Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Quotes |Ca Dao, Tục Ngữ, Lời Hay Ý Đẹp, Chia sẽ ở đây nha.

Re: 40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Postby DaMinhChau » August 28th, 2013, 11:53 pm


Image

21. Đề Đốc Byrd


Năm 1910 một thiếu niên ở Winchester (tiểu bang Virginia) chép nhật ký. Đọc truyện đề đốc Peary hùng tâm gắng sức để tiến tới Bắc cực, em nhỏ mười hai tuổi đó cao hứng viết vào trong tập:
- Tôi đã quyết định sẽ là người thứ nhất tới được Bắc cực.
Và tức thì em dự bị cho một cuộc mạo hiểm gay go đó. Em vốn sợ lạnh, để tập chịu lạnh, em mặc những quần áo mỏng hơn và bỏ luôn chiếc bành tô. Sau em nhỏ tới được bằng phi cơ và là người thứ nhất tới Nam cực. Tên của em như bạn đã đoán được, là Richard Evelyn Byrd.
Đề đốc Byrd nghĩ rằng những khoảng băng tuyết mênh mông ở Nam cực lần lần thu lại và hằng trăm ngàn mẫu đất hoang hiện nay băng phủ, một ngày kia có thể thành một miền phú nguyên dồi dào vô cùng. Vì vậy ông quyết tâm cắm cờ Hoa Kỳ trên đất đó và chiếm nó cho xứ sở ông. Ý kiến của ông có thể đúng. Chính tôi đã thấy những mỏ than ở cách Bắc cực sáu trăm cây số và phần đông các nhà địa chất học tin rằng có những mỏ than vĩ đại và có lẽ cả những mỏ dầu lửa nữa ở gần Bắc cực.
Đời Đề đốc Byrd là một tấm gương rực rỡ của một em nhỏ có lòng cao vọng không hề lay chuyển, và thắng được những trở ngại nhiều vô kể để làm được những việc lớn.
Nó cho ta thấy rõ giá trị thực tế của một mục đích độc nhất. Kẻ nào ngay từ nhỏ đã vạch một mục đích lớn và suốt đời không rời bỏ quyết định chủ yếu đó thì có việc gì mà làm không được!.
Trước hết, Byrd du lịch để coi các miền xa lạ. Hồi mười bốn tuổi ông đã đi vòng quanh địa cầu, mà đi một mình! Rồi ông trở về nhà, vô trường đại học, nhưng học thì ít mà luyện các môn đấu quyền, vận lộn, đá banh thì nhiều. Ông chơi hăng quá đến nỗi gãy một chân, bể xương mắt cá, thành tàn tật mà thủy quân cho ông là không hợp cách nên miễn dịch ông. Bạn thử tưởng tượng: chưa đầy ba chục tuổi bị miễn dịch vì không đủ sức... biết bao người trong địa vị ông đã chán nản, tự cho là đời mình bỏ đi rồi!
Nhưng Byrd không chịu thua. Ông tuyên bố rằng một người không cần đứng được mới lái nổi phi cơ, và dù chân ông có tật, mắt cá gãy nát, ông vẫn có thể lái phi cơ như thường. Nghĩ vậy, ông tập lái phi cơ, bị ba tai nạn, có lần máy bay của ông đâm vào một chiếc máy bay khác, nhưng rốt cuộc ông cũng lấy được bằng cấp phi công.
Luôn luôn khao khát mạo hiểm, ông nóng lòng được bay trên những khoảng băng tuyết ở Bắc cực, nơi mà từ trước chưa phi công nào dám bay tới. Nhưng ông bị người ta từ chối mấy lần.
Trước hết, ông định thám hiểm bằng một khí cầu máy, chiếc Shenandoah khi bay thử, chiếc khí cầu đó đâm bổ xuống đất, tan nát. Rồi ông xin chính phủ cho phép bay thử để hoàn thành một phi cơ có thể vượt Đại Tây Dương. Chính phủ từ chối vì ông tàn tật.
Ông lại năn nỉ người ta cho phép ông cầm lái một chiếc trong đoàn phi cơ mà Amundsen tính dùng để bay trên miền băng gần Bắc cực. Người ta lại từ chối nữa, lần này vì lý do ông đã có gia đình. Mấy lần thất vọng liên tiếp như vậy rồi cuối cùng lại thêm cái tin rằng Thủy quân miễn dịch ông lần nữa, cũng vẫn vì cái chân có tật của ông.
Chắc chắn là sở Thủy quân không thể lầm được, nhưng Byrd có quan niệm lố lăng này, là óc sáng kiến, lòng can đảm và trí thông minh quan trọng hơn một cái chân lành mạnh. Ông vận động, kiếm được những nhóm tư nhân chịu bỏ tiền giúp công việc thám hiểm của ông và tức thì ông phiêu lưu, làm cả thế giới ngạc nhiên. Ông vượt Đại Tây Dương, lên tới Bắc cực, liệng một chiếc cờ Hoa Kỳ xuống, rồi xuống Nam cực, cắm một chiếc cờ Hoa Kỳ khác.
Và khi ông trở về xứ sở thì hai triệu người hoan hô ông cuồng nhiệt có phần hơn dân La Mã hoan hô César thắng Pompée nữa.
Và rốt cuộc, chính phủ Hoa Kỳ tặng chức Đề đốc cho con người mà mười bốn năm trước bộ Hải quân đã chê là tàn tật và cho miễn dịch.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 87915
Has thanked: 35324 times
Have thanks: 47468 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 20th, 2017, 12:49 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: 40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Postby DaMinhChau » August 28th, 2013, 11:54 pm


Image

22. Winston Churchill


Tôi luôn luôn ngạc nhiên về điều này, nhiều việc xảy ra nghe chẳng có gì quan trọng cả mà sau lại làm thay đổi cả lịch sử. Chẳng hạn, bốn năm trước khi Nội chiến bộc phát, trong năm kinh khủng 1857, một người tên là Leonarl Jerome đầu cơ ở Wall Street mà kiếm được một trăm ngàn Anh kim. Việc đó trừ Leonard Jerome, có ai cho là quan trọng đâu. Vậy mà bây giờ nhớ lại, ta thấy nó ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử hiện đại. Vì nếu người đó Leonard Jerome không đầu cơ được số tiền lớn đó, thì có lẽ Winston Churchill không sinh ra đời: Leonard Jerome chính là ông nội của Churchill.
Được số tiền một triệu hai trăm ngàn Anh kim, Loenard Jerome mua một phần hùn lớn trong tờ Times ở Nữu Ước, lập hai trường đua lớn ở Mỹ, du lịch khắp thế giới, giao du với hạng quí tộc Anh. Và kết quả là người con gái mỹ miều, có duyên của cụ, cô Jenny Jerome cưới nhà quí phái Randolph Churchill. Và do cuộc hôn nhân đó mà Churchill ra đời vào ngày 30 tháng mười một năm 1874, trong một lâu đ ài nổi danh nhất ở Anh, lâu đ ài Benheim.
Đời của Winston Churchill mới hoạt động, kỳ dị làm sao!
Trên hoàn vũ tôi không thấy một người nào khác mà cuộc đời gồm được nhiều kích thích, nhiều mạo hiểm, nhiều nỗi vui và hứng thú như đời ông. Trên một phần ba thế kỷ, ông nắm quyền hành ghê gớm trong tay, ảnh hưởng lớn vô cùng. Năm 1911, ông là quan văn đứng đầu Hải quân Anh. Trên một phần ba thế kỷ, ông tạo nên anh hùng và thời thế.
Ngay từ hồi bé, Winston Churchill đã muốn là một quân nhân, suốt ngày bày trận. Sau ông tốt nghiệp trường võ bị Sandhurt. Trong mấy năm ông đăng lính, chiến đấu với kỵ binh cầm thương của Bengale (Ấn Độ), chiến đấu với Kitchener ở sa mạc Soudan, chiến đấu với quân FuzzWuzzies.
Từ năm 1900, ông đã nổi danh vì liều lĩnh, can đảm, nổi danh tới nỗi mới hai mươi sáu tuổi đã được bầu vào nghị viện.
Việc xảy ra như vầy: Năm 1899, ông xung phong qua Nam Phi, làm thông tin viên lấy tin tức về chiến tranh Boer cho tờ Morning port, lương hai trăm rưỡi Anh kim mỗi tháng. Lương đó cao, nhưng ông lãnh nó cũng đáng, vì ông là một thông tin viên nổi danh nhất trong lịch sử Anh. Không những ông chép tin gởi về, mà ông còn tạo ra tin tức nữa, nghĩa là tiến sâu vào khu vực của địch, trong một toa xe võ trang bị tấn công bằng đại bác, rồi bị quân Boer bắt, nhốt khám, rồi ông vượt ngục, làm cho quân Boer phát điên lên, vì để một tù binh trong hàng quí phái Anh trốn thoát.
Ra khỏi ngục, ông còn phải vượt mấy trăm cây số trên địa phận của địch có lính Boer gác các đường xe lửa và cầu, ông đi bộ hoặc trốn trong các toa chở hàng, ngủ trong rừng, trong đồng lúa hoặc mỏ than, ngụp trong đồng lầy, qua sông. Ông đi qua những cánh đồng Châu Phi, trong bầy kên kên bay lượn trên đầu chỉ đợi ông mệt quá, gục xuống là chúng tha hồ mổ, rỉa.
Truyện vượt ngục của ông đã là tuyệt hay rồi. Mà ông lại còn viết cho độc giả mê nữa. Bài ông đăng trên tờ Morning post năm 1900 có tiếng vang dữ dội, người Anh nào cũng hăm hở, thành kính đọc. Ông được họ coi là vị anh hùng của dân tộc. Có người đem truyện ông đặt thành lời ca: hàng vạn người bu lại nghe ông diễn thuyết, và ông được nhiệt liệt bầu vào Nghị viện vì hoạt động và danh tiếng của ông.
Châm ngôn của ông là: "Không bao giờ chạy trốn nguy hiểm". Năm 1921, ông qua Mỹ để diễn thuyết bốn mươi lăm lần, mỗi lần được hai trăm hai mươi Anh kim. Nhưng công ty Công an Scotland Yard thấy có thể nguy tới tính mệnh ông, cho ông hay có một bọn người bất mãn ở nhiều nơi trong đế quốc Anh đã họp nhau ở Mỹ thành một hội mà ty Công an gọi là Hội Ám Sát, ông tượng trưng cho các nhà cầm quyền Anh, rất có thể bị chúng bắn trong khi đi khắp nơi diễn thuyết ở Mỹ. Mặc dầu được ty Công an cho hay như vậy, ông cũng cứ đi. Khi tới một tỉnh miền Tây Hoa Kỳ, có người báo cho ông rằng vài hội viên trong Hội Ám Sát đã mua giấy vào nghe. Trưởng ty Công an đó hoảng, ra lệnh bãi bỏ cuộc diễn thuyết, nhưng người tổ chức cuộc diễn thuyết không chịu. Churchill bảo người này:"hành động như ông là phải. Thấy nguy hiểm, không bao giờ được quay lưng chạy. Nếu chạy thì nguy hiểm tăng lên gấp đôi, còn nếu như mạnh bạo xông lại nó, thì nó giảm đi được một nữa. Đừng bao giờ trốn cái gì. Bất kỳ cái gì!"
Đã không trốn nguy hiểm, Churchill còn thường tìm nó. Khi ông đứng đầu Hải quân Anh, ông có được khoảng mười hai chiếc máy bay vừa lớn vừa nhỏ. Hồi đó vào năm 1911, máy bay mới xuất hiện được tám năm, cho nên lái phi cơ không khác gì giỡn với tử thần, vậy mà Churchill cũng nhất định đòi lái lấy, mấy lần bị tai nạn suýt chết. Chính phủ phải ra lệnh cấm, ông không nghe. Ông thích cái nguy hiểm đó và muốn biết rõ về phi cơ vì ông tiên đoán rằng phi cơ sẽ cách mệnh chiến thuật. Hải quân Anh có không lực mạnh mẽ là nhờ công của ông.
Một đức tính siêu phàm của ông nữa là tính quả quyết gang thép, nhờ vào giáo dục của ông. Hồi trẻ ông là một sinh viên rất tầm thường. Ông ghét tiếng La-tinh, tiếng Hy Lạp, ghét Toán học, và Pháp văn. Ông tin chắc rằng trước hết phải thông tiếng Anh đã rồi mới học ngoại ngữ, và tất nhiên là ông có lý. Nhưng vì ông khinh Ngoại ngữ, và toán pháp, nên ông ngồi gần cuối lớp trong ban dự bị vào đại học. Và đây mới là điều lạ: con người ghét toán sau làm giám đốc ngân khố quốc gia, giữ nền tài chánh của Anh trong bốn năm.
Ba lần thi vô trường võ bị Sandhurst rớt cả ba. Lần thứ tư mới đậu.
Rồi một hôm, sau khi tốt nghiệp hai trường Harrow và Sandhurst - hai trường lớn nhất ở Anh, ông thấy một điều - mà nhiều sinh viên tốt nghiệp ở đại học ra đã thấy - là mình thực ra chẳng biết chút gì cả. Lúc đó ông hai mươi hai tuổi, làm sĩ quan trong quân đội Anh ở Ấn Độ, tức thì ông quả quyết tự học, viết thư về cho thân mẫu ở Anh, xin người gởi qua những sách về tiểu sử danh nhân, lịch sử triết lý và kinh tế. Trong khi các bạn sĩ quan ngủ để tránh cái nóng nung người ban trưa, thì ông nghiến ngấu đọc đủ các sách từ Platon tới Gibbon và Shakespeare. Ông bỏ mấy năm luyện lối văn sáng sủa và bóng bẩy mà ta thấy trong các diễn văn và tác phẩm của ông, một lối văn hùng hồn và du dương. Vốn ăn nói vụng về, ông đã tự luyện cho thành một nhà hùng biện hạng nhất cổ kim.
Khi giữ chức thủ tướng, ông làm việc từ mười bốn tới mười bảy giờ mỗi ngày, mỗi tuần ông thường việc cả bảy ngày. Ngay bây giờ ông còn làm việc hăng hái, và các thư ký của ông không được nghỉ tay. Ông làm việc được như vậy nhờ vừa làm vừa nghỉ, và nghỉ trước khi mệt. Mười giờ rưỡi sáng ông mới dậy, nhưng ba giờ trước khi dậy, ông ngồi dựa lưng ở giường, miệng ngậm một điếu xì gà lớn, kêu điện thoại, đọc thư cho thư ký chép, đọc báo, các bản phúc trình và điện tín. Rồi ông mới đứng dậy đi cạo râu bằng một con dao cạo kiểu cũ.
Một giờ trưa ông ăn cơm, ngủ một giờ, rồi làm việc. Năm giờ lại leo lên giường, ngủ nữa giờ. Ăn bữa tối xong, ông thường làm việc tới nữa đ êm.
Một loạt diễn văn của ông đã gom vào một cuốn nhan đề là Trong khi nước Anh ngủ. Trong mấy năm, khi mà phần nhiều chính khách Anh ngủ, hoàn toàn quên đại chiến nó sắp chìm đắm thế giới, thì ông cảm thấy nguy cơ Hitler. Trong sáu năm, từ 1933 đến 1939, gần như ngày nào ông cũng la rằng Đức quốc đương tái võ trang, rằng Hitler đương đóng xe tăng, chế đại bác, phi cơ, dự định thả bom xuống nước Anh, đánh đắm tàu Anh và chiếm thế giới. Ông đã thấy trước tất cả những điều đó: nếu nước Anh nghe lời tiên đoán của ông mà tăng binh bị để sẵn sàng đương đầu với nguy cơ thì đại chiến thứ nhì có lẽ chỉ là một ảo mộng của một kẻ điên.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 87915
Has thanked: 35324 times
Have thanks: 47468 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 20th, 2017, 12:49 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: 40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Postby DaMinhChau » August 28th, 2013, 11:56 pm


Image

23. Henry J. Kaiser



Nhà kinh doanh đã xuất đầu lộ diện mau nhất trong đại chiến vừa rồi là Henry J. Kaiser. Không phải là quân nhân mà giúp cho quân đội Hoa Kỳ chiến thắng, thì công đó, ít ai hơn ông. Trước chiến tranh, tên tuổi ông có mấy ai biết tới, nhưng chỉ trong vài năm, những xí nghiệp mênh mông của ông phát triển lạ lùng. Ông có tới bảy xưởng lớn đóng tàu, làm việc đ êm ngày không nghỉ để cung cấp cho quân đội những tàu chở hàng, tàu dầu, khu trục hạm và hàng không mẫu hạm. Ông cũng có một xưởng chế tạo máy bay khu trục và nhiều bộ phận rời.
Ông xây cất và điều khiển một xưởng lớn sản xuất rất nhiều ma-nhê-di, thứ kim thuộc cực nhẹ, trọng yếu bực nhất trong thời chiến tranh đó.
Khi ông không kiếm ra được số thép cần dùng nữa, ông dựng ngay một xưởng nấu thép, xưởng đầu tiên ở phía tây dãy núi Đá, có đủ lò luyện sắt và máy dát kim loại. Rồi ông mua một mỏ sắt để có đủ quặng dùng, lại mua nhiều mỏ than để có đủ than đốt lò.
Ông và các hội viên của ông dự vào công việc vớt các tàu Nhật đánh đắm ở Trân Châu Cảng, xây nhiều căn cứ hải quân cho phi cơ ở Wake Island, Midway và Guam, lại xây một phần đại lộ quân sự tiến về Alaska lập ở xứ này nhiều phi trường cho nhà binh, nhiều đ ài phát thanh, đ ào nhiều giếng dầu, dựng một nhà máy lọc dầu. Đặt sáu trăm cây số ống dẫn dầu ở miền cực Bắc, và xây nhiều cống ngăn trên kinh Panama.
Ông có xưởng chế tạo xi măng lớn nhất thế giới. Ông đã lưu lại một công trình lớn là xây ba cái dập quan trọng nhất thế giới: đập Boulder trên sông Calorado, đập Bonneville trên sông Columbia ở Oregon (nhiều kỹ sư cho rằng không thể nào xây đập này được), và cũng trên sông đó, đập vĩ đại Grand-Coulee.
Henry Kaiser thành một trong những chủ nhân ông có danh nhất Châu Mỹ. Nhưng vì ông thân mật với mọi người nên người thường đều coi cái con người lớn, mập và hói đó như bạn bè vậy. Người ta yêu ông vì ông giản dị, vui vẻ và hăng hái.
Trước chiến tranh ông chưa hề đóng một chiếc tam bản nào gọi là có. Vậy mà chỉ trong bốn năm ông thành một nhà đóng tàu nhiều nhất và lớn nhất từ xưa tới nay.
Ông đã cách mạng hẳn một trong những kỹ nghệ cổ nhất của loài người: kỹ nghệ đóng tàu. Hồi đó người ta phải mất sáu tháng mới đóng xong một chiếc tàu, mà xưởng Oregon của ông chỉ mười ngày là giao được một chiếc Liberty Ship. Khi các thợ của ông ở Californie hay tin đó, họ thề với nhau phải phá kỷ lục ấy cho được. Họ can đảm bắt tay vào việc, và chiếc Robert E. Peary mà lườn được lắp đúng nữa đ êm chủ nhật, hoàn toàn đóng xong và thả xuống nước chiều thứ năm. Vậy, một công việc hồi trước làm trong sáu tháng, có khi trọn một năm, thì bây giờ chỉ làm trong bốn ngày rưỡi.
Tất nhiên, lần đó chỉ là một thí nghiệm, một sự ganh đua, chứ không thể bắt thợ tuần nào cũng gắng sức như vậy được, nhưng hãng của ông cũng tiếp tục đóng được những chiếc Liberty Ship trong một tháng là xong, từ khi lắp lườn đến khi thả xuống nước.
Ông thích làm tận lực như vậy, sống mãnh liệt trong cơn lốc bất tận. Ông rất ham bắt tay vào những việc mà các nhà chuyên môn cho là thực hành không được.
Khi ông đề nghị đóng tàu theo cách dây chuyền, ông có biết chút gì về cách đó đâu. Từ trước ông chỉ được thăm mỗi xưởng đóng tàu, nhưng ông nghĩ rằng. Không biết chút gì về những khó khăn trong nghề đó có lẽ lại là cái lợi nhất cho ông. Ông nhất định không chịu theo lối cổ truyền là lắp lườn trước rồi mới lắp những bộ phận khác của tàu lên cái lườn đó. Trong thời chiến tranh cần phải làm mau hơn. Ông ra lệnh cho các kỹ sư sửa soạn một xưởng lớn gấp ba những xưởng thường, đủ chỗ cho hàng ngàn thợ cùng làm tại đó một lúc, và cả ba phần của tàu, tức mũi, đuôi và thân tàu phải đóng cùng một lúc ba chỗ khác nhau.
Khi đóng mọi bộ phận rồi, một cái máy cổ hạc vĩ đại lớn hơn những máy dùng từ trước tới nay rất nhiều, kẹp mỗi bộ phận, đem lại đặt vào chỗ của nó ở trong tàu. Rồi người ta hàn kỹ những bộ phận đó với nhau. Ông dùng rất ít đinh tán vì cách đó chậm. Một sáng kiến nữa của ông là lắp các bộ phận của tàu theo cách dây chuyền như lắp xe hơi vậy. Ông và đội kỹ sư của ông lại có ý phóng ngược nhiều bộ phận, như cái mui tàu chẳng hạn, để thợ có thể làm ở dưới, đỡ mệt hơn là cứ phải đưa tay lên trời mà làm việc. Đóng xong thì một máy cổ hạc sẽ lật úp nó lại rồi đưa đi, đặt vào chỗ của nó trong tàu.
Ngay từ hồi nhỏ, Henry J. Kaiser đã có tài tưởng tượng, đức nhiệt thành và một tham vọng bền bĩ nó làm cho ông giàu có và nổi danh. Tổ tiên ông là người Đức, cha ông làm thợ giày, khó nhọc mà không đủ nuôi một gia đình bốn con. Vì ông là con trai độc nhất trong nhà, ông phải thôi học từ hồi mười một tuổi để kiếm tiền giúp cha. Ông xin được một chân giao hàng trong một cửa hàng lớn ở Nữu Ước. Ban ngày làm cho người, nhưng ban đ êm thì làm theo sở thích: hồi đó ông mê chụp hình. Thấy sách nào ở thư viện công cộng ông cũng đọc nghiến ngấu. Rồi ông xin được một chân giúp việc cho một tiệm chụp hình tại ngoại ô Lake Placid. Ông không coi công việc ông làm là một công việc mà cho nó là một trò vui, một trò chơi, một nỗi thích thú. Ông đem cả tấm lòng hăng hái của tuổi xanh vào việc bán máy ảnh, việc rửa hình cho các nhà chơi ảnh. Ông lại in cả bưu thiếp có dán hình Lake Plaud để bán. Sau ba năm ông hoàn toàn làm chủ cửa tiệm. Sau năm năm ông mở thêm nhhững tiệm chụp hình khác ở Palm Beach và Daytona Beach tại Floride. Bây giờ thì ông không có tới một cái máy chụp hình nữa.
Muốn kinh doanh những xí nghiệp lớn hơn, ông bỏ nghề luôn và bổ nhào tới miền duyên hải tây bắc Thái Bình Dương hồi đó mới bắt đầu khai thác. Ông đi chào hàng cho công ty Hawkeye Sand and Gravel ở Spokane, rồi thành hội viên của công ty vì hùn một phần tiền lương vào công việc làm ăn.
Một hôm ông đi thăm một xí nghiệp ở Chicago khởi sự nhiều công việc quan trọng cho thành phố Spokane. Ông muốn bán một món hàng cho xí nghiệp, món hàng đó là sự hợp tác của ông: xí nghiệp dùng ông liền.
Khi ông hai mươi chín tuổi, ông bỏ địa vị làm công ra kinh doanh. Vốn ông chỉ vỏn vẹn vài cái xe bù ệt cũ, ít cái máy trộn xi măng và bốn con ngựa, hết thảy đều là mua chịu. Nhưng ông còn những số vốn khác không hiển hiện bằng, song quan trọng nhiều hơn, là tinh lực kinh nghiệm, trí phán đoán, lòng hăng hái và một nghị lực bất biến, luôn luôn muốn tiến tới. Sau hai tháng, ông lãnh việc lát đường, khoảng hai trăm năm chục ngàn Mỹ kim. Lúc này ông bắt đầu giàu có. Chỉ trong vài năm xí nghiệp của ông lát cả ngàn cây số đại lộ trên bờ biển Thái Bình Dương.
Nhưng ông vẫn thường nói rằng ông không thích tiền. Thực vậy. Ông còn thì giờ đâu để tiêu tiền? Ông rất ít khi rảnh để đọc sách, coi hát bóng hoặc đi nghỉ mát, thì giờ làm việc của ông còn thiếu kia mà! Và ông làm việc rất hăng, càng làm được nhiều càng thích. Ông có một căn trong một khách sạn ở Hoa Thịnh Đốn, một căn trong một khách sạn khác ở Nữu Ước, ngày nào ông cũng mất hằng giờ hội họp, tiếp điện thoại ở xa. Từ Đại Tây Dương tới Thái Bình Dương, tất cả những phòng giấy quan trọng của xí nghiệp ông đều mắc điện thoại vào chung một mạch điện để cho những người cộng tác với ông có thể theo dõi và dự vào những cuộc thảo luận bàn tính của ông trong công việc làm ăn. Phí tổn tất nhiên lớn lắm, mỗi năm tới hai trăm ngàn Mỹ kim tiền điện thoại. Điện tín của ông gởi tới các công sở tới tấp như mưa, hoặc để biện hộ cho ông, hoặc để hăm dọa chính phủ, hoặc để xin việc này việc khác. Ít khi ông ngủ suốt đ êm quá năm giờ. Người ta tự hỏi sống đời hoạt động cuồng nhiệt như vậy mà sao ông không chết vì đau tim hoặc vi trùng phong.
Ông đã cất một ngôi nhà nghỉ mát ở bờ hồ Tahoe, trong dãy núi Sierra Nevada, tại trên cao hai ngàn thước. Cách thức xây cất đặc biệt là của ông. Ông hấp tấp chở những xe ủi đất, những máy đ ào đất, những máy cổ hạc tới hồ Tahoe, ông bắt những kíp thợ làm việc ngày đ êm dưới ánh đ èn giọi, để phá rừng, vỡ đất, lắp vũng. Ông cất một ngôi nhà lớn bằng đá, bốn biệt thự cho khách khứa và một cái ụ để tàu, chỉ trong có hai mươi tám ngày, cất nóng nảy, hấp tấp như là sợ nền văn minh sắp lâm nguy vậy. Đó con người của ông như vậy.
Trong suốt kỳ đại chiến vừa rồi, ông chỉ sản xuất cho chính phủ, nhiều người nghĩ rằng ông tiến lên được như vậy nhờ chiến tranh thì sau chiến tranh, do sự cạnh tranh của các xí nghiệp và sự đảo lộn của các điều kiện kinh tế, ông khó giữ được địa vị, nhưng ông vẫn hy vọng giữ được. Ông đã lập một phòng tìm tòi nghiên cứu gồm nhiều kỹ sư, bác học, sáng chế gia, kỹ thuật gia, chuyên môn gia, nhà nào cũng có óc làm lớn, trông rộng, và cũng có đủ tài tưởng tượng để chế tạo những hóa phẩm mới, xây dựng những kỹ nghệ mới, cho công nhân sau chiến tranh còn được dùng tới một mức cao.
Ông nghĩ rằng nếu dùng những vật liệu nhẹ hơn thì có thể đóng được những tàu chạy nhanh hơn, phí tổn chở chuyên nhẹ hơn và cả ngàn người chưa đi du lịch bao giờ sẽ có thể vượt biển được.
Còn về ngành xe hơi thì ông nói:"Thấy một chiếc xe nặng một ngàn năm trăm kí lô mà chỉ chở một người nặng bảy mươi lăm kí lô, tôi ngao ngán lắm". Ông tính dùng một kim thuộc cực nhẹ và những chất dễ nặn để đóng những chiếc xe hơi chỉ nặng bằng một phần ba những xe hơi hiện thời, còn máy thì ông cho chạy bằng dầu xăng chạy máy bay.
Ông cũng hy vọng chế tạo được nhiều phi cơ chắc chắn cho những bà già cũng dám leo lên và cực rẻ cho các ông già cũng dám bỏ tiền ra mua.
Quả thật ông là người lạc quan. Ông nói: "Kỹ thuật tiến mãnh liệt, như một cái nồi sôi sùng sục. Không thể ngồi đè lên nắp của nó được, nó sẽ văng ta ra bốn phương trời, tan tành như pháo."
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 87915
Has thanked: 35324 times
Have thanks: 47468 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 20th, 2017, 12:49 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: 40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Postby DaMinhChau » August 28th, 2013, 11:59 pm


Image

24. Charles Dickens


Cách nay gần đúng trăm năm, và gần đúng vào ngày lễ Giáng Sinh, một cuốn sách nhỏ được xuất bản ở Luân Đôn, một tiểu thuyết sau này thành bất hủ. Nhiều người cho cuốn đó là "cuốn sách nhỏ có giá trị nhất thế giới". Khi cuốn đó phát hành, những người Anh quen nhau mà gặp nhau trên đường Strand hoặc Pall Mall đều hỏi nhau: "Ông đã đọc cuốn đó chưa?". Và ai cũng đáp:"Có, tôi đọc rồi, cầu Trời phù hộ cho ông ấy".
Nội ngày đầu, sách đã bán được một ngàn cuốn. Trong nữa tháng, sách bán được mười lăm ngàn cuốn. Rồi từ đó sách tái bản không biết bao nhiêu lần, được dịch ra gần đủ các thứ tiếng. Ít năm sau, J.P. Morgan mua bản thảo bằng một giá không tưởng tượng được; và hiện nay bản thảo ấy nằm chung với những bảo vật vô giá khác, trong phòng triển lãm mỹ thuật của ông ở Nữu Ước mà ông gọi là thư viện của ông.
Cuốn sách nổi danh khắp thế giới đó là cuốn gì? Là cuốn Christmas Carol (Bài hát lễ Giáng Sinh) của Charles Dickens.
Charles Dickens thành nhà văn viết nhiều nhất và được độc giả thích nhất trong văn học sử Anh; vậy mà khi ông bắt đầu viết, ông sợ bị người ta chế nhạo tới nỗi phải lén lút đi bỏ bản thảo đầu tiên của mình vào thùng thư trong đ êm tối để không ai thấy sự cả gan của mình.
Khi truyện ông viết được xuất bản, ông hai mươi hai tuổi, ông vui sướng quá đỗi, đi lanh thang không mục đích trong phố phường, lệ chảy ướt đầm mặt.
Người ta không trả cho ông một xu nhỏ nào về truyện đó. Và tám truyện sau đem cho ông được bao nhiêu tiền, bạn thử đoán xem? Không có một đồng nào hết. Hoàn toàn không. Nhưng ông vẫn cố gắng viết, lấy sự sáng tác làm lẽ sống ở đời. Sau cùng khi người ta chịu trả tiền, thì ông cũng chỉ được lãnh một ngân phiếu là một Anh kim cho mỗi truyện. Vâng, ông chỉ được lãnh một Anh kim về truyện đầu; nhưng truyện cuối của ông đã đem lại cho người thừa kế ông ba Anh kim một chữ tức cái giá cao nhất từ hồi khai thiên lập địa đến nay, chưa tác giả nào được lãnh! Ba Anh kim mỗi chữ!(1)
Phần đông nhà văn, chết rồi thì chỉ trong vòng năm năm là không ai biết tới, nhớ tới tên tuổi của mình nữa.
Còn Dickens mất đã sáu mươi ba năm mà các nhà xuất bản vẫn trả cho người kế thừa ông trên bốn vạn Anh kim về truyện Đức Chúa Jesus, một cuốn sách nhỏ ông viết riêng cho các con ông đọc.
Trong khoảng trăm năm nay, tiểu thuyết của Charles Dickens bán mạnh một cách kỳ dị. Chỉ thua tác phẩm của Shakespeare và Thánh Kinh. Cả trên sân khấu lẫn trên màn ảnh, những tiểu thuyết đó luôn luôn được hoan nghênh.
Trong suốt đời ông, ông chỉ đi học không đầy bốn năm, vậy mà ông viết mười bảy tiểu thuyết có danh nhất bằng tiếng Anh. Song thân ông điều khiển một trường học, nhưng ông không hề tới trường đó, vì trường mở cho thiếu nữ, và treo một bảng đồng có hàng chữ: "Trường của bà Dickens" nhưng sự thực thì trong cả thành Luân Đôn chẳng có lấy được một thiếu nữ nào lại đó học.
Mà số nợ thì mỗi ngày một cao, một tăng lên. Chủ nợ kiện, rủa, đập bàn. Rốt cuộc, bất bình quá, họ làm cho thân phụ Dickens phải vào khám.
Tuổi thơ của Dickens thực là nghèo khổ và thương tâm, thương tâm cũng chưa đúng, phải nói là bi thảm. Mới mười một tuổi đầu thì cha bị nhốt khám, gia đình túng quẫn quá, không có gì ăn; cho nên mỗi buổi sáng, chàng phải lại tiệm cầm đồ cầm vài đồ lặt vặt còn lại trong nhà. Chàng phải bán cả những cuốn sách chàng nâng niu, bán mười cuốn mà chỉ có những cuốn đó là làm bạn với chàng thôi, ngoài ra không ai chơi với chàng hết. Sau này chàng nói:"Khi tôi bán những cuốn đó, tôi thấy muốn đứt ruột".
Sau cùng bà thân của Dickens dắt theo bốn người con vào khám ở với chồng. Mỗi buổi sáng, khi mặt trời mọc chàng vào khám ở với gia đình suốt ngày. Đến tối chàng về căn phòng ảm đạm ở gác thượng, sát nóc nhà, ngủ với hai đứa nhỏ khác. Cảnh của chàng lúc đó như cảnh địa ngục. Sau chàng xin được việc dán nhãn lên những ve thuốc nhuộm đen trong một kho đầy những chuột. Tháng đầu lãnh được ít đồng, chàng mướn một phòng khác, một cái hang nhỏ tối tăm cũng ở gác thượng sát nóc với một đống màn gối dơ ở trong một góc; vậy mà Dickens bảo rằng cái hang đó đối với chàng"không khác gì cảnh thiên đ àng".
Dickens tả nhiều cảnh linh động về đời sống hoàn toàn hạnh phúc trong gia đình. Nhưng hôn nhân của ông là một sự thất bại, một sự thất bại buồn rầu, bi thảm.
Ông sống hai mươi ba năm với một người vợ mà ông không thương. Bà vợ sanh được mười người con. Cảnh nghèo khổ cứ mỗi năm một tăng. Khắp thế giới ngưỡng mộ ông mà trong nhà ông, toàn là cảnh đứt ruột. Sau cùng, đau khổ quá lắm, không chịu nỗi nữa, ông phải làm một việc mà hồi đó coi là động trời: Ông đăng ngay trên mặt báo của ông một tờ bố cáo nói rằng hai vợ chồng ông không sống với nhau nữa (...)
Dickens là người được nhiều người yêu, ngưỡng mộ nhất thời ông. Lần thứ nhì ông qua thăm Mỹ, dân chúng sắp hàng, đứng run rẩy mấy giờ trong gió để đợi mua giấy vô nghe ông diễn thuyết.
Ở Brooklyn, dân chúng đốt pháo mừng, và trải đệm trên đường ngồi suốt đ êm, không sợ bị cảm phong, cảm hàn, không sợ bị sưng phổi, để đợi mua vé. Và khi vé bán hết, hàng trăm người phải về không, bất bình lắm, làm náo động cả lên.
Văn học sử đầy những danh nhân tính tình trái ngược nhau, nhưng xét kỹ thì Charles Dickens có lẽ là người lạ lùng nhất trong giới nhà văn.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 87915
Has thanked: 35324 times
Have thanks: 47468 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 20th, 2017, 12:49 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: 40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Postby DaMinhChau » August 29th, 2013, 12:00 am


Image

25. Connie Mack


Bạn đã nghe tên Cornelius Mc. Gillicuddy? Chắc chắn có, vì về môn dã cầu, ông là người nổi danh nhất. Từ năm 1883, ông thành một nhà nghề, lúc thì chơi, lúc thì điều khiển. Người ta gọi ông là Connie Mack, và trong giới dã cầu, ai cũng mến ông.
Ông là người có công nhất với môn dã cầu. Khi ông vô nghề thì môn đó là một trò chơi tàn nhẫn, ồn ào, xấu xa. Nhờ những quy tắc và gương tốt của ông nó biến thành một môn thể thao lương thiện, có ích, một môn thể thao toàn quốc của một trăm rưởi triệu người.
Ông sanh năm 1862, hồi mà Lincoln làm Tổng thống. Hiện nay ông còn chơi banh hay hơn nhiều thanh niên, mặc dầu ông đã chơi từ... năm nào, chính ông cũng không nhớ nữa, chỉ biết là trên bảy chục năm rồi.
Trong một cuộc phỏng vấn, ông bảo tôi rằng đời ông chỉ là một vụ nghỉ dài hạn. Luôn luôn ông ngạc nhiên tại sao người ta lại trả tiền cho bọn người lớn chơi một trò chơi rất vui, là trò dã cầu kia chứ.
Năm ông hai mươi tuổi thì thân phụ ông mất, ông phải vô làm trong một xưởng đóng giày để nuôi gia đình. Mỗi tuần ông lãnh được mười Mỹ kim và ông phải đi bộ năm cây số sáng chiều để tiết kiệm một cắc xe đem về đưa cho mẹ.
Ông ghét đóng giày và chỉ thích dã cầu, và ông đã quyết định một cách khôn là làm cái gì mình thích để kiếm ăn. Nhưng bà cụ không muốn vậy, bà cụ tức giận, mà không phải vô lý vì cả gia đình trông cậy ở ông, mà ông đóng giày còn có tiền công nhất định, chứ chơi dã cầu thì có ai trả cho ông xu nào không? Không, tuyệt nhiên không. Vậy thì trong nhà lấy gì chi tiêu? Ngày nay mỗi lần nhớ lại hồi đó, ông Connie cũng tự hỏi mình sao lại liều lĩnh như vậy.
Mới đầu nhập đội East Brookfield trong liên đoàn Massachusetts. Không người nào trong đội được lãnh lương vì đội không kiếm được tiền đều đều. Lại coi khỏi phải trả tiền. Họ chơi trên một khu đất hoang và khi chạy họ thường đạp nhầm những vỏ hộp, mảnh sắt, yên ngựa quá rách. Chơi xong họ xin tiền khán giả nhưng họ chưa chìa nón ra thì đám đông đã tan như tuyết dưới ánh nắng. Mỗi chiều thứ bảy, Connie cũng chia được ít cắc bạc mà khán giả thương tình liệng vào nón. Chỉ được vậy thôi. Khi nào quĩ của đội nghèo quá thì đội tổ chức một hội đồng quê vào coi phải trả tiền.
...Vậy thì bí quyết thành công của Connie Mack trong việc điều khiển dã cầu là ở đâu? Eddie Collins người đã chơi lâu năm trong đội của ông, biết rõ bí quyết đó. Collins bây giờ là phó hội trưởng và nhà dìu dắt Liên đoàn Boston, bảo rằng Connie thành công không nhờ sự hiểu biết rộng thuật chơi dã cầu mà nhờ hiểu lòng người. Ông biết hướng dẫn, khuyến khích bạn đồng đội. Khó mà kiếm được một người trên khắp thế giới có tài giúp người khác dùng hết khả năng của họ như ông.
Ông gốc gác ở Ái Nhĩ Lan, cho nên người ta có thể ngờ rằng đó là một thiên tư của ông. Nhưng sự thực thì ba năm đầu trong nghề, ông đã thất bại thảm hại. Đội của ông đứng hàng thứ sáu, rồi thụt xuống hàng thứ bảy, sau cùng xuống hàng cuối. Connie Mack khác người ở chỗ không cho rằng thất bại là tại các bạn chơi dở. Ông tự nhận lỗi về mình, vì ông không biết điều khiển. Sau ba năm dìu dắt một đội dã cầu rất quan trọng ông xin thôi, trở về chơi trong đội Milwaukee để có thì giờ và cơ hội nghiên cứu vấn đề này: làm sao cho người trong đội chơi như ý muốn của ông.
Rồi ông lại vào những đội quan trọng hơn, khéo dìu dắt và lập được những đội chơi hay nhất thời đó. Trước khi đội danh tiếng New York Yankees ra đời, thì không đội nào chiếm được nhiều giải vô địch trong xứ và giải vô địch thế giới như của ông.
Tài lớn nhất của ông là gợi được lòng hăng hái của người khác. Bạn hỏi tôi bằng cách nào ư? Có gì đâu? Ông bẩm sinh có lòng yêu người. Ông rất tự nhiên. Mỗi lời ông đều phát từ đáy lòng ra. Ông nói với tôi:
- Luôn luôn tôi rán tìm một lời để khen mỗi bạn.
Không khi nào ông làm cho các bạn ông thất vọng. Ông rán dùng lời khuyên, như khuyến khích, chứ không chỉ trích, rầy la, để họ chơi hay hơn. Đây là một thí dụ: Khi Eddie Collins mới ở trường ra nhập đội Athletics thì chưa biết gì về thuật nhào vào banh, Connie bảo Eddie:
- Anh đã thấy Cobb nhào vào banh chưa? Hắn nhào khá đấy phải không?
Eddie đã thấy lần nào đâu, nhưng từ đó để ý nhận xét, tập tành mỗi ngày, mỗi giờ cho được như Cobb và rốt cuộc thành ra chơi giỏi vào hạng nhất.
Connie cũng cho biết một quy tắc rất quan trọng nữa trong việc dìu dắt người là không bao giờ vạch lỗi của ai trước mặt những bạn khác hoặc người lạ. Ông nói:
- Chỉ trích ai trước mặt người khác thì không gây được thiện chí mà chỉ gây lòng phản động.
Lại thêm kinh nghiệm dạy ông rằng phải đợi ít nhất là hai mươi bốn giờ rồi mới nên vạch lỗi lầm cho các bạn đồng đội. Mới đầu ông không hành động như vậy, hễ trận nào thua thì ông chỉ trích bằng giọng chua chát ngay khi các bạn mới chơi xong và đương thay đồ. Sau ông thấy rằng mới ở sân banh ra, ông khó giữ được miệng lắm, nên quyết định chơi xong về nhà liền, đợi hôm sau mới gặp các bạn và thảo luận.
Ông cũng tránh sự bắt người khác làm theo ý ông mà để các cầu thủ già tự giải quyết vấn đề của họ tùy ý họ. Ông nhận thấy rằng điều tốt cho người này không nhất định tốt cho người khác.
Chẳng hạn năm 1913, sau khi ăn giải vô địch trong xứ rồi mà còn lâu mới mãn mùa chơi, ông định cho hai cầu thủ, Plank và Benoder nghỉ ngơi trước khi dự vào cuộc tranh giải vô địch thế giới. Ông cho họ nghỉ mười ngày để họ tự ý muốn làm gì thì làm.
Mà họ làm gì? Benoder vẫn luyện dã cầu, ngày nào cũng tới sân tập dợt hoặc dạo chơi chung quanh sân. Plank trái lại, không mò tới trái banh, về trại ruộng ở gần Gettysburg để câu cá và thơ thẩn. Hai người đó là những cầu thủ lão luyện, họ biết nên làm cách nào thì có lợi cho họ. Nhờ vậy khi tranh giải vô địch thế giới, họ rất sung sức, chơi rất hay.
Mặc dầu ông là nhà dìu dắt vẻ vang nhất trong lịch sử dã cầu, cũng đã có nhiều lần ông chịu nỗi cay đắng thất bại: trong tám năm liền, đội ông đứng hạng chót, chưa có nhà dìu dắt nào như vậy mà cũng chưa có nhà nào trong tám năm thua tám trận.
Ông có lo lắng về điều đó không? Bây giờ thì không, nhưng ông thú rằng hồi mới vào nghề, mỗi khi thua liên tiếp là ông mất ăn mất ngủ. Rồi một hôm ông hết lo, hôm đó cách đây hai mươi lăm năm. Tôi tò mò muốn biết ông làm cách nào. Ông đáp:
- Có gì đâu. Tôi thấy rằng lo lắng hoài như vậy sẽ có hại cho nghề dìu dắt của tôi. Tôi tin rằng nếu tôi cứ tiếp tục lo lắng như hồi đó thì bây giờ tôi đã ngoẻo rồi. Tôi đã hiểu như vậy là điên, và tôi rán sức tập trung tư tưởng vào việc tìm cách thắng trong những cuộc đấu sau đến nỗi không còn thì giờ nghĩ ngợi về những thất bại đã qua nữa. Nhiều người tới bốn chục tuổi là sa lầy vào ao tù thói quen; mà Connie Mack tới tám chục tuổi còn rán tránh tật đó, đến nổi mỗi ngày ông đổi đường đi tới phòng giấy, không chịu dùng quen một con đường nào. Ông cho rằng sở dĩ ông sống lâu, không tàn tật mà sung sướng là nhờ nhiều yếu tố:
Ông được di truyền một thể chất mạnh mẽ.
Ông lại nghỉ ngơi nhiều. Đêm ngủ mười giờ mà chiều vẫn ngủ thêm một giấc ngắn nữa. Nếu đội banh của ông chơi trên sân nhà thì ông về phòng giấy riêng, khóa cửa lại, cắt điện thoại ngủ nửa giờ.
Sau cùng ông ăn uống rất điều độ, rán giữ cho đừng ốm quá hoặc mập quá. Đôi khi ông cũng uống rượu. Nhưng có lần trong một cuộc hội họp gia đình, có đông đủ người con và mười sáu đứa cháu, ông vui vẻ uống hai ly "cốc tay"; người nhà trách đ ùa ông quá chén, ông cầm ly la ve ở trên bàn, nói:
- Các người coi này, lão uống ly này là ly cuối cùng đây.
Năm đó là năm 1937. Từ hồi ấy ông không hề nhấp một chút rượu nào nữa.
Sanh từ hồi nội chiến (1) mà bây giờ Connie Mack vẫn chưa tính chuyện nghỉ ngơi. Ông bảo:
- Tôi không giàu có gì. Tôi chưa thể nghỉ được, còn phải tiếp tục làm việc. Nhưng khi nào mà tôi lẩn thẩn, kể lại hoài một chuyện thì tôi sẽ về vườn. Lúc đó, tôi biết rằng tôi đã già rồi.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 87915
Has thanked: 35324 times
Have thanks: 47468 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 20th, 2017, 12:49 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: 40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Postby DaMinhChau » August 31st, 2013, 5:02 pm


Image

26. Howard Thurston




Cách đây nửa thế kỷ, trong một đ êm lạnh, một đám đông khán giả từ trong rạp Mc.Vicker ở Chicago ùa ra đường. Họ vui vẻ, cười nói vì đã được coi nhà ảo thuật danh tiếng Alexander Herrmann làm trò.
Một em nhỏ đứng trên vỉa hè, lạnh run lên, rao bán tờ Chicago Tribune. Thực tội nghiệp cho em: không có áo lạnh, không có nhà, mà cũng không có tiền để mướn một cái gường nữa. Đêm đó, khi khán giả đã về hết, em lấy báo quấn vào người rồi ngủ trên một cái rá lò bằng sắt để hưởng nhờ một chút hơi nóng của lò đặt dưới hầm, trong một lối đi phía sau rạp.
Vừa đói vừa lạnh, em nằm, tự nguyện sau này sẽ thành một nhà ảo thuật. Em mơ ước được khán giả vỗ tay khen, được mặc áo lót bằng lông thú và được những thiếu nữ đứng đợi em ở cửa rạp. Và em thề rằng khi nào đã thành một nhà ảo thuật nổi danh, em sẽ trở về diễn ở rạp đó.
Em nhỏ đó là Howard Thurston và hai chục năm sau em thực hành được đúng sở nguyện. Khi diễn xong, Thurston đi vòng ra sau rạp và tìm được tên mình khắc tại đó hồi còn là một trẻ bán báo đói, không nhà không cửa.
Lúc chết, vào năm 1936, Thurston đã thành ông vua trong nghề ảo thuật. Trong bốn chục năm cuối cùng, ông mấy lần đi khắp thế giới, tới đâu cũng làm khán giả say mê vì tài ông. Hơn sáu chục triệu người coi ông diễn và ông kiếm được gần 400.000 Anh kim.
Hồi ông gần mất, tôi được coi ông diễn một lần. Diễn xong, ông vô phòng thay đồ và kể cho tôi nghe hàng giờ về đời sống đầy chuyện ly kỳ lạ lùng không kém những ảo thuật của ông.
Lúc nhỏ, có lần ông bị cha đánh đập tàn nhẫn vì ông cho ngựa chạy mau quá. Ông tức giận, bỏ nhà ra đi. Cha mẹ ông tưởng ông chết, mãi năm năm sau mới được tin tức về ông.
Mà lạ lùng là sao ông không bị giết, vì ông đi lang thang, đeo vào những xe chở hàng, ăn xin, ăn cắp, ngủ trong lẫm lúa, trong đống cỏ khô hoặc trong những nhà hoang. Ông bị bắt mười hai lần, bị săn đuổi, chửi rủa, đánh đập, liệng từ trên xe xuống đất, có lần người ta nhắm ông mà bắn nữa.
Ông thành một chú nài, một tên cờ bạc. Năm mười bảy tuổi, ông trôi tới Nữu Ước, trong túi không có một xu mà không quen thuộc một ai. Rồi một việc xảy tới. Ông len lỏi vào một đám đông nghe một nhà truyền giáo giảng đạo.
Ông cảm động quá, từ hồi nhỏ chưa lần nào kích thích như lần đó. Ông thấy những tội lỗi của ông. Và ông bước lại bàn thờ, nước mắt ròng ròng trên má, ông xin vô đạo. Hai năm sau, tên du thủ du thực hồi trước đã đứng ở một góc đường tại Chinatown để giảng đạo.
Hồi đó ông sướng vô cùng, vừa làm việc vừa học đạo. Ông mười tám tuổi. Trước kia ông chưa được đi học trên sáu tháng; nhờ coi những chữ ghi trên các xe chở hàng, và trên đường xe lửa, rồi hỏi bạn cách đọc mà lần lần biết đọc. Nhưng ông không biết viết, không biết toán, cũng không biết đánh vần. Thành thử bấy giờ, ngày thì ông phải học đạo ở trường Bible School, và học tiếng Hi Lạp, học môn vạn vật, đ êm thì phải học đọc, học viết, học toán.
Sau ông quyết định làm một nhà truyền đạo chuyên về y học, và sắp vô trường đại học Pennsylvania thì một việc nhỏ xảy ra làm đời ông thay đổi hẳn.
Đi từ Massachusetts tới Philadelphia, ông phải đổi xe lửa ở Albany. Trong khi đợi xe, ông vô một rạp hát coi Alexander Herrmann diễn trò ảo thuật. Ông từ trước vẫn thích ảo thuật, nên lần đó muốn được nói chuyện với Herrmann. Ông lại khách sạn, mướn một phòng sát phòng của Herrmann, ông đặt tai vào lỗ khóa nghe ngóng, đi đi lại lại ở hàng lang, rán thu hết can đảm để gõ cửa, nhưng không dám.
Sáng hôm sau, ông theo nhà ảo thuật ra ga, và đứng trân trân ngó Herrmann, vừa kinh, vừa sợ. Herrmann đi Syracuse; ông thì phải tới Nữa Ước, và đáng lẽ mua giấy đi Nữu Ước, thì ông lại mua lầm giấy đi Syracuse.
Sự lầm lộn đó thay đổi đời ông, làm ông đáng lẽ là một nhà truyền giáo thì thành một nhà ảo thuật.
Hồi ông đương thịnh, ông làm trò mà kiếm được mỗi ngày hai trăm Anh kim (...)
Ông bảo rằng nhiều người biết về ảo thuật cũng bằng ông. Vậy, ông thành công là nhờ cái gì?
Nhớ ít nhất là hai điều. Điều thứ nhất, ông có tài đem cá tính của ông lên sân khấu. Ông hiểu bản tính của con người, và ông cho rằng đức đó cũng quan trọng như sự hiểu biết về ảo thuật. Mỗi cử động của ông cả khi ông đổi giọng hoặc khi ông ngước mắt, đều được ông tính toán kỹ lưỡng từ trước, và làm đúng lúc, không sai một phần giây.
Điều thứ nhì là ông yêu khán giả. Trước khi kéo màn, ông nhảy nhót ở hậu trường sân khấu, cho thêm phần hăng hái... Và luôn luôn tự nhủ: "Tôi yêu khán giả, tôi muốn làm họ vui. Tôi sung sướng. Tôi sung sướng".
Ông biết rằng nếu ông không sung sướng thì không làm cho người khác vui thích được.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 87915
Has thanked: 35324 times
Have thanks: 47468 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 20th, 2017, 12:49 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: 40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Postby DaMinhChau » August 31st, 2013, 5:05 pm


Image

27. Đại Tá Robert Falcon Scott


Tôi chưa thấy truyện nào kích thích hơn, có những nét anh hùng mà bi thảm hơn đời đại tá Robert Falcon Scott, người thứ nhì đã tới Nam cực. Cái chết của ông và hai bạn ông ở Ross còn làm cho nhân loại cảm động.
Tin ông mất tới nước Anh vào một buổi chiều nắng ráo tháng hai 1913. Cây ky phù lam nở đầy bông ở vườn Regent Park. Dân tộc Anh choáng váng như tin Nelson mất ở Trafalgar thời trước.
Hai mươi hai năm sau, nước Anh dựng một viện kỷ niệm Scott, một viện khảo cứu lưỡng cực, viện thứ nhất về loại đó trên thế giới. Ngay trên cửa viện có một hàng chữ: "Người tìm những bí mật của Nam Cực và Người đã tìm thấy những bí mật của Thượng Đế".
Scott bắt đầu cuộc thám hiểm ở Terra Nova, và từ khi tầu ông tiến vào cõi băng tuyết là sự rủi ro cứ theo riết, quấy phá ông hoài.
Những ngọn sóng vĩ đại đập vào tàu đánh trôi hết những hàng hóa ở trên boong xuống biển. Hàng tấn nước biển ào ào như sấm, cuồn cuộn chảy vào hầm tàu. Nước tràn cả vào lò lửa đốt nồi súp de. Máy bơm hóa vô dụng. Và mấy ngày như vậy, chiếc tàu hùng dũng cứ lăn ở giữa những làn sóng, trên mặt biển tung tóe, không cách gì cứu được.
Nhưng sự rủi ro nào đã hết đâu. Đó mới chỉ là những bước đầu.
Ông đem theo mấy con ngựa nhỏ khỏe mạnh đã quen chịu lạnh ở miền băng tuyết xứ Sibérie; nhưng lúc đó chúng hấp hối, dãy dụa trên băng tuyết, cẳng thì gẫy vì thụt xuống hố; thành thử ông phải bắn cho chúng chết.
Tới chó cũng vậy. Ông dắt theo toàn là giống chó mạnh khỏe ở Yukon, mà chúng hóa ra như khờ dại, cứ nhắm mắt chạy trên bờ những lỗ nẻ trong băng.
Thành thử Scott và bốn người bạn đồng hành phải thay ngựa, thay chó, kéo một chiếc xe lướt tuyết nặng nửa tạ, thui thủi trên đường tới Nam cực. Ngày lại ngày, họ mắm môi mắm lợi tiến trong cánh đồng băng tuyết, hổn hển đẩy hoặc kéo, nghẹt thở vì không khí lạnh và loãng ở một nơi cao, cách mặt biển ba ngàn thước.
Vậy mà họ không phàn nàn. Vì ở cuối con đường đau khổ đó, họ sẽ thấy sự thành công, sẽ thấy Nam cực huyền bí, nằm yên lặng từ hồi khai thiên lập địa tới nay. Nam cực, nơi mà không có lấy một sinh vật, cả đến bóng một con hải âu lạc bầy cũng không có.
Và tới ngày thứ mười bốn, họ tới được Nam cực. Nhưng họ sửng sốt và đau lòng làm sao! Trước mặt họ, ở đầu một cây gậy, một miếng vải rách phất phới bay trong gió lạnh. Họ nhìn kỹ thì là một ngọn cờ, ngọn quốc kỳ của Na Uy, Amundsen, người Na Uy, đã tới trước họ! Thành thử, sau mấy năm dự bị, sau mấy tháng đau khổ, họ đã thất bại chỉ vì trễ mất năm tuần lễ.
Chán nản, họ trở về.
Cuộc chiến đấu lâm ly trên đường về đáng là một khúc ngâm đoạn trường. Gió lạnh buốt tới xương, áo họ đầy tuyết và râu họ đó băng. Họ lảo đảo té: mỗi vết thương đưa họ tới gần cõi chết hơn một chút. Trước hết, sĩ quan Evans, người lực lưỡng nhất trong đoàn, trượt chân, té, đầu đập vào băng, chết tươi.
Rồi tới đại táOates đau. Chân ông bị lạnh quá, nứt ra. Ông đi không nổi. Ông biết rằng mình làm chậm việc hồi hương của các bạn. Cho nên, một đ êm ông làm một việc chỉ thần thánh mới làm nổi. Giữa cơn dông tuyết gầm thét, ông rời bạn bè, đi ra ngoài trời để chết cho các bạn sống.
Không làm bộ anh hùng, cũng không tỏ vẻ quan trọng, ông bình tĩnh bảo các bạn: "Tôi ra ngoài một chút". Rồi ông đi luôn. Không ai tìm thấy xác chết cóng của ông. Nhưng hiện nay một đ ài kỷ niệm được dựng tại chỗ ông ra đi, trên đ ài có hàng chữ: Ở khoảng này, một vị trượng phu anh hùng đã lìa đời.
Scott và hai bạn còn lại lảo đảo tiến. Họ không còn ra vẻ con người nữa. Mũi, ngón tay, chân đều nứt nẻ vì lạnh. Và ngày mười chín tháng hai năm 1912, nghĩa là mười lăm ngày sau khi họ rời Nam cực, họ cắm trại lần cuối cùng. Họ còn đủ than để nấu hai chén trà, và đủ thức ăn cho hai ngày. Họ tin rằng họ sẽ thoát chết vì chỉ còn khoảng hai chục cây số nữa là tới một chỗ mà họ đã chôn thức ăn trong lúc đi. Rán sức: ghê gớm thì tới được.
Thình lình tai nạn thê thảm xảy ra.
Từ chân trời, một cơn dông tuyết gào thét, ào ào thổi tới, mạnh tới nỗi cắt ngang những chỏm băng. Trên trái đất không có sinh vật nào tiến trong cơn dông tuyết đó mà sống nổi. Scott và hai bạn đ ành ngừng bước, nằm trong lều mười một ngày nghe dông gầm. Thức ăn đã hết. Tất chết. Họ biết rằng họ phải chết.
Có một cách để chết, một cách êm ái. Họ mang theo nha phiến để phòng những lúc cần phải chết như lúc này. Nuốt một phân lượng lớn là họ nằm đó, lơ mơ mộng thích thú rồi ngủ luôn.
Nhưng họ không thèm dùng nha phiến. Họ quyết nhìn thẳng vào cái chết một cách trượng phu đặc biệt của nước Anh thời cổ.
Trong giờ cuối cùng của đời ông, Scott viết một bức thư tả cảnh chết cho ông James Barrie. Thức ăn hết đã lâu. Thần chết đã lởn vởn ở trong lều. Vậy mà Scott viết:"Nếu ông nghe được chúng tôi ca vang cả lều thì lòng ông chắc cũng vui vui".
Tám tháng sau, một ngày nọ, trong khi mặt trời Nam cực yên lặng chiếu sáng cảnh băng tuyết lấp lánh, mênh mông, một đoàn người kiếm được thi hài của ba vị anh hùng đó.
Người ta chôn ba vị ở ngay chỗ ba vị lìa trần, chôn dưới một thánh giá làm bằng hai cái pa tanh cột với nhau. Và trên nấm mồ chung đó, người ta viết những vần thơ này của Tennyson:
Có tính bình tĩnh của những tâm hồn anh hùng,
Thì mặc dầu thời vận, số mạng làm cho yếu nhưng chí vẫn mạnh.
Để phấn đấu, tìm tòi, thấy, chứ không chịu khuất phục.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 87915
Has thanked: 35324 times
Have thanks: 47468 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 20th, 2017, 12:49 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: 40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Postby DaMinhChau » August 31st, 2013, 5:08 pm


Image
28. Al Smith


Năm mươi tám năm trước, một người lái xe cam nhông chết ở Nữu Ước. Ông ta quê quán ở Ái Nhĩ Lan, đã đau từ lâu, phải bỏ nghề lái xe mà làm nghề gác đ êm. Khi ông mất, nhà nghèo tới nỗi bạn bè phải góp nhau mỗi người một ít mua cho ông cỗ quan tài. Ông để lại vợ góa và hai con. Bà vợ mơ mộng những chuyện xa xôi, quyết chí cho con đi học, tới đâu hay tới đó. Bà xin được một việc trong một hãng làm dù và làm mười giờ một ngày. Mặc dầu vậy, tiền công không đủ ăn, bà phải đem đồ ở hãng về nhà làm thêm tới mười, mười một giờ đ êm. Thành thử người mẹ đó làm quần quật mười bốn mười lăm giờ một ngày để nuôi con.
Đáng thương tâm làm sao! Bà không vén được tấm màn tương lai để mà thấy trước rằng một ngày kia người con nhỏ của bà làm Thống Đốc tiểu bang Nữu Ước, không phải một lần mà là bốn lần, lâu hơn hết thảy những Thống Đốc trước.
Đáng thương tâm làm sao! Người đó không thể thấy trước rằng năm 1928, con bà là ứng cử viên của đảng Dân Chủ để tranh chức Tổng thống.
Đáng thương tâm làm sao! Bà không được biết trước rằng ngày mùng 5 tháng 5 năm 1944, tờ báo New York Times gọi con bà là "công dân được nhiều người mến nhất ở Nữu Ước".
Vì Al.Smith chính là người con cưng của thành phố lớn nhất châu Mỹ (...)
Một lần tôi hỏi ông đi học được bao lâu. Ông ngập ngừng một chút rồi nói: "Để tôi tính - để tôi tính...Tôi không nhớ rõ lắm. Tôi sanh năm 1873, tôi đoán rằng tôi được đi học khoảng bảy hay tám năm, nhưng tôi không chứng thực được điều đó. Tôi không được bằng cấp nào hết mà cũng không có tấm giấy nào chứng tỏ rằng tôi đã đi học".
Vâng, Alfred Emmanuel Smith không có miếng giấy nào chứng tỏ rằng ông đã đi học, nhưng ông có những tờ giấy chứng tỏ rằng ông được sáu trường đại học lớn, trong số đó có trường Columbia và trường Harvard, tặng ông học vị danh dự vì những thành công xuất chúng của ông về chính trị và lòng hy sinh của ông cho nhân loại.
Tôi hỏi ông có buồn vì lẽ không được vô đại học không. Ông đáp không. Ông bảo rằng người nào muốn tiến lên những bực cao trong chính giới thì phải có tài đắc nhân tâm, phải biết cách cư xử ở đời, mà ông cảm thấy rằng có lẽ khi vác đồ ở các chợ tại đường Fulton và khi làm thừa phát lại trong tám năm, ông đã học được về cách xử thế nhiều hơn là nếu ông học trong một trường đại học.
Hồi mười tuổi, ông ở trong nhạc đội nhà thờ, mùa lạnh cũng phải dậy sớm từ năm giờ để hầu lễ vào sáu giờ.
Năm hai mươi hai tuổi, ông bán báo ở bến tàu. Lúc rảnh ông chơi dã cầu ở dưới gầm cầu Brooklyn Bridge... Nhưng ông thích nhất là được lái xe cứu hỏa. Ông chỉ mong được làm lính cứu hỏa, nên sống chung với lính cứu hỏa, ca múa cho họ vui. Và khi có chuông kêu cấp cứu thì ông chụp lấy bình cà phê và hộp bánh luôn luôn để sẵn ở cửa sổ, can đảm leo lên xe cứu hỏa khi xe bắt đầu phóng trong thành phố (...)
Năm ông mười bốn tuổi, một việc xảy ra, định hướng cho đời ông. Ông thắng được một cuộc tranh biện trong trường. Sự thành công đó đưa ông lên sân khấu và làm tăng lòng tự tin của ông. Ông được mời vào hội Saint James Players, một hội tài tử diễn kịch để giúp cô nhi viện. Ông thành công. Khán giả thích nụ cười và thiên tài của ông.
Chẳng bao lâu ông thành ngôi sao và linh hồn của hội. Ông thích cuộc đời sân khấu đó quá! Nó đưa ông qua một thế giơi khác. Ban ngày ông làm mười hai giờ ở chợ cá Fulton Street để lãnh mỗi tuần trên hai Anh kim; Nhưng ban đ êm ông sống trong cái thế giới sân khấu rực rỡ ánh đ èn và phấn son. Ban đ êm ông thành một anh hùng, một nghệ sĩ, lòng nở ra khi khán giả vỗ tay khen. Ông đóng những vai quan trọng nhất trong các kịch May Blossom, The Confederate Spy, the Ticketof Leaveman và The Almighty Dollar. Nhờ kinh nghiệm trên sân khấu, ông tập được tài ăn nói dễ dàng và tự nhiên trước thính giả, tài chỉ huy một đám đông. Ít lâu sau ông diễn thuyết về chính trị, trên một chiếc xe cam nhông, giữa đám quần chúng ở các góc đường. Hồi đó, ông là một người lao động, làm chật vật trong một xưởng chế tạo máy bơm ở Brookly; nhưng trong khi ông ngồi ăn bánh của bà thân ông làm và gói mang theo tới hãng, ông đã mơ mộng một ngày kia được bầu là nghị sĩ tiểu bang Nữu Ước. Mộng đó sau thực hiện được, nhưng ông còn phải trải qua một thời làm thừa phát lại.
Trong tám năm ông viết trát kêu người ta đi hầu tòa. Nhờ công việc đó, ông tiếp xúc với đủ hạng người, từ anh bán bánh, bán thịt tới các nhà lý tài ở Wall Street. Ông học được nhiều kinh nghiệm về bản chất con người và tập được tánh nhẫn nhục chịu sự ngược đãi vì hai chục phần trăm những người ông đem trát tới, tố cáo và nguyền rủa ông.
Tháng giêng năm 1904, khi ông tới Albany lãnh chức nghị viên viện lập pháp, ông ba chục tuổi. Trong ba chục năm đó ông chưa lần nào ngủ ở khách sạn. Đêm ấy ông lại khách sạn, vô phòng và đọc một tờ báo ra buổi chiều, đăng tin một đám cháy tại một khách sạn Chicago làm nhiều người chết. Trời lạnh, nhiệt kế biểu xuống tới mười sáu độ dưới số không. Đọc những chi tiết rùng rợn về đám cháy, ông không khỏi nghĩ tới những người mà ông thấy chất củi trong lò sưởi khách sạn ông ở. Một khách sạn bằng gỗ. Ông ở trên từng lầu thứ bảy. Nếu cháy thì không có cách nào thoát được. Ông thống đốc tương lai của Nữu Ước không ham cái nạn bị chết cháy, nhất là trong đ êm đầu tiên ông ở khách sạn, cho nên ông đánh thức một người bạn để chơi bài tiêu khiển với ông tới năm giờ sáng. Rồi hai người mới thay phiên nhau ngủ, cứ mỗi người ngủ một giờ rồi dậy canh cho người kia ngủ, để khỏi bị chết cháy.
Mấy năm đầu ở Albany ông điên đầu vì những công việc trong viện Lập pháp. Ông hết sức nghiên cứu các dự án về luật mà chẳng hiểu gì cả, vì những dự án đó dài dòng, rắc rối và tối tăm đối với ông, như thể viết bằng tiếng Ấn Độ. Lại thêm người ta giao cho ông những trọng trách mà ông chưa biết chút gì, người ta bầu ông vào Ủy ban về Ngân hàng mà ông chưa hề tới một ngân hàng nào, trừ phi để giao trát kêu một vài chủ ngân hàng đi hầu tòa. Người ta lại bầu ông vào Ủy ban về Lâm sản mà ông cũng chưa hề đặt chân vào một khu rừng nào. Sau khi làm việc ở viện Lập pháp mười lăm tháng ông thất vọng đến nổi muốn bỏ. Nhưng ông không bỏ, chỉ vì một lẽ là nếu chịu thua thì sẽ mắc cỡ với mẹ và bạn bè, sau cùng ông tự nhủ: "Mình đã thắng được trong những vấn đề khác thì sẽ thắng được trong vấn đề này".
Từ đó trở đi ông làm việc mười sáu giờ một ngày, nghiên cứu các dự án, cách thức thảo luật. Người ta bảo ông là người thứ nhất không khi nào chịu chấp thuận một đạo luật nào mà không đọc và hiểu kỹ mỗi khoản trong đó, dầu nó có đến cả ngàn khoản. Ông nhất định dùng tiền của những người đóng thuế cũng kỹ lưỡng như tiêu tiền của ông. Nếu bộ nào cần một người thư ký thì ông đòi biết thư ký đó vào hạng nào, sẽ làm công việc gì và tại sao lại phải cần dùng đến họ.
Chín năm sau khi tới Albany, ông làm chủ tịch viện Dân biểu của tiểu bang và chắc chắn biết nhiều về việc nước hơn bất cứ người nào khác, nên mọi chính khách phải khâm phục ông.
Hỏa hoạn tai hại phát ở một xưởng tại Nữu Ước năm 1911, làm cho ông cũng như mọi người kinh khủng: 148 nạn nhân bị cháy thành than, phần đông là đ àn bà và trẻ con, có nhiều người nhảy từ từng lầu thứ bảy xuống đất, chết tan xương. Từ đó Al Smith thành lập một thập tự quân chiến đấu cho những điều kiện làm việc được hoàn hảo hơn; ông giúp được nhiều trong việc cải thiện luật lao động của tiểu bang Nữu Ước, trừ hỏa hoạn, trừ cái tệ bắt trẻ con làm việc trong các nhà máy, bắt thợ làm việc cả bảy ngày mỗi tuần, và tệ trả công rẻ mạt, ông đặt ra những luật để giảm tai nạn, và cải thiện vệ sinh cho công nhân. Những luật xã hội đó được nhiều tiểu bang khác và nhiều nước phỏng theo.
Bốn chục năm trước, khi Tom Foley đưa Al. Smith vào viện Lập pháp, có khuyên Al. Smith: "Anh Al, anh đừng bao giờ hứa một điều gì mà anh không giữ được, và có nói điều gì thì luôn luôn phải cho đúng sự thực".
Chẳng những Al. Smith nói đúng sự thực mà còn chiến đấu cho sự thực bất kỳ ở trong địa vị nào.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 87915
Has thanked: 35324 times
Have thanks: 47468 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 20th, 2017, 12:49 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: 40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Postby DaMinhChau » August 31st, 2013, 5:12 pm


Image
29. H. G. Wells


Gần bảy mươi lăm năm trước, một bọn trẻ em đương chơi trên đường ngoại ô Luân Đôn, thì một tai nạn xảy ra. Một trong những đứa lớn nhất nắm lấy một đứa nhỏ, tên là Bertie Wells, rồi liêng lên trời nhưng khi đứa nhỏ rớt xuống, đứa lớn không đỡ, thành thử đứa nhỏ gẫy chân.
Trong mấy tháng Bertie nằm quằn quại trên giường, với một vật nặng cột vào chân. Nhưng xương không lành. Phải gỡ ra bó lại. Đau đớn ghê gớm. Em bé Bertie la hoảng, tưởng chết được.
Tai nạn đó bi thảm, nhưng Bertie sống được và nhờ nó mà sau thành một nhà văn nổi tiếng nhất thế giới. Bút danh của ông không phải là Bertie mà là Herbert George Wells, hoặc H. G. Wells. Chắc bạn đã đọc vài cuốn của ông? Ông viết trên bảy mươi lăm cuốn: và chính ông nhận rằng tai nạn gẫy chân đó có lẽ là điều hay nhất cho ông. Sao vậy? Tại ông phải nằm nhà trọn một năm và không làm được việc gì khác nên đ ành nghiến ngấu bất kỳ cuốn sách nào ông kiếm được. Kết quả thành ra ông thích đọc sách, thích văn chương. Ông bị kích thích. Ông cảm hứng. Ông nhất định vượt lên khỏi cảnh tầm thường vô vị ở chung quanh. Cái chân gẫy đó đã đổi hướng cho đời ông.
H. G. Wells là một trong những nhà văn mà tiền nhuận bút cao nhất. Nhờ cây bút, có lẽ ông đã kiếm được hai trăm ngàn Anh kim; nhưng hồi nhỏ ông đã khốn đốn trong cảnh bần hàn. Thân phụ ông là một nhà nghề chơi cầu "Cricket" và mở một tiệm đồ gốm, buôn bán lỗ lã, cửa hàng rung rinh muốn sập. H. G. Wells sanh trong một phòng nhỏ tại cửa tiệm đó. Bếp ở trong một cái hầm, tối om dơ dáy mà ánh sáng chỉ lọt vào được nhờ một lỗ nhỏ có lưới sắt ở trên trần. Sau này nhớ lại tuổi thơ ấu, ông còn thấy rõ ông hồi đó ngồi trong bếp tối mà nghe tiếng chân người lướt trên lưới sắt trên đầu. Ông tả những bước chân đó và chỉ cho ta cách nhìn giày mà xét người ra sao.
Sau cùng tiệm đồ gốm sập. Gia đình ông tuyệt vọng. Thân mẫu ông phải xin làm quản gia cho một điền chủ lớn ở Sussex. Tất nhiên, bà cụ phải sống chung với bọn đầy tớ. H. G. Wells thường thường tới thăm mẹ, và bắt đầu được biết qua đời sống của hạng thượng lưu Anh do hạng tôi tớ kể lại.
Tác giả bộ Đại cương Lịch Sử Thế Giới (The Outline of History) Hồi mười ba tuổi đã bắt đầu giúp việc cho một người bán nỉ. Ông phải dậy từ năm giờ sáng, quét dọn cửa hàng, nhóm lửa, làm việc như mọi người bốn giờ một ngày. Thực là vất vả, nên ông khinh ghét đời đó lắm. Cuối tháng, chủ tiệm tống cổ ông ra vì ông đầu tóc bù xù, quần áo xốc xếch mà lại hay quấy rầy.
Sau khi ông xin được việc trong một tiệm bào chế. Và cũng chỉ được một tháng là bị tống cổ ra nữa.
Sau cùng ông vào làm một tiệm nỉ khác. Ông cần phải kiếm ăn, nên lần này rán chịu đựng được lâu hơn một chút. Nhưng hễ vắng mặt người gác, là ông lẩn xuống hầm để học Herbert Spencer.
Sau hai năm, ông không chịu được đời đó nữa, cho nên một buổi sáng chủ nhật, không đợi ăn điểm tâm, bụng rỗng, ông đi hơn ba chục cây số về với bà cụ. Ông điên cuồng. Ông năn nỉ bà cụ. Ông khóc lóc. Ông thề rằng nếu phải ở lại trong tiệm đó nữa thì ông sẽ tự tử.
Rồi ông viết một bức thư dài, cảm động cho thầy học cũ kể lể rằng ông khốn khổ, đứt ruột, chỉ muốn chết cho rảnh.
Và ông vô cùng ngạc nhiên khi nhận được thư của thầy học cũ cho ông một chỗ dạy học.
Ông cuống cuồng lên! Đời ông đã tới một khúc quẹo khác.
Nhưng H. G. Wells về già, thường kể bằng giọng trong và lớn của ông rằng những năm dài đằng đẳng làm vất vả, cực khổ ở tiệm bán nỉ, thực ra là cái phước cho ông. Ông bẩm sinh biếng nhác, và chủ tiệm đã tập cho ông chịu khó nhọc làm lụng.
Sau ít năm dạy học, một tai nạn xảy đến thình lình như bom nổ. Việc xảy ra như sau. Ông đương đá banh, đương hăng hái thì bị xô té, người ta giẫm lên người ông, ông gần chết. Một trái thận của ông nát nghiến ra và phổi bên mặt lủng. Máu xối ra, ông xanh mét. Các bác sĩ hết hy vọng; và trong mấy tháng, ông nằm mà lo sợ sẽ không sao thoát chết được. Trong mười hai năm sau, mười hai năm ghê gớm, ông bám lấy đời sống, thân gần như tàn tật; nhưng chính trong mười hai năm đó, ông đã luyện được một cái tài làm ông nổi danh khắp thế giới.
Năm năm trường ông viết như điên như cuồng. Sách, bài báo, tiểu thuyết ông viết ra hồi đó đều nhạt nhẽo, vụng về. Và ông có đủ lương tri để nhận thấy điều đó. Cho nên viết xong, ông đốt hết.
Sau cùng, mặc dầu gần như tàn tật, ông xin được một chỗ dạy học khác. Trong lớp sinh vật học, có một nữ sinh xinh đẹp. Tên nàng là Catherine Robbins. Nàng mảnh khảnh, ốm yếu. Mà ông cũng ốm yếu, mảnh khảnh. Cả hai đều không hy vọng gì sống lâu, đều muốn nắm lấy tức thì tất cả những hạnh phúc mà họ có thể tìm được. Thế là họ cưới nhau.
Vệc đó xảy ra cách đây khoảng năm chục năm; lạ thay, Wells đã không chết, lại còn mạnh lên, thành một người đầy sinh lực, và mỗi năm gọt đẽo được hai cuốn sách dầy, những cuốn sách mà ánh sáng chiếu tỏa lên khắp thế giới cho tới khi ông mất, năm 1946.
Trong óc ông bừng bừng những ý mới. Ông thường nửa đ êm thức dậy chép tư tưởng của ông vào một cuốn sổ tay. Và con người biếng nhác bị một chủ tiệm bán nỉ tống cổ ra vì bất lực đó, đã thâu thập được biết bao tài liệu trong những cuốn sổ tay, giá có dùng để viết sách hoài trong một trăm rưỡi năm cũng không hết.
Ông có tài ngồi ở đâu cũng viết được: trong phòng viết của ông ở Luân Đôn, trong toa xe lửa hay dưới bóng một cây dù trên bờ Địa Trung Hải mà màu nước xanh mê hồn.
Ông mướn hai biệt thự ở Nice, một làm chỗ viết, một làm nơi tiếp khách. Ông viết suốt ngày, chỉ chuyện trò với khách buổi tối, và hết thảy bạn bè đều mến ông.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 87915
Has thanked: 35324 times
Have thanks: 47468 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 20th, 2017, 12:49 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: 40 Gương Thành Công_Dale Carnegie_NHL dịch

Postby DaMinhChau » August 31st, 2013, 5:15 pm


Image
30. Anh Em Mayo


Nếu một cơn giông tố không tàn phá một thị trấn ở Minnesota cuối thế kỷ trước thì có lẽ nhân loại không được hưởng một phát minh vào hạng quan trọng nhất trong lịch sử y học.
Thị trấn bị tàn phá đó, Rochester, ngày nay nổi danh nhờ hai anh em Mayo, hai nhà giải phẫu có tài nhất ở Hoa Kỳ. Hai ông ở Rochester và phát minh của bác sĩ C. H. Mayo đã giúp y học trị được vài thứ bệnh thần kinh. Hiện nay ông còn tiếp tục nghiên cứu phát minh đó. Ông đã tìm được một thứ thuốc tiêm vô mạch máu, làm thay sự tuần hoàn và do đó óc được bình tĩnh lại.
Hai anh em ông được khắp thế giới bết tên. Nhiều y sĩ từ Ba Lê, Luân Đôn, Bá Linh, La Mã, Leningrad, Đông Kinh tới Rochester để học phương pháp của hai ông. Mỗi năm sáu ngàn bịnh nhân đã vô phương cứu chữa lại dưỡng đường Mayo với tấm lòng tin tưởng như tín đồ hành hương tại đất thánh.
Vậy mà như tôi đã nói, nếu dông tố không tàn phá miền Middle West ở cuối thế kỷ trước thì thế giới có lẽ không bao giờ được nghe tên hai anh em Mayo và cũng không biết phhương thuốc của hai ông.
Khi bác sĩ Mayo, thân phụ của hai ông, tới lập nghiệp ở Rochester vào khoảng giữa thế kỷ trước, thì nơi đó có không đầy hai ngàn dân. Ngày đầu cụ chữa bệnh cho một con bò và một con ngựa. Khi dân da đỏ nổi loạn, cụ nổ súng mút để hạ chúng rồi đợi khói súng tan hết, cụ đi khắp bãi chiến trường chôn cất những người chết và săn sóc những người bị thương. Thân chủ của cụ ở rải rác trên năm chục cây số trong đồng cỏ Mimesda. Phần đông họ sống trong những nhà vách trát bùn. Họ nghèo quá, không có tiền trả cụ, mà cụ cũng vẫn nữa đ êm đi thăm bệnh cho họ; có khi phải mò đường trong những cơn bão tuyết mù mịt tới nỗi, giữa ban ngày, đưa tay ra trước mặt cũng không trông thấy.
Cụ có hai người con, William và Charles, tức hai anh em Mayo. Hai ông vừa giúp việc cho một tiệm bào chế trong miền, cân thuốc, tán thuốc, hoàn thuốc, vừa theo học trường y khoa. Rồi một tai nạn xảy ra, làm tương lai của ông thay đổi hẳn. Một cơn dông tố tàn phá cánh đồng Minisota, như quỉ thần giận dữ muốn phạt dân cư miền đó. Cơn dông tới đâu thì nhà cửa, cây cối tan tành sụp đổ tới đó. Châu thành Rochester bị cuốn đi như một cọng rơm. Hằng trăm ngàn người bị thương, hai mươi ba người chết. Luôn mấy ngày, ba cha con Mayo đi băng bó, mổ xẻ các nạn nhân trên những nền nhà hoang tàn. Bà Phước nhất Alfred, ở nhà tu Saint Francois thấy ba cha con Mayo tận tâm như vậy, cảm động hứa sẽ cất một dưỡng đường nếu họ chịu đứng ra trông nom. Họ bằng lòng và khi khánh thành dưỡng đường Mayo năm 1889 thì bác sĩ Mayo đã bảy chục tuổi mà hai người con chưa làm trong nhà thương nào cả. Vậy mà ngày nay ông William Mayo người anh cả được coi là nhà chuyên môn giỏi nhất về bệnh ung thư. Cả hai anh em đều nổi tiếng về khoa giải phẫu mà người nào cũng khen người kia là hơn mình. Hai ông mổ xẻ rất nhanh, tới dưỡng đường bảy giờ sáng và mổ xẻ không ngừng tay mỗi ngày bốn giờ cho từ mười lăm đến ba mươi bệnh nhân. Vậy mà hai ông vẫn tiếp tục học hoài để cải thiện phương pháp và tuyên bố rằng còn phải học thêm nhiều. Cả thành phố Rochester sống nhờ dưỡng đường Mayo và cho dưỡng đường Mayo. Xe hơi, xe ô tô buýt, mọi loại xe đều không bóp kèn trong thành phố đó.
Đó là gương hai người thường dân một tỉnh nhỏ, hai người không nghĩ đến tiền mà đã gây được một gia sản khổng lồ. Hai người không nghĩ đến danh vọng mà thành những nhà giải phẫu nổi danh nhất Hoa Kỳ.
Hai anh em ông không cần lại Nữu Ước để làm giàu, cứ rèn luyện tài của mình trong một thành phố nhỏ mà tự nhiên được thần tài tới gõ cửa để thưởng công.
Trong phòng khách, trên bàn giấy, có treo một tấm khung lồng câu này: "Nếu ông có một vật mà thế giới đòi hỏi thì ông có thể ở giữa rừng thẳm: luôn luôn người ta sẽ phá rừng xây đường vào tới cửa nhà ông". Câu đó tóm tắt một luật bất di bất dịch của sự thành công.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 87915
Has thanked: 35324 times
Have thanks: 47468 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 20th, 2017, 12:49 am
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

PreviousNext

Return to Quotes | Ca Dao, Tục Ngữ, Lời Hay Ý Đẹp

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests