính cởi túi trên lưng ra, mở nút, đổ xuống cái mâm để trước mặt, hai tay đưa cho Hồng-Sơn đại-phu. Đại-phu tiếp lấy bỏ xuống bàn.

Vương Duy-Chính cầm danh thiếp đọc:

– Vàng khối một ngàn lạng. Bạc khối năm ngàn lạng. Ngọc bích mười viên, kim cương mười hạt, hồng ngọc năm hạt.

Vương Duy-Chính tiếp:

– Gấm Thục một trăm tấm, hãy còn để ngoài xe.

Vương Duy-Chính về chỗ ngồi. Hồng-Sơn lão nhân hỏi Triệu Thành:

– Xin vương gia tâu lên đức Hoàng-đế rằng, tên thôn phu Lê Long-Mang này xin có lời đa tạ hoàng đế bệ hạ ban thưởng. Chẳng hay vương gia chỉ ghé thăm ban thưởng, hay còn có chỉ dụ gì khác?

Triệu Thành đứng lên nói:

– Từ khi nhà Đại-tống thuận mệnh trời cai trị thiên hạ đến giờ. Các vị tiên hoàng không ngớt hướng về phương Nam này, là nơi rồng nằm hổ phục, nhân tài như sao sa. Năm trước đây đức hoàng đế mở khoa thi võ. Ngài tuyển một trạng nguyên, hai bảng-nhãn, bốn thám-hoa, và mười lăm tiến sĩ. Cộng chung ba mươi hai người. Ba mươi hai người đang từ một võ-sĩ, phút chốc lên cầm quyền đại tướng quân, hiển hách uy danh.

Y ngừng lại một lát rồi tiếp:

– Tuy nhiên trong ba mươi hai vị đó, không có vị nào người Việt cả. Mà đất Việt vốn là nơi xuất phát nhiều nhân tài. Thời Âu-lạc, Lý Thân được phong Vạn-tín-hầu. Thời Đông-Hán, Đào Kỳ được phong Hán-trung vương. Nghiêm Sơn được phong Lĩnh-nam vương. Đô Dương được phong Đô-đình hầu…đó chẳng là những người vang danh thủa nào ư? Năm tới đây, hoàng thượng lại mở khoa thi võ nữa. Vì vậy bản nhân tới đây mời tất cả các vị thuộc sơn-trang, vào ngày rằm tháng tám sang năm, nhớ đến Biện-kinh ứng thí.

Thanh-Mai ghé tai Lê Văn hỏi nhỏ:

– Tại sao đại-phu không có phản ứng gì vậy?

Lê Văn cười:

– Bố em có cái ưu điểm là bất cứ việc gì ông cũng không phản ứng ngay. Ông suy nghĩ cẩn thận rồi quyết định. Khi ông đã quyết định thì trời gầm ông cũng không đổi. Đối với việc này, lát nữa chị sẽ thấy.

Dương Bình đứng lên hướng vào cử tọa hỏi:

– Các vị đồng trang, các vị có ý kiến gì không?

Một vị mặc quần áo nâu, râu dài, vóc người mảnh mai đứng lên nói:

– Thưa trang chủ, thưa qúi khách. Lão là Lê Anh, chưởng-quản viện Âu-Cơ xin có đôi lời thắc mắc với Bình-nam vương gia. Theo như tiểu nhân được biết, thì niên hiệu Thuận-thiên thứ tám của đức hoàng-đế Đại-Việt, sứ thần Đại-tống phong cho hoàng đế Đại-Việt tước Nam-bình vương. Không hiểu tại sao vương gia đang là Bình-tây vương, cầm quyền chinh phạt Tây-hạ, Thổ- phồn, Tây-liêu, lại được cải phong là Bình-nam vương. Dường như Tống thiên-tử muốn ủy cho vương gia đánh chiếm Đại-Việt thì phải!

Vương Duy-Chính đứng lên:

– Không phải thế đâu. Tước Bình-nam vương của vương gia chỉ với mục đích chỉnh đốn lại cương vực phía Nam mà thôi. Chứ không có ý nghĩa nào khác.

Dương Bình hướng về Triệu Thành lễ hai lễ:

– Như vậy thì coi như nhà Đại-Tống không muốn gây chiến ở phương Nam. Thực là phúc đức.

Huệ-Phương đứng lên. Chiếc áo màu đỏ, phất phới bên chiếc khăn choàng cổ cùng dây lưng vàng, khiến nàng phiêu hốt như tiên nữ. Nàng hướng vào Triệu Thành vái một vái:

– Tiểu nữ có vài thắc mắc xin vương-gia giải đáp cho.

Triệu Thành thấy nàng đẹp như thiên tiên thì ngây người ra:

– Cô nương đây là…

Dương Bình đáp:

– Vị này là sư mẫu của chúng tôi.

Triệu Thành ngây ngất, lắp bắp nói:

– Thì ra Vạn-thảo sơn-trang chủ mẫu, tôi không biết lại tưởng là vị tiên nào giáng hạ. Không biết phu-nhân có điều chi thắc mắc?

Huệ-Phương vẫy tay một cái. Hai nữ đệ tử khiêng ra cái khung dựng đứng. Trên khung có cái trục lớn. Huệ-Phương cởi dây, trục mở ra một tấm lụa lớn bằng bốn cái chiếu, trên vẽ bản đồ. Triệu-Thành nhận ra đó là bản đồ biên giới vùng Hoa-Việt.

Bảo-Hòa, Mỹ-Linh kinh ngạc vô cùng, vì tấm bản đồ này hai người đã thấy ở bản doanh của biên-phòng Bắc-biên và tại Khu-mật-viện Thăng-long.

Mỹ-Linh hỏi Thanh-Mai:

– Chị Thanh, chị thử đóan xem tại sao Huệ-Phương lại có tấm bản đồ giống hệt như tấm ở bản doanh cô hai cũng như ở Khu-mật-viện?

Thanh-Mai lắc đầu:

– Chị không rõ. Chúng ta cứ chờ xem.

Huệ-Phương chỉ lên bản đồ:

– Thưa vương-gia, hồi vua Hùng, vua Thục, vua Trưng, ranh giới Đại-Việt tôi Bắc tới tới hồ Động-đình. Tây giáp với Thục. Bây giờ chỉ còn lại một phần năm. Hiện giữa Trung-quốc với Đại-Việt tiếp giáp với nhau bằng 207 khê-động. Những khê-động này, nguyên gốc từ Tây-vu. Sau khi vua Bà tuẫn quốc, các động-chủ, trang chủ vùng đồng bằng bị Mã Viện truất quyền, thành lập làng-xã, quận huyện. Nhưng vùng Bắc biên tòan rừng núi, các trang chủ động chủ cương quyết kháng chiến, thành ra trải hơn nghìn năm Bắc thuộc, nay vẫn tồn tại. Vấn đề được đặt ra là: Hiện những trang, động chủ qui phục hoàng-đế Đại-Việt. Tại sao các quan nam biên của Tống lại cứ tìm cách mua chuộc, đe dọa, bắt họ bỏ Đại-việt theo Tống?

Triệu Thành ngơ ngác:

– Tôi không hề biết truyện này.

Lúc nghe Dương Bình tuyên bố Hồng-Sơn đại-phu mới tuyển được vợ. Mọi người trong trang đều lo sợ sẽ gặp người đàn bà ngu dốt, ương ngạnh như đời vợ trước của đại-phu. Bây giờ thấy Huệ-Phương đã xinh đẹp, sắc sảo, lại tỏ ra hiểu biết đại cuộc. Nàng mới đặt một câu hỏi, đã làm cho Bình-nam vương nhà Tống luống cuống.

Huệ-Phương mỉm cười rất tươi chỉ lên bản đồ:

– Vương gia lịch sự không muốn nói ta chẳng thèm trả lời con nha đầu Nam-man. Chứ sự thực vương gia nào phải không biết. Này vương gia ơi, Khu-mật-viện nhà Tống gồm những đại-thần có tài kinh thiên động địa. Hoàng-đế lại không tiếc tiền, sai hàng chục đoàn do thám sang Đại-Việt. Tể-thần Khấu Chuẩn cũng là danh sĩ Trung-quốc đã từng nói các nước Giao-chỉ, Tây-hạ, Đại-lý… mỗi ngày bò, lợn đẻ thêm bao nhiêu con, Khu-mật-viện đều biết hết. Vương gia trực tiếp chưởng-quản Khu-mật-viện lại không biết thì hơi lạ.

Triệu Thành hỏi Vương Duy-Chính:

– Lạ thực, những việc lớn như thế mà tại sao biên thần không tâu về triều? Có lẽ họ không theo dõi chăng?

Huệ-Phương mỉm cười:

– Vương gia cứ giả tảng hoài. Ngoài Khu-mật-viện ra. Nhà Đại-Tống còn ba cơ quan lớn nữa theo dõi, chỉ huy những đoàn do thám sang Đại-Việt, đó là Quảng-nam lộ, Quảng-tây lộ và Quảng-đông lộ. Mỗi lộ này dân đông hơn dân nước tôi, đất rộng hơn Đại-việt.

Nàng chỉ vào Vương Duy-Chính:

– Vương chuyển-vận-sứ! Có đúng không?

Vương Duy-Chính giả vờ ngơ ngác:

– Ty chức không hiểu. Xin phu nhân nói rõ hơn.

Huệ-Phương cười:

– Vương đại-nhân không muốn nói, thì tiểu-nữ nói vậy.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103105
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49567 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » May 4th, 2017, 11:29 pm


HỒI THỨ HAI MƯƠI BA

Phục Ngưu Thần Chưởng


– Nước Đại-tống có nhiều châu quận. Song không nơi nào triều đình lại cắt cử trọng thần văn mô vũ lược đến bằng ba lộ Quảng. Các lộ Quảng là vùng tiếp giáp với Đại-Việt. Thưa vương gia, Thiên-triều cho trọng binh trấn đóng ở đó. Về các quan thì mỗi lộ có một vị Kinh-lược an-phủ-sứ tổng trấn, coi cả văn lẫn võ. Còn về cai trị, lương thực, thuế khóa thì có một vị Chuyển-vận-sứ. Hai vị không ai dưới quyền ai.

Nàng chỉ vào Vương Duy-Chính:

– Vương đại-nhân đây, văn đậu tiến-sĩ, võ là đại cao thủ Võ-đang, lại thuộc hàng cháu Lưu thái hậu. Thiên-thánh hoàng đế nhà Đại-tống lên ngôi đã được năm năm. Nhưng người còn thơ ấu, mọi quyết định đều nằm trong tay Lưu-hậu. Việc Lưu hậu cử cháu mình, làm trọng thần ra biên cương, hẳn phải có thâm ý. Tiên sinh được phong Chuyển-vận-sứ Quảng-tây lộ. Vương tiên sinh hàng ngày đích thân chỉ huy hàng chục đoàn do thám sang Đại-việt. Mỗi việc, mỗi sự xẩy ra bên Đại-việt, tiên sinh đều phúc trình về Khu-mật-viện, thế mà vương gia bảo không biết thì cũng lạ.

Bị Huệ-Phương nói toẹt âm mưu ra, Triệu Thành cười giã lả:

– Phu nhân đúng là tiên-nữ, không gì qua mắt được phu-nhân. Việc biên sự, phải đề phòng là lẽ đương nhiên của bản triều. Đâu có gì lạ?

Huệ-Phương gật đầu:

– Như vậy vương gia nhận rằng Thiên-triều quả định sang đánh Đại-việt. Thưa vương gia, nước tôi nhỏ, phải tiến cống xưng thần. Tuy nhiên Thiên-triều định chiếm thì chưa chắc đã làm nổi.

Triệu Thành lắc đầu:

– Tôi xin minh xác, Thiên-triều không hề có ý định đánh Đại-việt. Những việc dò thám chẳng qua là biên thần hiếu sự bầy ra mà thôi. Nếu phu nhân nêu rõ ra người nào gây hấn với Giao-chỉ, cô-gia sẽ trừng-trị liền.

Huệ-Phương gật đầu:

– Vương gia quả xứng đáng là anh hùng. Vương gia là Bình-nam vương. Đại-việt là đất của Thiên-triều, không lẽ Thiên-triều lại đi quấy phá phiên thần của minh. Như vương gia phán những việc quan quân đại Tống quấy rối Bắc biên là do cá nhân. Vương gia sẽ trừng phạt. Vậy thì được, tôi xin nêu những rắc rối ấy ra.

– Xin phu nhân cứ nói.

Huệ-Phương chỉ lên bản đồ:

– Đây là bản đồ biên giới Tống-Việt. Việc biên phòng phía Bắc, giao cho Lạng-châu phụ trách. Lạng-châu trực tiếp thống lĩnh 207 khê-động. Hồi mới lên cầm quyền, Thuận-thiên hoàng đế ( vua Lý Thái-tổ) sai nghĩa đệ là lạc-hầu Thân Thiệu-Anh trấn nhậm.

Triệu Thành đưa mắt hỏi Vương Duy-Chính hỏi ý kiến.

Vương Duy-Chính đáp:

– Khải tấu vương gia, việc này sự thực như sau. Khi Lý Công-Uẩn định cướp ngôi nhà Lê. Y liên kết với Thân Thiệu-Anh. Lúc vua Lê Ngọa-triều sắp chết, Thiệu-Anh kéo trọng binh tuyên bố sẽ về diệt nhà Lê. Trong triều Lý Công-Uẩn, Đào Cam-Mộc cầm binh quyền. Triều đình Giao-chỉ sợ nội chiến, đành tôn Lý lên làm vua. Uẩn lên ngôi vua, phong cho Đào Cam-Mộc làm Trung-nghĩa- hầu, gả con gái cho. Uẩn cho Thân Thiệu-Anh làm vua vùng Bắc biên, và gả em gái là công chúa Hồng-Châu cho. Tiếp theo, Uẩn phong cho con gái thứ nhì làm Lĩnh-Nam bảo quốc hòa dân công chúa, gả cho con Thân Thiệu-Anh là Thân Thừa-Qúy. Quý hiện thống lĩnh 207 khê động gồm tòan tụi mọi, man giáp giới với Trung-nguyên.

Triệu Thành nhăn mặt:

– Thế tại sao người ta lại nói chính con gái Lý Công-Uẩn làm vua Lạng-châu?

Vương Duy-Chính gật đầu:

– Quả như thế. Nguyên 207 khê-động thường họp nhau lại, tìm người tài đức tôn lên làm vua. Con gái Lý Công-Uẩn được tôn là vua Bà.

Chuyến đi này của Triệu Thành có mục đích liên kết mua chuộc võ lâm Lĩnh-nam, khích động họ đầu quân, cầm binh Tống trấn vùng biên giới Tây-hạ, Kim, Liêu. Nhân tài trong đất Việt không còn. Sau đó cất quân đánh. Khi đi đường, y biết Hồng-Sơn đại-phu là một trong năm đại tôn sư võ học, thế lực, uy tín trùm Đại-Việt. Bằng mọi giá y phải mua chuộc bằng được. Bây giờ nghe đại-phu có vợ mới. Nhìn Huệ-Phương đẹp như thiên tiên. Y biết muốn mua chuộc Hồng-Sơn, phải được lòng Huệ-Phương. Y nhắc lại:

– Xin phu nhân cho biết phu nhân có điều gì không vừa ý?

Huệ-Phương mỉm cười. Môi nàng hồng tươi, mắt sáng như gương, da trắng mịn, thêm má lún đồng tiền. Nàng cười, làm tất cả đàn ông trong đại sảnh đều xao xuyến. Nàng chỉ lên bản đồ:

– Điều thứ nhất là việc giao thương giữa dân chúng hai nước. Từ khi triều Ngô, Đinh bên Đại-việt lên cai trị, dân Hoa-Việt vẫn buôn bán với nhau bằng bốn thị trấn, thường gọi là bạc-dịch-trường. Bạc dịch trường thứ nhất ở trại Vĩnh-bình, nằm ở phía Nam sông Nghi-hòa. Người Việt bán sang Trung-quốc các thứ hàng như : sừng tê, hương, ngà, vàng, bạc, muối. Mua của Trung-quốc các thứ vải, lụa, gấm vóc. Thế mà gần đây, không biết lý do gì biên thần Đại-tống đem binh đến trấn đóng, rồi cho người vào thu thuế. Vị lạc-hầu Vĩnh-bình là Vi Đại-An phản đối. Quan quân vẫn không chịu lui binh.

Nàng lại chỉ lên một khu khác:

– Bạc-dịch-trường thứ nhì nằm trên đất Tô-mậu, Cổ-vạn. Nơi này thương nhân hai nước buôn bán gia súc với nhau. Đại-việt bán cho Trung-quốc thú hoang như hổ, báo, gấu, hươu, nai, lợn rừng. Trung-quốc bán cho Đại-việt trâu, bò, ngựa. Thương nhân hai nước đi lại là thường. Gần đây thương nhân Việt sang vùng đất Trung-quốc, quan quân truyền bắt giam. Lạc-hầu Vi Thủ-Đan sai sứ sang biện luận. Biên thần Đại-tống truyền thả người, mà không chịu trả lại vàng, bạc, thú rừng. Thành ra giữa hai bên rất căng thẳng. Tôi e khó tránh khỏi giao tranh.

Nàng lại chỉ lên một khu khác:

– Bạc-dịch-trường Hoành-sơn vốn thuộc vùng tổng-quản của lạc hầu họ Lưu, trải đã mấy chục đời. Nơi đây là chổ giao thương ba nước Tống, Việt, Đại-lý. Luật lệ đặt ra rằng khi có những chuyến hàng lớn, thì quan trấn thủ Ung-châu phải có thư báo cho quan trấn thủ bên Đại-việt là Lưu lạc hầu biết trước. Gần đây quan quân Tống không tuân lệ đó, cứ cho quân hộ tống thương gia vào đất Hoành-sơn. Nếu vua Bà không ngăn kịp thì đã có chiến tranh. Đến truyện xẩy ra ở bạc-dịch-trường Giang-đông thuộc Khâm-châu mới đáng trách. Từ trước đến nay, thuyền buôn Chiêm-thành, Đại-việt cùng Trung-quốc giao thương đủ mọi mặt hàng. Cách nay bốn tháng, biên thần Đại-tống tự ý đem chiến thuyền đến khám xét thuyền buôn Việt-Chiêm, bắt giam nhiều người.

Nàng thở đài:

– Vương gia là tể thần, xin vương gia giải quyết ngay, nếu trễ e vua Bà là công chúa Đại-Việt khó ngăn cản nổi các trang-trưởng, động-trưởng. Chiến tranh sẽ xẩy ra. Khi chiến tranh đã xẩy ra, dù to, dù nhỏ võ lâm Việt sẽ nhập cuộc. Thì việc vương gia mời mọi người sang Biện-kinh thí võ e không thành.

Vương Duy-Chính cười :

– Thưa phu nhân. Dường như phu-nhân mới tới sơn-trang gần đây. Không biết lời nói của phu nhân là đại diện cho triều đình họ Lý, hoặc Vạn-thảo sơn-trang hay do cá nhân phu nhân?

– Tôi nhân danh cả ba. Thứ nhất, tôi là con dân Đại-việt, thì mọi việc xẩy ra bất lợi cho Đại-việt tôi đều có bổn phận bảo vệ. Thứ nhì, tôi mới được trang chủ nhận làm vị hôn thê. Theo luật lệ nứơc tôi, hai bên hứa với nhau một lời, thì coi như thành vợ chồng. Tôi là vợ trang chủ, đương nhiên có thẩm quyền của một người dân sơn-trang, mà đặt vấn đề với các vị. Thứ ba phu quân của tôi không hợp tính với Thuận-thiên hoàng đế, là giữa cá nhân Lý Công-Uẩn với cá nhân Lê Long-Mang. Còn vấn đề tôi đặt ra, là vấn đề lãnh thổ, chủ quyền của hai nước.

Triệu Thành dơ tay vẫy ba cái liền, cử chỉ ấy tỏ rằng cương quyết giữ lời hứa:

– Được! Khi cô gia về tới Đại-tống lập tức giải quyết vụ này.

Triệu Thành quay lại nói với Hồng-Sơn đại-phu:

– Hồng-Sơn tiên-sinh. Tôi nghe tiên sinh là một vị thân vương của triều Lê. Khi Lê Chí-Trung (Ngọa-triều) chết, dù y tàn ác, dù y bất đạo, thì con y không được quyền nối ngôi. Ngôi vua phải về các thân vương như tiên sinh. Thế mà Lý Công-Uẩn, cùng Đào Cam-Mộc, Thân Thiệu-Anh cướp ngôi. Bây giờ võ-công tiên-sinh trùm Lĩnh-nam, y-đạo vang hoàn-vũ, tại sao tiên sinh không phất ngọn cờ, bắt Lý Công-Uẩn giết đi, lấy lại chính-thống, có phải đúng đạo lý không?

Lời nói của Triệu Thành làm cả hội trừơng im lặng, không một tiếng động nhỏ. Hồng-Sơn đại-phu đưa mắt nhìn 9 đại đệ tử như hỏi ý kiến. Mọi người suy nghĩ, không ai biết trả lời ra sao. Khi họ mới nhập môn, Hồng-Sơn đại phu đều cho họ biết, ông là con vua Lê, em Lê Ngọa-triều. Ông nuôi chí trung hưng triều Lê. Các đệ tử đều nhất lọat tuyên thệ với chí hướng đó. Nhưng gần hai mươi năm qua, từ khi Lý Công-Uẩn lên trị vì, trong tổ chức nền nội trị thực hoàn hảo. Ngoài tổ chức biên phòng khiến Tống, Chiêm, Đại-lý nể vì. Lúc mới lên ngôi vua, họ Lý vẫn áp dụng chính sách thuế khóa cũ của triều Lê. Gần đây, công khố, kho lẫm, quốc dụng sung túc, vua Lý ban bố miễn thuế liền ba năm, rồi mấy năm sau, thấy công khố còn giầu, lại miễn thuế hai năm. Dân chúng trải qua thời kỳ thái bình, no ấm không kém gì đời vua Hùng, vua An-dương, vua Trưng. Vì vậy chính Hồng-Sơn đại-phu đã bỏ ý định khởi binh lập lại triều Lê.

Lê Văn đứng dậy. Nó tới trước Triệu Thành xá ba xá, rồi nói:

– Thưa vương-gia, tiểu-sinh là đệ tử thấp nhất của sơn-trang. Xin có đôi lời thô thiển. Mong vương gia cho phép.

Triệu Thành đứng dậy vỗ vai Lê Văn:

– Tiểu công-tử. Tôi nghe tiểu công tử tuổi mới mười ba, mà văn võ kiêm toàn, không thua Đào Kỳ khi xưa. Không biết công tử có ý kiến gì?

Lê Văn hắng rặng, lấy giọng, rồi hỏi:

– Nếu như họ Lê chúng tôi khởi binh, thì Thiên-triều có giúp không? Nếu giúp thì giúp những gì? Tại sao Thiên-triều lại giúp chúng tôi?

Triệu Thành đến Vạn-thảo sơn-trang với mục đích khích động cho Lê Long-Mang khởi binh đánh triều đình nhà Lý. Dù Lê thắng, dù Lý thắng, sau trận chiến, tinh lực Đại-việt cũng kiệt quệ. Bấy giờ Tống đem quân sang đánh một trận, chiếm nước, đặt thành quận huyện. Cho rằng Lê Văn là trẻ con bồng bột, đặt câu hỏi đúng vào điều Triệu Thành muốn nói.

Y vui vẻ lớn tiếng:

– Khi Thiên-phúc hoàng-đế (Lê Đại-hành) lên ngôi. Vua Thái-tông bản triều không chú ý đến biên sự. Vì vậy bọn Tôn Toàn-Hưng, Hầu Nhân-Bảo là những bọn biên thần đa sự, đem quân sang đánh. Lúc triều đình biết, lập tức ra lệnh gọi về chém đầu. Sau đó phong chức tước cho Thiên-phúc hoàng đế. Niên hiệu Thái-bình hưng-quốc năm thứ sau (981) vua Thái-tông bản triều sai sứ sang phong cho ông nội của chú em làm Giao-chỉ quận-vương, Tĩnh hải tiết độ sứ. Khi ông nội chú em băng hà, được truy phong Nam-Việt vương, kiểm-hiệu thái-sư, trung nghĩa thủ hiếu công thần. Như vậy đủ rõ bản triều ưu đãi họ Lê. Sau chẳng may, họ Lý cướp ngôi nhà Lê. Triều đình đều thương xót vô cùng. Cho nên mới gửi tôi sang đây tìm con cháu nhà Lê lập lại chính thống.

Thành ngừng lại cho cử tọa theo dõi, rồi tiếp:

– Nếu như họ Lê khởi binh, thì Thiên-triều sẽ điều động quân mã các lộ Quảng-đông, Quảng-tây đánh sang. Sau khi diệt họ Lý, quân Thiên-triều sẽ rút về.

Lê Văn vừa cười, vừa lắc đầu:

– Vương gia coi tôi là trẻ con thì được. Chứ coi tất cả những người ngồi đây là trẻ con thì không được đâu. Truyện mơí đây, mà vương gia đã bẻ quẹo đi như vậy thì còn trời đất nào nữa? Khi ông nội tôi mới lên ngôi vua. Vua Thái-tông bên quý quốc nhân lúc trong nước có sự tranh chấp, sai Hầu Nhân-Bảo đem hai mươi vạn binh, ba mươi vạn dân phu, với hàng trăm chiến thuyền sang đánh nước tôi. Nhờ các anh hùng võ lâm bỏ hết tỵ hiềm, giết chết các tướng Tống, đánh tan chủ lực ở Chi-lăng, diệt hạm đội ở Bạch-đằng. Vì vậy Tống triều bắt buộc phải phong vương cho ông tôi.

Hội trường nghe Lê Văn nói, vỗ tay vang dội liên tiếp mấy tràng. Lê Văn được khuyến khích, nó tiếp:

– Nếu bảo triều Tống ưu ái họ Lê chúng tôi, tại sao khi họ Lý lên ngôi vua thì vào niên hiệu Đại-trung tường-phù năm thứ ba (1010) đời vua Chân- tông, sai Lý Văn-Nhậm, Lê Tái-Nghiêm sang kết hiếu. Triều thần nhà Tống không một lời hỏi han họ Lê, sai sứ sang phong cho Lý Công-Uẩn chức tước như sau Kiểm-hiệu thái-phó, Tĩnh-hải tiết-độ-sứ, quan-sát-sứ, xử-trí-xứ, An-nam đô-hộ, Ngự-sử đại-phu, Thượng-trụ quốc Giao-chỉ quận-vương, suy-thành thuận-hóa công-thần, Đồng-bình-chương-sự. Tiếp theo từ hồi đó đến giờ Thiên-triều sai đến năm sứ đòan sang phong thêm chức tước cho vua Lý. Như vậy là hậu đãi họ Lê đấy?

Vương Duy-Chính đáp thay Triệu Thành:

– Lê tiểu công tử. Công tử nên biết rằng lực lượng Vạn-thảo sơn-trang không quá hai ngàn đệ tử. Lương thực không đủ ăn cho năm ngàn người trong ba tháng. Vạn nhất khỏi binh, thì tôi e chỉ mấy đạo quân trấn Thanh-hóa cũng đủ dẹp trong một ngày. Nếu không có quân Thiên-triều thì sao khởi binh có thể thành công? Chúng tôi sang đây là vì sự nghiệp nhà Lê, chứ không phải vì sự nghiệp nhà Lý. Trước kia Thiên-triều không tìm được con cháu nhà Lê, phải tòng quyền phong cho Lý Công-Uẩn. Bây giờ đã tìm được, ắt phải nghĩ tình cố cựu mà lập lại chính thống.

Lê Thiếu-Mai đứng dậy chỉ vào Đinh Toàn:

– Thưa vương gia, tiểu nữ Lê Thiếu-Mai, đệ tử bậc trung của sơn-trang. Tiểu nữ dám hỏi vương gia một câu. Nếu nói rằng chuyến đi này của vương gia là tìm con cháu họ Lê, lập lại triều Lê. Thế sao vương gia lại đem theo Vệ-vương Đinh Toàn của triều Đinh, trong mưu toan tái lập nhà Đinh?

Triệu Thành ngơ ngác:

– Cô gia không biết Đinh Toàn là ai cả.

Thiếu-Mai vẫy Đinh Toàn:

– Vệ-vương gia. Xin vương gia xuất hiện cho.

Suốt mấy chục năm qua Đinh Toàn chịu không biết bao nhiêu cay đắng, nằm gai, nếm mật, lặn lội bao phen từ Việt sang Tống, rồi từ Tống sang Việt, với hy vọng Tống cho mượn binh về đánh họ Lý, tái lập Đinh triều. Bây giờ nghe Triệu Thành, Vương Duy-Chính đối đáp cùng các đệ tử Vạn-thảo sơn-trang. Ông tức muốn nổ lồng ngực ra. Từ ghế phía sau, ông hùng dũng bước ra:

– Bình-nam vương gia, Vương chuyển-vận sứ, quốc sư. Đinh Toàn này ở trong sơn-trang đã mấy ngày. Hơn nữa ngồi đây từ nãy đến giờ, nghe hết mọi truyện. Không ngờ các vị lại xảo quyệt đến thế. Tống thiên tử cùng Lưu hậu đã hứa cho tôi mượn mười vạn tinh binh từ Quảng-tây lộ, kéo về tái lập triều Đinh. Vì vậy tôi mới cùng quý vị chịu đựng không biết bao nhiêu cay đắng, mới tìm ra bộ Lĩnh-nam vũ-kinh. Nay bộ sách này vừa tìm thấy, thì các vị lại trở mặt.

Triệu Thành hỏi Thiếu-Mai:

– Lê nhị tiểu thư. Lão già nhà quê này là ai vậy? Dường như y vừa xưng là Đinh Toàn thì phải. Cô gia chưa từng nghe, chưa từng biết Đinh hay búa gì cả. Có lẽ nó là một tên nhà quê điên khùng đấy thôi.

Triệu Thành là người mưu trí, ứng đối cực kỳ mau chóng. Khi thấy nói đến Đinh Toàn, y biết rằng sự không ổn. Bây giờ y phải chọn một trong hai người: Đinh Toàn họăc Lê Long-Mang. Đinh thân cô, thế cô, võ công bình thường, kiến thức hủ lậu. Vả lại triều Đinh không để lại làm bao công lao với người Việt. Trong khi đó, Lê Long-Mang văn mô, vũ lược, võ công trùm thiên hạ. Ông lại có tài phục-dược, ơn nghĩa trải khắp thiên hạ, lực lượng Vạn-thảo sơn-trang hùng hậu vô cùng. Y quyết định ném Đinh Toàn vào thùng rác.

Vương Duy-Chính hiểu ý chủ. Y cũng tiếp:

– Lê tiểu thư ơi. Ty chức biết rồi. Chắc lão nhà quê này là tên điên đang được điều trị tại qúi trang. Y bị mắc chứng bệnh ảo tưởng, rồi cứ sống trong ảo tưởng đó. Cô nương dư biết lão điên, nhưng muốn đem ra làm trò cười cho mọi người thì phải.

Đinh Toàn tức quá, chân tay run rẩy, miệng nói lắp bắp không ra hơi. Y chỉ bọn Triệu Anh:

– Tung-sơn tam kiệt. Các vị là nhân chứng cho tiểu-vương.

Triệu Thành gỉa tảng hỏi :

– Ủa, Tung-sơn tam kiệt. Các vị cũng đến đây ư?

Bọn Tung-sơn tam kiệt đã từng làm việc dưới trướng Triệu Thành. Gì mà chúng không hiểu ý chủ. Triệu Huy đứng lên nói:

– Khải tấu vương gia. Trên đường từ biên giới Tống, Việt về Chiêm, bọn tiểu nhân gặp vị lão nhân đây. Thấy người nghèo túng, đói khát. Bọn tiểu nhân giúp đỡ cho chút ít tiền bạc, nhờ lão nhân làm thông ngôn, cùng dẫn đường. Thế rồi lão nhân xưng là Vệ-vương Đinh Tòan. Bọn tiểu nhân cũng không cần biết sự thực như thế nào. Bây giờ lão lại thêm vào cái mục rằng Thiên-triều hứa giúp đoạt lại ngôi vua thì thực là nực cười chết được.

Từ đầu đến cuối, Hồng-Sơn đại-phu không nói một tiếng nào. Bây giờ ông mới dõng dạc nói:

– Vị này đúng là Vệ-vương Đinh Toàn. Chúng tôi đã từng sống chung với nhau bao nhiêu năm ở Hoa-lư, thì không lầm được đâu. Đinh huynh, mời Đinh huynh ngồi xuống đây.

Ông chỉ ghế cạnh mình cho Đinh Toàn ngồi. Đinh Toàn cảm động, tự nghĩ:

– Mình là kẻ thù đối đầu của y. Y chỉ dí tay một cái cũng đủ giết mình. Thế mà y không làm. Bây giờ mình bị bọn Tống làm nhục. Y lại thung dung gỡ cho mình. Y thực xứng đáng là đại tôn sư võ học Lĩnh-nam. Mình không thể bằng y. Bọn Tống trở mặt với mình, đã vậy mình phải phá hủy bộ Lĩnh-nam vũ-kinh, bằng không lọt vào tay chúng thì nguy cho đại cuộc.

Nghĩ vậy, ông phóng một chiêu chưởng đánh vào mặt Quách Quỳ. Quỳ kinh hoảng bật ngửa người ra sau. Ông biến chưởng thành trảo chụp cái túi trên lưng y. Biết Ngô Tích ắt đọat lại. Ông nhảy tới cạnh Hồng-Sơn. Quả nhiên Triệu Huy, Ngô Tích đều xuất chưởng tấn công Đinh Toàn.

Hồng-Sơn đại-phu mỉm cười, lách tay một cái, ông đã chụp hai tay Ngô, Triệu nhẹ nhàng. Bao nhiêu kình lực trên tay Triệu, Ngô biến mất. Ông nghiêm sắc mặt:

– Các người là phường trộm cắp, đột nhập sơn trang, ta chưa xử tội, mà còn dám dụng võ ư?

Đinh Toàn cầm cuốn sách mà Quách-Quỳ chép tất cả những gì trên bia đá dơ cho cử tọa coi, rồi ông tóm tắt nguồn gốc sách, cùng nguyên do nào Đinh Bộ-Lĩnh đã có cơ duyên gặp được. Khi sắp băng hà, ngài đã chỉ chỗ cất dấu cho ông. Việc ông sang cầu viện nhà Tống. Triều Tống hứa với ông sẽ cho mượn mười vạn quân đánh nhà Lý, nếu tìm được bộ sách này. Nhưng ông lờ đi không nói đến Thanh-Mai, Bảo-Hòa, Mỹ-Linh bị bắt làm tù suốt mấy tháng qua.

Quách Quỳ cười khúc khích:

– Đinh vương gia. Vương gia kết tội anh em chúng tôi là phường trộm cướp. Thế mà giữa thanh thiên, bạch nhật, đô hội như thế này. Vương gia cướp sách của tôi thì còn trời đất nào nữa?

Nó ngửa bàn tay lên trời:

– Vương gia bảo cuốn sách đó là kinh thư võ học ư? Xin vương gia mở ra mà coi! Cuốn sách trong tay vương gia là bản sao bộ Luận-ngữ. Khi rời Trung-nguyên đi, tiểu bối mang theo, để dạy dân man di lễ nghĩa của đức thánh Khổng đó mà.

Đinh Toàn mở sách, lật xem, quả nhiên trong chép bộ Luận-ngữ. Ông mở thêm mấy trang nữa cũng vẫn là bộ Luận-ngữ. Mặt ông xám như tro. Tay ông run bần bật. Ông ném trả Quách Quỳ.

Quách Quỳ cười:

– Đinh vương gia. Nếu vương gia muốn, tiểu bối xin biếu vương gia, hầu vương gia học lễ nghĩa Trung-quốc.

Quách Quỳ cầm sách mở ra, y ê a đọc:

– Tử viết: Học chi thời tập chi. Hữu bằng tự viễn phương lại bất duyệt lạc hồ? Nghĩa là đức thánh Khổng dạy: Học thì phải tập. Có người bạn từ phương xa đến, không vui sao? Chính vì lẽ đó, sư phụ tại hạ gặp vương gia dọc đường, đói không có gì ăn. Khát không có gì uống. Người cưu mang tiền bạc cho vương gia đấy.

Đinh Toàn biết bọn Triệu Huy đã dấu bộ di thư đi, rồi lấy bìa bộ Đại-Việt giản sử đóng ra ngoài bộ Luận-ngữ, để đề phòng bị đoạt lại. Giận quá chân tay ông run lật bật.

Dương Bình chỉ bọn Triệu Anh hỏi Triệu Thành:

– Vương gia, chẳng hay những vị này với vương gia là chỗ thế nào?

Từ khi chia tay ở đền thờ Lệ-hải bà vương, Triệu Thành ra lệnh cho bọn Tung-sơn tam kiệt đi tìm di thư. Trong khi y tiếp tục lên đường vào Chiêm. Suốt gần hai tháng, y không biết tin tức bọn chân tay mình ra sao. Nay thấy chúng ngồi trong hàng ghế quan khách Vạn-thảo sơn-trang, thì y cho rằng bọn này đến thuyết phục trang chủ, nhưng chưa thành công. Y trả lời:

– Họ là thuộc hạ của cô-gia, được sung vào sứ đoàn sang Đại-Việt.

Dương Bình cười nhạt:

– Thưa vương gia, đang đêm, các vị huynh đệ này đột nhập sơn trang chúng tôi, mưu bắt cóc lương gia thiếu nữ. Vì vậy trang chúng tôi phải giữ lại để giải lên quan.

Nói rồi chàng tường thuật chi tiết vụ Ngô Tích, Triệu Huy, Quách Quỳ cùng Đinh Toàn toan bắt cóc Mỹ-Linh, Bảo-Hòa. Kể dứt chàng hỏi:

– Thưa vương gia, việc này không nhỏ đâu. Vì hai cô gái bị bắt cóc có lai lịch rất lớn. Một cô là công-chúa Bình-dương. Một cô là quận chúa, ái nữ của vua Bà Bắc biên.

Nghe Dương Bình thuật, Triệu Thành chửi thầm bọn Triệu-Anh ngu như lợn. Ta đã ban chỉ dụ rằng phàm hành sự gì, cũng nên tìm cách xóa bỏ vết tích, đừng để võ lâm Đại-việt biết được. Nhất là không được gây hấn với võ lâm. Đây chúng làm việc lộ liễu, đổ bể hết, lại còn gây hấn với phái Đông-a và Tây-vu nữa, thực đần độn hết chỗ nói. Bây giờ đã trót thì trét, ta phải cứu chúng.

Triệu Thành chỉ mặt anh em Tung-sơn tam kiệt:

– Các ngươi phạm trọng tội như vậy. Cô gia phải đem về triều chặt đầu làm gương. Sự thực ra thế nào, hãy khai cho cô gia biết.

Ngô Tích đến trước Triệu Thành phủ phục xuống:

– Khải tấu vương gia. Oan uổng cho bọn tiểu nhân. Bọn tiểu nhân bị quận chúa Thân Bảo-Hòa tung phấn độc, làm đại ca bị bệnh nặng. Đứng trước cái chết đó, bọn tiểu nhân đành tìm quận chúa ăn cắp thuốc giải. Chứ tiểu nhân gan to bằng trời cũng không giám vào Vạn-thảo sơn-trang là chỗ rồng nằm hổ phục mà bắt cóc con gái.

Thanh-Mai nghe Ngô-Tích nói láo quá, nàng chịu không được, đứng dậy hướng vào Triệu Thành:

– Vương gia. Thanh-Mai xin tham kiến vương gia.

Từ khi gặp gỡ Trần Thanh-Mai, Triệu Thành đã bị nhan sắc của nàng làm cho hồn phách bay phơi phới. Sau ngày chia tay đến giờ, y những tưởng không bao giờ gặp nhau nữa. Duyên may, hôm nay lại tao ngộ ở đây. Y đứng dậy chắp tay đáp lễ:

– Trần cô nương! Cô nương cũng có ở đây sao?

Thanh-Mai chỉ vào anh em Tung-sơn tam kiệt kể hết tất cả mọi việc làm của họ hơn tháng nay. Nào là ăn cắp di thư, nào là phá hủy hết bia chép võ kinh. Cho đến việc bị Bảo-Hòa dùng thú rừng bắt. Nhưng nàng dấu việc Mỹ-Linh biết chữ Khoa-đẩu, học thuộc lòng di thư.

Vương Duy-Chính nghe Thanh-Mai kể tội anh em Tung-sơn tam kiệt thì nản vô cùng. Tuy nhiên y phải đỡ đòn cho chúng:

– Theo như Trần cô nương nói, thì Tung-sơn tam kiệt có tội với Đại-việt, chứ đối với Vạn-thảo sơn-trang quả họ không phạm tội thất kính. Việc họ nhập trang trong đêm không phải để bắt lương gia phụ nữ, mà để tìm thuốc giải. Mong trang chủ thứ tội.

Triệu Thành hỏi Lê Thiếu-Mai:

– Lê tiểu thư. Theo luật lệ Đại-việt, những người phạm tội trôm cắp, có thể dùng tiền chuộc ra. Vậy bốn người của sứ đòan tuy không phạm tội trộm cắp thực sự, mà can tội mưu trộm cắp thuốc giải. Vậy cứ coi như họ phạm tội trộm. Đây là lãnh địa sơn-trang, thuộc Lê triều, chứ không thuộc Lý triều. Xin tiểu thư cho chúng tôi chuộc ra.

Lê Thiếu-Mai nhìn Dương Bình:

– Dương đại ca. Xin đại-ca phát lạc vụ này.

Dương Bình gật đầu:

– Như vậy cũng được.

Vương Duy-Chính móc trong bọc ra bốn nén vàng trao cho Dương Bình:

– Dương thiếu hiệp. Xin thiếu hiệp nhận lấy số tiền chuộc này.

Đúng ra luật thời Lý, tội trộm nhẹ như thế, chỉ phải nộp phạt mỗi người một lượng vàng. Thế mà Vương Duy-Chính nộp số vàng gấp mười.

Huệ-Phương nói với Triệu Thành:

– Vạn dặm gặp nhau, đều do duyên trời. Sơn trang chúng tôi xin kính mời vương gia cùng các vị đại nhân ở lại dùng bữa cơm lạt.

Hồng-Sơn đại-phu mời bọn Triệu Thành ra ngôi nhà bát giác dự tiệc. Dương Bình đợi sư phụ với quan khách rời khỏi đại sảnh đường, rồi tuyên bố giải tán. Người người trở lại với công việc của mình.

Lê Văn dẫn chị em Thanh-Mai trở lại Nghinh-tân các. Trước khi đi khỏi, nó dặn:

– Chiều nay em phải luyện võ, không thể thù tiếp các chị được. Hồng-Mai, Thanh-Mai sẽ dọn cơm cho các chị ăn. Mai em trở lại.

Lê Văn đi rồi, Bảo-Hòa hỏi Thanh-Mai:

– Hồng-sơn đại phu thu chị làm đồ đệ. Vậy ông đã dạy chị những gì?

Thanh-Mai lấy ra cuốn sách để lên bàn:

– Ông bảo y-học rộng như rừng như biển. Đầu tiên ông dạy chị học khoa Châm-cứu. Không cần chị hiểu hay không, ông giảng cho chị nghe học thuyết âm dương, ngũ hành.

Mỹ-Linh cười:

– Tưởng gì chứ học thuyết đó, đệ tử võ phái nào mà chẳng học qua. Cần gì ông phải dạy.

Thanh-Mai lấy sách ra, chỉ vào trang đầu:

– Không hẳn như vậy đâu. Học thuyết âm dương áp dụng vào y học với võ học khác nhau rất nhiều. Nếu chúng ta học cả hai, thì võ học sẽ tiến rất xa. Tiếp theo ông dạy chị về học thuyết tạng phủ, học thuyết kinh lạc, nguyên do mắc bệnh. Rồi ông trao cho cuốn Châm-cứu đại-toàn này, bảo chị đem về học.

Thanh-Mai đem tất cả những gì mình học, giảng cho Bảo-Hòa, Mỹ-Linh nghe. Mỹ-Linh đề nghị:

– Bây giờ chúng mình đem cuốn Châm-cứu này ra cùng học với nhau cho vui. Biết đâu chúng ta không tìm được một chút gì áp dụng vào võ học.

Ba chị em khởi đầu bằng Thủ thái âm phế kinh. Chỉ lát sau, đã hiểu hết. Tiếp theo sang Thủ dương minh đại trường kinh, cũng không có gì khó. Khi học đến Túc khuyết âm can kinh Bảo-Hòa than:

– Như vậy Hồng-sơn đại phu phóng Hàn-ngọc hoàn vào đúng huyệt Trung-đô của em. Can chủ cân. Khi can kinh bị phong bế, thành ra cân mạch đều liệt cả. Hèn chi ông ta bảo, em không thể rời khỏi sơn trang.

Trời về chiều, mặt trời chiếu ánh sáng xuyên qua rừng núi thành mầu vàng úa. Thanh-Mai chỉ đồi thông:

– Chúng mình lên đồi thông cho Bảo-Hòa luyện võ nữa đi.

Bảo-Hòa than:

– Khó lắm. Chân em bị Hàn-ngọc đan phong bế, thì làm sao luyện những chiêu cần phải vận khí xuống chân?

Thanh-Mai ngẫm nghĩ một lúc, nàng bàn:

– Chị nghe Lê Văn nói, muốn hòa giải Hàn-ngọc đan, phải dùng Châm-cứu. Chúng ta cứ lên đồi, thử xem, biết đâu?

Lên tới đồi, Bảo-Hòa lại tiếp tục luyện chiêu Tứ ngưu phân thi. Khi nàng dẫn khí xuống tới chân, thì chân lại cảm thấy đau nhói một cái, rồi kình lực biến mất, chỗ huyệt Trung-đô sưng lớn lên. Mặt Bảo-Hòa tái mét, nàng ngồi xuống gốc cây nghiến răng điều tức.

Thanh-Mai lại bên Bảo-Hòa, dùng ngón tay cái chà xát nhẹ lên chỗ sưng cho nàng. Lạ thay, Thanh-Mai vừa để tay lên chỗ sưng, Bảo-Hòa cảm thấy cái lạnh chạy ngược trở lên tới đùi, rồi qua sườn, phân tán vào vùng dưới nách. Chỗ sưng đỏ từ từ biến mất.

Bảo-Hòa kinh ngạc:

– Chị Thanh, vết sưng biến mất rồi.

Mỹ-Linh hỏi Bảo-Hòa:

– Chị thử vận công lại xem sao?

Bảo-Hoà hít hơi vận khí luyện chiêu Tứ ngưu phân thi, chân khí xuống chân một cách dễ dàng. Không tin vào mình, nàng hít hơi vận thử một lần nữa, rồi xuất chiêu. Bình một tiếng, cây thông to bằng cổ chân rung lên như gặp bão. Ba chị em ngây người ra suy nghĩ.

Bảo-Hòa lại phát chiêu Tứ ngưu phân thi một lần nữa. Bình một tiếng, tiếp theo tiếng rắc. Cây thông gẫy làm đôi, từ từ đổ xuống.

Thanh-Mai đang đọc sách, chợt nàng kêu lên:

– Tìm ra rồi.

Mỹ-Linh ngạc nhiên:

– Chị tìm ra cái gì vậy?

– Chị tìm ra tại sao khi chị sờ tay vào huyệt Trung-đô, thì chỗ sưng của Bảo-Hòa biến đi. Đây trong sách nói kim khắc mộc. Huyệt Trung-đô thuộc Túc-khuyết âm can kinh. Chị dùng huyệt Thiếu-thương của Thủ thái-âm phế kinh nắn bóp. Can thuộc mộc. Phế thuộc kim. Kim khắc mộc. Vì vậy tay chị sờ vào chỗ sưng bị phá tan, Hàn-ngọc phân tán khắp cơ thể.

Mỹ-Linh tiếp tục đọc khẩu quyết cho Bảo-Hòa luyện. Tới khuya thì nàng luyện xong ba mươi sáu chiêu Phục-ngưu thần chưởng.

Thanh-Mai đề nghị:

– Bây giờ Bảo-Hòa thử dùng Phục-ngưu thần chưởng đấu với chị xem sao nghe.

Bảo-Hòa hít hơi vận khí phát chiêu. Thanh-Mai dùng Đông-a chưởng pháp chống lại. Vì lần đầu tiên Bảo-Hòa xử dụng Phục-ngưu thần chưởng, nên Thanh-Mai phải xuất chiêu rất chậm chạp. Sau khi phát đủ ba mươi sáu chiêu, Bảo-Hòa trở lại từ chiêu đầu. Lần này nàng đã quen tay, chưởng phong phát ra khá mạnh. Thanh-Mai không phải nhân nhượng nữa. Đến lần thứ ba, nàng không đánh theo thứ tự, mà tòng tâm phát chiêu. Chiêu nọ nối chiêu kia liên miên bất tuyệt.

Thanh-Mai đánh xéo một chiêu rồi nhảy lùi lại:

– Phục ngưu thần chưởng quả thực danh bất hư truyền. Nếu em tiếp tục luyện mấy lần nữa, thì chị không còn là đối thủ của em nữa.

Ba chị em luyện đến khuya, mới ngừng lại trở về trang. Khi đi qua ngôi nhà thủy tạ, thấy đèn vẫn còn sáng. Bảo-Hòa chỉ ngôi nhà nói:

– Hồng-sơn đại-phu bàn gì với bọn Triệu Thành mà gìơ này chưa dứt. Chúng ta thử dò thám xem sao?

Nhưng ba người vừa tới gần, thì thấy bọn Triệu Thành từ trong nhà thủy tạ đi ra. Hồng-Sơn đại phu nói:

– Triệu vương gia. Chúng ta cứ thế mà làm. Trong Lĩnh-Nam ngũ long, tôi cam kết ít ra Trần Tự-An không theo tôi cũng không giúp Lý. Phái Tiêu-sơn, đã có Nguyên-Hạnh rồi. Tịnh-Tuệ của phái Mê-linh chỉ có danh, mà không có thực lực. Rút cục chỉ còn mình Đặng Đại-Khê, một cây làm chẳng nên non.

Ông tiễn khách ra, rồi trở lại nhà thủy tạ. Trong nhà chỉ còn Huệ-Phương, Thiếu-Mai, Dương Bình cùng với Lê Văn. Thiếu-Mai hỏi ngay:

– Bố! Bố nhận lời Triệu Thành khởi binh thực sao?

Hồng-Sơn đại-phu thở dài:

– Khi hoàng huynh qua đời, để di chiếu cho ta nối ngôi. Không ngờ Lý Công-Uẩn cướp mất sự nghiệp. Bao năm qua, nằm gai nếm mật, dùng hết tâm huyết mới xây dựng được trang này. Ta nghĩ trăm phương ngàn kế khởi binh, mà không có kế nào khả dĩ hoàn hảo. Bây giờ tuy bọn Triệu Thành không thực tâm. Nhưng ta vẫn cứ tòng quyền, mượn người Tống giúp sức. Đầu tiên quân Chiêm theo đường bộ, chiếm vùng Thanh-Hóa này trước. Thủy đội của Chiêm đổ vào vùng Thiên-trường tiến về Thăng-long. Trong khi đó một đạo quân Tống theo đường Ung, Liêm tràn vào. Bấy giờ Lý Công-Uẩn đem hết binh ra ngoài, Thăng-long bỏ trống. Ta suất lĩnh đạo kỳ binh bất thần đánh về. Chiếm được Thăng-long rồi, ta làm lễ khao quân Tống, lén bỏ thuốc độc, chúng sẽ chết hết. Đạo quân Chiêm ta chỉ đánh một trận thì đuổi chúng khỏi đất nước.

Thiếu-Mai lắc đầu:

– Bố ơi! Việc trả thù nhà đương nhiên phải làm. Phục hưng sự nghiệp tổ tiên là điều con cháu không được lãng quên. Nhưng bố ơi, quân Tống kéo vào đất nước mình, đánh người mình, võ lâm thiên hạ sẽ cùng sát cánh với triều Lý chống ngoại xâm như xưa kia ông nội đã được trợ giúp. Con sợ bấy giờ mình khởi binh, không ai hưởng ứng. Vả lại vua Ngọa-triều nhà mình quá tàn ác, sĩ dân đều oán triều Lê. Hiện không còn ai tưởng nhớ Lê triều nữa.

Huệ-Phương ngồi dựa lưng vào vai Hồng-sơn:

– Anh ạ. Vấn đề này phải cân nhắc kỹ lưỡng đã. Thủng thẳng mà làm. Hiện Lưu thái hậu bên Tống đang cầm quyền bính. Bà cương quyết chiếm nước mình trước, rồi thanh thế nổi dậy sẽ đánh Tây-hạ, Liêu, Kim sau. Em nghĩ mình cứ án binh, ắt bà cho đánh các nước kia trước. Sau khi đánh xong, tinh lực kiệt quệ. Bấy giờ mình khởi binh. Như vậy khi mình được nước, bà muốn đem binh sang đánh, thì kho tàng trống rỗng. Ta có thời giờ chỉnh bị binh mã. Vạn nhất sau bà thấy ta mạnh, bỏ ý định chiếm nước càng tốt. Bằng bà xua quân qua, ta dùng du kích, kéo dài chiến tranh, rồi cầu hòa, thì mới giữ được nước.

Dương Bình tiếp:

– Bây giờ sư phụ cho bọn đệ tử về Thăng-long đầu quân. Với võ công, tài trí của bọn con, chắc sẽ được trao binh quyền. Khi sư phụ khởi binh, chúng con làm nội ứng, đại cuộc tất thành.

Huệ-Phương nói với Hồng-sơn:

– Em xin góp một ý kiến thô thiển, mong anh không cho là ngu tối.

Hồng-sơn đại-phu, nhìn Huệ-Phương với đôi mắt nhu hòa:

– Em cứ nói. Ý kiến nào của em mà không hay, không đúng.

Huệ-Phương ngước mắt nhìn đại-phu. Đôi mắt của nàng óng ánh, tình tứ vô cùng. Nàng nói:

– Tự cổ, anh hùng tranh bá, đồ vương để lên làm vua. Làm vua được gì? Thứ nhất vàng bạc đầy nhà, thứ nhì uy quyền hiển hách. Thứ ba chúng nhân tôn phục, danh lưu thiên cổ. Thứ tư nhiều gái đẹp người hầu. Thế nhưng làm vua thì phải lo lắng, nay sợ người này phản. Mai sợ người khác bỏ. Trăm lo nghìn nghĩ, lao tâm khổ tứ.

Nàng nắm tay đại-phu:

– Còn anh bây giờ vàng ngọc e nhiều hơn vua. Võ công của anh vô địch thiên hạ. Uy quyền kém gì vua? Còn lưu danh thiên cổ ư? Chỉ nguyên tài phục dược của anh, khắp gầm trời này ai cũng cung kính như một thiên tiên. Cuối cùng để có gái đẹp ư? Anh là người trượng phu hào hùng, chỉ thích một vợ một chồng, thì cần gì nhiều? Như em, nhan sắc không thua ai, nhưng vì cái đức của anh, vạn dặm tìm đến. Anh chẳng phải lo nghĩ gì. Chả ai phản anh, mà chỉ lo giúp anh. Vì vậy, anh khởi binh chi cho mệt.

Lê Văn chạy đến nắm tay Huệ-Phương, nó ôm cổ nàng, hôn liền mấy cái:

– Dì này. Hồi mới gặp dì, cháu tưởng dì chỉ đẹp như tiên thôi, không ngờ kiến thức dì cao thực. Cao hơn mẹ cháu hồi xưa nữa.

Huệ-Phương ôm lấy đầu Lê Văn:

– Dì ước gì đẻ cho bố một đứa con thông minh như cháu.

Lê Văn cầm tay Huệ-Phương giật giật hai cái, nói với Hồng-Sơn:

– Bố, hay bố cho con gọi dì Huệ-Phương bằng mẹ đi.

Hồng-Sơn đại-phu đẩy Lê Văn:

– Báu gì cái thằng cà chớn này, mà em thích? Thôi anh cho em đấy.

Ngày xưa, một câu nói của cha mẹ hứa như vậy, tự nó đã thành mệnh lệnh. Lê Văn đứng dậy, sửa sang y phục ngay ngắn, rồi quỳ trước Huệ-Phương lạy đủ 8 lạy, rồi kêu::

– Mẹ.

Huệ-Phương nắm tay nó nâng dậy:

– Mẹ có ông chồng chỉ biết cứu người, không biết đánh người, lại có thêm đứa con như vầy thì dù cho mẹ làm hoàng hậu, mẹ cũng không nhận.

Hồng-Sơn lão nhân nghe vợ, con nói, ông nghĩ một lúc rồi thở dài:

– Lời của em nói, anh sẽ ghi nhớ. Ngày kia là ngày tốt, chúng ta phải làm lễ cưới cho danh chính ngôn thuận, em là mẫu nghi của sơn trang. Thôi chúng ta đi ngủ.

Chị em Thanh-Mai trở về Nghinh-tân-các. Ngửa mặt lên trời, thấy đôi chim ưng bay lượn. Bảo-Hòa vào nhà dùng giấy, bút viết liên tiếp ba tờ , rồi ra ngòai gọi chim ưng xuống. Nàng lấy thư bỏ vào ống dưới chân rồi huýt sáo ra lệnh cho chúng bay đi.

Ba chị em, mỗi người một góc, ngồi vận công. Trong khi vận công, vì mỏi mệt, Thanh-Mai mơ mơ màng màng nghĩ đến những bài học trong sách Châm-cứu. Vô tình chân khí chay theo các kinh mạch một cách dễ dàng. Nàng không cần kiềm chế chân khí, cứ để cho nó luân lưu. Chợt nàng nhớ lại một lần bố nàng giảng rằng:

– Lĩnh-Nam có học thuyết âm-dương, ngũ-hành cùng học thuyết kinh lạc. Xưa kia Bắc-bình vương Đào Kỳ cùng Khất-đại-phu đã áp dụng vào võ học, chế ra lối vận khí theo kinh mạch. Sau khi vua Bà tuẫn quốc, thì võ học chỉ còn lưu truyền việc áp dụng học thuyết âm-dương, ngũ hành thôi. Còn vấn đề vận công theo kinh mạch thì thất truyền. Hiện võ công Lĩnh-nam có năm người, được đời truyền tụng là năm con thần long. Không ai hơn được ai. Nếu bây giờ người nào tìm cách áp dụng vận khí bằng kinh mạch, người đó sẽ là anh hùng vô địch.

Hồi chiều Mỹ-Linh đã đọc cả một chương chép về cách vận khí của Bắc-bình vương cùng Khất-đại-phu, cùng phương pháp luyện Lĩnh-Nam chỉ cho nàng. Nàng chú ý học thuộc. Nàng nghĩ:

– Người xưa chế ra được tại sao ta không học được?

Nghĩ vậy nàng định tâm hít hơi vận khí qua vòng Tiểu-chu-thiên. Nàng thấy dễ dàng qúa. Nàng lại tiếp tục vận khí vào đơn điền, rồi truyền ra Đốc-mạch, cuối cùng chuyển về huyệt Đại-trùy rồi đưa ra Thủ tam dương kinh. Kinh khí cuồn cuộn phát ra không ngừng. Các ngón tay nàng căng thẳng như muốn nổ tung ra. Nàng cứ thế luyện đi, luyện lại, rồi ngủ đi lúc nào không hay. Trong giấc ngủ, tâm thức nàng vẫn tiếp tục làm việc.

Sáng hôm sau, nàng vừa thức giấc thì Lê Văn hớn hở chạy vào:

– Chị Thanh-Mai ơi. Hôm nay nghỉ học. Vì cả trang đang lo làm lễ cưới cho bố em với dì Huệ-Phương. Các chị tha hồ dạo chơi trong trang. Nhớ nhé, tuyệt đối không được đi vào khu cấm địa cỏ độc.

Ba chị em lại nhắm hướng đồi thông, nơi có thác nước chảy đi tới. Lên đồi, Mỹ-Linh tiếp tục luyện kiếm. Bảo-Hòa luyện chưởng, Thanh-Mai luyện nội công. Ba người đang say xưa luyện võ, thì Thanh-Mai khám phá ra đang có người đi lại phía mình. Nàng ra hiệu cho Bảo-Hòa, Mỹ-Linh cùng núp vào một bụi cây. Bọn người đi tới chính là Triệu Thành, Vương Duy-Chính và Tung-sơn tam kiệt.

Năm người kéo tới, ngồi đưới tảng đá, cạnh suối. Triệu Thành hỏi:

– Cô gia muốn các người tường thuật chi tiết về việc tìm di thư. Ngô Tích người nói trước đi.

Ngô Tích tường thuật tỷ mỷ từ lúc đi cùng Đinh Toàn, cho đến lúc đào được hầm, bị chị em Thanh-Mai hun cỏ suýt chết ngộp… cho đến lúc bị bắt. Triệu Thành quắc mắt nhìn Triệu Anh:

– Các người có biết rằng các người bị lọt vào lưới Khu-mật-viện Giao-chỉ rồi không?

Triệu Anh ngơ ngác:

– Xin vương gia dạy rõ hơn.

– Thứ nhất, các người cùng ta rời Thăng-long vào Thanh-hóa, thì bọn chúng không nghi ngờ gì cả. Chúng chỉ nghi ngờ khi các người đột nhập đền thờ Tương-liệt đại-vương làm bại lộ. Khi ở trên núi Chung-chinh chúng ta đã gặp một tên mưu trí trùm Lĩnh-Nam là Lý Long-Bồ, tước phong Khai-quốc vương, lĩnh chức thái úy, quản Khu-mật-viện. Ngay đêm đó y âm thầm bỏ đi với hai tên ranh con Trần Tự-Mai cùng Tôn Đản.

– Ai đã cho vương gia biết truyện đó?

– Đàm-toái-Trạng và Nguyễn Khánh.

—Y dùng chim ưng đưa thư về Thăng-long. Khu-mật-viện bèn ra lệnh cho tiết-độ-sứ Đinh Ngô-Thương. Vì vậy hôm sau chúng ta lên dự lễ Triệu Ẩu, nới có văn thư Khu-mật-viện bắt tiết-độ-sứ cho người hộ tống chúng ta tới biên giới Chiêm-thành. Một hình thức canh coi chúng ta. Thành ra khi vào đất Chiêm, ta mới cho các người tách rời ra, lộn trở về Thanh-hóa.

Anh em Triệu Anh gật đầu, tỏ vẻ hiểu biết.

Triệu Thành tiếp:

– Khi các người về tới biên giới Giao-chỉ, chúng cho chim ưng theo dõi bọn người. Lý Long-Bồ dùng chim ưng truyền lệnh cho Thân Bảo-Hòa, cùng Thanh-Mai, Mỹ-Linh phục kích ở đền thờ Tương-liệt đại vương. Các người hút bị đốt chết.

Triệu Huy hỏi:

– Thưa vương gia, Lý Long-Bồ thiếu gì cao thủ võ lâm, tại sao y không sai, mà lại sai mấy đứa con gái ngây thơ, võ công non kém?

– Y biết chúng ta khinh thường con gái. Y cho ba đứa con gái hành sự, ta mới không ngờ có bàn tay y nhúng vào. Khi các người chui xuống hầm, chép di thư, Long-Bồ đều biết hết. Lúc rời hầm lên đường đi Vạn-thảo sơn-trang, người có nhớ không? Bảo-Hòa xin vào bụi cây đi tiểu. Lúc đó là lúc y thị nhận mệnh lệnh của Lý Long-Bồ dặn phải làm gì. Lại khi trên đường từ Vạn-hoa sơn-trang đi Vạn-thảo, Bảo-Hòa cũng xin vào bụi cây đi tiểu, rồi gửi báo cáo bằng chim ưng về cho Long-Bồ.

– Thưa vương gia. Nếu vụ này do Lý Long-Bồ chủ xướng, sao y không cho Mỹ-Linh với Thanh-Mai biết?

– Người ngu quá. Phàm mật kế quốc sự, thì càng bí mật bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Một mình Bảo-Hòa đủ rồi, Nếu cho hai con kia biết, dễ bị lộ. Vì vậy Long-Bồ bố trí cho chở khẩn cấp đến Vạn-thảo sơn trang mấy con thú rừng đã được huấn luyện. Con nhỏ Bảo-Hòa nhân đó dùng thoát thân, cùng bắt các người, mà các người không biết.

Triệu Thành cười gằn:

– Chính Lý Long-Bồ bố trí cho cô gái bán bún riêu tống tình Ngô Tích. Các ngươi phải biết đời nào có con gái thôn quê xinh đẹp như vậy? Y lại bố trí một cặp nghệ sĩ từ Thăng-long vào chợ, vờ hát xướng, hầu đưa tin cho Bảo-Hòa.

Tất cả mọi điều Triệu Thành nói, bọn Triệu Anh đều tin hết. Duy việc cô hàng bún riêu tống tình Ngô Tích bọn y không tin, nhưng không dám cãi.

Triệu Thành hỏi Ngô Tích:

– Người hãy đưa bức thư cô gái trong Vạn-hoa sơn-trang viết cho người ra đây ngay.

Ngô Tích tím mặt lại:

– Cái đó… cái đó…

Triệu Thành vung tay chụp vào ngực Ngô Tích. Rọac một tiếng, y đã xé rách túi áo Ngô, tay y dở ra một tờ giấy. Y đưa cho Vương-duy-Chính đọc:

Ngô đại nhân nhã giám.

Được biết tiên sinh là đấng tài hoa văn nhã. Tiểu nữ mong tiên sinh có thời gìơ trở lại sơn-trang cùng uống rượu đánh cờ ngâm thơ .

Đào Thụy-Vi.

Ngô Tích thản nhiên:

– Tiểu nhân hành sự cũng như đi đâu đều cùng với đại-ca và tam đệ, thêm Quách Quỳ. Khi rời Vạn-hoa-trang, cô gái đánh đàn tặng tiểu nhân chậu hoa, trong khi đó nhét thư này vào túi. Vương gia đã ban chỉ thị chuyến này sang Giao-chỉ kiết thân với người Việt càng nhiều càng tốt. Việc kết thân với Vạn-hoa-trang đâu có làm nên tội?

Triệu Thành cười nhạt:

– Ngay cái đêm bị giam ở xã Vạn-thảo, mi được cô gái bán bún riêu tên Thanh-Trúc cởi trói, lấy ngựa dẫn mi đi trốn. Thay vì mi cởi trói cho anh em cùng trốn, mi lẳng lặng lên đường tới Vạn-hoa-trang. Vừa tới nơi Đào Thụy-Vi đã đón chờ mi. Sao mi ngu thế? Không lẽ y thị có phép tiên nhìn xa vạn dặm hay sao, mà mi vừa đào thóat, thị đã ra cổng sơn-trang chờ? Thế rồi thị dẫn người vào trang nghe đàn, đướng họa thơ, uống trà. Cuối cùng mi được Đào phu nhân hứa gả y thị cho mi. Mi có biết Đào phu nhân là ai không? Trang chủ Vạn-hoa là ai không?

– Thần không biết.

– Mi không biết cũng không sao. Y tên thực là Đào Cam-Mộc, tước phong Trung-nghĩa hầu. Vợ y là công chúa An-quốc, con đầu lòng Lý Công-Uẩn. Chị ruột Lý Long-Bồ đấy.

Khi Đào Cam-Mộc giúp vua Lý Thái-tổ dựng nghiệp, được ngài gả con gái đầu lòng là công chúa An-Quốc và phong tước Trung-nghĩa hầu cho. Đào Cam-Mộc làm quan có năm năm rồi xin cáo quan về điền viên. Ông cùng vợ lập ra Vạn-hoa trang hưởng thú thanh nhàn.

Mỹ-Linh nghe đến đây nàng mới giật mình:

– Ta ngu thực. Ngu thực. Khi thấy dáng người cùng tiếng nói Đào phu nhân rất quen thuộc mà ta đóan không ra. Thì ra cô ta. Cũng tại ta xa cô ta vào lúc còn nhỏ quá, trí nhớ chưa đủ. Thì ra cô ta, chú ta đứng trong bóng tối theo dõi bọn Tống. Chú ta quả thực giỏi, xếp đặt mọi việc, coi bọn Tống như con kiến trên bàn tay.

Vương Duy-Chính tiếp lời Triệu Thành:

– Vương gia dặn chúng ta kết thân với người Việt, nhất là con gái Việt, là muốn chúng ta theo gương Trọng-Thủy với Mỵ-Châu, hay như hồi Đông-Hán lợi dụng Cù-Thị chiếm nước Nam-Việt. Chứ không phải để chúng ta biến thành Nghiêm Tử-Lăng, hay Đô Dương vì gái Việt, bỏ cố quốc.

Triệu Thành tiếp:

– Người có biết tại sao Đào phu nhân lại bảo người về cởi trói cho anh em người không? Ta nói cho ngươi biết: nếu người bỏ ta, bỏ anh em theo mụ, thì người trở thành vô dụng với Giao-chỉ. Giao-chỉ thiếu gì người võ công, văn học hơn mi? Chẳng qua họ muốn mi vẫn ở Tống, mà làm con chó săn cho họ mà thôi. Sau đó mi lật đật trở về cởi trói cho anh em. Mi thử nghĩ xem, nếu không có bàn tay của Khu-mật-viện Giao-chỉ thì sao mi đi, đến xã Vạn-thảo dễ dàng vậy? Anh em mi thoát thân dễ dàng trong khi họ có mấy nghìn quân canh gác?

Triệu Thành nghiến răng:

– Người hãy xuất chiêu đi.

Ngô Tích biết rằng Triệu Thành không tha mạng y. Y chỉ còn một đường duy nhất để tự tồn là thắng được Thành. Y nhẩy vọt lên xuất chưởng tấn công liền. Vì liều mạng, y đánh toàn những chiêu hiểm độc. Triệu Thành như mèo vờn chuột, y đánh cầm chừng. Chờ cho Ngô Tích mệt nhoài rồi mới phản công. Y cười nhạt:

– Ta chỉ đánh có ba chiêu. Hễ mi chịu được thì ta tha mạng cho.

Y đánh ra chưởng thứ nhất, Ngô Tích loạng choạng ngã ngồi xuống, miệng phun máu. Tuy vậy y cũng cố vọt mình dậy đứng thủ. Thành xuất chiêu thứ nhì. Bình một tiếng, Ngô Tích bay vọt về sau. Triệu Thành cười:

– Ta kết liễu tính mệnh mi đây.

Tay y vung chưởng lên
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103105
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49567 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » May 7th, 2017, 10:15 am


HỒI THỨ HAI MƯƠI BỐN

Công Chúa An Quốc


Chưởng phong chụp xuống. Bọn Triệu Anh, Ngô Tích nhắm mắt lại, không dám nhìn người anh em kết nghĩa chết thảm.

Thấp thoáng bóng nâu, một người từ bụi cây nhảy ra vung chưởng đánh thẳng vào người Triệu Thành. Chưởng phong cực kỳ hùng hậu. Triệu Thành phải thu chưởng về tự cứu mình. Người kia chuyển chưởng tấn công Vương Duy-Chính. Vương vội xuất chưởng đỡ. Không ngờ người kia thu chưởng về thực mau, tay phát chiêu Cầm-long-công, thân hình Ngô Tích bật lên. Người đó ôm Ngô Tích chạy lên núi.

Triệu Thành hô:

– Mau đuổi theo.

Nhưng khi y hô tiếng đó, người ấy với Ngô Tích đã biến vào rừng hoang vu, không còn thấy bóng dáng đâu nữa. Biết có đuổi theo cũng vô ích. Vương Duy-Chính than:

– Chiêu thức người mặc áo nâu vừa rồi rất quái dị, không giống bất cứ phái nào của Giao-chỉ.

Triệu Thành ngơ ngẩn xuất thần:

– Chúng ta lên đây họp, quỷ không biết, thần không hay. Tại sao người này biết mà phục sẵn? Các ngươi phải cẩn thận. Chúng ta đang ở trong cạm bẫy Khu-mật-viện Giao-chỉ.

Triệu Thành vẫy bọn thủ hạ xuống núi.

Bọn Triệu Thành đi rồi, chị em Thanh-Mai mới dám rời chỗ ẩn thân.

Thanh-Mai bẹo tai Bảo-Hòa:

– Em nhận lệnh của cậu hai, thế mà bí mật không cho chị biết.

Bảo-Hòa cười:

– Không phải cậu hai không tin chị với Mỹ-Linh. Em có thể nói, trên đời này, cậu hai tin chị nhất. Sở dĩ cậu không muốn cho chị biết, vì qui luật hành quân, bảo mật nước mình định như vậy. Nếu cho người thứ nhì biết thì nguy hiểm cho người đó.

Nghe Bảo-Hòa nói, Thanh-Mai đỏ mặt lên. Nàng nghĩ thầm:

– Thì ra chàng cùng Tự-An, Tôn-Đản vẫn theo sát bên mình, mà mình nào hay?

Thanh-Mai hỏi Bảo-Hòa :

– Thế người cứu Ngô Tích ban nãy là ai vậy?

– Em cũng không biết nữa. Chiêu thức võ công của người đó thuộc phái Cửu-chân thời Lĩnh-Nam.

Ba chị em thủng thẳng xuống chân núi. Khi Thanh-Mai, Mỹ-Linh biết Bảo-Hòa nhận lệnh từ Khai-quốc vương, thì mọi việc đề xướng của Bảo-Hòa, hai người nhất nhất tuân theo. Trong khi sơn-trang tưng bừng với lễ cưới trang chủ. Chị em Thanh-Mai ngày ngày lên núi luyện võ công. Bọn Triệu Thành chỉ lưu lại sơn-trang hơn mười ngày thì ra đi.

Đúng ra, khi Bảo-Hòa, Mỹ-Linh đã tự giải được độc tố Hàn-ngọc đan, thì có thể ra đi, không cần thắng Thiếu-Mai như luật lệ của Hồng-Sơn. Nhưng Bảo-Hòa nhận được lệnh lần nữa ở lại sơn trang, để Thanh-Mai học châm-cứu.

Một buổi tối Lê Văn đến Nghinh-tân-các tìm Thanh-Mai:

– Hôm nay bố em đi vắng. Mẹ muốn mời các chị tới thăm nhà Bát-giác, không biết các chị có thuận không.

Thanh-Mai cười:

– Mẹ của em thực quá cẩn thận. Bà là sư mẫu của chị, thì bà muốn gọi chị đến hầu lúc nào chẳng được. Tại sao bà khách sáo thế?

Lê Văn nói nho nhỏ:

– Em có cảm tưởng mẹ có liên hệ gì với các chị thì phải. Người luôn luôn theo dõi chăm sóc các chị. Bất cứ bố em nghĩ xấu gì về các chị, bà đều khéo léo bênh vực. Như việc các chị luyện võ tự giải được Hàn-ngọc đan ông biết hết. Ông đòi đuổi các chị đi. Mẹ bảo tại sao lại đuổi? Ai chả có bố mẹ anh em. Ai chả muốn sống gần người thân. Khi các chị thích sống ở đây hơn là về nhà thì hẳn sơn trang phải lấy làm hãnh diện chứ?

Thông-thường, Thanh-Mai quyết định mọi việc. Nhưng từ khi nàng biết Bảo-Hòa giữ nhiệm vụ liên lạc cũng như nhận lệnh từ Lý Long, việc gì nàng cũng hỏi ý kiến Bảo-Hòa. Thấy Thanh-Mai đưa mắt nhìn mình, hỏi ý kiến. Bảo-Hòa nhanh nhẩu:

– Nào chị em chúng mình mau quần áo chỉnh tề lên gặp chủ-mẫu sơn-trang. Nhưng vấn đề xưng hô thì khó đây. Đúng ra,trang chủ ngang vai với Thuận-Thiên hoàng đế, thì Mỹ-Linh với chị phải gọi bằng thái sư bá. Ngặt vì bà xinh đẹp, lại quá trẻ, gọi vậy thực không ổn. Còn chị Thanh-Mai thì, ngôi thứ đã định, chị phải gọi bà bằng sư-mẫu rồi.

Ba chị em theo Lê Văn lên ngôi nhà Bát-giác. Vừa tới đầu cầu, đã thấy Huệ-Phương đứng đón từ trước. Cạnh nàng là Thiếu-Mai. Hôm nay Huệ-Phương trang phục giản dị, quần lụa đen, áo cánh mầu hòang yến, cổ chòang khăn hồng. Nàng cười rất tươi lên tiếng trước:

– Ở không buồn quá, mời ba cô nương lên đây nói truyện cho vui. Nào mời ba vị vào.

Ba chị em hành lễ. Mỹ-Linh lên tiếng:

– Chị em bọn tiểu nữ được phu-nhân gọi, vội lên ngay.

Thị nữ pha trà. Huệ-Phương ngắm nghía ba người, rồi nói:

– Tôi vốn là đệ tử phái Tản-viên, vì vậy học được một ít thuật tướng mệnh. Hôm nay muốn đem ra coi cho ba vị cô nương. Nếu có sai, xin đừng trách phạt.

Lịch sử cổ kim, Đông Tây, bất cứ thời nào, dân tộc nào, phụ nữ cũng thích bói toán, tướng số. Mỹ-Linh chìa tay ra:

– Xin phu nhân coi cho tiểu nữ một quẻ.

Huệ-Phương lắc đầu:

– Tôi không coi tướng tay, mà coi tướng tướng toàn thân. Từ mắt, da, đi, đứng, ăn, ngồi, nói. Phụ nữ cần coi mắt hơn các bộ phận khác, mắt tối quan hệ. Mặt trời mặt trăng bao trùm vạn vật, thì mắt là mặt trời mặt trăng của thân thể. Mắt trái là mặt trời tượng trưng cho cha. Mắt phải là mặt trăng tượng trưng cho mẹ. Khi ngủ thì thần tập trung tại tâm. Khi thức thì thần hiện ra ở mắt. Coi mắt thì biết thần của con người.

Thiếu-Mai vỗ vai Huệ-Phương:

– Dì Phương này. Tướng-mệnh với y khoa giống nhau quá. Theo sách Lĩnh-nam y-kinh của Khất đại-phu thì « Mắt là quan của gan. Gan tàng chứa huyết dịch. Khi thức, huyết dịch chạy khắp cơ thể. Khi ngủ huyết dịch chuyển về gan. Gan tàng chứa hồn. Khi giận hờn, làm gan bị hỗn loạn. Ngược lại gan hỗn lọan thì hồn bị động. Cho nên mọi giận hờn đều do gan mà ra. Thế nhưng tim tàng thần. Khi ngủ, thần về tim. Khi thức thần hiện lên ở mắt. Phàm xem bệnh thì coi mắt để biết hồn và thần ».

Thiếu-Mai nheo mắt cười:

– Dì giỏi tướng, bố giỏi về y. Hai khoa gần nhau. Hèn gì cách đây mấy năm bố gặp dì, thì đêm nhớ ngày mong, hồn phách như phiêu bạt phương nào. Từ hôm gặp lại dì đến giờ, bố mới vui vẻ trở lại.

Huệ-Phương cười rất tươi, nàng bẹo má Mỹ-Linh:

– Mắt của công chúa đen như điểm sơn ắt là người thông minh, văn chương bút mặc khó ai sánh kịp. Thông thường thì ít thấy thần thái hiện ra, đôi mắt công chúa như mắt phượng ngủ biểu hiện tâm tính khoan hòa, dễ dung thứ người, đó là thực thần biểu hiện hoàn toàn tâm tính của công-chúa. Còn đôi khi cần quyết định thì ánh sáng chiếu ra loang loáng như mặt trời trông cực kỳ uy nghiêm, khiến ai nhìn cũng kính phục, đó là sắc thần do luyện võ, do học văn, kết hợp thành. Gồm cả khoan hòa, với uy nghiêm, công chúa sẽ có sự nghiệp lừng lẫy. Tiếc rằng Thiên-tử trọng nam hơn nữ, chứ nếu tôi là hoàng-đế, tôi truyền ngôi cho công chúa, thì dân Việt sẽ hạnh phúc kém gì thời vua Trưng?

Huệ-Phương tiếp:

– Đó là nói về thần. Bây giờ nói về bản thần tức gốc con người. Bản thần của công-chúa biểu hiện lúc mắt họat động. Khi công chúa nhìn ưa ngước lên, như nhìn về cõi trời xa xôi nào đó, biểu lộ bản tính đa sầu, đa cảm. Thoáng cái, buồn, thoáng cái vui. Dưới mắt phải có mụn nốt ruồi, ắt phải khuất thân mẫu vào thời thơ ấu. Tuy vậy cuộc đời công chúa không tầm thường đâu. Trong tất cả chúng ta ngồi đây, sau này võ công, văn học công chúa hơn tất cả. Năm nay công chúa gặp vận xấu, nhưng trong cái xấu, có cái tốt.

Mỹ-Linh thấy Huệ-Phương đoán trúng hết, nàng thắc mắc:

– Xin phu nhân cho biết cuộc đời duyên tình sau này sẽ ra sao?

– Duyên tình à. Công chúa đã gặp ý trung nhân rồi đó. Ngặt vì thời cơ chưa đến, thành ra vẫn có trắc trở đôi chút. Công chúa ơi! Khi ông Tơ, bà Nguyệt đã kết dây tình, thì dù hai người ở góc biển chân trời nào rồi cũng gặp nhau, rồi thành duyên trăm năm. Công chúa đang gặp khó…

Bảo-Hòa nhìn Mỹ-Linh, nàng thương hại cô em họ, hỏi:

– Có cách nào thóat ra cái trắc trở đó không?

– Có chứ. Tỷ như người bị bệnh, thì tướng mệnh bắt như vậy rồi. Khi đi tìm thầy trị, tức là mượn tướng ông thầy, phá cái tướng bệnh ấy đi. Duyên tình công chúa trắc trở thực, nhưng nếu công chúa nhờ một người trên, ngang vai với sư phụ, với bố mà công chúa kính yêu nhất, thì gỡ ra được. Tôi nhắc lại phải là người mà công chúa kính yêu nhất.

Mỹ-Linh nhĩ thầm:

– Người mà mình kính yêu nhất thì chỉ có chú hai. Ừ nếu mình thú thực với chú hai thì hẳn người giúp được. Nhưng không biết hiện giờ chú ở đâu?

Huệ-Phương nheo mắt cười. Nụ cười của nàng duyên dáng vô cùng:

– Công chúa đang nhớ phụ-vương, thúc-phụ, hay cô-mẫu?

Mỹ-Linh trở về thực tại, mắt nàng chiếu ra những tia sáng uy nghiêm:

– Phu nhân lợi hại thực. Tiểu nữ phải về nói với chú hai mời phu-nhân làm quân-sư mới được. Phu nhân chỉ nhìn tướng mà biết tôi nhớ ai, thực hiếm có.

Nghe Mỹ-Linh nói, Huệ-Phương thoáng một vẻ buồn hiện trên nét mặt. Trong cái buồn có nét nhu mì, ẩn hiện những tình cảm nồng nàn. Nàng tiếp:

– Dễ thôi. Này nhé khi công chúa nhớ người yêu thì thường hiện ra nét e thẹn, mặt hơi cúi xuống, hai má ửng hồng. Vương mẫu qua đời, nếu công chúa nhớ đến, ắt mắt nhìn vào xa xôi để tưởng nhớ hình dạng của người. Còn đây công chúa suy nghĩ, nét mặt hiện ra vẻ kính, nét yêu, thì chỉ có nhớ phụ-vương, thúc-phụ hay cô-mẫu. Xét kỹ ra, công chúa gần Khai-quốc vương nhất, chắc công chúa nhớ người, chứ không sai.

Huệ-Phương ngồi nghiêm trang lại:

– Nói chung, sự nghiệp công chúa sau này vẻ vang vô cùng…Ít ra cũng bằng Thánh-Thiên hay Phùng Vĩnh-Hoa thời Lĩnh-Nam.

Huệ-Phương quay lại Bảo-Hòa:

– Còn quận chúa. Quận chúa không phải là người trần như chúng tôi mà nói đến duyên tình, sự nghiệp được. Quận chúa là người nhà trời…

Bảo-Hòa ngơ ngác:

– Mai này sự nghiệp tiểu nữ ra sao? Liệu có được như Mỹ-Linh không?

Huệ-Phương quả quyết:

– Hơn nhiều. Đại-Việt sau này nhờ quận chúa mà trở thành một nước hùng mạnh. Sự nghiệp quận chúa sau này chỉ thua có vua Trưng mà thôi. Muôn nghìn năm sau, người đời còn thờ cúng. Quận chúa sống thì cầm gươm cứu dân. Chết lại chẳng chịu về trời, lẩn quẩn với dân Viết ít ra vài ba nghìn năm.

Thanh-Mai, cùng Mỹ-Linh cùng bật lên tiếng ái chà.

– Quận chúa sinh ra chỉ để giúp dân! Khi thác cũng vẫn giúp dân! Hỡi ơi sự nghiệp của quận chúa thực lẫy lừng khắp Hoa-Việt.

Huệ-Phương, nhìn Thanh-Mai, bất giác bà thở dài như tiếc than một cái gì:

– Tự cổ, đa tài vốn đa lụy. Con người có tài, có sắc thì ông trời hay đánh ghen, làm cho gian truân. Cô nương đã đa tài, lại còn đa tình nữa. Cuộc đời cô nương nếu bảo rằng tốt thì cực tốt. Bảo rằng xấu thì cực xấu. Số trời đã định, thì chạy đâu cho khỏi? Trong ba vị cô nương đây, nói về tài thì không ai sánh kịp Thanh-Mai. Nhan sắc thì cô nương sắc sảo hơn Mỹ-Linh, Bảo-Hòa. Về võ công thì tôi e phu quân tôi sau này cũng thua xa. Thế nhưng…

Mỹ-Linh lo lắng:

– Thế nhưng xấu lắm sao?

– Không hẳn rằng xấu. Trần cô nương xinh đẹp ít ai bằng. Vì vậy có đến hai nhân vật công danh lên tột đỉnh, tài trí trùm hoàn vũ cùng để ý, cùng cầu thân. Thế rồi người được thì công danh mất. Người không được thì công danh còn. Cuối cùng nát đời hoa. Tiếc quá, tiếc quá.

Lê Văn ngắt lời Huệ-Phương:

– Mẹ, mẹ có cách nào cứu chị Thanh-Mai không?

– Cứu ư? Khi vận hạn xấu thì cứu được. Chứ bản mệnh đã như vậy thì cứu sao cho nổi? Nếu nói về hạnh phúc thì không ai hạnh phúc bằng Trần cô nương. Bố thương yêu rất mực. Em kính yêu như mẹ. Gặp tới hai người tài trí, công danh trùm hoàn vũ, cùng say mê đến nghiêng ngả sự nghiệp, chịu chết chịu mất nghiệp để được nàng. Mỵ-Nương, Mỵ-Châu còn thua xa. Tây-Thi, Dương-phi cũng không bằng. Khi cô nương chết rồi, hai người này đều bỏ đi tu, để ngày ngày quên hình bóng. Tự cổ, khó ai được sủng ái đến như thế.

Huệ-Phương nhìn mây trôi:

– Tuy nhiên, đức năng thắng số. Nếu trong nhà cô nương có ai đi tu, thì có thể giải hết nghiệp cho cô nương. Một người đi tu, cả họ được hưởng phúc. Dưới mắt cô nương có quầng đen, ắt khoảng tháng tám này cô nương sẽ gặp một tai nạn, tưởng đó thể tới Quỷ-môn-quan. Thế nhưng lại thoát được trong đường tơ kẽ tóc.

Nghe đến đây mặt Thanh-Mai tươi hẳn lên.

Lê Văn thấy để mọi người nói về tướng xấu của Thanh-Mai mãi, e không dứt được. Nó cắt ngang:

– Mẹ ơi! Thế sự nghiệp con sau này ra sao?

Huệ-Phương tát yêu Lê Văn:

– Con còn nhỏ, tướng chưa định, thành ra coi không được. Song nhất định không cà chớn như bố mắng đâu. Ít ra cũng làm lên sự nghiệp vẻ vang, danh lưu muôn thuả. Con sẽ kết hôn với một thiếu nữ xinh đẹp hiếm có, lại con nhà danh gia vọng tộc.

Thanh-Mai nháy Huệ-Phương, rồi lấy tay chấm nước viết:

– Có người nghe trộm trên mái nhà, phu nhân muốn lôi cổ nó xuống không?

Huệ-Phương chấm tay vào nước viết:

– Nhờ em làm dùm.

Thanh-Mai nói lớn:

– Chị em chúng tôi đang xem tướng cho nhau. Quý khách đến, sao không xuống uống nước, mà lại nghe trộm?

Nói rồi nàng cầm chung trà liệng lên mái nhà. Từ trên mái nhà, một tràng cười vọng xuống, rồi có tiếng bình, bình. Mọi người chạy ra ngoài xem, đã thấy Thiếu-Mai đang đấu chưởng với một người đàn ông bịt mặt.

Chưởng lực của Thiếu-Mai cực kỳ tinh diệu. Còn chưởng lực người bịt mặt ngược lại rất thô kệch, nhưng hùng hậu vô tả.

Huệ-Phương hỏi Thanh-Mai:

– Trần cô nương là đệ tử danh gia, bác học uyên thâm. Cô nương có nhận ra chiêu số võ công của người kia không?

Thanh-Mai quan sát một lúc, rồi lắc đầu:

– Chịu. Tiểu nữ chưa từng thấy qua võ công người này bao giờ. Lối xuất chiêu này hơi giống võ công Cửu-chân thời Lĩnh-nam.

Đấu được một lúc, Thiếu-Mai yếu thế dần. Cứ mỗi lần người kia xuất chiêu, Thiếu-Mai phải lui lại hai bước liền.

Thanh-Mai ghé tai Bảo-Hòa:

– Em thử lên đấu với người kia xem.

Lê Văn kinh ngạc:

– Cứ như bản lĩnh Bảo-Hòa cách đây ít lâu, nàng không thể là đối thủ của một bọn Tung-sơn tam-kiệt. Trong khi bản lĩnh Thiếu-Mai có thể đấu ngang tay với hai người trong bọn họ, mà nay chị ta còn thua người bịt mặt, sao Thanh-Mai lại bảo nàng lên đấu với người kia?

Bảo-Hòa nghe Thanh-Mai nói, nàng hú một tiếng dài, rồi vọt mình lên mái nhà. Vừa đúng lúc đó Thiếu-Mai lảo đảo suýt ngã. Bảo-Hòa hít một hơi xuất chiêu Ác ngưu nan độ tấn công. Người kia thấy cô gái trẻ, xinh đẹp nhảy lên mái nhà thì khinh thường. Khi nàng xuất chiêu quái ác, tinh diệu. Y kinh hoàng vội xuất chưởng đỡ. Binh một tiếng, cả hai người đều bật lui lại ba bước.

Hai người gườm gườm đứng thủ thế nhìn nhau. Người kia lên tiếng:

– Cô nương là ai? Dường như không phải người trong trang. Vì võ công của cô hơi giống võ công Tản-viên.

Bảo-Hòa phục người đó bác học. Nàng trả lời:

– Tôi là Thân Bảo-Hòa, đệ tử phái Tây-vu.

– Nói láo, phái Tây-vu làm sao biết Phuc-ngưu thần chưởng.

Người đó lại xuất chiêu, chưởng phong ào ào tuôn ra. Bảo-Hòa lùi một nước, phát chiêu Thanh-ngưu ư hà. Bình một tiếng hai người cùng choáng váng lui lại. Thanh-Mai đứng dưới lược trận than:

– Bảo-Hòa nguy mất. Công lực nàng không làm bao, mà lại đấu chưởng kiểu này chỉ mấy chiêu, nội lực cạn ắt bị thua.

Trên nóc nhà hai người cuốn lấy nhau. Người kia chưởng lực hùng hậu, còn Bảo-Hòa thì tinh vi, ảo diệu. Phục ngưu thần chưởng có một sở trường là người học, dù nội lực thấp hay cao đều xử dụng được. Người luyện Phục-ngưu thần chưởng, học đủ ba mươi sáu chưởng, thì có gặp đối thủ võ công cao đến đâu cứ nhắm mắt phát chiêu. Chiêu nọ nối với chiêu kia liên miên bất tuyệt, địch thủ cũng không xâm phạm vào mình được.

Đấu được trên trăm chiêu, Bảo-Hòa đã xử dụng thuần thục Phục-ngưu thần chưởng, chiêu số tòng tâm phát ra như thành đồng vách sắt bao phủ.

Người bịt mặt chợt lui lại, quát lên một tiếng, tay phải xuất chiêu, tay trái quay tròn. Chưởng phong ào ào tuôn ra. Bảo-Hòa thấy chưởng quái ác, nàng không giám khinh thường, hít một hơi chân khí đánh ngang vào chưởng đó bằng chiêu Thanh ngưu qui gia. Bình một tiếng, nàng bật lui ba bốn bước liền. Trong khi người kia chuyển tay trái thành tay phải, đẩy tới.

Mỹ-Linh chợt nhớ đến một truyện, nàng nói vào tai Thanh-Mai:

– Nguy tai. Người kia xử dụng chiêu Hải triều lãng lãng của vua An-Dương. Bảo-Hòa nguy mất. Chiêu này có năm lớp. Lớp sau mạnh gấp đôi lớp trước. Đến lớp thứ năm mạnh gấp ba mươi hai lớp đầu.

Trên mái nhà người kia phát ra lớp thứ nhì. Bình một tiếng. Bảo-Hòa bật lui liền ba bước để hóa giải kình lực, mắt nàng nảy đom đóm.

Thanh-Mai chợt nghĩ đến lối vận khí bằng kinh mạch. Nàng nói lớn:

Khí nhập đơn điền,

Sau lên thượng tiêu.

Tụ vào Đại-trùy,

Phát ra Thủ tam.

Bảo-Hòa đang không biết làm sao thắng người kia, nghe Thanh-Mai nhắc, nàng tỉnh ngộ, dẫn khí về đơn điền, chuyển lên huyệt Đại-trùy, rồi truyền ra Thủ-tam-dương kinh phát chiêu Ngưu thực ư dã Binh, một tiếng. Nàng cũng như người kia đều bật lui lại. Người kia kêu lên tiếng Ái chà tỏ vẻ đau đớn lắm.

Người kia phát lớp thứ tư. Bảo-Hòa lại vận công ra Thủ-tam dưng kinh, rồi đánh chiêu Ngưu tẩu như phi. Bình một tiếng lớn, gạch ngói trên nóc nhà bay lên, rơi xống loảng xoảng. Cả hai người đứng gườm gườm nhìn nhau. Người kia phát lớp thứ năm. Áp lực cực kỳ trầm trọng, đến nỗi gia nhân cầm đuốc đứng dưới sân nghẹt thở, phải lui lại. Bảo-Hòa hít một hơi dài, nàng đưa khí xuống đơn điền, chuyển tất cả dương khí từ Túc-tam dương kinh cùng về huyệt Đại-trùy với Thủ-tam dương, phát chiêu Tứ ngưu phân thi Bình một tiếng, hai người đều bật lui, ngói bay lên cao loảng xoảng. Lợi dụng người kia chưa kịp vận khí, Bảo-Hòa phát chiêu Lưỡng ngưu tranh phong đẩy ngói vào người kia. Người kia bật lui lại ba bước liền, lảo đảo không vững. Bảo-Hòa chợt nhận ra đối thủ với mình, chính là người bịt mặt đã cứu Ngô Tích, ắt không phải kẻ thù. Nàng ngừng lại không phát chiêu nữa.

Người bịt mặt hít một hơi chân khí hỏi:

– Cô nương, cô nương xử dụng Phục-ngưu thần chưởng đến chỗ tinh vi. Ta chịu thua cô nương. Song ta có một thắc mắc: Hiện pho chưởng này đã thất truyền. Phái Tản-viên chỉ còn có mười hai chiêu. Vậy tại sao cô nương lại biết xử dụng hết?

Bảo-Hòa lắc đầu:

– Tôi không thể tiết lộ được.

Người kia hú lên một tiếng, rồi biến mình vào đêm tối. Bảo-Hòa nhảy xuống đất. Thiếu-Mai đến bên Bảo-Hòa:

– Chị Bảo-Hòa giả bộ hay thực. Võ công chị cao đến độ có thể tự giải được Hàn-ngọc đơn thì không phải tầm thường. Thế mà bố tôi bảo chị thắng tôi mới được ra khỏi sơn trang. Chị dư sức thắng mà không chịu đấu. Sức nhẫn nại của chị khó ai bằng.

Bảo-Hòa nói thực:

– Tôi học Phục-ngưu thần chưởng từ lâu rồi, nhưng lười biếng không luyện tập. Trong thời gian bị giam ở đây, tôi mới ôn lại đấy chứ. Chị nhớ không? Lúc đầu tôi bị Văn bóp cổ nhét chuối vào miệng kia mà!

Thiếu-Mai không tin, nhưng cũng ậm ờ cho qua. Huệ-Phương nắm tay Bảo-Hòa:

– Không phải ta đuổi các em đâu. Những gì vừa xẩy ra, nếu phu quân ta về ông sẽ không tin. Không chừng ông cho rằng võ công các em tuyệt cao, giả bộ vào sơn trang dò thám. Các em nên đi sớm tốt hơn.

Thanh-Mai đồng ý. Ba người chuẩn bị hành lý ra đi. Lê Văn bịn rịn không muốn rời ba bà chị. Song nó phải đóng xe cho ba người lên đường. Nó lại bên Huệ-Phương, kéo cổ nàng hôn vào má, vào vai, vào tay. Huệ-Phương tát yêu:

– Mẹ biết rồi. Hễ con sắp vòi là hôn mẹ. Vậy con muốn gì đây?

Lê Văn cười:

– Con thương ba chị này quá. Vậy mẹ cho con đi chơi với các chị ít ngày. Khi bố về, mẹ cứ bảo mẹ cho phép. Mẹ mà cười một cái, thì bảo bố nhảy vào lửa bố cũng nhảy.

Huệ-Phương gật đầu:

– Được. Bố con thù hận ông nội của Bảo-Hòa, Mỹ-Linh. Ngược lại rất kính yêu thân phụ chị Thanh. Mẹ bảo con theo chị Thanh, bố sẽ không thắc mắc gì. Ừ hễ bố không cười thì… mẹ sẽ cười như con nói.

Thiếu-Mai lấy trong tủ ra một hộp bằng bạc rất đẹp, nàng đưa cho Thanh-Mai:

– Bố em chế hộp thuốc này bằng sâm, nhung, hà thủ ô, cực kỳ bổ dưỡng. Phàm khi luyện tập bị mệt hay bị nội thương, dùng vào rất công hiệu. Em tặng chị. Biết đâu trong khi đi đường không dùng tới?

Mỹ-Linh cầm tay Huệ-Phương:

– Phu nhân, tôi muốn tặng phu nhân món quà. Mong phu nhân nhận cho.

Nàng không đợi Huệ-Phương nhận hay không, đã tháo chiếc vòng trên cổ tay đeo vào cho Huệ-Phương:

– Vòng này nguyên là của vua Trưng ban cho vương phi Cửu-chân vương Đào Thế-Kiệt, để ngợi khen cái đức của bà trong việc giúp vương gia dạy con và đệ tử. Tôi thấy phu nhân, đức không thua bà Đinh Xuân-Hoa khi xưa, nên xin dâng.

Huệ-Phương nhìn trên chiếc vòng, có mấy chữ, nàng đọc không được. Bảo-Hòa nói:

– Chữ Khoa-đẩu của mình đấy. Để tiểu nữ đọc dùm phu nhân. Mấy chữ này như sau: Bàn tay tiên. Nuôi dạy con thành anh hùng, liệt nữ.

Huệ-Phương kinh hãi, quỳ xuống hướng về phía nhà thờ Quốc-tổ khấn:

– Đệ tử Lâm Huệ-Phương kính cẩn nhận di vật của vua Bà. Nguyện xin xứng đáng với Đào vương phi

Chiếc xe ngựa chở bốn người hướng xã Vạn-thảo. Mỹ-Linh than:

– Mau thực, mới hôm nào chúng mình đến làng này, nay đã trải qua bốn tháng rồi. Không biết dân làng có còn nhớ chúng mình không? Hay là chúng mình đừng vào làng nữa. Chúng mình trở về trấn Thanh-hóa tìm sư phụ với anh Thiệu-Thái, rồi trẩy Thăng-long.

Thanh-Mai đồng ý:

– Phải đấy.

Xe đi được một quãng, thì phía trước, có hai con ngựa đi ngược chiều trở lại. Thanh-Mai nhận ra là Quách Thịnh với Lê Phụng-Hiểu. Hai người thấy Bảo-Hòa với Mỹ-Linh, vội xuống ngựa hành lễ:

– Bọn tiểu nhân kính cẩn vấn an công chúa điện hạ và tiên-cô.

Mỹ-Linh hỏi:

– Hai vị đi đâu đây?

Quách Thịnh chỉ Lê Phụng-Hiểu:

– Có chiếu chỉ của hoàng đế ban ra, ngài cho mở khoa thi võ, tuyển nhân tài. Tiểu tướng dẫn Phụng-Hiểu về Thăng-long dự thí.

Mỹ-Linh vẫy tay:

– Thế thì hay quá. Các vị theo tôi về trấn Thanh-hóa rồi trẩy kinh một thể. Lê huynh được Quách tướng quân dạy võ mấy năm qua, thì hẳn sẽ là tướng tài.

Quách Thịnh, Lê Phụng-Hiểu phi ngựa chạy theo xẹ Hai người nhận ra Lê Văn, Hiểu hỏi:

– Lê công tử, người cũng đi thi ư?

Lê Văn lắc đầu:

– Không, tôi theo các chị đây đi chơi mà thôị Chứ tuổi tôi, ai cho dự thị Dường như tuổi mười tám mới được ứng thí phải không?

Quách Thịnh gật đầu:

– Điều kiện dự thi giản dị thôi. Có ba điều bắt buộc và ba điều cấm. Còn ngoại giả ai cũng có quyền dự thị Ai cũng bảo như vậy đức hoàng đế khoan dung hơn bên nhà Tống nhiều. Ngặt tôi không biết thể lệ dự thi bên Tống ra sao.

Bảo-Hòa đã ở biên giới Tống-Việt lâu năm, nàng biết rất rõ về thể lệ dự thi bên Tống, nàng đáp:

– Lệ dự thi bên Tống như sau: phải cung khai lý lịch tam đạị Lý lịch do hương lý kiềm thự rằng đúng. Ai khai gian, sau bị cáo, sẽ bị chém. Đời ông, đời cha đã từng khuông phò giặc chống lại triều đình. Từng là trộm, cướp, từng làm mõ trong làng, từng làm nghề con hát, ăn mày, từng bị cố tật và từng bị bệnh lao, bệnh cùị Bản thân sĩ tử phải cao ráo, trông được, nói ngọng, nói lắp, mặt rỗ đều bị loại.

Quách Thịnh cười:

– Điều kiện như vậy thực vô lý. Còn thể lệ trong chiếu chỉ của đức hoàng đế mình rõ ràng lắm: tuổi phải đủ mười tám, không tàn tật, và là con dân Đại-Việt ít nhất hai đờị Ba điều cấm là: đã từng trộm cắp, đã từng lường gạt, đã từng làm giặc.

Lê Văn vỗ tay:

– Như vậy mới có nhiều nhân tài dự thí. Kỳ này lấy bao nhiêu người trúng cách?

Quách Thịnh cầm tờ giấy ra đọc, rồi nói:

– Nhiều đấỵ Đầu tiên thi ở trấn. Mỗi trấn lấy trúng cách 50 ngườị Nước ta có 15 trấn, như vậy là 750 ngườị Ai trúng cách gọi là Hương-võ. Các Hương-võ sẽ được cử làm tướng trong các đạo quân của trấn hoặc quận, huyện. Sau Hương-võ sẽ về kinh thi, lấy một Trang-nguyên, hai Bảng-nhãn, ba Thám-hoa, chín Long-tướng, mười tám Hổ-tướng, va ba mươi sáu Hùng-tướng .Những vị này sẽ được bổ cầm các đạo quân quốc gia, trấn thủ biên cương.

Xe đang đổ dốc, Mỹ-Linh chỉ về phía trước:

– Kia là Vạn-hoa trang. Chúng ta lại đến đó chơi nữa. Lần này tôi phải gặp cô hai mới được.

Đoàn người vừa tới trước cổng sơn-trang, đã thấy hai thiếu nữ, ba thiếu niên khăn áo chỉnh tề đứng đó từ trước, dừơng như chờ đợi ai. Một thiếu niên kính cẩn đến trước xe hành lễ:

– Anh em chúng tôi là Đào-thị ngũ nhân, xin bái kiến công chúa điện hạ.

Mỹ-Linh nhìn lại, thì ra hai cô gái là Nàng Hồng và Nàng Tía. Còn ba thiếu niên nàng chưa gặp bao giờ. Nàng hỏi:

– Cô-mẫu có nhà không?

Nàng Hồng đáp:

– Chủ mẫu đang chờ công chúa.

Năm người đánh xe theo xe Mỹ-Linh vào trang. Lần này họ không đưa nàng đến lầu vọng hoa, mà đưa thẳng đến căn nhà làm bằng gỗ giữa hồ đầy sen, hương đưa ngạt ngàọ Xe vừa dừng lại, có tiếng đàn tranh từ trong vọng rạ Nàng Hồng nói:

– Thưa mẹ, có công chúa cầu kiến.

Đào phu nhân từ trong nhà bước rạ Lần này bà không đeo vải che mặt. Mỹ-Linh thoáng thấy, tưởng bà là thân mẫu Bảo-Hòạ Nàng nghĩ thầm:

– Các cô mình giống nhau thực.

Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Thanh-Mai cùng mọi người phủ phục xuống đất hành đại lễ:

– Hài nhi kính cẩn ra mắt cô mẫụ Kính chúc cô mẫu vạn an.

Đào phu nhân để mọi người hành lễ xong, bà nói:

– Nào, mời các vị vào đây ăn cơm trưa, uống trà.

Bà ôm lấy Mỹ-Linh, để nàng ngồi lên lòng, rồi ghé môi trái đào cắn lên má :

– Con gái cưng của cô đây. Hôm trước thấy con vào trang, cô nhận ra ngay, vì con giống bố như đúc. Đẹp thế này, mà không chịu lấy chồng, hèn gì bố con không nổi giận.

Bà lại tát sẽ Mỹ-Linh hai cái:

– Con hư lắm nhé. Ỷ được ông nội thương, ỷ được chú hai yêu, không chịu lấy chồng. Ta phải đánh què mới được. Ừ cô lấy làm lạ ông nội không thích cháu gái, chả hiểu sao lại sủng ái Bảo-Hòa với Mỹ-Linh.

Bà vẫy Bảo-Hòa lại gần, hai tay búp măng ấp vào má nàng. Bà nhìn vào đôi mắt đen nhánh, sáng rực của cháu:

– Con bé này nữa. Khôn ngoan, mưu trí có thừa. Cậu hai nức nở khen hoài, khen không tiếc lời. Con biết không, cậu hai tài trí là thế, mà bảo sau này con sẽ hơn cậu. Chà, hàm răng con đẹp quá.

Bà nhìn Thanh-Mai, nói:

– Hôm trước Trần cô nương với các con bị bọn Tống bắt đem qua đâỵ Nếu cô không nhận được thư cậu hai, ắt đã giết chúng rồị Cậu hai hay thực. Dù cách nào chúng cũng nằm trong vòng kiềm chế của cậụ Bọn Tống phen này kinh tâm động phách, ta e khi về nước vẫn còn hoảng sợ.

Bỗng bà phóng chưởng tấn công Bảo-Hòạ Bảo-Hòa tuyệt không ngờ bà đang nói truyện rất ôn nhu, lại phóng chưởng đánh mình. Nàng trầm người tránh, nhảy vọt ra sân. Đào phu nhân nhảy theo tấn công chưởng nữạ Chưởng này cực kỳ hùng hậụ Mỹ-Linh nhận ra là Thiết-kình phi chưởng của phái Cửu-chân.

Biết dì khảo nghiệm võ công, nàng không dám chần chờ, vội xuống tấn, phát chiêu chống lạị Bình một tiếng. Cả hai dì cháu đều bật lui một bước. Đào thị huynh đệ cùng kêu lên tiếng ủa kinh ngạc.

Bảo-Hòa thấy chiêu số võ công của dì mình hơi giống người cứu Ngô Tích, nhưng hùng mạnh hơn. Nàng không dám coi thường, vội dùng Phục-ngưu thần chưởng chống lạị Hai người đấu với nhau được ba mươi sáu chiêụ Đào phu nhân chợt lùi lại ba bước, quát lên một tiếng thanh thoát đẩy ra chiêu chưởng quái ác. Thanh-Mai kêu lên:

– Hải triều lãng lãng.

Bảo-Hòa kinh khiếp, vội dùng lối vận công ra kinh mạch đỡ. Bình một tiếng, nàng bật lui đến ba bước. Trong khi tay Đào phu nhân tê dại. Bà gật đầu tỏ ý khen ngợị Đợi cho Bảo-Hòa lấy lại hơi thở, bà đẩy lớp thứ nhì. Bảo-Hòa hít hơi phát chiêu Ác ngưu nan độ. Bình một tiếng nữa, cát bụi bay tung. Đám thị nữ bị áp lực chưởng phong, nghẹt thở, phải lui lạị Lần này Bảo-Hòa ung dung không bị đẩy luị Nàng vội hít một hơi khí, rồi vận tất cả âm, dương kinh khí về đơn điền, phát chiêu Tứ ngưu phân thi đỡ lớp thứ bạ Bình một tiếng lớn, mấy chậu hoa ở sân bị sức ép chưởng phong bay khỏi vị trí vỡ tan tành. Những cánh hoa bị vỡ bay lên phơi phới.

Đến lớp thứ tư, Bảo-Hòa biết lớp này cuồn cuộn như con rồng phóng thẳng về trước. Nàng vọt người lên caọ Từ trên cao nàng chờ chưởng phong qua dưới chân rồi phát chiêu đánh vào giữạ Bình một tiếng, người nàng lại bay bổng lên cao. Ở trên không nàng lộn đi bốn vòng liền. Quần áo bay phất phới đẹp vô cùng. Đào phu nhân hướng chưởng lên trời phát lớp thứ năm.

Biết lớp này nặng khủng khiếp. Lê Văn đứng ngoài thấy vậy, nó móc túi lấy cây kim hướng Bảo-Hòa phóng. Ở trên không, Bảo-Hòa chơi vơi như thuyền giữa giòng, không tập trung được chân khí, bỗng nàng cảm thấy môi trên chỗ huyệt Nhân-trung đau nhói, chân khí tự nhiên tụ về được. Tay phải phát chưởng, tay trái phóng chỉ. Hai chiêu đồng phát rạ Bình một tiếng nữạ Bảo-Hòa bay vọt lên cao, từ từ đáp xuống. Người lảo đảo muốn ngã.

Nàng vẫy tay:

– Con không chịu nổi nữa đâu dì.

Lê Văn nhảy lại đỡ Bảo-Hòa ngồi xuống. Tay nó cầm kim búng ba cáị Một cây kim trúng giữa huyệt Đản-trung, hai cây trúng huyệt Huyết-hải.

Bảo-Hòa ngồi nhắm mắt dưỡng thần.

Đào phu-nhân cười với Lê Văn:

– Cha nào con ấỵ Cháu là con của Hồng-Sơn đại-phu có khác. Thông minh, và giỏi thực. Tại sao cháu lại phóng kim vào những huyệt đó của Bảo-Hòa?

Lê Văn ung dung đáp:

– Khi thấy chị Bảo-Hòa không tập trung được chân khí, cháu phóng kim vào huyệt Nhân-trung. Vì Nhân-trung thuộc Đốc-mạch, nơi tụ hội sáu dương kinh. Huyệt Nhân-trung có khả năng đóng chặt ngọai biểu, hầu chân khí không thoát ra ngoàị Còn sau khi chị ấy ngừng đấu, khí huyết đảo lôn, muốn phục hồi mau, cháu phóng kim vào huyệt Đản-trung. Sách y học nói rằng « Đản-trung nơi khí tụ hội », phóng kim vào đó, khí mau phục hồị Còn huyệt Huyết-hải là bể của huyết, phóng kim vào đó lao huyết được điềụ Chị Bảo-Hòa vừa cố hết sức đỡ mấy chiêu của phu nhân, lao huyết hỗn lọan. Làm cho lao huyết hết hỗn lọan, phải dùng huyệt Huyết-hải.

Thanh-Mai đứng lên nhổ kim trên người Bảo-Hòa. Đào phu nhân vẫy tay gọi Bảo-Hòa:

– Phụ hoàng ta sinh được mười ba con gái. Kể về võ công, ta đứng đầu. Còn kể về tài trí, mẹ con đứng đầu. Ta thích trồng hoa, nhàn tản. Mẹ con thương dân, chịu đứng ra gánh vác việc lớn. Ta thực không bằng mẹ con. Ừ này, con mới ngần tý tuổi, mà võ công không thua gì ta, thì chỉ mấy năm nữa con sẽ thành vô địch.

Bà nắm tay Bảo-Hòa:

– Phục ngưu thần chưởng có 36 chiêu dương, 36 chiêu âm. Con chỉ biết có 36 chiêu dương, nguyên do tại sao?

Bảo-Hòa kính cẩn đáp:

– Con biết khẩu quyết luyện 36 chiêu âm, mà không thành, ngặt vì thiếu phần bí quyết giải thích thuật ngữ.

Đào phu nhân gật đầu:

– Đúng đấy, trong lịch sử võ-lâm, chỉ có người chế ra là Vạn-tín hầu biết xử dụng 36 chiêu âm. Sau này tổ phụ của phu quân ta, tức Bắc-bình vương mới có cơ duyên luyện thành. Một người nữa tự luyện thành tên Chu Tái-Kênh, vợ Khất đại-phu thời Lĩnh-Nam. Khẩu quyết con tuy biết, nhưng không biết thuật ngữ, luyện khó thành. Nếu con cứ cưỡng luyện sẽ bị tẩu hỏa nhập ma mà chết.

Thị nữ vào báo:

– Thưa công chúa, phò mã về.

Ai cũng biết phò mã đây tức Trung-nghiã hầu Đào Cam-Mộc. Nhân vật khét tiếng, võ công vô địch thiên hạ. Ông là đệ nhất công thần đã từng giúp Thuận-thiên hoàng đế dựng nghiệp, dược gả công chúa An-quốc chọ Tất cả đứng dậy đón. Đào phò mã bước vào nhà, ông cười lớn:

– Công-chúạ Mừng công chúa gặp các cháụ Ái chà, con bé Mỹ-Linh lớn đẹp thế này rồi đâỵ Kìa Bảo-Hòa, làm gì mà mặt tái xanh thế kia? Chắc lại bị dì thử nghiệm võ công hẳn?

Ông chìa ngón tay chỏ hướng đỉnh đầu Bảo-Hòa điểm đến véo một tiếng. Bảo-Hòa cảm thấy như người bị ném vào thùng nước nóng. Bao nhiêu cái mệt mỏi biến mất.

Ông nói tiếp:

– Từ hôm các cháu rời Vạn-hoa trang, ta không được tin tức gì, vội sai thất đệ dò lạ Không ngờ thất đệ của ta bị Bảo-Hòa dùng Phục-ngưu thần chưởng đánh bạị Y trở về thuật lạị Công chúa không tin. Bây giờ công chúa tin rồi chứ?

Công chúa An-Quốc (Đào phu nhân) nói với Đào hầu:

– Tôi chờ ông về xin cho cháu món qùa đây?

Đào hầu xua tay:

– Xin gì? Tất cả trang trại này có gì cháu thích, ta cho hết, chỉ trừ có công chúa là ta giữ lại mà thôi. Chết ta cũng không cho.

Công chúa An-Quốc ghé tai Đào hầu nói nhỏ. Hầu gật đầu:

– Quý quá. Quý quá.

Ông cầm tay Bảo-Hòa:

– Con đi theo bác vào đây.

Bảo-Hòa không biết ông bà cho nàng vật gì, nhưng cũng dứng lên theo vào trong. Bên trong có bàn thờ, ứơc trên 70 bài vị. Ông chỉ bài vị:

– Đây là bài vị tổ tiên nhà tạ Ta vốn giòng dõi Bắc-bình vương thời Lĩnh-nam .Trước khi ngài tuẫn quốc, giao cho vợ chồng sư đệ nuôi hai người con tên Tử-Khâm và Tường-Qui.

Bảo-Hòa nhớ ra:

– Hai vị đó tên Đào Nhị-Gia và Vương Sa-Giang.

– Đúng. Vì vậy giòng họ Đào mới truyền đến nay. Về khẩu quyết những thuật ngữ luyện Lĩnh-Nam chỉ cùng Phục ngưu thần chưởng âm nhu ta còn lưu giữ. Nhưng chiêu thức lại không biết. Công chúa muốn ta tặng cháu. Vậy cháu hãy quỳ xuống lễ tổ đi.

Bảo-Hòa quỳ xuống lễ. Đào-hầu ghé tai nàng đọc khẩu quyết. Ông bắt nhắc đi, nhắc lại nhiều lần. Khi biết chắc nàng thuộc lầu, ông mới ngừng.

Bảo-Hòa lễ tạ, rồi theo Đào-hầu ra ngòaị Không ai hiểu nàng đã được tặng quà gì.

Công chúa An-quốc chỉ mọi người giới thiệu với Đào-hầu. Hầu hỏi Lê Phụng-Hiểu :

– Lê tướng quân xuất thân từ phái võ nào vậy? Ai là sư phụ của tướng quân?

Lê Phụng-Hiểu chỉ vào Quách Thịnh:

– Thưa phò-mã, tiểu nhân được học võ với sư phụ đâỵ Nhưng bản lĩnh còn kém lắm.

Đào-hầu cười:

– Con người ta cần có bản chất đạo đức. Còn võ công kém thì luyện tập sẽ thành, đâu khó gì. Kỳ này tướng quân lập được công lớn. Khai-quốc vương ắt trọng thưởng. Tướng quân thử đứng dậy đi mấy bài quyền ta xem nào.

Phụng-Hiểu kính cẩn bái tổi, rồi đi một bài quyền căn bản. Đào-hầu gật đầu khen:

– Căn bản thì vững lắm, nhưng như vậy khi xung phong hãm trận e chưa đủ. Cần học thêm. Ở đây ai cũng có thể dạy tướng quân được. Ta cho tướng quân chọn thầy.

Phụng-Hiểu không suy nghĩ, đến trước Bảo-Hòa qùi xuống lạy bốn lạy:

– Trăm lạy tiên cô. Ngàn lạy tiên cô. Xin tiên cô nhận con làm đệ tử.

Bảo-Hòa thấy Phụng-Hiểu chân tình, nàng phất tay, một kình lực nhu hòa nâng Phụng-Hiểu dậy. Nàng nói:

– Được rồị Cô nhận người làm đệ tử.

Một thiếu niên đứng hầu hạ gần đó cũng đến trước Bảo-Hòa:

– Đệ tử Lý Nhân-Nghĩa. Hôm trước đã được hầu tiên cô. Mong tiên cô nhận tiểu nhân làm đệ tử.

Bảo-Hòa nhận ra thiếu niên cho ngựa ăn hôm trước tại Vạn-hoa trang. Nàng để cho Nhân-Nghĩa lạy đủ bốn lạy, rồi nói:

– Được hôm nay cô thu thêm người làm đệ tử.

Trong tâm tư hai người cứ nghĩ Bảo-Hòa là tiên nữ giáng phàm. Bây giờ họ được là đệ tử tiên, thì mừng lắm, đứng hai bên Bảo-Hòa khoanh tay hầu.

Bảo-Hòa thắc mắc hỏi Đào-hầu:

– Thưa bác. Phụng-Hiểu làm trương tuần của xã Vạn-thảo, mà sao bác lại gọi là tướng quân?

Công chúa An-Quốc bẹo tai Bảo-Hòa:

– Để cô dạy khôn cho. Tất cả những gì cô bầy ra đón bọn Triệu Huy đều do cậu hai thiết kế. Những gì diễn ra trong xã Vạn-thảo cũng thế. Con nhìn lại xem Quách tướng quân đâu có cụt taỵ Người dấu tay vào trong áo đấy chứ?

Bảo-Hòa á lên một tiếng:

– Thì ra cậu hai bố trí cho Quách, Lê tướng quân đến xã Vạn-thảo chờ bọn cháu!

– Đúng thế. Quách hiện giữ chức đại tướng quân. Còn Lê giữ chức chiêu thảo sứ. Hai vợ chồng con hát thì vợ là đệ nhất danh kỹ Thăng-long. Chồng làm bác sĩ hoành-văn quan ở bộ Lễ. Cô hàng bún riêu là người nhà ta.

Công chúa lên tiếng gọi:

– Tường-Vi đâu!

Một thiếu nữ từ trong nhà bước ra. Bảo-Hòa nhận ra nàng chính là cô hàng bún riêu Thanh-Trúc. Tường-Vi hành lễ với Mỹ-Linh, Bảo-Hòa:

– Công chúa, quận chúa xơi bún riêu có ngon không?

Mỹ-Linh hỏi:

– Thế đám thợ săn?

– Đều là người trong Vạn-hoa sơn trang cả. Thú cũng do trang ta nuôi. Chú hai cháu sai ta làm đó.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103105
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49567 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » May 12th, 2017, 3:39 pm


HỒI THỨ HAI MƯƠI LĂM

Hồng Hương Mật Cốc


Đoàn người ngựa đi phải mất mấy ngày mới đến thủ phủ trấn Thanh-hóa. Tạ Sơn thấy Thanh Mai, Mỹ Linh trở về, thì mừng không bút nào tả xiết. Chàng nói với Mỹ Linh:

– Công chúa, Quận chúa cùng Thanh muội tự nhiên mất tích làm sư huynh lo quá. Nhưng vì phận sự phải trấn ở đây không dám đi đâu. Sau thấy Công-chúa truyền lệnh gọi đạo quân Quảng-thánh đến Vạn-thảo mới biết Công-chúa bình an.

Mỹ-Linh cảm động vì sự tận tâm của sư huynh. Nàng hỏi:

– Sư phụ với anh Thiệu-Thái đâu rồi?

– Sư phụ cùng Thế-tử vẫn ở trên chùa Sơn-tĩnh. Sư phụ dặn khi nào Công-chúa về, phải lên gặp người ngay.

Vừa lúc đó có tiếng nói vọng vào:

– Sư phụ giá lâm rồi, không cần lên chùa nữa.

Câu nói làm Mỹ-Linh ấm lòng, nàng chạy ra gọi lớn:

– Anh Thiệu-Thái, sư phụ đâu?

Nàng ngừng lại, đứng lặng đi nhìn Thiệu-Thái. Hai người qua cái nhìn như ngây, như dại. Tạ Sơn liếc nhìn, đã biết cái gì xảy ra giữa cô Công-chúa sư muội cùng Thân Thiệu-Thái. Chàng lờ đi như không biết, nhắc:

– Chúng ta mau đón sư phụ.

Mỹ-Linh theo Tạ Sơn ra cửa. Từ ngoài sân bước vào một người mà nàng kính phục tuyệt đối, đại sư Huệ-Sinh. Mỹ-Linh chấp tay:

– Sư-phụ, Sư-phụ vẫn thường an lạc chứ?

Huệ-Sinh mỉm cười;

– Mấy thàng nay sư phụ an thì có nhưng lạc thì không. Vì sư phụ có đứa đệ tử yêu nhất bị mất tích làm sao mà lạc được?

Mỹ-Linh nắm tay sư phụ, nàng đi cạnh ông:

– Nhất định sư phụ an lạc. Con biết. Trong thời gian xa sư phụ, con học được thuật coi tướng. Nếu sư phụ không “lạc” sao mặt lão nhân gia lại hồng hào thế này?

Nàng nói sẽ vào tai ông:

– Sư phụ, chú hai con đâu rồi?

Huệ-Sinh dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai nàng:

– Không xa chúng ta đâu. Người ẩn thân làm việc, nếu có mặt thì hỏng hết. Những việc con với Thanh-Mai, Bảo-Hòa làm, sư phụ với chú hai biết hết. Con không cần phải nhắc đến làm gì. Con nhớ nhé, Đàm Toái Trạng, Nguyễn Khánh, Đàm An-Hòa theo giặc, nhất thiết phải coi như không biết. Còn thấy An-Hòa, phải giả tảng như quên rồi. Theo ước đoán của sư phụ, nó làm bậy sợ anh nó phạt, nên dù bại lộ, cũng không dám nói ra.

Tiết-độ sứ Đinh Ngô-Thương không biết gì về hành trạng của Khai-quốc vương, công-chúa Bình-Dương, quận-chúa Bảo-Hòa. Hôm trước ông thấy mấy người lên chùa Sơn-tĩnh rồi biệt tăm. Hôm nay lại thấy trở về. Hơn ai hết y biết Khu-mật viện giao cho Khai-quốc vương, việc phòng thủ quốc gia an như bàn thạch. Những sứ đoàn Tống qua trấn Thanh-hóa, có vẻ như khoa trương, gây hấn, phạm nhiều tội. Thế mà Khu-mật viện vẫn lờ đi. Y tuy không hiểu gì, nhưng cũng biết rằng giữa Tống với Việt đang có chiến tranh lạnh.

Đinh Ngô-Thương cúi đầu hành lễ:

– A-di-đà phật, Quốc sư với Công-chúa giá lâm thật vạn hạnh cho tiểu tướng.

Mỹ-Linh biết sư phụ mình không muốn phiền phức người khác. Nàng nói:

– Đinh tiết-độ sứ làm ơn kiếm cho sư phụ tôi một căn phòng yên tĩnh. Hôm nay chúng tôi xin ăn chay với sư phụ.

Đinh Ngô-Thương vâng dạ, đưa Huệ-Sinh tới căn gác bằng gỗ thông thơm ngát, nói:

– Bạch Quốc sư, đệ tử làm căn gác này bên trong có bàn thờ Phật để tối tối tụng kinh, hành thiền. Kính mời Quốc-sư an nghỉ.

Đinh Ngô-Thương mở cửa căn gác, ông chỉ vào cái chuông nhỏ:

– Khi Quốc-sư cần gì cứ rung chuông, sẽ có tiểu đồng lên hầu.

Nói xong ông xuống lầu.

Mỹ-Linh nhớ lại một lần nàng thuật lại cho Hồng-Sơn đại phu nghe rằng, Huệ-Sinh hiện ở chùa Sơn-tĩnh. Ông tỏ ý lo lắng: Coi chừng thằng sư ăn thịt chó Nguyên-Hạnh, hại thì đi đời.

Nàng hỏi:

– Trong thời gian qua sư phụ với anh Thiệu-Thái ở Sơn-tĩnh có thấy gì lạ không?

– Vẫn thế, không thay đổi gì cả. Có điều sau hôm con đi được mấy ngày, thì không thấy cặp chim ưng đến đậu ở trên cây đa trước chùa nữa. Một điều sư phụ không được vui lòng, bởi Thái-sư thúc hết hạn tọa thiền, mà người cũng không chịu tiếp ta. Ta cũng không dám nài ép.

Nói rồi ông nhắm mắt lại, nhập thiền. Mỹ-Linh vẫy Thiệu-Thái xuống lầu. Nàng đem lời Hồng-Sơn đại phu nói về Nguyên-Hạnh ra hỏi. Thiệu-Thái gật đầu:

– Theo Quốc-sư, thì Nguyên-Hạnh đại sư võ công cùng thiền học cao thâm không lường. Một điều anh không hiểu, tại sao đại sư tu luyện lâu năm như vậy mà sắc diện giống như người dâm đãng, trác táng vậy. Anh đem ý kiến hỏi Quốc-sư, người chỉ cười mà thôi.

Hai người vừa đi, vừa nói chuyện, nhìn trước, nhìn sau thấy không có ai, Mỹ-Linh nói nhỏ:

– Chúng mình phải lên chùa Sơn-tĩnh dò thám xem sao mới được. Em thấy trong chùa có nhiều bí mật lắm mà không thể đóan ra. Nếu trong khi dọ thám bị phát giác, anh cứ nói em với Bảo-Hòa có tính ngỗ nghịch, thấy qui luật chùa không cho con gái ở lại, sinh bực mình đột nhập vào, chứng tỏ không tuân quy luật. Như vậy bất quá họ mách chú Hai là cùng. Chú Hai có phạt, em chịu hết cho.

Thiệu-Thái vầy Thanh-Mai, Bảo-Hòa lại gần, rồi nói:

– Trước sân chùa có cái hồ thiên nhiên, nước từ trên núi chui theo mạch đổ vào, rồi lại thấm xuống đáy hồ, tạo thành nguồn ngấm xuyên xuống núi. Khi khám phá ra đôi chim của ai đó dò thám chùa, đêm đêm anh thường nhìn động tĩnh của chúng. Một lần thấy chúng bay lượn khác thường, anh ra sân xem, bỗng thấy đại sư Nguyên-Hạnh xuống hồ, rồi lặn mất. Anh tò mò ngồi rình xem ông ta làm gì. Song chờ đến sáng, không thấy ông lên. Anh những tưởng ông chết ngộp, định nói với Quốc-sư. Không ngờ khi vào phòng Quốc-sư, anh thấy ông đang nói chuyện với người.

Nghe Thiệu-Thái thuật, Mỹ-Linh nghi ngờ:

– Như vậy dưới đáy hồ có ngách thông với mặt đất. Nguyên-Hạnh đại sư theo lối này mà lên.

Thiệu-Thái thấy cách nhau mới có mấy tháng mà Mỹ-Linh khôn ngoan hơn trước nhiều. Chàng đáp:

– Ừ, chúng ta rủ thêm Thanh-Mai, Bảo-Hòa cùng đi cho vui.

Đợi đêm xuống bốn người lén lấy ngựa, âm thầm hướng núi Sơn-tĩnh. Theo kế hoạch đã định, họ dấu ngựa, rồi theo đường rừng vào chùa, chứ không đi lối cổng. Bảo-Hòa phân công:

– Bây giờ em với Thanh-Mai đột nhập vào chùa theo ngả vườn hoa tới bờ hồ. Quan sát một lúc không có gì lạ, em sẽ giả tiếng dế kêu. Anh với Mỹ-Linh theo ngả vườn rau đến hồ. Nội trong chúng ta đây Mỹ-Linh học được nội công Long-biên, thành công bậc nhất. Anh với Mỹ-Linh lặn xuống đáy hồ do thám. Nếu có ngách thì theo đó mà đi. Còn không có nghách sẽ trồi lên.

Bảo-Hòa, Thanh-Mai vọt mình qua tường dễ dàng. Họ men theo các luống tới bờ hồ nấp vào bụi Thủy-tiên.

Trăng mồng mười không lấy gì sáng cho lắm. Tuy vậy họ cũng nhìn rõ cảnh vật chung quanh. Chợt Bảo-Hòa chỉ lên trời. Thanh-Mai nhìn theo đôi chim ưng đang bay lượn, thỉnh thoảng lại đâm bổ xuống nhà bếp. Bảo-Hòa dùng Lăng-không truyền ngữ nói với Thanh-Mai:

– Hai con ưng này của Khu mật viện sai đi theo chúng mình đấy. Cậu hai ghê thật. Chúng mình trốn đi âm thầm, mà cậu cũng biết, sai chim ưng theo tuần phòng. Mình có thể dùng chúng liên lạc với nhau.

Hai người mặc quần áo đen, từ khu nhà bếp men theo các bụi hoa đi tới. Họ nhìn trước, nhìn sau không có ai, rồi tụt xuống hồ lặn mất.

Thanh-Mai kinh ngạc:

– Hai người này dường như quen biết nơi đây lắm rồi thì phải. Họ đến nơi lập tức nhào xuống liền.

Thanh-Mai lấy cọng cỏ, cầm trên tay, rồi dùng môi hấp khí, có tiếng kêu hơi giống tiếng dế. Lập tức Mỹ-Linh, Thiệu-Thái từ bụi cây chạy tới. Bảo-Hòa nói sẽ:

– Có hai người vừa xuống trước. Anh với Mỹ-Linh, cứ ngồi chờ đã.

Khoảng nhai dập miếng trầu, hai người kia trồi lên mặt nước, rồi chạy vào khu nhà bếp. Bảo-Hòa, Thanh-Mai ra hiệu cho Mỹ-Linh, Thiệu-Thái. Hai người xuống hồ rồi lặn xuống đáy.

Mỹ-Linh lặn xuống sâu. Không khó nhọc, nàng thấy nguồn nước chảy vào không mạnh lắm. Nàng kéo Thiệu-Thái theo nguồn suối lặn vào trong theo giòng. Lặn được khoảng hơn hai chục bước, nguồn suối nhỏ dần lại, cuối cùng chỉ còn vừa một người qua. Nàng trồi lên thở, đưa tay khua tìm kiếm, không thấy có vật gì. Nàng nói với Thiệu-Thái:

– Thì ra trong này là động trống.

Sờ một lúc thấy có nhiều bậc đi trở lên, Mỹ-Linh nói sẽ:

– Mình theo bậc đá lên xem là cái gì?

Thiệu-Thái đã chuẩn bị từ trước. Chàng móc bọc vải dầu ra lấy đá lửa đánh lên, châm vào bổi. Ánh lửa sáng lòa. Mỹ-Linh suýt bật lên tiếng kêu. Thì ra hai người đang ở trong động thạch nhũ. Ánh đuốc chiếu vào thạch nhũ tỏa ra những tia sáng lóng lánh đủ màu, đẹp không bút nào tả xiết.. Những thạch nhũ có hình giống người, có hình giống cây nến đốt cháy một nữa, có cái giống cây măng, cũng có cái giống hoa, lá…thực muôn vàn hình ảnh mầu sắc.

Thiệu-Thái đã ở Bắc-biên lâu, chàng từng được xem không biết bao nhiêu hang động đẹp hơn thế nhiều. Còn Mỹ-Linh đây là lần đầu tiên nàng được thấy thạch nhũ đẹp như vậy.

Hang khá rộng. Hai anh em cứ men theo bậc đá mà đi. Được khoảng ba chục bước, có khúc quẹo sang trái, đường càng đi ngược lên cao hơn nữa. Chợt Thiệu-Thái thấy tay buốt, rát vô cùng. chàng nhìn tay, cây bổi đã cháy hết. Chàng liệng phần còn lại. Lửa tắt. Chàng định lấy bổi khác ra đốt. Chợt Mỹ-Linh chỉ về phía trước có ánh sáng lờ mờ. thiệu-Thái nói nhỏ::

– Chúng ta tới cửa hang rồi. Phía trước kia là rừng núi, ánh trăng chiếu vào đấy. Tuy vậy, phải lấy khăn bịt mặt lại, để ai trông thấy không nhận ra được anh em mình.

Chàng lần mò đi trước, Mỹ-Linh theo sau. Hai người ra khỏi hang, gió núi thổi mát rượi. Ánh trăng mông lung chiếu xuống. Mỹ-Linh nhận ra nàng vời Thiệu-Thái đang đứng trước một sườn núi. Thiệu-Thái nhìn phương hướng nói nhỏ:

– Như vậy chúng ta xuyên qua lòng hòn núi đá phía Tây chùa. Đã sang bên kia ngọn núi. Thì ra dưới đáy hồ có nguồn suối trên núi ngầm, chảy vào hồ. Lên phía trên có hang động thạch nhũ thiên nhiên thông qua đỉnh. Không biết bên này có những gì?

Nhìn lên trời thấy đôi chim ưng đang bay lượn. Chàng hú một tiếng, gọi nó xuống. Hai con chim ưng nghe tiếng hú, đáp xuống cạnh Mỹ-Linh. Thiệu-Thái nhặt viên đá đỏ, viết lên chiếc khăn mấy chữ khoa-đẩu.

Đáy hồ là suối ngầm. Có thạch động xuyên qua núi. Chúng ta đã sang bên Tây núi an toàn. Đừng lo lắng gì.

Chàng buộc khăn vào chân chim, rồi ra lệnh cho chúng bay đi.. Mỹ-Linh chỉ xuống phía sườn núi không cách xa hai người bao nhiêu. Thiệu-Thái nhìn theo ở đó có ánh đèn leo lét cháy ra. Thiệu-Thái vẫy Mỹ-Linh, hai anh em lầm lũi đi lần mò dần đến chỗ phát ra ánh sáng. Tới gần, Thiệu-Thái nhận ra đó là một ngôi nhà khá lớn. Xung quanh nhà trồng nhiều hoa Móng-rồng, Thiên-lý, Dạ-hương. Dây hoa leo chằng chịt lên tường, lên mái bốc hương thơm ngào ngạt.

Một con chó nghe tiếng chân người, nó đứng dậy định sủa. Thiệu-Thái cho tay vào miệng, phát ra những tiếng gầm gừ giống hệt chó.

Mỹ-Linh nhớ một lần Bảo-Hòa cho nàng biết, các đệ tử Tây-vu đều học tiếng nói của thú vật. Đây chắc Thiệu-Thái đang nói tiếng “chó”. Quả nhiên con chó chạy ra vẫy đuôi. Thiệu-Thái để tay lên đầu nó vỗ mấy cái. Nó trở về chỗ cũ, ngồi xuống. Chàng cùng Mỹ-Linh vượt qua hàng rào, vào trong sân. Ngôi nhà bằng gỗ khá lớn. Trong nhà đèn chiếu sáng rực. Nhưng sở dĩ ở xa không thấy, vì các cửa đều có màn dầy che kín. trong nhà có nhiều tiếng người nói vọng ra. Hai người ẩn thân vào bụi hoa Dạ-hương ghé mắt nhìn. Bất giác Mỹ-Linh nổi gai ốc khắp mình.

Trong căn phòng rộng, đèn nến như sao sa. Ở giữa kê một cái bàn dài. Trên bàn chưng bốn bình hoa. Cử tọa gồm hai mươi mốt người. Nàng nhận ra được bọn Triệu Thành tám người. Còn lại nàng biết mặt Nguyên-Hạnh, Đàm Toái-Trạng, Đàm An-Hòa, Nguyễn Khánh. Triệu Thành ngồi ở vị thế cao nhất, kế đó tới Nguyên-Hạnh, Đông-Sơn lão nhân. Đầu phòng có có chiếc bàn cao nhỏ, trên bày hương án, khói bốc nghi ngút.

Đông-Sơn lão nhân hướng về Nguyên-Hạnh:

– Đại sư, cuộc họp này do đại sư đảm trách phần canh phòng. Không biết biện pháp an ninh thế nào. Vì Khu mật viện Giao-chỉ bây giờ nằm trong tay Lý Long-Bồ, chỗ nào y cũng có tai mắt cả.

Nguyên-Hạnh cười nhe hàm răng gồ ghề ra:

– Tiền bối cứ an tâm từ dưới núi lên đây chỉ có một đường. Đường đó có đạo quân Ngự-long của tướng quân Nguyễn Khánh đây trấn đóng rồi. Đường lên đây là đường độc đạo, bần tăng đã đặt tới 8 vọng canh của Hồng-hương thiếu niên, dù cho con chim cũng không bay lọt vào được. Huống hồ xung quanh ngôi nhà còn có đàn chó mười con.

Vương Duy-Chính đướng lên hướng vào cử tọa:

– Ty chức Vương Duy-Chính, hiện giữ chức Chuyển vận sứ lộ Quảng-tây nhà Đại-Tống. Các vị hội nhau ở đây mà nhiều vị chưa biết nhau. Ty chức xin giới thiệu từng phái đoàn một.

Y vẫy tay, một thiếu nữ nhan sắc xinh đẹp từ trong bước ra, tay bưng một cái khay. Trên sáng chói ngọc ngà vàng bạc và có cuộn giấy. Mỹ-Linh kinh ngạc vô cùng vì chân cô gái đeo xích. Mỗi bước chân cô đi, có tiếng kêu loảng xoảng. Nàng đến trước Triệu Thành quỳ xuống. Triệu Thành để mâm châu báu trước mặt. Một người da ngăm đen, tuổi khoảng bốn mươi, đứng lên hướng Triệu Thành vái bốn vái.

– Biên thần Nam-man kính dâng Thiên-sứ chút ít châu ngọc để làm lộ phí.

Vương Duy-Chính chỉ người ấy:

– Vị này là Chế Ma Thanh hoàng đệ Chiêm-quốc. Vị ngồi phía trái Chế vương gia là Đại tướng Chiêm-quốc tên là Ngô Đà. Người ngồi bên phải Chế vương gia là Vương-phi My-Thu. Hôm nay Chế vương cùng Vương-phi tới đây nhận sắc phong của thiên-triều.

Chế Ma Thanh cùng vợ, Ngô Đà bước ra khỏi chỗ ngồi, quỳ xuống hướng mặt về phương Bắc, rập đầu xuống đất.

– Thần Chế Ma Thanh kính cẩn tiếp chỉ:

Vương Duy-Chính mở trục giấy đọc:

Thừa thiên hưng vận, Thiên-Thánh hoàng đế sắc phong cho biên thần Nam phương Chế Ma Thanh chức tước như sau :

“Kiểm hiệu thái-sư, Tĩnh-hải tiết độ sứ, Đồng bình chương sự, suy thành thuận hóa công thần. Chiêm thành quận vương, thực ấp vạn hộ, thực phong ngũ thiên hộ.”

Phong vợ là My-Thu làm Khâm-linh vương phi. Phong cho Ngô Đà làm Nội điện chỉ huy sứ, tước Ma-linh hầu, thực ấp nhị thiên hộ. Thực phong nhất thiên hộ.

Ba người dập đầu lạy tạ rồi về chỗ ngồi.

Vương Duy-Chính chỉ vào người ngồi kế bọn Chế Ma Thanh.

– Vị này là hoàng thúc Phủ Vạn, cùng Vương phi Nang Chay của Lão-qua, cũng sang đây nhận sắc phong.

Vợ chồng Phủ Vạn đến trước long án quỳ xuống rập đầu xuống đất:

– Thần Phủ Vạn kính cẩn tiếp chỉ.

Vương Duy-Chính cầm trục giấy đọc:

Thừa thiên hưng vận, Thiên-Thánh hoàng đế, sắc phong cho biên thần Nam phươnglà Phủ Vạn chức tước như sau: Thái tử thái bảo, phó đô nguyên soái, nam phương trung thành, tĩnh lự công thần, Lão-qua quận vương. Phong vợ là Nang Chay làm An-tĩnh quận chúa.

Phủ Vạn cùng vợ lạy tạ rồi về chỗ ngồi.

Vương Duy-Chính chỉ vào Đàm Toái-Trạng:

– Vị này là Đàm Toái-Trạng, hiện lĩnh chức Tuyên-vũ sứ trấn Thanh-hóa của Lý Công-Uẩn. Đã được thiên triều phong cho chức Tiết độ sứ, tước Cửu-chân hầu. Người ngồi kế bên là Nguyễn Khánh giữ chức Thiên tướng tổng quản đạo quân Ngự-long đã được Thiên-triều phong làm Tuyên-vũ sứ tước Nga-sơn bá. Còn vị này là Đàm An-Hòa hiện giữ chức hiệu-úy đã có nhiều công lao với thiên triều, được phong chức Chiêu-thào sứ.

Vương đưa mắt nhìn Nguyên-Hạnh rồi tiếp:

– Vị này là Nguyên-Hạnh đại sư hiện là trị sự trưởng chùa Sơn-tĩnh, đã được phong làm Thông-huyền bồ tát lĩnh ấn Quốc sư Giao-chỉ kiêm phương trượng chùa Tiêu-sơn. Người ngồi kế bên quốc sư là quốc sư phu nhân nhũ danh Cao Thạch Phụng tước phong Túc-không Quan-âm. Người ngồi kế bên Quan-âm là Mễ Sĩ được phong là Thái-câu sứ giả.

Minh-Thiên hướng Nguyên-Hạnh chắp tay:

– Đại sư, tiểu tăng muốn hỏi thăm tin tức một người trong quý tự. Mong đại sư giúp cho.

– A-di-đà-phật, Quốc sư muốn biết tin tức ai?

– Một vị cao tăng thướng được gọi là Bố-Đại hòa thượng. Trước đây người đã sang Trung-quốc hoằng dương đạo pháp. Tiểu tăng có cơ duyên được người chỉ bảo cho rất nhiều.

Mặt Nguyên-Hạnh hơi cau lại rồi lắc đầu:

– Vị đó là sư phụ của tiểu tăng. Người bỏ đi biệt tăm đã hơn mười năm. Không chừng người viên tịch rồi cũng nên.

Cuối cùng Vương Duy-Chính giới thiệu bọn y Từ Triệu Thành cho đến Địch Thanh là người nhò tuổi nhất. Triệu Thành đưa mắt nhìn mọi người một lượt rồi nói:

– Cô gia được Thiên-Thánh thiên tử giao cho trọng quyền, với chỉ dụ làm sao cho nước giàu dân mạnh. Thời tiên hoàng phong cho cô-gia làm Yên-vương, ý người muốn ủy thác việc Bắc-phương. Bắc phương co Liêu, Kim, Tây-hạ cô-gia an bày coi như tạm xong. Đến Thiên-thánh hoàng đế, người muốn chỉnh đốn lại các nước phương Nam. Vì vậy cải phong cô-gia làm Bình-nam vương thống lĩnh Khu-mật viện.

Triệu Thành chỉ lên tấm bản đồ:

– Đầu tiên cô-gia cử những trọng thần văn võ toàn tài trấn nhậm các lộ Quàng-đông, Quảng-tây. Bây giờ hai lộ đó giàu có súc tích, binh khí hùng tráng. Cô-gia phải chỉnh đốn lại Giao-chỉ, Chiêm-thành, Lão-qua, Đại-lý. Về Giao-chỉ, trước đây Lý Công-Uẩn nhân lúc vua Lê Ngọa-triều gây nhiều tội ác băng hà. Y liên kết cùng Thân Thiệu Anh, Đào Cam-Mộc cướp ngôi. Các thân vương nhà Lê phiêu bạt khắp nơi. Thiên-triều vốn trọng Nho học, thương bầy tôi nhà Lê cũ vốn trung thành bao năm, muốn tìm con cháu lập lại chính thống. Nhưng hơn mười năm qua tìm không thấy. Mới đây….

Y ngừng lại tỏ vẻ vui mừng, tiếp:

– Trời không phụ nhà Lê. Cô-gia tìm thấy Nam-quốc vương Lê Long-Mang hiện ẩn cư tại trấn này. Tự quân thiên-triều hiện là một nhân vật lẫy lừng, phúc trạch trải khắp thiên hạ, võ công vô địch Lĩnh-nam.

Y ngừng lại đưa mắt nhìn cử tọa để theo dõi, cũng để cho cử tọa thắc mắc về Lê Long-Mang, rồi mới tiếp:

– Người đó là Hồng-Sơn đại phu.

Tất cả mọi người đều bật lên tiếng “Ái hà”, “Ấy…a”.

Triệu Thành tiếp:

– Cô-gia tìm đến Vạn-thảo sơn trang thì được biết Nam-quốc vương ẩn cư, nuốt hận, nếm sương, nằm gai nếm mật, chiêu mộ dạy hơn ba ngàn đệ tử văn võ kiêm toàn. Đoàn đệ tử ấy đi khắp nơi cứu nhân độ thế, gây cảm tình suốt cả Hoa-Việt. Nam quốc vương chỉ còn chờ ngày khởi binh. Cô-gia gặp Nam quốc vương bèn tỏ ý tái lập chính thống. Quốc vương mừng lắm.

Triệu Thành liếc nhìn Chế Ma Thanh:

– Cô-gia sang Chiêm-thành, đi đến đâu cũng thấy dân chúng ca tụng công đức hoàng đệ Chế Ma Thanh. Họ ước ao nếu hoàng đệ lên làm vua thì họ sung sướng biết bao. Họ chê quốc vương Chế Ma Huy ngu như lợn, không có ân đức gì cả.

Sự thực thì khi Chế Ma Báo (Rudravarman) thân phụ Chế Ma Thanh còn tại vị. Ông cùng hoàng hậu sinh ra người con trưởng tên Chế Ma Huy. Ông cực kỳ sủng ái người thiếp tên Mỹ- Hương. Mỹ-Hương sinh ra Chế Ma Thanh. Khi ông băng hắ triều đình định lập Chế Ma Thanh kế vị. Nhưng Mỹ-Hương không chịu lên dàn hỏa cùng quốc vương. Vì vậy triều đình truất phế mẹ con y. Lập Chế Ma Huy lên thay tức ‘Rutdravarman II). Võ công Ma Huy bình thường, song là ông vua nhân đức. Trong khi đó Chế Ma Thanh võ công cao cường, thường đi lại liên kết với Đại-việt, Chân-lạp định cướp ngôi anh.

Vừa lúc đó Triệu thành tới Chiêm. Y dò ra manh mối, bèn khích Chế Ma Thanh cướp ngôi anh. Chế Ma Thanh mừng như bắt được vàng. Nhưng khi nghe Triệu Thành nói dối dân chúng ca tụng công đức y, thì y đỏ mặt lên. Vì ngoài bản lãnh ăn chơi bắt gái nhà lành về hiếp, y chẳng còn đức gì.

Triệu Thành cười:

– Chế vương gia! Tôi sang Chiêm, được nghe con gái Chiêm thường hát khúc hát, mà người ta nói rằng trong đó có nội dung ca tụng công đức vương gia. Tôi không hiểu tiếng Chiêm, mong vương gia dịch cho.

Y vẫy tay. trong nhà có ba thiếu nữ, trang phục theo lối Chiêm-thành bước ra cúi đầu chào rồi vừa múa, vừa hát. bài hát âm thanh nhẹ nhàng, dìu dặt, thê thảm. Bài hát ngụ ý ca tụng hoàng đệ Chế Ma Thanh là người nhân đức, võ công cao cường. Khắp nước Chiêm, thiếu nữ nào nghe đến tên cũng dành cho mối nhu tình.

Sự thực làm gì có bài ca đó? Chẳng qua Triệu Thành sai Vương Duy-Chính làm bài ca bằng tiếng Hán, rồi sai người Chiêm dịch ra, tập cho ba thiếu nữ này múa hát, hầu gây quyết tâm cho Chế Ma Thanh.

Nghe xong bài ca, đang từ một tên tham dâm ác độc, bỗng thấy mình thành ông thần giáng thế, nhân đức trải khắp non sông.

Triệu Thành tiếp:

– Cô-gia quyết định lập Chế Ma Thanh lên làm Chiêm quốc quận vương. Còn bên Lão-qua, ấu quân là một đứa trẻ tàn tật thì còn gì là thể thống nữa? Phụ chính đại thần lại thông dâm với Thái-hậu. Vì vậy cô-gia quyết định lập hoàng thúc Lão-qua lên làm Lão-qua quận vương.

Triệu Thành hỏi Dư Tĩnh:

– Dư kinh lược sứ, bây giờ chúng ta phải làm gì?

Dư Tĩnh đứng dậy, kính cẩn vái chào cử tọa:

– Khải tấu vương gia, chuyện ba nước không thể làm một lúc. Phải chia làm ba đoạn. Quốc-vương Chiêm-thành, Lão-qua hiện giờ đều quy phục Lý Công-Uẩn. Binh lực của Uẩn cực kỳ hùng mạnh, lương thực, quốc dụng giàu có vô cùng. Chúng ta phải tính việc Lão-qua trước. Đầu tiên Đàm tiết-độ sứ phúc trình về triều Lý rằng có nhiều trộm cướp ở biên giới Lào-Việt, rồi đem quân tuần du biên cương. Thái-hậu Lão-qua thấy binh Việt ở biên giới tất sai tướng đem hùng binh tuần phòng. Lực lượng tại Vạn-tượng không còn. Quốc sư Nguyên-Hạnh gửi sang giúp Lão-qua mấy cao thủ cùng vài đội Hồng-hương thiếu niên, đặt dưới quyền điều khiển của Phủ vương gia. Phủ vương gia bất thần đột nhập hoàng thành giết chết Thái-hậu cùng tiểu quốc vương, rồi đổ cho thích khách. bấy giờ triều đình bắt buộc phải tôn Phủ vương gia lên kế vị. Khi lên kế vị, Vương-gia sai sứ sang cống Thiên-triều. Thế là xong.

Phủ-Vạn hỏi:

– Thưa Vương-gia nếu tiểu vương bỏ Việt, sang quy phục Tống, ất Lý Công-Uẩn đem quân sang đánh. Sợ thần không chống nổi.

Dư Tĩnh vẫy tay cho Phủ Vạn ngồi xuống:

– Vương-gia đừng sợ, khi chính biến bên Lão-qua diễn ra, thì hai lộ Quảng chúng tôi đem quân tới biên giới Hoa-Việt. Lý Công-Uẩn sợ té đái, vãi phân ra, đâu còn giám đánh Vương-gia nữa. Khi sứ sang Biện-kinh tiến cống, thì triều đình ban sắc phong cho Vương-gia, tức nhận Vương-gia là con của Thiên-tử. Tổ bảo Công-Uẩn cũng không giám đánh Vương-gia.

Mọi người nghe Dư Tĩnh hiến kế đều gật đầu tán thành. Dư Tĩnh nhìn Chế Ma Thanh:

– Chế vương gia hiện đang cầm một phần binh lực trấn đóng phía Nam Chiêm quốc phải không? Xin Nguyên-Hạnh quốc sư gửi sang cho Vương gia mấy cao thủ làm tướng. Sau khi việc Lão-qua yên. Đàm tiết-độ sứ đem quân tuần du biên giới. Chế Ma Huy ắt đem quân lên phía Bắc đề phòng, trong khi quân qua kinh đô, thình lình Vương-gia đem quân chiếm Chà-bàn, chỉ cần đánh một tiếng trống chiếm được kinh thành. Khi chiếm được Chà-bàn rồi, Vương-gia sai sứ vượt biển sang cống Thiên-triều nhận sắc phong. thế là Lý Công-Uẩn mất chân tay phía Nam.

Dư Tĩnh cầm chung trà uống một hớp rồi tiếp:

– Khó nhất là 207 khê động phía Bắc Giao-chỉ. tất cả trang chủ, động chủ đều con gái Lý Công-Uẩn lên làm vua Bà. Thiên-triều dùng trăm phương ngàn kế để phân tán mà không thành. Mãi gần đây mới tìm ra hai động muốn chống Lý. Người thứ nhất là họ Lưu ở châu Quảng-nguyên.Người thứ hai ở châu Thái-nguyên họ Nùng. Chúng tôi đã có kế hoạch xui cho họ Nùng tạo phản. Khi họ Nùng khởi binh. Bấy giờ chúng ta tính tới Giao-chỉ.

Dư Tĩnh tiếp:

– Đợi khi họ Nùng phản, Lý Công-Uẩn tất đem quân lên đánh. Hai hổ tranh nhau tất một hổ chết, một hổ bị thương. Hổ chết tất họ Nùng. Bấy giờ Thiên-triều cho binh từ hai lộ Quảng đến biên giới phía Bắc. Cho thủy quân Mân-Triết đổ vào bờ biển. Phía Tây binh Lão-qua kéo sang. Phía Nam binh Chiêm thành đánh về. Tứ diện thụ địch. Bấy giờ trong nước Hồng-Sơn đại phu cùng quốc sư Nguyên-Hạnh cho hai đạo đệ tử Hồng hương và Vạn-thảo kéo cờ trung hưng nhà Lê, diệt kẻ thoán đạtø Lý Công-Uẩn.

Ngoài này Mỹ-Linh nghe Dư Tĩnh hoạch đinh kế sách, nàng than thầm:

– Hỏng bét, bọn Tống âm mưu ghê thật. Không biết ông nội với chú hai sẽ đối phó ra sao?

Nguyên-Hạnh truyền bày tiệc rượu. Y vẫy tay một cái, có mười thiếu nữ quần áo màu hồng từ trong nhà, hai tay bưng những khay đựng thức ăn bày ra. Y cầm bình rượu rót vào từng chung :

– Thưa quý vị. Chẳng mấy khi Sơn-tĩnh được đón tiếp các đại quý khách, mai đây đều lên ngôi vua. Bản Sơn kính mời quý vị dùng chút ít thổ sản lấy thảo. Đây là rượu nếp cẩm. Nếp cẩm nấu thành rượu chứa vào hũ, đem bỏ xuống đáy hồ. Nếp cẩm bổ huyết cực kỳ mạnh, vốn thuộc “âm”. Khi làm rượu có men vào. Men là dương. Hóa ra âm dương hòa hợp. Rượu lại ngâm dưới đáy hồ mười năm qua, thấm khí âm, dương, trời, đất, sơn, tuyền uống vào sẽ tăng tiến sức khỏe, trường sinh bất lão.

Dư Tĩnh tiếp chung rượu từ tay Nguyên-Hạnh, y nói lớn:

– Chúng tôi đang hợp nhau uống rượu, quý khách đến xin mời cùng uống chung này lấy thảo.

Nói rồi y liệng chung rượu về phía Mỹ-Linh. Kình lực mạnh không thể tưởng được. Mỹ-Linh rút kiếm quay một vòng để giải kình lực, rồi nàng đánh xéo một chưởng. Chung rượu đổi chiều bay về phía Nguyên-Hạnh. Nguyên-Hạnh phất tay một cái chung rượu hướng về phía Địch Thanh. Địch Thanh quay tay một vòng đẩy nhẹ một chưởng. Chung rượu lại bay về phía Mỹ-Linh. Nhưng chung rượu chưa đổi chiều, Mỹ-Linh đã phóng một Lĩnh-nam chỉ. Bốp, chung rượu vỡ tan tành.

Nàng vừa thu tay về, thì bốn bên đã bị hơn hai chục người bao vây. Hồng-hương thiếu niên đốt đuốc sáng rực. Nguyên-Hạnh thấy một cặp nam nữ thiếu niên bịt mặt, quần áo ướt nhèm, ung dung đối diện với các cao thủ. Y không tin một trong hai người này có thể đủ sức làm đổi hướng lực đạo chung rượu của Dư Tĩnh. Sau đó còn phát ra chỉ lực đánh bể chung. Y đưa mắt nhìn trước, nhìn sau muốn tìm ra kẻ phát lực. Y hỏi:

– Các người là ai?

Mỹ-Linh cười nhạt:

– Ta là con dân Đại-Việt đi bắt gian.

Mỹ-Linh lên tiếng, Triệu Anh, Triệu Huy thấy rất quen. Nhưng nàng bịt mặt, quần áo bị ướt, bọn y chưa đoán ra. Nguyên-Hạnh tự thị là đệ nhất cao nhân đương thời, không muốn bắt nạt trẻ con. Y bảo Đàm An-Hòa:

– Xin Chiêu-thảo sứ bắt hai đứa này bỏ khăn che mặt ra. Đàm An-Hòa tiến tới gần Mỹ-Linh, y đưa tay chụp vai nàng. Mỹ-Linh rút kiếm ra, mọi người lóe mắt ánh thép thoáng qua. Đám An-Hòa thấy đầu mát rượi. Y vội lui về đưa tay lên sờ. Tóc y rơi xuống lả tả. Những người hiện diện chỉ có Nguyên-Hạnh, Đông-Sơn, Minh-Thiên, Dư Tĩnh, Địch Thanh, Vương Duy-Chính là nhìn rõ nàng rút kiếm, đưa một nát cạo trọc đầu Đàm An-Hòa rồi cho kiếm vào vỏ. Có điều nàng xuất chiêu nhanh quá, khiến Đàm phản ứng không kịp.

Ai cũng kinh hoàng, tự hỏi:

– Nếu mình là Đàm An-Hòa liệu có tránh được chiêu kiếm kia không? Người con gái này ra chiêu mình nhìn rõ ràng, nhưng chưa kịp suy nghĩ, chưa kịp phản ừng, nàng đã xuất xong, làm sao tránh cho được?

Nguyên-Hạnh đã từng trải qua bao nhiêu năm kinh lịch, y nhận ra chiêu kiếm của Mỹ-Linh mang tên Phong quá sơn đầu của phái Mê-linh. Y nghĩ:

– Chiêu kiếm này không có gì là lạ lùng, huyền ảo cả, nhưng kỳ diệu ở chỗ xuất thủ thôi. Ta thấy chưởng môn phái Mê-linh Tịnh-Tuệ xuất chiêu này nhiều lần, nhưng đâu có mau như vậy.

Nguyên-Hạnh quay lại gọi vợ:

– Túc-không hãy lĩnh giáo mấy chiêu kiếm của cô nương đây xem nào?

Từ bao năm nay Nguyên-Hạnh vẫn trong lớp áo của một đại hòa thượng đắc đạo. Một đại tôn sư võ học, nhưng trong bóng tối, y lấy nữ đệ tử tên Cao Thach-Phụng làm vợ. Thạch-Phụng cũng có văn học. bản lĩnh võ học của mụ cũng vào loại cao thủ hiếm có. Khi tắt lửa tối đèn, y thị làm vợ của Nguyên-Hạnh, trước mặt mọi người, thị vẫn phải đóng vai đệ tử. Trong thâm tâm mụ, mụ uất ức vô cùng. Rõ ràng mình có chồng, chồng có địa vị cao, mà không được hưởng cái danh dự gái có chồng.

Triệu Thành biết được việc đó. Y dùng vàng bạc mua chuộc Thạch Phụng. Y thuyết Thạch-Phụng nên theo chồng mà bỏ Lý theo Tống, vợ chồng đều được hưởng sắc phong. Khi triều Lê tái lập, tân hoàng đế phong cho Nguyên-Hạnh làm quốc sư, phong cho Thạch-Phụng làm phu nhân, lập ra một kỷ nguyên mới cho phép tăng ni được lấy vợ, lấy chồng. Đức Thích-ca Mâu-ni xưa chẳng đã có vợ, có con rồi mới đi tu đó sao?

Quả nhiên Thạch-Phụng nghe theo. Y thị không cần chồng đồng ý hay không, cứ quyết định bướng. Quả nhiên Nguyên-Hạnh phải nghe vợ. Triệu Thành cao tay hơn, trong chiếu chỉ phong chức tước cho Nguyên-Hạnh, y phong cho Thạch-Phụng làm Túc-không quan âm. Tức coi Thạch-Phụng như vợ chính thức của Nguyên-Hạnh. Sắc chỉ ban ra, Thạch-Phụng mở cờ trong lòng, từ nay đệ tử của Nguyên-Hạnh phải gọi y thị bằng sư mẫu, chứ không được cá mè một lứa.

Nguyên-Hạnh không biết điều đó, y vô tình vẫn coi Thạch-Phụng là đệ tử, sai y thị đấu với Mỹ-Linh. Thạch-Phụng bực mình lắm, y thị hứ một tiếng tỏ vẻ bất mãn, nhưng thị cũng rút kiếm ra đối diện với Mỹ-Linh. Thị nói:

– Tiểu cô nương, người ra chiêu trước đi.

Mỹ-Linh biết Thạch-Phụng học kiếm với Nguyên-Hạnh chắc y thị xử dụng kiếm pháp Tiêu-sơn. Mà kiếm pháp Tiêu-sơn do Trần Tự-Viễn chế ra, rất hiểm độc, dùng kiếm khí hơn kiếm chiêu. Nếu nàng đấu nội lực với y thị, hóa ra lấy sở đoản đấu nhau với sở trường. Vì vậy nàng cần lấy mau thắng chậm.

Chỉ thấy tháp thoáng một cái, có tiếng kêu ái chà rồi tiếng choang lớn vang lên. Thạch-Phụng ôm tay nhảy lui lại, máu ra đầm đìa. Trong khi đó, Mỹ-Linh tra kiếm vào vỏ đến cạch một tiếng.

Nguyên-Hạnh nhìn rõ Mỹ-Linh lao tới, tay rút kiếm xỉa một nhát. Nhưng nàng xử dụng thần tốc quá, Thạch-Phụng không phản ứng kịp. Thạch-Phụng đưa tay để một thiếu niên Hồng-hương băng cho. Y thị nhặt kiếm, nói:

– Cô nương, chiêu vừa rồi ta không chuẩn bị kịp. Ta xin lãnh giáo cô nương mấy chiêu nữa.

Nói rồi y thị phóng kiếm tấn công, Mỹ-Linh nghĩ:

– Y thị dùng kiếm khí. Ta nhân có nội lực của mấy đại cao thủ. Ta thử xử dụng Tiêu-sơn kiếm pháp xem sao.

Nàng cũng tà tà đâm ra một chiêu kiếm pháp Tiêu-sơn. Nguyên-Hạnh kêu lên:

– Ủa chiêu Sơn trung ẩn hoa đây mà.

Cứ thế mỗi chiêu Thạch-Phụng đánh ra, Mỹ-Linh lại trả bằng đúng chiêu đó. Nhưng nàng đánh ra chiêu sau mà tới trước. Đấu được hơn trăm chiêu. Thạch-Phụng ỷ mình có công lực cao. Y thị muốn hai kiếm chạm nhau, hầu đánh văng kiếm của Mỹ-Linh đi. Lúc đầu Mỹ-Linh còn tránh. Sau nàng cũng muốn thử xem sao. Đúng lúc đó Thạch-Phụng đánh ra một kiếm, Mỹ-Linh đưa mũi kiếm ra. Hai mũi kiếm chạm nhau. thạch-Phụng đắc ý dồn chân khí ra. Mỹ-Linh nhớ lại yếu quyết nội công nói rằng: Phải không tâm mới thắng hữu tâm. Nàng buông lỏng chân khí thạch-Phụng thấy vậy cả mừng, y thị càng dồn chân khí ra, Mỹ-Linh dùng phương pháp quy liễm thu lại.

Người ngoài thấy Mỹ-Linh còn trẻ, mà kiếm chiêu đã đến trình độ xuất thần nhập hóa thực hiếm cố. Nay thấy nàng đấu nội lực với Thạch-Phụng, lo cho nàng.

Minh-Thiên đại sư lên tiếng:

– Túc-không Quan-âm, xin nhẹ tay.

Địch Thanh cầm sẵn kiếm trong tay, hễ thấy nguy hiểm cho Mỹ-Linh, y nhảy vào gạt kiếm Thạch-Phụng. Sau khoảng thời gian nhai dập miếng trầu, Mỹ-Linh vẫn ung dung như thường. Trong khi đó mồ hôi trê trán Thạch-Phụng xuất ra, nhỏ từng giọt.

Về phần Thạch-Phụng y thị thấy chân khí tuôn ra ào ào thì kinh hãi vô cùng. Nếu cứ tiếp tục một lúc sau sẽ kiệt quệ mà chết. Y thị muốn lên tiếng kêu cứu van xin mà không giám, vì biết mở miệng sẽ hộc máu mồm ra mà chết.

Khoảng một thời gian nữa qua đi, chân khí Thạch-Phụng đã kiệt. Mỹ-Linh thu kiếm về, nhảy lùi lại sau mỉm cười. Thạch-Phụng lảo đảo ngã xuống. Một thiếu nữ Hồng-hương chạy ra đỡ thị dậy.

Nguyên-Hạnh hỏi:

– Cái gì vậy?

Thạch-Phụng thều thào đáp:

– Nó biết xử dụng Không tâm, vô ngã tướng thần công.

Câu nói đó của Thạch-Phụng làm Minh-Thiên, Nguyên-Hạnh kinh khiếp đến đờ người ra.

Nguyên phép Không tâm vô ngã tướng thần công của nhà Phật, nằm trong yếu chỉ Thiền-na. Trước đây tổ thứ nhất của Thiền-tông là Ma-ha-ca-diếp trong khi nghiên cứu kinh Kim-cương, Lăng-già, Bát-nhã đã tìm ra ba loại thần công. Một là Không tâm vô ngã tướng, khi xử dụng, dù đối thủ công lực cao đến đâu đánh ra, cũng bị thu mất. Hai là Không tâm vô nhân tướng, khi xử dụng có thể hóa giải lọi thứ công lực của đối thủ. Thứ ba là Không tâm vô chúng sinh tướng, khi xử dụng, có thể đẩy mọi thứ chân khí của đối thủ về đánh đối thủ. Thần công Không tâm vô ngã tướng truyền thụ đến đời thứ mười thì bị tuyệt tích. Các đời sau chỉ nghe nói, mà không biết xử dụng. Chính Huệ-Sinh khi dạy nàng cũng không ngớt ca tụng thần công này. Ông cứ than tiếc thần công đó bị mai một. Mỹ-Linh cứ nghe nói nhiều mà chưa thấy.

Thần công Vô ngã truyền vào Lĩnh-nam do tổ thứ tám là Tăng-giả Nan-đà. Tổ đến Lĩnh-nam đúng vào lúc vua Trưng khởi nghĩa. Ngài truyền cho Tiên-yên nữ hiệp, Trần Năng, Phật-Nguyệt. Sau khi vua Trưng tuẫn quốc, thần công này bị thất truyền. Mỹ-Linh có cơ duyên học được trong di thư chép ở bia đá. Nàng đem ra xử dụng lần đầu thắng Tung-sơn tam kiệt và Đinh Toàn. bây giờ xử dụng lần nữa thắng Thạch-Phụng. Khi Mỹ-Linh tập, nàng cũng không biết tên thần công đó là gì. Hôm nay nghe Thạch-Phụng nói, nàng mới biết tên thực của nó.

Minh-Thiên tiến lên chấp tay hướng Mỹ-Linh:

– A-di-đà-phật. Có phải thần công thí chủ xử dụng mang tên Vô ngã tướng thần công không? Cô nương là đệ tử của cao tăng nào vậy?

Mỹ-Linh rất trọng sư đạo. Tuy nàng không học thần công này của Huệ-Sinh với chú. Nhưng nàng muốn đề cao sư môn, nàng đáp:

– Sư phụ tôi họ Lý tên Long-Bồ.

Tất cả mọi người nghe nói đều bật lên tiếng “ồ”. Minh-Thiên càng ngạc nhiên không ít. Vì trước đây mấy tháng ông đã thử công lực với Khai-quốc vương. Ông thấy công lực chàng cao thật nhưng không thể hơn Thạch-Phụng. Nay Thạch-Phụng bị Mỹ-Linh đánh bại dễ dàng, mà Mỹ-Linh lại là đệ tử của Lý Long-Bồ, ông tin thế nào được?

Minh-Thiên chấp tay:

– Bần tăng muốn tiếp cô nương mấy chiêu.

Mỹ-Linh biết cao nhân này võ công bậc nhất Trung-nguyên. Nàng vội hít hơi không tâm, vận Vô ngã tướng thần công đứng chờ. Minh-Thiên từ từ đẩy ra một chiêu Thiếu lâm kim cương chưởng. Mỹ-Linh cũng đẩy ra một chiêu Thiên sơn tượng đầu chưởng. Bình một tiếng Mỹ-Linh bay bỗng lên cao. ở trên không nàng lộn đi mấy vòng rồi đáp xuống. Cái khăn che mặt của nàng, bị gió cuốn bay mất. Ngực nàng căng tức, khí huyết chạy nhộn nhạo trong người.

Minh-Thiên đứng im tần ngần suy nghĩ. Chiêu vừa rồi ông đánh ra, bao nhiêu chân khí bị biến mất. Ông là cao tăng đắc đạo, không muốn nói dối. Ông gật đầu:

– Cô nương. Chiêu Tiêu-sơn tượng đầu chưởng của cô nương vừa rồi có pha nội công của nhiều phái. Thứ nhất nội công của Tản-viên lẫn với Vô ngã tướng thiền công, rồi lại pha với nội công phái Mê-linh nữa. Có đúng không?

Triệu Anh đến trước sư phụ chỉ Mỹ-Linh:

– Sư phụ. Cô nương này là cháu nội Lý Công-Uẩn được phong làm công chúa Bình-dương.

Y chỉ Thân Thiệu-Thái:

– Người này là cháu ngoại Lý Công-Uẩn, con trai Thân Thừa-Quý ở Lạng-châu.

Triệu Anh tiếp:

– Phải bắt giữ hai người này. Vì bao nhiêu kế hoạch của chúng ta, họ đã nghe hết.

Nguyên-Hạnh kinh ngạc vô cùng. Y cho rằng có điều bí ẩn. Vì hôm giỗ Lệ-hải bà vương, rõ ràng y trông thấy Mỹ-Linh không đỡ nổi mũi phi tiễn của thích khách, mà sao nay có công lực mạnh đến thế?

Y đến trước Mỹ-Linh:

– Bần tăng xin công chúa chỉ dạy cho.

Nói rồi buông tay chờ. Mỹ-Linh nghe Huệ-Sinh nói rằng Nguyên-Hạnh đã biết võ công rồi mới xin gia nhập phái Tiêu-sơn. Y được một cao tăng là Bố-Đại hòa thượng thu làm đệ tử. Võ công y cao thâm không kém gì Lĩnh-nam ngũ long. Nàng vội vận chân khí, không tâm đẩy ra một chiêu Tiêu-sơn Tượng-đầu chưởng. Nguyên-Hạnh cũng đẩy ra một chưởng rất quái dị. Bình một tiếng. Cả hai đều bật lui lại. Mọi người đều buồn nôn vì trong chưởng của Nguyên-Hạnh có mùi hôi tanh khủng khiếp.

Đông-Sơn lão nhân kinh ngạc hỏi Nguyên-Hạnh:

– Đại sư. Vừa rồi chưởng của đại sư có phải là Nhật-hồ độc chưởng?

Nguyên-Hạnh mỉm cười trả lời bằng cái gật đầu.

Chợt Mỹ-Linh thấy ngực đau ngâm ngẩm, rồi mùi tanh hôi đưa lên. Nàng chịu không được, ọe một tiếng, phun ra bụm máu. Thân Thiệu-Thái chạy lại đỡ nàng. Chàng chỉ vào mặt Nguyên-Hạnh:

– Uổng cho mi đường đường là một cao nhân mà lại xử dụng chưởng độc hại người.

Minh-Thiên thấy Mỹ-Linh là đệ tử nhà Phật. Ông không muốn hại nàng. Ông nói với Nguyên-Hạnh:

– Đại sư, tôi xin đại sư giam hai người này lại. Đợi khi đại sự xong sẽ thả ra.

Minh-Thiên là sư phụ Triệu Thành. Nguyên-Hạnh đâu giám trái lệnh. Y líu ríu nói:

– Xin tuân lệnh đại sư.

Y vung tay một cái đã chụp được Thân Thiệu-Thái. Mỹ-Linh muốn rút kiếm ra mà tay không còn lực. Nàng cũng bị Nguyên-Hạnh bắt.

Nguyên-Hạnh xách hai anh em nàng, dùng khinh công chạy lên sườn núi dựng đứng. Tới gần đỉnh có cái hang. Ngoài hang có cửa sắt. Y dùng chìa khóa mở ra, đẩy hai anh em vào rồi khóa lại.

Mỹ-Linh với Thiệu-Thái thức gần trọn đêm, lại lặn dưới nước sâu. Sau đó nàng đấu với Thạch-Phụng, tuy thu hết công lực của thị, nhưng người nàng đã mệt nhoài. Sau đó nàng đấu nội lực với Minh-Thiên, nội lực của đối thủ bỏ xa nàng. Vì vậy nàng bị hất đi xa. Kinh khí bị bế tắc, muốn không thở được. Tiếp đó nàng đấu với Nguyên-Hạnh, hút phải độc chưởng của y.

Thiệu-Thái bồng nàng, nhìn vào trong hang. Không biết hang này sâu đến đâu. Trong này Nguyên-Hạnh còn giam bao nhiêu người nữa? Chàng ngồi yên không dám động đậy, sợ Mỹ-Linh đau. Mỹ-Linh vẫn thiêm thiếp ngủ, thỉnh thoảng nàng rên lên mấy tiếng nho nhỏ. Mệt quá chàng ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Khi chàng tỉnh giấc mặt trời đã lên cao. chàng thấy Mỹ-Linh vẫn còn thiêm thiếp, vội bồng nàng lên, đặt trên chỗ bằng phẳng, rồi dò dẫm đi sâu vào trong hang. Vào khoảng ba chục bước, có chỗ quẹo sang trái, hang đi trở xuống. Chàng tiếp tục đi mãi, càng xuống sâu, càng thấy ẩm ướt, không có ánh sáng. Chợt nhớ ra đá lửa, với bổi còn mang bên mình. Chàng đánh lửa đốt lên, tiếp tục đi xuống. thấy đằng trước có ánh sáng. Chàng lần mò đi tới chàng suýt bật thành tiếng kêu, vì phía trước có nhiều cửa sổ bằng sắt, ăn thông vào sườn núi, gió lùa từ cửa sổ vào, bốc ra mùi xú uế không thể tưởng tượng được.

Tò mò, lại gần cửa sổ nhìn, chàng suýt bật thành tiếng la hoảng, vì sau cửa sổ có một quái nhân ngồi. Quái nhân này, đầu trọc nhẵn bóng, râu ria xồm xoàm dài quá rốn, trắng như cước, trong tư thế ngồi thiền. Chàng tỉnh ngộ:

– Thì ra sau cửa sổ này, có phòng giam người. Sau phòng giam còn cửa sổ nữa thông với sườn núi, chắc là nơi cho tù ăn.

Chàng lay cửa gọi:

– Tiền bối. Tiền bối.

Quái nhân vẫn bất động. Chàng cầm viên đá ném vào quái nhân. Bộp một tiếng. Viên đá trúng bụng quái nhân, tự nhiên phát lên tiếng kêu vo vo, inh tai nhức óc, từ từ bay lại phía chàng.. chàng kinh hãi tránh sang bên cạnh. Lập tức viên đá đổi chiều đánh véo, rồi lại quay tròn theo chàng.

Biết gặp kình địch, chàng chạy sang phải, rồi sang trái. viên đá đi không theo kịp chàng, trúng vào vách hang, kêu lên tiếng chát, rồi vỡ tan tành thành bụi.

Thiệu-Thái kinh hoàng ngĩ:

– Quái nhân này là ai, mà công lực đến dường này?

Ta đã từng thấy ông nội, đại sư Huệ-Sinh dùng Đàn chỉ thần công bắn đá. Kình lực làm viên đá vừa quay vừa đi, phát ra tiếng kêu. Đó là lẽ hiển nhiên. Nhưng quái nhân không chuyển động, chỉ dùng sức phản kích, mà kình lực còn mạnh hơn ông nội ta nữa, thực trên thế gian này có một không h ai.

Quái nhân vẫn ngồi yên bất động.

Tính tinh nghịch nổi dậy, chàng cầm viên đá nữa ném vào quái nhân. Trong khi đó chàng chuẩn bị bỏ chạy. Nhưng viên đá không chạy theo chàng, trái lại nó dính trên bụng quái nhân, không rơi xuống. Chàng lại nhặt viên đá nữa ném vào ngực quái nhân, nó lại dính chặt không rơi. Cứ thế chàng lại nhặt đá ném. phút chốc người quái nhân dính đầy đá.

Chán nản, cháng sang cửa bên cạnh, lại một quái nhân nữa, nằm dài, dường như ngủ.Quái nhân này mặt lớn như cái trống, mặt đẹp vô cùng. Chàng gọi:

– Tiền bối, tiền bối.

Người đó vẫn nằm yên, trả lời:

– Ta không phải tiền bối.

– Thế thì là hậu bối vậy.

Người đó đáp:

– Ta không phải là hậu bối.

Thiệu-Thái có cảm tưởng người đó điên. Chàng hỏi:

– Thế người là ai?

Người đó đáp:

– Ta là ta mà cũng không phải là ta.

– Thế người tên là gì?

– Lâu ngày ta quên mất cả tên rồi.

Thấy đã tìm ra đầu mối, chàng hỏi:

– Tiền bối người đã bị giam ở đâu bao lâu rồi?

– Ta nhắc lại, ta không phải là tiền bối nhé. Ta đâu có bị giam. Ta tự đến đây đấy chứ.

– Người ngồi dậy cho ta coi mặt được không?

– Ta không ngồi dậy đâu. Nhưng ta có thể cho người xem mặt.

Người đó quát một tiếng, thân hình bật dậy như con cá, rồi hai tay chống xuống đất, chân chổng lên trời. Hai tay di chuyển đến gần cửa sổ. Thiệu-Thái nhìn kỹ, thì ra một nhà sư, đầu trọc bóng hai má phính ra, mặt bầu, da dẻ hồng hào. Trên người ông chỉ cuốn tý vải che hạ bộ. Bụng ông phệ, da trắng nõn.

Thiệu-Thái hỏi:

– Người có biết ai bị giam bên kia không?

– Biết chứ, người đó không hề bị giam.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103105
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49567 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » May 15th, 2017, 12:51 pm


HỒI THỨ HAI MƯƠI SÁU

Bố Đại Hoà Thượng


Chợt mùi trầm hương nhè nhẹ từ trong phòng lão hòa thượng mập đưa ra, Thiệu-Thái hít một hơi, cảm thấy trong người dễ chịu, khoan khoái. Chàng ngạc nhiên rằng tại sao lão bị giam, mà trong phòng còn có trầm hương. Mùi này hơi giống mùi từ người Bảo-Hòa. Chàng tự nghĩ:

– Không lẽ người lão sinh ra đã có mùi hương như em Bảo-Hòa của mình?

Nhà sư mập cười:

– Này con lợn. Con lợn mau ra đem cô em họ vào đây, lão chỉ cho cách cứu cô ta. Chậm trễ e khó qua khỏi.

Nghe nhà sư gọi mình là con lợn, Thiệu-Thái trợn trừng mắt nhìn lão. Chàng nghi nhà sư này đồng đảng với Nguyên-Hạnh, hỏi:

– Sao đại sư biết tại hạ có cô em họ bị thương?

– Lão biết vì lão là hòa-thượng.

Thiệu-Thái không chịu:

– Dĩ nhiên đại sư là hòa thượng rồi. Nhưng tại sao đại sư lại biết rõ ràng cô em tai hạ bị nạn?

Nhà sư lộn ngược trở lại, ngồi xuống:

– Người là một con lợn không hiểu Phật-pháp, lại chưa qui y Tam-bảo, ta không giải nghĩa cho người được. Vì có giải nghĩa thì cũng giống đàn gảy tai trâu.

Thiệu-Thái hỏi:

– Tại sao đại sư biết tại hạ chưa qui y?

Nhà sư cười khành khạch:

– Ta biết vì ta biết. Ta còn biết rõ người có vợ chưa cưới ở Bắc biên. Thế mà người lại mê cô em họ. Thôi mau đưa cô em vào đây.

Thiệu-Thái thấy nhà sư huyền bí quá, nhưng vấn đề trước mắt, Mỹ-Linh trúng chưởng của Nguyên-Hạnh, bị thương nặng đang mê man. Chàng bỏ nhà sư chạy ra ngoài. Mỹ-Linh hơi tỉnh. Nàng bảo Thiệu-Thái:

– Anh ơi, anh đưa em vào gặp vị hòa thượng bụng bự mau. Nếu chậm trễ e nguy mất.

Thiệu-Thái lại ngạc nhiên nữa:

– Mỹ-Linh, sao em biết trong kia có vị hòa thượng bụng bự? Anh thấy ông này có vẻ tà môn quá. Lỡ ông làm gì em thì sao?

Mỹ-Linh nhăn mặt:

– Trong lúc em mê man, thấy rõ ông đứng bên cạnh. Ông bảo em với ông có duyên từ vô vàn kiếp trước, rồi ông vẫy em đi theo. Anh ơi dù gì thì cũng chẳng sao. Đằng nào em cũng chết. Nếu ông cứu được em càng hay. Còn như ông giết em, em chết sớm càng đỡ đau đớn.

Thiệu-Thái tăng thêm kinh ngạc. Rõ ràng từ lúc vào đây, Mỹ-Linh nằm im một chỗ. Còn lão hòa thượng bụng bự vẫn bị giam trong phòng, làm sao lão đứng cạnh nàng được?

Tới đó Mỹ-Linh mửa ra một búng máu. Thiệu-Thái không dám đem Mỹ-Linh vào, chàng ngồi thoa bóp cho nàng. Mỹ-Linh chập chờn tỉnh dậy, nàng nói:

– Mau, đem em vào mau, nếu trễ e không kịp.

Thiệu-Thái vốn chậm chạp, chàng còn ngần ngừ. Có tiếng nhà sư từ trong vọng ra:

– Con bé không được động đậy. Thằng con lợn nó không hiểu được ta thì thôi. Ngu hơn lợn! Con bé xinh đẹp nghe đây. Người hãy dùng bàn tay phải chà lên huyệt Đản-trung, rồi hấp khí cho đầy ngực, mửa máu bầm ra. Như vậy độc chất mới không nhập tâm.

Mỹ-Linh để tay lên huyệt Đản-trung chà mạnh, rồi hít một hơi. Khí tức tràn ngập, nàng ọe một tiếng, mửa ra hai ngụm máu đen.

Nhà sư bụng phệ lại nói tiếp:

– Hấp khí, dẫn khí vào trung đơn điền, rồi thổ khí, trong khi thổ phân tán khí ra chân tay. Làm liền ba mươi sáu thức.

Thiệu-Thái kinh ngạc, vì từ phòng nhà sư bụng phệ bị giam đến chỗ Mỹ-Linh nằm có đến ba khúc quẹo, làm sao nhà sư nhìn thấy nàng, mà ra lệnh như vậy?

Chàng nhìn Mỹ-Linh thổ nạp, sau đúng ba mươi sáu thức. Nàng cảm thấy chân tay bớt tê dại. Nhà sư tiếp:

– Con lợn. Bây giờ người có đưa cô em vào đây không?

Thiệu-Thái đã tin nhà sư bụng phệ phần nào. Chàng bế bổng Mỹ-Linh đem đến chỗ ông bị giam. Nhà sư bảo Mỹ-Linh:

– Con nhí ngồi gần vào đây, ta xem mạch cho.

Mỹ-Linh ngồi sát vào cửa sổ. Nhà sư cầm lấy bàn tay nàng bắt mạch, rồi nói:

– Con nhí này bị trúng Kim-cương chưởng của phái Thiếu-lâm. Nội công Thiếu-lâm phát xuất từ Thiền-công nhà Phật. Trong khi con nhí luyện Vô ngã tướng thần công cũng đặt trên căn bản kinh Kim-cương. Đáng lẽ khi bị trúng Kim-cương chưởng, người có thể hút nội lực của đối thủ làm nội lực mình. Ngặt vì Vô-ngã tướng thần công của người lại pha trộn với nội công Long-biên .Trong khi nội lực đối thủ qúa thâm hậu. Tuy vậy có trúng chưởng cũng không hề gì. Sau đó con nhí lại đấu chưởng với Nguyên-Hạnh, bị trúng Chu-sa độc chưởng của bang Nhật-Hồ. Vô-ngã-tướng thần công hút độc chất vào người, mới nên nỗi.

Bốn tiếng Chu-sa độc chưởng làm Mỹ-Linh nhớ lại thảm kịch cách đây mấy năm. Hồi ấy vương-mẫu của nàng bị một người nào đó trong bóng tối dùng độc chưởng này đánh bà. Người đó ép bà phải làm một việc gì đó cho y. Nhưng bà không chịu, vì vậy bà đau đớn đến điên dại trong bốn mươi chín ngày, rồi chết. Bấy giờ trong triều không ai biết bệnh gì. Mãi cho đến khi viếng Vạn-thảo sơn trang, nghe Lê Văn thuật chính Hồng-Sơn phu nhân cũng bị đau đớn như vậy. Cho đến ngày sắp chết, bà mới thổ lộ ra bị người ta dùng Chu-sa độc chưởng đánh bà, bắt bà tuân theo mạng lệnh mới được thuốc giải. Bằng không sẽ đau đớn trong bốn mươi chín ngày rồi chết. Bà đành chịu chết, chứ không chịu phản chồng. Bấy giờ Mỹ-Linh mới biết mẹ mình cũng bị chết về chưởng này. Song bà cắn răng hy sinh cho chồng, mà không chịu thố lộ nguyên do.

Hôm ấy nàng với Lê Văn thảo luận, rồi cùng tin rằng cả hai bà cùng bị một ác nhân hại, mà chưa tìm ra ác nhân đó là ai. Bây giờ nghe nhà sư nói nàng bị Chu-sa độc chưởng của Nguyên-Hạnh đánh trúng, tâm tư nàng rung động mạnh. Người nàng run run, vì đã tìm ra được ánh sáng soi vào mặt ác nhân.

Lão hòa thượng bắt mạch lần nữa, rồi tiếp:

– Người còn tham lam, luyện cả nội công phái Tản-viên, thời Lĩnh-Nam, rồi nội công phái Cửu-chân nữa. Thế là thế nào?

Mỹ-Linh tường thuật từ đầu đến cuối việc luyện võ của nàng khởi đầu bằng phái Tiêu-sơn của chú với Huệ-Sinh. Sau có cơ duyên luyện Vô ngã tướng thần công của Trần Năng thời Lĩnh-Nam. Mà Vô-ngã-tướng thần công của Trần Năng đã bị pha lẫn nội công Tản-Viên. Còn nội công Long-biên, thì hoàn toàn đo Tịnh-Huyền dạy, và nàng bổ khuyết bằng nội công trong bộ Lĩnh-Nam vũ kinh.

Lão hòa thượng bảo Mỹ-Linh:

– Con nhí có muốn thoát khỏi đau đớn chăng?

Mỹ-Linh quỳ xuống hành lễ:

– Đệ tử kính xin đại sư làm phúc, cứu khổ cứu nạn cho đệ tử.

Nói hết câu đó, nàng cảm thấy chóng mặt, vội ngồi đựa vào cửa sổ hồn phách bay phơi phới, tam tiêu đảo lộn.

Nhà sư cười toe tóet:

– Dễ lắm. Ta nói gì con lợn kia nó cũng không nghe. Nếu con bé có thể nói cho nó nghe thì mới mong chữa bệnh.

Thiệu-Thái đến trước nhà sư quỳ gối:

– Bạch đại-sư, không phải tiểu bối vô phép với đại sư, mà chỉ vì tiểu bối ngu đần, chậm chạp mà thôi. Mong đại sư cứu em cháu. Bất cứ đại-sư dạy gì cháu cũng tuân theo.

Nhà sư cười khềnh khệch:

– Dễ lắm. Ta có thể lệ khi cứu một người cần có người chết thay. Vậy sau khi ta cứu con bé này, người phải đi giết một người thế mạng.

Thiệu-Thái vốn tính nhân từ, giết con chuột, con dán, chàng còn không dám, huống hồ giết người. Chàng lắc đầu:

– Đại sư ơi, có cách nào khác không? Chứ giết người thực cháu không giám đâu. Đức thượng đế hiếu sinh, cho mỗi sinh vật một cuộc sống, nay giết người ta, như vậy không nên.

Nhà sư cười:

– À, mi không nghe ta, ta không chữa cho cô em họ của người.

Thiệu-Thái đứng dậy:

– Nếu đại sư cứu được em cháu. Cháu xin tự tử để thế mạng.

– Ừ, nhớ lấy lời nhé!

– Cháu cam đoan giữ lời hứa. Sau khi em cháu khỏi bệnh, cháu tự tử lập tức.

Mỹ-Linh đang nằm thiêm thiếp. Nhà sư chìa ngón tay ra điểm vào huyệt Bách-hội của nàng. Người Mỹ-Linh rung động lên một cái, rồi nằm im. Khỏang nhai dập miếng trầu, người nàng vã mồ hôi ra như tắm. Nhà sư truyền lệnh:

– Ngồi dậy, theo tư thức Kiết-già. Hấp khí. Trong khi dẫn khí từ sáu kinh dương về đơn điền. Rồi, thổ khí ra. Bây giờ dẫn khí vòng quanh rốn theo hình trôn ốc. Từ vòng nhỏ dần dần thành vòng lớn. Đúng 36 vòng, lại dẫn khí theo vòng tròn từ lớn vào nhỏ 36 vòng nữa.

Ông nói đến đâu, Mỹ-Linh làm theo đến đó. Khi dẫn khí vào tới vòng nhỏ nhất, nàng mở mắt ra. Bao nhiêu cái đau đớn bứt rứt biến mất. Biết tai nạn đã qua, Mỹ-Linh quỳ xuống hành đại lễ:

– Đa tạ đại-sư cứu mạng.

Nhà sư cười khềnh khệch:

– Con nhí ơi, chưa thoát khỏi đâu. Phải luyện trong ba mươi sáu ngày mới khỏi hẳn.

Nhà sư vẫy tay gọi Thiệu-Thái:

– Con lợn. Ta cứu em người rồi. Người phải thực hiện lời hứa tự tử đi chứ?

Thiệu-Thái rút kiếm sau lưng, đưa lên cổ tự tử.

Khi Thiệu-Thái ước hẹn với nhà sư, thì Mỹ-Linh đang chập chờn, nửa mê, nửa tỉnh, không nghe rõ. Bây giờ thấy Thiệu-Thái đưa kiếm lên cổ tự tử, nàng kinh ngạc vô cùng. Với võ công của nàng, nàng thừa bản lĩnh đọat kiếm cứu Thiệu-Thái. Nhưng nàng vốn thiếu kinh nghiệm ứng phó. Hơn nữa diễn biến xẩy ra đột ngột. Nàng kêu lên:

– Anh Thiệu-Thái, đừng.

Nhà sư nhặt viên sỏi nhỏ búng đến véo một cái. Thanh kiếm của Thiệu-Thái vuột khỏi tay rơi xuống đất. Mỹ-Linh hoàn hồn, nàng nắm lấy tay anh, nước mắt đầm đìa:

– Cái gì vậy? Tại sao anh lại tự tử?

Nhà sư cười khềnh khệch, miệng toe toét:

– Con lợn tự tử thực à? Đúng là con lợn. Người phải biết nếu người tự tử ắt con bé này nó sống làm sao được. Thôi ta không bắt mi giết người nữa, đổi lại từ nay ta sai gì người cũng phải tuân.

Mỹ-Linh cảm thấy nhà sư thực vui vẻ, dễ thương. Trên đời nàng đã gặp không biết bao nhiêu tăng ni. Đa số họ đều lễ phép, kính cẩn với nàng. Chỉ duy có sư phụ Huệ-Sinh tỏ ra thương yêu nàng vô hạn. Bây giờ gặp nhà sư này, chỉ thấy ông cười. Nàng chắp tay:

– Bạch đại hòa thượng, xin hòa thượng cho đệ tử biết pháp danh?

Nhà sư ngửa mặt lên trời cười:

– Pháp danh à, ta quên mất rồi. Biết làm quái gì cái pháp đanh với tục danh. Này con bé, người đang vui vẻ tự nhiên, tại sao lại lễ nghi rắc rối như thế này. Nếu ta cũng quỳ gối gọi người bằng công chúa e thối hoắc, ngửi sao được. Ta gọi người là con nhí, gọi thằng anh người là con lợn người gọi ta là thầy chùa bụng bự nghe hay hơn.

Mỹ-Linh ngẩn người ra, không hiểu sao nhà sư biết nàng là công-chúa. Nàng nhìn căn phòng bằng đá của ông: không giừơng, không chiếu, không chăn, không có chỗ đi cầu, không có nước tắm. Thế mà tại sao trong phòng ông có mùi trầm hương xông ra. Mỹ-Linh thắc mắc:

– Sư phụ, người sống trong hang đá này từ mấy năm rồi?

– Quên sạch. Nhớ thế chó nào được.

Thiệu-Thái nhìn nhà sư:

– Đại-sư, tiểu bối nghe người đi tu, cấm không nói tục. Đây, đại sư một điều gọi tiểu bối bằng lợn, hai điều bằng lợn, rồi văng tục chó e phạm giới chăng?

– Giới à? Tam quy, ngũ giới, thất bát giới ta vất mẹ nó vào thùng rác từ lâu rồi. Tại sao cứ phải buộc chặt mình vào giới này, giới nọ cho nó khổ.

– Đại sư nói lạ. Đi tu phải trì giới chứ!

Nhà sư vẫn cười toe toét, tay vỗ bụng lộp bộp:

– Người chưa qui y Tam-bảo, cũng chưa có sư phụ, thì hiểu đạo Phật thế đếch nào được. Ta hỏi người, người tự thị vào cái gì mà bảo rằng sạch sẽ hơn con lợn, con chó? Đầu óc người có bao giờ không nghĩ bậy chăng? Miệng người có bao giờ không nói bậy chăng? Con lợn, con chó chẳng bao giờ nói bây, nghĩ bậy cả. Huống hồ sau đây mấy năm, người cũng như chó, lợn, hóa ra tro bụi cả.

Mỹ-Linh hỏi:

– Đại sư thử nghĩ xem, có cách nào thoát khỏi nơi đây không?

Nhà sư chưa kịp trả lời, có tiếng nói đâu đó vọng lại, giọng the thé, rõ ra của đàn bà:

– Ốc chưa mang nổi vỏ ốc thì còn mong gì. Y cũng bị giam biết bao nhiêu năm, không thoát ra được. Hỏi y cũng vô ích mà thôi. Vừa rồi y cứu cô bé kia, mà hóa ra hại cô. Nếu cô trúng độc thông thường tất lão cứu được. Còn đây con bé trúng Chu-sa độc-chưởng của bang Nhật-Hồ, thì phương pháp trên chỉ ngừng đau trong bẩy ngày rồi tái phát.

Mỹ-Linh kinh hãi hỏi:

– Tại sao tiền bối biết?

Người đàn bà đó cười the thé:

– Mi không tin ư? Mi thử sờ vào huyệt Thái-uyên xem, có phải mi thấy hơi ngứa không? Thái-uyên là nguyên huyệt của Thủ thái âm phế-kinh, như thế là phế bị thương rồi. Mi thử sờ vào huyệt Nội-quan xem, có phải trong lồng ngực thấy đau ngâm ngẩm không? Nội quan là Lạc-huyệt của Thủ khuyết âm tâm bào kinh. Như vậy tâm bị trúng độc rồi.

Thiệu-Thái tới trước người đàn bà lạy phục xuống đất:

– Xin tiền bối cứu em cháu với.

Lần theo giọng nói của đàn bà. Mỹ-Linh quay về phía có tiếng nói, chỗ đó lại một căm phòng giam nữa. Nàng chạy lại trước cửa phòng. Trong cửa sổ có một người đàn bà, thân hình thon đẹp, đầu bù tóc rối. Mỹ-Linh dương mắt nhìn kỹ, người đàn bà tuổi khoảng bốn mươi, nhan sắc tươi tỉnh. Có điều bị giam lâu, nên da xanh mướt.

Người đàn bà hỏi:

– Cô cậu kia làm sao mà bị giam vào đây? Ta nói cho mà biết khi đã vào chốn này, dù có bản lĩnh nghiêng trời lệch đất cũng vô ích. Cái lão Bố Đại hòa thượng kia mà còn chịu bó tay ngồi tù nữa là. Ta biết rồi, chắc cô cậu là vợ chồng phải không? Nguyên-Hạnh sẽ chỉ giết cậu mà thôi. Còn cô nó giữ làm Hồng-hương mỹ nhân để thưởng hoa. Ta nói cho mà biết. Tuy vậy y muốn người, y phải cầu ta. Vì chỉ có ta mới cứu được người. Còn lão Bố Đại hòa thượng kia không làm lên trò gì đâu.

Mỹ-Linh hỏi nhà sư:

– Sư phụ, người là Bố Đại hòa thượng đấy à?

– Ừ. Chính là ta. Mà chẳng phải là ta.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cùng bật lên tiếng úi chà. Vì Bố Đại hòa thượng nức danh cao tăng thuộc phái Tiêu-sơn đắc đạo. Lão ở vai sư thúc của quốc-sư Vạn-Hạnh, và Lý Khánh-Vân. Mà Lý Khánh-Vân là nghĩa phụ của Thuận-thiên hoàng đế (Lý-Thái-Tổ). Lão đắc đạo rất sớm, võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Song lão chẳng bao giờ đánh ai. Ai đánh, lão chỉ đỡ, rồi bỏ chạy.

Lão có đặc tính, chỉ đóng cái khố, choàng ngoài bằng tấm áo cà-sa. Nơi nào lão cũng ăn được. Chỗ nào lão cũng ngủ được. Lão không bao giờ tắm, mà trên người lão luôn thoang thoảng mùi hương trầm. Lão đi đến đâu, con nít bu xung quanh lão, đứa thì vỗ bụng, đứa thì bẹo tai, đứa thì ngoáy tay vào rốn lão.

Lão thuyết pháp rất giản dị, chỉ vài câu thôi, người ta đã hiểu tinh hoa đạo Phật. Lão đi khắp các sứ Chân-lạp, Chiêm-thành, sang đến Trung-quốc. Người Trung-quốc vẽ hình nặn tượng thờ lão. Có hai tượng khác nhau. Tượng thứ nhất lão đeo tràng hạt, có năm đứa trẻ ngồi trên bụng, trên vai, trên tay lão. Đứa bẹo tai, đứa bẹo mắt, đứa nắm tay, đứa ngoáy rốn, đứa bụm miệng. Còn một tượng nữa trong tư thế ngồi cầm tràng hạt cười.

Sự thực lão cũng có tục danh. Tục danh của lão được lưu truyền là Khiết-Thử. Không rõ họ. Người ta tặng cho lão tên Trường-đinh-tử. Sử Trung-quốc ghi lão xuất hiện thuyết pháp đầu tiên vào đời nhà Lương (909-923). Niên hiệu Trinh-Minh thứ ba đời Lương (917) lão dùng ngón tay viết lên đá ở chùa Nhạc-lâm bài kệ như sau:

Di-lặc chân Di-Lặc,
Phân thân thiên bá ức.
Thời thời thị thế nhân,
Thế nhân tự bất thức.

Dịch:

Di-Lặc đúng Di-Lặc,
Phân thân thành triệu người.
Đời đời dạy nhân thế,
Nhân thế nào có hay.

Sau đó lão gọi đệ tử đến, dạy rằng:

– Ta có nguyện, đầu thai nhiều lần xuống vùng đất thiêng Nam Ngũ-lĩnh, giúp tộc Việt dựng lại thành quốc gia kỷ cương. Đây mới là kiếp thứ nhất. Nay xác ta mục. Ta tìm về phương Nam, nhập vào hài nhi sơ sinh, bắt đầu kiếp thứ nhì. Sau này ta cũng có hình dạng cùng hành trạng như hiện nay.

Nói dứt, viên tịch. Tin đó truyền ra ngoài, dân chúng làm tượng thờ. Rồi ít lâu sau, vùng Cửu-chân lại xuất hiện một chú tiểu về tu ở chùa Tiêu-sơn. Chú nói tiền kiếp chính là Bố-Đại hoà thượng. Không ai tin, có người cho chú điên khùng. Năm hai mươi lăm tuổi chú béo tròn, trán bóng, lúc nào cũng cười toe toét, giống hệt Bố-Đại hoà thượng ngày xưa. Bấy giờ người ta mới tin Bố-Đại tái sinh.

Bố-Đại lại du hành thuyết pháp ở Trung-quốc. Lưng đeo túi vải. Nhân bố là vải, đại là túi. Nên người ta gọi lão là Bố-Đại hoà thượng. Ai cúng dàng cái gì, lão bỏ vào túi, đem phát cho trẻ con. Lão đi đến đâu, trẻ con bu quanh lão đến đấy.

Thiệu-Thái nhìn lão, quả giống hệt tượng mà người ta nặn để thờ. Chàng thắc mắc:

– Đại sư. Tại sao người ta lại nặn hai loại tượng của đại sư để thờ?

Bố Đại hòa thượng lắc đầu:

– Con lợn đã có bao giờ nghe nói đến lục tặc không?

Thiệu-Thái chưa từng nghe thuyết pháp lấy một lần, cũng chẳng đi chùa lễ Phật bao gìơ. Vì vùng Lạng-châu chỉ có một tôn giáo, là thờ 162 anh hùng thời Lĩnh-nam. Chàng lắc đầu.

Bố Đại hòa thượng rung đùi:

– Tượng có năm đứa trẻ ngồi trên bụng ta, biểu tượng thời kỳ ta chưa giác ngộ, bị Lục-tặc quấy phá. Còn tượng ta ngồi cười, biểu tượng thời kỳ ngộ đạo rồi, Lục-tặc không còn nữa.

Ông nói đến đâu, Mỹ-Linh gật đầu, tỏ ý hiểu đến đó. Còn Thiệu-Thái ngơ ngơ ngác ngác hỏi:

– Tiểu bối nghe võ công đại sư cao thâm khôn lường. Sao đại sư không đánh đuổi Lục-tặc là sáu tên giặc đi đi? Chúng bé xíu mà?

Bố Đại lắc đầu:

– Lợn. Lợn. Ngu như lợn. Đánh đuổi thế chó nào được. Nó có hình, có xương, có thịt đâu mà đánh? Nó không hình, không bóng. Nó chính là ta. Trong mi cũng có Lục-tặc. Trong bà cụ kia cũng có Lục-tặc. Trong con nhí cũng có Lục-tặc. Mi hiểu chưa?

Mỹ-Linh gật đầu mỉm cười. Còn Thiệu-Thái càng ngơ ngác. Mỹ-Linh giải thích:

– Để em nói cho anh nghe. Khi đại-sư đây chưa đắc đạo thì sáu thứ giặc nó quấy nhiễu. Sáu thứ giặc đó là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Mắt còn thích nhìn hoa thơm cỏ lạ là một tặc. Tai còn nghe lời thị phi, bị âm thanh lôi kéo là hai tặc. Mũi còn ngửi mùi hương thơm, mùi hôi thối là ba tặc. Miệng còn muốn ăn ngon, còn phân biệt ngũ vị là bốn tặc. Lưỡi còn nói không, nói có cho người là năm tặc.

Thiệu-Thái tính đốt ngón tay:

– Như vậy mới có ngũ tặc. Ừ, đúng ngũ tặc, vì tượng chỉ có năm đứa trẻ, chứ đâu phải sáu.

Mỹ-Linh cũng bật cười về ông anh chân thật của mình:

– Khi bị ngũ tặc quấy phá, trong tâm người không định được, còn giận hờn, còn cáu kỉnh, còn tức tối…thì chính người là một tặc nữa.

Bố Đại giảng:

– Con nhí nghe đây. Trong kinh Bát-nhã cũng như Kim-cương, Lăng-gìa đều không ngớt nói về nhân ngã tứ tướng. Khi luyện Thiền-công, dù Vô-ngã hay Vô nhân hay Vô chúng sinh hay Vô thọ tuy có khác nhau, nhưng đều thu về một mối, làm sao bỏ sáu căn của con người nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý bấy giờ trong người như một nơi chân không, hỏi rằng Lục-tặc làm sao nhập vào được. Đã đến trình độ này, sẽ thành Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ gỉa tướng. Người học loại thần công nào cũng thế thôi.

Mỹ-Linh học đủ mọi kinh điển nhà Phật tới chỗ sâu sa nhất. Nàng đã tụng hàng vạn lần kinh Bát-nhã, kinh Kim-cương, cũng như kinh Lăng-gìa. Thế nhưng chưa một lần nghe nói làm thế nào áp dụng vào việc luyện Thiền-công. Hôm ở dưới hầm đá, vô tình luyện được thần công tổng hợp của nội công Lĩnh-nam với Thiền-công nhà Phật do Trần-Năng để lại. Tuy luyện thành, nhưng nàng thấy uy lực không mạnh làm bao, nàng thắc mắc mãi mà không hiểu.

Hôm nay nhà sư bụng phệ phân biệt ra, nàng mới tỉnh ngộ. Nàng nhắm mắt thử bỏ ra ngoài mắt, tai, mũi, thân, và buông lỏng mọi tư duy trong lòng, rồi phát lực ra bàn tay. Nàng thấy chân khí mạnh không thể tưởng được. Bàn tay nàng tiết ra mùi hôi tanh khủng khiếp.

Mụ già gầy kinh ngạc:

– Lão hòa thượng bụng phệ kia giỏi thực. Người nói ba láp, mà con nhí nó đẩy hết được chất độc ra ngoài rồi. Giỏi.

Hồi còn nhỏ, Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đã nghe nới về Bố Đại hòa thượng, không ngờ hôm nay lại gặp lão trong tù. Mỹ-Linh nhìn kỹ lão:

– Cứ theo như mẹ ta kể, lão là sư thúc của sư tổ Vạn-Hạnh. Như vậy ít ra lão cũng trăm tuổi rồi. Thế mà sao khuôn mặt lão còn trẻ thế? Chết thực, so vai vế lão ở trên mình đến bốn bậc, mà từ nãy đến giờ mình chưa ra mắt.

Mỹ-Linh quì xuống:

– Đệ tử Mỹ-Linh xin tham kiến thái-sư thúc tổ.

Bố Đại hòa thượng vẫy tay:

– Phái Tiêu-sơn nhà ta không nhận nữ đệ tử. Thế mà gã Huệ-Sinh thu nạp người, thực lạ lùng, thực ngoài sự tưởng tượng. Hay thực, thằng cu Huệ-Sinh hay hơn ta nhiều.

Bà lão bị giam nói vọng sang:

– Nhất định Huệ-Sinh hay hơn rồi. Vì người dở nên mới bị Nguyên-Hạnh bắt giam.

Bố Đại nghe bà già châm biếm mình, lão cười toe toét:

– Bà còn hay hơn tiểu tăng nữa.

Mỹ-Linh hỏi bà lão:

– Tiền bối, thân thế người ra sao? Vì cớ gì lại bị giam vào đây?

Lão bà nghiến răng:

– Ta chính là vợ của Nguyên-Hạnh. Ta bị y giam vào đây gần chục năm nay rồi.

Mỹ-Linh kinh khiếp:

– Đại sư Nguyên-Hạnh thuộc phải Tiêu-sơn, từ võ công đến thiền học đều uyên thâm, sao lại tàn ác như vậy?

Lão bà nghiến răng nói:

– Ta với Nguyên-Hạnh nguyên đều là sư huynh sư đệ đồng môn thuộc bang Nhật-hồ.

Bố Đại gật đầu:

– Bang Nhật-Hồ chuyên dùng chất độc luyện Chu-sa chưởng. Võ lâm Trung-nguyên nghe đến tên là kinh tâm động phách.

Lão bà gật đầu tỏ vẻ tự cao:

– Phụ thân ta làm đại tướng quân cho triều Bắc-Chu. Khi Triệu Khuông-Dẫn cướp ngôi nhà Chu, phụ thân ta cầm binh chống lại. Sau khi phụ thân ta gìa yếu qua đời, lực lựơng bị tan rã. Năm đó ta mười tám, sư huynh Nguyên-Hạnh hai mươi lăm tuổi. Chúng ta bị bắt. Triều Tống định đem mẹ cùng các anh ta đem chém. Chúng ta dâng biểu xin ân xá, hứa làm bất cứ điều gì mà triều đình muốn. Bấy giờ nhà Tống mới bị nhà Lê ở Giao-chỉ đánh bại. Khu-mật-viện triều Tống tính kế lâu dài. Họ bàn tha cho mẹ, các anh ta. Điều kiện ta với sư huynh phải sang Giao-chỉ lập nghiệp, đợi khi nào quân Tống sang, nổi lên làm nội ứng.

Bà lão thở dài:

– Khu-mật-viện dặn chúng ta khi tới Giao-chỉ, lỡ bị bại lộ phải khai như sau : Ta tên thực là Đỗ Lệ-Thanh, vốn ngừơi Hoa, chứ không phải người Việt. Ta sinh ra trong một gia đình giầu có, lại thông minh. Thủa nhỏ ta học văn, học võ đều thành công. Năm mười sáu tuổi kết hôn với một danh sĩ trong làng. Một lần lên chùa lễ Phật, ta gặp tăng sĩ nghèo khó, không có tiền mua vải may áo cà sa. Động lòng trắc ẩn, về nhà ta mua vải may bốn chiếc áo tặng người. Người mừng lắm, cảm ơn ta rối rít. Việc làm của chúng ta sáng như trăng rằm, nhưng người trong làng trông thấy, họ bắt lỗi nhà sư, đuổi khỏi chùa. Nhà sư tìm đến nhà ta xin ta giúp cho ít tiền độ nhật về quê. Ta không có tiền, bèn lấy cái nhẫn cưới cúng dàng. Giữa lùc đó chồng ta về, trông thấy. Người nổi giận đuổi ta đi.

Bà ngơ ngẩn xuất thần:

– Ta ra đi cùng với tăng sĩ. Ta bán hết tư trang, cùng người theo bọn lái buôn bỏ xứ ra đi. Chúng ta đến Đại-Việt. Bấy giờ vào lúc triều Lê kiểm soát người Hoa rất kỹ. Ta phải mở cửa hàng bán thuốc. Chàng mang lớp áo tăng sĩ xin vào chùa Tiêu-sơn ở. Chàng được Bố Đại hòa thượng thu làm đệ tử, ở luôn trong chùa, đêm đêm trốn ra gặp ta.

Mỹ-Linh ngắt lời bà:

– Tăng sĩ đó tức là Nguyên-Hạnh đại sư?

– Chứ còn ai nữa. Sau Bố Đại hòa thượng được cử vào coi chùa Sơn-tĩnh. Nguyên-Hạnh cũng vào theo. Ta âm thầm đến mở cửa hàng ở dưới trấn. Chúng ta ăn ở với nhau, đẻ được hai đứa con trai. Lúc chúng lớn lên, Nguyên-Hạnh đem chúng vào chùa Sơn-tĩnh tu, dối là con bá tính.

Thiệu-Thái a lên một tiếng:

– Tôi biết hai đứa trẻ này rồi. Trong chùa hiện có hai tiểu hòa thượng, dung mạo giống đại-sư Nguyên-Hạnh như đúc. Một người pháp danh Hạnh-Chân, một người pháp danh Hạnh-Như.

– Đúng đó. Võ công, Phật học Nguyên-Hạnh ngày càng sáng chói. Y lập ra đoàn Phật-tử Hồng-hương. Cứ mỗi năm vào tháng 6-7-8 mở hội, cho tất cả nam phụ, lão ấu các nơi tụ về tập Thiền. Những việc như thế, không qua mắt được lão hòa thượng Bố Đại. Lão khuyên chúng ta buông dao mổ heo, sẽ thành Phật. Chúng ta bề ngoài vâng dạ cho qua. Nguyên-Hạnh xui ta chế thuốc kịch độc bỏ vào thức ăn cúng dàng. Y khuyên ta chỉ chế thuốc cho lão mê đi, chứ đừng giết lão. Vì Nguyên-Hạnh còn muốn lão dạy cho tâm pháp của Vô nhân tướng thần công. Lão hòa thượng Bố Đại bị trúng độc, Nguyên-Hạnh đem vào đây giam lại.

Mỹ-Linh thấy câu truyện mỗi ngày một huyền bí. Nàng hỏi:

– Thế rồi tại sao lão bà lại bị giam?

– Ta khám phá Nguyên-Hạnh mở Hồng-hương không phải để dạy Thiền, tu đạo gì cả, mà chỉ để dụ dỗ đàn bà con gái đến chùa. Y để ý, người nào đẹp, y bắt giam ở Vọng-nguyệt-đài phía sau núi này, để tối tối bọn y ra hành lạc.

Mỹ-Linh nhớ lại những cô gái hầu đêm trước, người nào chân cũng bị xiềng. Nàng gật đầu tỏ vẻ hiểu biết. Lão bà tiếp:

– Ta được tin ấy, âm thầm theo dõi đến chỗ này, thì bị con Cao Thạch-Phụng phát hiện tông tích. Y thị bắt Nguyên-Hạnh giam ta vào đây, để hành tội.

Thiệu-Thái tỏ vẻ thương hại lão bà Đỗ Lệ-Thanh:

– Họ hành hạ tiền bối bằng cách nào?

Đỗ Lệ-Thanh nghiến răng kèn kẹt:

– Thông thường khi hai tiện nhân hành lạc, chúng sai tỳ nữ bắt ta đem đến Vọng-nguyệt-đài, bịt miệng, trói vào cái cột. Sau đó hai đứa vào phòng hành lạc với nhau cho ta nhìn, để uất ức mà chết. Nhưng ta vẫn không chết được. Hành lạc chán, chúng ngồi ăn uống cùng nhau, bắt ta nhịn đói. Mỗi khi uất ức quá, ta nghiến răng rên rỉ, chúng tỏ vẻ sung sướng vô cùng.

Đỗ Lệ-Thanh nhìn Mỹ-Linh thương hại:

– Tiểu cô nương. Tiểu cô nương liệu mà tự tử đi thôi, bằng không con tiện nhân Cao Thạch-Phụng sẽ đem tiểu cô nương cho hàng chục người hành lạc. Nó thích ngồi nhìn cảnh con gái lương gia bị hiếp dâm lắm.

Mỹ-Linh nói với Bố Đại hòa thượng:

– Thái sư thúc tổ. Bằng vào luật nhân quả, phái Tiêu-sơn nhà ta thành lập đã mấy trăm năm nay, chỉ chuyên làm phúc. Không hiểu sao nay lại nảy ra vụ Nguyên-Hạnh?

Bố Đại hòa thượng cười:

– Con bé này chỉ nhìn một mặt. Người không nhìn thấy nhiều mặt khác. Ta hỏi người nhé. Khi vua Đinh thống nhất sơn hà. Phái Tiêu-sơn gửi hàng ngàn cao thủ giúp người. Trong hàng trăm trận đánh đó, biết bao nhiêu người bị giết dưới kiếm đệ tử Tiêu-sơn. Nghiệp báo từ đó sinh ra chứ đâu.

Ông toét miệng cười, hai mắt nhắm lại:

– Lại khi Vạn-Hạnh giúp Lê Hoàn đánh Tống, hai mươi vạn quân, ba mươi vạn dân phu chết ở Chi-lăng, chìm ở Bạch-đằng…Oan khí biết bao nhiêu mà kể. Vả lại cái tâm nguyện của chúng ta là dựng lại nước Việt. Khi có tâm nguyện, ắt phải theo. Mà đã theo ắt có nghiệp quả. Vì thế mới có câu Thầy tăng mở nước.

Mỹ-Linh hỏi:

– Thái sư thúc tổ. Đệ tử thường nghe người đời nói Thầy tăng mở nước. Không biết từ đâu mà có câu này?

Bố Đại không cười nữa, ông ngồi ngay ngắn lại:

– Khi nhập môn, Huệ-Sinh đã nói cho con nghe về cuộc truyền tâm ấn của đức Thích-ca mâu-ni cho ngài Ma-ha ca-diếp rồi phải không?

– Vâng. Từ ngài Ma-ha ca-diếp đến ngài Tăng-giả Nan-đà là chín đời, thầy truyền cho trò, theo lối tâm truyền tâm:

    1. Ca-Diếp (Kacyapa).

    2. A-Nan (Ananda).

    3. Thương-na-hòa-tu .(Canavasa).

    4. Ưu-ba-cúc-đa (Upaguta)

    5. Đề-ca-đa (Dhritaka).

    6. Di-già-ca (Micchaka).

    7. Bà-tu-mật (Vasusmitra).

    8. Phật-đà-nan-đề ( Bouddhanandi).

    9. Tăng-giả-nan-đà (Samghananda) và Phật-đà-mật-đa (Bouddhamitra).

Ngài Tăng-giả Nan-đà đến Lĩnh-Nam đúng vào lúc vua Trưng khởi nghĩa, hoằng dương đạo pháp. Sử sách còn ghi ngài qui y cho Trưng Nhị, Hồ Đề. Ngài truyền giới cho Hoàng Thiều-Hoa, Tiên-Yên nữ hiệp, Phật-Nguyệt, và Nghiêm Tử-Lăng. Ngài dạy Thiền-công cho Trần Năng. Nhưng sử không ghi ngài truyền tâm ấn cho ai. Giòng tâm ấn coi như tuyệt. Nhưng Thiền-công thì vẫn còn.

Bố Đại nghe Mỹ-Linh nói, ông hỏi Thiệu-Thái:

– Con lợn, hiểu không?

– Thưa, đệ tử hiểu.

– Khá đấy. Tại Thiên-Trúc, truyền tâm ấn đến đời thứ 28.

Thiệu-Thái tỏ vẻ hiểu biết, chàng gật gật đầu. Bố Đại hòa thượng hỏi:

– Con lợn, người hiểu gì, nói ta nghe.

– Giai đoạn này tiểu bối biết rồi. Tổ thứ 28 là Bồ-đề Đạt-ma cỡi thuyền qua Trung-nguyên, lập ra chùa Thiếu-lâm. Đạt-Ma truyền cho Huệ-Khả. Huệ-Khả truyền cho Tăng-Sán. Tăng-Sán truyền cho ngài Tỳ-ni Đa-lưu chi. Ngài Tỳ-ni Đà-lưu-chi đến Đại-Việt vào năm Canh-Tý (580). Khi ngài đến chùa Pháp-vân gặp tổ Pháp-Hiền, bèn thu làm đệ tử cùng truyền tâm ấn cho. Đó là nguồn gốc phái Tiêu-sơn.

– Rồi sao nữa?

– Tiểu bối nghe nói ngài Tỳ-ni đà-lưu-chi chỉ truyền Thiền-công cho ngài Pháp-Hiền. Võ công vốn có hai phần. Một phần là sức lực tức nội công. Một phần là chiêu thức. Ngài Tỳ-ni đa-lưu-chi chỉ truyền Thiền-công tức nội công. Vậy các chiêu thức của phái Tiêu-sơn ở đâu mà ra?

Bố Đại hòa thượng hỏi Mỹ-Linh:

– Con có biết không?

– Không. Con nghe nói ngoại công phải Tiêu-sơn xuất từ phái Đông-a. Sự thực ra sao?

– Tổ Pháp-Hiền thu nhận đến 300 đệ tử, ngài dạy Thiền-công, giảng kinh cho tăng, chứ không dạy tục gia đệ tử.

Ông ngưng lại:

– Thế nhưng tổ có duyên với chú bé thợ săn. Thành ra tổ không dạy, rồi cũng phải dạy. Chú bé thợ tên Trần Tự-Viễn mồ côi, nhà gần chùa. Chú thường lên chùa lễ Phật nghe kinh. Chú thấy các tăng ngồi ngoài vườn thở hít, thì muốn vào xem. Chú bị đuổi ra. Tức qúa, đêm đêm chú núp trong vườn trộm nghe tổ giảng Thiền-công. Về nhà chú tự luyện. Chẳng bao lâu Thiền-công chú tăng tiến lạ thường. Một ngày vào rừng săn, chú thấy con ưng bắt con rắn. Con rắn chống lại. Chú kiên nhẫn theo dõi, rồi chế ra Ưng-Xà quyền.

Thiệu-Thái gật đầu:

– À phải rồi, cháu đã được coi người ta biểu diễn Ưng-Xà quyền một lần. Cứ tay phải giống như ưng vồ mồi. Tay trái giống như xà tấn công. Thì ra gốc từ đấy.

– Trần Tự-Viễn thường núp coi hổ đánh nhau. Từ đó ông chế ra Hổ-quyền. Ông trở thành thợ săn thiện nghệ. Ông có thể bắt sổng hổ, báo, voi, trăn đem về dạy dỗ hàng đàn trong vườn. Một ngày kia ông vào rừng thấy con nai con, bèn dương cung bắn trúng chân nó, định bắt. Thì một nhà sư nhảy ra vồ con nai, nhảy sang bên kia suối, nhổ tên, thả cho nó đi. Trần Tự-Viễn nổi giận đuổi theo nhà sư, định bắt để trị tội. Nhưng nội công ông thấp hơn nhà sư, nên đuổi không kịp. Ông nhìn xa xa thấy nhà sư chạy vào chùa Tiêu-sơn. Biết trong chùa đông người. Ông trở về nhà dẫn đội binh hổ, báo, voi, chó sói bao vây chùa. Đệ tử trong chùa náo loạn lên, mang gậy chống cự, nhưng không lại. Tổ Pháp-Hiền ra lệnh không được đánh nhau với thú, lên bảo điện nhập thiền hết.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103105
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49567 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » May 19th, 2017, 3:25 pm


HỒI THỨ HAI MƯƠI BẢY

Thầy Tăng Mở Nước


Câu truyện đến chỗ gay cấn nhất, Bố-Đại hòa thượng móc tay vào vách đá, một viên đá bật ra. Ông chĩa tay vào hốc, nước từ trong vọt ra có vòi. Ông há miệng cho nước bắn vào. Ông uống rất ngon lành. Ông hỏi Mỹ-Linh:

– Con bé có uống không?

Không đợi nàng trả lời, ông chĩa ngón tay vào hốc. Nước vọt ra trúng vào miệng nàng. Nàng uống no rồi, ông lại cho vòi nước bắn vào người Thiệu-Thái. Đợi Thiệu-Thái uống xong, ông cầm viên đá lấp cái lỗ lại. Ông cười:

– Ta biết sau viên đá có suối ngầm, bèn tìm cách cậy đá ra, lấy nước uống. Thôi để ta thuật tiếp. Tự-Viễn dẫn hổ, báo đi khắp bảo điện tìm nhà sư cướp con nai của mình, mà không thấy. Khi ông đến chỗ tổ Pháp-Hiền, thấy tổ đang gõ mõ tụng kinh. Ông đẩy tổ một cái. Tổ không nhúc nhích. Ông vận sức đẩy cái nữa tổ cũng không nhúc nhích. Ông kinh ngạc, vì hàng ngày, ông đẩy một cái, đến voi cũng phải ngã. Cớ sao tổ không ngã. Ông hít hơi, đánh một hỗ quyền vào vai tổ. Ông cảm thấy trời long đất lở, mắt nảy đom đóm, trong tai những vo vo không ngừng. Ông kinh hòang, vận sức đánh một chiêu Hổ-quyền nữa. Lần này tay ông dính vào lưng tổ, gỡ không ra. Tổ chợt ngừng tụng kinh, nhìn ông mỉm cười : Con ngồi xuống đây. Chúng ta có duyên với nhau. Thế là Trần Tự-Viễn được tổ thu làm đệ tử. Ngược lại ông dạy ngoại công cho đồng môn Tiêu-sơn.

Mỹ-Linh như từ trong tối ra sáng:

– Thì ra thế. Con nghe người đời nói Ngọai công Tiêu-sơn phát xuất từ phái Đông-a là thế.

– Đúng. Sau, về già, Trần Tự-Viễn dẫn con cháu đến vùng Thiên-trường, lập ra phái Đông-a. Từ đó đến giờ trải 427 năm. Phái Đông-a nghiên cứu thêm về nội công. Phái Tiêu-sơn nghiên cứu thêm về ngọai công. Cho nên võ công hai phái khác biệt nhau, nhưng đại thể lại giống nhau là thế.

Thiệu-Thái ngẫm nghĩ một lúc, rồi hỏi:

– Đại sư đã chỉ cho biết rõ nguồn gốc phái Tiêu-sơn, Đông-a. Nhưng đại-sư vẫn chưa chỉ rõ cho biết nguồn gốc thầy tăng mở nước do đâu mà có.

Bố Đại cười:

– Khoan, khoan đã nào. Phái Tiêu-sơn chỉ dạy đệ tử thuộc tăng giới mà không dạy đệ tử tục gia. Truyền qua đời thứ tám, chưởng môn phái Tiêu-sơn là tổ Định-Không. Ngài thấy dân Việt bị cai trị trải gần tám trăm năm, điêu linh vô hạn. Cái họa bị đồng hóa sắp đến. Trong khi quan lại Trung-quốc sang cai trị, đều thuộc loại tàn ác. Ngài muốn lập lại nước Việt. Nhưng bấy giờ người Việt bị cai trị đã trên tám trăm năm, ý thức quốc gia không mấy người chú ý nữa. Ngài phải làm một cái gì cho ý thức ấy sống lại. Ngài đi khắp đất nước, tìm lấy một thế đất phát đế vương, rồi chờ thời cơ, ai có duyên trời cho sẽ được táng mả tổ tiên vào đó.

Mỹ-Linh hỏi:

– Thưa sư thúc tổ, ngài có phải chờ lâu không?

– Ngài không mất công lâu, đã thấy ngôi đất ấy tại làng Dịch-bảng. Ngài mới làm ngôi chùa gần ngôi đất, chùa đó tên Quỳnh-lâm (785) .Trong khi đào đất xây chùa, ngài tìm thấy mười cái khánh và một chiếc lư hương. Khi đem xuống sông rửa, một chiến khánh chìm mất. Ngài nói Mười chiếc là thập khẩu .Chữ thập với chữ khẩu thành chữ Cổ .Một chiếc rơi xuống tức thủy khứ viết chung lại thành chữ pháp. Ngài đặt tên cho thế đất đó tên Cổ-pháp. Ngài nói thế đất này sau sẽ nảy sinh ra một vị đế vương. Ngài làm bài thơ ghi lại sự kiện ấy:

Địa trình pháp khí,
Nhất phẩm tinh đồng.
Tri Phật pháp chi hưng long,
Lập hương danh chi Cổ-pháp.
Pháp khí xuất hiện,
Thập khẩu đồng chung,
Lý hưng vương, tam khấu thành công.

Thiệu-Thái không thông Hán-văn, chàng đưa mắt nhìn Mỹ-Linh cầu cứu. Mỹ-Linh giải thích :

– Bài thơ trên tạm dịch như sau:

Đất trình ra pháp khí,
Phẩm chất lại tinh đồng.
Phật pháp sắp hưng long,
Làng mang tên Cổ-pháp.
Pháp khí lại cùng hiện,
Gồm mười chiếc khánh đồng,
Họ Lý làm vua, ba phẩm thành công.

Bố Đại tiếp:

– Khi tổ Định-Không viên tịch, ngài trối trăn lại cho đệ tử là tổ Thông-Biện rằng Thế đất linh này phải coi sóc cẩn thận. Đừng để người ta phá đi. Cũng đừng để người ta đem xương chôn trộm vào. Tổ Định-Không gìn gĩư trọn vẹn. Khi tổ viên tịch, trối lại cho tổ La Qúi-An (852-936). Trong thời tổ La Qúi-An, thế đất này vượng qúa, chiếu sáng rực lên không. Bên Trung-quốc, các quan Thiên-văn nhìn rõ, tâu lên vua Đường Ý-tông (860-873). Vua Đường nghĩ lại thời vua Trưng, Lĩnh-Nam hùng mạnh làm nghiêng ngả giang sơn nhà Hán. Vua sai quan Thái-sử Cao-Biền sang làm An-nam đô hộ. Trước khi Biền đi, vua ban chỉ dụ An-Nam hiện có nhiều thế đất vượng đế vương. Khanh sang ếm hết đi. Sau đó vẽ bản đồ đem về cho trẫm xem. Biền đến đất Việt, qua núi sông nào có vượng khí y ếm hết. Biền tâu về rằng các thế đất ếm được cả. Duy núi Tản-viên không ếm được. Tổ La Qúi-An biết Biền đào lỗ 19 chỗ, ếm thế đất Cổ-pháp. Tổ bèn lấp lại cả. Trong khi lấp, tổ trồng mười chín cây lê. Đêm đó tổ nhập thiền, rồi làm một bài kệ tiên đoán tương lai đất nước như sau:

Đại sơn long đầu khởi,
Cù vĩ ẩn chu minh.
Thập bát tử định thành,
Đào thụ hiện long hình.
Thố kê thử nguyệt nội,
Định kiến nhật xuất thanh.

Bố-Đại ngừng lại hỏi Mỹ-Linh:

– Con nhí. Hiểu không?

Mỹ-Linh đáp:

– Đệ tử thấy nghĩa tối quá. Đệ tử hiểu như thề này: đầu rồng nổi lên ở núi lớn. Đuôi rồng dấu sự thịnh vương. Mười tám người sẽ thành công.

Cây đào hiện ra hình rồng. Trong tháng thỏ, gà, chuột, sẽ thấy mặt trời mọc lên trong trẻo.

Bố-Đại võ tay vào bụng kêu bồm bộp:

– Đại sơn long đầu khởi, chỉ vào việc Lê Hòan lên ngôi vua vào năm Canh-thìn (980). Suốt thời gian hai mươi bốn năm thịnh vượng. Cho đến cuối năm Giáp-thìn (1004) linh khí hết. Đó là năm vua Lê lâm bệnh, rồi năm sau băng. Thập bát tử thành để chỉ họ Lý. Chữ Lý gồm chữ thập, chữ bát , chừ tử . Đào thụ hiện long hình, chỉ vào việc Tín-nghiã hầu Đào Cam-Mộc, người khuyên Lý Công-Uẩn lên ngôi vua. Thố, kê, thử nguyệt nội. Thố là con thỏ, kê là con gà, thử là con chuột. Câu này ý nói trong tháng thỏ tức tháng hai, tháng gà tức tháng tám, tháng chuột tức tháng mười một. Trong ba tháng đó, nhà Lý dựng nghiệp, như mặt trời mọc lên trên bầu trời trong sáng.

Mỹ-Linh được nghe về nguồn gốc sự dựng nghiệp của ông nội mình, nàng không ngờ ngài La-qúi-An sống trước ông nội trên trăm năm mà đã biệt việc mai sau. Nàng hỏi:

– Bấy giờ có ai giải được ẩn nghĩa này không?

– Không. Ngài La Quí-An còn quyên góp vàng bạc, đem chôn, dặn đệ tử khi nào có cuộc khởi binh, hãy mang ra dùng.

Thiệu-Thái hỏi:

– Đại sư nói rằng thế đất đó do phái Tiêu-sơn trông coi. Trong chùa lúc nào cũng có hàng trăm đệ tử, thế thì ai đến thế đất đó mà táng được?

Bố Đại cười:

– Thế mà tổ tiên họ Lý táng được mới kỳ. Nguyên ông thân sinh ra Lý Công-Uẩn không biết họ gì. Ông là người làm ruộng cho chùa. Một ngày ông làm ruộng xong, mệt quá, lại nhân trời lạnh, ông thấy một hàng rào, rào xung quanh một cái hố. Ông vào đó nằm ngủ, rồi chết luôn. Mối đùn đất lên che phủ người ông. Chiều người nhà không thấy ông về, đi tìm, mới hay ông chết. Các tổ Tiêu-sơn thấy vậy, cho rằng ông có phúc được hưởng. Lệnh lấy đất đắp quanh mộ để bảo vệ. Vì vậy con cháu mới phát lên được. Bấy giờ Công-Uẩn mồ côi cha, được sư điệt ta là Lý Khánh-Vân nhận làm con nuôi, cho y mang họ Lý. Do ngôi mộ của bố phát phúc Uẩn mới phát lên được. Sau này Công-Uẩn lên ngôi vua truy phong cho bố làm Hiển-khánh đại vương. Y là người hiếu thuận, nên không trở lại họ mình, vẫn giữ họ Lý của nghĩa phụ.

Thiệu-Thái hỏi:

– Khi ngoại tổ của đệ tử được trời táng vào thế đất đó, hào quang ắt chiếu lên mây. Người Hoa họ không biết sao? Họ biết chắc sẽ tìm mà phá chứ?

Bố-Đại lắc đầu:

– Phá sao được, vì đệ tử Tiêu-sơn có hàng nghìn, võ công cao cường. Sau khi ngôi mộ kết phát, đem đêm thần linh tụ hội, chầu vào đó. Vạn-Hạnh nhập thiền xuất hồn, được thần linh ban cho bốn bài thơ. Để ta đọc cho mà nghe.

Ngài đọc lớn:

Chính Nam Phù-ninh hộ trạch thần,
Vinh thế nam nữ xuất đa nhân.
Thiên-đức phú quí mãn ốc thịnh,
Bát phương, hội nữ thường xuất quân.

Mỹ-Linh nghe xong, mắt nàng sáng ngời:

– Như vậy thần linh báo trước việc ông nội đệ tử được thần nhân phù trợ.

Thiệu-Thái ngơ ngác hỏi:

– Mấy câu thơ trên nghĩa là gì vậy?

Mỹ-Linh giảng:

– Hướng chính Nam của đất Thiên-đức là Phù-ninh, có thần bảo hộ. Thiên-đức tức là châu Cổ-pháp, lộ Bắc-giang, quê của ông nội. Bốn câu này ý nói: ở hướng chính Nam là đất Phù-ninh có thần bảo hộ. Trai gái đều có tài làm vẻ vang cho đời. Trai ý chỉ vào ông nội cùng Vũ-Uy vương, Dực-Thánh vương. Còn nữ ý chỉ thái cô Tịnh-Huyền. Đất Thiên-đức khắp mọi nhà đều giầu sang thịnh vượng. Khi ngôi sao nữ xuất hiện giữa tám phương trời ắt thánh quân xuất hiện. Câu này em không hiểu.

Bố-Đại gật đầu:

– Con nhí không hiểu à? Tám phương là gì? Chính là Càn, Khảm, Cấn, Trấn, Tốn, Ly, Khôn, Đòai. Sao nữ ứng với cung Khôn là phương Nam, tức năm Bính-ngọ (1006) năm mà Lý Công-Uẩn được phong chức tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ.

Mỹ-Linh nghe Bố Đại nói về nguồn gốc tổ tiên mình, nàng mới rõ nguyên nhân tại sao ông nội nàng lại tôn trọng đạo Phật như thế. Nàng hỏi:

– Thái sư thúc tổ.Như vậy người là đệ tử của tổ La Quý-An sao?

– Đúng. Sư phụ ta có bốn đệ tử. Đứng đầu là Thiền-Ông thứ đến Sùng-Phạm, Pháp-Bảo. Ta nhỏ nhất. Ngay từ khi sư phụ ta còn tại thế. Người thấy nếu cứ thu đệ tử tăng-lữ, làm sao có nhân tài cứu nước. Từ đấy người ra lệnh cho các đệ tử thu thực nhiều tục gia đệ tử. Do vậy mới có nhiều anh tài cho cuộc khởi binh của Dương Diên-Nghệ, Ngô Quyền, Đinh Tiên-Hoàng. Nhất là đủ nhân tài giúp Lê Hoàn đánh Tống cùng giúp Lý Công-Uẩn lập thành triều đại lâu dài. Từ những việc ấy, người đời dùng danh xưng thầy tăng mở nước để nói về cuộc mưu phục hồi đất Việt lâu dài của phái Tiêu-sơn.

Mỹ-Linh tìm thấy ở Bố Đại hòa thượng tính hồn nhiên như trẻ con. Tên sư tổ, sư phụ, ông gọi thẳng ra, chẳng kiêng cữ gì cả. Ông nội nàng đường đường đương kim thiên tử, mà ông cũng gọi tên tục, không úy kị.

Nhà sư nhìn qua cửa sổ:

– Có lẽ sắp Ngọ rồi đấy. Các người mau ra cửa hang đi. Sẽ có người đem cơm cho các người ăn. Ăn xong rồi vào đây nói truyện với ta.

Mỹ-Linh cùng Thiệu-Thái trở ra. Cửa hang không rộng cho lắm. Cánh cửa bằng những song sắt lớn hơn ngón tay cái. Ngoài song cửa, ánh nắng hè chiếu xuống rằng cây xanh biếc. Gió núi thổi vào đem theo hương thơm hoa rừng ngào ngạt. Thiệu-Thái hỏi Mỹ-Linh:

– Em thử đóan xem Nguyên-Hạnh có giết bọn mình không?

– Giết. Nhất định y phải giết. Bằng không chúng mình thoát ra được, y sẽ bị tru di tam tộc. Hoặc nhẹ ra cũng bị xẻo từng miếng thịt một. Luật bản triều đối với tội phản quốc nặng lắm.

Mỹ-Linh nói sẽ:

– Bây giờ em cứ giả tảng như còn bệnh nàm dài ra đây. Anh cũng phải giả vờ lo lắng, để đánh lừa tụi nó. Theo như bà Đỗ Lệ-Thanh, tối thế nào bọn chúng cũng phải đến đem bà đi coi Nguyên-Hạnh với Cao Thạch-Phụng hành lạc. Bấy giờ chúng phải qua chỗ chúng mình. Anh em mình nhân đó đào thóat.

Mỹ-Linh giả bộ nằm dài ra, thiêm thiếp ngủ. Còn Thân Thiệu-Thái ngồi ôm gối, ủ rũ.

Không cần chờ lâu, đúng như lời Bố Đại đoán, có một toán thiếu-nữ Hồng-hương đi cùng Cao Thạch-Phụng gánh cơm, nước đến cho tù nhân. Bọn thiếu nữ đem để những bát cơm, bình nước trước cửa các nhà tù. Khi chúng tới cửa phòng giam Mỹ-Linh, thì Cao Thạch-Phụng dòm vào hỏi:

– Thằng đần kia. Con nha đầu ra sao?

Thiệu-Thái thở dài:

– Còn ra sao nữa! Mửa ra máu, hơi thở yếu ớt không biết có qua khỏi đêm nay không?

Cao Thạch-Phụng nhìn vào, thấy quần áo Mỹ-Linh bê bết những máu. Y thị tin liền, sai thiếu nữ Hồng-hương để cơm trước cửa cho hai người rồi đi. Hai người lấy cơm ra ăn. Đợi trời tối lại vào trong nói truyện với Bố-Đại hòa thượng. Thiệu-Thái chỉ sang phòng bên cạnh hỏi Bố Đại:

– Đại sư. Còn ai bị giam bên này vậy?

– Sư huynh của ta đó. Người có pháp danh Sùng-Phạm.

Mỹ-Linh hỏi lại:

– Là thái sư thúc tổ Sùng-Phạm. Tại sao Nguyên-Hạnh lại giam người?

– Vì y điên. Sư huynh cũng như ta luyện được thuật xuất hồn. Nguyên-Hạnh muốn chúng ta truyền cho y. Nhưng y ngu qúa. Thuật này chỉ có người giác ngộ đắc đạo mới học được. Chứ còn người như y tham, sân, si đầy rẫy làm sao xuất được? Vì vậy y giam chúng ta hòai.

Mỹ-Linh nắm lấy tay Bố Đại giật mạnh:

– Thái sư thúc tổ. Vì người xuất hồn được, nên biết hết mọi việc của đệ tử phải không?

– Đúng. Cách đây mấy tháng, ta xuất hồn đi chơi, thấy con bé đến chùa, ta sợ con bé bị Nguyên-Hạnh hại. Ta xuất hồn theo sát. Tất cả những việc con bé làm ta đều biết hết.

Bây giờ Thiệu-Thái mới hiểu tại sao lúc chàng vừa vào ông đã biết

hết truyện của mình. Ông ở trong phòng, xuất hồn, thấy rõ tình trạng Mỹ-Linh. Chàng thấy hối hận đã nghĩ oan cho ông.

Bố Đại vỗ bụng bồm bộp:

– Con bé có biết không? Lần trước ba đứa vào rừng săn gà, nai nướng ăn. Các người ngồi sờ sờ ra đó, bị người ta cắt mất nửa con nai mà không biết. Con bé có biết ai làm truyện đó không?

Mỹ-Linh nhớ ra truyện cũ, nàng hỏi:

– Đúng rồi, hôm ấy đệ tử cùng Thanh-Mai, Bảo-Hòa, ăn gà xong rồi, quay lại mất nửa con nai nướng. Không biết ai ăn vụng. Thái sư thúc tổ có biết quái nhân nào không?

– Ta biết người cắt nửa con nai nướng. Người đó chỉ cắt, mà không ăn vụng. Vì y ăn chay.

– À, một hoà thượng? Không biết pháp danh thế nào?

– Còn ai vào đấy nữa. Thằng cu con Lý-long-Bồ nhờ Huệ-Sinh theo dõi, rồi trong khi bọn ba đứa không để ý, y cắt nửa con nai.

Nghe Bố-Đại nói Mỹ-Linh cảm động trong lòng:

– Chú ta thực chu đáo. Chú ẩn thân, làm bọn Tống không biết đâu mà lường. Chú nhờ thân mẫu Bảo-Hòa ra lệnh cho bọn ta dò thám. Dù bọn ta có làm lộ ra, thì bọn Tống vẫn tưởng rằng lệnh của cô ta. Rồi sợ chúng ta không an tâm, người bầy ra trò ú tim trộm thịt nai, như vậy chúng ta biết có cao nhân người nhà bên cạnh, an lòng hành sự.

Thiệu-Thái ngơ ngẩn xuất thần:

– Xuất hồn như vậy có khác với chết không nhỉ?

Bố Đại cười khúc khích:

– Con lợn ơi. Xuất hồn là khi những người tu Thiền đắc quả. Hồn rời khỏi xác bay đi khắp bốn phương. Khi muốn, lại trở về nhập vào xác. Còn chết là khi cơ thể mục, một trong các bộ phận bất tòan. Bấy gìơ hồn mới lìa khỏi xác, phiêu phiêu tưởng tưởng rồi đi đầu thai.

Mỹ-Linh chợt nhớ lại một lần nàng thảo luận với sư-phụ, và thái-cô về các thiền sư Tiêu-sơn đắc đạo. Hôm nay gặp Bố Đại hòa thượng, nàng phải hỏi cho rõ ràng hơn:

– Thái sư thức tổ. Kiếp trước thái sư thúc tổ là ai vậy?

– Ta là ta. Mà ta cũng chẳng là ai hết. Hết thảy đều là không. Ta định khi nào cái xác này mục, ta sẽ đầu thai trở lại, làm người Việt nữa, quyết xây dựng đất nước này cho chắc, rồi mới đi luôn. Cũng như gã Minh-Không, chưởng môn phái Tiêu-sơn. Gã nguyên sinh tại Tây-trúc, là một Bồ-tát đại đệ tử của Như-Lai tên Tu-bồ-Đề.

Nghe đến tên Tu-bồ-Đề, Mỹ-Linh bật lên tiếng kinh ngạc:

– Tu-bồ-Đề à? Không ngờ ngài cũng giáng sinh vào Đại-Việt. Hạnh nguyện của ngài ra sao?

– Con nhí ngạc nhiên lắm sao? Ta cho mi biết tất cả mười đệ tử của Như-Lai đều thay nhau đầu thai vào Đại-Việt. Minh-Không này mới là Minh-Không thứ nhất. Y sẽ còn đầu thai hai kiếp liên tiếp nữa, cũng giữ nguyên pháp danh.

Ông chỉ vào phòng giam Sùng-Phạm:

– Sư huynh ta hồi này thần rất tốt, mà thể không khá. Người định xuất hồn đi luôn. Ngặt vì một đời luyện Thiền-công, khi không bỏ đi thì tiếc. Vì vậy người định tìm lấy một xác nào khỏe mạnh, cho hết công lực. Người có duyên ấy phiêu bạt lên Bắc-biên, bây giờ mới tới.

—Mỹ-Linh nghĩ đến một truyện:

– Thái sư thúc tổ. Ví thử bây giờ người chờ lúc Nguyên-Hạnh ngủ, người đuổi hồn hắn ra, nhập vào xác hắn có được không?

– Không được. Hồn chúng ta xuất ra chỉ có thể tìm những trẻ vừa sinh ra, có xác mà không hồn, nhập vào.

Có tiếng trầm trầm trong phòng Sùng-Phạm vọng ra:

– Con nhí không hiểu gì cả. Để ta nói cho mà nghe.

Ông vẫy tay gọi Thân Thiệu-Thái:

– Người lại đây.

Cái vẫy của ông làm Thiệu-Thái không tự chủ được, người chàng bị kéo về phía ông. Ông cầm tay chàng. Tay bóp vào huyệt Nội-quan. Người chàng bủn rủn không còn lực. Ông gật đầu:

– Thực là đại duyên, ta mới gặp con. Thời gian của ta chẳng còn được bao lâu nữa, để ta nói cho con nghe về việc xuất hồn đầu thai. Phàm khi người ta chết đi. Hồn phách phơi phới, u u mê mê, rồi đi đầu thai. Đầu thai vào cơ thể mới, ít người nhớ lại được tiền kiếp. Chỉ những người tu thiền lâu, hoặc linh mẫn, kiếp sau còn nhớ được một phần những gì kiếp này biết. Còn nếu tu đắc qủa, xuất hồn, khi nhập xác trẻ sơ sinh, mình vẫn còn nhớ hầu hết những gì kiếp trước. Nhưng ở trong xác trẻ, phải chịu cái thơ ấu của xác, nói không được. Rồi lúc lớn lên mới xử dụng kiến thức kiếp trước cộng với kiến thức thu thập kiếp này. Tuổi để hồi tưởng hòan toàn kiếp trước thường từ 12 tới 16. Tuổi đó mình nhớ hết bố, mẹ, anh, em, thầy, học trò, cũng như kẻ thù.

Ông vỗ tay lên vai Thiệu-Thái:

– Ta bị Nguyên-Hạnh giam, bởi kiếp trước ta đã bắt giam con chồn hôi trong hang đá. Kiếp này nó đòi nợ. Ta phải trả. Nếu ta chống lại, các kiếp kế tục nó sẽ đòi ta nữa.

Ông vỗ vai Thiệu-Thái:

– Hôm nay, ta tìm được con, thu con làm đệ tử, ta mừng lắm. Xác ta mục quá rồi, ta phải xuất hồn đi luôn. Tuy nhiên ta tiếc công lực tu luyện từ sáu tuổi. Bây giờ bỏ xác ra đi, uổng phí quá. Vậy ta cho con hết. Con hãy quì xuống làm lễ bái sư đi.

Thiệu-Thái quì xuống lạy tám lạy, gọi:

– Đại sư, cháu không thể bái đại sư làm sư phụ được. Vì cháu đã có sư phụ rồi. Sư phụ của cháu là ông nội cháu. Nếu cháu bái đại sư làm sư phụ, e ông nội cháu đánh chết.

Sùng-Phạm mỉm cười:

– Đành vậy. Tiểu thí chủ. Bàn tăng thấy tiểu thí chủ có nhiều phúc trạch quá, nên đem một trăm năm công lực truyền cho thí chủ. Vậy thí chủ hãy quì xuống thề rằng sẽ dùng công lực này khuông phò Đại-Việt, cùng cứu khốn phò nguy.

Thiệu-Thái định từ chối, nhưng chàng thấy Mỹ-Linh nháy mắt ra hiệu, chàng đành nói:

– Không cần đại sư truyền công lực, suốt đời cháu cũng chỉ lo bảo vệ Đại-Việt.

– Tốt quá! Tốt quá. Thí chủ ngồi lại đây, bần tăng nói cho nghe.

Thiệu-Thái ngồi gần lại bên cửa của Sùng-Phạm. Ông cầm tay chàng bắt mạch, rồi nói:

– Thí chủ đã luyện tập võ công Tây-vu. Võ công Tây-vu khởi từ thời vua Bà, lấy leo trèo, bay nhảy, bắt chước thú rừng làm khởi điểm. Sau này kiêm thêm một ít võ công Tản-viên. Trải trên ngàn năm qua, các đời sau nghiên cứu rộng thêm ra, mà thành hệ thống. Hà khó quá.

Bố-Đại hòa thượng cười toe toét:

– Khó mà thành được, mới đúng hạnh ngộ.

Mỹ-Linh hỏi:

– Thái sư thúc tổ, tại sao lại khó?

– Sư huynh ta muốn đem trăm năm công lực rót vào người con lợn. Con lợn không cần luyện tập, có công lực mạnh ngang với bọn ta. Nhưng có nhiều cái khó khăn. Một là Thiền-công Tiêu-sơn từ trước đến giờ chia thành hai phần. Một phần dạy cho bất cứ người nào luyện cũng thành. Thằng cu Lý Công-Uẩn, Lý Long-Bồ luyện loại này. Đó là Thiền-lực. Còn một loại nữa chỉ truyền cho đệ tử xuất gia, bao gồm Thiền-lực lẫn Thiền-tuệ. Công lực của sư huynh ta thuộc loại này. Khi luyện Thiền-tuệ cần phải ăn chay.

Mỹ-Linh à lên một tiếng:

– Đệ tử hiểu rồi. Thiền-công trong người sư thúc tổ là Thiền-công của người ăn chay. Bây giờ truyền vào cơ thể anh Thiệu-Thái, e có chỗ không ổn.

Đỗ Lệ-Thanh nói vọng sang:

– Nếu bây giờ lão hòa thượng kia truyền hết Thiền-công cho anh cô. Thiền-công đó sẽ giống như vàng ma đem chôn cất, như người mặc áo gấm đi đêm, không phát huy được.

Bố-Đại tiếp:

– Lẽ không ổn thứ nhì là con lợn chưa qui y Tam-bảo, cũng chưa luyện Thiền-công, thành ra không biết phát lực, ví như đứa trẻ ngồi bên kho gạo, mà chịu chết đói vậy.

Ông nói với sư huynh:

– Ta cần người có tâm đạo. Con lợn có tâm đạo là đủ. Nó lại phúc trạch không chừng. Biết đâu sau này không gặp cơ duyên nào đó, giải được hai điều khó khăn kia?

Sùng-Phạm hít một hơi chân khí, hai tay nắm song sắt kéo mạnh. Song sắt dãn ra. Ông chuồn sang hang đá cả Thiệu-Thái. Đỗ-Lệ-Thanh nói vọng sang:

– Đại sư. Đại sư kéo song sắt cứu đệ tử với!

Sùng-Phạm vẫy tay:

– Thí chủ đừng vội. Vận hạn thí chủ còn ba ngày nữa mới hết. Sau ba ngày đó, tự nhiên có người đến cứu thí chủ.

Ông bảo Thiệu-Thái:

– Con ngồi yên. Nếu thấy trong người ngứa ngáy cũng không được chống lại, không được lên tiếng.

Nói dứt lời ông bảo Thiệu-Thái xòe bàn tay ra. Ông ấp hai bàn tay vào bàn tay chàng:

– Con buông lỏng chân khí, nhắm mắt lại.

Thiệu-Thái vừa nhắm mắt, chàng cảm thấy người như đi trên mây, khi nóng, khi lạnh. Cứ như thế kéo dài cho đến khi chàng mê đi không biết gì nữa. Rồi chàng mơ mơ tỉnh tỉnh thức dậy.

Trước mặt chàng, Mỹ-Linh đang quỳ gối đọc kinh. Bên kia Bố Đại hòa thượng cũng đang đọc kinh vãng sinh. Chàng hỏi Mỹ-Linh:

– Cái gì đã xẩy ra?

Mỹ-Linh khóc:

– Thái sư thúc tổ Sùng-Phạm muốn thoát hồn đi lâu rồi. Ngặt vì người tiếc gần một trăm năm luyện Thiền-công, bỏ đi thì tiếc. Người có ý tìm một thân thể khỏe mạnh truyền cho, rồi nhập diệt. Người tìm thấy anh, truyền cho anh hết công lực. Người sắp đi rồi.

Thiệu-Thái nhìn lại quả thấy xác Sùng-Phạm vẫn ngồi trong tư thế Kiết-già. Miệng nở nụ cười từ ái. Chàng qùi gối xuống lễ tám lễ, rồi khấn:

– Sư phụ dạy rằng sư phụ sẽ trở lại làm người Đại-Việt để xây dựng đất nước. Con xin nguyện sẽ đem tất cả tâm trí ra giữ gìn non sông này.

Sùng-Phạm nói rất nhỏ:

– Thân thí chủ, ta đọc cho người nghe một bài sấm ký, khi ta xuất hồn lần đầu, đã khải ngộ, làm ra. Người theo đó, mà biết lẽ biến động của trời đất.

Ngài đọc, thanh âm rất nhỏ:

Thụ mộc diểu diểu,
Mộc biểu thanh thanh,
Hòa đao mộc lạc,
Thập bát tử thành.
Đông-a nhập địa,
Dị mộc tái sinh.
Chấn cung hiện nhật.
Đoài cung ẩn tinh.
Lục thất niên gian,
Thiên hạ thái bình.

Thiệu-Thái ngơ ngác, hỏi:

– Đại sư, đệ tử không hiểu ý nghĩa mấy câu kệ này.

Sùng-Phạm đọc sang tiếng Việt:

Gốc cây thăm thẳm,
Cành cây xanh xanh,
Cây lê ngã xuống,
Mười tám người thành.

Điều này ứng rồi đó. Thụ là cây. Căn là gốc. Thọ căn là gốc cây. Trong một nước cũng giồng như cây. Vua là gốc cây. Diểu đồng âm với yểu. Yểu là chết non. Mộc biểu thanh thanh là cành cây tươi tốt. Cành cây là quan, là bầy tôi. Thanh còn đọc là thinh, đồng âm với chữ thịnh. Như vậy một trong các bầy tôi sẽ lên làm vua. Hòa đạo mộc lạc nghĩa là chữ hòa hợp với chữ đao chữ mộc thành chữ Lê . Như vậy là nhà Lê xuống. Thập bát tử là chữ Lý . Vậy mấy câu này ứng với việc nhà Lê mất ngôi về nhà Lý.

Đến đó tiếng ngài nhỏ dần, trên môi ngài nở nụ cười, mắt nhắm lại. Một tia sáng chói từ đỉnh đầu Sùng-Phạm vọt ra cửa, có tiếng kêu o o vang dội.

Mỹ-Linh hỏi:

– Thái sư thúc tổ, rồi sao nữa?

Không thấy ngài trả lời. Bố-Đại hoà thượng lâm râm đọc kinh vãng sinh, ngài bảo Mỹ-Linh:

– Sư huynh ta đi rồi. Ta thấy điểm sáng bay về phương Bắc. Giờ này người đã nhập vào một hài nhi mới sinh. Một kiếp luân hồi bắt đầu. Người cũng sẽ gặp các con sau mười sáu năm.

Mỹ-Linh bắt mạch Sùng-Phạm, quả nhiên đã hết nhảy. Nàng cùng Thiệu-Thái quì xuống lễ tám lễ. Thiệu-Thái khấn:

– Đệ tử nay mắn được Bồ-tát ban cho một trăm năm công lực. Đệ tử nguyện dùng công lực này vào việc bảo vệ Đại-Việt như tâm nguyện của Bồ-tát.

Mỹ-Linh chỉ song sắt nói:

– Thái sư thúc tổ quả thực có tâm bồ đề. Nếu người không muốn giải nghiệp, Nguyên-Hạnh làm sao có thể giam người.

Thiệu-Thái hỏi Mỹ-Linh:

– Bài ký của Bồ-tát, ý nghĩa ra sao?

Mỹ-Linh suy nghĩ, rồi lắc đầu:

– Khó hiễu quá. Thái sư thúc tổ chỉ giải nghiã bốn câu đầu. Còn bốn câu sau nghĩa như thế này: Đông a nhập địa, nghĩa là cành Đông rơi xuống. Nhưng chữ đông với chữ a hợp lại thành chữ Trần. Như phái Đông-a, có nghĩa là phái võ họ Trần. Đông-a nhập địa là gì? Thì khó mà đoán được. Đến câu dị mộc tái sinh có nghĩa một cây mới sẽ tái sinh, vậy đó là cây mận, cây lê, em đóan bấy giờ họ Lý hoặc họ Lê lại nắm quyền. Còn mấy câu sau, em chịu.

Bố-Đại cười:

– Có thế mà cũng không hiểu. Cung chấn là phương Đông. Chấn cung kiến nhật, là Đông phương lại thấy chính vị thiên tử xuất hiện. Đoài cung ẩn tinh, có nghĩa phương Tây một giòng họ nào đó lùi vào bóng tối. Lục, thất niên gian, là trong khỏang sáu, bẩy năm nữa. Thiên hạ thái bình, đất nước sẽ thanh bình.

Mỹ-Linh xịu mặt xuống, nàng cầm tay Bố-Đại hoà thượng:

– Thái sư thúc tổ. Nghĩa như thế, nhưng thực tế, thời cuộc ra sao?

– Ra sao, thì cũng an bài rồi. Biết trước để làm gì. Sau khi rời đây, con nhí, con lợn sẽ gặp nhiều vấn đề nan giải. Ta nhắc lại, dù sao cũng không sợ. Họ Lý cường thịnh đến trên hai trăm năm mà.

Bố-Đại bảo Thiệu-Thái:

– Thời cơ đã đến rồi, người bẻ song sắt đi.

Thiệu-Thái hít hơi, vận sức bẻ thử. Song sắt chỉ hơi chuyển động. Bố Đại cười:

– Con lợn ơi là con lợn. Thiền công của sư huynh ta thuộc vô nhân tướng công Vậy người phải tập trung tinh thần, bỏ ra ngoài nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt thân, ý, công lực mới phát ra được.

Thiệu-Thái cố gắng nhắm mắt bỏ hết Lục-tặc ra ngoài rồi vận lực sức kéo mạnh. Hai cái song từ từ trở lại vị trí cũ.

Bố Đại lắc đầu:

– Nếu con lợn hiểu được hết lẽ nhân, ngã tứ tướng người chỉ sẽ kéo một cái, các song sắt bị gẫy liền.

Thiệu-Thái quỳ gối:

– Xin Đại-sư từ bi hỷ xả thương xót đệ tử chỉ cho thấy rõ cái lý về tính không.

Bố Đại vỗ tay vào vai Thiệu-Thái:

– Con lợn nói câu đó là hết lợn tính rồi. Người giác ngộ mau thực.

Mỹ-Linh nghe anh nói câu đó, nàng cũng mừng, vì chàng thoát khỏi cái u mê của chúng sinh.

Bố Đại giảng:

– Ta đã giảng trong kinh Bát-nhã, Kim-cương, Lăng-gìa đều nói về tính không. Ta cũng nói đạo đức Thế-tôn tuy có hàng vạn pháp môn, nhưng thu về chỉ một mối. Cũng như đức Thế-tôn dạy đạo của ta không có chỗ khởi đầu, cũng không có chỗ tận cùng là thế.

Thiệu-Thái tỉnh ngộ, gật đầu liên tiếp, tỏ vẻ hiểu biết. Ngược lại Mỹ-Linh ngơ ngác không hiểu gì.

Bố Đại tiếp:

– Từ khi đức Thích-ca mâu-ni đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi đi thuyết pháp trong mấy chục năm. Thường người nào có nhân duyên, chỉ nghe qua, là vào cửa Bồ-đề liền. Trong khi người thông minh, nghe lại không giác ngộâ được. Như khi ngài Tăng-gỉa Nan-đà thuyết pháp tại hồ Động-đình, thông minh tuyệt thế như Trưng Nhị lại không giác ngộ được. Trong khi Phật-Nguyệt, Trần Năng ngộ ngay. Lại như trong trận đánh đồi Vương-sơn. Hiện diện có hàng trăm người. Thế mà ngài tụng kinh Lăng-gìa, Bát-nhã lên, duy Trần Năng giác ngộ, áp dụng vào việc xử dụng thần công tại chỗ. Còn lại đều không thấu được. Cũng như việc tổ Pháp-Hiền đắc pháp vậy… con nhí hiểu chưa? Con nhí học nhiều, cực kỳ thông minh, nhưng vô duyên, nên không hiểu. Còn con lợn, tuy ngu tối, nhưng có duyên, độp một cái hiểu liền.

Thiệu-Thái hỏi:

– Bạch đại-sư, truyện tổ Pháp-Hiền đắc pháp ra sao?

Bố Đại bảo Mỹ-Linh:

– Con nhí nói cho con lợn nghe đi.

Mỹ-Linh đã nghe nói hàng trăm lần giai thoại này, nàng thuật:

– Ngày nọ, Bồ-tát Tỳ-ni Đa-lưu-chi đến Đại-Việt. Sau khi vân du khắp nơi, ngài nghe nói chùa Pháp-vân nơi hòa thượng Pháp-Duyên làm phương trượng, có hơn ba trăm tăng chúng tu học. Ngài chống gậy tới tìm người thừa kế tâm ấn. Tới nơi, ngài rung chuông. Chú tiểu Pháp-Hiền chạy ra mở cổng. Chú thấy một hòa thượng da đen, biết ngài từ Tây-Trúc qua. Chú thụp xuống lạy. Bồ-tát hỏi:

– Chú tiểu tên gì?

Pháp-Hiền hỏi lại:

– Thầy tên gì?

Bồ-tát lại hỏi:

– Chú tiểu có tên không?

Pháp-Hiền đáp:

– Tên thì ai mà chẳng có. Đố thầy biết tôi tên gì?

Ngài quát lên:

– Biết để làm gì?

Pháp-Hiền tỉnh ngộ, quỳ xuống lạy, và được truyền tâm ấn.

Bố Đại hỏi Thiệu-Thái:

– Lợn hiểu không.

Thiệu-Thái cung kính thưa:

– Bạch đại-sư. Bồ-tát muốn biết tổ Pháp-Hiền đã thoát ra khỏi cái vòng nhân ngã tứ tướng đầu tiên là ngã tướng chưa, mới hỏi Chú tiểu tên gì.Quả nhiên ngài Pháp-Hiền còn trong vòng u mê, còn nguyên sắc tướng. Ngài coi cái tên quan trọng vô cùng, nên hỏi Hòa thượng tên gì. Bồ-tát muốn thử lại một lần nữa Chú tiểu có tên không?. Không những tổ Pháp-Hiền chưa thoát khỏi u mê, coi cái tên quá quan trọng, hỏi Đố thầy biết tôi tên gì?. Bồ-tát mới quát lên Biết để làm gì?. Bấy giờ tổ mới tỉnh ngộ, quỳ xuống lạy.

Bố Đại giảng tiếp:

– Cái tính không là thế. Trong nhân ngã tứ tướng thì Ngã tướng tức tướng của mình quan trọng hơn hết. Nếu có bỏ ra được cái ta, xóa cái ta đi, mới không có cái người tức Nhân tướng. Khi không có nhân tướng, đương nhiên không có nhiều nhân tướng. Nhiều nhân tướng tức thành Chúng sinh tướng. Cho nên Thiền-công nhà Phật có ba lọai. Một là Vô ngã tướng tưởng bị thất truyền. May đâu còn chép trong di thư Lĩnh-Nam, mà con nhí học được. Hai là Vô nhân tướng truyền vào Trung-nguyên qua ngài Bồ-đề Đạt-ma, và truyền vào Đại-Việt qua ngài Tỳ-ni Đa-lưu-chi. Còn Vô chúng sinh tướng thần công là tổng hợp của Vô ngã tướng và Vô nhân tướng. Trước kia tưởng thất truyền vì Vô ngã tướng không còn. Nay tìm lại được, hợp với Vô nhân tướng thì coi như không mất.

Mỹ-Linh hỏi:

– Thái sư thúc tổ. Xin người chỉ cho đệ tử phương pháp hợp hai thức nhân, ngã lại.

Bố Đại cười:

– U mê. U mê. Giác ngộ phải tự mình chứ ai dạy được? Phàm phép tu Phật, đắc pháp là đắc pháp, chứ làm gì có sắp đắc pháp, họăc đắc pháp một nửa họăc đắc pháp chút chút.

Thiệu-Thái đến trước cửa sổ của Bố-Đại, chàng nói vọng vào:

– Đai-sư. Đệ tử bẻ song cho đại-sư ra. Chúng ta cùng đi tìm Nguyên-Hạnh tính tội y.

Bố Đại cười:

– Con lợn. Nếu ta muốn ra, ta bẻ lấy không được sao? Ta cứ ngồi đây cho đến khi nào hết nghiệp quả thì thôi.

Mỹ-Linh bảo Thiệu-Thái:

– Trước khi sư phụ xuất hồn, người dặn rằng anh phải nhắc tảng đá bên kia, bỏ nhục thể người vào đó.

Thiệu-Thái đến bên tảng đá lớn. Chàng hít một hơi chân khí, không tâm đẩy mạnh. Viên đá từ từ lui sang một bên, để hở ra một hang động vuông vức mỗi chiều khoảng mười thước. Chàng kính cẩn mang nhục thể sư phụ bỏ vào đó, rồi đẩy tảng đá che lại.

Vừa lúc đó có nhiều tiếng chân người đi lại. Tiếng Nguyên-Hạnh hỏi:

– Thằng cha Sùng-Phạm đâu rồi?
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103105
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49567 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » May 29th, 2017, 11:33 am


HỒI THỨ HAI MƯƠI TÁM

Nga Sơn Khoái Lạc


Mỹ-Linh nhanh nhẹn, giả vờ bị bệnh nằm dài trên tảng đá.Thân Thiệu-Thái lại ôm gối ủ rũ nhìn trời. Nguyên-Hạnh không thấy Sùng Phạm đâu y hỏi Bố Đại hòa thượng:

– Sư phụ. Sư bá đâu rồi.

Bố Đại cười hềnh hệch:

– Vẫn còn đâu đó.

Cao Thạch-Phụng nghe nói bực mình:

– Thôi đi anh. Em không muốn nhìn cái thằng bụng bự này chút nào cả.

Nguyên-Hạnh lấy chìa khóa mở cửa sắt. Y vào trong hang đá tìm kiếm vết tích Sùng-Phạm. Tìm một lúc y hỏi Thạch-Phụng:

– Các song sắt vẫn y nguyên. Không lẽ y có phép tàng hình.

Nói rồi y kiểm sóat lại các phòng giam. Không thấy mất người nào, y yên tâm hỏi lại Thạch-Phụng:

– Em có thả y ra không?

Thạch-Phụng nhăn mặt:

– Em cũng đang định hỏi anh câu đó.

Nguyên-Hạnh chạy sang cửa giam Thiệu-Thái:

– Thân thế tử. Người có thấy nhà sư gầy ở bên cạnh không?

Thiệu-Thái gật đầu:

– Có. Tôi thấy ông ngồi Kiết-gìa, rồi người cứ nhỏ dần lại. Cuối cùng ông chui qua song cửa, đi mất.

Thạch-Phụng hơi tin:

– Có thể y luyện thành phép co xương cũng nên.

Nguyên-Hạnh liếc nhìn vào trong hang hỏi:

– Thế nào Thân thế tử, người vẫn bình thường chứ? Trong mấy tháng qua người là khách qúi của bản tự. Thế mà đêm ngày người cứ tưởng nhớ cô công chúa thiên kim Bình-dương. Bây giờ bần tăng cho người sống chung với công chúa, chắc người vui lòng lắm?

Cao Thạch-Phụng nhìn Thiệu-Thái, lòng đầy thù hận:

– Mi sướng nhé. Hãy cùng con nha đầu hưởng thú Vu-sơn đi, rồi ta sẽ cho tụi bay về bên kia thế giới. Đúng ra mi là cháu nội của một đệ nhất cao thủ võ lâm Thân Thiệu-Anh, con của vua Bà 207 khê động Bắc-biên. Chúng ta không dại gì mà gây hấn với họ. Nhưng mi biết hết bí mật của chúng ta. Chúng ta phải giết mi để phi tang.

Y thị chỉ Mỹ-Linh:

– Huống hồ con nha đầu kia là cháu yêu của Lý Công-Uẩn. Hai đứa bọn mi đẹp thế này mà giết đi thực uổng.

Hai người bàn truyện một lúc rồi sóng vai ra đi. Đỗ Lệ-Thanh bảo Thiệu-Thái:

– Thế tử. Xin thế tử cứu tôi ra khỏi đây. Tôi nguyện sẽ đem hết tất cả những bí mật của cách trị cùng xử dụng Nhật-hồ độc chưởng truyền cho thế tử.

Thiệu-Thái lắc đầu:

– Tại hạ không thích học độc chưởng, mà chỉ muốn học cách chữa mà thôi. Đỗ phu nhân, tại hạ hứa cứu phu nhân ra khỏi đây.

Đỗ Lệ-Thanh mừng rú:

– Thế tử. Bây giờ chúng ta phải hành động như thế này. Nếu thế tử bẻ song sắt, chúng ta thoát ra. Nguyên-Hạnh biết đại sự bị lộ, ắt y trốn biệt. Vậy ngay đêm nay thế tử ra ngoài kiếm lấy bốn người đem vào đây. Chúng ta giam họ vào các hang động, rồi chất củi đốt. Khi Nguyên-Hạnh hay tự sự, tới nơi quan sát. Y cho rằng Thạch-Phụng thiêu chúng ta. Y yên tâm. Trong khi đó chúng ta trốn ra ngoài, công chúa đem đại binh đến bắt hết đồ đảng của chúng.

Thiệu-Thái định lắc đầu từ chối mưu kế này, vì chàng không muốn giết người. Nhưng Mỹ-Linh đã gật đầu:

– Mưu kế của phu nhân hay thực. Bây giờ chúng tôi cần dò thám tình hình của Nguyên-Hạnh đã.

Trời đã tối hẳn. Thiệu-Thái vận khí bẻ cong song sắt. Chàng với Mỹ-Linh chuồn ra ngòai. Hai người hướng chỗ có ánh sáng lần tới. Thiệu-Thái vừa nhảy một cái, người chàng vọt lên cao, súyt nữa chạm vào cành cây, rồi từ từ rơi xuống như chiếc lá. Chàng kinh ngạc, dừng lại tự hỏi:

– Tự nhiên sao ta lại nhảy cao thế này? Ta chết rồi thành ma chăng?

Chàng hít hơi nhảy cái nữa. Lần này người chàng vút lên trên không. Chàng đáp vào cành cây nhẹ như con chim. Chàng hỏi Mỹ-Linh:

– Mỹ-Linh, cái gì vậy?

Mỹ-Linh vẫy chàng nhảy xuống rồi nói:

– Anh quên mất rằng trong người anh có 100 năm công lực của sư tổ Sùng Phạm à?

Thiệu-Thái chợt hiểu. Hai anh em dắt nhau hướng dãy nhà có ánh sáng lần tới. Đây là ngôi nhà lợp ngói, tường gạch rất đẹp. Trong có nhiều tiếng nhã nhạc vang lừng. Hai người khẽ nhún chân một cái, đáp nhẹ nhàng trên mái ngói. Thiệu-Thái vận sức vào ngón tay, từ từ chọc thủng hai lỗ cho chàng với Mỹ-Linh nhìn xuống.

Trong phòng, hơn mười cái bàn. Cái nào cũng đầy các món ăn trân qúi. Sau mỗi bàn một cắp trai gái ôm nhau. Liếc qua,Thiệu-Thái thấy có Nguyên-Hạnh với bọn Triệu Thành. Còn bọn Chiêm-thành, Lão-qua không có mặt. Chàng đưa mắt tìm, không thấy Minh-Thiên đâu.

Ngoài trừ Nguyên-Hạnh ôm Cao Thạch-Phụng. Còn bọn Triệu Thành, đều ôm gái trong lòng. Mỗi người còn có một thiếu nữ đứng cạnh rót rượu hầu. Đối diện với dãy bàn, có khoảng hai mươi thiếu nữ đang tấu đủ các thứ nhạc khí. Mỹ-Linh nhìn cảnh đó, nàng chửi thầm:

– Bọn Tống đáng chết thực. Chúng mưu tính kế họach lâu dài, gửi vợ chồng Nguyên-Hạnh sang đây lập nghiệp trước. Chúng đội lốt cao tăng, còn ai dám đụng đến chúng nữa. Thế lực Hồng-hương, Sơn-tĩnh của chúng thực không nhỏ. Nếu ta có tố cáo, chưa chác ông nội đã tin. Mà dù có tin, khó mà người dám thẳng tay với chúng.

Tay cầm chung rượu uống, tay ôm thiếu nữ Hồng-hương trong lòng, Triệu Thành hỏi Nguyên-Hạnh:

– Này Long-biên quốc công. Người thử nghĩ coi, lúc ra đi ta đâu có ngờ thành công đến độ này. Ta mang theo hơn trăm nén vàng, tiêu vung vãi, chỉ hết có mười nén. Trong khi bọn Chiêm, bọn Lão dâng ta không biết bao nhiêu ngọc ngà. Chỉ nguyên mặt này ta lời gấp ngàn lần. Nhà Đại-Tống ta mất có mấy tờ giấy, lập tức khiến cho bọn Lào đánh bọn Lào. Bọn Chiêm đánh bọn Chiêm. Bọn Việt đánh bọn Việt. Đợi cho chúng chém giết nhau chán, ta tung mẻ lưới, ba nước trở thành quận huyện Đại-Tống.

Nguyên-Hạnh cười nhe hàm răng cải mả ra:

– Hôm rồi vương gia gỉa phong cho tiểu nhân làm Thông-huyền bồ-tát và phong cho Thạch-Phụng làm Túc không quan-âm bọn chúng tưởng tiểu nhân thành Bồ-tát, Túc-không thành Quan-âm thực.

Đông-Sơn lão nhân gật đầu:

– Trong khi chức tước thực của đại nhân là Long-biên quốc công, Đô nguyên soái. Giao-chỉ kinh lược sứ.

Địch Thanh hướng vào Nguyên-Hạnh:

– Đô nguyên-soái. Khi mới sang, tiểu tướng nghe nói đô nguyên-sóai học được thuật Liên-thành kỵ mã và Nga môn khoái lạc. Xin Nguyên-soái đừng tiếc công chỉ dạy.

Triệu Thành phụ họa:

– Phải đấy hôm nay ghi ngày thành công, Nguyên-soái bầy cho chúng ta chơi một bữa thực thỏa thích.

Nguyên-Hạnh cười nhe hàm răng vổ ra trông thực khả ố:

– Được, được, tiểu tướng đã chuẩn bị sẵn rồi.

Y ngừng lại uống một chung rượu rồi tiếp:

– Trước hết xin nói về Nga-môn khoái lạc. Nga tức là con vịt hay con ngỗng. Nga môn là dùng hậu môn con vịt, hay con ngỗng làm chỗ giao-hoan.

Vương Duy-Chính ngẩn người ra:

– Giao hoan với ngỗng?

– Đúng. Khi một người đàn ông, một vì cao niên, hai vì sức kiệt, truyện phòng sự ngày một yếu, phải dùng pháp này mà trị. Ngoài ra người khỏe mạnh dùng pháp này ắt khoái lạc không thể tưởng được. Trước hết mua con vịt hoặc ngan, họăc ngỗng thực lớn, về tắm rửa sạch sẽ. Sau đó để cho thực đói. Lúc sắp giao hoan đem ra đổ rượu thực đầy bụng vịt. Cuối cùng, cần hai người. Mỗi người đứng một bên bàn giữ một chân, một cánh cho vịt không dãy được. Người muốn giao hoan đem đương vật nhét vào đít vịt. Một người cầm dao nhắm đầu vịt chặt một nhát sao cho đầu vịt đứt thực ngọt. Con vịt bị đứt đầu, nhưng vẫn chưa chết. Nó dãy dụa một lúc lâu sau mới ngừng. Khi nó dãy dụa, con người giao hoan sướng không thể nào tả siết.

Triệu Anh hỏi:

– Thế những người đàn ông lệ chảy chứa chan ngoài quan ải thì làm sao hưởng được thú này?

Nguyên-Hạnh ngơ ngác:

– Cái gì mà Lệ chảy chứa chan ngoài quan ải?

Cả bọn Triệu Thành cười ồ lên. Triệu Huy giảng:

– Tức bọn chưa đến chùa đã đọc kinh.

Nguyên-Hạnh vẫn lắc đầu không hiểu:

– Chưa đến chùa đã đọc kinh à? Thiếu gì người đọc kinh ngoài đường.

Triệu Huy nói nhỏ:

– Ý tôi muốn nói những người bị bệnh gà?

Nguyên-Hạnh cau mày:

– Ho gà à?

Biết Nguyên-Hạnh dốt nát, Triệu Huy giảng:

– Khi người đàn ông nhậy cảm, chưa chui đầu vào hang đã xuất tinh, được gọi là khóc ngoài quan ải, hoặc chưa đến chùa đã đọc kinh. Hoặc như con gà trống đạp mái, nhảy lên lưng con mái, rồi xuống ngay. Vì vậy tôi mới hỏi: lỡ ra khi con vịt vừa dẫy mấy cái, tinh xuất ra, còn ích lợi gì nữa?

Nguyên-Hạnh cười:

– Dĩ nhiên, nó dẫy mấy cái tinh xuất. Sau khi tinh xuất dương vật chúng ta bị teo lại. Thế nhưng đít vịt cũng khép chặt. Dương vật vẫn bị giữ chặt. Con vịt dãy dụa, chỉ mấy cái dương vật lại cử lên. Lần này mới thú tuyệt, phải lâu lắm tinh mới xuất ra. Trong khi đó, con vịt rung rung, cảm giác đến tuyệt vời.

Nguyên-Hạnh hỏi:

– Có vị nào muốn thưởng thức Nga môn khoái lạc trước?

Dư Tĩnh đứng lên:

– Xin nguyên soái cho tiểu tướng thưởng thức trước.

Nguyên-Hạnh vẫy tay một cái, từ trong nhà, bốn thiếu nữ Hồng-hương thướt tha bước ra. Hai người mặc quần áo đỏ chói. Một người xách con ngỗng, một người xách con dao với cái thớt. Hai người nữa mặc quần áo xanh. Dường như quen thuộc với lối hành lạc này. Các thiếu nữ hầu rượu cũng như các thiếu nữ nằm trong tay đàn ông… đều dửng dưng đưa con mắt nhìn. Một thiếu nữ áo xanh kéo ra cái bàn với cái ghế thấp. Nàng kính cẩn tới trước Dư Tĩnh cúi rạp người xuống:

– Kính thỉnh đại nhân lên đỉnh Vu-sơn.

Nàng hướng dẫn Dư Tĩnh đến ngồi trên chiếc ghế, khoan thai cởi quần, áo y ra, rồi hất hàm ra lệnh. Lập tức hai thiếu nữ áo hồng nhanh nhẹn để con ngỗng nằm sấp. Hai nàng chia nhau, mỗi người cầm cánh và chân con ngỗng, giữ chắc. Con ngỗng kêu lên mấy tiếng lớn. Nó nào có hiểu số phận đen tối của nó!

Một thiếu nữ áo xanh hai tay căng miệng con ngỗng ra. Một nàng khác cầm chung rượu đổ vào miệng nó. Sau khi đổ hết một bình rượu rồi, lui lại. Một thiếu nữ áo đỏ hướng vào Dư Tĩnh:

– Kính thỉnh đại nhân.

Dư Tĩnh cầm qui đầu nhét vào đít con ngỗng. Một thiếu nữ áo xanh nhanh nhẹn đè cỗ con ngỗng xuống, rồi vung dao. Bộp một tiếng đầu con ngỗng đứt rời. Thân nó dẫy lên đành đạch. Nhưng hai thiếu nữ áo đỏ gĩư chặt quá nó vẫn không bị văng khỏi vị trí.

Dư Tĩnh ngả người trên ghế. Y nghiến răng thực chặt. Hai mắt lim dim như đưa hồn vào giấc mộng. Khoảng ăn xong bữa cơm, con ngỗng không còn dãy dụa nữa. Dư Tĩnh đứng dậy. Bọn Tống nhao nhao hỏi:

– Thế nào? Cứ nhìn đôi mắt lim dim, chúng ta cũng biết khoái lạc đến cực điểm.

Dư Tĩnh mỉm cười:

– Tuyệt! Tuyệt! Không thể tưởng tượng nổi.

Y lết chân trở về chỗ ngồi.

Nguyên-Hạnh đứng lên, cầm hũ rượu mầu nâu rót đầy vào một chung lớn. Y bưng đến trước mặt Dư Tĩnh:

– Nào mời kinh lược sứ cạn chung này.

Dư Tĩnh bưng chung rượu uống cạn. Y thở ra thực mạnh:

– Chà rượu ngon quá.

Nguyên-Hạnh cười:

– Sau khi hưởng Nga môn khoái lạc xong, phải uống rượu tắc-kè, sức lực mới mau bình phục. Bình rượu này tôi ngâm bằng 36 con tắc kè vùng núi Nga-sơn đấy. Các vị nên biết tắc kè bổ dương cực kỳ mạnh. Phàm lão ông bẩy tám chục tuổi, chỉ cần ăn ba con tắc kè vẫn có thể nghênh chiến với mấy cô thanh nữ liền. Trong con tắc kè quan trọng nhất là cái đuôi, để mất cái đuôi, coi như…mất phân nửa hiệu qủa. Trong bình rượu này tôi còn ngâm thêm Sà sàng tử nữa. Sà-sàng-tử vừa bổ thận vừa thanh não, khiến tinh thần minh mẫn.

Triệu Thành gật đầu:

– Hay tuyệt. Thế còn thuật Liên-thành kỵ mã thế nào?

Nguyên-Hạnh kính cẩn đứng lên:

– Thuật này còn có tên là Thất tinh liên thành kỵ mã. Trên thượng giới có bẩy ngôi sao, kết thành chòm Bắc-đẩu. Dưới đất chúng ta có núi, sông, hồ, cây, thú, nước, lửa. Hợp trên với dưới là ứng với thiên tượng. Phép hành lạc này cần tới bẩy cô trinh nữ. Nếu không đủ bẩy trinh nữ thay bằng bẩy thiếu nữ cũng được. Các thiếu nữ phải không bệnh tật. Trước khi hành lạc cho ăn uống toàn những thứ bổ âm như yến-sào, thục-địa, kỷ-tử nấu với lươn, hay cá trê. Sau khi ăn trong bẩy ngày, bắt đầu hành lạc.

Đông-Sơn lão-nhân hỏi:

– Trường hợp không có đủ bẩy thiếu nữ, cũng không có đủ các vị thuốc nuôi thiếu nữ thì sao?

– Cũng được. Song chỉ khoái lạc, mà sức khỏe cũng như trường sinh bất lão không đạt được.

Nguyên-Hạnh vẫy tay. Từ bên trong, bẩy thiếu nữ tuổi còn rất trẻ, mặc quần lụa đen, áo mầu vàng lợt, cúi đầu bước ra, đứng giữa nhà. Y chỉ bẩy thiếu nữ:

– Bẩy tiểu cô nương này, tôi đã đem về đây từ hơn tháng nay, nuôi toàn bằng các vị bổ, để đợi vương gia cùng các vị từ Chiêm-quốc cùng nhau …hưởng. Ngày nào tôi cũng cho tắm nước suối, đi dạo trong vườn đầy hoa, để hấp mùi hương. Bây giờ bắt đầu. Chúng ta cũng phải bẩy người. Ở đây có tới tám người. Tôi đã hưởng nhiều rồi, xin để lúc khác. Mỗi vị chọn lấy một cô nương. Sau đó chúng ta làm thành vòng tròn. Cứ một vị cô nương, một vị xen vào. Nào mời.

Triệu Thành chọn trước, rồi tới Đông-Sơn lão nhân. Người cuối cùng không được chọn, phải nhận thiếu nữ còn lại là Triệu Huy. Nguyên-Hạnh cho cô gái của Triệu Thành đứng đầu. Triệu Thành đứng sau cô. Kế tiếp cô của Đông-sơn lão nhân, rồi tới lão. Cứ như thế cuối cùng Triệu Huy đứng trước cô gái của Triệu Thành. Vòng tròn Thiên-cương đã thành.

Nguyên-Hạnh vẫy tay. Các cô gái hầu rượu bưng rượu, rót ra chung đưa tận miệng cho bẩy gã đàn ông uống. Rượu cạn, Nguyên-Hạnh vỗ tay:

– Tất cả ngồi xuống.

Vòng tròn Bắc-đẩu đang từ vị thế đứng, hóa ra vị thế ngồi. Nguyên-Hạnh hô:

– Thoát y.

Bẩy thiếu nữ áo xanh chạy ra cởi quần áo cho bẩy gã đàn ông.

Nguyên-Hạnh nói:

– Mỗi vị hãy cho miệng vào âm-khẩu thiếu nữ của mình. Hai tay vòng ra ôm lấy đùi họ.

Trong khi bọn đàn ông làm theo lệnh Nguyên-Hạnh, bẩy thiếu nữ hé miệng trái đào ngậm vào qui đầu của người ngồi trước mình.

Thế là 14 người, cứ một nam, lại một nữ hút khí của nhau. Trong khi đó, cuối phòng gần hai chục thiếu nữ tấu nhạc. Nguyên-Hạnh đắc chí đưa mắt nhìn Cao Thạch-Phụng. Mặt y thị trông thực khó coi, mắt lườm lừơm nhìn Nguyên-Hạnh.

Thời gian trôi qua, khoảng gần nửa giờ (giờ cổ bằng hai giờ ngày nay). Cái vòng Bắc-đẩu đứt ra làm bẩy khúc. Các cô gái đã buông bẩy gã đàn ông ra. Chỉ còn bẩy gã bám các nàng mà hút.

Nguyên-Hạnh hô:

– Ngừng.

Y bưng rượu mời bẩy gã đàn ông uống:

– Chắc các vị đã được đàn bà mút qui đầu. Sau khi họ mút xong, các vị mệt nhừ. Nhưng hôm nay, ngược lại các vị cảm thấy khoẻ mạnh, tinh thần sảng khoái phải không. Đó là sự khác biệt giữa hành lạc thông thường với Thất tinh liên thành kỵ mã. Tối nay, mỗi vị ôm cô gái của mình mà giao hoan.

Thiệu-Thái định rủ Mỹ-Linh dò thám chỗ khác, thì không thấy nàng đâu. Nguyên Mỹ-Linh là công chúa, cành vàng lá ngọc, từ bé nàng sống đạo đức trong cung cấm, không được gặp đàn ông. Những người đàn ông nàng gặp toàn thái-giám hoặc anh em ruột. Từ khi theo Khai-quốc vương đi ra ngoài, tuy có gặp đàn ông nhưng cũng chưa từng nghe người nào nói tục. Nay phải chứng kiến cảnh dâm đãng cùng cực. Nàng bỏ ra đầu mái nhà ngồi.

Thiệu-Thái vẫy Mỹ-Linh, bỏ dãy nhà này, hướng dẫy nhà phía sau lần tới. Bên trong có nhiều tiếng nói vọng ra. Hai người núp sau cửa sổ dòm vào. Có tiếng người nói rì rầm. Trong phòng, có hơn mười cái giừơng, trên giừơng đều có người nằm, trùm mền kín mít rên rỉ. Thiệu-Thái tự hỏi:

– Không biết đây là chỗ Nguyên-Hạnh diễn trò ma trò qủi gì mà lại có những người bị thương tích thế này.

Một người đàn ông mở cửa bước vào. Y đi khắp các giường bắt mạch từng người một, rồi đến cái bàn, mở bình lấy thuốc, cậy miệng từng người một bỏ vào. Thiệu-Thái đoán đó là thầy lang trị bệnh. Lát sau Cao Thạch-Phụng vào. Y thị hỏi:

– Thế nào. Bao nhiêu người chết rồi?

– Chín người chết. Còn lại mười một người này e cũng khó qua khỏi.

Cao Thạch-Phụng hừ một tiếng, rồi nói:

– Hôm qua, ta sai hai mươi thiếu niên Hồng-hương theo dõi bọn khách bán thuốc rong suốt một ngày. Chiều họ trở về còn khỏe mạnh. Không hiểu sao sáng nay, khám phá ra chín người chết, mười một người bị thương đang trong tình trạng hấp hối.

Thầy lang chỉ vào những người bệnh:

– Thưa Quan-âm, những người này người đều đỏ như son, mũi, mồm, mắt ứa máu ra không ngừng. Tiểu nhân không biết họ đã trúng phải chưởng lực gì kỳ lạ. Chưởng này chưa từng xuất hiện ở Đại-Việt, nên tiểu nhân đành bó tay.

Có tiếng chân người đi tới. Nguyên-Hạnh bước vào. Y hỏi:

– Sự thể ra sao?

Cao Thạch-Phụng lắc đầu:

– Hai đội Hồng-hương thiếu niên được lệnh theo dõi bọn khách bán thuốc dạo. Chiều về còn khỏe mạnh. Đến sang nay khám phá ra chín người chết, mười một người trong tình trạnh nửa sống nửa chết.

Nguyên-Hạnh lật mấy người bị thương lên coi. Mặt hắn tái đi, lùi lại:

– Nhật-hồ chu-sa độc chưởng.

Cao Thạch-Phụng cau mày:

– Chưởng này ra sao, em chưa từng nghe qua.

Nguyên-Hạnh ra lệnh cho thầy lang ra khỏi phòng, rồi nói:

– Chưởng này nguyên của bang Nhật-hồ do họ Đỗ ở Trường-bạch độc bá biết luyện. Năm xưa bang trưởng Đỗ Ngạn-Tiêu danh trấn Trung-nguyên với 18 chưởng độc. Đỗ Ngạn-Tiêu là cha của mụ đó.

Thạch-Phụng run run:

– Không lẽ bang-trưởng Nhật-hồ biết truyện sai người sang đây trả thù cho mụ?

– Khó mà đoán được nguyên ủy vụ này. Người của bang Nhật-hồ thường sống bằng nghề bán thuốc dạo, nay đây, mai đó. Ta đoán chừng hôm qua đám trẻ theo dõi họ, đã xẩy ra đụng chạm gì đó. Họ là khách đến Đại-Việt, không dám đối đầu ban ngày, nên nhẫn nại, đến đêm tìm vào trả thù.

Thạch-Phụng hơi có vẻ tin tưởng:

– Trước đây anh với mụ cùng là sư huynh, sư đệ đồng môn. Anh biết xử dụng chưởng này, hẳn biết cách chữa trị chứ?

– Không. Chưởng luyện rất khó. Khi đánh trúng người ta, mặt mũi đỏ như gấc. Sốt ly bì. Sau ba ngày hết sốt. Từ đấy cứ mỗi ngày lên cơn một lần. Khi lên cơn người đau nhức như muôn nghìn mũi kim đâm vào, muốn chết không được, muốn sống không xong. Phải có thuốc giải của bang Nhật-hồ mới trị được. Ta chỉ biết xử dụng. Còn mụ biết chế thuốc giải. Vì vậy ta mới giam mụ, để tra hỏi phép chế thuốc giải độc.

Mỹ-Linh ôn lại kỷ niệm cũ, nàng thấy Nguyên-Hạnh nói sai .Vì vương mẫu của nàng bị trúng Chu-sa độc chưởng, mà sao mặt bà không đỏ gay như y nói. Vậy có thể bà bị trúng chưởng độc, hoặc độc chất khác cũng nên.

Nguyên-Hạnh vung tay, vỗ vào đầu mười một người bệnh, mỗi người một chướng. Những người này rung động một cái, đầu bẹp đi, mắt lồi ra. Máu me tràn ra miệng. Thạch-Phụng kinh ngạc:

– Tai sao anh lại giết những người này?

Nguyên-Hạnh thở dài:

– Đằng nào họ cũng chết. Chi bằng để họ chết sớm như vậy còn hơn họ sống trong đau đớn. Thôi chúng ta đi.

Hai người sóng vai ra ngòai.

Mỹ-Linh ghé vào tai Thiệu-Thái:

– Chúng ta đem năm cái xác này, bỏ vào thạch động, chất củi đốt đi, rồi thả Bố Đại hòa thượng với Đỗ Lệ-Thanh ra. Như vậy, Nguyên-Hạnh tưởng tất cả mọi người chết cháy. Không chừng y còn tưởng đó là thủ đọan của bang Nhật-hồ cũng nên.

Thiệu-Thái gật đầu đồng ý. Hai người vọt vào nhà, lấy chăn cuộn năm xác chết lại đem về hang. Bố Đại thấy hai người về, ông bẹo tai Mỹ-Linh:

– Mưu với mẹo. Mi mang đi năm xác chết, ắt Nguyên-Hạnh phải điều tra, như vậy mưu này cũng như không.

Thiệu-Thái sợ sệt:

– Sư thúc, người lại xuất hồn theo đệ tử rồi.

Bố Đại hít hơi, vận sức, ông bẻ cong cửa sắt, nhảy ra ngoài. Đỗ Lệ-Thanh kinh ngạc:

– Bồ-tát, người thừa sức thoát khỏi nơi đây mà người không muốn.

Bố Đại vỗ bụng:

– Vì ta mắc nghiệp với Nguyên-Hạnh, nên phải chịu cho đủ thời gian. Bởi vậy ta mới nói: Ta tự đến chứ Nguyên-Hạnh đâu có giam ta.

Ông quay lại bảo Thiệu-Thái:

– Mi có tiền duyên với Đỗ phu nhân, mau cứu người, gây nhân tốt.

Thiệu-Thái vâng dạ, tiến lên đứng trước song nói vọng vào:

– Đỗ phu nhân. Vâng lệnh đại sư, tại hạ cứu phu nhân đây.

Nói rồi chàng hít hơi, vận sức, bẻ cong song sắt. Đỗ Lệ-Thanh nhảy ra ngoài. Bà xụp xuống đất lạy Bố Đại:

– Nam-mô Di-lặc tôn phật.

Bà quay lạy Thiệu-Thái. Thiệu-Thái phẩy tay một cái, kình lực nhu hòa đỡ bà dậy, chàng nhũn nhặn nói:

– Đỗ phu nhân, đại sư Bố-Đại nói, phu-nhân với tại hạ có tiền duyên mà. Đã có tiền duyên thì đâu cần lễ nghi, ơn nghĩa?

Đỗ Lệ-Thanh ứa nước mắt nói:

– Thế tử. Suốt bao năm bị giam trong hầm đá, nhục nhằn, khốn khổ vô cùng. Trong khi bị giam, tiểu nữ đã nguyện rằng sau này ai cứu tiểu nữ thóat khỏi cảnh giam cầm này, trọn đời xin làm nô bộc hầu hạ. Vì vậy tiểu nữ mong thế tử thu nạp cho.

Thiệu-Thái lắc đầu:

– Tại hạ… tại hạ làm sao mà dám thu nhận phu nhân làm nô bộc?

Bố Đại kéo tai Thiệu-Thái:

– Con lợn ơi. Vua cũng thế, quan cũng vậy. Chủ với tớ chẳng qua là cái tiếng gọi. Chứ mi với Đỗ phu nhân có duyên từ bao kiếp. Đã là duyên mà chối e mất hết cái may mắn sau này.

Thiệu-Thái tỉnh ngộ, chàng nắm tay Đỗ Lệ-Thanh:

– Anh em tại hạ được Đỗ phu nhân theo giúp còn gì hay bằng.

Mỹ-Linh hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

– Đỗ phu nhân. Có thể nào người trúng Chu-sa độc chưởng mặt không đỏ, mà vẫn lên cơn đau đớn rồi chết chăng?

– Không. Thưa công chúa, Chu-sa chưởng mà. Chu là đỏ. Trúng chưởng người phải đỏ lên chứ! Công chúa đã từng nghe nói về chưởng này rồi ư?

Mỹ-Linh tường thuật về cái chết của vương mẫu nàng với cái chết của Hồng-Sơn phu nhân cùng tương tự, rồi hỏi:

– Có thể nào vương mẫu của tại hạ cũng như Hồng-Sơn phu nhân bị Nguyên-Hạnh đả thương không?

Đỗ Lệ-Thanh nói:

– Tiểu tỳ bị giam trong này chín năm rồi. Biến chuyển bên ngoài hòan toàn mù tịt. Vương-mẫu cũng như Hồng-Sơn phu nhân bị nạn cùng trong một năm, có thể do cùng một người hại. Còn người đó có phải Nguyên-Hạnh hay không tiểu tỳ không biết. Có một điều tiểu tỳ cam kết đúng là y không biết chế thuốc giải. Vì vậy không có việc y khống chế hai vị. Vì muốn khống chế phải có thuốc giải.

Ám ảnh vương mẫu bị Nguyên-Hạnh hại, lại biến mất trong đầu óc Mỹ-Linh.

Đỗ Lệ-Thanh chỉ năm cái thây:

– Nào chúng ta cho thây vào từng phòng một.

Miệng nói, bà đem thây bỏ vào phòng mình, phòng Sùng Phạm, phòng Bố Đại, còn hai cái bỏ ở ngoài. Bà bảo Thiệu-Thái:

– Ân công. Chúng ta ra ngoài lấy củi chất vào phòng.

Bốn người ra ngoài. Trước hang có hai đống củi lớn. Mỹ-Linh vui vẻ:

– Đúng là duyên. Chứ không tại sao họ chặt củi để sẵn đây?

Sau khi chất củi xong. Đỗ Lệ-Thanh nói với Thiệu-Thái:

– Xin ân công vận sức bẻ song sắt lại như cũ. Như vậy Nguyên-Hạnh mới không nghi ngờ.

Thiệu-Thái đánh lửa, chất cỏ châm vào củi. Trong khi Mỹ-Linh đọc kinh vãng sinh. Phút chốc ngọn lửa cháy bùng lên. Đỗ Lệ-Thanh vận khí hướng vào ngọn lửa. Chưởng phong nhè nhẹ phát ra gió. Ngọn lửa bốc cháy xanh lè, hơi nóng mạnh vô cùng. Năm tử thi cháy khét lẹt. Mỹ-Linh thấy ngọn lửa nóng khác thường, nàng biết trong chưởng của Đổ-lệ-Thanh có gì khác lạ:

– Đỗ phu nhân. Phải chăng chưởng của phu nhân là Nhật-hồ chu-sa độc-chưởng?

– Đúng đó. Trong chưởng có độc tố. Vì vậy ngọn lửa nóng gấp một trăm lần ngọn lửa thường. Công chúa! Bây giờ chúng ta phải đi đốt mấy căn nhà để xác bọn thiếu-niên Hồng-hương. Bằng không chúng thấy thiếu năm xác chết sinh nghi ngờ, mưu cơ mất linh diệu.

Thiệu-Thái phục Đỗ-lệ-Thanh kinh lịch hơn chàng nhiều. Chàng hướng phía căn nhà chứa xác chết phóng hỏa, rồi dùng chưởng phát nhè nhẹ cho cháy thực mau.

Ngọn lửa bốc cao làm bọn thiếu-niên hồng hương thức giấc, chúng đánh trống báo động, kéo nhau đi cứu hỏa.

Đỗ Lệ-Thanh chỉ con đường mòn lên đỉnh núi:

– Đây là con đường mật. Chúng ta phải theo lối này thoát ra phía trước chùa, rồi về trấn Thanh-hóa.

Đỗ Lệ-Thanh đi trước, Thiệu-Thái, Mỹ-Linh theo sau. Bố Đại hòa thượng cười khềnh khệch thủng thẳng bước đi. Tới đỉnh cao nhất, Đỗ Lệ-Thanh ngừng lại chỉ xuống dưới sườn núi:

– Kia là chùa Sơn-tĩnh. Dường như trong chùa có sự, nên đánh chuông họp tăng chúng. Thân thế-tử, chúng ta trở về trấn hay trở về chùa?

Mỹ-Linh chợt nhớ đến Thanh-Mai, Bảo-Hòa chờ ở bên bờ hồ, không biết sự thể ra sao. Bất giác nàng ngửa mặt lên trời tìm tông tích chim ưng, nhưng không thấy. Đỗ Lệ-Thanh bàn:

– Bây giờ trong đầu óc Nguyên-Hạnh tưởng chúng ta chết cháy cả rồi. Chi bằng trở về trấn Thanh-hóa. Công-chúa đem đại binh đến vây chùa Sơn-tĩnh bắt hết dư đảng Hồng-hương thực hay hơn hết. Nhưng thôi, chúng ta tạm nghỉ dưỡng thần đã. Mệt lắm rồi.

Mỗi người kiếm một hốc đá, nhắm mắt dưỡng thần.

Tiếng chim rừng hót líu lo, làm Thiệu-Thái tỉnh giấc trước. Không thấy Bố Đại đâu, chàng lên tiếng gọi:

– Đại sư! Đại sư!

Không có tiếng đáp lại. Chàng đến chỗ ông nằm, chỉ thấy chiếc lá cây lớn, trên viết mấy chữ :

Con lợn, con nhí. Hãy cố gắng lo cho Đỗ phu nhân. Mau trở về Thăng-long. Có nhiều người mong. Ta đi.

Cạnh đó vẽ một ông già bụng phệ, miệng cười toe toét.

Đỗ Lệ-Thanh đã thức giấc từ bao giờ. Bà tiếp chiếc lá cây trên tay Thiệu-Thái, ngơ ngẩn xuất thần:

– Di-lặc bồ-tát lại ra đi rồi. Không biết bao giờ mới gặp người.

Thiệu-Thái ngơ ngác hỏi:

– Phu nhân. Tại sao phu nhân lại gọi người là Di-lặc bồ-tát?

Đỗ Lệ-Thanh ngậm ngùi đáp:

– Thế tử không đọc kinh Phật nên không biết đấy thôi. Bất cứ vị Bồ-tát nào cũng phân thân ra muôn vàn vị khác nhau độ cho chúng sinh. Bố Đại hòa thượng nguyện kiếp này và những kiếp sau đầu thai làm người Việt, giúp cho nước thoát khỏi cảnh bị Bắc-phương cai trị, đó là Phật tính. Phật tính thuộc về đức Di-Lặc. Thế thì ngài hiện thân của Di-Lặc bồ-tát rồi còn gì nữa?

Thiệu-Thái ngơ ngác nhìn Mỹ-Linh cầu cứu. Vì hơn ai hết Mỹ-Linh quy y từ thửa thơ ấu, lại là đệ tử của Huệ-Sinh, nổi tiếng bác học đương thời. Mỹ-Linh gật đầu:

– Đỗ phu nhân kiến giải như vậy tỏ ra ngộ đạo rồi đó. Để em nói cho anh nghe về Di-Lặc bồ-tát. Anh có biết đương thời đức Thích-ca Mâu-ni có bao nhiêu đệ tử không? Những đệ tử đó là ai?

Thiệu-Thái tỉnh ngộ:

– Anh nhớ rồi, đức Thích-ca có tám đại đệ tử đều thành Bồ-tát là:

1. Văn-thù-sư-lỵ.

2. Quán-thế âm.

3. Đắc-đại-thế.

4. Vô-tận-ý.

5. Bảo-đàn-hoa.

6. Dược-bương.

7. Dược-thượng.

8. Di-Lặc.

Anh biết tên ngài Di-Lặc. Nhưng sao ngài Di-Lặc lại là sư thúc?

Mỹ-Linh nhìn người yêu, lòng thương xót:

– Danh hiệu Di-Lặc dịch sang tiếng Hán-Việt thành Từ hay Từ thị. Ngài còn có tên A-dật-đa dịch sang Hán-Việt thành Vô-năng-thắng. Bồ-tát Ma-ha-tát sẽ đắc đạo thành Phật sau đức Thích-ca Mâu-ni. Đương thời đức Thích-Ca thuyết pháp, ngài Di-Lặc dự thính theo hàng đệ tử .Khi đức Thích-Ca thuyết giảng về kinh Diệu-pháp liên hoa chỉ cho chúng đệ tử biết đường tu luyện thành Phật, ngài Di-Lặc có tham dự. Đức Thích-ca không ngớt lời ca tụng công đức, hạnh từ muôn vàn kiếp trước của ngài Di-Lặc. Đức Thích-Ca cũng cho hay về sau ngài Di-Lặc sẽ đắc đạo thành Phật hiệu Di-Lặc từ-tôn. Tuy ngài là Bồ-Tát, nhưng Phật tử thường gọi ngài bằng danh xưng Di-Lặc Tôn-Phật.

Đỗ Lệ-Thanh nghe Mỹ-Linh giảng, bà gật đầu khoan khoái. Bởi chính bà gọi Bố Đại bằng Di-Lặc Tôn-Phật, mà không rõ tại sao.

Mỹ-Linh tiếp:

– Cách đây năm trăm năm, hai anh em ngài Vô-Trứ, Thiên-Thân, ngồi tham thiền, xuất hồn tới cung đức Di-Lặc, được ngài đem lẽ huyền vi của kinh Đại-thừa giảng cho. Lại cách đây ba trăm năm, ngài Trần Huyền-Trang đời Đường trong khi du hành qua Thiên-trúc, thường niệm danh hiệu Di-Lặc, được ngài độ cho khỏi tai nạn.

Thiệu-Thái cũng như một số đông Phật-tử, tin Phật, lên chùa lễ Phật, song không hiểu được huyền vi của Phật pháp. Chàng ngắt lời Mỹ-Linh:

– Mạ mạ thường nói rằng khi người ta sắp chết, muốn qua thế giới Tây-phương Cực-lạc thì niệm Phật A-Di-Đà. Tại sao vậy?

Mỹ-Linh vỗ tay vào vai Thiệu-Thái:

– Bây giờ anh là đệ tử của ngài Sùng-Phạm, địa vị không nhỏ. Phải học kinh điển đi nghe. Điều cô dạy anh đó, có nói đến trong kinh Dược sư. Kinh Dược-sư dạy rằng người theo Phật, nghe chính pháp mà chẳng định được trí, lúc chết muốn thác sinh cõi Tây-phương Cực-lạc thì niệm danh hiệu ngài Di-Lặc. Ngài sẽ hiện đến hướng dẫn đường về. Đức Di-Lặc luôn phân thân độ chúng sinh, cho đến khi ngài thành Phật.

– Bao giờ ngài thành Phật?

– Kể từ đức Thích-Ca cho đến khi đức Di-Lặc thành Phật là tám triệu, mười vạn, tám ngàn (8.108.000) năm. Đức Phật Di-Lặc đắc đạo rồi sẽ thuyết pháp ba kỳ dưới gốc cây Long-hoa. Cây này hình như con rồng, mà trổ hoa. Còn thái sư thúc tổ Bố-Đại, có hành trạng đâu khác gì Bồ-tát Di-Lặc.

Đỗ Lệ-Thanh quay lại nói với Thiệu-Thái:

– Thân thế tử. Tôi bị giam trong hang đá, nhưng được gần hai vị Bồ-tát mà mình không biết. Khi biết, duyên may qua rồi. Phật Di-Lặc đã dạy thế-tử phải về Thăng-long, ắt người xuất hồn, biết việc ở đấy, thôi mình về Thăng-long đi.

Ba người dùng khinh công hướng trấn Thanh-Hóa. Lúc sắp tới nơi, Đỗ Lệ-Thanh dặn Mỹ-Linh:

– Công chúa. Khi về trấn công chúa làm như không có gì xẩy ra. Chúng ta chờ gặp Khai-Quốc vương rồi hãy hành sự. Người ắt có cao kiến hơn.

Khi trấn Thanh-Hóa đã hiện ra trước mắt, Mỹ-Linh vẫy Thiệu-Thái, Đỗ Lệ-Thanh đi chậm lại. Nàng nói:

– Phải kiếm chỗ nào cho em rửa mặt, chỉnh đốn lại y phục. Chứ người em thế này, vào trấn sao được?

Vừa tới gần đầu một thôn trang, Thiệu-Thái thấy phía trước có một quán ăn. Chàng nói:

– Chúng ta vào đó kiếm cái gì ăn đi.

Chủ quán là một cô gái tuổi khoảng mười bẩy, mười tám. Cô thấy một bà gìa đầu tóc bù xù như dã nhân, một thiếu niên hùng tráng, một thiếu nữ đẹp tuyệt thế. Cả ba quần áo dơ bẩn, cô mở to mắt ra nhìn. Sợ khách không có tiền trả, cô định lên tiếng hỏi, chợt cô nhìn thấy Mỹ-Linh đeo vàng ngọc đầy người. Cô đổi thái độ lễ phép hơn:

– Mời bà với cậu mợ vào ăn sáng.

Thấy cô hàng đang chụm củi đun một nồi bún ốc. Thiệu-Thái nói:

– Cô cho chúng tôi ăn bún ốc được rồi.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái trải qua một đêm hoạt động, bụng đói meo. Hai người ăn thực ngon lành. Còn Đỗ Lệ-Thanh bị giam trên mười năm, bây giờ mới được ăn miếng ngon. Bà ta ăn hết bát này đến bát khác.

Một toán ba người, lưng đeo tay nải bước vào quán. Mỹ-Linh để ý, thấy họ mặc quần áo theo lối khách trú. Trong ba người, một người đàn ông đã già, tướng mạo phương phi. Còn lại là đôi thiếu niên tuổi khoảng hai mươi. Một người to lớn, một người nhỏ bé. Trông thấy anh em Thiệu-Thái, thiếu niên nhỏ người mỉm cười gật đầu chào. Cả bọn ngồi xuống. Họ không ăn bún riêu, mà xin ăn bánh lá khúc. Trong khi ăn họ nói truyện với nhau bằng tiếng Quảng. Mỹ-Linh đưa mắt cho Thiệu-Thái, Đỗ Lệ-Thanh, ngụ ý bảo cứ lờ đi như không biết, không hiểu. Trong câu truyện họ toàn nói về ăn uống, thuốc men, tuyệt không có truyện gì khác. Mỹ-Linh để ý thấy hai lần họ nhắc đến việc đi Thiên-trường.

Trông người đàn ông, cũng như nghe tiếng nói, Mỹ-Linh thấy quen thuộc vô cùng, dường như nàng đã gặp ở đâu rồi. Nàng cố moi óc, xem đã thấy ông ở đâu, mà nghĩ không ra. Cô gái bán hàng dường như quen với ba người khách bán thuốc. Cô hỏi:

– Ông Xồi, mấy hôm nay phát tài không?

Người đàn ông to lớn lắc đầu.

Thiếu niên nhỏ người đáp:

– Mấy hôm nay ế hàng quá. Chú tôi muốn rời Thanh-hóa đi Thiên-trường ngay ngày mai.

Cô gái chỉ thanh niên to lớn:

– Chú Khôi này, sao hôm nay như người buồn ngủ vậy? Mọi ngày chú tía lia lắm kia mà.

Thanh niên to lớn tên Khôi bưng bát nước chè xanh uống cạn:

– Mấy hôm nay chẳng bán được đồng nào, không buồn sao được. Này cô hàng, cô có thể mua dùm tôi chiếc xe ngựa không. Từ đây đi Thiên-trường, đường xa diệu vợi, mà đi bộ thì cậu em tôi đi không nổi đâu.

Cô hàng nhìn thiếu niên nhỏ người:

– Ừ, chú Việt nhỏ người như con gái, đi bộ sao được. Phải có xe chứ. Cô hàng chỉ về hướng Tây:

– Hôm nay có phiên chợ Sơn-tĩnh. Chú đến đấy mà mua xe ngựa, thiếu gì. Ngựa Cửu-chân có tiếng leo núi giỏi nhất Đại-Việt đấy.

Ba người trả tiền, rồi lên đường. Đỗ Lệ-Thanh hỏi cô hàng:

– Này cháu. Cháu quen biết ba người bán thuốc dạo đó lâu chưa?

– Thưa bà cháu mới quen họ trong khỏang ba tháng nay. Họ từ bên Tầu sang đây buôn thuốc dạo. Họ chỉ bán có ba thứ thuốc. Một là thuốc bong gân, cầm máu trị thương. Hai là thuốc trị trúng độc. Bất cứ ong đốt, rắn cắn, nhọt độc nào, chỉ uống thuốc của họ ba ngày thì hết. Thứ ba là thuốc thương phong cảm mạo.

Mỹ-Linh nhìn theo, quan sát dáng di của chú Xồi, nàng chợt á lên một tiếng. Nàng đã tìm ra chú Xồi.

Trong lần bị Đàm An-Hòa bắt đến đền thờ Tương-Liệt đại vương. Giữa lúc Tung-sơn tam-kiệt tìm di thư thời Lĩnh-Nam. Tôn Trung-Từ đưa cuốn sách giả cho Triệu Thành, trên mái nhà có người nhảy xuống đọat sách. Võ công người này rất cao. Một mình thắng Tung-sơn tam-kiệt. Sau người đó bắt Triệu Thành đem đi. Từ ngày ấy Mỹ-Linh không biết người ấy là ai. Hôm nay nàng đã tìm ra manh mối. Thì ra tên Xồi cũng là người Hán sang Đại-Việt mưu truyện gì đây. Có điều người y không cùng bọn với bọn Triệu Thành, tức không phải triều đình nhà Tống.

Mỹ-Linh thúc Thiệu-Thái trả tiền rồi lên đường. Ra khỏi quán, nàng tường thuật mọi sự. Thiệu-Thái chỉ biết nghe, mà không có ý kiến gì. Đỗ Lệ-Thanh nói:

– Không chừng bọn này người Đại-lý hoặc Tây-hạ, Liêu, Kim. Cũng có thể người của bang hội nào bên Trung-quốc. Thôi chúng ta về trấn Thanh-hóa đã.

Còn khoảng mười dặm, tới trấn Thanh-hóa, Mỹ-Linh cảm thấy mỏi chân, mồ hôi vã ra, chợt thấy bên đường có chiếc xe ngựa. Người đánh xe chính đứa trẻ tên Ngô Tuấn. Mỹ-Linh vẫy tay:

– Tuấn. Con có nhận ra cô không?

Ngô Tuấn xuống ngựa cúi đầu hành lễ:

– Khải tấu công chúa, con đón công chúa ở đây từ sáng hôm nay.

Nói rồi nó đưa cho nàng phong thư. Mỹ-Linh cầm lấy xem. Thấy nét bút của chú hai, nàng vội vàng chỉnh đốn y phục lại, mở ra đọc. Trong thư Khai-quốc vương dặn nàng phải lên đường về Thăng-long khẩn cấp, nhất thiết không về qua trấn Thanh-hóa.

Đỗ Lệ-Thanh hỏi:

– Thế nào? Sắc chỉ của hoàng đế hay lệnh của Khai-quốc vương? Chắc của Khai-quốc vương.

Mỹ-Linh kinh ngạc:

– Sao phu nhân biết?

– Công chúa ơi. Công chúa chưa kinh lịch, mà đi ra ngoài, e dễ bị lộ. Có gì đâu mà không hiểu. Hiện trên thế gian chỉ có hoàng-thượng, Khai-quốc vương họăc đại-sư Huệ-Sinh mới khiến cho công chúa chỉnh đốn y phục, rồi đọc thư. Hoàng-thượng đâu có biết công chúa ở đây? Đại-sư Huệ-Sinh chẳng có gì khẩn cấp cần truyền lệnh cho công chúa cả. Vậy thư đó chắc của Khai-quốc vương.

Mỹ-Linh nói:

– Chú hai tôi biết hết mọi truyện ở Sơn-tĩnh. Chú khen ngợi chúng ta hành động khôn khéo. Chú ra lệnh chúng ta phải về Thăng-long ngay. Chú dặn tôi phải giả trai. Mọi người lên đường trước rồi.

Ngô Tuấn đưa ra ba gói hành lý:

– Công chúa, đây là hành lý của công-chúa với thế-tử. Còn đây là quần áo của Đỗ phu nhân.

Đỗ Lệ-Thanh mở bọc quần áo ra.Bất giác gai ốc bà nổi lên.Vì quần áo trong bọc đúng là quần áo của bà mười năm về trước, khi chưa bị Nguyên-Hạnh giam. Nhất là trong đó có bẩy bình thuốc khác nhău mà bà thường dùng. Bà kinh ngạc:

– Ta nghe Thiệu-Thái, Mỹ-Linh ca tụng Khai-quốc vương mưu kế trùm thiên hạ, thần-sầu qủi khốc, không biết đâu mà lường, ta không tin. Nay cứ thấy việc này thì đủ rõ. Quần áo cũ của ta, để trong một căn nhà trong khe núi Hồng-hương, cùng với những bình thuốc này. Đến Nguyên-Hạnh cũng không biết. Thế mà ta vừa mới ra tù, ông biết đã đành. Ông còn cho người lấy quần áo với thuốc cho ta, mới thực là thần sầu.

Ba người kiếm bụi cây thay quần áo. Lần này Mỹ-Linh biến thành một cô gái quê, mặt mũi lem luốc. Thiệu-Thái cũng giả trang thành một thanh niên quê mùa, da mặt vàng vọt. Đỗ Lệ-Thanh vẫn giữ nguyên thân hình một bà gìa, nhưng mụ hóa trang gần như thành một người khác.

Ngô Tuấn nhìn mọi người gỉa trang, nó cười:

– Cháu cũng giả làm đứa trẻ nhà quê.

Nói rồi nó thay quần áo. Đỗ Lệ-Thanh bàn:

– Bây giờ thế này, Thân thế tử với công chúa là anh em cô cậu. Tôi vẫn giữ vị thế theo hầu. Còn cháu bé là cháu gọi công chúa bằng cô. Có như vậy mới qua mặt tai mắt bọn Tống được.

Xe đi trên con đường cái quan, hướng Bắc thẳng tiến. Khi qua núi Thầøn-đầu, chợt một chiếc xe ngựa từ phía sau vượt qua, lên trước. Mỹ-Linh đưa mắt cho Đỗ phu nhân. Vì trên xe chở lão Xồi và anh em Khôi, Việt. Đợi cho xe bọn khách bán thuốc qua rồi, Đỗ Lệ-Thanh nói:

– Lão Xồi là một võ lâm cao thủ. Không biết thằng Khôi có biết võ hay không. Còn đứa con gái tên Việt.

Thiệu-Thái ngạc nhiên:

– Thằng Việt là con gái sao?

– Đúng, gái giả trai. Thế tử không thấy sao, lưng nó tròn, ngực nở, vai tròn. Nó thoa nước hồ cho mặt đen, trong khi đánh xe, nó dơ tay quất ngựa, cổ tay lộ ra trắng ngần. Khi xe gặp chỗ gồ ghề, nếu người thường, thế nào cũng nhảy lên. Thế mà nó vẫn ngồi bất động. Con nhỏ đó võ công không tầm thường đâu. Chúng ta mau đuổi theo. Cẩn thận e không lộ tung tích, phiền lắm.

Ngô Tuấn cho xe chạy thực mau. Phút chốc đã theo kịp xe trước. Nó nói vọng sang với Việt:

– Này anh. Anh đi đâu đây. Không biết có cùng đường với bọn tôi không?

Cô gái giả trai tên Việt mỉm cười:

– Chúng tôi đi Thiên-trường. Nhưng đường lại không biết. Còn chú, chú đi đâu?

Ngô Tuấn chỉ người trên xe mình giới thiệu:

– Đây cô tôi. Còn đây chú hai tôi. Bà này vú nuôi của cô tôi. Chúng tôi đi Thiên-trường, rồi về Thăng-long ăn cưới. Thế thì chúng ta đi cùng đường rồi.

Đến đó, hai cái xe đi chậm lại. Phía trước có mười người, áo nâu quần đen, cổ choàng khăn đỏ, đứng chặn ngang qua đường.

Hai chiếc xe ngừng lai. Một thiếu niên choàng khăn đỏ nói với Thiệu-Thái:

– Mi có phải đồng bọn với tụi Nhật-hồ không?

Mỹ-Linh lắc đầu:

– Tôi không biết Nhật-hồ với Nguyệt-hồ gì cả.

Một thiếu niên khác phất tay:

– Bất kể chúng nó khai gì. Hễ đi cùng nhau, chúng ta cần bắt giải về chùa cho phương-trượng phát lạc.

Đỗ Lệ-Thanh nói nhỏ:

– Chúng ta là người qua đường, các vị này muốn bắt, cứ để cho họ bắt.

Mụ quay lại nói với đám thiếu niên Hồng-hương:

– Được, chúng tôi theo các vị.

Người cầm đầu đám thiếu niên Hồng-hương nói với lão Xồi:

– Ta muốn biết vì cớ gì người hạ độc thủ giết 20 anh em ta, rồi đốt Hồng-hương-cốc. Bọn người phải nói thực.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103105
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49567 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » June 4th, 2017, 10:30 pm


HỒI THỨ HAI MƯƠI CHÍN

Cao Tăng Bảo Quốc



Lão Xồi ngơ ngác hỏi:

– Cái nị nói sao? Ngộ không piết gì hết. Ngộ đi pán thuốc mà. Cái nị đau gì đó, ngộ pán rẻ cho. Thuốc của ngộ tốt lắm đó.

Thiếu niên trưởng toán quát lên:

– Mi đừng giả bộ nữa. Mi phóng độc làm cho hai mươi anh em bọn ta sống dở, chết dở. Đêm hôm qua người vào Hồng-hương cốc đốt hang đá làm năm người cháy thành than, lại đốt chết những anh em ta bị thương.

Trong khi lão Xồi phân trần với bọn thiếu niên Hồng-hương, một thiếu niên khác nhảy lên xe Mỹ-Linh. Gã giằng lấy dây cương ngựa từ tay Ngô Tuấn, rồi giong xe di. Chiếc xe quay ngược trở lại, hướng chùa Sơn-tĩnh. Mỹ-Linh nhìn Thiệu-Thái như cùng ước hẹn:

– Mình thử trở về nhìn cái mặt tên Nguyên-Hạnh xem y có còn đóng kịch được nữa không?

Trong khi đó An-Việt dơ tay phân trần với bọn thiếu niên Hồng-hương:

– Trời cao đất dầy ơi. Chúng tôi chân ráo chân ướt tới vùng này bán thuốc kiếm sống. Một đồng cũng không dám tham. Con chó, con mèo cũng không đụng đến. Bây gìơ các ông vu cho chúng tôi tội giết người, đốt nhà, còn trời đất nào nữa.

Một thiếu niên phất tay:

– Ta không có thời giờ đùa với bọn người. Mau đi theo chúng ta.

Miệng nói, tay y cầm dây cương kéo mạnh. Nhưng dây cương bị An-Việt giữ cứng không nhúc nhích. Y nghiến răng giật, cũng không chuyển động. Y nổi giận:

– Thì ra bọn mi là những cao thủ.

Ngay lúc đó, một thiếu niên khác dùng gậy tấn công An-Việt. An-Việt tung người lên cao. Từ trên cao, nàng phóng xuống một chưởng. Chưởng chưa xuất hết, mà mùi tanh hôi nồng nặc bốc ra muốn buồn nôn. Mỹ-Linh nhận ra mùi hôi này giống mùi hôi Nguyên-Hạnh phát chưởng đấu với nàng.

Binh một tiếng, thiếu niên cầm gậy ngã lộn đi hai vòng, miệng ứa máu . Bọn thiếu niên la lên một tiếng, bao vây xe của lão Xồi. Lão Xồi ngồi im, không nói, không rằng, mặc anh em An-Khôi, An-Việt đấu với bọn thiếu niên Hồng-hương. Chỉ trong khoảng thời gian nhai dập miếng trầu, hơn năm thiếu niên nữa ngã nằm dài trên đất. Bọn chúng hô lên một tiếng, rồi bỏ chạy.

Lão Xồi cười nhạt, chiếc xe chở lão lại lọc cọc đi về hướng Bằc.

Đám thiếu niên bị đánh bại chạy theo, bắt kịp xe chở Mỹ-Linh. Nàng nhẩm đếm được tám tên bị thương. Tên nào tay cũng sưng lớn, đỏ chói như máu. Chúng nghiến răng chịu đau, để khỏi bật lên tiếng rên rỉ.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

– Đám thiếu niên này vì say đạo pháp, vì ý hướng tuổi trẻ, muốn tham dự vào việc xây dựng quốc gia, mà bị Nguyên-Hạnh lừa dối, đưa chúng vào vòng chết thảm. Chứ thực sự ra chúng là những người tốt.

Nàng nói với thiếu niên trưởng toán:

– Này anh. Nếu các anh có mệt cứ lên xe mà đi. Tôi xin đi bộ.

Thiếu niên trưởng toán lắc đầu:

– Cảm ơn cô. Tôi còn đi được.

Thiếu niên trưởng toán tự giới thiệu:

– Tôi họ Phan tên Thi, trưởng đoàn Hồng-hương xã Sơn-tĩnh Đông. Chúng tôi đươc lệnh Túc-không Quan-âm phải bao vây, chặn bắt tất cả những người lạ mặt trên đường cái quan ra bắc. Tôi biết bà đây với anh chị, cùng cháu bé không liên quan gì tới việc gian nhân đột nhập Hồng-hương cốc đốt nhà giết người. Nhưng vẫn phải mời về cho Quan-âm khám xét.

Mỹ-Linh giả như không biết gì:

– Túc-không Quan-âm là ai vậy?

– Chị là đệ tử của Nguyên-Hạnh đại sư.

Võ công chị rất cao thâm. Mà văn học, không nhường ai. Chị được Nguyên-Hạnh đại sư giao cho coi tòan bộ bốn xã Sơn-tĩnh cùng tất cả lực lượng thanh niên Hồng-hương.

Thiệu-Thái thở dài:

– Tiếc quá, chúng tôi ở ngoài Bắc, chứ ở trong này đã nhập Hồng-hương với các anh.

Xe không lên núi mà hướng vào xã Sơn-tĩnh Đông. Liếc qua, Mỹ-Linh thấy xã này tổ chức giống như xã Vạn-thảo, không khác làm bao. Xe ngừng lại ở trước đình. Trong sân đình có hàng trăm người khác bị bắt về như Mỹ-Linh. Họ ngơ ngơ ngác không hiểu cái gì đã xẩy ra.

Phan Thi nói với Mỹ-Linh:

– Cô chờ đây một lát. Để tôi vào thưa với Túc-không Quan-âm.

Phan-Thi vào trong. Một lát, y đi ra cùng với Cao Thạch-Phụng. Thạch-Phụng đứng ở thềm đình nhìn xuống. Phan Thi nói:

– Bọn em đuổi kịp bọn lão Xồi, rồi xẩy ra cuộc giao tranh. Bên chúng em chín người bị thương.

Thạch-Phụng hỏi:

– Còn bà già, với cặp nam nữ kia cùng đi với bọn lão Xồi à?

– Không, họ đi cùng một chiều, thế thôi. Chẳng ai quen ai cả. Cặp thiếu niên này tử tế với chúng ta. Họ than rằng, nếu họ ở trong này, cũng sẽ xin gia nhập Hồng-hương thiếu niên.

Thạch-Phụng vẫy tay:

– Bây giờ chiều rồi. Hãy xin lỗi người ta, mời ăn cơm chay, rồi mai cho lên đường.

Phan Thi lại bên xe nói:

– Túc-không Quan-âm có lệnh mời bà, anh chị với cháu bé ở lại dùng cơm chay chiều nay, rồi nghỉ qua đêm. Ngày mai hãy lên đường.

Mỹ-Linh không muốn ở lại xã Sơn-tĩnh, vì sợ lộ hình tích. Nàng từ tạ:

– Cảm ơn anh. Chúng tôi cần đi khẩn.

Đỗ Lệ-Thanh gọi Phan-Thi:

– Này cậu, vết thương trên tay cậu thế nào?

Phan Thi đưa tay ra:

– Đau nhức. Không biết ngày mai tôi có còn nhìn thấy mặt trời nữa không. Tôi không hiểu đã bị trúng độc gì. Theo Nguyên-Hạnh đại sư tôi bị trúng Chu-sa độc-chưởng của bang Nhật-hồ bên Trung-nguyên. Nếu không tìm ra thuốc giải, cứ mỗi ngày lên cơn đau nhức một lần. Sau bẩy lần bẩy bốn mươi chín ngày, người kiệt lực mà chết như ngọn đèn hết dầu.

Đỗ Lệ-Thanh an ủi:

– Tôi tin rằng cậu sẽ thoát chết. Tỷ như có người cứu được cậu, cậu sẽ đền ơn người đó như thế nào?

– Còn như thế nào nữa. Thân tôi coi như thuộc người đó. Ngọai trừ phản quốc, làm hại đạo-pháp, việc gì người đó sai, tôi cũng làm.

Mỹ-Linh vẫy tay chào, rồi đánh xe ra khỏi xã Sơn-tĩnh. Ngô Tuấn vừa đánh ngựa, vừa hỏi Mỹ-Linh:

– Cô ơi. Con thấy cái anh Phan Thi tội nghiệp quá, cô có cách nào cứu anh ấy không?

Mỹ-Linh mỉm cười:

– Có chứ, nhưng chưa đến lúc, đấy thôi. Con yên tâm, thế nào cô cũng cứu được anh ấy.

Trời bắt đầu ngả mầu tím. Đỗ Lệ-Thanh chỉ vào ngôi nhà đằng trước:

– Kia là quán trọ Vạn-an lớn nhất vùng này. Chúng ta vào đó nghỉ. Đêm nay chúng ta đi thám thính chùa Sơn-tĩnh, xem Nguyên-Hạnh với con tiện nhân Cao Thạch-Phụng còn âm mưu gì khác không. Có điều khi vào khách điếm phải cẩn thận lắm mới được. Khắp vùng này, chỗ nào Nguyên-Hạnh cũng đặt tai mắt hết.

Mỹ-Linh biết mụ đã làm vợ Nguyên-Hạnh trong mấy chục năm, không hoạt động nào của y qua được mắt mụ. Nàng đề nghị:

– Khi Đỗ phu nhân luyện công, tôi với anh Thái canh gác. Ngược lại khi chúng tôi luyện công, phu nhân canh gác. Sau khi luyện xong, chúng ta đi ngủ. Đợi đúng nửa đêm hãy đi dò thám.

Đỗ Lệ-Thanh dặn thêm:

– Trường hợp phải xử dụng võ công, xin mình thế tử ra tay mà thôi. Tôi với công chúa xuất chiêu, e bọn Nguyên-Hạnh tìm ra tông tích liền.

Xe chạy vào khách điếm. Chủ nhân khách điếm còn trẻ, có lẽ chưa qúa ba mươi. Y thấy một bà gìa cùng với một cặp thiếu niên quê mùa và đứa con nít đi trên chiếc xe ngựa vào sân. Y gọi lớn:

– Có khách, ra tiếp mau.

Một thanh niên dạ lên một tiếng. Y hỏi Mỹ-Linh:

– Cô muốn dùng cơm hay trọ qua đêm?

– Tôi cần cả hai. Cho tôi ba phòng khác nhau. Hôm nay ngày rằm, xin cho chúng tôi ăn chay.

Tiểu nhị dẫn ba người ra phía sau. Ba phòng tuy nhỏ, nhưng sạch sẽ. Mỹ-Linh chọn một phòng ở chung với Ngô Tuấn. Thằng bé nhanh nhẹn mang hành lý cho nàng, rồi nó thả ngựa ra bãi cỏ phía sau khách điếm.

Tiểu nhị hỏi:

– Quí khách định dùng món gì, xin cho biết.

Đỗ Lệ-Thanh sợ để Mỹ-Linh gọi những món trân quí, sẽ lộ hình tích. Mụ nói:

– Cho chúng tôi ăn rau muống luộc, chấm với tương. Ngoài ra cho thêm một bát đậu phụ rán, một bát măng kho với cà muối.

Cơm vừa dọn lên, thì có tiếng chuông từ xa vọng lại âm điệu dồn dập. Đỗ Lệ-Thanh đưa mắt cho Mỹ-Linh. Tiểu nhị cũng nhận ra tiếng chuông khác thường. Thiệu-Thái tò mò hỏi:

– Này anh, giờ này đâu phải giờ thỉnh chuông. Tại sao trên chùa lại cho đánh vào giờ này?

Tiểu-nhị nhanh nhẩu đáp:

– Dường như trên chúa Sơn-tĩnh có sự. Tiếng chuông vừa rồi để tập hợp tăng chúng. Mấy ngày hôm nay thực nhiều truyện. Mới hôm trước đây, bọn bán thuốc bắn độc dược làm hai mươi thiếu niên Hồng-hương bị thương. Đêm chúng còn cả gan đột nhập chùa, đốt cháy mấy dẫy nhà, làm hai mươi người bị thương bị cháy thành than luôn. Túc-không Quan-âm nổi giận truyền cho thiếu niên Hồng-hương đi khắp nơi tìm bắt bọn khách trú. Nghe đâu tìm thấy rồi, mà võ công chúng cao siêu vô cùng, lại hơn tám thiếu niên bị thương nữa. Khiếp thực!

Đỗ Lệ-Thanh giả vờ như khách phương xa mới đến:

– Túc-không Quan-âm là ai vậy?

Tiểu-nhị làm ra vẻ ta đây hiểu biết nhiều:

– Nguyên đại-sư Nguyên-Hạnh đắc quả thành Bồ-tát, tên Thông-huyền Bồ-tát. Đệ tử người họ Cao tên Thạch-Phụng cũng đắc quả thành Túc-không Quan-âm. Khắp vùng này ai cũng phải thờ hai ngài. Hễ có việc gì khó, đọc kinh cầu nguyện, xin hai ngài giúp cho là thành công ngay.

Y chỉ lên bàn thờ ngay giữa phòng ăn. Trên có hình vẽ Nguyên-Hạnh ngồi trong tòa sen với tư thế nhập định. Còn Thạch-Phụng mặc quần áo trắng đang đứng trên mình con rồng giữa biển, tay cầm tịnh bình rót nước xuống giống như hình Quan-thế-âm Bồ-tát.

Mỹ-Linh chửi thầm:

– Bọn Nguyên-Hạnh qủa thực có tài, song thiếu hạnh. Chúng dám xưng Bồ-tát, thực cổ kim chưa từng có.

Mỹ-Linh nháy Thiệu-Thái không nên hỏi han điều gì thêm. Ăn xong,vào phòng nghỉ. Ngô Tuấn nằm cái giường nhỏ cạnh Mỹ-Linh. Nó hỏi:

– Cô ơi, lát nữa cô đi thám thính, mình con ở nhà hay sao?

– Ừ, con lớn rồi mà.

– Lỡ người ta hỏi cô đi đâu, con trả lời thế nào?

– Con cứ đóng cửa ở trong phòng, không ra ngoài, thì ai mà vào đây hỏi con?

Mỹ-Linh khêu ngọn đèn thực nhỏ lửa, rồi đi ngủ. Nàng vừa chợp mắt thiu thiu ngủ, khám phá ra có tiếng chân người đi nhè nhẹ trên mái nhà. Tiếng chân đó ngừng lại ngay chỗ phòng nàng. Ngô Tuấn cũng khám phá ra. Nó khẽ cào cào xuống chiếu báo hiệu cho nàng biết. Nàng ghé tai nó nói nhỏ:

– Kìa, phòng có lỗ chó chui. Con ra ngoài ẩn thân. Còn mọi việc trong này mặc cô.

Ngô Tuấn nhanh nhẹn bò dậy, nó chui ra khỏi phòng. Nội công Mỹ-Linh hiện đã đến chỗ thượng thừa. Nàng nghe rõ trên nóc nhà có hai người. Nàng nghĩ thầm:

– Trấn Thanh-hóa có tiếng là an ninh. Suốt mấy năm qua không có đạo tặc, hơn nữa bọn Nguyên-Hạnh tuy giả nhân, giả nghĩa, nhưng lực lượng Hồng-hương thiếu niên góp không ít công lao vào việc giữ an ninh. Chẳng lẽ ta mới vào đây, mà bọn đạo tặc đã biết, định đến ăn trộm?

Nghĩ được một kế, nàng ngồi dậy, nghiêm chỉnh trong tư thế Kiết-gìa, khoan thai thổ nạp như trong lúc luyện công. Tuy nhiên nàng vẫn vẫn lắng tai nghe ngóng.

Hai người đáp xuống trước cửa sổ nhẹ nhàng như hai chiếc lá rụng. Im lặng một lúc, rồi chúng đẩy cửa sổ, nhảy vào. Vào phòng, chúng thấy đèn sáng lung linh, có hơi ngạc nhiên. Mỹ-Linh mở mắt ra, nàng thấy hai tên. Một tên bịt mặt và một tên không bịt mặt. Nàng thản nhiên hỏi:

– Đêm khuya thanh vắng, các vị là ai? Vào đây có việc gì?

Tên không bịt mặt rút kiếm dí vào lưng Mỹ-Linh:

– Im miệng, nếu kêu lên một tiếng, mất mạng liền.

Mỹ-Linh không trả lời, nàng đưa hai ngón tay kẹp cứng thanh kiếm. Tên không bịt mặt cố giằng thanh kiếm ra, nhưng không nhúc nhích. Tên bịt mặt thấy vậy hỏi:

– Sao thế?

Y phụ với tên bịt mặt , giật mạnh thanh kiếm, nhưng vô ích.

Mỹ-Linh vận sức, thanh kiếm gẫy làm mấy mảnh kêu lên tiếng lách cách. Nàng xuất một chiêu cầm nã thủ chụp vai cả hai tên ấn mạnh. Một sức nặng kinh khủng úp lên người chúng. Chúng nghiến răng chống lại nhưng vô hiệu. Mỹ-Linh thấy nếu nàng cứ tiếp tục nhả kình lực, hai tên lạ mặt sẽ gẫy xương sống mà chết. Nàng nới tay dần.

Thiệu-Thái, Ngô Tuấn đã vào phòng từ lúc nào. Mỹ-Linh bảo Ngô Tuấn:

– Con hỏi cung chúng đi.

Ngô Tuấn dạ một tiếng. Nó giật miếng vải bịt mặt ra. Tên bịt mặt, Thiếu-Thái đã từng thấy trong nhà bếp chùa Sơn-tĩnh. Người ta thường gọi y là bác Củng. Nó cầm con dao nhỏ để vào ngực trái của tên Củng rồi hỏi Mỹ-Linh:

– Cô ơi, có phải chỗ này là tim người ta không?

Mỹ-Linh không biết Tuấn sẽ làm gì. Nàng gật đầu. Nó lại hỏi:

– Con đâm sâu vào đây ba tấc mổ lấy con tim ra nhé cô?

Mỹ-Linh biết Tuấn dọa tên Củng, nàng gật đầu:

– Ừ, con mổ tim y làm gì?

– Con mổ ra, để hỏi cung. Hễ khi người ta không nói dối thì tim không động đậy. Còn khi người ta nói dối thì tim động đậy. Con muốn mổ tim tên này ra, rồi hỏi cung ắt biết y nói thực hay nói dối.

Mỹ-Linh gật đầu:

– Con mổ ra đi.

Ngô Tuấn cầm dao làm bộ đâm vào ngực. Tên Củng bở vía:

– Cô nương! Xin cô nương đừng mổ tim. Tiểu nhân khai thực hết. Nếu nói dối cô nương hãy mổ tim.

Ngô Tuấn hỏi:

– Mi tên gì? Ai sai mi tới đây?

– Tiểu nhân tên Trịnh Củng. Tiểu nhân tuân lệnh của Túc-không Quan-âm tới bắt cóc cô nương, mang về Hồng-hương cốc.

– Mi đã bắt bao nhiêu con gái lương gia như vậy rồi?

– Tiểu nhân đã bắt tất cả hai mươi người. Đến cô nương là người thứ hai mươi mốt.

– Các tăng lữ trong chùa có biết hành vi ám muội của Nguyên-Hạnh không?

– Không ai biết gì hết.

– Bọn mi đến đây bao nhiêu người?

– Tất cả chỉ có hai người mà thôi. Tiểu nhân với Cao Anh. Y là trưởng đòan thiếu niên Hồng-hương tại xã Sơn-tĩnh Tây.

Đỗ Lệ-Thanh bàn:

– Xin công chúa giải hai tên này về triều. Chúng là nhân chứng quan trọng.

Tên Củng kinh hoảng:

– Cô nương là công chúa?

Mỹ-Linh không trả lời. Thiệu-Thái dùng dây trói Vũ Củng với Cao Anh lại. Đỗ-lệ-Thanh khẽ vỗ lên vai hai tên, mỗi tên một cái. Người chúng rung động thực mạnh, rồi mê man không biết gì. Mỹ-Linh kinh ngạc hỏi:

– Võ công vừa rồi là võ công gì vậy?

Đỗ Lệ-Thanh cười:

– Nó là Chu-sa Ngũ-độc chưởng. Tiểu nhân dồn chất độc vào kinh mạch, khiến chúng ngủ đi mấy giờ. Trong khi đó ta có thời giờ thám thính Sơn-tĩnh.

Mỹ-Linh bảo Ngô Tuấn:

– Con ở nhà giữ tù. Nếu có người đến gây rắc rối với con. Con ra sân ném cây pháo thăng thiên này, đạo binh Ngự-long sẽ tới liền.

Đỗ Lệ-Thanh nói nhỏ:

– Chúng ta dùng xe ngựa đến chân núi Sơn-tĩnh, rồi theo đường tắt lên núi.

Ba người lấy xe ngựa hướng chân núi Sơn-tĩnh mà đi. Tới chân núi, Đỗ Lệ-Thanh cho xe vào khu rừng, cột ngựa lại. Bà nói:

– Xin công chúa, với thế tử theo tiểu nhân.

Mụ đi trước dẫn đường. Tuy trời tối, nhưng dường như mụ nhìn rõ vạn vật. Phút chốc lên gần tới chùa. Mụ chỉ phía sau chùa:

– Dường như có truyện gì thì phải. Viện Vạn-Hạnh thắp đèn sáng choang thế kia ắt đang có cuộc họp đấy.

Vừa leo lên sườn đồi, có tiếng quát:

– Ai?

Mỹ-Linh nhìn lên, thì ra ba thiếu niên Hồng-hương, hai nữ một nam có nhiệm vụ canh gác.

Đỗ Lệ-Thanh vọt mình tới nhanh như chớp, mụ phóng ra ba chưởng nhẹ nhàng. Ba thiếu niên Hồng-hương bị ngất xỉu liền. Mụ nói:

– Chúng ta giả làm thiếu niên Hồng-hương, dự buổi họp.

Ba người lột quần áo của thiếu niên Hồng-hương mặc vào, rồi tiếp tục leo núi.

Đỗ Lệ-Thanh đã thuộc làu đường. Mụ đi trước, vòng ra sau viện Vạn-Hạnh. Nơi đây có cửa nhỏ, mụ khẽ đẩy cửa , vẫy Mỹ-Linh, Thiệu-Thái vào rồi đóng lại. Ba người lọt vào phía cuối phòng họp.

Mỹ-Linh liếc mắt nhìn qua. Bất giác nàng rùng mình. Trong đại giảng đường, có mặt đủ hết các tăng chúng trong chùa. Hàng ghế đầu còn thêm bọn Triệu Thành. Không khí trong phòng họp cực kỳ căng thẳng, không một tiếng động. Vương Duy-Chính nói:

– Cho nên thánh thiên tử quyết định mở khoa thi cho tất cả anh hùng thiên hạ đều tham dự. Ai có tài đều được trọng dụng.

Mỹ-Linh chửi thầm:

– Thằng cha Nguyên-Hạnh gớm thực. Y sống với hai bộ mặt khác nhau. Một bộ mặt là người Tống, nhận chức đô nguyên sóai, Long-biên quốc công, Giao-chỉ kinh lược sứ mở đại tiệc, dâng gái cho bọn Triệu Thành y đã tiếp bọn Thành rồi. Hôm nay y lại dùng bộ mặt của một đại thiền-sư Việt tiếp Thiên-sứ.

Vương Duy-Chính tiếp tục giải thích ý nghĩa việc mở đại hội anh hùng võ lâm ở Biện-Kinh năm tới. Sau cùng y đọc danh sách 32 người trúng cách khoa thi trước, hiện đã được phong chức tước ra sao. Cuối cùng y cầm một tấm thiếp đưa đến trước mặt Nguyên-Hạnh:

– Vì vậy, hôm nay Thiên-sứ qua đây, trước vãng cảnh chùa. Sau gửi thiếp mời chư vị anh hùng Sơn-tĩnh tham dự. Mong đại sư nhận cho.

Nguyên-Hạnh bệ vệ nói:

– Đa tạ Thiên-sứ để mắt xanh tới bản tự. Nhưng Sơn-tĩnh là chốn thanh tịnh, xa lánh bụi trần, không màng danh lợi, thành ra phụ lòng Thiên-sứ.

Minh-Thiên đứng lên nói:

– Nếu theo tôn chỉ của Thiền-tông thì chúng ta xa lánh vòng danh lợi. Còn theo Tịnh-độ tông, chúng ta đâu có thể bỏ việc cứu độ chúng sinh? Từ xưa đến giờ có không biết bao nhiêu các vị tăng người Việt nổi danh, vì chịu lăn vào chốn bụi trần cứu dân, làm lợi cho nước. Không lẽ nay thiên hạ có mầm đại loạn đến nơi, mà quý tự buông tay sao?

Triệu Huy tiếp lời:

– Huống hồ từ hôm sang Giao-chỉ đến giờ, Thiên-sứ đã mời hầu hết các gia, các phái tham dự. Ai cũng đều hớn hở sẽ được dịp phô tài, cùng đem sức phò thiên tử. Thế mà qúi tự lại từ chối.

Viện-trưởng viện Thiện-duyên, Sùng-Anh đại sư đứng dậy, hướng vào Triệu Huy:

– Xin an phủ sứ giữ lời một chút. Quí quốc quốc hiệu là Đại-Tống, chúng tôi tôn trọng gọi là Đại-Tống. Nước tôi quốc hiệu là Đại-Việt, thế mà an phủ sứ cứ một điều Giao-chỉ hai điều Giao-chỉ như vậy còn gì đức của kẻ trí ư ?

Dư Tĩnh hiện giữ chức kinh lược an phủ sứ lộ Quảng-tây, bao trùm gần hết biên giới Tống-Việt. Y theo đúng chủ trương của Tống triều thực thi ba điều căn bản: một là bắt Đại-Việt phải giữ nguyên vị phiên thần. Hai là mua chuộc võ lâm Lĩnh-Nam. Ba là lấn chiếm, bằng dụ dỗ, bằng mua chuộc 207 khê động Bắc-biên. Bây giờ thấy Sùng-Anh muốn giữ danh xưng Đại-Việt tức vượt ra khỏi phiên hiệu triều Tống phong cho vua Lý. Y thấy cần phải kéo mọi người trong Vạn-Hạnh đường này nhớ rằng họ là Nam-man. Y đứng dậy:

– Thưa đại sư. Đại sư dạy có điều lầm lẫn. Từ khi Lý Công-Uẩn lên ngôi vua, cử sứ sang thần phục. Bản triều đã cho sứ giả sang phong cho làm Giao-chỉ quận vương. Đất Giao-chỉ vẫn là một quận của Đại-Tống. Còn cái quốc hiệu Đại-Việt chẳng qua y tiếm xưng mà thôi.

Viện-trưởng Thiền-công viện, đại-sư Sùng-Không lên tiếng:

– Này Dư kinh lược sứ. Từ cổ, Lĩnh-Nam với Trung-nguyên cương vực đã phân, tiếng nói, văn tự có khác. Trung-nguyên lấn chiếm các nước xung quanh, mà trở thành nước lớn. Chúng tôi muốn giao hảo bền vững, chịu thần phục chẳng qua là hình thức. Chứ các vị lên mặt ta đây người Hán, coi chúng tôi như phường man di, thì không được đâu.

Dư Tĩnh đưa mắt nhìn Triệu Thành, thấy chủ gật đầu. Y hiểu ý, cười nhạt:

– Như vậy đại sư muốn dùng số đông người đàn áp sứ đoàn ư? Chúng tôi tuy chỉ có mấy người, nhưng chí khí không hèn đâu. Tôi nhắc lại Đại-Tống là Đại-Tống. Vua Đại-Tống là thiên tử. Giao-chỉ là một quận của Đại-Tống, Lý Công-Uẩn là phiên thần. Không có cái gì là Đại-Việt với tiểu Việt cả. Thế gian không hai mặt trời, không thể có cái gì là thiên tử Đại-Việt.

Một trung niên tăng từ phía sau nhảy ra. Y chỉ mặt Dư Tĩnh:

– Người phải câm họng lại ngay.

Nói rồi y phóng chưởng tấn công. Chưởng của y là Lăng-già Tượng-đầu chưởng của Tiêu-sơn. Dư Tĩnh mỉm cười. Triệu Anh xuất chưởng đỡ cho Dư Tĩnh. Bình một tiếng. Cả hai đều bật lui lại. Minh-Thiên kinh ngạc, nghĩ thầm:

– Từ hôm sang Giao-chỉ đến giờ, mình chưa hề đấu với bọn chúng trận nào chính thức. Hôm nay cũng nên đấu một trận, để rõ hư thực. Tên tiểu hòa thượng vừa rồi thuộc hàng đệ tử đời thứ hai trong chùa Sơn-tĩnh, mà công lực ngang với Triệu Anh, hẳn bọn Nguyên-Hạnh e không thua mình làm bao.

* * * *

Đại sảnh đường náo loạn cả lên. Trong khi đó nhà sư trẻ với Triệu Anh đã đấu được trên mười chiêu. Anh dùng võ công Thiếu-lâm, còn nhà sư trẻ dùng võ công Tiêu-sơn.

Nguyên-Hạnh tuy nhận chức tước của triều Tống, tha hương mưu đồ đại sự. Tuy vậy, y vẫn có cái tự hào về những gì y đang có. Y học được tinh hoa của bang Nhật-hồ, lại học được võ công tuyệt thế của Tiêu-sơn. Y cũng muốn hiển lộ tài năng võ công của mình, để khoe với Triệu Thành mà chưa có dịp. Bây giờ đệ tử tầm thường của y xuất thủ tấn công một chức lang-trung Khu-mật-viện, chức võ quan cao cấp của triều Tống, khiến y hài lòng. Y nhìn Triệu Thành như muốn nói Tôi là thần tử nhà Tống phải dưới tay vương gia. Chứ võ công của tôi chưa chắc đã thua cái ông quốc sư kia. Chỉ một đệ tử vô danh của tôi, mà một võ quan cao cấp không thắng nổi. Như vậy đủ biết tôi như thế nào.

Nguyên-Hạnh đưa mắt một cái. Đại sư Sùng-Văn bước ra. Ông xuyên tay vao giữa chưởng lực của hai đối thủ, rồi quay một vòng. Hai người bị một kình lực như thành đồng vách sắt ngăn lại. Ông nói:

– Khoan. Hai vị không nên vô lễ trước Bình-nam vương gia và phương-trượng.

Miệng nói, tay ông đẩy mạnh. Triệu Anh bắn về phía hàng ghế quan khách. Ai cũng tưởng y sẽ bị ngã chổng vó lên trời, không ngờ y rơi đúng ghế ngồi của y, như tự ngồi xuống. Còn nhà sư trẻ bị bắn rơi đúng chỗ y đứng.

Minh-Thiên kinh ngạc:

– Nhà sư này hôm trước Nguyên-Hạnh giới thiệu là viện trưởng viện Hoằng-pháp, tên Sùng-Văn, một trong tứ vị hộ pháp của Sơn-tĩnh. Tuổi y chưa cao, mà võ công đã đến trình độ chỉ đẩy hai cái, khiến cho hai cao thủ bay vọt lên cao, e mình bằng thế nằo được?

Triệu Thành quay lại nhìn Nguyên-Hạnh:

– Bây giờ chúng tôi với đại-sư đánh cuộc. Đại sư nghĩ sao?

Nguyên-Hạnh không hiểu ý Triệu Thành. Y hỏi lại:

– Xin vương gia dạy rõ hơn.

Triệu-Thành chỉ vào đám tùy tùng:

—Đây là đám tùy tùng của tôi. Tôi cử ra ba người. Bên đại sư cũng cử ra ba người. Hai bên cùng đấu. Bên nào thắng hai cuộc, coi như bên đó thắng . Nếu bên Giao-chỉ thắng, kể từ này chúng tôi phải gọi là Đại-Việt, gọi Giao-chỉ quận vương Lý Công-Uẩn là hoàng đế. Ngược lại bên chúng tôi thắng, các vị không được dùng danh xưng Đại-Việt cũng không được gọi Lý Công-Uẩn là hòang đế nữa.

Nguyên-Hạnh hiểu ý Triệu Thành muốn dùng tay y để làm giảm bớt lòng kiêu hãnh của võ lâm Đại-Việt. Dĩ nhiên trong cuộc đấu này, Thành muốn y phải sắp xếp sao cho bên Tống thắng. Như vậy chính thống về Tống. Còn nếu y để bên Tống bại, chính thống không còn nữa. Y chưa kịp trả lời Sùng-Văn đã nói:

– Xin vương gia chỉ định người ra đấu.

Triệu Thành cười nhạt:

– Bên sứ đoàn xin cử Đông-Sơn lão nhân, với hai đệ tử người là Dư Tĩnh với Địch Thanh.

Sùng-Văn nói với Nguyên-Hạnh:

– Bên Tống có Minh-Thiên đại sư thân phận cao cả, không ra tay. Vậy bên Sơn-tĩnh chúng ta, sư huynh cũng nên đứng ngòai. Bên mình, xin cử sư đệ Sùng-Tín, Sùng-Không với tiểu đệ. Không biết ý sư huynh thế nào?

Nguyên-Hạnh đang bị Triệu Thành đặt trong thế bí, hông biết làm cách nào thoát ra, được Sùng-Văn hứng lấy. Nếu bên Sơn-tĩnh bại, dĩ nhên y chẳng thiệt hại gì, mà lại còn thêm công lao với triều Tống. Còn như nếu bên Tống bại, thế lực của y lên cao, mà Triệu Thành không trách y vào đâu được. Y mừng rỡ trong lòng, nhưng bề ngoài làm như bị động. Y nhìn Triệu Thành như tỏ ý phân trần Đây không phải chủ ý của tôi. Rồi nói với Sùng-Văn:

– Sư đệ nên cẩn thận !

Sùng-Văn đứng ra trước cửa tọa:

– Xin vương gia chỉ định người đấu trận đầu.

Triệu Thành chỉ Địch Thanh:

– Địch trạng nguyên, người ra lĩnh giáo mấy cao chiêu của Giao-chỉ đi.

Địch Thanh dạ một tiếng. Y bước ra đứng thủ thế. Y hít hơi vận công. Có tiếng kêu lách cách, mọi người đưa mắt nhìn, mỗi bước đi của y, gạch nền nhà bị vỡ vụn ra, lún sâu xuống chừng nửa tấc. Cả đại sảnh đường đều bật lên tiếng hoan hô.

Đứng phía sau, Mỹ-Linh không hiểu được ý Triệu Thành với Nguyên-Hạnh. Nàng cứ cho rằng hai bên toa rập với nhau, để hạ danh dự ông nội nàng cùng như quốc thể Đại-Việt. Nàng ghé tai Đỗ Lệ-Thanh với Thiệu-Thái bàn luận. Đỗ Lệ-Thanh nói:

– Nếu bên Sơn-tĩnh thua hai trận, công chúa với thế tử hãy xuất hiện dưới danh vị thiếu niên Hồng-hương, đánh thắng hai người bên Tống là xong.

Sùng-Văn chắp tay:

– Tôi là chủ, Địch trạng nguyên là khách. Xin mời trạng nguyên ra tay trước.

Địch-Thanh hít hơi phóng chưởng tấn công. Chưởng chưa ra, mà mọi người như muốn ngộp thở. Sùng-Văn lui lại một bước. Ông xuất chiêu Vô nhân giả tướng trong Tượng-đầu chưởng đánh xéo vào giữ chưởng của Địch Thanh. Bình một tiếng lớn, hai chưởng giao nhau, gió lốc quay tròn, kêu lên những tiếng vo vo không ngớt. Địch Thanh đứng im, mặt y tái nhợt. Còn Sùng-Văn bật lui hai bước, mặt đỏ gay.

Như vậy thắng bại đã phân.

Bỗng có tiếng quát thanh thóat:

– Khoan !

Một thiếu niên Hồng-hương từ sau bước ra chắp tay vái Sùng-Văn:

– Thái sư thúc. Địa vị người cao biết mấy, mà lại đi hạ thể đấu với một tên trẻ, chẳng hóa ra ỷ lớn bắt nạt nhỏ ư. Xin cho đệ tử qua lại mấy chiêu với Địch trạng nguyên đã. Nếu như đệ tử không thắng được người, bấy giờ thái sư thúc ra tay cũng vừa.

Mỹ-Linh nhìn đáng đi, nàng biết ngay thiếu niên Hồng-hương đó là Bảo-Hòa giả trang. Tuy Bảo-Hòa bôi mặt, cố nói cho tiếng thành ồ ồ, nhưng Mỹ-Linh cũng nhận ra.

Địch Thanh quay lại nói với Dư Tĩnh:

– Sư huynh. Sư huynh thử coi trên đời sao lại có đứa trẻ ngông cuồng đến như thế này ư?

Sùng-Văn thấy một thiếu niên Hồng-Hương dám ra mặt đòi đấu với Địch Thanh. Ông định đuổi vào. Nhưng Bảo-Hòa đã vận khí vào tay, truyền sang ông. Ông cảm thấy nội lực từ tay thiếu niên cuồn cuộn tuôn vào người ông mạnh như thác đổ. Ông mở to mắt nhìn xem thiếu niên đó là ai, mà ông không nhận ra.

Dư Tĩnh kinh nghiệm hơn Địch Thanh. Y nhắc sư đệ:

– Phải cẩn thận đấy.

Địch Thanh nhìn Bảo-Hòa:

– Tiểu huynh đệ. Ta chỉ đánh có ba chiêu. Nếu tiểu huynh đệ đỡ được coi như ta thua.

Nói rồi y hít hơi, phát chưởng đánh xuống. Chưởng phong của y bao gồm phong, lôi, thủy, hỏa mạnh vô cùng. Cả hội trường nín thở. Bảo-Hòa hít một hơi, nàng vận khí về trung đơn điền, truyền vào Đốc-mạch, xuất chiêu Ngưu-tẩu như phi. Vì nàng vận âm kình, nên không có gió. Cử tọa thấy vậy kinh hòang kêu lên:

– Chết.

Nhưng bịch một tiếng. Chưởng của Địch Thanh mất tăm mất tích. Y lui liền ba bước, mặt tái nhợt. Y cảm thấy trong chưởng của Bảo-Hòa có đôi phần giống Kim-cương chưởng của phái Thiếu-lâm. Nhưng trong cái hóa giải của Thiền-công, còn bao hàm sát thủ khủng khiếp. Y nhìn kỹ mặt đối thủ, thấy hơi quen quen, mà y không nhận được đó là Bảo-Hòa.

Vì nhân nhượng, Địch Thanh vận có ba thành công lực, nên chiêu đầu y bị lạc bại rõ ràng. Y cười nhạt nhìn Minh-Thiên:

– Đại-sư, tại sao thiếu niên này lại xử dụng Phục-ngưu thần chưởng của phái Tản-viên.

Minh-Thiên đã từng lầm lẫn Lăng-gìa chưởng của phái Tiêu-sơn với Kim-cương chưởng của phái Thiếu-lâm, trong lần thử sức với Lý Long trên núi Chung-chinh. Vì cả hai đều do Thiền-công Vô nhân tướng thần công của nhà Phật mà ra. Còn hôm nay thiếu niên này lại xử dụng Phục-ngưu thần chưởng âm nhu, thứ võ công đã tuyệt tích từ lâu. Ông lắc đầu:

– Phải cẩn thận.

Địch Thanh không nhân nhượng nữa. Y hít hơi, nghiến răng phát chiêu thứ nhì trong Hoa-sơn chưởng pháp. Bảo-Hòa phát chiêu Ác ngưu nan độ lần này nàng vận dương kình, gió lộng ào ào. Bình một tiếng. Cả hai người cùng bật lui ba bước. Địch Thanh không để cho Bảo-Hòa vận khí. Y phát chiêu thứ ba. Bảo-Hòa chuyển từ chiêu Ác ngưu nan độ sang chiêu Ngưu tẩu như phi. Bình một tiếng nữa, người nàng bật lui liền ba bước. Chiếc khăn buộc tóc của Bảo-Hòa bị bật tung, tỏa ra làn tóc mai óng mượt của cô gái.

Địch-Thanh nhận ra Bảo-Hòa. Y cười nhạt:

– Không ngờ chùa Sơn-tĩnh uy danh là thế mà phải nhờ đến phái Tây-vu trợ thủ. Thân quận chúa. Cách biệt nhau mấy tháng mà võ công quận chúa tiến mau qúa. Tại hạ thực không ngờ.

Bảo-Hòa cười như nắc nẻ:

– Địch trạng nguyên. Chắc hồi này đã ăn cắp được bao nhiêu vàng bạc rồi. Phát tài chứ? Người bảo ta đỡ được ba chiêu của người, coi như người thua. Vậy người chịu thua chưa?

Địch Thanh có chí khí anh hùng. Y kính cẩn nói:

– Tôi thua là thua quận chúa, chứ không thua chùa Sơn-tĩnh?

Bảo-Hòa cãi:

– Ban nãy Bình-nam vương gia ra lệnh Địch trạng nguyên, người mau ra lãnh giáo võ công Giao-chỉ đi. Tôi là người Giao-chỉ đã thắng Địch trạng nguyên tức võ công Giao-chỉ thắng võ công Trung-nguyên rồi.

Nguyên-Hạnh thấy Bảo-Hòa xuất hiện ắt mưu kế của y bại lộ hết. Hôm trước thấy hang giam Thiệu-Thái, Mỹ-Linh bị đốt. Y sai người bới ra, chỉ thấy còn năm bộ xương. Y cho rằng Sùng-Phạm, Bố Đại, Thiệu-Thái, Mỹ-Linh cũng như vợ y đều cháy thành than. Y mừng rỡ không bút nào tả siết. Hôm nay y thấy Bảo-Hòa xuất hiện. Trong đầu óc, y cho rằng nàng có mặt ở đây ắt do bàn tay Khu-mật-viện xếp đặt. Y nghĩ chỉ còn cách thủ tiêu nàng mới êm chuyện.

Y dò dẫm hỏi Bảo-Hòa:

– Thân quận chúa. Khai-quốc vương hiện ở đâu?

Bảo-Hòa cười:

– Cậu hai tôi ấy à? Tôi không biết nữa.

Y đứng dậy chỉ ghế :

– Mời quận chúa an tọa.

Bảo-Hòa vô tình đến ngồi bên cạnh y. Lợi dụng, y phất tay áo, phóng ra một chiêu Chu-sa chưởng nhẹ nhàng. Bảo-Hòa sắp xuống quỷ môn quan mà tuyệt nhiên không biết. Bỗng có tiếng quát:

– Ngừng tay !

Một thiếu niên Hồng-hương khác nhảy ra chĩa tay phóng chỉ vào đầu Nguyên-Hạnh. Nếu y tiếp tục phất chưởng vào Mỹ-Linh thì y bị trúng chỉ. Y vội thu chưởng về, đỡ chỉ của thiếu niên kia. Nhưng thiếu niên đã thu chỉ về, biến thành chưởng đẩy nhẹ vào vai Bảo-Hòa. Bấy giờ Bảo-Hoà mới tỉnh ngộ.

Mỹ-Linh nhìn thóang cũng biết thiếu niên đó là Thanh-Mai. Thanh-Mai chỉ vào mặt Nguyên-Hạnh:

– Mi mi…là đại tôn sư võ học, mà hèn hạ đánh trộm người ư ?

Nguyên-Hạnh bị lộ mặt nạ đánh trộm người. Đã trót thì trét. Y vung tay chụp Thanh-Mai với Bảo-Hòa. Chưởng phong của y hùng hậu vô cùng. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái thấy nếu để Thanh-Mai, Bảo-Hòa đỡ hai chưởng đó, ắt trúng độc nặng. Hai người quát lên:

– Ngừng tay !

Thiệu-Thái phóng chưởng tấn công Nguyên-Hạnh. Còn Mỹ-Linh thì rút kiếm đẩy lui Địch Thanh bằng một chiêu thần tốc. Địch Thanh lui lại bốn bước liền. Trong khi đó chưởng của Thiệu-Thái đánh ra êm đềm, chạm vào chưởng Nguyên-Hạnh đến bịch một tiếng. Nguyên-Hạnh bật lui liền ba bốn bước. Khí huyết trong người ảo lộn. Y kinh hoàng không ít:

– Thiếu niên này là ai, mà chưởng lực mạnh đến nhường này? Ta tưởng trên đời chỉ có Sùng-Phạm, Bố Đại với Vạn-Hạnh mới có công lực này mà thôi.

Từ ngày gặp Nguyên-Hạnh, Địch Thanh vẫn không phục. Y cho võ công Nguyên-Hạnh không cao hơn y. Y muốn hiển lộ bản lĩnh, bèn hít hơi vận đủ mười thành công lực phát một chưởng hướng Thiệu-Thái. Thiệu-Thái bình tĩnh không tâm, đẩy ra một chưởng. Lạ thay chưởng của Địch Thanh mạnh là thế, mà gặp chưởng Thiệu-Thái, bị mất tích. Y lảo đảo lui liền ba bốn bước, mới đứng vững.

Thanh-Mai, Bảo-Hòa thấy hai thiếu niên Hồng-hương cứu mình, lúc đầu hơi ngỡ ngàng một chút. Nhưng chỉ thóang qua, hai người đã nhận ra Thiệu-Thái với Mỹ-Linh. Thanh-Mai dùng Lăng không truyền ngữ nói vào tai Bảo-Hòa, Mỹ-Linh, Thiệu-Thái , rồi hú lên một tiếng. Tất cả bốn người cùng phát chưởng hướng vào những chỗ để đèn. Đèn trong phòng tắt hết. Bốn người lại đẩy ra liên tiếp mấy chưởng, rồi ẩn thân vào đám đệ tử Hồng-hương.

Lập tức trong phòng náo loạn lên, chưởng, đao, kiếm đánh ra lọan xạ, cùng với tiếng la hét, tiếng kêu.

Trong khi đó bốn người đã xuống núi. Tới chỗ dấu xe ngựa, họ đã thấy Đỗ Lệ-Thanh ngồi chờ từ bao giờ. Đỗ Lệ-Thanh thúc mọi người lên xe trở về khách điếm. Đi đường họ tường thuật cho nhau tất cả những gì đã xẩy ra. Thanh-Mai bàn:

– Trong lệnh, Khai-quốc vương bảo chúng mình về Thăng-long. Như vậy chắc ở nhà có truyện gì. Vậy chúng ta lên đường ngay. Bây giờ tôi với Bảo-Hòa giả làm hai cô gái quê. Sáng mai ta lên đường cho sớm.

Về tới khách điếm, việc đầu tiên Mỹ-Linh tìm Ngô-Tuấn. Thằng bé đang ngồi luyện công. Mỹ-Linh hỏi:

– Hai thằng kẻ trộm đâu rồi?

Ngô Tuấn đáp:

– Khi Công chúa với thế tử đi khỏi một lúc thì bố cháu tới. Bố cháu bảo có lệnh Khai-quốc vương giải hai tên trộm về Thăng-long.

Mỹ-Linh cười:

– Chẳng việc gì chú hai không biết.

Thanh-Mai nghĩ đến người yêu, lòng nàng rộn lên:

– Thì ra chàng vẫn theo dõi mọi việc quanh mình.

Mọi người đi ngủ, để hôm sau lên đường sớm.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103105
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49567 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

PreviousNext

Return to Emotional Stories | Truyện Tình Cảm.

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests