Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

Mười hai người lập ra nước Nhật

History & Culture of VietNam and the world | lịch sử, văn hóa Việt và các nước trên thế giới.

Re: Mười hai người lập ra nước Nhật

Postby DaMinhChau » August 10th, 2016, 2:16 pm


Chương 10

MacArthur
Thí nghiệm biến Nhật Bản thành một “nước Mỹ lý tưởng”


Tốt nghiệp thủ khoa trường võ bị Westpoint

Nguyên soái [1] Douglas MacArthur đã được chọn làm người thứ mười trong “Mười hai người lập ra nước Nhật”. Ðây là người ngoại quốc duy nhất được chọn.
Xét nước Nhật hơn 50 năm sau chiến tranh, người ta sẽ thấy ảnh hưởng vô cùng lớn của quân đội chiếm đóng Nhật Bản như tượng trưng bởi MacArthur. Việc Douglas MacArthur, một quân nhân Mỹ có cá tính cương cường, tổng chỉ huy quân đội Liên hợp quốc, đã thống suất Ðại Bản doanh chiếm đóng Nhật Bản, là sự kiện đã mang lại ảnh hưởng không nhỏ cho nước Nhật ngày nay.
Trước nhất hãy kể lại lý lịch của nhân vật này.
Douglas MacArthur sinh năm 1880 tại Little Rock, bang Arkansas, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Arkansas cũng là bang xuất thân của Tổng thống Bill Clinton, và Little Rock là thủ phủ bang này. Cha, Arthur MacArthur, cũng là quân nhân lục quân, đã hạ sinh Douglas trong khi đồn trú tại Little Rock.
Như vậy, ông không là người miền Nam chính tông. Trong sách tự truyện, MacArthur đã dài dòng kể rằng tổ tiên mình thuộc dòng dõi danh gia thế phiệt Scotland. Sự kiêu hãnh về gia thế như vậy, đã ảnh hưởng tới ngôn từ và phong cách rất đặc trưng của ông.
Thời niên thiếu, cha ông đã giữ chức tổng tư lệnh quân đội đồn trú Philipines, lúc ấy mới trở thành thuộc địa của Mỹ. Vào cuối thế kỷ thứ XIX, Philippines đã được Tây Ban Nha cát nhượng cho Mỹ làm thuộc địa, do kết quả cuộc chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha.
Thời đó, Philippines chưa được khai phá mấy. Ðó cũng là thời kỳ người da trắng chiếm ưu thế và chủ nghĩa thực dân đang độ phát triển mạnh mẽ. Thiếu niên Douglas đã trưởng thành trong bối cảnh như vậy, với tư cách là con trai vị tổng tư lệnh quân đội đồn trú Philippines.
Douglas lớn lên, vào học trường Sĩ quan Lục quân Westpoint, rồi tốt nghiệp thủ khoa với thành tích ưu tú một cách kỷ lục. Trường võ bị Westpoint là nơi đã đào tạo ra hầu hết sĩ quan của lục quân Hoa Kỳ. Thế mà thành tích của Douglas đến nay vẫn còn được truyền tụng. Nghe nói, ông đọc nhiều biết rộng và có trí nhớ kinh dị.
Năm 1905, nhân cha ông trở thành võ quan quan sát cuộc chiến tranh Nhật - Nga, còn ông đã là sĩ quan trợ lý, và do đó đã ở Nhật một thời gian ngắn.
Ðến thời kỳ cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, khi Mỹ tham chiến, ông đã đề nghị thành lập sư đoàn Rainbow (Cầu Vồng) gồm toàn binh sĩ đặc biệt tinh nhuệ. Ðề nghị được chấp thuận, ông đã đích thân làm tham mưu trưởng chỉ huy sư đoàn này. Tên Cầu Vồng là hàm cái nghĩa cầu nối giữa Mỹ với Âu châu và phô trương một sư đoàn tinh nhuệ như trong mộng. Nội việc đề xuất sự thành lập một sư đoàn tinh nhuệ, rồi đích thân đứng làm tham mưu trưởng, cũng đủ rõ cái ý thức êlít và ý muốn chơi trội như thế nào rồi.
Sau đó, năm 1919, ở tuổi 39, ông đã trở thành Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân và năm 1925, ở tuổi 45, ông đã được phong Trung Tướng [2] (Major General). Cả hai chức danh trên đều là kỷ lục về độ tuổi thấp nhất. Ðiều này chứng tỏ ông là thành phần siêu ưu tú của lục quân Mỹ vậy.
Tuy nhiên, cần chú thích ít nhiều về Douglas MacArthur. Ðó là, giai đoạn hoạt động nhất của đời quân nhân của ông, tức là những năm từ 1925 tới 1930, lại rơi vào thời kỳ giải trừ quân bị và đại khủng hoảng kinh tế.
Từ thập niên 1920 sang thập niên 1930, do Hiệp ước Washington và Hội nghị giải trừ quân bị London, Mỹ đã cắt giảm quân số so với các nước khác. Chỉ trong thời gian ngắn, chi phí quân sự của Mỹ đã rút xuống tới khoảng một phần trăm của tổng sản phẩm quốc dân (GNP), nghĩa là chỉ tương đương với chi phí cho lực lượng phòng vệ [3] của Nhật Bản ngày nay.
Hiệp ước Washington hạn chế số tàu quân sự. Nhật Bản thời đó, Anh quốc, và những nước khác cũng chịu sự hạn chế như vậy. Tuy nhiên, tổng thống Mỹ Coolidge còn làm triệt để hơn, bằng cách bán chiến hạm đang đóng cho công ty điện ảnh, rồi cho quay phim cảnh đánh chìm. Ðối với quân nhân, thì đó không những là sự đau lòng về mặt kinh tế, mặt tổ chức, mà còn là sự nhục nhã về mặt tinh thần nữa.
Lục quân thì bì cắt giảm một số sư đoàn, võ khí quân trang cũng hầu như không được trang bị mới nữa. Toàn thế giới chìm đắm trong bầu không khí hòa bình, nơi nơi đua nhau ký kết hiệp ước bất chiến, lực lượng võ trang mỗi ngày một được thu nhỏ lại. Trong xã hội, địa vị quân nhân ngày một xuống thấp, cho nên, những phần tử ưu tú không còn gia nhập quân đội nữa.
Ở Nhật Bản còn có từ gọi thời đại này là “Thời giải giáp Taisho”. Người mặc quân phục vào cửa hàng liền bị chế diễu. Thậm chí, người ta còn nói “quân nhân thì không có ai chịu đến làm dâu cả”. Thời kỳ MacArthur hoạt động với tư cách là Trung Tướng, tham mưu trưởng, lại trùng với thời kỳ giải giáp dài hơn thời giải giáp ở Nhật Bàn này, là điểm đáng chú ý.
Cha là quân nhân, bản thân mình cũng là quân nhân ưu tú đậu thủ khoa Trường Sĩ quan lục quân Westpoint, Douglas MacArthur hẳn đã phải sống những ngày sầu muộn vì chí chẳng đạt.
Ðoạt lại Philippines rồi chiếm đóng Nhật Bản
Cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa dân tộc, phong trào đòi độc lập ở Philippines cũng dâng cao. Năm 1935, Douglas MacArthur trở thành quân nhân dự bị và được cử làm cố vấn quân sự xây dựng quân đội quốc gia Philippines. Cha đã làm tổng tư lệnh bộ đội Mỹ đồn trú ở đó, nay lại đến lượt MacArthur theo sự cam kết của tổng thống Roosevelt là sẽ trao trả độc lập cho Philippines, nên MacArthur đã được cử tới làm cố vấn quân sự, để xây dựng quân đội mới cho nước sắp độc lập này. Nhưng lần này, khác với MacArthur cha, MacArthur con hẳn không lấy làm phấn khởi bằng.
Với tư cách cố vấn sáng lập quân đội Philippines, Douglas MacArthur đã tham gia vào sự soạn thảo hiến pháp Philippines và đã chuẩn bị nhiều phương án cùng một lúc. Việc soạn thảo hiến pháp này của ông đã có sự liên hệ tới bàn thảo hiến pháp Nhật Bản. Nghĩa là, cái lý tưởng mà MacArthur ôm ấp đã có một sự liên tục nhất quán.
Sau khi hoàn thành xong vai trò cố vấn quân sự ở Philippines, ông đã giải ngũ. Nhưng tháng 7 năm 1941 (niên hiệu Showa thứ 16), trước tình trạng Nhật Bản và Mỹ sắp giao chiến, ông đã trở lại quân ngũ và nhậm chức tư lệnh lục quân Mỹ tại Viễn đông, đóng tại Philippines. Là quân nhân Mỹ, MacArthur quả đã có duyên với vùng Viễn đông. Thế rồi, năm tháng sau thì trận Chiến tranh Thái bình dương nổ ra. Năm tháng sau nữa, trước sức tấn công mãnh liệt của quân đội Nhật, ông đã rút lui qua đảo Mindanao, sang tới Australia. Lúc đó, ông đã phát ra lời nói đầu tiên “I shall return (Tôi quyết sẽ trở lại)” nay đã trở thành danh ngôn. Lời này hình như ông đã nói ra khi đặt chân tới Australia chứ không phải khi rời khỏi Philippines.
Khi tình huống chiến tranh trở bề có lợi cho Mỹ, MacArthur bèn mở cuộc phản công mãnh liệt. Lúc đó Mỹ có hai phương án phản công.
Một do đại tướng hải quân (đề đốc) Chester William Nimitz (sau thăng Nguyên soái) vạch ra, gồm tiến quân từ nhóm đảo Mariana lên chiếm đảo Iojima để tới Nhật Bản. Phương án này gọi là “cuộc tiến công kiểu những tảng đá dẫm chân”. Nghĩa là không đánh trên bộ nhiều, mà chỉ chiếm đoạt các hòn đảo để lập căn cứ không quân, rồi từ đó triển khai hàng không mẫu hạm ra phong tỏa từ ngoài biển, làm tiêu hao chiến lực của Nhật Bản đi.
Phương án thứ hai do đại tướng lục quân Douglas MacArthur vạch ra. Ông này nôn nóng chiếm lại Philippines, trù liệu tiến công từ Australia lên phía bắc, trước hết chiếm Tân Guinea, rồi từ Nam Thái bình dương đánh sang đảo Leyte, từ đó đoạt lại toàn lãnh thổ Philippines, rồi đánh qua Ðài Loan, Okinawa và từ đó đánh vào nội địa Nhật Bản. Nghĩa là ông chủ trương chiếm đoạt một vùng đất rộng lớn.
Nếu chỉ xét về mục đích của vấn đề là đánh thắng Nhật Bản, thì phương án của đề đốc Nimitz tỏ ra rất có hiệu quả, vì chi phí thấp mà vẫn thắng được. Nhưng, xét về chính trị, thì phương án của đại tướng MacArthur theo đó lần lần giải phóng từ Tân Guinea, tới Philippines, Ðài Loan, có hiệu quả lớn làm sáng tỏ chính nghĩa của trận chiến. Cứ xem cách đánh trận, ta đủ thấy cái ý đồ chính trị sâu xa của MacArthur.
Quân đội Mỹ rút cục đã áp dụng cả hai phương án, một mặt điều động hải quân phong tỏa Nhật Bản, một mặt điều lục quân đánh chiếm Philippines và Okinawa. Trong khi tiến hành chiến dịch này thì năm 1944, đại tướng MacArthur được thăng lên nguyên soái (tướng 5 sao).
Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng. Tức khắc, Nguyên soái MacArthur được phong Tổng tư lệnh quân đội của Liên hợp quốc chiếm đóng Nhật Bản. Ông bay ngay tới Nhật Bản. Máy bay quân đội chiếm đóng hạ cánh xuống căn cứ không quân Atsugi lần đó là ngày 30 tháng 8. Lập tức, đại bản doanh được đặt ở Sở quan thuế Yokohama (sau này chuyển tới tòa nhà Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Dai-ichi, ở bên bờ hào Hoàng cung Tokyo). Sự chiếm đóng Nhật Bản thực chất bắt đầu từ ngày đó. Ngày 2 tháng 9, lễ ký kết Văn kiện Ðầu hàng đã diễn ra trên chiến hạm Missouri, để hợp thức hóa việc chiếm đóng này.
MacArthur để lại ảnh hưởng lớn tại Nhật Bản, dĩ nhiên là vì ông đã đánh bại Nhật Bản, nhưng hơn thế nữa, chính vì chính sách ông đã thực thi trong sáu năm chiếm đóng Nhật Bản.
Năm 1950, cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. MacArthur liền nhậm chức tổng tư lệnh quân đội Liên hợp quốc với quân đội Mỹ làm nòng cốt. Lúc ấy, ngoài cương vị tổng tư lệnh quân đội, MacArthur còn đối phó với mỗi sự việc bằng chủ trương chính trị của mình nữa. Ðiều này đã để lại ảnh hưởng trọng đại đối với tương lai của Nhật Bản.
Trong chiến tranh Triều Tiên, lúc đầu, miền Nam tức là Hàn Quốc đại bại. Sư đoàn 24 Mỹ đóng tại Nhật Bản liền tới cứu viện. Nhưng gặp phải sức mạnh của đoàn chiến xa hạng nặng của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Sư đoàn 24 hầu như bị tiêu diệt. Trung tướng sư đoàn trưởng Dean bị bắt làm tù binh. Liên quân Mỹ - Hàn bị dồn tới đường cùng ở “Ðầu cầu Pusan (Phẫu Sơn)”, tưởng như sắp bị quét xuống biển.
Nhưng, được tăng viện bởi Lộ quân 1, MacArthur liền triển khai một chiến dịch hào nhoáng. Ông cho đổ bộ lên Inchong (Nhân Xuyên) rồi cùng với lộ quân thứ 8 ở Ðầu cầu Pusan, đánh gọng kìm phá được đối phương. Cách đánh này chứng tỏ đường lối diễn xuất nhằm hiệu quả chính trị của MacArthur.
Mùa Thu năm 1950, khi liên quân Mỹ - Hàn dưới quyền chỉ huy của MacArthur đánh lần tới biên giới Trung Quốc ở phía bắc, thì một sự đảo ngược lại diễn ra. Tháng 11 năm đó, ông công bố quan điểm lạc quan rằng: “Cho đến lễ Giáng sinh, sẽ cho hai sư đoàn về nước”, chủ quan coi là “Ðến lễ Giáng sinh sẽ thắng”.
Nhưng, quân tình nguyện Trung Quốc đã ồ ạt kéo vào bán đảo Triều Tiên qua sông Áp Lục Giang, lúc đó mùa đông nên đóng băng cứng, đã phản kích mãnh liệt, khiến liên quân Mỹ Hàn bị thiệt hại nặng nề, phải bỏ chạy. Ðến nỗi Thượng tướng Walker chỉ huy Lộ quân thứ 8 bị tử trận, quân tướng và vũ khí khí tài của Mỹ bị mất gần hết.
Rơi vào cùng địa, MacArthur chủ trương oanh kích miền Bắc Trung Quốc, nhưng tổng thống Mỹ Truman lúc đó không muốn đối đầu trực tiếp với Trung Quốc, nên đã quyết định giải nhiệm Nguyên soái MacArthur.
Nguyên soái MacArthur bị giải nhiệm năm 1951, trở về tổ quốc. Lúc đó, tuổi đã ngoài 70, diễn thuyết trước Quốc hội Mỹ, ông đã để lại danh ngôn “Old soldiers just fade away (Lính già chỉ còn nước biến đi thôi)”, rồi giải ngũ và từ quan. Có một thời gian, ông đã giữ chức Tổng giám đốc Công ty Remington. Cuối đời, ông ở khách sạn Vip Walt Astoria ở New York, vẫn duy trì lối sống hào hoa của mình. Năm 1964, ông mất ở tuổi 84.
Biến thành kiểu mẫu cho một “nước Mỹ lý tưởng”
Chính sách chiếm đóng Nhật Bản, do một quân nhân có cá tính mãnh liệt như kể trên triển khai, đã để lại cho Nhật Bản thời hậu chiến ảnh hưởng vô cùng lớn lao.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Ðức cũng là nước chiến bại, nửa phía đông thì do Liên Xô kiểm soát, nửa phía tây do ba nước Mỹ, Anh và Pháp chiếm đóng. Nguyên soái Dwight Eisenhower (sau trở thành tổng thống Mỹ) đứng làm tổng chỉ huy quân đội chiếm đóng. Chính sách chiếm đóng của ba nước Mỹ Anh Pháp là do văn quan Cao ủy McLloyd chỉ đạo. Nhật Bản thì thực chất do Mỹ đơn độc chiếm đóng, đồng thời Nguyên soái MacArthur, với tư cách tổng chỉ huy quân đội chiếm đóng, đã thi thố mỗi quyền lãnh đạo, từ chính trị, kinh tế, tới cải chính hiến pháp, nghi lễ của hoàng gia, nhất thiết mỗi việc đều do một tay MacArthur quyết đoán cả.
Lúc đó, Nguyên soái MacArthur ôm ấp một giấc mơ lớn đối với Nhật Bản dưới sự thống trị của ông. Giấc mơ đó trước kia ông đã ôm ấp đối với Philippines và giờ đây là biến Nhật Bản thành một quốc gia dân chủ chủ nghĩa kiểu nước Mỹ. Ðiều này đã được thể hiện một cách rõ ràng trong “Thuyết Nhật Bản mười hai tuổi”, như sau:
“Hiện nay (nửa cuối thập niên 1940), Nhật Bản mới được 12 tuổi, mới có trình độ trung học đệ nhất cấp (cơ sở). Nhưng rồi đây, tốt nghiệp xong trung học đệ nhất cấp, tiến lên bậc trung học đệ nhị cấp (phổ thông), thành người trưởng thành ra làm việc xã hội. Cuối cùng, hẳn Nhật Bản cũng sẽ thành một nước người lớn bề thế như Mỹ. Quốc dân Nhật Bản phải biết nhắm tới mục tiêu ấy”.
Không riêng gì MacArthur, những người tri âm của Nhật Bản đời thứ nhất sau chiến tranh, như Tiến sĩ Edwin O. Reischauer (học giả Nhật Bản học, đại sứ tại Nhật 1961-66), cũng có cùng quan điểm:
“Mỹ và Nhật khác nhau ở nhiều điểm. Nhưng đó là vì Nhật Bản nghèo nàn về kinh tế, và lạc hậu về văn hóa. Rồi đây, Nhật Bản trở nên giầu có, văn hóa phát triển, trình độ dân chúng được nâng cao lên, thì ắt cũng thành một nước như Mỹ. Sự khác nhau giữa Mỹ và Nhật Bản chủ yếu là giai đoạn phát triển khác nhau. Trong thời chiến tranh, giới lãnh đạo Nhật Bản đã có những sai lầm, nhưng rồi đây, khi Nhật Bản trở thành một nước dân chủ, một nước công nghiệp giầu mạnh, thì cũng như nước Mỹ, Nhật Bản cũng sẽ có nền văn hóa tự do coi trọng sự lựa chọn của cá nhân. Hơn thế nữa, Nhật Bản nên là như vậy”.
Tư tưởng trên đã được duy trì mãi về sau. Người ta tiếp tục nói “Nếu Nhật Bản trở thành một nước giầu có thì hẳn sẽ như Mỹ trở thành một nước dân chủ chủ nghĩa và tự do kinh tế”.
Tuy nhiên, MacArthur nói “Nhật Bản sẽ thành một nước như Mỹ”, thì “nước Mỹ” ở đây không phải là nước Mỹ hiện thực bây giờ, mà là nước Mỹ ông coi là lý tưởng, một “nước Mỹ phải nên như thế”.
Như đã kể, thời thiếu niên ông ở Philippines cùng với cha, từ năm 1935 lại đóng đồn ở Philippines, rồi trở thành tổng chỉ huy quân đội chiếm đóng Nhật Bản, nên MacArthur đã ở hải ngoại nhiều hơn ở nước nhà. Vì vậy, ông đã mỹ hóa Tổ quốc hơn thực sự, đã có tư tưởng lý tưởng hóa Tổ quốc. Thế rồi ông tìm cách biến Nhật Bản thành “nước Mỹ lý tưởng đó”.
Vậy, “nước Mỹ lý tưởng của ông”, mục tiêu Nhật Bản nên tiến tới, là như thế nào?
Hãy là Thụy Sĩ của Viễn đông
Trước hết, về ngoại giao hãy rập theo Mỹ không nên thắc mắc gì cả. Với tư cách tổng tư lệnh quân đội chiếm đóng, điều này là đương nhiên. Nhất là năm 1949, sau khi chính quyền Tưởng Giới Thạch bị đuổi khỏi đại lục Trung Quốc, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, khiến cho khuôn khổ chiến tranh lạnh được xác lập ở vùng Viễn đông này, thì ý đồ biến Nhật Bản thành đồng minh có thể lợi dụng được trong phe Mỹ, lại càng trở nên mạnh.
Trong khuôn khổ chiến tranh lạnh, không phải ông chỉ nghĩ biến Nhật Bản thành nước đồng minh như một đàn em phục tùng Mỹ. Hơn thế nữa, MacArthur tin rằng, nếu Nhật Bản muốn được hạnh phúc, thì Nhật Bản phải nằm trong khối Mỹ, phải hợp tác và tuân theo Mỹ. Ðây không những là nhiệm vụ đương nhiên của một quân nhân Mỹ, một quan cai trị do Mỹ gửi tới Nhật Bản, mà đồng thời còn là niềm tin cá nhân của MacArthur, người đã lý tưởng hóa nước Mỹ.
Sau đó, về hình thức chính trị, ông đã cho xây dựng chủ nghĩa dân chủ nghị viện ở Nhật Bản, dựa trên hình thức dân chủ do đầu phiếu của Mỹ. Tuy nhiên, khác với Mỹ, ông đã không áp đặt chế độ tổng thống, mà đã nhìn nhận chế độ thiên hoàng tượng trưng có một thủ tướng được nghị viện bầu ra, nghĩa là, thiên hoàng chỉ là tượng trưng, không được tham gia vào chính trị. Chính trị là việc của các nghị viên được bầu ra, của thủ tướng do các nghị viên bầu ra. Ở điểm này, ông đã không áp dụng chế độ tổng thống được trực tiếp bầu ra, mà lại chọn chế độ nội các nghị viện kiểu Anh quốc. Có thể ông đã lo ngại nếu tổ chức bầu cử tổng thống trên toàn quốc, thì khả năng sẽ có một nhân vật chống Mỹ đắc cử.
Ðồng thời, ông coi trọng quyền tự trị địa phương kiểu Mỹ và hi vọng quyền này bén rễ vững chắc. Nhưng, quan niệm về quyền tự trị của Nhật Bản và Mỹ khác nhau nhiều lắm. MacArthur hình như đã không hiểu rõ điều này.
“Con người ta ai cũng muốn tự mình cai trị xóm làng mình. Do đó, nếu phế bỏ Bộ Nội vụ, cơ quan trung ương thống chế các địa phương, rồi trực tiếp bầu cử tỉnh trưởng, thì chính quyền địa phương sẽ mạnh lên, sẽ có khả năng kiềm chế chính phủ trung ương”.
MacArthur hẳn đã nghĩ như vậy. Nghĩa là, nếu hạn chế tố đa ảnh hưởng của nhà nước trung ương thì quyền tự trị địa phương sẽ phát triển, dân chúng hẳn mong muốn như vậy. Ông đoán rằng quyền tự trị địa phương như thế kết hợp với nghị viện có quyền lực lớn mạnh, hẳn sẽ biến Nhật Bản thành một nước dân chủ.
Về kinh tế thì sao? Ở đây, MacArthur cũng đem mô hình kinh tế tự do cạnh tranh kiểu Mỹ vào và nghĩ rằng những xí nghiệp nhỏ và vừa không có khả năng gắn liền với sức mạnh quân sự, và nền nông nghiệp tự canh tác quy mô nhỏ, là tốt. Ông không hề nghĩ tới sức cạnh tranh quốc tế của những ngành nghề chế tạo Nhật Bản lại có thể lên tới mức 1 đôla xấp xỉ 100 Yen.
Sự lầm lẫn này không phải riêng gì MacArthur. Mỗi người Nhật cũng như mỗi người Mỹ đều nghĩ sai như vậy. Nếu MacArthur có sai, thì đó là điểm ông cho rằng người Nhật sẽ hài lòng dù cho mức độ kinh tế không được cao lắm, nhưng nếu được sống trong hòa bình. Vì vậy, ông nghĩ rằng Nhật Bản cần phải giải quyết ba vấn đề: giải tán các nhóm tài phiệt để cho xí nghiệp vừa và nhỏ dễ phát triển, cải cách ruộng đất và tổ chức công đoàn.
Nguyên soái MacArthur nghĩ rằng trước hết phải triệt để cho cạnh tranh tự do, phải giải tán những nhóm tài phiệt. Rồi để cho các nhóm tài phiệt không thành hình được nữa, phải có luật cấm độc quyền như Mỹ. Như vậy các xí nghiệp vừa và nhỏ sẽ có cơ hội phát triển. Ðồng thời, phải giải phóng đất nông nghiệp, làm cho những người thuộc tầng lớp tiểu nông có ruộng đất canh tác trong tay. Nông dân có ruộng đất sẽ bảo thủ hóa và sự tập trung vào đô thị sẽ không còn nữa. Nếu cả nước là nông thôn với những gia đình tiểu nông, rồi rải rác có những xí nghiệp nhỏ và vừa xen lẫn vào, thì những xí nghiệp quân sự sẽ không có cơ hội phát triển, và Nhật Bản sẽ trở thành một nước hòa bình đẹp đẽ và không thể gây hại cho thế giới được nữa. Ðây chính là lý tưởng của MacArthur về hình ảnh một “Nhật Bản hãy là Thụy Sĩ của Viễn đông”.
Lý do là, một nước có địa hình phần lớn là núi đá với dân số vài triệu người như Thụy Sĩ thì không sao gây dựng được đại xí nghiệp. Nhưng, mức sinh hoạt quốc dân lại rất cao. Nếu là một nước như vậy thì cũng tốt lắm chứ. Mỹ hóa Thụy Sĩ, và tuy bỏ qua điều kiện địa lý vốn có của Thụy Sĩ hay chủ trương phát triển kinh tế đất nước bằng du lịch của Thụy Sĩ, song cái ý muốn cho Nhật Bản trở thành một nước hòa bình gồm có những tiểu nông và những xí nghiệp vừa và nhỏ, là ý tốt.
Du nhập nền luân lý coi trọng bình đẳng và an toàn
Về cải cách ý thức xã hội, MacArthur coi Nhật Bản là xã hội phong kiến cổ hủ, nên phải quảng bá sự “bình đẳng”. Sự bình đẳng nam nữ, xúc tiến tổ chức công đoàn, giải phóng đất nông nghiệp, v.v., đều là hướng tới mục đích đó. Cho tới cuộc chiến tranh Triều Tiên, thì thật sự ông đã ủng hộ phong trào lao động cánh tả. Việc này một phần cũng chịu ảnh hưởng của phái chủ trương chính sách “New Deal” [4] dưới thời Tổng thống Roosevelt.
Ông cũng nghĩ rằng muốn thực hiện bình đẳng thì phải phế bỏ chế độ đại gia tộc truyền thống của Nhật Bản. Nguyên soái MacArthur cùng nhóm cộng sự của ông cho rằng chế độ đại gia tộc của Nhật Bản chính là chế độ giai cấp gò bó dưới quyền gia trưởng, dòng trưởng, và chính thể chế thiên hoàng đã làm cho chế độ đại gia tộc đó bành trướng ra khắp nước Nhật thời tiền chiến.
Vì vậy, không những ông chủ trương phải bỏ chế độ đó, ông còn coi trọng sự bình đẳng nam nữ, đồng thời áp dụng chính sách bài xích “trật tự già trẻ”.
Thứ hai, ông dạy cái lẽ phải của sự “an toàn”. Trước nhất, an toàn tức là “hòa bình”. Không có gì nguy hiểm hơn là chiến tranh. Vì thế, ông đã tôn dương sự chối bỏ chiến tranh, coi mỗi hình thức chiến tranh đều là xấu hết. Thêm vào đó, ông triệt để phủ nhận bạo lực và vũ lực, thậm chí nghiêm cấm không cho thày giáo hay cha mẹ dùng “roi vọt yêu”.
Thứ hai, an toàn là “sức khỏe”. Trong nền hành chính và giáo dục thời hậu chiến, sức khỏe được chú trọng đặc biệt, sâu bọ và ký sinh trùng được nỗ lực khu trừ triệt để. Thời nay, người ta mới coi phương pháp canh nông bằng phân hữu cơ là tốt, chứ thời kỳ ngay sau chiến tranh, tới 70 phần trăm người Nhật có ký sinh trùng, cho nên thời đó phân hữu cơ bị coi là không có gì xấu bằng, lại dơ bẩn nữa. Người ta quan niệm nông nghiệp hiện đại phải dùng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu. Nghĩa là toàn nước Nhật đã được truyền bá ý thức vệ sinh như vậy. Ðây là cái ý nghĩ của quân đội Mỹ thời đó đối với tình hình vệ sinh của Nhật Bản. Thậm chí, người ta đã loan tin rằng rau Nhật Bản dơ bẩn, chớ có ăn.
Ngày nay, nhìn vào người Mỹ thường, người ta khó có cảm tưởng là họ quá bận tâm đến vệ sinh như vậy, nhưng quân nhân Mỹ chiếm đóng Nhật Bản đã đòi hỏi sự sạch sẽ hơn cả thực tế. Cũng có lẽ sự nhấn mạnh vào vấn đề vệ sinh, là họ muốn nói rằng Nhật Bản dơ bẩn nên phải coi chừng, đồng thời muốn phô trương rằng người Mỹ sạch sẽ như vầy kia.
Thứ ba, an toàn là “phòng chống sự cố, tai nạn”. Sự nhấn mạnh vào vấn đề an toàn để phòng chống tai nạn lao động, cũng đã có ảnh hưởng tới luật về tiêu chuẩn kiến trúc, luật phòng cháy chữa cháy, đồng thời đã đóng góp vào sự hình thành xã hội quy chế và tình trạng giá cả cao của Nhật Bản ngày nay.
Sự du nhập tư tưởng luân lý coi trọng an toàn của MacArthur đã để lại ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội Nhật Bản, khiến Nhật Bản không những đã chối bỏ chiến tranh, mà còn phủ nhận mọi hình thức bạo lực khác.
Về văn hóa thì tuyên truyền văn hóa Mỹ là tối cao không phải đắn đo một hai gì cả. Hơn nữa, tượng trưng cho văn hóa Mỹ được tuyên truyền là “3 S”, tức là screen (điện ảnh), sports (thể thao) và sex (tính dục).
MacArthur còn lợi dụng giáo dục học đường để phổ cập văn hóa Mỹ. Trong chế độ 6-3, [5] ông đã cho vào đó hoạt động gọi là phòng Homeroom [6] và hội phụ huynh - thày cô (PTA: Parent Teacher Association).
Tuy nhiên, về giáo dục, hẳn đã có nhiều điều không được như MacArthur muốn. Ðây là vì ông đã duy trì chế độ giáo dục sơ đẳng (tiểu học) công lập và chế độ phân chia học sinh theo khu vực như các “trường quốc dân” cũ, trong đó đặt nặng vấn đề giáo dục đại trà và hủy diệt cá tính cá nhân.
Xem ra các cộng sự viên của MacArthur đã bỏ sót không thấy tinh thần hiếu học của người Nhật ngay từ thời mạc phủ Tokugawa. Chính MacArthur đã nhìn nhận và kinh ngạc: “Trẻ em trai gái Nhật đánh giầy cũng đọc báo”.
Cuối cùng, MacArthur đã cố tình phủ nhận chủ nghĩa tinh thần Nhật Bản, để cho Nhật Bản không trở lại chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa đế quốc nữa. Việc này, về một khía cạnh, là một “dòng chảy của sự hiện đại hóa”.
Chủ nghĩa hiện đại là coi trọng tính khách quan và văn minh vật chất. Ở Tây Âu, chủ nghĩa tinh thần thời Trung cổ đưa tới sự tin tưởng vào sức mạnh vạn năng của tôn giáo. MacArthur đã nhân danh “hiện đại hóa” phủ nhận chủ nghĩa duy tâm, và tìm cách gieo trồng chủ nghĩa duy vật vào Nhật Bản. Ðể làm cho Nhật Bản cảm phục sự phong phú vật chất của Mỹ rồi tin tưởng vào Mỹ, Mỹ đã trọng dụng các học giả kinh tế học, các quan chức ngành kinh tế, để tuyên truyền quan niệm giá trị của chủ nghĩa năng suất: “Hãy học hỏi nước Mỹ giầu sang”. Nói cách khác, sau chiến tranh, năng suất đã trở thành một “chính nghĩa” như bình đẳng và an toàn vậy.
Mặt khác, MacArthur đã triệt để phủ nhận truyện thần thoại Thiên tôn Giáng lâm và “Tinh thần Nhật Bản”. Quân đội Mỹ đã cố tình tuyên truyền rằng Nhật Bản đã thua Mỹ vì kém về mặt vật chất. Lý luận này dễ cho người Nhật chấp nhận, vì họ đã chiến đấu dũng cảm mà vẫn thua, nên có thể chịu thuyết phục như vậy.
Tóm lại, MacArthur một bên trưng bầy nền văn hóa Mỹ lý tưởng hóa, bên kia để nguyên nền văn hóa cổ của Nhật, rồi tìm mỗi cách biến Nhật Bản thời hậu chiến thành một nước sùng bái Mỹ.
Chủ nghĩa dân chủ đầu phiếu và nền tự trị địa phương trở nên trống rộng
Ý đồ như kể trên của MacArthur đã trở thành hiện thực như thế nào?
Kết quả có nhiều mặt: Chỗ thì đúng như ý muốn, chỗ thì không như ý muốn, có chỗ sau khi tiêm nhiễm tư tưởng MacArthur đã diễn ra phản ứng hóa học biến thành khác hẳn, v.v..
Trước nhất, về ngoại giao, ý đồ MacArthur đã hoàn toàn thành công. Từ sau MacArthur, và không kể từ sau năm 1991 trở đi, ngoại giao Nhật Bản chủ yếu là theo đuôi ngoại giao Mỹ. Chỉ có một lần duy nhất, nó hơi bị lung lay, là trong phong trào phản đối Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ năm 1960 [7]. Ðối với Nhật Bản, sự phụ thuộc phe Tây phương đã mang lại lợi ích to lớn. Nhờ theo đuôi ngoại giao Mỹ đúng như MacArthur đã định, Nhật Bản đã được bảo đảm an ninh một cách ít tốn kém, có nguồn nhập cảng nguyên liệu và thị trường xuất cảng ổn định, như thế thực hiện được sự phát triển cao độ về kinh tế.
Trong thể chế chính trị, thì ý đồ của MacArthur về chủ nghĩa dân chủ kiểu đầu phiếu và nền tự trị địa phương, đã bị “trống rộng hóa” mau chóng, rồi biến thành kiểu tập quyền vào quan liêu ở trung ương.
Tự trị địa phương là do sự khuếch đại của tinh thần tự trợ cá nhân mà thành. Con người ta ai nấy đều tự mình giúp mình đi tìm hạnh phúc cho mình. Tinh thần tự trợ như vậy của cá nhân, nếu khuếch đại ra, chính là sự tự trị địa phương của Mỹ vậy.
Tự sức mình đi tìm hạnh phúc cho bản thân mình, chính là cách sống nguyên lai của con người ta. Do đó, tự mình đóng cửa cài then, tự mình xua đuổi trộm cướp, là tốt nhất. Nhưng, một mình đơn độc thì không chống lại trộm cướp được, nên phải thành lập đoàn dân phòng. Dân phòng không thôi không đủ hiệu quả, thì bỏ tiền thuê “quan bảo an” [8]. Như thấy trong những phim kịch cao bồi, sự khuếch đại của tinh thần tự trợ là quyền tự trị địa phương, rồi nhiều địa phương như vậy kết tụ lại thành bang, nhiều bang hợp nhất lại thành quốc gia. Ðó chính là Hợp chủng quốc Hoa kỳ. MacArthur trông đợi Nhật Bản cũng phát triển theo mô hình này.
Thế nhưng, tư tưởng tự trị vốn không nẩy sinh ra từ cư dân địa phương Nhật Bản. Hơn thế, trước đó nữa, tinh thần tự trợ cũng không có ở Nhật Bản. Truyền thống nông thôn trồng lúa của Nhật Bản vốn là chủ nghĩa tập thể. Vì thế, khi chính quyền địa phương hình thành theo chỉ thị của MacArthur, chúng liền biến thành cơ quan được chính phủ trung ương chia xẻ quyền hạn cho, nhận trợ cấp để đại lý quyền hành chính của nhà nước trung ương.
Trong cuộc tranh luận về sự phân quyền địa phương ngày nay, người ta cũng chỉ nhiệt tâm thảo luận vấn đề chính quyền địa phương sẽ được chia xẻ những quyền hạn gì và nguồn tài nguyên nào của nhà nước trung ương. Thậm chí, có câu nói “ba mươi phần trăm tự trị”. Thật ra, đừng nói gì tới ba mươi phần trăm, chính quyền địa phương thực ra chỉ muốn làm cơ quan thầu khoán cho khỏe khoắn. Nhật Bản xưa nay là nước mà mạc tướng ra lệnh cho các phiên tướng di chuyển từ đất này sang đất khác. Ở trong một nước có truyền thống tập quyền trung ương như thế, lý tưởng của MacArthur đã không nẩy nở được.
Tiếp đến, chủ nghĩa dân chủ kiểu đầu phiếu cũng không được như lý tưởng. Nghị viện (Quốc hội) đã không trưởng thành được về mặt quyền hạn, mà thực chất đã chỉ biến thành cơ quan môi giới nguyện vọng điều trần tới cửa quan.
Ở Mỹ, mỗi khi tổng thống hay quan chức trung ương làm điều bất chính, thì lập tức Nghị viện mở cuộc điều trần để điều tra. Làm chính trị là việc của Phủ lập pháp (Nghị viện), còn Phủ hành pháp (Chính phủ trung ương) chỉ thi hành cho đúng chính sách đó thôi. Tuy nhiên, ở Nhật Bản thì tình trạng là ngược lại.
Trong Hiến pháp Nhật Bản, MacArthur chấp nhận Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao, nhưng khác hẳn với ở Mỹ, ông cũng đồng thời nhìn nhận quyền đề xuất luật pháp của chính phủ. Vấn đề then chốt là ngân sách, thì chỉ có chính phủ mới có quyền đề xuất. Kỳ lạ thay, Hiến pháp Nhật Bản quy định “ngân sách là do chính phủ đề xuất”. Thậm chí không thấy viết “dự thảo ngân sách” mà viết thẳng thừng là “ngân sách”. Sự kiện quan chức chiếm ưu thế đã có từ thời Okubo Toshimichi (Chương VIII). Thế mà, nay lại để lại một chế độ chéo cẳng ngỗng như vậy, cho nên, sự tập trung quyền lực vào tập thể quan chức trung ương, là chuyện tất nhiên. Ở điểm này, sự kỳ vọng và dự đoán của MacArthur cũng đã bị phản bội.
“Thể chế năm 55” đánh đổ chính sách giải thể tài phiệt và giải phóng đất nông nghiệp
Trên phương diện kinh tế, ý đồ của MacArthur về một xã hội cạnh tranh tự do giữa các trung tiểu xí nghiệp và tiểu nông tự canh tác cũng mau chóng trật đích. Thật ra, kể từ cuộc chiến tranh Triều Tiên, ý đồ của Mỹ (MacArthur) đã đổi thành ý muốn Nhật Bản làm tiền đồn.
Sau khi thu hồi được độc lập, Nhật Bản dần dần trở lại thể chất “quan liêu chỉ đạo” và “quan dân đề huề” như Okubo Toshimichi (Chương VIII) và Shibusawa Ei-ichi (Chương IX) đã quan niệm. Trong kinh tế và giáo dục, “Thể chế Showa năm thứ 16 (1941)” đã sống lại.
Một điều “không may” cho MacArthur là tình trạng thiếu thốn vật chất của Nhật Bản trong thời kỳ bị chiếm đóng. Thời đó, mỗi thứ đều thiếu thốn. Từ thực phẩm, quần áo, tới giấy in báo nếu không được phân phát thì không in báo được. Do đó chế độ “bao cấp” đã không thể tránh được. Và vì vậy, MacArthur đã không thể hủy bỏ cơ cấu quan chức quan liêu thống suất được.
Quan chức quan liêu thống suất kiểu Nhật Bản là trước khi chỉ định xí nghiệp, họ để cho ngành nghề liên quan nói chuyện với nhau đã. Ở đây, hình thức hòa hợp (“phe phen”) kiểu Shibusawa Ei’ichi đã len vào. Ðiện lực là như vậy, may dệt cũng vậy, ngành nghề nào cũng vậy.
Vì thế, đoàn thể ngành nghề đã thành hình một cách kiên cố. Ðoàn thể ngành nghề như vậy “bám dính” vào bộ sở chủ quản, tìm cách cắt bỏ xí nghiệp nào không chịu tuân theo ý kiến của đa số. Từ đó phát sinh ra “thể chế hòa hợp trong đoàn thể ngành nghề dưới sự lãnh đạo của quan chức”. Xí nghiệp thực hiện sự hiện đại hóa hay đại quy mô hóa dưới sự lãnh đạo của quan chức. Quan chức một mặt hạn chế sự vào cuộc của xí nghiệp mới, mặt khác lấy tiền công quỹ đổ vào xí nghiệp cũ bằng mọi hình thức như đầu tư, cho vay, tài trợ, v.v..
Như trên, khác với ý đồ của MacArthur chỉ muốn Nhật Bản thành một quốc gia phân tán làm nhiều mảnh nhỏ cạnh tranh tự do với nhau, Nhật Bản đã trở thành một cường quốc kinh tế dưới sự lãnh đạo của quan chức. Trên thực tế, cái gọi là “thể chế năm 55” đã xác lập. Trong đó, đại xí nghiệp đã chỉ hình thành trong các ngành nghề chế tạo, chứ nông nghiệp và lưu thông hàng hóa thì vẫn ở trạng thái quy mô nhỏ. Do đó, ở mỗi địa phương đã hình thành đủ loại tập thể lớn nhỏ gom góp những thành phần nhỏ lại thành “đoàn tàu hộ tống”.
Từ đó, ngành nghề chế tạo, nhất là ngành nghề chế tạo đại trà theo quy cách, đã phát triển lớn mạnh. Ðến nỗi riêng các ngành nghề này thì số lượng xuất cảng ngày càng tăng. Họ đã có sức cạnh tranh quốc tế có thể chịu đựng được hối suất 1 đôla bằng 100 Yen. Thế nhưng, các ngành nghề duy trì quy mô sản xuất nhỏ như lưu thông hàng hóa, nông nghiệp, hay những ngành nghề được sự bảo hộ của nhà nước như xây dựng, vận tải, truyền thông, thì giá thành lên cao đến nỗi tỷ giá hối đoái lên tới từ 1 đôla bằng 200 Yen, có khi tới 400 Yen. Nghĩa là so với các nước Âu Mỹ và các nước châu Á khác, Nhật Bản đã trở thành một xã hội khác hẳn về chế độ giá cả.
Với ý nghĩa này, hầu như tất cả ý đồ của MacArthur về mặt kinh tế đều không thực hiện được điều gì cả. Cơ chế do MacArthur lập ra để biến Nhật Bản thành một nước có cạnh tranh tự do, như luật cấm độc quyền đã không hoạt động có hiệu quả. Giải thể nhóm tài phiệt cũng chỉ xong ở chỗ loại bỏ gia đình tài phiệt ra khỏi nhóm tài phiệt mà thôi.
Luật cấm độc quyền bị vô hiệu hóa ở chỗ quan liêu làm như không biết đến. Ủy ban giao dịch công chính mà có chủ tịch là cựu quan liêu Bộ Kho bạc thuyên chuyển xuống, sẽ không hoạt động hiệu quả nữa. Thậm chí, Bộ Thương nghiệp quốc tế và công nghiệp và Bộ Kho bạc đã công nhiên chỉ đạo vi phạm luật cấm độc quyền.
Việc giải phóng đất nông nghiệp và duy trì nền nông nghiệp quy mô nhỏ, cũng chỉ được một đời. Ðất thì khó vứt bỏ đi được. Vì thế, nông dân được cấp đất nhờ sự giải phóng đất nông nghiệp, vẫn tiếp tục canh tác quy mô nhỏ. Nghĩa là, Nhật Bản đã trở thành “Thụy Sĩ ở Viễn đông” với nhiều nông gia quy mô nhỏ. Ðây là mưu mô quỷ quái để cảnh giới không cho Nhật Bản tái vũ trang.
Thế nhưng, cùng với sự hoàn thành “thể chế năm 55”, mưu mô trên cũng bị thất bại.
Những nông dân quy mô nhỏ được cấp đất trước kia vẫn cố thủ đất đai và tiếp tục làm nghề nông, đúng như MacArthur nghĩ. Bộ Nông nghiệp cũng áp dụng chính sách ưu đãi tiểu nông. Nhưng, con cháu những nông dân này, sau khi tốt nghiệp trung học, đã đua nhau ra thành thị đi làm công nhân cho xí nghiệp. Thành ra, các tiểu nông trở thành già nua, đồng thời kiêm thêm nghề khác.
Hiện nay, những người làm nghề nông ở Nhật Bản tập trung ở lứa tuổi 60. Nghĩa là nông dân vào nghề trong vòng 20 năm từ sau chiến tranh, bây giờ vẫn làm nòng cốt cho nông nghiệp. Những người dưới tuổi họ vào nghề nông rất ít. Khôi hài thay, chính vì giới trẻ nông thôn ra tỉnh thành làm công nhân, mà những thói quen ít thông thoáng như chế độ sống lâu lên lão làng hay chế độ làm công suốt đời đã hình thành, có lợi cho sự khuếch đại kinh doanh của các đại xí nghiệp. “Thể chế năm 55” đã có lợi vô cùng cho xí nghiệp, vì nhờ đó họ đã có thể chỉ thuê lớp người trẻ tuổi thôi.
Sinh ra nguyên nhân băng hoại chế độ gia tộc
Xét về mặt xã hội, việc tạo ra giới tiểu nông đã có lợi cho ý đồ của MacArthur. Ðó là sự giải thể chế độ gia tộc. Nhờ cải cách ruộng đất, cha mẹ ở lại nông thôn, còn con cái sau khi tốt nghiệp trung học, liền bỏ ra thành thị làm công nhân. Sự kiện này chia rẽ nơi cư trú của cha mẹ và con cái, và làm “hạt nhân hóa” gia đình.
Chính sách cải cách ruộng đất của MacArthur nhằm mục đích phân tán lực lượng lao động về nông thôn làm cho Nhật Bản không thể trở thành nước công nghiệp lớn được. Từ cuộc chiến tranh Triều Tiên trở về trước, Mỹ đã áp dụng chính sách này.
Thế nhưng kết quả là chỉ có lớp người trung và cao niên ở lại nông thôn, còn lớp trẻ mới tốt nghiệp thì ra thành thị làm công nhân, ở ký túc xá của xí nghiệp, và vì không phải nuôi gia đình nên sẵn sàng làm công với đồng lương thấp. Nghĩa là một tình trạng ngược lại với ý đồ của MacArthur đã xảy ra.
Một mặt, MacArthur cho rằng chế độ cha anh làm cốt lõi gia tộc, chính là nguyên mẫu của quốc gia dân tộc chủ nghĩa lấy Thiên hoàng làm đầu. Vì thế, muốn phá bỏ chủ nghĩa quốc gia dân tộc và chế độ Thiên hoàng, trước hết phải đập bỏ chủ nghĩa gia tộc theo chế độ cha anh làm trưởng tộc. Ðây chính là căn nguyên của xã hội phong kiến Nhật Bản, ở đó người ta có thể tấn công tự sát nếu được Thiên hoàng xuống chiếu ra lệnh. Nghĩa là, ông đã áp dụng thuyết về “chế độ chuyên chế châu Á” của những nhà xã hội học cũ như Wittfogel [9] vào trường hợp Nhật Bản. MacArthur cho rằng nếu phá bỏ được chế độ này, Nhật Bản sẽ trở thành một nước hòa bình dân chủ. Thực tế là sự đập bỏ chế độ gia tộc đã sinh ra rất nhiều “người xí nghiệp”, giúp thực hiện được sự sản xuất đại trà theo quy cách.
Nói tóm lại, sự cải cách Nhật Bản của MacArthur là thay đổi quan niệm luân lý và ý thức thẩm mỹ, sửa đổi chế độ gia tộc và cơ cấu địa phương, đảo lộn tất cả giai tầng xã hội đi. Nhưng, ông đã không đả phá được thể chế quan liêu chỉ đạo, mà ngược lại đã giúp cho Nhật Bản thực hiện được giấc mơ từ thời Minh Trị là hình thành một xã hội công nghiệp hiện đại với sản xuất đại trà theo quy cách. Sự phủ nhận chủ nghĩa tinh thần đã biến người Nhật thành “người xí nghiệp”, thành “súc vật kinh tế”.
Cải cách luân lý và ý thức thẩm mỹ
Ở Nhật Bản ngày nay, ảnh hưởng quan trọng nhất do MacArthur để lại, là cải cách luân lý và ý thức thẩm mỹ. Ba điều được coi như đúng tuyệt đối là “năng suất”, “bình đẳng” và “an toàn”. So với bất cứ nước nào khác trên thế giới, Nhật Bản coi ba điều này là “chính nghĩa” một cách triệt để hơn hết. Tuy nhiên, cái “bình đẳng” ở đây không phải là “bình đẳng về cơ hội” của cách mạng Pháp hay nói trong bản Tuyên ngôn độc lập Mỹ.
Bình đẳng về cơ hội” là “bình đẳng trước pháp luật”. Ai cũng được dự kỳ thi tuyển sinh, ai cũng được ứng cử, ai muốn làm nghề gì cũng được.
Nhưng, dự kỳ thi tuyển sinh thì phải có người đậu, kẻ rớt. Cùng làm một nghề thì cũng có người thành công, kẻ thất bại. Cùng có quyền trở thành cầu thủ bóng chày, nhưng có người thành siêu sao, có kẻ không thành gì cả. “Bình đẳng về cơ hội” đã sinh ra “bất bình đẳng về kết quả”. Ðể làm nhẹ bớt “kết quả bất bình đẳng”, chế độ đánh thuế lũy tiến đã được áp dụng vào những “người thành công về kết quả” và những “người thất bại về kết quả” thì được săn sóc tận tình bằng chính sách phúc lợi xã hội. Nghĩa là sự khác sai về kết quả cần phải được tu chính.
Nhưng, chủ nghĩa dân chủ Nhật Bản thời hậu chiến lại coi ưu tiên sự “bình đẳng về kết quả” hơn là “bình đẳng về cơ hội”. Vì coi trọng sự “bình đẳng về kết quả”, nên người ta đã kiềm chế “bình đẳng về cơ hội”. Không phải dùng thuế lũy tiến hay phúc lợi xã hội để tu chính sự “bất bình đẳng về cơ hội”, mà người ta đã hạn chế “bình đẳng về cơ hội” để tạo ra “bình đẳng về kết quả” bằng chủ nghĩa quan chức quan liêu thống suất.
Hiến pháp Nhật Bản do MacArthur để lại, bảo đảm quyền “tự do nghề nghiệp”, nhưng lại hạn chế sự vào nghề của người mới. Ví dụ, mở hiệu thuốc thì tự do nhưng sự thật là bị hạn chế bởi chế độ đăng ký. Trường hợp cây xăng cũng tương tự.
Như nói ở chương trước, trong “bình đẳng về kết quả”, thì “bình đẳng chiều dọc” được coi trọng ở Nhật Bản hơn là “bình đẳng chiều ngang”.
Nhật Bản ngày nay là nước đã thực hiện được sự “bình đẳng chiều ngang” nhất thế giới. Người ta nói, muốn biết sự bình đẳng kinh tế đã đạt được hay chưa, thì không gì thích đáng bằng so sánh “thu nhập năm giai đoạn”. Ðó là sự cách xa giữa thu nhập của một phần năm số người có thu nhập cao nhất so với một phần năm số người có thu nhập thấp nhất. Con số này ở Nhật Bản là 2,9, ở Mỹ là 9,4, ở Âu châu ít nhất là Ðức cũng là 6,0 còn các nước khác đều hơn 10. Ở các nước đang phát triển, con số này còn lớn hơn nhiều.
Còn “bình đẳng chiều dọc” thì bây giờ chỉ còn là vấn đề luân lý cá biệt của Nhật Bản thôi. Trong cái “bình đẳng” do MacArthur cổ súy, cũng có phần nào cái khái niệm “bình đẳng chiều dọc” từ thời mạc phủ Tokugawa. Biểu hiện của điều này là chế độ sống lâu lên lão làng. Ví dụ, cùng tốt nghiệp đại học rồi cùng vào làm công ty, nếu hai mươi năm sau mỗi người đều lên tới hàng trưởng phòng, thì như vậy là có “bình đẳng chiều dọc”.
Nông gia trồng lúa từ hai mươi năm trước, thì sau này vẫn nên tiếp tục trồng lúa. Bởi vậy để duy trì tình trạng này, phải bảo hộ những nhà nông như vậy [10]. Người bán lẻ bây giờ cũng vậy, cũng nên tiếp tục bán lẻ hai mươi năm sau. Vì thế, đã có đạo luật hạn chế những nhà hàng bán lẻ quy mô lớn (siêu thị).
Nhưng, nếu nhấn mạnh vào sự “bình đẳng chiều dọc”, thì sức lao động trở thành cứng ngắc. Thế nhưng, nếu thế hệ đổi mới, mọi thứ đều đổi hết. Ví dụ, đời cha làm ruộng, nhưng người kế nghiệp làm ruộng không nhất thiết phải là con. Cha kinh doanh tiệm bán lẻ, nhưng con không kế nghiệp cha. Nghĩa là, những người cùng thế hệ còn làm việc với nhau thì cấu tạo công ăn việc làm không thay đổi lắm, nhưng khi thế hệ mới xuất hiện thì cấu tạo ấy thay đổi hẳn đi.
Tư tưởng “bình đẳng” mà MacArthur đem vào đã đẻ ra một thứ “bình đẳng không có tự do” khác hẳn với ý đồ của ông.
Về “an toàn”, thì Nhật Bản đã đi quá xa so với ý đồ của MacArthur. Ông cho rằng Nhật Bản đã đẻ ra “đội đặc công quyết tử” thì Nhật Bản hẳn là “dân tộc không sợ chết”, không nghĩ gì tới an toàn cả. Vì thế, MacArthur đã đặt nặng vấn đề an toàn, cổ súy chủ nghĩa bình đẳng, ý thức vệ sinh và xã hội không sự cố, không tai nạn.
Thế nhưng, Nhật Bản đã đưa những việc này lên tới mức cực đoan. Ngày nay, người Nhật quan niệm rằng, chiến tranh là xấu tuyệt đối bất kể lý do là gì, hòa bình là tốt tuyệt đối. Vì thế, dù chỉ là gửi quân tham gia hoạt động hậu phương trong chiến tranh vùng Vịnh, hay tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình, nhưng lập tức có đông người phản đối như một phản xạ tự nhiên.
Ý thức vệ sinh cũng trở nên cực đoan. Chẳng hạn, học trò tiểu học chơi ở bãi cát sợ bẩn tay nên đeo bao tay, quần áo hàng hiệu sợ vấy bẩn nên không chơi ở sân trường, v.v..
Thế rồi, để cho sự cố khỏi xảy ra, quan liêu đã tăng cường tiêu chuẩn quy cách, khắt khe hóa quy chế. Do đó, khi quan chức (chuyên viên) nói “không chừng có thể có sự cố” thì quy chế khắt khe nào cũng thông qua được. Những sự việc như vậy đã làm tăng quyền hạn của quan chức quan liêu trong thập niên 1980, và để công tác quản lý dễ dàng, quy chế và hạn chế độ được tăng cường vô tội vạ. Như đã viết, những vụ việc, như vụ động đất lớn Hanshin-Awaji, vụ ngộ độc vi khuẩn O157, vụ khủng hoảng hệ thống lưu thông tiền tệ, v.v., đã cho thấy rõ quy chế tuy khắt khe mà thực chất tính an toàn lại đạt được rất thấp.
Phủ nhận tinh thần sinh ra sùng bái vật lượng và tín ngưỡng số lượng
Một điều nữa là, do sự cổ súy ý thức về giá trị của nền văn minh vật chất, đồng thời phủ nhận những giá trị tinh thần như thần thoại Nhật Bản hoặc “hồn Yamato”, đã đưa Nhật Bản tới sự sùng bái vật lượng và tín ngưỡng số lượng một cách kỳ lạ. Chẳng hạn, thứ bậc công ty được xếp đặt theo quy mô kinh doanh lớn hay nhỏ, công ty vừa và nhỏ mặc dầu có truyền thống và kỹ thuật tiên tiến đến đâu cũng không được kính trọng. Xưa kia, chủ nhân những công ty vừa và nhỏ cũng được giới kinh tài kính trọng. Nhưng nay, những nhà kinh doanh với doanh thu khoảng 100 tỷ Yen (khoảng non 1 tỷ đôla không còn lọt vào ghế Hội trưởng Phòng thương công Tokyo hoặc Osaka, hoặc Keidanren nữa.
Ở ngoại quốc, như ở Ðức, người ta thấy Hội trưởng liên hiệp công nghiệp Ðức (tương đương với Keidanren Nhật Bản) là những người như chủ công ty gọng kính Rosenstock hay giám đốc công ty dao kéo Henkel. Công ty nào cũng chỉ có số doanh thu khoảng từ 1 đến 2 tỷ đôla nghĩa là, người ta coi trọng truyền thống và kỹ thuật được người đời biết đến, cũng như nhân cách của nhà kinh doanh, hơn là quy mô kinh doanh của công ty.
Nhưng ở Nhật Bản, thì tất cả đều là số lượng. Thậm chí, tranh vẽ cũng tính giá bằng kích cỡ, bằng cân nặng. Số lượng đã thấm sâu vào xã hội, khiến nẩy sinh ra tư tưởng coi trọng kinh tế, sùng bái tiền bạc.
Xem như vậy đủ thấy sự phủ nhận tinh thần đã đi quá trớn. Có lẽ MacArthur không biết rằng Nhật Bản là nước không có tôn giáo theo đúng nghĩa của tôn giáo.
Như đã đề cập ở Chương I về Thái tử Shotoku, quan niệm tôn giáo của Nhật Bản là “hay đâu âu đấy”. Trong bối cảnh như vậy, sự phủ nhận truyện thần thoại, bác bỏ tính duy tâm đã khiến Nhật Bản có chủ nghĩa duy vật thật là quái dị.
Là quân nhân đồng thời là nhà chính trị
MacArthur là quân nhân, đồng thời lại là nhà chính trị. Là quân nhân, ông đã hoạt động trong ba lần chiến tranh: chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chiến tranh thế giới lần thứ hai và chiến tranh Triều Tiên. Ðối với một quân nhân Mỹ, như vậy ông đã ra trận khá nhiều lần. Không những thế, khi ở Philippines ông đã chuẩn bị bản hiến pháp để xây dựng một nhà nước mới. Ở Nhật Bản, ông đã lấn sâu rộng vào chính sách chiếm đóng. Như vậy, ông là nhân vật rất chú trọng tới vấn đề chính trị. Hơn hết tất cả, ông là người tự tôn tự đại, có ý thức êlít mãnh liệt.
Nhất là những cải cách của ông trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, phải coi là của một chính trị gia, hơn là của một quân nhân. Mà là một chính trị gia độc tài, chứ không phải kiểu chính trị gia được quần chúng nhân dân ủng hộ, hay kiểu chính trị gia đấu tranh phe phái.
Thông thường, một nhà chính trị phải vận động chiếm được sự ủng hộ của người khác, đoạt được phiếu trong tuyển cử hay trong nghị viện. Nhưng MacArthur thì có sức mạnh quân sự nước ngoài ở sau lưng. Vì thế, ông bất chấp các chính trị gia khác, không cần thỏa hiệp với quan chức, mà chỉ cần ra lệnh là được. Nói cách khác, ông chỉ cần làm chính trị kiểu đế vương.
Năm 1952, MacArthur đã định ra tranh cử tổng thống Mỹ với tư cách ứng cử viên của Ðảng Cộng hòa, nhưng không được. Lúc đó, người được chọn làm ứng viên tổng thống của Ðảng Cộng hòa rồi đắc cử tổng thống, là Nguyên soái Eisenhower, tổng chỉ huy mặt trận Âu châu, thuộc lớp đàn em của ông trong hàng ngũ quân nhân lục quân. Xem như vậy đủ thấy MacArthur không phải là nhà chính trị quyền mưu thuật số, không phải là một người khôn khéo trong vấn đề vận động nghị viện.
Thế nhưng, trong khi làm chính trị ở Nhật Bản, ông đã tỏ ra thích phô trương và khéo léo. Ðồng thời, để cho người Nhật hiểu ông là một người Mỹ hào hoa, ông đã diễn xuất rất tinh vi.
Chẳng hạn, nếu xem bức hình chụp cuộc hội kiến giữa ông và Thiên hoàng Nhật Bản, người ta thấy Thiên hoàng mặc bộ lễ phục đuôi én, trong khi ông mặc áo sơmi trần. Muốn cho thấy Thiên hoàng chỉ là người thường chứ không phải thần thánh, thì đây quả là một hành vi có hiệu quả. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, ông có thể từ từ phản công đánh từ phía nam lên một cách ăn chắc, nhưng ông đã không làm như vậy. Ông đã dám cho đổ bộ lên Inchong, gần Seoul, một diễn xuất có tính chất kịch bản. Nói chung, ông rất khéo diễn xuất. Cũng may cho ông là ông đã thành công phần lớn nhờ vào “lượng vật chất” phong phú một cách áp đảo của Mỹ.
Trong dòng lịch sử Nhật Bản, đột nhiên xuất hiện nhân vật thống trị MacArthur từ nước ngoài đến, một người chưa có hiểu biết chính xác về Nhật Bản, nhưng đã ôm một giấc mơ muốn biến Nhật Bản thành một nước Mỹ lý tưởng.
Những ý đồ của MacArthur có cái đã thành công mỹ mãn, có cái đã đi quá trớn. Nhưng tựu trung, chúng đã để lại ảnh hưởng mãnh liệt trong xã hội Nhật Bản ngày nay. “Thể chế năm 55”, một hình thức tu chính để triệt tiêu những ý đồ của MacArthur, nay đã băng hoại, nên bây giờ là lúc cần xét xem phần nào đáng nhân rộng ra, phần nào phải cắt bỏ đi.


Chú thích:
[1] Nguyên soái: Cấp bậc cao nhất trong quâ n đội, trên đại tướng (Ðại Tự Ðiển tiếng Việt, NXB VHTT, tr.1217); tương đương với Thống chế (?) (sách đã dẫn, tr.1588).
[2] Nguyên văn tiếng Nhật là Shosho. Trong Quân đội Hoàng gia Nhật Bản, Shosho là “tướng 2 sao”, tương đương với Major General của Mỹ, và Trung tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vì thế, ở đây dịch là Trung tướng.
[3] Nhật Bản ngày nay chỉ có Ðội Tự vệ (nguyên văn tiếng Nhật là Jieitai). Hiến pháp Nhật Bản (điều 9) đã chối bỏ chiến tranh, cho nên Nhật Bản không thể có Quân đội được. Vì thế, luật pháp Nhật Bản chỉ quy định một tổ chức quân sự đặt tên là Ðội Tự vệ, với chức năng thuần túy tự vệ.
[4] New Deal là đường lối cải cách cấp tiến của tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, chủ yếu nhắm vào bảo hiểm xã hội và phục hồi kinh tế (1933-1939).
[5] Học chế của Nhật Bản cho tới trước thềm đại học, là chế độ 6-3-3, nghĩa là 6 năm tiểu học, 3 năm trung học cấp 1 (cơ sở) và 3 năm cấp 2 (phổ thông). Giáo dục bắt buộc (nghĩa vụ) là 9 năm đầu.
[6] Homeroom là phòng học dành riêng cho một nhóm học sinh nhất định hàng ngày tới lui sinh hoạt với một thầy cô nhất định (thầy cô phụ trách) để được chỉ bảo, hướng dẫn những điều cần thiết trước khi phân tán vào các lớp học khác nhau.
[7] Cuộc đấu tranh chống lại Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ năm 1960, là phong trào quần chúng qui mô lớn nhất lịch sử cận đại của Nhật Bản. Nó đã lan rộng ra toàn quốc Nhật Bản, và trong những tháng 5, 6 năm 1960, mỗi ngày đều có hàng chục ngàn người biểu tình bao quanh trụ sở Quốc hội Nhật Bản. Thậm chí, tổng thống Mỹ đương thời là Eisenhower, đã phải hủy bỏ cuộc viếng thăm chính thức tới Nhật Bản dịp đó.
[8] “Quan bảo an” là dịch từ ngữ Sheriff của tiếng Mỹ. Ngày nay, Sheriff là quan chức có quyền cảnh sát của một quận, do dân bầu ra, phục vụ theo nhiệm kỳ. Nhưng thời kỳ Khai thác miền Tây, khi tình hình trị an còn thấp kém, Sheriff phần lớn là những tay súng bắn nhanh (fast draw gun man) được dân địa phương thuê. Rất nhiều phim truyện cao bồi Mỹ đã được xây dựng trên những truyền thuyết về những Sheriff bắn nhanh như vậy.
[9] Karl August Wittfogel (1896-1988), nhà nghiên cứu Trung Quốc từ thời Ðức Quốc xã, năm 1934 lưu vong sang Mỹ, làm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung quốc của Ðại học Columbia ở New York.
[10] Nhật Bản có chính sách bảo hộ nông gia trồng lúa vô cùng triệt để. Từ trợ cấp, ấn định chỉ tiêu sản xuất, định giá gạo do chính phủ thu mua, nâng hàng rào quan thuế lên để ngăn chặn không cho gạo nhập cảng từ ngoại quốc vào, v.v.. Đến nỗi, giá gạo ở Nhật Bản bình quân cao hơn giá gạo trên thị trường thế giới khoảng 20 lần.

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 97415
Has thanked: 35596 times
Have thanks: 48887 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: July 3rd, 2018, 11:46 am
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: Mười hai người lập ra nước Nhật

Postby DaMinhChau » August 14th, 2016, 3:48 pm


Chương 11

Ikeda Hayato
Sự thực hiện một đại cường quốc kinh tế



Con đường tới “gấp đôi thu nhập”

Người thứ 11 trong “Mười hai người lập ra nước Nhật”, là Ikeda Hayato.
Nói tới Ikeda Hayato, ai nấy đều biết đó là thủ tướng Nhật Bản từ năm 1960 (niên hiệu Chiêu hòa thứ 35) tới 1964, tức là năm Nhật Bản đứng ra đăng cai Thế vận hội Tokyo.
Trong biết mấy đời thủ tướng thời hậu chiến, tại sao lại chỉ chọn một mình Ikeda Hayato làm một trong “Mười hai người lập ra nước Nhật?”
Lý do: Ông là người đã dẫn dắt Nhật Bản thời hậu chiến trở thành đại cường quốc kinh tế. Không cứ gì thành tích ông đã đạt được về sự tăng trưởng kinh tế, điểm quan trọng nhất là ông đã thảo ra “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” trong đó ông đã dương cao lý tưởng đưa Nhật Bản lên hàng “đại cường quốc kinh tế”.
Lý tưởng cho một nước có nhiều thể loại: Nước được toàn thế giới tôn trọng về mặt chính trị, nước được vị nể và nương tựa về sức mạnh quân sự, nước được ngưỡng mộ về mặt văn hóa, nước được mỗi người yêu thích vì con người vui nhộn, v.v.. Thế mà Ikeda Hayato đã đặt cho Nhật Bản lý tưởng là trở thành đại cường quốc kinh tế, rồi ông thuyết phục được mọi người đồng ý với ông. Nghĩa là, nội các Ikeda đã tuyên bố “dốc toàn lực cho chính sách gấp đôi thu nhập” và đã được toàn dân ủng hộ mạnh mẽ.
Việc này một mặt đóng góp vào sự phát triển kinh tế ngày nay, mặt khác đã sinh ra quan niệm coi đồng tiền là trên hết, và như vậy đã tạo ra “xã hội trọng quyền lực của đồng tiền”. [1] Cũng có thể nói, nó đã làm nẩy sinh ra cấu tạo công nghiệp sản xuất đại trà theo quy cách, cấu tạo địa phương kiểu đô thị tập trung, hay đã biến Nhật Bản thành xã hội chức tước bổng lộc hay “xã hội chức lộc”, trong đó toàn dân Nhật trở thành “người xí nghiệp”.
Với ý nghĩa trên, Ikeda Hayato đáng được coi là có công lao lớn nhất trong các thủ tướng Nhật Bản trên phương diện quyết định ý nghĩa và luân lý của xã hội Nhật Bản.
Trong số các Thủ tướng Nhật Bản thời hậu chiến, người ta thường hay kể đến bốn người: Yoshida Shigeru, Ikeda Hayato, Sato Eisaku, rồi Tanaka Kakuei. Trong bốn người, Yoshida Shigeru là một nhân vật lớn, nhưng hầu hết những quyết định trọng yếu của ông đều đã xuất phát từ quân đội chiếm đóng, tức là từ MacArthur.
Trong khi đó, Ikeda Hayato với sáng kiến riêng, đã để lại ảnh hưởng lớn đối với lối sống của người Nhật, hay đúng ra, đối với thực trạng xã hội Nhật Bản ngày nay.
Trước hết, như thường lệ, hãy xét qua lai lịch nhân vật này.
Một công chức (quan liêu) thành đạt muộn
MIkeda Hayato sinh năm 1899 (niên hiệu Minh Trị thứ 32) tại tỉnh Hiroshima. Như thế ông có tuổi chẵn bằng số năm của thế kỷ thứ XX. [2]
Năm 1925, ở tuổi 25, ông tốt nghiệp Trường Ðại học luật, thuộc Ðại học quốc gia Kyoto. Như vậy, ông đã tốt nghiệp đại học chậm từ 2 tới 3 năm. Có lẽ ông không phải là loại học giỏi. Một phần là vì sức khỏe không được tốt, mãi tới 18 tuổi ông mới vào trường Ðệ ngũ Cao đẳng. [3] Rồi để tiến lên Ðại học Kyoto, ông đã phải mất 4 năm trong khi đáng lẽ chỉ mất 3 năm thôi. Không thể nói như vậy là ông học kém, nhưng nếu so sánh với người tiền nhiệm của ông, tức là Thủ tướng Kishi Nobusuke, một người đã từ Ðệ nhất Cao đẳng tiến lên Ðại học Quốc gia Tokyo rồi tốt nghiệp trong thời hạn ngắn nhất, thì phải nói là ông đã bị vất vả lắm trong kỳ thi tuyển sinh.
Tốt nghiệp đại học xong, ông lập tức vào làm công chức Bộ Kho bạc. Hai năm sau, 27 tuổi, ông đã lấy người con gái thứ ba của Bá tước Hirosawa Kinjiro, tên là Naoko. Người chủ hôn là Bộ trưởng Kho bạc đương thời Inoue Junnosuke. Cứ nhìn tên tuổi những người này, ta có thể thấy ông là công chức êlít (ưu tú), được đánh giá cao trong Bộ Kho bạc.
Nhưng chẳng bao lâu, năm 1932, Naoko đã vi vã qua đời vì bệnh tim mạch. Năm trước đó, chính Ikeda Hayato cũng bị bệnh, phải xin nghỉ việc để dưỡng bệnh. Nghe nói đó là một bệnh nan y (một bệnh phát ban). Vì thế, ông đã cùng mẹ đi hành hương 88 linh địa trên đảo Shikoku. [4]
Khỏi bệnh, năm 1934, ông trở lại Bộ Kho bạc làm việc. Năm sau, tái hôn. Người vợ sau tên là Machie.
Cuộc chiến Thái bình dương bùng nổ, [5] rồi năm 1942, ở tuổi 42, ông được thăng trưởng phòng Phòng Thuế số 1, Cục Thuế.
Thời đó trưởng phòng Thuế số 1 có hàm cán bộ cấp ba. Ở tuổi 42 mà còn lẹt đẹt ở địa vị này, là quá muộn. Chắc tương lai cũng không có triển vọng nào.
Năm 1944, ông được thăng chức cục trưởng Cục Tài vụ Tokyo. Nhưng chức này cũng chỉ là cán bộ cấp hai. Thời ấy, đáng lý ông phải lên tới chánh văn phòng bộ trưởng, mới xứng. Ðịa vị của ông như vậy cũng tương tự như ngày nay đã đến tuổi 56, 57 mới lên được tới chức cục trưởng một cục địa phương. Nói cách khác, ông đã đi chệch quỹ đạo danh vọng.
Tóm lại, xem lý lịch Ikeda Hayato cho tới đây, dù bị bệnh đến phải nghỉ việc, nhưng xét ra ông đã phải phấn đấu khá gian nan với cuộc đời công chức.
May thay, năm 1945, ông đã được thăng chức cục trưởng Cục Thuế. Là cục trưởng Cục Thuế rồi, ông có thể có cơ hội làm tổng cục trưởng Tổng cục Thuế quốc gia. Như vậy là ông đã trở lại được quỹ đạo danh vọng. Vừa lúc ấy, cuộc chiến tranh chấm dứt, rồi bộ Tổng chỉ huy quân đội chiếm đóng bắt đầu cuộc thanh trừng “công chức” [6].
Cán bộ cao cấp Bộ Kho bạc nhiều người bị thanh trừng. Không biết có phải vì vậy không, năm 1947, ở tuổi 47, Ikeda Hayato bỗng được nâng lên làm chánh văn phòng Bộ Kho bạc. Có thể nói là bản thân Ikeda dẫu muốn cũng khó được địa vị này. Thật đã tới buổi hạnh vận của Ikeda vậy.
Thế nhưng, năm sau 1948, ở tuổi 48, ông đã từ quan. Nghe nói lý do là sự bất đồng ý kiến với nội các liên hiệp Katayama - Ashida. Thực tế là thế nào thì không rõ.
Năm sau, 1949, nhân có cuộc tổng tuyển cử Hạ nghị viện ngày 23 tháng 1, ông ứng cử và ngay lần đầu tiên đã đắc cử. Rồi ngày 26 tháng 2, nhân thủ tướng Yoshida Shigeru thành lập nội các lần thứ ba, ông đã một bước nhẩy vọt lên chức bộ trường Bộ Kho bạc. Cuộc thanh trừng công chức cao cấp làm thiếu hụt nhân tài khiến ông đã được đắc dụng, rồi lại nhờ thói quen độc tài của Thủ tướng Yoshida, ông bỗng dưng nhẩy vọt từ chánh văn phòng lên bộ trưởng Kho bạc chỉ trong vòng vài tháng.
Thời nay, phải là 57, 58 tuổi mới lên tới chánh văn phòng. Sau đó, ứng cử nghị viên, nếu đắc cử cũng phải ba hay bốn nhiệm kỳ sau mới mong được cất nhắc lên làm bộ trưởng. Ấy là chưa kể bộ trưởng Kho bạc là vị trí trọng yếu, [7] không dễ gì giành được.
Nhờ có cuộc chính biến [8] nên đã được làm bộ trưởng Kho bạc rất sớm, là trường hợp đảng trưởng Takemura Masayoshi của Ðảng Sakigake. Ấy thế mà ông này trước đó cũng đã làm thủ hiến tỉnh hai nhiệm kỳ, đã đắc cử nghị viên ba nhiệm kỳ và đã 60 năm tuổi. Nhưng, ở thời ngay sau chiến tranh mà nghị viên mới đắc cử lần thứ nhất đã được chọn làm bộ trưởng, cũng không đáng ngạc nhiên. Thời ấy, tuổi 49 là tuổi lão thành hơn thời nay, đồng thời vì cuộc thanh trừng công chức nên rất nhiều người trẻ tuổi đã được nâng lên chức trọng quyền cao. Ðó là “thế hệ thứ nhất hậu chiến”.
Ikeda đã từ chánh văn phòng nhẩy vọt lên làm bộ trưởng Kho bạc. Hơn thế nữa, trong nội các Yoshida lần thứ ba, bộ trưởng Kho bạc lại kiêm luôn cả bộ trưởng Thương mại quốc tế và công nghiệp. Nghĩa là ông đã chiếm vị trí trung khu của các bộ trưởng liên quan tới kinh tế.
Ðến đợt nội các Yoshida lần thứ tư, ông cũng giữ chức bộ trưởng Thương mại quốc tế và công nghiệp kiêm bộ trưởng Quy hoạch kinh tế. Sau đó, ông đã giữ chức chủ nhiệm Ủy ban điều hợp chính sách, [9] nghĩa là nghiễm nhiên đóng vị trí trung tâm của chính giới Nhật Bản.
Trong thời kỳ nội các Yoshida đợt thứ năm, ở Nhật Bản đã xảy ra một vụ xcăngđan về tiền trợ cấp cho kế hoạch đóng tàu. Vụ này gọi là vụ xcăngđan đóng tàu. [10]
Một người nữa được coi là rất sáng giá dưới trướng Thủ tướng Yoshida, tức tổng thư ký Sato Eisaku, lúc ấy có trát bắt giữ. Nhưng bộ trưởng Tư pháp lúc ấy, Inukai Takeru, đã sử dụng quyền chỉ huy đối với viện trưởng Viện Kiểm sát để cản lệnh bắt giam Sato Eisaku. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử xcăngđan của chính giới Nhật Bản thời hậu chiến mà quyền chỉ huy đã được sử dụng.
Việc sử dụng quyền chỉ huy như vậy, bị người đời chỉ trích là lạm quyền, Inukai Takeru phải từ chức bộ trường Tư pháp, nội các đổ, nhưng Sato Eisaku thoát khỏi bị bắt.
Lúc đó, chỉ có trát bắt giam đối với Sato Eisaku thôi, nhưng tin đồn là Ikeda Hayato cũng có nghi vấn. Vì quyền chỉ huy đã được sử dụng, Sato Eisaku đã thoát khỏi bị bắt, mà Ikeda Hayato cũng không thấy có trát đòi nữa.
Nhân vụ bê bối đóng tàu đó, ngày 28 tháng 2 Ikeda đã ra điều trần trước quốc hội với tư cách người tham khảo. [11] Nhưng năm tháng sau, ông nhậm chức tổng thư ký đảng Tự do. Xem như vậy đủ thấy bầu không khí chính trị bất chấp dư luận của những năm đầu thời hậu chiến. Nghĩa là, vụ bê bối đóng tàu này đã không để lại dấu ấn xấu nào đối với lý lịch chính trị của cả Sato Eisaku lẫn Ikeda Hayato.
Từ đó về sau, Ikeda Hayato trở thành nhân vật số một sành sỏi vấn đề tài chính, nên trong nội các Ishibashi, nội các Kishi đợt một, ông đã giữ chức bộ trưởng Kho bạc, rồi bộ trưởng vô nhiệm sở trong nội các Kishi đợt hai, bộ trưởng Thương mại quốc tế và công nghiệp trong nội các Kishi cải tổ. Thế rồi, nhân vụ rối loạn vì cuộc đấu tranh phản đối Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ năm 1960, nội các Kishi tổng từ chức, Ikeda Hayato liền có cơ hội lập nội các nắm lấy chính quyền. Ðó là ngày 19-7-1960.
Cho tới lúc đó, Ikeda Hayato mới đắc cử nghị viên Hạ nghị viện được năm lần. Nếu là thời nay, thì như vậy ông mới chỉ được chức “bộ trưởng dự tiệc”. [12] Trước nay, ông chỉ được thế gian coi là “học trò giỏi của trường Yoshida”, một đàn em đắc lực của Yoshida, nhưng nay ở tuổi 60, Ikeda Hayata mới bắt đầu phát huy bản lãnh của mình.
Bắt đầu tôn thờ GNP (Tổng sản phẩm quốc dân)
Ðến đây, tưởng cần nhắc qua nội các Kishi, tức là nội các trước nội các Ikeda.
Năm 1951, đồng thời với Hòa ước San Francisco, Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ cũng được ký kết với thời hạn là mười năm. Năm 1961 là lúc hiệp ước hết hạn mười năm đó, và từ năm này trở đi, nếu muốn, “mỗi bên đều có thể thông báo cho bên kia ý định hủy bỏ hiệp ước một năm trước khi thực sự hủy bỏ”.
Tháng 2 năm 1957, nhậm chức thủ tướng, Kishi Nobusuke đã sửa đổi hiệp ước cho tương xứng với hai nước độc lập và tìm cách kéo dài hiệp ước thêm mười năm. Nghĩa là ông muốn “cố định hóa thể chế hậu chiến” vì theo ông, Nhật Bản đương nhiên nên đứng vào phe tây phương. Nhưng, một cuộc lộn xộn vĩ đại đã diễn ra quanh vấn đề này. Ðó là cuộc đấu tranh “phản đối Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ năm 60”.
Ðúng lúc đó, “thể chế năm 55” cũng đã đứng vững, Nhật Bản đang mạnh tiến trên con đường công nghiệp hóa từ một “Thụy Sĩ ở Viễn đông” kiểu MacArthur. Một biểu hiện rõ rệt của sự mạnh tiến này là sự hợp lý hóa (cụ thể hơn là “lưu thể hóa”) năng lượng. Tức là, động thái đổi nguồn năng lượng từ than đá (chất rắn) nội địa sang nguồn năng lương dầu mỏ (lưu thể) nhập cảng. Trong quá trình này, sự thu nhỏ công nghiệp than đá là tất yếu. Ðến nỗi, mỏ than lớn nhất Nhật Bản, là Mitsui Mi’ike, cũng bắt đầu giảm bớt công nhân. Vì thế, phản đối sự việc này, công đoàn đã mở cuộc tranh nghị lớn. Ðó là cuộc đấu tranh Mitsui Mi’ike, thường gọi là “cuộc đối đầu giữa tổng tư bản và tổng công đoàn”.
Trong tình thế hỗn độn như vậy, nội các Kishi tháng 5 năm 1960 đã cương quyết cho biểu quyết Dự án Sửa đổi Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ tại Hạ nghị viện, rồi ngồi chờ cho Hiệp ước được thành lập tự nhiên [13] để tổng từ chức.
Nội các Ikeda tiếp nối nội các Kishi. Có thể nói là nội các này đã được thành lập vào lúc sự đối lập tả hữu trong nội bộ Nhật Bản, tức là sự phản ánh cấu tạo chiến tranh lạnh đối lập Ðông - Tây, đã lên tới tột điểm. Lúc đó, lực lượng cánh tả đã thấm mệt vì cuộc đấu tranh kéo dài, dân chúng thì chán ngấy biểu tình và míttinh. Ikeda đã khéo léo lợi dụng tình trạng tâm lý ấy.
Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ là vấn đề chính trị quốc tế trọng đại đến nỗi nội các Kishi bị đổ. Thế mà, thủ tướng Ikeda Hayato, người kế vị, lại không hề đả động gì tới vấn đề này cả. Ông chỉ một lòng hướng về những vấn đề kinh tế thôi.
Ngày 19 tháng 7 nội các ra đời, thì chỉ một tháng rưỡi sau, tức là ngày 5 tháng 9, ông đã tuyên bố “Kế hoạch gấp đôi thu nhập”. Chính phủ chính thức quyết định bằng nghị quyết của nội các là ngày 27 tháng 12 năm ấy. Nghĩa là trong sáu tháng kể từ khi nội các Kishi đổ cho tới lúc nội các quyết nghị “Kế hoạch gấp đôi thu nhập”, ông đã cố ý dập tắt ý thức đối với vấn đề chính trị quốc tế và sự đối lập công nhân - giới chủ, đã hướng sự quan tâm của dân chúng vào vấn đề tăng trưởng kinh tế.
Kế hoạch gấp đôi thu nhập”, chính sách trung tâm của nội các Ikeda, chính sách đã có ảnh hưởng trọng yếu đối với Nhật Bản, thực ra bắt nguồn từ “Kế hoạch gấp đôi lương tháng” của nội các Kishi.
Nội các Kishi một mặt xúc tiến việc sửa đổi Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ, mặt khác tiến hành “Kế hoạch gấp đôi lương tháng” coi như là chính sách kinh tế của mình. Sáng kiến này đúng về mặt lịch sử, nhưng vụng về mặt chính trị.
Như thấy trong cuộc đấu tranh Mitsui Mi’ike đã kể trên, sự hợp lý hóa ngành nghề và sự quốc tế hóa kinh tế (nhập cảng nguyên liệu dầu thô rẻ tiền) là điều không tránh khỏi trong đường lối tăng trưởng kinh tế cao độ. Ðiều này có nghĩa là phải hội nhập vào phe kinh tế tự do của tây phương. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế bị coi là “kẹo ngọt [14] của đường lối theo đuôi Mỹ”. Thành ra trong cơn vũ bão của làn sóng phản đối Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ, chính sách tăng trưởng kinh tế cao độ cũng bị lu mờ đi.
Nhưng, Ikeda Hayato đã nắm vấn đề từ quan điểm chuyên gia, đã tuyên bố chính sách “gấp đôi tổng sản phẩm quốc dân (GNP)”, một ngôn từ khó hiểu ngay với chuyên gia thời đó chứ đừng nói gì tới thường dân.
Nói “gấp đôi lương tháng” và nói “gấp đôi thu nhập” thì nội dung khác nhau. “Kế hoạch gấp đôi lương tháng” là làm cho thu nhập cá nhân tháng tháng tăng lên gấp đôi, một chuyện gần gũi dễ hiểu đối với quốc dân. Nhưng cũng vì thế nó có màu sắc chính trị rõ rệt và do đó bị coi là “kẹo ngọt để đổi lấy Hiệp ước an ninh”.
So với trên, “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” của nội các Ikeda có mục tiêu làm tăng GNP lên gấp đôi, và như vậy mang tính chất tổng tư bản hơn. Nghĩa là Ikeda và các cố vấn của ông nghĩ tới nền kinh tế quốc dân hơn là tới sinh hoạt hàng ngày của mỗi người. Việc này khá phức tạp phải là chuyên gia kinh tế mới thảo luận khúc chiết được. Ðồng thời, cũng khó “thò đuôi” ra cho người ta tóm lấy.
Cái may của Ikeda là thời đó, “thể chế năm ’55” đã xác lập, đông đảo quốc dân đã trở thành “người xí nghiệp”. Nhờ thế, nói “gấp đôi thu nhập” được cả giới kinh doanh lẫn giới làm công hưởng ứng, ủng hộ, hơn là nói “gấp đôi lương tháng”.
Gặp dịp phồn thịnh chưa từng thấy từ thời Jinmu
“Kế hoạch gấp đôi thu nhập” của nội các Ikeda rất được hoan nghênh. Chẳng mấy chốc, GNP đã trở thành lời cửa miệng của mỗi người Nhật Bản. Nội các Ikeda đã đặt mục tiêu mười năm (từ 1960 tới 1970) tăng GNP lên gấp đôi. Không những chỉ đưa ra kế hoạch tổng thể, mà cả những kế hoạch thực thi tỉ mỉ cũng lần lượt được công bố.
Ví dụ, dựa vào Luật khai thác tổng hợp toàn quốc, “Kế hoạch phát triển tổng hợp toàn quốc Nhật Bản” với mục tiêu chỉnh đốn từng địa vực, đã được hoạch định năm 1962. Từ sau đó, kế hoạch này đã được làm lại thành “Kế hoạch phát triển tổng hợp toàn quốc mới” năm 1969, rồi “Kế hoạch Phát triển tổng hợp toàn quốc đợt ba”, “Kế hoạch phát triển tổng hợp toàn quốc đợt bốn”.
Cái khéo của Ikeda Hayato là, bằng những kế hoạch phát triển như vậy, ông đã mở rộng hoạt động xây dựng công cộng, rồi bằng những “đô thị công nghiệp mới” ông đã tập trung được sự phát triển vào từng nơi một cách hiệu quả, làm cho giới công nghiệp và dân chúng toàn quốc đều kỳ vọng. Hiệu quả kinh tế đã cao, hiệu quả chính trị càng cao hơn vì nó làm cho mỗi người phải nương tựa vào Ðảng Dân chủ tự do.
Rồi, từ xuất cảng, nhập cảng tới công kỹ nghệ và nông lâm thủy sản nghiệp, nhất nhất đều được chỉ rõ bằng “chỉ tiêu kinh tế chủ yếu trong kế hoạch gấp đôi thu nhập quốc dân”. Ông lần lượt cho công bố kế hoạch chi tiết: Ngành nghề nào thì làm thế nào sẽ đạt chỉ tiêu. Ðồng thời trợ cấp cho những ngành nghề như vậy trong khi làm theo kế hoạch.
Cũng may là, sau khi kế hoạch gấp đôi thu nhập được công bố, nền kinh tế Nhật Bản đã bước vào thời kỳ phồn thịnh. Trong thập niên 1950, kinh tế Nhật Bản cùng với hiệu quả của phiêu ngữ “đuổi kịp” để phục hưng, đã tăng trưởng cao độ với tỉ lệ bình quân hàng năm là 9,6%. Sang đến thập niên 1960, tỉ lệ này là 10,3%.
Nhất là, trong bốn năm đầu của nội các Ikeda, tức là kể từ hậu bán năm 1960 trở đi cho tới hết Olympic Tokyo mùa Thu năm 1964, Nhật Bản gặp được lúc làm ăn phát đạt như chưa từng thấy, nên đã có câu “dịp phồn thịnh kể từ thời Jinmu”. [15] Sự hâm mộ cuồng nhiệt đối với “vua kinh tế Ikeda” quả đã có điều kiện cơ sở để đứng vững.
Thế mà, chỉ đến cuối năm 1964, cổ phiếu bỗng sụt giá, thị trường đượm màu sắc kinh tế suy sụp. Ikeda, lợi dụng phong thái chất phác của kẻ lận đận đường công danh như mình, hay dùng câu nói cửa miệng “Tôi không nói dối đâu”, nhưng thị trường cổ phiếu sụt giá đã làm tổn thương đến thanh danh của ông rất nhiều. Từ cuối năm 1964, người ta lật ngược câu nói cửa miệng của Ikeda thành câu nói bỡn cợt “Ikeda nói dối”. Tuy nhiên, may hay rủi thì không biết, nhưng Ikeda đã mắc bệnh ung thư cuống họng, khiến ông phải từ chức thủ tướng tháng 11 năm ấy, rồi ngày 13 tháng 8 năm sau, 1965, ông mất.
Ikeda Hayato làm thủ tướng vẻn vẹn có 4 năm 3 tháng. So với Yoshida Shigeru (5 năm 2 tháng) hay Sato Eisaku (6 năm 8 tháng) thì thời gian làm thủ tướng của ông ngắn hơn. Thế nhưng, trong khoảng thời gian ngắn đó, tư tưởng kinh tế ưu tiên do ông cấy trồng và cơ chế quan liêu lãnh đạo để thực hiện tư tưởng đó, thì ngày nay cũng không hề suy suyển. Bởi vì “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” do Ikeda Hayato hoạch định và thực hiện đã thành công vĩ đại.
Thành công vượt xa kế hoạch
“Kế hoạch gấp đôi thu nhập” thành công lớn là vì đã đi đúng con đường tốt nhất mà toàn dân mong chờ.
Trước nhất, về thành tích kinh tế, thành quả đạt được đã vượt xa mục tiêu. Ðể tăng GNP lên gấp đôi trong 10 năm, mỗi năm phải đạt được sự tăng trưởng kinh tế 7,2%. Thế mà trong thập niên 1960, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Nhật Bản là 10,3%. Với tốc độ này, chỉ cần 6 năm rưỡi để tăng GNP lên gấp đôi. Nghĩa là tới năm mục tiêu của kế hoạch (năm 1970) thì kế hoạch vượt hơn hẳn mục tiêu quá xa.
Một điểm nữa là khi “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” này được công bố có rất nhiều ý kiến lo lắng và phản đối. Nhất là các đảng đối lập đã phê phán quyết liệt. Nhưng lời phê phán của họ không trúng một chút nào cả.
Họ nói, nếu “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” được thực thi, người giầu sẽ càng giầu hơn, và người nghèo sẽ càng nghèo hơn. Nghĩa là họ lo sợ khoảng cách thu nhập sẽ ngày một gia tăng. Nhưng thực tế là trong khoảng thời gian đó, khoảng cách thu nhập mỗi ngày một thu nhỏ lại.
Họ còn nói, nếu áp dụng chính sách khuếch đại một cách quá đáng với mục đích tăng trưởng kinh tế, thì lạm phát sẽ hoành hành. Quả vật giá có tăng lên, nhưng tính bằng số phần trăm hàng năm thì sự gia tăng cũng chỉ trong vòng an toàn mà thôi.
Họ phản đối là nếu áp dụng chính sách ưu đãi xí nghiệp để xúc tiến phát triển kinh tế một cách mạnh bạo, thì sẽ gây ra nhiều “rạn nứt”. Nghĩa là đó đây sẽ xảy ra nạn “giảm biên chế”, nạn thất nghiệp sẽ tràn lan. Hơn nữa, thành thị sẽ bành chướng một cách vô trật tự, tội phạm sẽ hoành hành, khiến cho thế tình trở thành bất an. Nhưng, thực tế là tỷ lệ thất nghiệp giảm đi, tỷ lệ tội phạm cũng xuống thấp.
Tóm lại, những phê bình, phê phán của các thế lực đối lập đối với “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” của nội các Ikeda, đã không trúng một chút nào cả.
Nếu chỉ coi những vấn đề đã được bàn đến khi “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” được công bố, thì ý nghĩ của Ikeda đúng.
Nhưng, ở góc cạnh hoàn toàn khác, góc cạnh mà chính các phe phái đối lập cũng không hề đoán ra, đã nẩy sinh nhiều vấn đề rắc rối. Ðó là vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề dân số quá đông đúc và quá thưa thớt. Những nhà phê bình “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” cũng không đoán trước được ảnh hưởng này, nhưng tới năm 1970, tức là năm mục tiêu của kế hoạch, thì tình trạng đã trở nên nguy kịch lắm.
Ý nghĩa của câu nói “người nghèo hãy ăn lúa mạch”
Vậy, Ikeda Hayato là người có tư tưởng như thế nào, hành động ra sao và đã để lại ảnh hưởng gì đối với người Nhật ngày nay?
Trước hết, Ikeda Hayato để lại một “tập ngôn từ” đầy phóng ngôn kỳ ngôn. Thử nghe câu sau đây:
“Người nghèo hãy ăn lúa mạch!”
Câu này ông đã nói ra khi làm bộ trưởng Kho bạc trong nội các Yoshida đợt ba (1950). Thật ra, chi tiết câu nói của ông là như sau:
“Hãy trở lại tập tục xưa nay... Người thu nhập ít ăn nhiều lúa mạch, người thu nhập nhiều ăn toàn gạo. Tôi chỉ muốn làm theo nguyên tắc kinh tế như vậy”.
Câu nói là như vậy, nhưng đã bị dịch ra thành ngôn ngữ báo chí như trên. Một câu nữa như sau:
“Dăm mười kẻ buôn bán bất chính mà có bị phá sản rồi tự sát thì cũng đành vậy thôi!”
Lời phóng ngôn như vậy khi loan truyền ra, đã bị người đời chỉ trích gắt gao. Ðúng ra, để trả lời câu hỏi về nguy cơ phá sản của những xí nghiệp vừa và nhỏ, ông đã trả lời như sau:
“Những người buôn bán trái với những nguyên tắc chính đáng, như đầu cơ tích trữ, thì dẫu dăm mười người có bị phá sản thì điều đó cũng là bất khả kháng”.
Ông nói mềm dẻo như vậy, không hề đả động tới “tự sát”.
Ikeda Hayato không hề nổi giận mỗi khi báo chí bóp méo lời nói của ông một cách khôi hài. Ðiều này làm ông được báo chí ưa thích.
Năm 1949, khi Ikeda nhậm chức bộ trưởng Kho bạc trong nội các Yoshida đợt ba, thì đó là lúc bắt đầu của thời kỳ làm ăn khó khăn và cái gọi là Ðường lối Dodge [16] được công bố.
Trong thời chiến tranh, ngân sách lớn đã được tiêu dùng cho quân bị quân trang. Sau chiến tranh, tiền cũng đã được rải ra nhiều cho binh sĩ giải ngũ. Thế rồi lại phải tiêu nhiều tiền cho công cuộc phục hưng. Nghĩa là tiền đã được rắc ra rất nhiều. Kết quả là sự lưu thông tiền tệ gia tăng và nạn lạm phát ác tính đã phát sinh. Ðể chặn đứng tình trạng này, chỉ còn một cách là siết chặt lưu thông tiền tệ. Vì vậy, không tránh khỏi tình trạng làm ăn khó khăn, buôn bán trì trệ.
Chỉ đạo chính sách siết chặt lưu thông tiền tệ là công sứ Dodge. Ông này trước là thống đốc Ngân hàng Detroit ở Mỹ, được MacArthur mời và đã được chính phủ Mỹ cử sang Nhật Bản. Ông đã áp dụng chính sách siết chặt không thương tiếc. Nhờ vậy, nạn lạm phát được chặn đứng và vật giá ổn định lại. Nhưng cũng vì thế tiền tệ lưu thông bị tắc nghẽn khiến cho các xí nghiệp vừa và nhỏ nối đuôi nhau phá sản.
Trong hoàn cảnh đó, bộ trưởng Kho bạc Ikeda Hayato chủ trương rằng, với chính sách tài chính siết chặt Dodge như vậy, nếu có dăm mười xí nghiệp vừa và nhỏ phá sản, hoặc nếu người nghèo có phải ăn lúa mạch, thì âu cũng không thể tránh khỏi.
Xem như thế đủ thấy cái tư tưởng tiềm ẩn trong lời nói của Ikeda Hayato là “tuân theo nguyên lý kinh tế”. Nghĩa là theo nguyên lý kinh tế, nếu có người bị phá sản thì đó là chuyện không tránh được. Người có tài, có vận, có nỗ lực mà trở nên giầu có, được ăn gạo, được tiêu xài nhiều, còn người không được như vậy đành chịu ăn lúa mạch, đành chịu tiêu xài ít. Sự cách biệt như thế cũng là chuyện đương nhiên.
Lời nói đầu tiên khi lên làm bộ trưởng Kho bạc đã là sự khẳng định nguyên lý kinh tế như vậy, cho nên, điểm này có ý nghĩa trọng yếu trong vấn đề tìm hiểu tư tưởng của Ikeda.
Năm 1956 Ikeda Hayato lại làm bộ trưởng Kho bạc trong nội các Ishibashi Tanzan (nội các kéo dài trong 2 năm 1956 - 1957). Lúc này, quân đội chiếm đóng không còn nữa, và “thể chế năm 55” đã xác lập. Ikeda đã tự mình đưa ra và tiến hành chính sách tài chính tích cực. Chính sách như vậy là ngược hẳn lại Ðường lối Dodge của nội các Yoshida đợt ba.
Thời đó có câu “Một trăm tỷ giảm thuế, một trăm tỷ đầu tư”. Nghĩa là tăng chi phí xây dựng công trình công cộng một trăm tỷ Yen, thì cũng giảm thuế một trăm tỷ Yen. Một trăm tỷ Yen thời đó có giá trị khác xa với một trăm tỷ Yen thời nay, bởi vì lúc đó nó gần bằng một phần mười tổng ngân sách quốc gia. Nếu là thời nay, câu nói phải là “bảy ngàn tỷ giảm thuế, bảy ngàn tỷ đầu tư”.
Ðó, Ikeda thi hành chính sách tài chính tích cực như vậy đó. Dẫu có phải viết hàng chữ đỏ trong sổ tài chính, ông vẫn tiếp tục phục hồi sự phồn thịnh, phát triển kinh tế. Nhờ thế số thuế thu gia tăng, nhà nước giầu có hơn, và kinh tế Nhật Bản tăng trưởng lên.
So với chính sách thắt lưng buộc bụng “người nghèo ăn lúa mạch” thời nội các Yoshida, chính sách tài chính của ông trở nên khác hẳn. Song tựu trung, chúng có một điểm chung là, Ikeda chỉ làm theo nguyên lý kinh tế.
Có một điều nên chú ý là Ikeda làm theo nguyên lý kinh tế, là trong bối cảnh quan liêu chỉ đạo, chứ không phải trong bối cảnh kinh tế thị trường tự do. “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” của Ikeda là tiến hành phát triển kinh tế theo kế hoạch do quan liêu chỉ đạo sao cho đúng với nguyên lý kinh tế. Nói cách khác, ông đã đổi từ nền kinh tế chỉ huy thời tiền chiến sang nền kinh tế kế hoạch chỉ đạo.
Thế mà, năm 1960, khi nội các Ikeda được thành lập, sắp sửa đưa ra “Kế hoạch gấp đôi thu nhập”, Thủ tướng Ikeda đã đưa ra chủ trương đầu tiên của ông là “Khoan dung và nhẫn nại”. Nghĩa là, đối với các phe đối lập, nội các ông phải biết khoan dung, phải biết nhẫn nại đối thoại thuyết phục họ. Ðây chính là “tư thế thấp”, là thái độ “nhũn như con chi chi”. Vị thủ tướng kế tiếp là Sato Eisaku đã tiến xa hơn một bước, lấy khẩu hiệu là “Khoan dung và hài hòa”. Câu này đã trở thành danh ngôn, và được đảng Dân chủ tự do tiếp tục dùng để biểu hiện tư thế chính trị của mình.
“Tư thế thấp” của Thủ tướng Ikeda chính là phản đề của lời tuyên bố lúc trước “Người nghèo hãy ăn lúa mạch”. Tuy nhiên, đây không phải là lời nịnh bợ, lời nói lấy lòng suông. Ông thực sự đã xúc tiến ba chính sách kinh tế cột trụ: giảm thuế, bảo đảm xã hội và xây dựng công cộng.
Hướng tia mắt nhìn của quốc dân vào nước Mỹ giầu có
Nhìn vào toàn thể nội các Ikeda, người ta thấy trọng điểm thứ nhất là kinh tế, thứ nhì cũng là kinh tế.
Về mặt ngoại giao, ông triệt để theo gót Mỹ như phương châm của MacArthur nghiêm chỉnh thực thi đường lối Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ do nội các Kishi đã xác lập. Ngay từ đầu, thủ tướng Ikeda không hề có ý định lấy điểm bằng chính sách ngoại giao.
Các đời thủ tướng trước đều giải quyết những vấn đề ngoại giao trọng đại: Thủ tướng Yoshida ký Hòa ước San Francisco (chấm dứt tình trạng chiếm đóng Nhật Bản bởi Quân đội Mỹ), [17] Thủ tướng Hatoyama ký Hiệp ước Nhật - Xô (phục hồi bang giao với Liên Xô), Thủ tướng Kishi sửa đổi Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ (đảm bảo an ninh quốc phòng). Sau Thủ tướng Ikeda, Thủ tướng Sato Eisaku thu hồi được các quần đảo Ogasawara và Okinawa, [18] rồi thủ tướng kế tiếp là Tanaka Kakuei thì phục hồi quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Ông nào cũng hoạt động mạnh về mặt ngoại giao. Chỉ có Thủ tướng Ikeda Hayato là không quan tâm tới vấn đề nào khác ngoài vấn đề kinh tế cả. Cũng có thể vì ông muốn cho thấy Nhật Bản là quốc gia coi trọng kinh tế nên đã cố ý không nhúng tay vào bất cứ vấn đề ngoại giao nào.
Khi Thủ tướng Kishi định sửa đổi Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ, thì ở Nhật Bản có nhiều ý kiến khá mạnh cho rằng Nhật Bản nên phế bỏ Hiệp ước này, nên tách khỏi khối tây phương, nên bước gần tới khối Liên Xô hay trở thành nước trung lập.
Chính vì thế mà cuộc đấu tranh phản đối Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ đã trở nên kịch liệt và nội các Kishi phải đổ. Ðối lại, nội các Ikeda chủ trương Nhật Bản nên giữ im lặng trong khuôn khổ Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ. Ngoài điều này ra, không nên suy nghĩ gì khác cả. Ikeda đã khéo léo hướng tia mắt quốc dân chú ý tới vấn đề kinh tế, đến nỗi chủ trương vô vi vô sách về ngoại giao như vậy đã được mỗi người đồng tình.
Khi ra nước ngoài, Thủ tướng Ikeda lúc nào cũng dương cao mục tiêu tăng trưởng kinh tế 9%. Vì thế, các nước khác đã gọi ông là “ông chín phần trăm”. Tổng thống Pháp De Gaulle thì nói rằng: “Ông ta (Ikeda) chỉ là một anh lái buôn transistor chứ gì”. Dưới mắt một người chỉ miệt mài đi tìm vẻ vinh quang của nền chính trị Pháp như Tổng thống De Gaulle, Thủ tướng Ikeda chỉ nói về kinh tế, hẳn bị coi là hạng tiểu nhân (lái buôn transistor).
Nhưng xét cho cùng, chẳng phải Ikeda không làm gì có tính chính sách ngoại giao đâu. Từ quan điểm kinh tế ưu tiên, ông đã thành công trong việc đổi hẳn hình ảnh nước Mỹ trước con mắt người Nhật thời đó.
Thật thế, Thủ tướng Ikeda nắm chính quyền là ngay sau cuộc đấu tranh phản đối Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ. Cho nên cảm tình của người Nhật đối với nước Mỹ hãy còn khá phức tạp.
Ngay sau chiến tranh, MacArthur đã ghi vào con mắt người Nhật ấn tượng tốt về nước Mỹ: Mỹ tốt, Mỹ là cường quốc, Mỹ là quốc gia thể hiện chính nghĩa.
Nhưng kể từ sau khi ký kết Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ, người Nhật trở nên có mặc cảm sâu sắc đối với Mỹ. Vì thế, đô vật wrestling chuyên nghiệp người Nhật Rikidozan [19] xuất hiện với những pha đòn ngoạn mục vật ngã đối thủ người Mỹ, đã làm cho người Nhật cảm thấy vô cùng khoái trá. Bởi vì chỉ những lúc đó họ mới cảm thấy hơn người Mỹ. Tay bơi Furuhashi Hironoshin hay võ sĩ quyền Anh Shirai Yoshio chắc cũng vậy.
Nhưng, từ cuộc phản đối Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ, ở người Nhật bỗng nẩy ra một tình cảm mâu thuẫn vừa là ác cảm về mặt chính trị vừa là sự thèm khát về mặt vật chất. Cuộc lộn xộn phản đối Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ đã làm cho người Nhật nghĩ rằng “Mỹ không phải là quốc gia của chính nghĩa, mà ngược lại Mỹ chỉ là một thế lực chiến tranh lợi dụng Nhật Bản thôi”. Ý nghĩ này đã được báo chí thổi phồng lên.
Trong bối cảnh như vậy, Thủ tướng Ikeda lên nắm chính quyền, đã không đả động gì tới vấn đề Mỹ có là chính nghĩa không, mà chỉ nhấn mạnh vào mặt kinh tế phong phú của Mỹ thôi. Thời đó, có một từ rất phổ biến là “sinh hoạt kiểu Mỹ (American life)”. Ðó là sự mơ ước một cuộc sống phong túc nhộn nhịp, có nhà ở ngoại ô, đầy đủ tiện nghi điện hóa, có xe ôtô riêng, hàng ngày vui thú thể thao.
Lập trường ngoại giao của Thủ tướng Ikeda là đánh giá cao sự phong túc vật chất này, và Nhật Bản cũng sẽ trở nên sung túc nếu kết hợp với cuộc sống đó. Muốn vậy, Nhật Bản phải có Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ. Nếu không xích lại gần Mỹ, kỹ thuật và đầu tư của Mỹ cũng sẽ không có, xuất cảng hàng hóa sang Mỹ cũng không được. Như vậy ông đã thuyết giảng rằng sự liên kết với Mỹ là thiết yếu, Hiệp ước An ninh Nhật Mỹ là cần thiết, và như vậy đã biến hiệp ước này thành một phương tiện để phát triển kinh tế.
Ðể đạt mục tiêu, ông đã tuyên truyền cổ súy sự giàu có vật chất của Mỹ, đã mỹ hóa cuộc sinh hoạt Mỹ hơn cả thực tế. Lý luận của ông là, duy trì cuộc sinh hoạt như vậy là nền công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất, cho nên Nhật Bản cũng phải phát triển những công nghiệp này.
Lại nữa, nền công nghiệp ôtô phát triển đã lôi kéo theo những công nghiệp khác. Cho nên Nhật Bản muốn tăng trưởng kinh tế cao độ, tất phải xây dựng đường cao tốc và phát triển công nghiệp ôtô.
Nói cách khác, ông xây dựng lý luận bằng cách đưa kinh tế toàn diện ra trước, rồi mới cài chính trị theo sau, để chính đáng hóa đường lối theo đuôi Mỹ. Với Ikeda, Hiệp ước An ninh Nhật Mỹ cũng là một điều kiện thiết yếu cho “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” của ông.
Xây nhà máy trước nhất để phát triển địa phương
Xét lịch sử, người ta thấy những nhà tài chính được quốc dân ngưỡng mộ thì rất hiếm. Những người hô hào thôi chiến tranh vì chiến tranh làm tài chính bị khốn đốn, đều bị chê cười. Ngược lại, tướng lãnh thắng trận thì ở đâu cũng được hâm mộ cả.
Ở Nhật Bản ngày xưa, Kato Kiyomasa chủ trương đánh Triều Tiên đã được mỗi người hâm mộ, nhưng Konishi Yukinaga vận động chấm dứt chiến tranh, mở mang thông thương, đã bị mỗi người chê bai.
Ở bên Trung Quốc cũng vậy, đời Tống có tướng Nhạc Phi chủ trương đánh nước Kim của dân du mục phương bắc, thì được mỗi người tán thưởng. Hiện nay còn miếu thờ Nhạc Phi ở khắp Trung Quốc. Trong khi đó, Tần Cối chủ trương nhượng bộ cầu hòa để duy trì sự ổn định kinh tế, vì tình trạng tài chính không cho phép chiến tranh, thì bị mọi người ghét. Thậm chí, ở một góc những miếu thờ Nhạc Phi, người ta đều thấy có tượng đá vợ chồng Tần Cối bị trói hai tay lại sau lưng, để cho người đi lễ nhổ nước bọt lên trước khi ra về.
Nhờ đường lối tài chính mà được quốc dân hâm mộ là chuyện hi hữu. Thủ tướng Ikeda được quốc dân hâm mộ có thể quy tất cả vào đường lối kinh tế tài chính của ông. Ông đã hướng xã hội Nhật Bản tới trạng thái tâm lý chấp nhận điều đó.
Ông đã làm thế nào để được như vậy. Trước nhất, ông đã áp dụng chính sách tài chính tích cực gồm ba cột trụ “giảm thuế, bảo đảm xã hội và xây dựng công cộng”. Nhờ thế, thày thuốc, hiệu thuốc, nhà thầu xây dựng làm ăn phát đạt có lời to, các công ty sản xuất đồ điện và chế tạo ôtô đã phát triển lớn. Quốc dân thời đó đều muốn có đồ điện gia dụng và xe ôtô.
Thứ hai, ông đã chuyển đổi cấu tạo từ công nghiệp nhẹ sang công nghiệp nặng: giảm bớt sản phẩm xuất cảng chủ yếu của Nhật Bản thời đó là hàng may dệt và tạp hóa, tích cực tập trung đầu tư vào hoặc cho vay tiền những ngành nghề chế tạo công nghiệp nặng như sắt thép, ôtô, điện máy v.v..
Ðồng thời xúc tiến chỉnh trang đất đai cho công nghiệp nặng và hóa chất. Cụ thể, là trong “Kế hoạch tổng hợp khai thác toàn quốc”, ông chỉ định nơi thành lập những “đô thị công nghiệp mới”, hay “khu vực đặc biệt để triển khai công nghiệp”, rồi trợ cấp tài chính cho xây dựng công cộng như san lấp mặt bằng, làm đường xá, chỉnh trang bến cảng, v.v..
Trong không khí coi công nghiệp dẫn đầu sự phát triển địa phương như vậy, các đơn vị hành chính địa phương đều đua nhau thu hút nhà máy về địa phương mình. Những nhà máy như vậy đã đóng góp lớn lao vào sự phát triển công nghiệp của Nhật Bản qua sản xuất đại trà theo quy cách.
Nhờ đất đai được chỉnh trang thuận tiện cho sự xây dựng nhà máy công nghiệp nặng và hóa học, những thành phố như Yokkaichi, Mizushima, Kashima,... đã biến thành những đô thị công nghiệp mới trên toàn quốc. Nhờ thế, những ngành công nghiệp chế tạo, nhất là công nghiệp nặng và hóa học, đã mua được đất rẻ để xây nhà máy, công nhân viên dễ mua được nhà ở gần nơi làm việc, thậm chí việc chuyên chở dầu thô, quặng sắt từ ngoại quốc vào cũng thuận lợi.
Ðó là lý thuyết về tính dẫn đầu của công nghiệp nặng. Muốn phát triển địa phương, trước hết hãy thu hút đầu tư vào các nhà máy chế tạo quy mô lớn. Những cơ sở chế tạo nhỏ và các ngành nghề phục vụ như bán lẻ sẽ tự động phát triển theo. Khi những nhà máy công nghiệp quy mô được xây dựng rồi, thì tự nhiên phố phường buôn bán sầm uất nhờ việc mua sắm của công nhân viên nhà máy. Trường học tăng thêm số lượng học sinh, bệnh việc đông khách hơn, tiệm ăn và khách sạn đều đắt khách lên. Lý thuyết là như vậy.
Thời nội các Ikeda, các tỉnh trưởng hay thị trưởng đều tin rằng muốn cho địa phương mình phát triển, họ phải đi vay tiền chỉnh trang khu công nghiệp, lắp đặt hệ thống nước công nghiệp, xây đắp đường xá, sửa sang bến cảng. Họ đã không tiếc tiền đổ vào chỉnh trang đất công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng, với mục đích thu hút đầu tư nhà máy chế tạo công nghiệp nặng và hóa chất.
Lý thuyết về tính dẫn đầu của công nghiệp nặng như trên, là hoàn toàn sai, sai cả về mặt lịch sử lẫn sai về mặt lý luận. Các đô thị trên thế giới phần lớn được hình thành từ một ngành thứ ba. [20] Không phải không có thành phố xuất phát từ một nhà máy, nhưng rất ít, và quy mô nhỏ.
Thế mà, “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” lại lý giải khả năng dẫn đầu của công nghiệp nặng bằng lý luận “trước hết là nhà máy”. Cơ quan hành chính địa phương đều đổ xô vào xây dựng nhà máy công nghiệp nặng và hóa chất. Nhờ đó việc hiện đại hóa sản xuất đại trà theo quy cách đã hoàn thành nhanh chóng.
Bộ Thương mại quốc tế và công nghiệp tuyên truyền phổ cập nhãn hiệu JIS (quy cách công nghiệp Nhật Bản: Japanese Industrial Standard), đồng thời bộ Nông lâm cũng đưa ra nhãn hiệu JAS (quy cách nông nghiệp Nhật Bản: Japanese Agricultural Standard). Gạo, rượu sake, nhất nhất cái gì cũng quy cách hóa. Nhiều mặt hàng đã bắt đầu từ thời trước chiến tranh, nhưng trong “Kế hoạch gấp đôi thu nhập”, chủng loại sản phẩm đã được giảm bớt đi để dễ tiến hành sản xuất đại trà. Việc làm như vậy được coi là chính đáng.
Cơ cấu lưu thông hàng hóa và hình thức bán lẻ cũng được cải cách cho phù hợp với sản xuất đại trà theo quy cách. Nhiều siêu thị quy mô lớn xuất hiện để bán thật nhiều sản phẩm theo quy cách. Không chỉ có thế. Thông tin, tin tức về sản phẩm cũng được phát ra tập trung từ Tokyo. Mỗi thông tin nếu xuất phát từ Tokyo thì lập tức sản phẩm theo đúng quy cách liền được lưu thông ra khắp cả nước, tạo ra một xã hội đồng chất trên toàn quốc.
Nói tóm lại, nội các Ikeda đã coi năng suất là chính nghĩa xã hội tố cao.
Quy cách hóa con người và tập trung dân số vào thành thị
Vấn đề quy cách hóa con người và giáo dục đại trà theo quy cách cũng được nghĩ ra và thực hiện. Giáo trình giáo dục được ấn định, bản chỉ đạo giáo dục được soạn ra và trường học trên toàn quốc nhất loạt giảng dạy cùng một nội dung. Việc chỉ đạo học sinh chủ yếu là làm mất khuyết điểm đi, hơn là chú trọng tới phát triển ưu điểm. Vì thế, tất cả học sinh đều trở thành tương tự như nhau, không có sở trường cũng không có khuyết điểm, tất cả đều trở thành những con người “tròn trĩnh”, nghĩa là không “gai góc”, không bướng bỉnh. Áp dụng phép chấm điểm năm bậc, thì học sinh giỏi đều được điểm 5 cho mỗi môn học, học sinh trung bình được điểm 3. Năng lực của người ta được đo bằng độ lớn của khuyên tròn. Khuyên tròn là nói trị giá thiên lệch trong thống kê năng lực của học sinh. Nghĩa là chỉ một khuyên tròn như vậy đủ đánh giá con người!
Ở Mỹ hay ở châu Âu, người ta chú trọng tới phát triển cá tính. Cho nên học sinh có đứa giỏi thể thao nhưng dốt toán, có đứa giỏi toán sau này có khả năng làm giáo sư đại học được nhưng kém về thể thao. Có một dạo bộ phim Forest Gamp khá được hâm mộ ở Nhật Bản. Forest Gamp đỗ vào đại học được vì là cầu thủ bóng đá Mỹ [21] chứ chữ cũng chưa viết được ra hồn (về sau bỏ ngang).
Nhưng ở Nhật Bản, dù cho giỏi thể thao đến mấy, nhưng nếu không khá toán, quốc văn, Anh văn thì không sao vào đại học được. Ngay vào đại học Mỹ thuật để học vẽ, cũng phải học toán. Sở dĩ như vậy là từ khi có pháp lệnh về trường học quốc dân trong thời chiến tranh, rồi nội các Kishi làm chặt chẽ hơn, và nội các Ikeda thực thi triệt để. Ðó là ý tưởng tạo ra con người thích hợp cho sự sản xuất đại trà theo quy cách.
Mặt trái và mặt phải của sự việc đã được thể hiện rõ rệt trong sự tập trung dân số vào các đô thị. Song song với tiến độ triển khai sự chế tạo đại trà, lớp trẻ đã tập trung vào các thành thị.
Kết quả là thôn quê trở thành vắng người. Người ít tuổi ra thành thị, làm việc trong nhà máy chế tạo đại trà, bán hàng cho các siêu thị lớn. Ở thôn quê chỉ còn lại lớp người trung cao niên mà thôi.
Nội các Ikeda có phần khuyến khích tình trạng này để có lực lượng lao động cho đô thị. Chính phủ xúc tiến xây dựng những khu chung cư quanh đô thị để cung cấp nhà ở cho đám người từ nông thôn ra thành thị làm việc cho những xí nghiệp sản xuất đại trà. Ðồng thời, chính phủ cũng cho chỉnh trang hệ thống đường sắt chuyên chở mau chóng và rẻ tiền. Vì coi năng suất là hàng đầu, cho nên nội các Ikeda đã xúc tiến đường lối đưa đến sự tập trung thái quá và sự thưa thớt thái quá của dân số. Ðó là phản ánh của tư tưởng quán triệt nguyên lý kinh tế vậy.
Người dân Nhật nhờ “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” đã mau chóng trở nên giầu có. Ðiều lo lắng về khoảng cách giầu nghèo, đã không xảy ra, nhưng vấn đề quá đông và quá vắng của dân số, đã xảy ra. Thế rồi, nơi quá đông người phát sinh vấn đề ô nhiễm môi trường, mà ngay những người chê bai kế hoạch cũng không nghĩ ra lúc ban đầu.
Tăng cường thể chế chỉ đạo của quan liêu (công chức)
Thêm một ảnh hưởng trọng đại nữa của chính trị gia Ikeda Hayato là sự cấu kết của ba giới: chính trị, quan liêu và kinh tài, qua sự tăng cường thể chế chỉ đạo của giới quan chức.
Cho đến khoảng 15 năm sau chiến tranh, tức là với những nội các Yoshida, Hatoyama và Kishi, tư tưởng và cơ chế dân chủ do MacArthur vun trồng còn giữ được một phần. Chứ tới nội các Ikeda với “Kế hoạch gấp đôi thu nhập”, cơ chế quan liêu chỉ đạo càng mạnh. Tầng lớp quan chức có quyền lực lớn qua kiểm soát quy cách và quản lý xây dựng công cộng.
Ðám chính trị gia xuất thân từ quan trường như Thủ tướng Ikeda, cùng đám quan chức đương nhiệm ở các bộ sở trung ương đã nắm tay nhau, xúc tiến kiến thiết đường bộ, đường sắt, chung cư, thiết bị đô thị. Các chính trị gia như Ikeda đã đồng tình ủng hộ và rót tiền vào những dự án do quan liêu thảo ra để nuôi dưỡng mô hình sản xuất đại trà theo quy cách của công nghiệp nặng và hóa chất.
Như thế, đô thị cũng như địa phương, tất cả đều trở thành giống nhau nhất loạt không có cá tính gì cả nữa. Trường học cũng vậy, trở thành đồng chất không còn đặc điểm gì nữa. Việc không làm được ngay cả trong thời kỳ chiến tranh, đã làm xong dưới thời Thủ tướng Ikeda.
Tổ chức quan liêu được thêm sức mạnh như vậy đã kết hợp với đảng Dân chủ tự do. Ðồng thời, dưới sự chỉ đạo của quan liêu, các đoàn thể ngành nghề cũng được tăng cường.
Ví dụ, các xí nghiệp trong Liên minh sắt thép bàn bạc với nhau, rồi quyết định phân chia lò luyện thép với nhau, chẳng hạn, Công ty A ba lò, Công ty B hai lò, Công ty C một lò, v.v.. Rồi quyết định như vậy được đem đến Bộ Thương mại quốc tế và công nghiệp trình bẩm: “Như vầy được chăng?” Các quan bèn phán: “Như thế hơi nhiều. Cắt bớt một lò đi”. Trong quá trình chỉ đạo như vậy, quyền hành của quan liêu ngày một mạnh hơn lên.
Một hình thức khen thưởng đã được lợi dụng để tăng cường sự chỉ đạo của quan liêu, là huân chương. Thời MacArthur, huân chương đã bị bỏ đi, nhưng sau lại phục hồi, và được dùng làm đón bẩy cho sự chỉ đạo của quan chức. Khi một doanh gia trở thành chủ tịch của một đoàn thể ngành nghề, thì có chính sách khen tặng huân chương hạng nhất. Ðương nhiên, nếu thuận theo sự chỉ đạo của quan liêu, thì dễ trở thành chủ tịch như vậy. Cho nên, các doanh gia ham muốn huân chương đã ngoan ngoãn nghe theo quan chức.
Quan chức làm trung tâm, giật dây điều khiển một bên là đám chính trị gia thuộc đảng Dân chủ tự do, một bên là các đoàn thể ngành nghề, tạo ra một thể chế hòa hợp do quan chức chỉ đạo. Có thể nói, thể chế như vậy đã được xác lập là vào thời kỳ nội các Ikeda.
Từ giới doanh nghiệp, tiền cúng cho chính trị gia đã được đổ ra. Ðể bù lại, chính trị gia đóng vai truyền đạt ý hướng của giới doanh nghiệp tới quan liêu. Quan chức suy nghĩ đắn đo. Chính trị gia lại lợi dụng sự suy nghĩ đắn đo như vậy của quan chức. Nghĩa là, một hình tam giác hỗ trợ lẫn nhau đã thành hình, gọi là “tam giác chính trị - quan chức - doanh nghiệp”.
Trong tam giác đó, quan chức có sức mạnh nhất. Luật pháp cấm chính trị gia không được hoạt động cho một xí nghiệp cá biệt, cho nên họ phải hoạt động với danh nghĩa cho toàn thể giới doanh nghiệp thông qua các bộ sở trung ương để được ủng hộ tiền hoạt động chính trị. Có câu nói “chính tri gia nào bị quan chức ghét thì không mở mặt được”. Câu này là biểu hiện một truyền thống do nội các Ikeda và bè phái Ikeda trong đảng Dân chủ tự do tạo ra.
Cái thể chất tiền và quyền như vậy khiến cho kinh tế tăng trưởng, tích cực xúc tiến xây dựng công cộng và phát triển công nghiệp nặng. Thể chất này mỗi năm một được tăng cường. Ðến nỗi, người ta quan niệm rằng, chỉ có nhờ các nghị viên đảng Dân chủ tự do mới có tiền tài trợ, chứ các đảng khác thì không xong. Do đó, đảng Dân chủ tự do mỗi ngày một vững vàng hơn. Thậm chí, tiến thêm một bước nữa tới “thời đại phe phái lớn” trong đảng Dân chủ tự do.
Sức mạnh của Hội Hoằng Chì [22] trong việc thâu góp tiền ủng hộ
Lịch sử phe phái trong nền chính trị Nhật Bản bắt đầu từ thời cuối nội các Yoshida, từ sau khi các chính trị gia thoát khỏi lệnh thanh trừng công chức. Những người như Hatoyama Ichiro, Miki Takeyoshi đã được phục quyền sau khi lệnh trên hết hiệu lực. Họ lập ra phe phái để chống lại hình thức độc tài của thủ tướng Yoshida. Ðến thời nội các Kishi, thì xung quanh những chính trị gia có máu mặt, có khả năng quyên tiền lớn đã kết tụ thành phe phái. Khi nội các Hatoyama đợt thứ ba từ chức và nội các Ishibashi thành lập, người ta đã thấy những phe nhóm như phái Ono, phái Kono, v.v., hoạt động mạnh mẽ. Kết quả vận động của những phe phái này, là ba người đã ra ứng cử chức chủ tịch đảng Dân chủ tự do. Ðó là Kishi, Ishibashi và Ishii. Kishi được nhiều phiếu nhất, nhưng người thứ nhì Ishibashi và người thứ ba Ishii hợp lực lại, đánh bại Kishi bằng 7 phiếu và do đó Ishibashi đã đứng ra lập nội các (Ngay sau đó, ông ngã bệnh). Việc này để lại vết rạn nứt làm cho các phe phái đối lập nhau mãi.
Cho tới đó, đại biểu phe phái đều là những nhân vật có sức quyến rũ cá nhân và săn sóc đàn em chu đáo. Nhưng kể từ nội các Ikeda trở đi, phe phái trở thành một tổ chức mạnh vượt ra ngoài tầm của cá nhân người đại biểu. Khi Ikeda qua đời, Hội Hoằng Chì vẫn không vì thế mà tan rã. Tức thời, Maeo Shige-Saburo kế thừa. Maeo từ chức, thì Ohira Masayoshi thế chân. Ohira mất đi, thì Suzuki Zenko kế tiếp. Sau Suzuki là Miyazawa Ki’ichi [23]. Nghĩa là phe phái trở nên một tồn tại tách rời khỏi cá nhân của người đại biểu.
Khác với phái Ikeda kể trên, những phái khác như phái Ono, phái Kono và phái Kishi đã phân tán rồi hợp nhất với phe khác mỗi khi lãnh tụ qua đời hay thay đổi. Thế rồi phái cực lớn do Thủ tướng Sato Eisaku lập ra, khi Sato nghỉ hưu, cũng tách ra làm hai, là phái Fukuda và phái Tanaka mới ổn định. Phái Kono được Thủ tướng Nakasone Yasuhiro kế thừa, đổi thành phái Nakasone cũng hoạt động thành một tổ chức hợp nhất. Cuối cùng là một phái “nhỏ nhưng lâu đời” do Thủ tướng Miki Takeo lập ra. Như vậy, là hình thành đầy đủ phe phái trong đảng Dân chủ tự do: bốn phái lớn và một phái nhỏ, thường nói là “bốn sư đoàn cộng với một liên đội.” [24]
Tại sao khác với phái Kono và phái Ono, phái Ikeda (Hội Hoằng Chì) lại xác lập thành một tổ chức chắc nịch được? Ðó là vì họ kết hợp với giới kinh doanh nên nhận được tiền ủng hộ đều đều. Ðó cũng là nhờ sự nhìn xa trông rộng của cố thủ tướng Ikeda nghĩa là, sau khi ông mất rồi, người kế vị ông vẫn thu thập được tiền ủng hộ của giới kinh tài.
Tóm lại, khi tìm hiểu thể chế hậu chiến của Nhật Bản, người ta thấy Ikeda Hayato và “Kế hoạch gấp đôi thu nhập” do nội các của ông làm ra, quả là có ý nghĩa trọng yếu đặc biệt.
Trong thập niên 1990 này, điều mà Nhật Bản đang cần phải giải quyết, chính là cải cách “cấu tạo gấp bội thu nhập”. Cấu tạo như vậy lấy tiền đề là kinh tế tăng trưởng, xí nghiệp lớn ra, thu nhập của cá nhân tăng lên. Ðương nhiên, như vậy thuế cũng tăng lên. Giá đất và giá cổ phiếu phải tăng đều đều lâu dài. Xí nghiệp đầu tư trước để khuếch đại quy mô sản suất, thì chắc chắn có lời. Dù không có lời thường niên hay lời doanh nghiệp ngay, thì “tài sản theo thời giá” tăng lên, thành ra cũng như có lời. Người từ thôn quê ra tỉnh thành đông đúc, cho nên phải đầu tư vào chung cư, vào đường xe điện ngầm. Như vậy, giá đất đai tất sẽ lên cao. Thành ra, người nào mua nhà sớm ắt có lời.
Phủ nhận sự bất an chính trị và tư tưởng cách mạng, hướng con mắt quốc dân nhìn vào vấn đề kinh tế, cái gì cũng nghĩ theo chiều hướng tích cực. Ðó là tư tưởng hậu chiến được nuôi dưỡng từ thời đại “gấp đôi thu nhập” vậy.
“Kế hoạch gấp đôi thu nhập” không những chỉ đẻ ra sự tăng trưởng kinh tế. Nó còn làm cho kỹ thuật tiến bộ và xí nghiệp lớn lên. Do đó, giá đất và giá cổ phiếu tăng. Tương lai thì nhuốm màu hồng, cho nên xí nghiệp hễ đầu tư trước là có lời. Xí nghiệp vì thế chăm lo cuộc sống của công nhân viên, trong khi công nhân viên thì thấy cuộc đời quy thuộc vào xí nghiệp là an tâm, là có lợi. Nhờ đó “xã hội chức lộc” đã xác lập.
Thế nhưng điều kiện cơ bản hiện nay đã làm cho cơ chế xã hội “gấp đôi thu nhập” và niềm tin tâm lý do Ikeda Hayato cấy vào người Nhật Bản, đã dần dần biến đổi. Người ta phải có can đảm nhìn thẳng vào hiện thực như vậy.


Chú thích:
[1] Nguyên văn là Kinken, tức “Kim quyền” nếu đọc âm Việt Nam của từ Hán Nhật gốc. Kim quyền là quyền lực phát sinh ra từ đồng tiền, quyền lực nhờ có tiền mà có được.
[2] Sách này xuất bản vào gần cuối thể kỷ thứ XX nên viết như vậy cho người ta dễ tính tuổi tác của nhân vật nói đến. Nhưng, nay đã sang thế kỷ thứ XXI, nên phải hiểu rằng: “số tuổi chẵn của ông bằng số năm của thế kỷ thứ XXI cộng với 100”. Nói cách khác, nếu Ikeda Hayato còn sống thì năm 2003 tuổi ông là 103.
[3] Học chế của Nhật Bản thời trước chiến tranh khác với ngày nay. Thời đó, trường tiểu học là 6 năm, trường trung học 5 năm (trừ vài năm cuối của cuộc chiến tranh thế giới lấn thứ hai, được rút lại thành 4 năm). Ở trên trường trung học này là trường “cao đẳng”, với thời gian học 3 năm. Tất cả có 5 trường cao đẳng được thiết lập, với tên gọi theo số thứ tự từ Ðệ nhất cho tới Ðệ ngũ. Trường “cao đẳng” như vậy thực chất là trường dự bị đại học. Ðại học Quốc gia theo chế độ cũ là 3 năm. Như vậy tổng cộng thời gian từ tiểu học tới hết đại học là 17 năm, tức là dài hơn hiện nay 1 năm. Vì thế, người ta thường coi những người tốt nghiệp đại học thời trước chiến tranh tương đương với bậc Cao học (Thạc sĩ).
[4] Shikoku là một trong bốn hòn đảo lớn tạo thành quần đảo Nhật Bản. Xưa, một cao tăng tên là Không Hải (Hoàng Pháp Ðại sư) đã tu hành ở đảo đó. Người này đã từng sang Trung Hoa đời nhà Ðường (năm 804) học đạo, rồi về Nhật Bản lập ra một giáo phái Mật tông gọi là Shingonshu. 88 linh địa là những chùa chiền có vết chân vị thánh tăng này. Người Nhật, khi muốn cầu xin điều gì, chẳng hạn làm ăn phấn chấn, trị bệnh nan y, v.v., thường hay đi hành hương 88 linh địa này.
[5] Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản khai chiến với Mỹ bằng cách oanh tạc Pearl Harbour (Chân Châu Loan. Ở Việt Nam, địa danh này quen goi Trân Châu Cảng. Chân Châu Loan là tên Nhật đọc âm Hán-Việt).
[6] “Công chức” ở đây là những chức vụ công cộng, như nghị viên, quan liêu (công chức, theo nghĩa hẹp), hoặc những địa vị lãnh đạo trong giới chính trị, giới kinh tài, giới ngôn luận, v.v.. Một trong những chính sách dân chủ hóa do bộ Tổng tư lệnh quân đội chiếm đóng Nhật Bản của MacArthur thực thi, là năm 1946, cấm không cho những người theo chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa quốc gia làm “công chức”. Số người như vậy là khoảng 200 ngàn. Tháng 4 năm 1952, sau khi Hòa ước San Francisco bắt đầu có hiệu lực, thì lệnh cấm này hết hiệu lực.
[7] Ở Nhật Bản, tổ chức nào cũng có một thứ tự rõ rệt cho sự xếp đặt vị thứ các thành viên. Với nội các, thủ tướng đứng đầu là lẽ đương nhiên, nhưng dưới thủ tướng các bộ trưởng xếp hàng ra sao thì có thứ tự hẳn hoi. Theo truyền thống, đứng đầu là bộ trưởng Tư pháp, rồi đến bộ trưởng Ngoại giao, bộ trưởng Kho bạc, v.v.. Xem như vậy thì vị trí bộ trưởng Kho bạc trong nội các là vô cùng trọng yếu.
[8] Năm 1993, lần đầu tiên trong gần 40 năm liên tục nắm giữ chính quyền, đảng Dân chủ tự do đã phải nhường chính quyền cho một nội các liên hiệp do thủ lãnh một đảng Bảo thủ, là Hosokawa Morihiro cầm đầu. Takemura là thủ lãnh một đảng trong nội các liên hiệp, nên đã được giữ ghế bộ trưởng Kho bạc.
[9] Một trong bộ ba cán bộ lãnh đạo của đảng Dân chủ tự do Nhật Bản.
[10] Vụ này xảy ra năm 1954, trong đó giới công nghiệp đóng tàu và đảng cầm quyền bị nghi ngờ có sự lén lút đưa và nhận hối lộ. Bộ trưởng Tư pháp Inukai Takeru đã sử dụng quyền chỉ huy chấm dứt cuộc điều tra của viện Kiểm sát, khiến vụ việc bị ém nhẹm đi không bao giờ phơi bày ra ánh sáng nữa.
[11] Người ra điều trần trước Quốc hội có hai hình thức: Người làm chứng và người tham khảo. Người làm chứng thì phải tuyên thệ và nếu khai man sẽ bị xử theo luật định. Người tham khảo không phải tuyên thệ.
[12] Nguyên văn là Banshoku Daijin, tức là bộ trưởng chưa có thực lực, chỉ làm “cảnh” trong những bữa tiệc thết đãi khách quý mà thôi.
[13] Thủ tục thông qua một dự án hiệp ước hay dự án luật ở quốc hội Nhật Bản là như sau. Trước hết Hạ nghị viện thảo luận rồi biểu quyết. Sau đó mới đến Thượng nghị viện thảo luận và biểu quyết. Nếu Thượng nghị viện không thông qua, dự án được trả về cho Hạ nghị viện thảo luận lại. Tuy nhiên, dù cho Thượng nghị viện có biểu quyết nghịch, thì biểu quyết thuận của Hạ nghị viện vẫn là ưu tiên. 30 ngày sau khi Hạ nghị viện đã thông qua, thì dự án thành lập một cách tự nhiên.
[14] Nói chung, các chính trị gia khôn khéo thường áp dụng mánh lới “kẹo ngọt và roi vọt”. Ðể thực thi một chính sách cứng rắn (sửa đổi Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ, roi vọt), người ta ghép đôi nó với một chính sách khác mềm dẻo (gấp đôi lương tháng, kẹo ngọt).
[15] Jinmu là Thiên hoàng đầu tiên, một người trong thần thoại của Nhật Bản. Theo truyền thuyết thì ông lên ngôi vua năm 660 trước Công nguyên. Từ thời Jinmu là nói từ lúc khai thiên lập địa.
[16] Joseph Morrell Dodge (1890-1964), doanh gia ngân hàng, tới Nhật Bản năm 1949 làm cố vấn cho bộ Tổng tư lệnh quân đội chiếm đóng Nhật Bản. Ðường lối Dodge là chính sách ông vạch ra nhằm mục tiêu ổn định và tự lập cho nền kinh tế Nhật Bản. Ðường lối này nói chung là đường lối siết chặt lưu thông tiền tệ.
[17] Năm 1951, tức là 6 năm sau khi Nhật Bản đầu hàng, Hòa ước San Francisco đã được ký kết, chấm dứt sự chiếm đóng Nhật Bản bởi Quân đội Ðồng minh. Tuy nhiên, để thay thế, Nhật Bản và Mỹ đã ký kết Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ theo đó quân đội Mỹ tiếp tục đồn trú tại Nhật Bản, song không còn với tư cách quân đội chiếm đóng nữa, mà chỉ là quân đội đồng minh bảo vệ an ninh quốc phòng theo Hiệp ước An ninh đó.
[18] Việc thâu hồi chủ quyền những phần đất đã bị mất bởi chiến tranh bằng thương lượng không tốn một viên đạn, đã được đánh giá cao và thủ tướng Sato Eisaku đã được Giải Nobel Hòa Bình năm 1975.
[19] Người Nhật gốc Triều Tiên, tên thật là Momota Mitsuhiro, vốn là đô vật Sumo, chuyển sang võ vật Wrestling chuyên nghiệp, nhiều lần đoạt chức vô địch thế giới của môn võ vật này.
[20] Kỹ nghệ thứ ba (tertiary industries) là các ngành nghề phục vụ (services industries) như khách sạn, siêu thị, nhà hàng ăn uống, công ty du lịch,...
[21] American football, một môn thể thao dùng bóng dẹt, rất hung bạo, khác với bóng đá Anh, gọi là soccer.
[22] Hội Hoằng Chì là tên gọi của phái Ikeda trong đảng Dân chủ tự do. Hoằng là to lớn, Chì là ao, là chuôm. Vậy Hội Hoằng Chì là Hội Ao Lớn. Sở dĩ lấy tên như vậy là vì tên thủ tướng Ikeda nếu viết chữ nho là Chì Ðiền, tức là Ao Ruộng, cho nên nhóm nghị viên ủng hộ ông họp thành một phái lấy một chữ trong tên ông đặt tên phái là Hội Hoằng Chì.
[23] Chỉ trừ Maeo, còn cả ba ông Ohira, Suzuki và Miyazawa đều đã làm thủ tướng.
[24] Ðây là hình ảnh đảng Dân chủ tự do Nhật Bản vào khoảng năm 1997. Người ta nói, chính trường Nhật Bản là sân khấu “ly hợp tụ tán”, cho nên hình ảnh hiện nay của đảng này không phải là như thế này nữa.

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 97415
Has thanked: 35596 times
Have thanks: 48887 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: July 3rd, 2018, 11:46 am
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: Mười hai người lập ra nước Nhật

Postby DaMinhChau » August 14th, 2016, 3:51 pm


Chương 12

Matsushita Konosuke
Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh

Doanh gia trở thành anh hùng dân tộc

Người cuối cùng được chọn trong “Mười hai người lập ra nước Nhật”, là Matsushita Konosuke.
Matsushita Konosuke bắt đầu cuộc đời là một người lao động, đã gây dựng nên một xí nghiệp có tầm cỡ thế giới, đồng thời trong thập niên 1960, là một triết gia có tư tưởng kinh doanh và quan niệm về lao động độc đáo, đã để lại ảnh hưởng lớn cho Nhật Bản ngày nay.
Ðiểm đặc sắc nhất của Matsushita là, không giống những nhà giầu khác hay những nhà kinh doanh dựng nghiệp khác, ông đã trở thành anh hùng dân tộc trong quá trình Nhật Bản tiến tới một đại cường quốc kinh tế. Với ý nghĩa này, ông là người đã để lại ngày nay những ảnh hưởng tuyệt đại, cả ảnh hưởng hữu hình cũng như ảnh hưởng vô hình.
Trong biết bao nhiêu phú hào và doanh gia khởi nghiệp, tại sao chỉ có Matsushita Konosuke được kể là anh hùng dân tộc?
Năm 1955, trong bảng thứ bậc nhà giầu (người đóng thuế nhiều nhất) do tổng cục thuế công bố, lần đầu tiên Matsushita Konosuke đã đứng đầu bảng. Tin này đã gây một xúc động mãnh liệt trong toàn dân Nhật Bản.
Bảng thứ bậc nhà giầu được công bố hàng năm đã có từ lâu rồi. Song trước đó, những nhà giầu nhất nước đều là nhưng người làm nghề than đá, tức là ngành nghề được Nhà nước ưu đãi, hay những nhà giầu xổi kinh doanh bất động sản được trúng mẻ.
Nhưng, Matsushita Konosuke là người cần cù khắc khổ từ thuở thiếu thời, nhờ nỗ lực và sáng kiến của riêng mình, đã tích lũy gây dựng nên Công ty Matsushita Denki Sangyo cùng những công ty liên hệ, phát triển kinh doanh mà chèo lên tới địa vị số một trong Bảng thứ bậc nhà giầu như vậy, nên ấn tượng mới mãnh liệt. Thời đó là lúc mỗi thứ đều thiếu thốn, người dân thường sống trong bầu không khí chán nản, nhưng tin Matsushita trở thành người giầu nhất nước, đã làm họ phấn khởi. Họ nghĩ nếu mình cố gắng thì mình cũng có thể trở nên giầu có như vậy được. Matsushita quả đã là một anh hùng mang lại niềm hi vọng cho quốc dân Nhật Bản trong thời kỳ phục hưng sau chiến tranh.
Matsushita Konosuke đã trở thành hiện thân của “giấc mơ Nhật Bản”, cái đích cho mỗi người khao khát. Chính vì vậy mà lời nói của ông đã có ảnh hưởng lớn của một triết nhân.
Gặp gỡ điện khí
Matsushita Konosuke sinh ngày 27-11-1894 (niên hiệu Minh Trị thứ 27), tại thị trấn Wakayama (thời đó còn gọi là thôn Wasa, quận Umigusa). Gia đình nghèo, năm chín tuổi Konosuke phải đi ở đợ. Ðầu tiên, Konosuke ở cho một nhà hàng bán lò than. Năm sau, chuyển sang một cửa hàng bán xe đạp, Konosuke lại làm đứa ở gần 6 năm nữa nghĩa là từ tuổi lên mười cho đến tuổi hơn 15, Konosuke đã sống với xe đạp.
Năm 1910, Matsushita Konosuke trở thành thợ học nghề của công ty Osaka Dento (nay là công ty Ðiện lực Osaka). Ðây là buổi hội ngộ giữa Matsushita Konosuke với điện khí.
Matsushita tiếp tục cuộc đời thợ điện ở công ty này cho tới năm 1917 (niên hiệu Taisho thứ sáu) tức là giữa thời Chiến tranh thế giới thứ nhất, thì xin thôi, tách ra độc lập, và phát minh ra kiểu đui (chân cắm) hai bóng đèn. Năm sau, ông sáng lập ra công ty kinh doanh cá nhân Mastsushita Denki Kigu Seisakusho. Lúc đầu, sản phẩm chỉ có phích cắm điện, đui chĩa hai, tức là đui hai bóng đèn nói trên. Dùng loại đui này thì chỉ một dây đèn có thể nối ra thành mấy ngọn đèn cũng được. Thời đó, giá tiền điện ở Nhật Bản còn tính khoán và mỗi nhà chỉ được kéo một đường dây đèn thôi. Nếu dùng đui đèn chĩa hai, có thể kéo thêm nhiều ngọn đèn khác, nên phụ kiện này bán khá chạy.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tình hình làm ăn trở nên khó khăn. Rồi năm 1923, sau trận động đất lớn vùng Kanto, ông đã dùng kinh nghiệm với xe đạp chế ra đèn điện cho xe đạp. Sản phẩm này bán rất chạy. Rồi năm 1926, lần đầu tiên ông đã bán ra loại đèn pin với pha đèn hình vuông có gắn nhãn hiệu National. Sản phẩm này bán chạy như tôm tươi. Thời đó, ông đã yêu cầu công ty pin đèn hợp tác nên đã có thể phát không 10 ngàn chiếc đèn pin như vậy để quảng bá. Sản phẩm này còn bán chạy cho tới sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai.
Năm 1929, ông đổi tên công ty thành Matsushita Denki Seisakusho. Hai năm sau, ông được dịp nhẩy vọt như sau.
Năm 1931, Ðài Phát thanh Tokyo (nay là Hãngi Truyền thông Nhật Bản NHK) đã mở kỳ thi kiểu radio tiêu chuẩn với mục đích phổ cập radio giá hạ, vì thời đó radio hãy còn hiếm và giá đắt. Sản phẩm của công ty Matsushita Denki Seisakusho đã đoạt giải nhất. Công ty bèn sản xuất đại trà kiểu radio này, đặt tên là “Kiểu trúng giải”.
Từ thời điểm này, hoạt động kinh doanh mỗi ngày một lớn ra, công ty Matsushita Denki Seisakusho lần lần chiếm được địa vị một công ty chế tạo đồ điện tổng hợp. Ngay từ năm 1933, công ty đã áp dụng đường lối kinh doanh theo chế độ bộ môn. Mỗi bộ môn đều có quyết toán độc lập. Thể chế này được duy trì cho tới ngày nay.
Năm 1935, sau khi pháp nhân hóa tổ chức và đổi tên là Công ty Cổ phần Matsushita Sangyo, Matsushita Konosuke liền nhậm chức tổng giám đốc, tiếp tục sản xuất radio và bóng đèn cùng những sản phẩm điện khác nữa.
Thế rồi cuộc Chiến tranh Thái bình dương nổ ra, công ty ông chế tạo quân nhu như máy vô tuyến điện, máy radar, rồi cả máy bay nữa. Vì thế, sau khi Nhật Bản thua trận, ông bị bộ Tổng tư lệnh Quân đội chiếm đóng Nhật Bản liệt vào hàng tài phiệt, và bị thanh trừng khỏi các chức vụ công cộng. Sự kiện ông đã bị liệt vào hàng tài phiệt ngay sau chiến tranh, đủ cho thấy công ty ông đã thành một đại xí nghiệp rồi. Lúc đó Matsushita Konosuke 50 tuổi.
Năm 1947, nhờ sự đấu tranh phản đối của công đoàn Matsushita, ông được xóa tên khỏi danh sách tài phiệt và được phục quyền trở về làm kinh doanh. Tuy nhiên, những sự kiện vừa xảy ra, chiến tranh rồi bị thanh trừng, là những điều khó quên đối với ông.
Sự phổ cập “đường lối kinh doanh Matsushita” qua mạng lưới bán hàng vững chắc
Ðược phục quyền trở lại làm tổng giám đốc, Matsushita Konosuke đã hăng say khuếch trương kinh doanh làm cho Công ty Matsushita Denki Sangyo ngày một lớn hơn. Kết quả là năm 1955, ông đã trở thành người giầu nhất Nhật Bản, như kể trên. Ðây là cái giầu tính bằng phần chia lời cổ phiếu, chứ không phải là cái giầu nhất thời như doanh thu hay do bán tư sản. Vì thế, sau đó, ông còn nhiều lần đứng đầu bảng những người giầu nhất Nhật Bản.
Sau chiến tranh, năm 1949, Thị trường cổ phiếu Nhật Bản đã hoạt động trở lại. Năm đó nếu mua cổ phiếu Matsushita Denki Sangyo với giá 100 ngàn Yen, rồi từ đó cứ tiếp tục dùng tiền được chia lời cổ phiếu đóng thêm mỗi khi có tăng vốn, thì tới năm kinh tế bong bóng 1989, trị giá cổ phiếu đó đã lên tới 2,4 tỉ Yen. Nghĩa là trong 40 năm, giá cổ phiếu của Matsushita Denki Sangyo đã tăng gấp 24 ngàn lần.
Ðương nhiên, là người sáng lập đồng thời là cổ đông lớn của công ty, Matsushita Konosuke đã giầu to. Số cổ phiếu của ông không nhiều lắm vì công ty đã bán công khai cổ phiếu từ rất sớm. Vì thế, ngoài ông ra, còn nhiều người khác đã có cơ hội làm giầu. Trên thực tế, phải có hàng mấy chục người như vậy.
Từ năm 1955, tức là năm đầu tiên Matsushita Konosuke trở thành người giầu nhất Nhật Bản, người ta đã thấy có rất nhiều sản phẩm điện gia dụng. Rồi tới thời đại “ba bửu bối” tức là máy TV, máy giặt và máy lạnh. Công ty Matsushita Denki Sangyo đã thừa cơ có phòng trào điện hóa gia đình này phát triển không ngừng. Công ty đã chế ra hết sản phẩm này tới sản phẩm khác, sản xuất đại trà, bán thật nhiều. Rồi công ty mở rộng mạng lưới bán ra nước ngoài khiến nhãn hiệu Panasonic được nổi tiếng khắp thế giới.
Một đặc điểm nữa của công ty Matsushita Denki Sangyo là từ năm 1949, công ty đã lập ra một mạng lưới bán sản phẩm chằng chịt trên khắp Nhật Bản. Bằng mạng lưới này, công ty đã có một hệ thống bán hàng hùng mạnh đồng thời phổ cập ra khắp Nhật Bản triết lý kinh doanh Matsushita.
Ở Nhật Bản, Matsushita Konosuke được người ta ngưỡng mộ như là “ông thánh kinh doanh”. Thật ra, tài kinh doanh của ông được như vậy cũng là nhờ có mạng lưới kinh doanh trên. Chính Matsushita Konosuke và những nhân vật khác của nhóm Matsushita đã đích thân chỉ dẫn các tiệm bán trong mạng lưới khiến cho những tiệm bán cũng rất thỏa mãn.
Năm 1961, Matsushita Konosuke trở thành chủ tịch công ty, năm 1973, là Cố vấn, nghĩa là trên bề mặt, ông không còn giữ vai trò trục tiếp lãnh đạo công ty nữa, mà chỉ đưa ra những quan điểm vĩ mô cho công ty thôi. Thế nhưng, trên thực chất, ông vẫn là người có ảnh hưởng tuyệt đại đối với công ty.
Ngoài sự nghiệp kinh doanh như kể trên, Matsushita còn có nhiều đóng góp về mặt tư tưởng. Năm 1946, tức là chẳng bao lâu sau khi chiến tranh kết thúc, ông đã lập ra “Viện Nghiên cứu PHP” với mục đích phát động phong trào “Hòa bình và Hạnh phúc trong Phồn thịnh (Peace and Happiness through Prosperity)”.
Rồi năm 1979, mặc dầu đã tới tuổi 85, ông còn quyết chí đào tạo nhân tài để cải cách nền chính trị Nhật Bản. Ông bỏ tiền riêng ra mở “Trường Kinh tế chính trị Matsushita” rồi tự mình đứng ra làm chủ tịch hội đồng quản trị và hiệu trưởng. Số người tốt nghiệp trường này trở thành nghị sĩ quốc hội cũng có tới vài chục người.
Matsushita Konosuke đã sống những năm cuối đời như một triết nhân, người đề xướng cải cách, rồi ngày 17-4-1989, ông đã kết thúc cuộc đời ở tuổi 94.
Tuổi thọ cũng là một yếu tố đóng góp vào sự nghiệp của con người. Bởi vì, có sống lâu mới làm được nhiều việc. Vào lúc cuối đời, với tầm nhìn xa trông rộng của mình, Matsushita đã đóng góp những ý kiến về tương lai Nhật Bản và được nhiều người hưởng ứng. Nói cách khác, cho tới chết, ảnh hưởng của ông đối với xã hội Nhật Bản vẫn không hề bị suy giảm.
Tại sao trở thành anh hùng dân tộc được?
Khi luận về Matsushita Konosuke, điểm đáng nói nhất là từ một doanh gia ông đã trở thành anh hùng dân tộc vĩ đại nhất thời hậu chiến của Nhật Bản. Một nhà kinh doanh như ông có lẽ còn lâu mới lại xuất hiện.
Tại sao như vậy? Ta thử tìm hiểu qua thân thế, tư tưởng, hành động của ông xem sao. Như vậy, ta có thể thấy nhân vật này có ảnh hưởng thế nào đối với người Nhật thời nay, sẽ còn có ảnh hưởng gì tới người Nhật của thế kỷ XXI.
Ðiểm thứ nhất làm cho Matsushita Konosuke trở thành anh hùng dân tộc là truyện lập thân thành đạt của ông.
Nhà nghèo phải bỏ ngang trường tiểu học để đi ở đợ, rồi sau xây dựng nên một xí nghiệp khổng lồ, ông thật đáng gọi là “Thái tể đời nay” [1].
Sinh ra ở một vùng quê nghèo nàn đến nỗi năm lên 9 tuổi phải bỏ ngang trường tiểu học đi ở đợ. Học lịch của ông như vậy là “bỏ ngang bậc tiểu học”. Vậy mà ông đã gây dựng nên một đại xí nghiệp có tầm cỡ lớn nhất Nhật Bản, có hoạt động trên khắp thế giới. Truyện thành công như vậy đáng so sánh với truyện Thái tể Hideyoshi. Ðiều này ai cũng mơ ước đạt được và vì vậy đã trở thành yếu tố khiến Matsushita Konosuke trở thành anh hùng dân tộc của Nhật Bản.
Thêm nữa, thời nhỏ Matsushita yếu ớt cũng là điểm khiến người ta có cảm tình. Thật vậy, ông nhỏ con, gầy gò, chứ không có thân hình cứng cáp. Lại hay bệnh tật, tức là không được may mắn về mặt thể lực. Ðiểm này ông cũng giống như Hideyoshi.
Hideyoshi cũng thua kém người ta về mặt thể lực. Thời Chiến quốc, phải có thể lực mạnh mới trở thành hào kiệt được, nhưng Hideyoshi lại bé nhỏ, gầy yếu.
Cùng xuất thân nghèo nàn, cùng có thể lực yếu đuối, nhưng hai người đã thành công lớn trong thiên hạ. Với ý nghĩa đó, Matsushita Konosuke và Toyotomi Hideyoshi có nhiều điểm tương đồng. Ðiều này khiến cho mỗi người có cảm tình, và khi thành công rồi cũng thấy ít người ganh tị, ghen ghét. Nếu ông là con nhà giầu, tốt nghiệp trường đại học hạng nhất, rồi lại có thể hình đường đường một đấng nam nhi, thì có lẽ ông đã không được người ta coi là anh hùng dân tộc đâu.
Ðiểm thứ hai là con đường tới thành công của ông thật là trong sáng.
Từ phát minh ra đui đèn chĩa hai, đèn xe đạp, tới chế tạo ra radio “Kiểu trúng giải”, rồi sau chiến tranh thì sản xuất “ba bảo bối” máy thu hình trắng đen, máy giặt và tủ lạnh, tất cả đều là những sản phẩm gia dụng gần gũi. Vì thế, ông được coi là người cải cách cuộc sống của người tiêu dùng.
Xưa nay, những người thành công trở thành tỷ phú có ít người là nhà cải cách mà phần lớn bị coi là đã dùng mánh lới buôn bán hoặc thủ đoạn chính trị bóc lột quốc dân đại chúng để tích lũy tài sản.
Chẳng hạn, người lập ra nhóm tài phiệt Mitsubishi, Iwasaki Yataro, quả là người tài. Thế nhưng, sự khởi nghiệp của ông là lập ra một công ty vận tải đường biển được chính phủ che chở. Rồi, nhờ có cuộc chiến tranh Tây Nam, ông chuyên chở lương thực quân nhu mà được lời to. Sau đó, “nhúng tay” vào than đá, ông cũng được cung cấp cho quân đội hay cơ quan nhà nước nên cũng lời lớn. Nghĩa là, có nhiều chi tiết về ông phải nói, song dù sao người đời cũng có ấn tượng rằng ông đã giầu to nhờ làm ăn với chính phủ.
Sau chiến tranh, còn nhiều doanh gia khác trở nên giầu sụ như Matsushita Konosuke. Nhưng phần đông những người đó đều nhờ trúng mánh về bất động sản, đường sắt hay than đá, nghĩa là dựa vào sự che chở của chính phủ, hoặc kinh doanh liều mạng, hoặc bám dính vào giới chính trị, nên nhiều khi bị nghi ngờ có sự mờ ám ở đằng sau lưng.
So với họ, Matsushita Konosuke chủ yếu phổ cập đồ điện gia dụng, nên được hâm mộ vì gần gũi với quốc dân hơn. Mỗi người cảm thấy cuộc sống được tiện nghi hơn nhờ sản phẩm mang nhãn hiệu National. Với hình ảnh một người cải cách về cả hai mặt, kỹ thuật và kinh doanh, Matsushita đã có những sáng kiến hay và dám mạnh bạo thực hiện những sáng kiến đó, vừa làm cho mỗi người được thoải mái đồng thời chính mình được giầu có. Người đời có ấn tượng tốt về ông là như vậy.
Khởi đầu kiểu “Kinh doanh Nhật Bản” với hình thức làm công suốt đời
Thứ ba là đã xây dựng nên kiểu Kinh doanh Nhật Bản thời hậu chiến.
Matsushita Konosuke là người đầu tiên có nhiều sáng kiến mới ở Nhật Bản. Trong những cái như vậy, sáng kiến dùng người suốt đời ông đưa ra trong những năm đại khủng hoảng kinh tế đầu thời Showa (tức là cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới hồi năm 1930). Hình thức thuê người suốt đời như vậy về sau đã lan rộng ra khắp nước Nhật và trong thời hậu chiến đã được gọi là kiểu Kinh doanh Nhật Bản.
Thật ra, tập tục thuê người làm suốt đời ở Nhật Bản trước kia đã bị hiểu lầm là kiểu Kinh doanh Nhật Bản, chứ thật ra không phải vậy.
Thuê người làm suốt đời là tập tục có từ xưa của Nhật Bản.
Nhưng, trước đây đã có người thuyết giải như sau:
Thời Tokugawa, khi một đứa trẻ vào làm công cho một thương gia, nó bắt đầu bằng “thằng nhỏ”, rồi “thằng nhỡ”, cuối cùng là “quản gia” và được “chia màn cửa” [2]. Truyền thống này ngày nay được kế tục bằng hình thức thuê người suốt đời và thay cho sự “chia màn cửa” là khoản “tiền thôi việc” [3].
Hoàn toàn sai. Việc chủ nhà “chia màn cửa” cho người làm thời Tokugawa là truyện bịa đặt sau thời chiến tranh. Ngay trong thời làm ăn thịnh vượng Genroku, thì năm người hay mười người mới có một người làm tới “quản gia”. Rồi trong đám “quản gia” như vậy cũng phải mấy người mới có một người được “chia màn cửa”. Sang thời Kyoho, nếu không vào ở rể, thì đừng hi vọng được “chia màn cửa”.
Sang đến thời Taisho và Showa (tức là trước cuộc chiến tranh thế giới I tới đầu cuộc chiến tranh thế giới II), “tỷ lệ đổi ngang lao động” ở Nhật Bản cao nhất thế giới. Ðổi ngang lao động là đổi chỗ làm việc theo chiều ngang: tài xế lái xe nơi này lại đổi sang nơi khác cũng lái xe, thợ tiện ở xưởng này lại đổi sang xưởng khác cũng vẫn là thợ tiện. Người ta nói, không có nước nào trên thế giới mà người lao động lại dễ dàng bị sa thải như ở Nhật Bản thời đó. Cho đến năm 1939, cho đến khi “luật nhà máy” được sửa đổi, không có gì ngăn chặn được sự sa thải bừa bãi như vậy. Thậm chí còn có lý luận khẳng định sự sa thải vô tội vạ như vậy, chẳng hạn “lý thuyết về lao động tha phương”.
Công nhân nhà máy Nhật Bản cơ bản là người lao động tha phương. Họ là con trai thứ hay con gái nhà nông. Vì thế, dù có bị sa thải, họ vẫn được cha anh hay bà con cô bác ở quê hương tiếp đón nồng hậu. Họ vẫn có thể trở lại làm nghề nông được, tuy thu nhập giảm đi nhưng không sợ chết đói. Rồi chờ có cơ hội tốt lại ra thành thị làm công nhân hay làm thuê cho nhà buôn.
Quanh đi quẩn lại như vậy từ sau khi tốt nghiệp tiểu học, con gái bắt đầu đi làm từ tuổi 13, 14 cho tới khoảng 20 tuổi, dành dụm tiền mua vật dụng chuẩn bị đi ở riêng, con trai đi làm tới khoảng 40 tuổi, nếu mua được dăm ba sào ruộng bằng tiền dành dụm để quy nông, thì như thế được coi là ăn nên làm ra rồi. Nhật Bản lấy chế độ đại gia tộc làm trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục, cho nên người Nhật không câu nệ nơi làm việc. Người lao động không cần phải lập công đoàn đấu tranh phản đối sa thải. Ðó là chỗ đặc sắc của Nhật Bản.
Tóm lại, hầu hết người Nhật đều có nông thôn làm quê quán. Chỉ có một thời gian của đời người, họ đi làm tha phương ở nhà máy hay nhà buôn thôi. Như câu nói “nghề làm công lãnh lương là nghề bèo trôi bập bềnh”, họ không quan niệm gửi gắm toàn thể cuộc đời mình cho nghề đi làm lãnh lương. Họ cũng không nghĩ rằng nơi làm việc có trách nhiệm với toàn thể cuộc đời mình.
Với bối cảnh trên, cuộc đại khủng hoảng kinh tế đã bùng ra vào những năm 1929, 1930. Lúc đó, Matsushita Konosuke đã không sa thải nhân viên. Ông cho làm việc nửa ngày. Ngày nghỉ thì nhân viên cùng nhau đi bán sản phẩm tồn kho. Công ty ông nhờ thế đã vượt qua khỏi tình thế khó khăn. Như vậy, ông đã nghĩ ra và thực thi chính sách xí nghiệp có trách nhiệm đối với đời sống của công nhân.
May thay, như đã kể trên, từ máy radio “Kiểu trúng giải”, doanh thu gia tăng khiến công ty ông không phải lo tới sa thải người nữa. Tuy có may mắn thật, song sáng kiến cố gắng vượt qua khó khăn của ông là độc đáo. Quả là sáng kiến của một người xuất thân lao động, hiểu thấu tâm can của người lao động. Phương thức này sau chiến tranh đã lan rộng ra tất cả các xí nghiệp và trở thành kiểu “Kinh doanh Nhật Bản” vậy.
Kỹ thuật thì Honda, Kinh doanh thì Matsushita
Matsushita Konosuke thường được xếp ngang hàng với Honda So’ichiro như là đại biểu cho những nhà kinh doanh mở nghiệp. Một bên là đồ điện một bên là ôtô, tuy khác nhau, nhưng đều là những sản phẩm đại trà đã phát triển thời hậu chiến cả. Nhưng giữa hai người, có một điểm khác nhau căn bản. Cả hai cùng xuất phát từ cảnh ngộ giống nhau, nhưng phương pháp kinh doanh quản lý của họ khác nhau lắm.
Honda So’ichiro khởi nghiệp từ xe môtô rồi sau mới tiến sang xe ôtô, nghĩa là chỉ đeo đuổi một mục tiêu duy nhất. Ông xuất phát từ một nhà kỹ thuật thuần túy, rồi cũng giã từ cuộc đời với tư cách nhà kỹ thuật thuần túy.
Nghĩa là, Honda So’ichiro say mê xe môtô và xe ôtô nên đã dốc toàn tâm toàn lực vào đó. Nhờ ngành ôtô thành công mà ông đã thành đạt. Chứ nếu ngành ôtô không thành công thì chưa chắc gì Honda đã trở thành một doanh gia vĩ đại.
Trong cuốn sách của mình nhan đề là “Ðắc ý giương buồm lên”, Honda So’ichiro có viết ông đã làm cái đắc ý nhất và đã xả thân ra thực hành điều đó. Trong sinh hoạt cá nhân, Honda cũng ngang nhiên làm những gì ưa thích, không để ý đến con mắt những người xung quanh, như đeo dây xuyến vàng, lái máy bay, v.v.. Về mặt kinh doanh, ông cũng tự biết giới hạn của mình, vì thế, ông đã giao hẳn quyền kế toán và quản lý vốn liếng cho người phó của ông, là Fujisawa Takeo. Làm được như vậy, quả Honda là người xuất chúng, đồng thời không hề che đậy những điểm yếu của mình, điều này cũng chứng tỏ Honda là người giỏi.
Khi từ chức tổng giám đốc, ông nói ông đã gây dựng nên một công ty là theo ý thích của mình nên chủ trương không truyền lại cho con trai, rồi cùng với người phụ tá của mình rút chân khỏi mọi chức vị trong công ty. Ðiều này chứng tỏ ông là người biết mình, một người hạnh phúc đã đặt cả cuộc đời mình cho việc làm ưa thích, một nhân vật sống theo niềm tin của mình.
Ðối lại, Matsushita Konosuke là một doanh gia có quan niệm hài hòa. Từ đui đèn chĩa hai cho tới những sản phẩm điện gia dụng khác, ông đã có rất nhiều phát minh và sáng chế. Người ta nói số bằng phát minh của ông đứng hàng nhất nhì trong giới điện cơ. Thế nhưng bản thân ông không câu nệ vào một lãnh vực sản phẩm nào cả. Thậm chí, ông khéo xây dựng tổ chức và quan hệ người đối người, đến nỗi người ta ví ông là “Kinh doanh thì Matsushita”. Ở điểm này, ông khác hẳn với Honda So’ichiro.
Nói cách khác, Matsushita tuy là một kỹ thuật gia ưu tú, nhưng chính về mặt tổ chức và quan hệ con người, ông đã phát huy tài thiên bẩm còn hơn thế nữa. Vì thế, ông đã xây dựng nên được tư tưởng và hệ thống kinh doanh kiểu Nhật Bản, từ mạng lưới cửa hàng bán lẻ, tới chế độ thuê người suốt đời.
Chế độ thuê người suốt đời mới chính là bước đầu của nền kinh doanh kiểu Nhật Bản. Từ năm 1933, ông đã áp dụng chế độ kinh doanh bộ môn, nghĩa là phân chia doanh nghiệp ra thành nhiều bộ môn một để phân tán quyền hạn. Ðây chính là tạo ra một cơ cấu quyết định theo chủ nghĩa tập đoàn, một đặc điểm vô cùng lớn của nền kinh doanh kiểu Nhật Bản.
Ở nước ngoài, tổng giám đốc là người nắm toàn quyền của công ty. Vì thế, quyết định được mau lẹ và trách nhiệm được minh bạch. Công ty Matsushita Denki Sangyo cũng thế, Matsushita Konosuke là người khởi nghiệp, lại được coi là “ông thánh kinh doanh”, thì hẳn ông có quyền tuyệt đối. Nếu giữ nguyên tổ chức như vậy, ông hẳn sẽ trở thành độc tài. Ðể tránh điều đó, Matsushita Konosuke đã tìm cách phân tán quyền hạn bằng cách áp dụng chế độ kinh doanh bộ môn. Làm như vậy cũng chẳng lu mờ cái tính thần thánh của cá nhân ông đi mà lại phân tán được quyền hạn trong tổ chức. Thật ra, có thể nói chính vì ông biết rằng ông vẫn có thể có quyết định tối chung được, nên mới dám áp dụng chế độ kinh doanh bộ môn như vậy. Nói cách khác, ông đã khéo kết hợp sự phân chia quyền hạn với sự tập trung quyền uy.
Công bố và thực thi phong trào PHP
Lý do thứ tư khiến Matsushita trở thành anh hùng dân tộc được, là ông còn là nhà triết học thuyết giảng khái niệm kinh doanh nữa.
Như đã nói, chẳng bao lâu sau chiến tranh, ông đã có sáng kiến và phát động phong trào PHP. Làm được như vậy là vì ông có tự tin vào thành công trong việc chế tạo ra nhiều sản phẩm làm cho đời sống người dân tiện nghi hơn, đồng thời nâng cao thu nhập của người làm công và tạo ra sự phồn vinh cho các cửa hàng đại lý.
Sản xuất thật nhiều đồ điện gia dụng tiện lợi, rồi bán ra với giá rẻ, sẽ làm cho nền kinh tế phát triển, làm cho công ty chế tạo có lời, nhân viên được lương bổng cao, cửa hàng đại lý kinh doanh vững bền với hợp đồng làm ăn lâu dài với nhà sản xuất. Nghĩa là như vậy có thể trông nom được toàn diện mọi mặt. Matsushita đã ngay từ sớm xây dựng mạng lưới như vậy rồi.
Với thành tựu như trên, Matsushita Konosuke nghĩ rằng con người ta nếu làm ăn cần cù sẽ được sung sướng. Vậy ở thời buổi ngày nay, người ta nên nhờ sự phồn thịnh kinh tế mà ổn định cuộc sống hòa bình và hạnh phúc. Ðây là phản đề đối với tư tưởng quân phiệt đã gây ra chiến tranh, đã tìm cách xây dựng vùng Ðại Ðông Á Cộng Vinh Quyển [4].
Tư tưởng khuyến khích sự cần cù của Matsushita Konosuke có chỗ tương đồng với Ishida Baigan nói ở Chương VII. Có thể nói đó là tư tưởng “triết học cần cù” của thế kỷ XX. Song, khác với Baigan, ông không thuyết giảng sự tiết kiệm. Ðối với ông, việc sử dụng những sản phẩm văn minh như đồ điện gia dụng, là tốt. Nhờ dùng những sản phẩm như vậy mà công việc lao động giảm đi, các bà nội trợ có thêm thời giờ nhàn rỗi, thì đó là điều hay.
Năm 1946, khi Matsushita lập ra Viện Nghiên cứu PHP với mục đích chính là để quảng bá tư tưởng của ông, hơn là bắt tay vào công tác văn hóa xí nghiệp. Thời ấy, ở Nhật Bản chưa có khái niệm hoàn trả lại xã hội một phần lợi nhuận đã thâu được từ xã hội. Ông đã lập ra Viện Nghiên cứu PHP vào lúc mỗi người sống trong sự bất an của thời kỳ bị chiếm đóng. Bản thân Matsushita bị hạn chế đủ thứ bởi những luật lệnh mới về dân chủ và về kinh tế. Ông không nghèo nhưng cũng không lấy gì làm giầu. Tương lai thì u ám không có triển vọng tốt đẹp. Chưa kể, không chừng ông có thể bị tống giam lúc nào chưa biết.
Trước nhất, ông đã bỏ tiền riêng ra để truyền bá “triết học Matsushita”. Nhiều người khuyên ông nên tổ chức thành Hội công ích để được lợi về mặt thuế khóa, nhưng ông đã không làm như vậy. Ông giữ nguyên hình thức công ty cổ phần. Có lẽ ông muốn tách rời hẳn vấn đề văn hóa xí nghiệp ra với những vấn đề văn hóa khác.
Viện nghiên cứu PHP, với mục đích quảng bá tư tưởng của Matsushita Konosuke, hướng dẫn quần chúng về mặt tư tưởng, nay đã trở thành một cơ quan xuất bản và tu nghiệp quy mô, truyền bá một loại tư tưởng mới đáng gọi là “văn hóa PHP”. Viện nghiên cứu này chủ trương kinh tế tự do và chủ nghĩa dân chủ. Còn hơn thế nữa, hoạt động của viện đã chỉ nhờ vào sự kinh doanh cá nhân của Matsushita Konosuke. Ông quan niệm:
“Tiền hoạt động của mình do mình tự kiếm ra, như thế hoạt động mới phát triển và kéo dài vĩnh viễn được. Làm việc gì có ích cho đời, tự nhiên sẽ có tiền”.
Thật là một ý thức tự giác kinh doanh mãnh liệt. Cho nên, sự kiện Viện Nghiên cứu PHP đã được tổ chức thành một công ty cổ phần, và hoạt động sao cho có lời, là triết lý độc đáo của chính Matsushita.
Qua những bài luận thuyết trên tạp chí cơ quan của Viện Nghiên cứu PHP và những tác phẩm khác, Matsushita đã liên tục biểu đạt tư tưởng của mình.
Ví dụ, xí nghiệp phải có nguồn vốn nội bộ như nước chứa trong đập, lúc tháo ra lúc đổ vào, chứ không nên làm ăn kiểu gạo ăn đong từng bữa. Ông triển khai lý luận về “kinh doanh kiểu đập nước”, trong đó ông khẳng định quyền ưu tiên cho việc bảo lưu vốn nội bộ, và kết luận rằng giới kinh doanh Nhật Bản nên làm như vậy.
Lý luận trên của ông như vậy là ngược hẳn với tinh thần chủ nghĩa tư bản Âu - Mỹ, theo đó xí nghiệp chỉ là hình tức trá hình, lợi nhuận của xí nghiệp phải được chia đều cho cổ đông. Nhưng, lý luận của ông đã được người Nhật tiếp nhận và sự chia phần lời thấp cho cổ đông đã trở thành thông lệ ở Nhật Bản. Thậm chí, lời nói của ông khẳng định lợi nhuận thích đáng, như gọi đó là “phần thưởng” của người tiêu dùng, cũng đã được mỗi người đồng tình.
Xí nghiệp nhờ có lợi nhuận mới đứng vững được. Ðồng thời, giảm giá thành sản phẩm xuống, sản xuất đại trà để cung cấp được thật nhiều. Như vậy ổn định được sự sử dụng lao động, xúc tiến được sự tiêu dùng, và kết quả là mỗi người đều sung sướng cả. Ðó là “triết học tăng trưởng” của Matsushita.
Với niềm tin đối với chủ trương xí nghiệp phải có lời như vậy, Matsushita Konosuke cuối cùng đã trở thành người đề xuất cải cách chính trị ở tuổi quá 90. Trong những năm cuối đời, ông nói không ra tiếng nữa, người thường nghe không được, phải nhờ người thư ký riêng quen nghe tiếng nói của ông diễn đạt lại mới hiểu, nhưng sự nhiệt tâm của ông muốn làm cho Nhật Bản trở nên tốt hơn nữa, vẫn không hề suy giảm.
Trong những cải cách chính trị của ông, có những đề nghị như đại cải cách toàn quốc, bỏ hẳn mỗi thứ thuế, nghĩa là biến Nhật Bản thành một quốc gia không có thuế.
Matsushita đã chỉ dẫn thành công cho nhiều nhà kinh doanh cửa hàng đại lý, rồi nhiều nhà kinh doanh xí nghiệp. Sau cùng, ông cảm thấy cần phải đào tạo thêm nhiều nhân tài để cải cách Nhật Bản. Cho nên, ông đã lập ra trường “kinh tế chính trị Matsushita”. Rồi ông lại tổ chức “Hội tọa đàm Kyoto”, tự mình làm chủ tọa và tiếp tục tham gia cho tới 90 tuổi, chịu khó lắng nghe ý kiến của những học giả.
Xúc tiến chí hướng lập thân xử thế
Người Nhật ngày nay đã chịu ảnh hưởng gì, đã tiếp thu ý thức gì của Matsushita Konosuke?
Trước nhất, đó là tư tưởng về “nghề buôn bán là nghề bán hạnh phúc”.
Xưa nay, người ta quan niệm rằng nghề buôn bán chỉ có mục đích ích kỷ là làm giầu. Hơn nữa, phần lớn người ta đều cho làm rằng lao động là cực nhọc, mà chỉ có tiêu tiền kiếm được sau khi lao động cực nhọc, mới là sung sướng.
Matsushita Konosuke đã thoát ra khỏi cái quan niệm đó, ông coi nghề buôn bán là nghề làm cho thiên hạ được sung sướng. Do đó, làm việc là thú vui, xí nghiệp là nơi có lẽ sống. Xí nghiệp là một cộng đồng sinh hoạt, từ đó chế tạo rồi bán ra sản phẩm làm cho đời sống gia đình tiện nghi, và như thế làm cho thế gian trở nên hạnh phúc. Với ông, bản chất của nghề buôn bán là đem lại hạnh phúc trước nhất cho nhân viên xí nghiệp, rồi cho gia đình người tiêu dùng và rốt cục cho toàn thế gian. Như vậy, ông đã đưa ra khái niệm mới coi “nghề buôn bán là nghề bán hạnh phúc” và suốt đời đã không ngừng cống hiến cho mục đích này.
Sự mỹ hóa nghề buôn bán, tư tưởng cộng đồng hóa xí nghiệp, đòi hỏi lòng ham muốn lao động và lòng trung thành của nhân viên với xí nghiệp, đều là sự “tán dương con người xí nghiệp”.
Xem như trên, ta thấy Matsushita Konosuke đã làm thành một đôi tương xứng với Ikeda Hayato. Cái mà Ikeda Hayato nghĩ về mặt chính trị, thì Matsushita thực hành về mặt kinh doanh. Nhờ hai bánh xe chính trị và kinh doanh như vậy mới tạo ra nước Nhật tăng trưởng trong thời hậu chiến được.
Thứ hai, ông đã cổ súy cho triết lý lập thân xử thế.
Với hai bàn tay trắng dựng nên nghiệp lớn, Matsushita đã cưu mang hàng mấy chục ngàn người làm, làm giầu cho bao nhiêu cổ đông, mang lại tiện nghi hạnh phúc cho biết bao nhiêu gia đình trên toàn quốc Nhật Bản. Nhìn vào cái hình ảnh đó, nhiều người Nhật khác cũng đã ôm ấp một giấc mơ tương tự.
Thời hậu chiến, tỷ lệ học sinh trung học tiến lên bậc đại học, đã tăng lên gấp mấy lần so với thời tiền chiến. Sự thi đậu vào trường đại học trở nên khó khăn. Vì thế, ai nấy đều không lấy làm hổ thẹn khi nêu cao mục tiêu: đậu vào trường đại học hạng nhất, đỗ đạt rồi đi làm cho xí nghiệp hạng nhất.
Bản thân mình học đại học hạng nhất, con cái cũng cho vào đại học hạng nhất. Ðể được như vậy, từ bậc tiểu học đã đi học thêm, nào lớp tư thục, rồi lớp luyện thi. Ðậu đại học rồi, thì chen chân vào xí nghiệp có khả năng phát triển, mau chóng tiến thân đừng để chậm hơn người khác. Ðể được như vậy, thì làm thêm giờ hay làm cả ngày nghỉ cũng không quản ngại. Rồi mau mau mua nhà, con trai cũng lại cho vào đại học hạng nhất. Ngày nay nỗ lực của người ta, là để đạt được mục tiêu ấy. Sự nỗ lực không mệt mỏi, cái chủ nghĩa hướng tới tương lai, hướng tới thành công trong xử thế ấy, đã đóng vai trò to lớn là làm cho nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng.
Giấc mộng lập thân xử thế như trên đã ăn sâu vào lòng người Nhật thời hậu chiến. Nhưng, khôi hài thay, truyền bá giấc mộng ấy lại là Matsushita Konosuke, một người ít học chính quy nhưng đã thành công.
Thời Minh Trị, giấc mộng của người ta là “Sau này làm nên đại tướng hay đại thần (bộ trưởng)”. Nhưng thực tế là có rất ít người đạt được như vậy. Phần đông người ta đã bỏ giấc mộng đó từ sớm, đã thôi học từ bậc tiểu học.
Thời hậu chiến, thanh thiếu niên Nhật ít người còn ôm những giấc mộng lớn không tưởng nữa. Họ bằng lòng với một giấc mộng nhỏ: đó là tốt nghiệp một đại học hạng nhất rồi vào làm cho một công ty hạng nhất. Chính vì như vậy, mà đông người có thể cùng có chung một giấc mộng được. Trong đám người như vậy, sự hiện diện của một vị anh hùng ít học như Matsushita Konosuke, đã cho người ta một lời bào chữa kỳ diệu. Họ nói: tụi tôi đeo đuổi giấc mộng cỏn con bằng cách chăm lo học thi, trở thành người xí nghiệp, nhưng quyết không hề coi thường hay miệt thị những người ít học. Hãy coi Matsushita Konosuke, không thấy toàn dân Nhật kính trọng ông đó sao?
Giấc mộng Mỹ (American Dream) là ai cũng có thể thành công lớn, ai cũng có thể trở thành đại phú hào. Ðó là giấc mộng từ ngôi nhà tranh thành tổng thống (Abraham Lincoln) hoặc từ một cái vali hành lý thành đại doanh gia, tức là giấc mộng xuất phát từ những cá nhân thành công.
Giấc mộng Nhật Bản (Japanese Dream) thì khác. Ðó là: học luyện thi, đậu trường đại học kha khá, vào làm công ty kha khá hay cơ quan công quyền để có cuộc sống ổn định, không lo bị sa thải, có tiền tiêu vặt, có nhà riêng. Rồi giá bất động sản tăng lên thì cũng trở nên giầu có vừa vừa. Ðó chính là một giấc mộng xã hội bình thường, mà Matsushita Konosuke ấp ủ với chế độ làm thuê suốt đời và chế độ phân tán quyền hạn của đường lối kinh doanh Nhật Bản thời hậu chiến.
Ðẻ ra “người xí nghiệp” và “xã hội chức lộc”
Như nói trên, thành tựu thứ ba của Matsushita Konosuke là “Kinh doanh kiểu Nhật”. Hình thức kinh doanh này lan rộng ra đã đẻ ra “người xí nghiệp” và “xã hội chức lộc”.
Với thành công ở công ty Matsushita Denki Sangyo, Matsushita Konosuke lý luận rằng mỗi xí nghiệp nên áp dụng đường lối thuê người suốt đời. Trong thời kỳ trước chiến tranh và ngay trong khoảng mười năm sau chiến tranh, hầu hết các nhà kinh doanh khác ở Nhật Bản đều phủ nhận đường lối đó. Họ vẫn tiếp tục đường lối sa thải tùy ý trong kinh doanh. Vì thế, đã xảy ra nhiều cuộc đấu tranh gay gắt của người lao động, như vụ Shimoyama [5] và vụ Matsukawa [6] của Hệ thống đường sắt quốc doanh, hay những vụ khác như vụ đình công của ngành điện cơ, vụ ngày Lao động đẫm máu, v.v..
Thế rồi, kinh tế Nhật Bản phục hồi nhanh chóng. Năm 1950, cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Các xí nghiệp Nhật Bản bắt đầu tích cực giữ người làm. Thế rồi từ năm 1955 thì chế độ thuê người suốt đời mới bén rễ. Nghĩa là sự việc đã đúng như “Matsushita Konosuke đã nói”.
Những nước công nghiệp tiến bộ phương Tây như Anh, Ðức, Mỹ, tất cả đều có một thời kỳ kinh tế phát triển mạnh. Ðó là thời kỳ các công nghiệp đại quy mô thành hình, hệ thống lưu thông vật tư và giao thông được hiện đại hóa. Trong quá trình ấy, xã hội địa vực và chế độ gia đình bị băng hoại, thành thị tràn đầy những người “lao động tự do”. Nhưng sự phát sinh ra “người xí nghiệp” và “xã hội chức lộc” như ở Nhật Bản, thì không thấy có ở nước nào khác cả.
Tại sao như vậy? Ðó là vì trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng cao độ sau chiến tranh, thanh niên nông thôn đã đổ xô ra thành thị, làm trong các xí nghiệp, ở trọ trong ký túc xá hay chung cư của xí nghiệp. Vì thế, một mặt thì cộng đồng xã hội địa vực ở nông thôn bị “băng hoại”, mặt khác cộng đồng địa vực ở thành thị lại không thành hình. Do đó, đám người lao động từ nông thôn ra thành thị chỉ có nơi làm việc để nương tựa cho nên họ bám chặt lấy xí nghiệp.
Như vậy đó là lý do khách quan làm cho người Nhật thời hậu chiến phát triển thành “người xí nghiệp”. Thêm vào đó, là chủ trương của Matsushita Konosuke cộng đồng hóa xí nghiệp thành nơi làm việc suốt đời. Như vậy đủ làm cho người Nhật có ý thức quy thuộc thân phận vào xí nghiệp. Xí nghiệp cũng lợi dụng ý thức đó cổ võ cho lòng trung thành đối với xí nghiệp.
Xí nghiệp xây ký túc xá cho người làm công từ thôn quê ra. Xí nghiệp chuẩn bị đầy đủ cơ sở an sinh phúc lợi, khuyến khích và tài trợ các hoạt động câu lạc bộ như câu lạc bộ thể thao, câu lạc bộ nghệ thuật cắm hoa, câu lạc bộ giải trí, v.v.. Ðể mua hàng, thì xí nghiệp tổ chức hợp tác xã bán hàng hóa với giá rẻ cho người làm công. Ði du lịch thì ở trọ ngay các cơ sở nghỉ ngơi của xí nghiệp, vừa rẻ vừa tiện lợi. Tóm lại, xí nghiệp làm mọi cách giữ người lại cho mình.
Kinh doanh kiểu Nhật Bản như vậy là do Matsushita Konosuke nghĩ ra và thực hiện trước nhất. Rồi sau khi “thể chế năm 55” được xác lập thì kiểu kinh doanh như vậy lan rộng ra toàn nước Nhật, và dần dần trở thành “đặc điểm Nhật Bản”.
Kết quả là “người xí nghiệp” không giao thiệp với người ngoài xí nghiệp. Họ trở nên kinh sợ đối với vấn đề chuyển đổi nơi làm việc, vì sợ mất hết bạn đồng nghiệp, mất hết bạn chơi.
Nói một cách tượng trưng, “xã hội chức lộc” do “người xã hội” tạo thành, là nơi dù gặp khó khăn cũng không sa thải nhân viên, như Matsushita Konosuke đã làm trong thời kỳ đại khủng hoảng kinh tế. Sự kiện Matsushita Konosuke không sa thải người trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, ít nhất cũng đã trở thành truyện “thần thoại” có hiệu quả lớn đối với sự xác lập của hình thức kinh doanh Nhật Bản.
Tạo ra ảo tưởng coi doanh gia là “tài giỏi”
Ðiều thứ tư, là sự kiện Matsushita Konosuke một mặt thực hiện hết lý tưởng nọ tới lý tưởng kia của mình, mặt khác đã đề xuất nhiều cải cách, đã phát sinh ra ở Nhật Bản thời hậu chiến một xu hướng coi “doanh gia là tài giỏi”.
Ai ai cũng nhìn nhận Matsushita là một doanh gia vĩ đại. Ông không dừng lại ở vị trí một doanh gia, ông còn đề xuất nhiều cải cách được mỗi người hưởng ứng, lôi kéo sự chú ý của đại chúng.
Thật ra, người như Matsushita Konosuke khó có thể tìm thấy được người thứ hai. Ở bất cứ nước nào, doanh gia là người kinh doanh xí nghiệp sao cho thu được nhiều lợi nhuận. Những doanh gia thành công, đã đem một phần tài sản của mình ra trả lại xã hội bằng cách ủng hộ, tài trợ các loại hình nghệ thuật, giúp làm sạch đẹp thành phố, xây dựng cơ sở từ thiện, thì có rất nhiều.
Thế nhưng, một doanh gia hiện dịch đã có ảnh hưởng xã hội như một triết gia, có tiếng nói làm mỗi người tin nghe, tạo ra trong xã hội lề lối tham khảo ý kiến doanh gia, là điều đặc trưng của xã hội Nhật Bản thời hậu chiến.
Ngày nay, ở Nhật Bản, những ủy ban tư vấn, những hội đồng thẩm nghị, những sự kiện quốc tế đều có một doanh gia đứng làm chủ nhiệm. Ðiều này đã trở thành thông lệ.
Thời trước chiến tranh, doanh gia bị coi là chỉ biết đến lợi riêng chứ ít nghĩ tới công ích. Do đó, những chức chủ tịch ủy ban, hội đồng có tính cách công cộng, không bao giờ tới tay các nhà kinh doanh cả. Trước hết là quý tộc, rồi đến những người có kinh nghiệm lập pháp và hành chính, tức là những người xuất thân từ quan trường rồi trở thành nghị viên thượng viện (viện quý tộc), sau đó là các tướng lĩnh hồi hưu hay các giáo sư đại học.
Ở nước ngoài thì ngay ngày nay vẫn vậy, hàng đầu là dòng dõi vương tộc hay quý tộc, thứ đến là các nhà tôn giáo hay cựu quân nhân, sau đó mới là học giả, trí thức, văn nhân. Những nhà kinh doanh xí nghiệp thường chỉ được tham khảo ý kiến mà thôi.
Ví dụ, năm 1992 Hội chợ quốc tế đã được tổ chức ở Sevilla, tôi (Sakaiya Taichi) giữ nhiệm vụ giám đốc tổ chức gian hàng Nhật Bản. Nhìn qua danh sách ủy viên các nước khác có nhiệm vụ tương đương, thì thấy nào là vương tộc, nào là quý tộc, rồi nhà tôn giáo, cựu quân nhân. Các nước châu Âu nước nào cũng như vậy cả. Hoa Kỳ thì thay cho vương tộc quý tộc là những người thuộc dòng dõi đại phú hào (như Rockefeller, Ford,...) chứ không thấy bóng một nhà kinh doanh nào cả. Các nước khác cũng tương tự.
Ở Nhật Bản sau chiến tranh, những cựu quân nhân thuộc lực lương phòng vệ Nhật Bản ít có khi nào được coi là người có học thức từng trải, trừ những trường hợp vô cùng đặc biệt. Nhà tôn giáo thì không bao giờ được kể đến. Rốt cục chỉ còn doanh nhân và cựu quan chức. Trong số này, doanh nhân thường ngồi ở ghế chóp bu. Ví dụ, Hội đồng thẩm nghị kinh tế, Hội đồng thẩm nghị di chuyển chức năng thủ đô, Ủy ban khắc phục hậu quả động đất Hanshin - Awaji, v.v., tất cả đều có chủ tịch là chủ tịch Keidanren, chủ tịch Kankeiren hay chủ tịch Doyukai (tất cả đều là đoàn thể doanh gia).
Sở dĩ như vậy một phần là quả thật có nhiều nhà kinh doanh tài giỏi, nhưng cũng một phần là vì hình ảnh vị anh hùng dân tộc Matsushita Konosuke quá ấn tượng. Ông không hề giữ một chức vụ công cộng nào cả nhưng ông đã có những lời “phát biểu tốt”. Nhất là những năm cuối đời, ông đã rời xa khỏi vấn đề lợi ích của xí nghiệp mà phát biểu từ quan điểm cao xa, rằng xí nghiệp phát triển là lợi ích chung cho quốc gia dân tộc. Quan điểm này đã thấm sâu vào mỗi tầng lớp xã hội. Kết quả là mỗi người cho rằng các nhà kinh doanh xí nghiệp có con mắt nhìn bao quát thiên hạ.
Sự đánh giá quá cao như vậy một mặt là niềm hạnh phúc cho giới doanh gia, đồng thời mặt khác lại là một gánh nặng cho họ.
Ðã đến lúc vượt qua ảnh hưởng của vĩ nhân
Matsushita Konosuke mất tháng 4 năm 1989, tức là chỉ bốn tháng sau khi niên hiệu Showa chấm dứt. Thật là một nhà kinh doanh tiêu biểu cho sự vinh quang của thời Showa, đã sống và chết với thời đại đó. Có thể nói, ông đã sống một thời đại xứng đáng với một triết gia có chủ trương rằng sự phát triển của xí nghiệp phải gắn liền với hạnh phúc của quốc dân.
Nhưng, những gì Matsushita đã làm, có nhiều cái không còn hợp với thời đại ngày nay nữa. Ðã đến lúc cần có cái gì khác vượt lên trên ảnh hưởng do ông để lại cho thời đại Showa.
Vậy thì lý tưởng và hệ thống do Matsushita đưa ra, ngày nay vấp phải hạn chế nào?
Năm 1930, từ lúc Matsushita bắt đầu sản xuất đại trà kể từ radio “Kiểu trúng giải”, thì chế tạo đại trà sản phẩm quy cách tốt, rồi bán nhiều sẽ làm cho giá hạ xuống và sản phẩm được phổ cập. Ðó là đúng nguyên lý công nghiệp hiện đại. Matsushita đã quan niệm được điều đó một cách hoàn toàn đúng. Phương thức sản xuất đại trà theo quy cách đã tiếp tục được áp dụng trong thời hậu chiến cho đủ mỗi sản phẩm, từ TV, tủ lạnh, thậm chí máy vi tính...
Nhưng gần đây, sự sản xuất đại trà theo quy cách dần dần đã vấp phải hạn chế. Ðó là quan niệm đối với sự chế tạo đồ cứng. Chứ đối với đồ mềm [7] thì sự sản xuất đại trà theo quy cách có giá trị ít, thậm chí có nhiều chỗ không nên làm. Thời đại tin học đòi hỏi đồ mềm hơn là đồ cứng, phẩm chất hơn là số lượng.
Matsushita Konosuke và công ty Matsushita Denki Sangyo là nhà vô địch về sản xuất đại trà theo quy cách, là tượng trưng của thời đại công nghiệp tiên tiến. Nhưng Nhật Bản ngày nay đã vấp phải giới hạn. Nếu chỉ đơn thuần là vấn đề sản xuất đại trà theo quy cách, thì các nước châu Á có nhân công rẻ hơn Nhật Bản, cũng làm được.
Thứ hai là giới hạn của phương pháp kinh doanh kiểu Nhật Bản. Nhất là thể chế thuê người suốt đời khó mà duy trì được trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế đang diễn ra khốc liệt. Thể chế thuê người suốt đời chỉ hữu hiệu trong điều kiện kinh tế phát triển mạnh, xí nghiệp liên tục tăng trưởng, dân số gia tăng và sức lao động trẻ có nhiều. Thời đại Showa chính là thời kỳ như vậy cho nên thể chế thuê người suốt đời mới thành công. Tuy nhiên, từ khi bước vào thời đại Heisei (từ năm 1989), số nhân viên cao tuổi có lương lớn tăng lên, và xí nghiệp gặp phải những khó khăn sâu sắc. Ở Nhật, năm 1995 là năm mà tỷ lệ dân số trẻ lên tới tột đỉnh rồi từ đó bắt đầu giảm dần đi. Vì thế, chế độ thuê người suốt đời đã tới giới hạn.
Thứ ba, Matsushita Konosuke đã nêu ra “triết lý cần cù” của thế kỷ XX. Nhưng bây giờ là lúc phải xem xét lại. Thế kỷ XX có nhiều tư tưởng hay ý thức hệ nhưng tựu trung có thể gom thành ba loại. Thứ nhất là “chủ nghĩa cần cù có hiệu suất” mà Henry Ford chủ trương khi chế tạo ôtô, hay Matsushita Konosuke thuyết giảng khi sản xuất đồ điện gia dụng. Tư tưởng đó là làm việc với hiệu suất cao để gia tăng sản xuất, và nhờ đó mỗi người được hạnh phúc. Thứ hai là “chủ nghĩa bình đẳng về kết quả”. Ðây là lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Thứ ba là “chủ nghĩa khoái lạc”, chủ trương giải trí vui chơi, làm cho mỗi người vui vẻ, thoải mái, kiểu vua hài Charles Chaplin, kiểu vua phim hoạt hình Walt Disney, kiểu nhạc rock The Beatles, v.v.. John Lehnon, một thành viên của nhóm The Beatles này là, đã nói: “Nghĩ cho cùng, tôi chỉ quan tâm đến Yêu và Hòa Bình”.
Trong thế giới sau chiến tranh lạnh, chủ nghĩa khoái lạc này đã lan tràn và trở nên một sức mạnh đáng nể. Chủ nghĩa cần cù có hiệu suất cao kiểu Ford-Matsushita cần phải thay hình đổi dạng thế nào để thích nghi với tình huống này. Ðại diện cho chủ nghĩa hiệu suất cao, Matsushita Konosuke có niềm tin chắc chắn rằng “là nhà cung cấp, công ty Matsushita Denki Sangyo cương quyết cung cấp sản phẩm tốt nhất”, nhưng ông lại nghĩ rất ít về sự lựa chọn của người tiêu dùng.
Tóm lại, đối với người Nhật trong thời đại Heisei này, cái gì nên giữ lại và cái gì nên vượt qua trong ảnh hưởng của Matsushita Konosuke, con người vĩ đại tượng trưng cho thời đại Showa, là đề tài phải suy nghĩ.


Chú thích:
[1] Nguyên văn “Ima Taiko”, tức là vị “Thái cáp đời nay”. Thái cáp là từ tôn xưng quan tể tướng. Ở Nhật Bản, khi nói đến Taiko người ta thường ám chỉ Toyotomi Hideyoshi, một người cũng xuất thân đi ở đợ sau làm đến tể tướng (1537-1598).
[2] “Chia màn cửa” là dịch nguyên văn từ Noren-Wake. Noren là tấm màn vải viết tên và nhãn hiệu của nhà hàng treo ngay cửa vào nhà hàng. Người làm công lâu năm sau khi đã lên tới hàng quản gia, được chủ cho phép ra mở tiệm riêng và được phép dùng thương hiệu của chủ. Việc cho phép như vậy gọi là Noren Wake.
[3] “Tiền thôi việc” là dịch từ Taishoku-Kin. Taishoku-Kin là một món tiền lớn mà một người làm công lâu năm nhận được vào lúc thôi việc. Thông thường số tiền này được tính theo tỷ lệ mỗi năm thâm niên được từ một tới vài tháng lương, tùy theo số năm làm việc ít hay nhiều. Một người có thâm niên hai ba chục năm, có thể được lĩnh món tiền thôi việc lên tới năm bảy chục tháng lương. Món tiền này biệt lập với tiền hưu trí.
[4] Ðại Ðông Á Cộng Vinh Quyển, là khái niệm xây dựng một khối thịnh vượng chung rộng lớn bao trùm từ Trung Quốc, Mãn châu cho tới hết Ðông Nam Á, đuổi hết người da trắng (Âu Mỹ) đi, hòa hợp tất cả các dân tộc Á châu lại với nhau lấy Nhật Bản làm minh chủ. Ðây là lý luận chính đáng hóa cuộc chiến tranh chiếm đoạt thuộc địa của Nhật Bản trong thời kỳ cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
[5] Tháng 7 năm 1948, trong lúc nội các Yoshida đang cắt giảm bớt biên chế của hệ thống đường sắt quốc doanh Nhật Bản, thì người ta tìm thấy thi thể của Shimoyama Sadanori, tổng giám đốc hệ thống đường sắt này, bị vứt bỏ trên tuyến đường sắt Joban. Hai thuyết, tự sát và tha sát, đã đối lập với nhau trong vụ này.
[6] Ngày 17 tháng 8 năm 1949, xe lửa bị lật đổ ở gần ga Matsukawa trên tuyến Tohoku Honsen. Một số người hoạt động công đoàn đấu tranh phản đối sự cắt giảm biên chế, đã bị đưa ra tòa xét xử. Phán quyết của tòa sơ thẩm và tòa thượng thẩm đều là có tội, song đến tòa tối cao thì tất cả đều được trắng án.
[7] Ðồ cứng, đồ mềm là dịch từ hardware và software của Anh ngữ. Nó tương tự như phần cứng phần mềm. Nhưng phần cứng và phần mềm chỉ áp dụng được cho hardware và software của máy vi tính thôi. Ở đây, đồ cứng, đồ mềm được dùng với ý nghĩa bao quát hơn. Ví dụ: Một bức danh họa tuy được vẽ trên vải bố, tức là một đồ cứng, nhưng cái giá trị của nó không phải là miếng vải bố, mà là những đường nét vẽ, cho nên phải coi nó là một đồ mềm. Giá trị của một cuốn tiểu thuyết hay cũng vậy, không phải là ở khía cạnh cứng của nó, tức là ở giấy in tốt ở mực in đẹp, mà là ở nội dung, ở văn chương, tức là ở khía cạnh mềm. Vậy phải coi đó là một đồ mềm hơn là một đồ cứng.


IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 97415
Has thanked: 35596 times
Have thanks: 48887 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: July 3rd, 2018, 11:46 am
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Previous

Return to History & Culture | Lịch Sử & Văn Hóa

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest