Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến

Tin tức dưới dạng phóng sự và khám phá

Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến

Postby Duong Nam Anh » March 22nd, 2015, 10:06 am

Kỳ 1 : Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến
“Chúng ta có thể thua quân sự, nhưng sẽ không thua về kinh tế”, mệnh lệnh của Nhật Hoàng Hirohito đã kéo theo chiến dịch vơ vét tài sản của Nhật trong thế chiến 2, để lại nhiều truyền thuyết về “kho báu Nhật”.


Image


Đi tìm chân lý



Những tháng khép lại của cuộc chiến tranh thế giới lần II, trong khi tướng Yamashita Tomoyuki cầm cự với quân Đồng Minh tại vùng núi hiểm trở trên đảo Luzon – Philippines, một vài thành viên cao cấp của hoàng gia Nhật đang bận bịu chỉ huy chôn giấu gần đó hàng trăm tấn vàng trong các đường hầm sâu hơn 67m dưới lòng đất… Nửa đêm, họ lẻn ra ngoài và kích nổ những quả mìn khóa chặt lối ra vào, chôn sống tất cả kỹ sư, tù binh cùng với số của cải trong đó” – (Trích “Những chiến binh vàng”).

“Kho tàng Yamashita” – gọi theo tên của tướng Yamashita – suốt hơn nửa thế kỷ là sự ám ảnh của rất nhiều thợ săn kho báu trên thế giới. Bản thân Yamashita bị quân đội Mỹ hành hình ngày 23 tháng 2 năm 1946 vì tội ác chiến tranh. Người ta tin rằng số vàng và hiện vật người Nhật chôn giấu tại Philippines lên đến 300.000 tấn, vốn là tài sản của các nước Châu Á, họ định sẽ tìm cách mang chúng về nước sau khi chiến tranh kết thúc.
Dù “Kho tàng Yamashita” luôn nằm sau màn sương mờ và sự phủ nhận của không ít nguồn thông tin, hai nhà sử học người Mỹ Sterling Seagrave và Peggy Seagrave đã tìm ra manh mối.

Lần theo dấu vết của vàng



Có một sự thật là từ trước đến nay không ai biết được có bao nhiêu vàng được cất giữ trên thế giới. Không ai biết người Tây Ban Nha đã lấy bao nhiêu vàng từ Châu Mỹ, vì một khi cập cảng Châu Âu, phần lớn chúng được chuyển cho các gia tộc tài chính lớn của Cựu Lục Địa, như Fuggers hay Welsers, những người tài trợ cho công cuộc chinh phục Mexico và Peru. Hay cũng không ai biết chính xác số của cải mà các gia tộc như Rockefellers, Rothchilds, Krupps, Warburgs hoặc Oppenheimers sở hữu, trừ một điều là họ đã giàu có từ rất lâu.

Image
Người Tây Ban Nha đã vơ vét rất nhiều từ Tân thế giới


Các gia đình hoàng tộc lớn từ Châu Á đến Trung Đông, các mạng lưới giao thương, và cả các tập đoàn thuộc thế giới ngầm đều nắm giữ những bí mật tài chính của họ. Tạp chí Forbes năm 2012 dẫn một nghiên cứu của tổ chức “Vì Bình Đẳng Thuế” (Tax Justice Network) của Anh cho rằng ngày nay số tài sản tầng lớp siêu giàu cất giấu trên thế giới ở trong khoảng 21 – 31 ngàn tỷ đô la. Chúng nằm trong nhiều tài khoản ngân hàng bí mật tại các quốc gia như Thụy Sĩ hay quần đảo Cayman. Để dễ hình dung, con số nhỏ nhất 21 ngàn tỷ, theo Forbes, tương đương với tổng GDP của hai siêu cường Mỹ và Nhật cộng lại.

Với số tài sản “của hồi môn” chiến tranh, các nhà sử học có bằng chứng cho thấy các nhóm chuyên nghiệp tháp tùng đoàn quân viễn chinh Nhật đã vơ vét một cách có hệ thống các ngân khố, nhà băng, xí nghiệp, bảo tàng nghệ thuật, nhà riêng… những quốc gia mà chúng đi qua. Trong khi đó, các Bố già Nhật “khoắng” hết thế giới ngầm từ Đông đến Đông Nam Á. Hoạt động này đặc biệt được đẩy mạnh về mặt quy mô lẫn tổ chức sau khi người Nhật thấy rõ một thất bại quân sự không thể tránh khỏi trong cuộc Đại chiến. Chính sách này được đích thân Nhật Hoàng Hirohito nêu rõ trong văn bản “Các nguyên tắc hoạt động của chính quyền quân sự tại vùng chiếm đóng phía Nam” tháng 3 năm 1942. Hoshino Naoki, một cố vấn cao cấp của Hirohito từng nói: “Không có giới hạn nào cả. Đây là tài sản của kẻ thù. Chúng ta có thể lấy hoặc làm bất cứ gì chúng ta muốn”.

Có hai con đường để chuyển số của cải này về Nhật: Một là qua bán đảo Triều Tiên, hai là bằng đường biển. Chiến lợi phẩm từ Đông Nam Á chỉ có thể đi bằng tàu vì mãi đến đầu năm 1944 Nhật vẫn chưa kiểm soát được tuyến đường bộ băng qua Trung Quốc nối Đông Nam Á. Manila trở thành điểm tập kết hợp lý để sắp xếp và chọn lọc trước khi theo các con tàu về nước.

Vài tháng sau chiến dịch Trân Châu Cảng, người Nhật vẫn hy vọng rằng dù chiến tranh kết thúc như thế nào họ vẫn sẽ giữ được Philippines và Indonesia. Nhưng niềm tin đó nhanh chóng tan biến sau thất bại quân sự giữa năm 1942.

Image
rân Châu Cảng dưới bom đạn của Nhật năm 1941


Đến đầu năm 1943, hạm đội tàu ngầm Mỹ đã chặn hoàn toàn con đường trên biển, vì thế các con tàu Nhật không thể vượt qua được Philippines. Tìm một nơi để cất giấu tài sản trở thành nhiệm vụ cấp bách. Lời đồn về các kho tàng của quân Nhật rải rác trên khắp Đông Nam Á có lẽ ra đời từ đây, kho báu núi Tàu ở Việt Nam hay kho báu Yamashita là hai trong số đó.
Nhưng trước hết cần quay ngược dòng lịch sử để hiểu thêm về nguồn gốc những tài sản xuất hiện đột ngột sau chiến tranh.

Vàng máu



Đằng sau các chiến dịch quân sự rầm rộ của phát xít Nhật luôn ẩn chứa những mưu đồ khác, ban đầu thầm lặng nhưng sau đó trở nên không thể kiểm soát. Vụ cưỡng bức tập thể ở Nam Kinh năm 1937 là một ví dụ: khoảng 300.000 dân thường bị giết bởi các lực lượng của Nhật, từ 20.000 đến 80.000 phụ nữ đủ mọi lứa tuổi bị cưỡng hiếp tập thể trước sự chứng kiến của các nhà ngoại giao nước ngoài, một số người thậm chí còn kịp ghi hình lại.

Nếu sự kiện Nam Kinh chỉ diễn ra một lần thì đó là một chuyện, nhưng rất nhiều vụ việc tương tự xảy ra trong suốt cuộc chinh phạt chớp nhoáng của Nhật diễn ra ở Đông và Đông Nam Á. Vậy tại sao sau khi đã chiếm được vùng lãnh thổ quân Nhật lại hành hạ thường dân hay những người có tiền bạc, tài sản? Câu trả lời nằm đằng sau cái bóng của quân đội. Rất ít sử sách nghiên cứu về vai trò của thế giới ngầm hay còn gọi là xã hội đen, các học giả ít khi tiếp cận với nó. Trong trường hợp của Nhật phải tính đến vai trò của thế lực đặc biệt này vì nó thâm nhập sâu và có ảnh hưởng đến cấu trúc quyền lực.

Image
Một binh sĩ Nhật trong trận thảm sát Nam Kinh 1937


Bán đảo Triều Tiên là mục tiêu đầu tiên quân Nhật cướp phá trên diện rộng sau sự kiện hoàng hậu Min bị ám sát tại Seoul tháng 10 năm 1895. Hai hội kín Hắc Hải và Hắc Long đã tham gia vụ mưu sát này, chúng hoạt động như những tổ chức bán quân sự, chuyên thực hiện những công việc bẩn thỉu mà chính quyền phát xít có thể dễ dàng chối bỏ sự liên quan.

Từ các tác phẩm nghệ thuật vô giá cho đến những thứ bình thường nhất như lương thực, bán đảo Triều Tiên không được chừa lại thứ gì. Sau khi vơ vét các tư dinh, khoảng 2000 lăng mộ bị khai quật, toàn bộ những món đồ sứ cổ, sách quý, tượng phật, vòng vàng, nữ trang… bị tịch biên và chuyển về Nhật, hầu hết chúng rơi vào những bộ sưu tập cá nhân và không bao giờ được công chúng nhìn thấy. Buồn hơn hết, hàng trăm ngàn phụ nữ Triều Tiên và sau này là các nước khác như Trung Quốc bị bắt làm nô lệ tình dục.

Sau Triều Tiên đến vùng Mãn Châu và Trung Quốc đại lục là đích đến của những trận càn quét và cướp bóc. Đến năm 1936, Mãn Châu tràn ngập bởi thuốc phiện và bị lũng đoạn bởi các băng đảng và đạo quân Quan Đông khét tiếng. Dù Nhật thất bại về chiến lược phát triển vùng đất này thành căn cứ địa kinh tế, tiền bạc vẫn chảy đều vào túi tầng lớp chỉ huy.

Sau vụ thảm sát Nam Kinh 1937, giới lãnh đạo chóp bu Nhật bắt đầu lo lắng về việc mất kiểm soát khía cạnh tài chính của các chiến dịch chinh phạt, giữa bối cảnh các sĩ quan chỉ huy, quân lính tranh nhau món của hồi môn chiến tranh. Vàng, đồ cổ, tác phẩm nghệ thuật… làm sao kềm chế được họ? Đó là chưa kể đến các băng đảng Yakuza tràn ngập trên các vùng bị chiếm đóng, tạo nên giang sơn khủng bố riêng của chúng.

Image
Hoàng thân Yasuhito Chichibu


Chính vào lúc này, tổ chức mật “Loa kèn vàng” (kin no yuri) ra đời theo lệnh của Nhật Hoàng Hirohito; “Loa kèn vàng” là tên một bài thơ của ông. Tổ chức này nằm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hoàng Thân Yasuhito Chichibu và những nhân vật thân thích thuộc hoàng gia. Nhiệm vụ của “Loa kèn vàng” là vơ vét và xử lí các tài sản cướp được trên khắp Châu Á; thành viên của nó bao gồm những bộ óc tài chính, các chuyên gia thẩm định đủ mọi lĩnh vực từ văn hóa đến tôn giáo xuất sắc nhất của Nhật, theo sau họ là một bộ máy hùng hậu kế toán viên, kiểm kê, vận chuyển, một số đơn vị quân đội, hải quân…
Những năm về sau, chính tổ chức này sẽ lo hậu sự cho kho báu Yamashita khi Đại chiến thế giới sắp khép lại.

(Còn tiếp)
Minh Trung

For this message the author Duong Nam Anh has received thanks:
canh_n2000
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 8.1 Chrome

Re: Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến

Postby Duong Nam Anh » March 22nd, 2015, 10:14 am

Kỳ 2 : Cuộc chiến bẩn thỉu
Ngô Tái Tân là một thương gia gốc Phúc Kiến làm ăn ở Ipoh, Malaysia. Ngô kiếm được một gia tài nhờ đúc vàng cho tổ chức “Loa kèn vàng”, cướp được ở Myanmar và Thái Lan. Nửa thế kỷ sau, hàng trăm thỏi vàng do Ngô sản xuất được tìm thấy trong một hang động trên đảo Luzon – Philippines bởi bộ lạc Igorot. Từ đây, gốc tích của số kim loại dần được phơi bày.


Chiến dịch Đông Nam Á



Vài ngày sau trận chiến Trân Châu Cảng, quân Nhật nhanh chóng chiếm Thái Lan và đổ bộ lên bán đảo Mã Lai. Chỉ trong 5 tháng sau đó Nhật kiểm soát hoàn toàn Đông Nam Á. Tuy nhiên, tình hình chiến sự năm 1942 đẩy Nhật vào thế phải hành động nhanh để tránh một thất bại cả về quân sự lẫn tài chính.

Image
Ngô Tái Tân


Sau khi Singapore thất thủ, Hoàng thân Chichibu thiết lập tại đó tổng hành dinh “Loa kèn vàng”. Ông ta vi hành lên phía Bắc đến trung tâm tài chính Kuala Lumpur và đảo Penang, nơi tập kết và quá cảnh của các tài sản cướp được. Tại Ipoh, Chichibu bắt tay với các nhà máy xử lý kim loại của người Hoa, Ngô Tái Tân là một trong số đó, để biến số vàng nữ trang thành những khối vàng dễ vận chuyển. Những thỏi vàng đủ mọi hình dáng từ Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar được chở bằng tàu hỏa đến Ipoh hoặc bằng các phương tiện chuyên dùng đến Penang hoặc Singapore.

Mặc dù đã được cảnh báo, cuộc tấn công chớp nhoáng của quân Nhật vẫn khiến các chính phủ, ngân hàng và người dân Đông Nam Á trở tay không kịp. Lực lượng của “Loa Kèn Vàng” hay còn gọi là Kempeitai nhanh chóng tịch thu tất cả tài sản và phá hủy những gì còn lại.

Carlos Romulo, sau này là đại sứ Philippines tại Liên Hiệp Quốc, kể lại những gì diễn ra trên đảo Leyte: “Xe tải quân sự ập đến từng nhà, quân lính xông vào lấy tất cả những gì có chút giá trị, và ném ra ngoài cửa sổ những thứ còn lại hoặc đốt chúng. Tất cả của cải được chở bằng tàu về Nhật, bỏ lại một Philippines tan hoang, trơ trụi”.

Image
Quân Nhật đang tiến vào Philippines. Ảnh: Wikispaces


Ngoài tài sản cá nhân, các ngân hàng là mục tiêu quan trọng bị dòm ngó trước tiên. Việc “dọn dẹp” các kho tiền này được người Nhật tổ chức một cách rất kỹ và có hệ thống. Công việc được thực hiện bởi Ngân hàng trung ương Nhật, Ngân hàng trung ương Đài Loan, Ngân hàng Mitsui và Ngân hàng Kanan, dưới sự chỉ đạo của Yamamoto Hiroshi, người đứng đầu Văn phòng các tài sản nước ngoài của Nhật và là nhân viên cao cấp của Ngân hàng trung ương Nhật. “Thành quả” của họ sẽ được chuyển giao cho Hoàng thân Chichibu chuyển về nước.

Ed Jackfert, một cựu tù binh chiến tranh người Mỹ từng bị nhốt ở trại tập trung số 2 tại Kawasaki hồi tưởng lại: “Có dịp tôi bị bắt đi lao động trong một phân đội gọi là Kokusho. Địa điểm là một nhà máy lọc dầu, trước chiến tranh nó thuộc về công ty Standard Oil. Nhiều lần chúng tôi nhận lệnh làm việc trong các nhà kho lớn tại đó. Một điều bất ngờ là chúng tôi phát hiện ra rất nhiều tài sản của các quốc gia Đông Nam Á được tàu Nhật chở đến cất giữ ở đây. Có đến hàng tấn đồng tiền đủ các nước…”.

Nhà báo Jos Hagers của tờ báo Hà Lan De Telegraaf, vốn ra đời trong một trại tù của Nhật ở Sumatra – Indonesia, đã điều tra các hoạt động cướp bóc của quân phiệt Nhật trong giai đoạn này. Hagers gặp một nhân chứng tên là Willemsz Geeroms.

Geeroms chỉ mới 15 tuổi thì một người Nhật, được cho là anh em của Nhật hoàng Hirohito ghé qua trại tập trung của cậu. Trong khi vị Hoàng thân ở đó, người bạn thân của cha cậu, giám đốc chi nhánh Palembang của ngân hàng Java, bị mang vào phòng hỏi cung. Những kẻ chỉ điểm nói với người Nhật rằng ông đã đốt một số lượng lớn tiền giấy và giấu nhiều vàng để tránh bị tịch thu. Khi từ chối trả lời những câu hỏi, ông bị tra tấn trước sự chứng kiến của mọi người trong đó có Geeroms và qua đời sau đó vì những vết thương.


Tiền đã đi đâu?



Thất bại về chiến lược khai thác kinh tế tại Mãn Châu khiến phát xít Nhật hướng về Đông Nam Á. Gọi là thất bại bởi vì dù chiếm được một số lượng lớn tài nguyên và của cải nhưng chúng lại toàn chảy vào túi riêng, trong khi ngân khố quốc gia ngày càng cạn kiệt vì các chiến dịch quân sự quy mô. Trên thực tế, mô hình này lại một lần nữa lặp lại ở Đông Nam Á.

Joseph Grew, đại sứ của Mỹ tại Tokyo thời kỳ 1932 – 1942 nhận xét: “Thậm chí quân phiệt Nhật cũng không thể nào cướp bóc và chiếm đoạt một cách công khai mãi, họ bắt đầu biến hoạt động đó thành một hệ thống giống như hoạt động tài chính. Nó hao hao như của chúng ta ở các thuật ngữ: tiền mặt, tín dụng, cho vay, chứng khoán, thuế, chuyển khoản… nhưng khác biệt ở chỗ người Nhật điều khiển mọi giao dịch và hoạt động không theo một quy tắc công bằng nào”.

Image
Nhật hoàng Hirohito và Hoàng hậu Kojun. Ảnh: Wikipedia


Sau khi các chiến lợi phẩm được kiểm kê và sắp xếp bởi “Loa kèn vàng”, các hiện vật như vàng, bạch kim, đá quý, tác phẩm nghệ thuật… được đóng thùng để chở tới Manila, còn cổ phiếu, giấy ghi nợ, tín chỉ gửi vàng… được chuyển vào ngân hàng Yokohama hoặc Ngân hàng trung ương Đài Loan, rồi sau đó lại đi tiếp tới các tài khoản của Nhật ở các ngân hàng nước ngoài tại các quốc gia trung lập. Cổ đông lớn nhất của Yokohama chính là Nhật hoàng Hirohito, người nắm 22% cổ phần.

Báo Miami Daily News số ra ngày 30 tháng 10 năm 1945 dẫn một báo cáo của bộ chỉ huy quân Đồng Minh ước tính Nhật hoàng Hirohito sở hữu gần 1,6 tỷ yên (hơn 100 triệu đô la thời điểm đó, khoảng 1 tỷ đô la theo tỷ giá ngày nay) tài sản gồm tiền mặt, vật dụng, gỗ, bất động sản… chưa tính đến số lượng các tác phẩm nghệ thuật, nữ trang, vàng và bạc. Báo cáo cũng chưa bao gồm tài sản của 14 thành viên hoàng gia khác.

Image
Bản tin trên báo Miami Daily


Tuy nhiên, đó chỉ là phần nổi. Phóng viên Paul Manning của Đài CBS, người có cơ hội tiếp cận với một số báo cáo tài chính của Hirohito vào thời điểm cuối của cuộc chiến, lúc này đã bị quân đồng minh tịch thu, thấy rằng tài sản của Nhật hoàng đã bắt đầu được tuồn ra các quốc gia trung lập từ cuối năm 1943, nhằm chuẩn bị cho một thất bại được dự báo trước. Koichi Kido, cố vấn chính của Nhật Hoàng là tổng công trình sư của công cuộc tháo chạy này.

Image
Koichi Kido – cố vấn cho Nhật hoàng Hirohito


Theo kiến nghị của ban cố vấn tài chính gồm giám đốc các ngân hàng hàng đầu của Nhật, ngân quỹ đã được chuyển từ Tokyo đến Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha, Vatican, Nam Mỹ, còn kho vàng dự trữ hoàng gia theo tàu ngầm đến Argentina hoặc Macao, tại đó chúng được chuyển thành ngoại tệ mạnh và tiếp tục hành trình đến Thụy Sĩ qua chuyển khoản.

Thế chiến thứ II vì thế trở thành khoảng thời gian ăn nên làm ra của các quốc gia tài chính trung lập nhờ vào dòng tiền và kim loại quý chảy vào từ các nước tham chiến. Nhà báo Thụy Điển Bertil Lintner, một chuyên gia về Châu Á, ghi nhận các thương gia Macao đã sớm tiến hành mua vàng của các ngân hàng nước ngoài, và bán lại cho bất cứ ai có nhu cầu với giá cao hơn, biến Macao thành một trong những trung tâm mua bán trao đổi kim loại quý ngầm lớn của thế giới vào thời điểm ấy.

Image
Macao thập niên 1870. Ảnh: Macauguide.net


Khi phe đồng minh nhóm họp tại hội nghị Bretton Woods năm 1944 nhằm ngăn chặn việc rửa tiền của phát xít Đức và Nhật thông qua các quốc gia trung lập, một cách nào đó Macao lại thoát khỏi sự chú ý. Đằng sau ấy có một số nguyên nhân và nó liên quan đến số phận của kho báu Yamashita.

(Còn tiếp)
Minh Trung

For this message the author Duong Nam Anh has received thanks:
canh_n2000
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 8.1 Chrome

Re: Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến

Postby Duong Nam Anh » March 22nd, 2015, 10:21 am

Kỳ 3: Vị hoàng thân trẻ tuổi
Đầu năm 1943, lá chắn bằng tàu ngầm của Mỹ ở Philippines đã trở nên bất khả xuyên thủng. Nhiều tài nguyên người Nhật chưa kịp mang về đang nằm tại Manila. Tình thế buộc Hoàng thân Chichibu và các cố vấn phải đi đến quyết định chôn tất cả lại.


Image
Tàu chiến Musashi của Nhật đang rời Brunei tháng 10.1944 cho trận hải chiến trên vịnh Leyte. Ảnh: Wiki



Nhân chứng sốn

g

Ben là tên thân mật của Benhameen, cậu bé sinh tháng 3 năm 1925. Gia đình cậu sinh sống ở vùng đất ẩm thấp Pangasinan, phía bắc Manila. Bố cậu hàng ngày đi làm thuê nuôi gia đình. Tuy nhiên, Ben lại trải qua phần lớn tuổi thơ với người chú ở Dulao, một khu dân cư nhỏ gần Bambang và theo học trường dòng. Ben được dạy đọc, viết và một chút tiếng Anh bởi Cha Disney, một nhà truyền đạo. Hết năm lớp sáu, cậu nghỉ học để dành thời gian giúp chú làm công việc đồng áng. Mùa xuân họ cày bừa, gieo hạt và mùa thu họ thu hoạch.

Khi quân Nhật tấn công Philippines, Ben mới 17 tuổi. Gia đình Ben không thoát khỏi cảnh binh biến. Những kẻ hôi của đã đốt ngôi nhà của họ trong lúc bố cậu đang tham gia lực lượng của Mỹ, ông bị bắt làm tù binh sau đó. Là con cả trong nhà, Ben tìm cách dẫn cả gia đình chạy từ Pangasinan đến Dulao. Trong nhiều tuần lễ họ phải vượt qua vô số trạm gác của lính Nhật, lương thực thiếu thốn và không có một đồng xu trong túi. Họ may mắn đến nơi an toàn trong một đêm tối trời. Không lâu sau, bố của Ben cũng được thả do ông là người bản xứ.

Một ngày mùa xuân năm 1943, trong lúc đang làm việc, Ben gặp nhóm lính Nhật chỉ huy bởi một thanh niên trẻ với cái tên Kimsu Murasuki. Đối với Ben, cuộc gặp gỡ này có ý nghĩa đặc biệt trong đời. Kimsu tỏ ra có hứng thú với cậu bé và đã xin phép gia đình được thuê Ben làm việc cho mình. Sau này, khi đã trở nên thân thiết trong vai trò một người hầu cận, Ben mới biết Kimsu còn có cái tên khác là Takeda Tsuneyoshi. Qua cách hành xử và thái độ của những người xung quanh, Ben hiểu Kimsu là một nhân vật rất có quyền lực.

Một lần, Kimsu tiết lộ anh ta rất gần gũi với Nhật hoàng Hirohito. Sự thật Takeda chính là cháu của Thiên hoàng Minh Trị (1852 – 1912), người đã lật đổ nhà Mạc Phủ và đưa Nhật Bản lên thành một cường quốc. Takeda chỉ đứng sau Hoàng thân Chichibu trong tổ chức “Loa kèn vàng”.

Image
Gia đình Hoàng tử Takeda. Ảnh: Wiki


Trong suốt quãng thời gian đó cho đến khi chiến tranh gần kết thúc, Ben tháp tùng Kimsu đến nhiều nơi trên khắp Philippines, từ trung tâm Manila đến hòn đảo nhỏ như Lubang, họ di chuyển bằng tàu lẫn máy bay. Những địa điểm đó chính là những vị trí các kho tàng đang được xây dựng. Kimsu luôn là người thực hiện công đoạn cuối cùng kiểm tra các kho “hàng hóa” trước khi niêm phong chúng trong các đường hầm.

Ngoài Kimsu còn có các biệt đội khác tham gia những công đoạn chuẩn bị, Ben nhớ được gương mặt của một chỉ huy khác là Hoàng thân Mikasa, người em trẻ nhất của Nhật hoàng Hirohito. Ben khẳng định Mikasa đã hiện diện trên đảo Luzon trong 3 năm, khoảng thời gian đó trùng khớp với gian đoạn ông được bổ nhiệm đến tổng hành dinh Nam Kinh. Tương tự, Hoàng tử Takeda – Kimsu được bổ nhiệm chính thức đến Hà Nội – Việt Nam, nhưng lại có mặt ở Luzon. Điều đó cho thấy nhiệm vụ của họ đang thi hành thậm chí là bí mật ngay trong hàng ngũ của mình.

“Những gì tôi thấy là rất nhiều vàng. Có một bức tượng cậu bé rất to trông giống như đức Phật. Còn hai bức tượng khác lớn cỡ đó và khoảng 25 bức tượng nhỏ hơn. Tất cả chúng đều làm bằng vàng ròng.” – đây là câu chuyện Ben kể cho Seagraves nửa thế kỷ sau, Ben nhận diện được tất cả các nhân vật hoàng gia ông đã từng gặp trong quá khứ qua những tấm ảnh lưu trữ trong thư viện quốc gia Vương quốc Anh.


Từ biệt



Đến mùa hè 1944, một cuộc tấn công của quân đồng minh vào Philippines hoặc Formosa (tên cũ của đảo Đài Loan) đã ở ngay trước thềm. Hạm đội tàu chiến đông đảo của Hoa Kỳ tập trung tại Hollandia – New Guinea chuẩn bị cho trận chiến cuối cùng. Nhật đã bị dồn đến bước đường thậm chí nếu chiến đấu hết mình, giữ được Luzon cũng là một điều khó khăn. Tướng Shigenori Kuroda bị tước quyền chỉ huy tại Philippines và được thay thế bằng tướng Yamashita Tomoyuki.

Image
Tướng Yamashita Tomoyuki. Ảnh: Wiki


Xét về khả năng, tướng Yamashita được đánh giá là một thiên tài quân sự. Trong chiến dịch đánh chiếm bán đảo Mã Lai và Singapore 1942, chỉ với 30.000 quân tinh nhuệ, Yamashita bắt tổng cộng 130.000 tù binh thuộc lực lượng hỗn hợp Anh, Ấn Độ và Úc; biệt danh “Con hổ Malaya” ra đời như thế. Ban đầu, Yamashita quyết tâm phòng thủ miền bắc Philippines bằng mọi giá, một phần trong nỗ lực chặn các cuộc tấn công vào Guam và Okinawa nhằm bảo vệ căn cứ chính. Tuy nhiên, đặt chân đến Manila ngày 6 tháng 10 năm 1944, Yamashita đã không thể làm gì hơn để thay đổi kết quả.

Mười tháng cuối cùng của cuộc chiến, quyết định chọn vùng núi hiểm trở phía bắc Manila làm thành trì chống đỡ cuối cùng xui khiến Yamashita gặp lại người bạn cũ Chichibu, lúc này đang bận bịu đào hang chôn giấu của cải. Hồi thập niên 30, Chichibu từng là một sĩ quan trẻ trong trung đoàn của Yamashita tại Tokyo. “Họ chào nhau như hai người anh em lâu ngày không gặp”, Ben sau này nhận xét.

Cùng tháng 10 năm đó, Ben tháp tùng Kimsu đi kiểm tra các công trình đang gấp rút hoàn thành tại Manila. Tại đây họ gặp Yamashita. Ben để ý giữa Kimsu và ông ta có một sự xa cách. Thời gian này, Yamashita đã đích thân đi thị sát việc xây dựng tại nhiều địa điểm khác nhau. Yamashita hiểu rõ hơn ai hết thời gian đã không còn đứng về phía họ. Trận hải chiến lịch sử trên vịnh Leyte khiến Nhật chịu tổn thất nặng nề, và người Mỹ không hề có ý định cho họ một cơ hội nào nữa kể từ sau Trân Châu Cảng. Đảo Luzon là đích đến tiếp theo.

Ben hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra. Một ngày nọ họ tập trung với nhau trong một túp lều, có nhiều máy bay xẹt ngang bầu trời, Ben nghĩ đó là máy bay của Nhật. “Không, Benhameen, người Mỹ đang đến” – các sĩ quan cười bảo cậu.

Mối quan hệ giữa Ben và Kimsu cũng trải qua một thay đổi lớn khi Kimsu muốn họ phải thực hiện nghi thức cắt máu ăn thề. Theo đó, Ben không bao giờ được nói đến Hoàng thân Chichibu cũng như cái tên Takeda, và không được tiết lộ vị trí các kho tàng với bất kỳ ai, “không người Mỹ, không người Philippines, không quân du kích, không người Trung Quốc hay thậm chí là người Nhật”. Để bảo đảm cho tương lai của Ben, Kimsu chuẩn bị hai chiếc hòm lớn đầy vàng chôn ở một địa điểm kín đáo và cho Ben biết, ngoài ra Kimsu còn đưa cậu một số thỏi vàng nhỏ để sử dụng nhằm tránh gây sự chú ý.
Những ngày tiếp theo là một cuộc chạy đua hối hả, các thành viên hoàng gia gấp rút chôn số của cải còn lại trong khi tướng Yamashita “vừa đánh vừa chạy” kéo dài thời gian. Một buổi tiệc chia tay diễn ra vào buổi chiều ngày 1 tháng 6 năm 1945 với sự có mặt của các kỹ sư và sĩ quan tham gia xây dựng công trình. Ben đi với Kimsu ngày hôm đó chứng kiến họ uống nhiều rượu sake và hát vang những bài ca yêu nước. Trái ngược với quang cảnh đó là hai trăm tù binh nô lệ bị dồn vào một gian phòng dưới sự canh gác nghiêm ngặt của súng máy.

Nửa đêm, Yamashita xuất hiện thông báo Kimsu đã đến lúc phải rời khỏi đó, mặt khác, Ben phải ở lại.

“Tôi đã rất mừng khi Kimsu không cho phép Yamashita làm điều đó, nếu không tôi đã bị bỏ lại. Tôi rất sợ ông ta” – Ben kể.

Họ vừa ra khỏi đường hầm thì một tiếng nổ gầm lên như một quả bom. Yamashita mất hút vào màn đêm. Sau khi dặn dò, Kimsu chia tay Ben tại đó.

còn tiếp
Minh Trung
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 8.1 Chrome

Re: Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến

Postby Duong Nam Anh » March 22nd, 2015, 10:27 am

Kỳ 4: Kẻ cắp đến sau
Năm cuối thế chiến, những người Mỹ chiến đấu bên cạnh quân du kích Philippines đã nhận ra sự khác thường trong các hoạt động đào bới, vận chuyển của Nhật.


Một lần, họ để ý một con tàu y tế tải trọng lớn đang bốc dỡ những chiếc thùng bằng đồng ở vịnh Subic, gần Manila. Chuẩn úy hải quân John C. Ballinger, trong vai một ngư dân, đã tiếp cận và bí mật chụp ảnh từ xa. Con tàu được xác định là tàu chở khách tốc độ cao Fuji Maru, đóng năm 1937, nó đã được ngụy trang thành tàu bệnh viện để chở hàng từ Singapore đến Manila.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, sau khi nhận được thông báo nước Nhật chính thức đầu hàng, tướng Yamashita cùng các sĩ quan cũng tự nộp mình. Vài tháng sau, viên tướng bị treo cổ trong một bản án gây nhiều tranh cãi. Điều gì đằng sau cái chết của Yamashita?


Bên kia chiến tuyến



Văn phòng hoạch định chiến lược (OSS) là tiền thân của Cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA) ngày nay. Nó được thành lập thời kỳ đại chiến thế giới để điều phối các hoạt động tình báo trong lòng địch cho các đơn vị thuộc Lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. Theo nguyên tắc, báo cáo của sĩ quan Ballinger về con tàu lạ cùng với nhiều thông tin tương tự từ các nơi khác thuộc Châu Á phải được chuyển về cho Bộ chỉ huy OSS Thái Bình Dương tại Úc. Ít nhất đó là điều họ tưởng.

Đúng là việc theo dõi hoạt động rửa tiền của phe Phát Xít thuộc trách nhiệm của OSS, bên cạnh các cơ quan chuyên trách khác như Đơn vị điều tra tác phẩm nghệ thuật bị đánh cắp hay Nhóm chuyên trách công trình, tác phẩm nghệ thuật hiếm và tàng thư.
Tuy nhiên, hoạt động của những đơn vị này tại Châu Á bị các sử gia đánh giá là kém hiệu quả hơn so với Châu Âu. Lí do có thể kể đến là sự thiếu hợp tác, rào cản địa lí, văn hóa và ngôn ngữ. Mặt khác, trong khi hoạt động của OSS Châu Âu “dễ thở” hơn dưới quyền của tướng Dwight Eisenhower, thì tại Tây nam Thái Bình Dương, tư lệnh Douglas MacArthur quyết định không ai được “chọc” vào lãnh địa của mình và tự tay thành lập một lực lượng đặc biệt riêng.

Cuối cùng, báo cáo của Chuẩn úy John Ballinger thay vì đến với OSS như ông nghĩ lại rơi vào tay của đơn vị tình báo đặc biệt đứng đầu bởi Courtney Whitney, luật sư riêng và là bạn thân của tướng MacArthur.

Image
Luật sư Courtney Whitney


Whitney đặc biệt hiệu quả trong công tác này bởi mối quan hệ rộng rãi của ông ta ở Manila. Người đàn ông này có vị thế ngang hàng với các gia đình chính trị quyền lực nhất của Philippines.

Tốt nghiệp trường luật tại Washington D.C cuối thập niên 1920, Whitney được MacArthur nâng đỡ và trở thành một cánh tay đắc lực. Đến khoảng thời gian diễn ra Trân Châu Cảng, Whitney đã có ảnh hưởng lớn trong mọi hoạt động chính trị, pháp lý và tài chính tại quốc gia Đông Nam Á này.

Như vậy, mọi nỗ lực giữ bí mật của của Loa Kèn Vàng đã không qua được mạng lưới tình báo quân sự của Mỹ. “Thời điểm đó, kho báu không còn là một bí mật lớn theo chủ ý của người Nhật nữa. Trong lúc vội vã, họ đã phạm sai lầm không đề phòng đầy đủ” – Gene, con trai của Ballinger nhận xét với Seagraves.

Vấn đề ở đây là tuy biết được người Nhật đang cất giấu những thứ giá trị tại Philippines, nhưng vị trí chính xác của chúng cũng như cách xử lý những cái bẫy chết người bên trong vẫn là một thử thách.

Yamashita là một đầu mối tốt vì ông ta biết mọi thứ về kho tàng, tuy nhiên do là một nhân vật quan trọng trước tòa án chiến tranh, việc tra tấn Yamashita để moi thông tin không thể thực hiện được. Thay vào đó, Whitney có trong tay một cái tên khác thích hợp hơn: Thiếu tá Kojima Kashii – tài xế riêng của Yamashita, một người đủ thân cận để biết nhiều thứ và không quá quan trọng để người khác nhận ra sự biến mất của anh ta.
Công việc “tay chân” này được giao cho một sĩ quan tình báo người Mỹ gốc Philippines tên là Severino Garcia Diaz Santa Romana, gọi một cách thân mật là Santy.


Kho báu



Trở lại những ngày Yamashita “nếm mật nằm gai” ở vùng núi đảo Luzon, tại Manila, Đô đốc Iwabuchi Sanji từ chối chấp hành lệnh rút quân và ra lệnh cho 16.000 lính thủy đánh bộ dưới quyền “chiến đấu đến hơi thở cuối cùng”.

Không còn gì để mất, đạo quân này gây ra một cảnh tượng tàn phá khủng khiếp nhất kể từ vụ thảm sát Nam Kinh. Chúng phá hủy 80% công trình nhà cửa của thành phố, tàn sát khoảng một trăm ngàn thường dân Philippines và một ngàn người Mỹ, trong đó có phụ nữ và trẻ em.
Đây trở thành cái cớ để Washington tuyên án tử hình Yamashita vì tội ác chiến tranh dù bản thân ông ta có thể không ra lệnh hoặc không hay biết về chuyện này.

Santa Romana có nhiều lý do để yêu thích cái công việc được Whitney giao phó, trong đó có những gì quân đội Nhật gây ra tại Manila. Vóc người to xương, cao lớn, trán rộng nhô ra, Santy trông như một võ sư Judo đai đen hay một ông thần vừa chui ra khỏi cây đèn cũ kỹ.

Sinh ra tại Luzon, tốt nghiệp đại học ở California, ban đầu lập gia đình với nữ thừa kế giàu có Evangeline Campton và sau đó tái hôn với cô giáo xinh đẹp Juliana Huerto, Santy có một bệ phóng và vỏ bọc hoàn hảo cho sự nghiệp của mình.

Nhưng có lẽ chính Santy cũng không ngờ những gì mình moi được từ Thiếu tá Kojima lại khiến tất cả những thành tựu khác trong đời anh ta trở nên nhỏ nhoi.

Đầu tháng 10 năm 1945, sau nhiều ngày chịu tra tấn, Kojima cuối cùng cũng khai ra tất cả những gì anh ta biết. Được Kojima dẫn đường, Santy cùng một viên chức tình báo khác là Edward G.Lansdale lần theo hành trình Yamashita đã đi qua đến “hàng chục” kho chôn giấu của Loa Kèn Vàng. Chúng nằm rải rác ở các thung lũng cao phía Bắc Manila, trong vùng tam giác từ Baguio ở phía Tây, đến Bambang ở trung tâm và Aparri cực bắc đảo Luzon.
Khi họ trở về Manila vào giữa tháng 10, Lansdale báo cáo với cấp trên của mình là đại tá McMicking rồi tiếp tục bay đến Tokyo gặp Whitney và tư lệnh MacArthur.

Theo chỉ thị của họ, Lansdale quay về Washington thông báo cho tướng Magruder, người khi đó vẫn còn chỉ huy OSS trước khi nó giải tán. Magruder lại yêu cầu Lansdale đến Nhà Trắng báo cáo cho trợ lí của Tổng thống về an ninh quốc gia – Đại úy Clark Clifford và các thành viên nội các. Tổng thống Truman có vẻ đã quyết định giữ bí mật phát hiện này.

Khởi điểm là một nhân viên tình báo không ai biết đến, Lansdale có một bước ngoặt trong sự nghiệp của mình sau phi vụ Yamashita cũng giống như Santy. Đây là một nhân vật của nhiều luồng ý kiến và có một vai trò nhất định, gắn với nhiều biến cố lớn trong lịch sử Chiến tranh lạnh sau này.

Sau cùng , với cái chết của tướng Yamashita, chỉ còn lại rất ít người có được thông tin đầy đủ về kho báu tại Philippines. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, Hoa Kỳ xét xử một vị tướng của một quốc gia bại trận vì tội ác chiến tranh.

Một điều đáng chú ý là tội danh “cướp bóc” hay “tài sản phi nguồn gốc” đều không được nhắc tới trong bản cáo trạng. Hai thẩm phán của Tòa án tối cao Mỹ là Murphy và Rutledge đã chỉ trích phiên tòa là “vội vàng, không nghiêm túc, xa rời luật pháp lẫn hiến pháp”.

Có thể đoán đằng sau sự vội vàng ấy là một chương trình nghị sự khác.Câu hỏi là kho báu Yamashita đã đi đâu? Và dù trong tay ai đi nữa, nó đã ảnh hưởng đến thế giới như thế nào?

Phúc Long
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 8.1 Chrome

Re: Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến

Postby Duong Nam Anh » March 23rd, 2015, 8:49 am

Kỳ 5: Một thế giới mới bắt đầu bằng tội ác
Vấn đề nên làm gì với số tài sản ăn cắp của phe Phát xít đã được đặt ra khi 44 quốc gia nhóm họp để bàn về nền kinh tế hậu chiến tranh. Tơi tả và kiệt quệ bởi cuộc chiến dai dẳng, các nước phe đồng minh buộc phải đứng nhìn Mỹ bắt đô la hóa nền kinh tế toàn cầu.


Tội ác của quá khứ



50 năm sau, Châu Âu và cả thế giới choáng váng vì hàng loạt phát hiện về số vàng của phe Phát xít: Ai chiếm giữ nó, của cải từ đâu mà ra và ai hưởng lợi từ tội ác diệt chủng.

Tháng 10 năm 1946, Bộ ngoại giao Mỹ nhận được một báo cáo tuyệt mật từ điệp viên Emerson Bigelow của Cục Tài chính. Báo cáo này được biết đến với cái tên “Bản báo cáo Bigelow” và được giải mật ngày 31 tháng 12 năm 1996.

Theo đó, Emerson khẳng định có những thông tin đáng tin cậy từ OSS và Cục điều tra phòng chống tội phạm Mỹ (CIC) cho thấy năm 1945, Vatican tịch thu một số lượng vàng của Đức trị giá khoảng 350 triệu Franc Thụy Sĩ, một phần trong số đó khoảng 150 triệu đã bị giới chức Anh bắt giữ tại biên giới Áo – Thụy Sĩ.

Image
Điệp viên Emerson Bigelow


Báo cáo đặt nghi vấn số vàng còn lại hơn 200 triệu Franc cuối cùng đã được chuyển vào Ngân hàng Vatican với sự giúp đỡ của các tổ chức thuộc cộng đồng tôn giáo La Mã. Vụ xì căng đan được hãng tin CNN tường thuật ngày 22 tháng 7 năm 1997.

Cùng năm, báo Chicago Tribune ngày 08 tháng 05 đăng bài viết chính phủ Mỹ lên án Thụy Sĩ, dù với vị trí trung lập của mình, đã giao dịch với quân Đức số vàng cướp từ các nạn nhân của nạn diệt chủng, làm kéo dài cuộc chiến tranh và gây khó khăn cho nỗ lực thu hồi tài sản.

Sau lời buộc tội này, lần đầu tiên trong lịch sử im lặng của mình, Thụy Sĩ công khai khoảng 2000 tài khoản ngân hàng đã bị lãng quên từ sau chiến tranh thế giới với số tiền khiêm tốn vài chục triệu đô la. Theo CNN, một số tổ chức Do Thái khẳng định số tài sản Thụy Sĩ còn che giấu phải lên đến 7 tỷ đô la.
Một công trình nghiên cứu từ năm 1996 đến 2001 của Hội đồng chuyên gia độc lập đứng đầu bởi giáo sư Jean-François Bergier (một học giả hàng đầu Thụy Sĩ) đã gây náo động chính trường khi đưa ra ánh sáng những chính sách gây khó khăn của Thụy Sĩ đối với người tỵ nạn Do Thái trong thời gian nạn diệt chủng diễn ra, và các mối quan hệ gây tranh cãi của quốc gia này với các công ty và tổ chức tài chính Đức, những người đứng đằng sau cỗ máy chiến tranh của Hitler…

Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ cũng bị cáo buộc đã nhận số vàng trị giá 440 triệu đô la (thời điểm chiến tranh) từ phe Phát xít, trong đó ước tính 316 triệu đô la là vàng bẩn.

Báo New York Times ngày 10 tháng 01 năm 1997 thì chỉ đích danh Bồ Đào Nha đứng thứ hai trong danh sách tiêu thụ tiền bẩn. Bồ Đào Nha vốn là nhà cung cấp hàng đầu Vonfram – nguyên liệu chính chế tạo khí tài cho Đức.Ban đầu họ nhận tiền mặt, nhưng từ năm 1941, theo kiến nghị của Ngân hàng trung ương, chính phủ tổng thống Salazar bắt đầu chuyển sang nhận chi trả bằng vàng.

Việc mua bán này vẫn diễn ra dù đầu năm 1942 phe Đồng Minh đã chính thức cảnh báo các nước phương Tây rằng Đức đang tuồn vàng bẩn qua các ngân hàng Thụy Sĩ.

Sau chiến tranh, Bồ Đào Nha bí mật bán lại một phần vàng đó cho Indonesia, Philippines và nhiều nhất là Trung Quốc, thông qua lãnh thổ Macao.

Bên cạnh đó, hàng loạt các quốc gia và vùng lãnh thổ “trung lập” như Thụy Điển hay Tây Ban Nha cũng bị đặt nhiều câu hỏi về việc các ngân hàng của họ hợp tác với chế độ Phát xít.

75 tấn vàng của Hà Lan bị “khoắng” mất và chỉ có một nửa trong số đó được tìm lại; Ba Lan cũng chịu cảnh tương tự, không hiểu tài sản của mình đã đi đâu dù “thủ phạm chính” là Đức quốc xã đã đầu hàng vô điều kiện.


Đại bàng đen



Kế hoạch “Đại bàng đen” là một cái tên không mấy xa lạ với những người theo học thuyết âm mưu, nó giải thích cho sự biến mất của khối tài sản khổng lồ Mỹ tịch thu của phe Phát xít trong đó có kho báu Yamashita.

Chiến lược này lần đầu tiên được cố vấn cho Tổng thống Roosevelt bởi Bộ trưởng chiến tranh Henry L. Stimson và các cố vấn thời chiến John J. McCloy (sau này là giám đốc Ngân hàng thế giới), Robert Lovett (sau này là Bộ trưởng quốc phòng) và Robert B. Anderson (sau này là Bộ trưởng Tài chính).

Image


Stimson lập luận rằng xác định được ai là chủ sở hữu số vàng ăn cắp đó sau những biến cố xảy ra là một việc khó khăn nếu không muốn nói là không thể, nên tốt nhất là giữ im lặng về nó và thiết lập một quỹ hành động chính trị toàn cầu nhằm giúp các chính quyền thân Mỹ giữ được quyền lực sau chiến tranh.

Quỹ này được gọi một cách không chính thức là Quỹ “Đại bàng đen”, theo biểu tượng con đại bàng đen của Đức quốc xã cùng với chữ thập ngoặc được đúc trên các khối vàng thu được từ ngân hàng Reichsbank.

Nhiều giả thuyết suy luận cho rằng, một quỹ tài chính với quy mô như “Đại bàng đen” không thể nào thực hiện được mà không có sự tiếp tay của các gia tộc tài chính ngân hàng lớn của Mỹ và Châu Âu, trong đó phải kể đến Rockefellers, Rothchilds, Harrimans, Oppenheimers, Warburgs và một số khác.

Theo cựu phó giám đốc CIA Ray S.Cline, số vàng Santa Romana phát hiện tại Philippines được gửi vào “176 tài khoản ngân hàng ở 42 quốc gia”.
Do gánh nặng nợ nần và sự chi phối của Mỹ, đồng tiền của nhiều nước sau thế chiến bị “neo” vào đồng đô la, và đồng đô la thì “neo” vào vàng. Nếu sự tồn tại của một lượng vàng khổng lồ như thế lọt ra ngoài thì một thảm họa tài chính sẽ xảy ra trong nháy mắt: Vàng sẽ mất giá thê thảm, còn tiền sẽ thành giấy lộn.

Về mặt nào đó, “Đại bàng đen” có nhiều điểm tương đồng với liên minh khai thác kim cương, thống trị bởi tập đoàn DeBeers, hay nghiệp đoàn khai thác vàng của gia tộc Oppenheimers.

Những liên minh này sở hữu một số lượng lớn đá và kim loại quý, nhưng họ giới hạn bán ra thị trường, tạo nên một ảo giác về sự quý hiếm, từ đó đẩy giá trị của chúng lên cao phi thực tế.

Tương tự, “liên minh” vàng bẩn có thể sở hữu hàng trăm ngàn tấn vàng, vượt xa nguồn cung chính thức, nhưng vẫn giữ giá vàng ở mức cao một cách cố tình, mặt khác họ cẩn thận sử dụng “quỹ đen” đó cho những mục đích riêng.

Trong bối cảnh sau thế chiến thứ 2 thì “Đại bàng đen” trở thành đòn bẩy tài chính lợi hại cho Mỹ và các nước đồng minh trong cuộc chiến tranh lạnh chống lại Liên Xô.

Tiền có thể mua chuộc các nhà lãnh đạo, thủ lĩnh quân sự, có thể củng cố các chế độ thân cận, giúp họ giữ quyền lực hoặc “đao búa” hơn là gây sức ép lên các ngân hàng trung ương buộc chính phủ họ phải hợp tác vì mục tiêu chính trị nào đó.

Có vô vàn phương án để Stimson và các cộng sự lựa chọn. Điều còn lại chỉ là phải khẳng định Nhật chưa từng chôm chỉa thứ gì và đất nước này hoàn toàn nghèo khó khi chiến tranh kết thúc. Và lời nói dối này chỉ là khởi đầu của nhiều bí mật khủng khiếp khác.

Phúc Long
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 8.1 Chrome

Re: Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến

Postby Duong Nam Anh » March 23rd, 2015, 8:54 am

Kỳ 6: Người Mỹ không trầm lặng
Nếu như có ai hưởng lợi nhiều nhất từ phát hiện của Santa Romana thì đó là điệp viên Edward Geary Lansdale. Từ một người giám sát việc thu hồi vàng ở Philippines, Lansdale ngoi lên thành một viên tướng ở cuối sự nghiệp và sở hữu một quyền lực “không thể gọi tên”.


James Bond nước Mỹ



Tướng tình báo Edward Lansdale sinh năm 1908 trong một gia đình trung lưu sùng đạo, mẹ ông là một tín đồ Cơ đốc nhiệt thành, còn cha thì theo Giáo hội trưởng lão. Trong thời gian diễn ra cuộc Đại khủng hoảng, Lansdale đang học ngành báo chí tại trường UCLA và có tên trong chương trình dự bị quân đội.
Sau tốt nghiệp, Lansdale viết quảng cáo thương mại cho các hãng quảng cáo ở Los Angeles và San Francisco.

Khi tin tức Trân Châu Cảng truyền về, Lansdale quyết định nghỉ việc và gia nhập quân đội, nơi anh lính mới được phân công nghĩ ra các đòn tâm lí chiến cho Cơ quan tình báo quân đội và sau này là OSS.

Vận đỏ đến với Lansdale khi tổng thống Truman ra lệnh đóng cửa OSS tháng 9 năm 1945.

Trong những tuần cuối cùng, chỉ huy Donovan và cấp phó là thiếu tướng John Magruder, trong nỗ lực tìm cách duy trì dàn nhân sự và hệ thống tình báo hải ngoại của OSS, đã chuyển họ đến các cơ quan tình báo khác của chính phủ.

Đại úy Lansdale là một trong 50 nhân sự của OSS được thuyên chuyển đến Cục tình báo G-2 ở Philippines dưới quyền Đại tá McMicking.

Image
Ông Edward Lansdale


Chứng kiến tận mắt sự tàn khốc của chiến tranh, Lansdale mang mối hận sâu sắc với quân Nhật. Một trang nhật ký của Lansdale ngày 10 tháng 11 năm 1946 viết: “Rất nhiều người Philippines bị tra tấn … cho đến khi họ chỉ còn là một khối tàn tạ đầy máu”.

Tại Manila, Lansdale lần đầu tiên phát hiện ra các tài liệu về việc quân Nhật chôn giấu vàng và biết đến vụ tra khảo Thiếu tá Kojima. Sốc trước phát hiện này, Lansdale huy động nhân lực dưới quyền tìm kiếm tất cả thông tin có liên quan đồng thời tiện tay nắm quyền giám sát vụ Kojima.

May cho Lansdale là hầu hết các sĩ quan cấp trên đều đang ở Nhật với tướng MacArthur nên về nghĩa nào đó anh ta tự do với quyền lực của mình tại Manila. Cho đến ngày Kojima khai ra mọi thứ, Lansdale nghiễm nhiên trở thành công thần vì “đóng góp” của mình cho quốc gia.

Tuy nhiên, dù được sự hỗ trợ của túi tiền bẩn không đáy, cuộc phiêu lưu của Lansdale tại Châu Á sau này lại là thất bại toàn tập.

“Người Mỹ xấu xí”



Đầu thập niên 1950, trở lại Philippines với quân hàm Đại tá, Lansdale được giám đốc CIA Allen Dulles giao cho 5 triệu đô la để tài trợ cho các nhiệm vụ tình báo. Xài hết số tiền, Lansdale dựng lên được ông Tổng thống bù nhìn thân Mỹ Ramon Magsaysay, người sau đó chết yểu trong một vụ rơi máy bay.

Lansdale tuyên truyền rằng mình đã đánh bại được phong trào du kích Philippines lãnh đạo bởi “nhân vật cộng sản” Huk, nhưng với bất cứ chính khách nào hiểu rõ Philippines, phong trào đó chỉ là sự phản đối của những người nông dân nghèo khổ, qua nhiều thế hệ chịu áp bức bởi người Tây Ban Nha và các địa chủ người Hoa, hầu hết họ đều không biết gì về chủ nghĩa Mác và sẵn sàng tham gia bất cứ phong trào nào có thể giúp họ đấu tranh.

Năm 1954, Dulles lại cử Lansdale đến Việt Nam để “làm như đã làm ở Philippines”. Lansdale ban đầu vung 12 triệu đô la tiền bẩn để dựng lên chế độ Ngô Đình Diệm tại Sài Gòn với hy vọng đảo chiều cuộc chiến với miền Bắc. Các quyết sách của chính quyền Mỹ đối với chính quyền Sài Gòn lúc này chủ yếu xuất phát từ những nhận định và kiến nghị của Lansdale.

Lansdale đã giúp Ngô Đình Diệm tạo dựng và củng cố thế đứng, là cố vấn cho chính Ngô Đình Diệm. Ông ta “bóp chết” cuộc nổi loạn của tướng Nguyễn Văn Hinh, dẹp tan quân đội của các giáo phái bằng cách vừa chi tiền mua chuộc vừa tổ chức tấn công. Lansdale còn là người đứng đằng sau cuộc di cư ồ ạt của gần một triệu người từ Bắc vào Nam sau Hiệp định Genève.

Lansdale cũng từng cố vấn và là người giúp đỡ cho Tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn trong “sự nghiệp” và con đường học vấn của mình.

Tác giả Jonathan Nashel của quyển sách “Chiến tranh lạnh của Lansdale” nhận xét rằng có thể Lansdale có khả năng làm bạn với người Philippines hay người Việt Nam nhưng về căn bản ông ta vẫn mù lòa trước sự khác biệt văn hóa ngăn cách họ với người Mỹ.

Theo cách nói của ông, “Lansdale kết hợp một mối quan tâm gần như ở cấp độ nhân chủng học về truyền thống và con người Đông Nam Á với một niềm tin mãnh liệt và sai lầm rằng những giá trị truyền thống đó chỉ có thể được dẫn dắt đi theo con đường dân chủ kiểu Mỹ”.

Từng có những câu chuyện rằng Lansdale là hình mẫu của các nhân vật chính trong các tác phẩm “Người Mỹ trầm lặng” của Graham Greene và “Người Mỹ xấu xí” của Willam Lederer và Eugene Burdick, nhưng trên thực tế tác giả Gramham Greene từng cực lực phản đối “ý tưởng” này.

Nhân vật Đại tá Edwin Hillandale trong “Người Mỹ xấu xí” có lẽ lại có nhiều điểm tương đồng hơn cả với “James Bond nước Mỹ”.

Một cố vấn của Tổng thống Johnson còn miêu tả Lansdale là “một cục nợ phiền phức… chờ đợi trong cơn say sự trở lại lần hai của Magsaysay”.

Gần hai thập kỷ sau khi Lansdale qua đời vào năm 1987, lối suy nghĩ đầy nhược điểm của ông ta vẫn còn tồn tại. Nashel so sánh cái cách các học giả và những nhà làm chính sách của Washington từng gọi cựu chính trị gia – phó thủ tướng Iraq Ahmed Chalabi là “George Washington của Iraq” như cách Lansdale từng mô tả Ngô Đình Diệm tại Việt Nam.

Phúc Long
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 8.1 Chrome

Re: Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến

Postby Duong Nam Anh » March 23rd, 2015, 9:06 am

Kỳ 7: Lời nguyền của vàng
Tháng 1.1971, tay thợ săn kho báu nghiệp dư Rogelio ‘Roger’ Roxas đã khám phá bức tượng Phật dáng ngồi, cao khoảng 71 cm theo phong cách điêu khắc Miến Điện bằng vàng khối nặng khoảng 1 tấn trong một mật đạo của quân đội Nhật. Roxas không hề biết rằng cuộc đời ông sau này là một sự bi thảm.


Những cuộc săn vàng thầm lặng



Trong những năm cuối của thập niên 1950, những nhóm nhỏ người Nhật đã âm thầm trở lại Philippines để khai quật vàng dưới những lớp vỏ bọc khác nhau. Một số mượn việc tìm thi hài của những tử sĩ để cải táng tại đền Shinto. Một số khác đề nghị giúp đỡ người dân Philippines khắc phục hậu quả chiến tranh với những dự án xây dựng hạ tầng “miễn phí”, bao gồm hệ thống thoát nước và đường xá băng qua các tuyến đường “lạ” giữa những ngọn núi.

Image
Bản vẻ địa đạo chứa kho báu Yamashita tại Philippines.

Image
Bản vẻ vị trí kho báu


Các công ty cứu hộ Nhật Bản thì đề nghị hỗ trợ di dời những con tàu cũ để khai thông ùn tắc và trả lại cảnh quan tự nhiên cho vịnh Manila, cũng với mục tiêu vơ vét những con tàu vàng bị đánh đắm từ xưa.

Sau cuộc khai quật năm 1947 của Santa Romana, 20 năm sau, nhà cựu độc tài Philippines Ferdinand Marcos (1917 – 1989) lại tiếp tục công việc dang dở.
Khi Marcos được bầu làm Tổng thống năm 1965, một nhân vật từ thế giới ngầm Nhật Bản là Sasakawa Ryoichi đã xin tiếp kiến và đặt vấn đề hợp tác khai quật kho báu chiến tranh. Là một người thân tín của Đại úy Kodama, Sasakawa biết rõ vị trí của một số “mỏ” lớn. Nhận được tỉ lệ ăn chia hời, Marcos hào phóng cấp phép cho Sasakawa nhập khẩu cá trích đóng hộp đã quá hạn sử dụng vào Philippines, mặc kệ cho đám dân đen chết vì ngộ độc.

Lần đầu tiên Marcos “ngửi” được vàng lại là một sự tình cờ. Khi biết tin có hai cựu chiến binh hoàng gia Nhật đang đào bới tại khu vực Ilocos Norte, thủ phủ của gia tộc Marcos ở vùng Tây Bắc của Luzon, Marcos nhanh chóng kết nối các dữ liệu về Santa Romana và ráo riết truy lùng manh mối dẫn đến kho báu.

Image
Nhà độc tài, cựu Tổng thống Ferdinand Marcos


Roxas và lời nguyền của vàng



Sau chuyến khai quật may mắn được bức tượng Phật độc nhất vô nhị cùng nhiều hiện vật khác, Roxas bắt đầu tìm kiếm khách hàng tiềm năng để bán. Tin tức lan đi nhanh chóng.

Đúng ngày “Cá tháng Tư” năm 1971, một người khách tên Joe Oihara gõ cửa đề nghị được xem bức tượng Phật. Ông ta xem xét kỹ lưỡng và ra giá 1 triệu pesos, hứa sẽ quay lại trả trước một phần sau vài ngày nữa.

Khi Oihara về, Roxas và người em trai Danilo tìm mọi cách xoay phần cổ tượng, vì họ cảm thấy Oihara đặc biệt chú ý đến vị trí này. Phần cổ dần chuyển động và hé lộ một phần rỗng bên trong chứa ít nhất hai nắm tay kim cương thô. Roxas cất giấu số kim cương và ráp phần đầu tượng lại như cũ.

Hai giờ ba mươi phút sáng bốn ngày sau, tám người đàn ông mặc quân phục vũ trang bằng súng máy đập cửa nhà Roxas, tự nhận là đặc vụ của Cục điều tra quốc gia và có trát khám nhà của tòa án. Chúng đánh đập Danilo dã man và bỏ đi sau khi lấy tượng Phật và số kim cương.

Ngay lập tức, Roxas báo cáo vụ trộm cho cảnh sát và báo chí địa phương, rồi sau đó đi gặp chánh án Pio để hỏi ra nhẽ vì sao ông ấy ký trát kiểm nhà. Viên chánh án tiết lộ đó là lệnh của người cháu và cũng là Tổng thống đương nhiệm Marcos. Ông ta cũng cảnh báo rằng Roxas có thể sẽ bị thủ tiêu vì đã đem chuyện này đưa cho cảnh sát và truyền thông.

Không run sợ, Roxas trở lại sở cảnh sát và ký đơn khiếu nại chính thức!

Sau đó, Roxas đưa gia đình đến thành phố Cabanatuan, Đông bắc Manila để xin giúp đỡ từ viên thống đốc tỉnh, người đã cấp cho Roxas một nơi để ẩn náu cùng 4 cận vệ. Cùng lúc đó, một viên chánh án khác tại Baguio yêu cầu quân đội đưa bức tượng Phật về toà, đúng như yêu cầu trong trát khám nhà Roxas.

Quân đội tìm cách trì hoãn hai tuần cho một nghệ nhân ở Manila làm giả một bức tượng thay thế bằng đồng thau. Bức tượng đồng khác xa bức tượng thật với phần đầu không thể tháo rời, nó nhanh chóng được chuyển về toà án Baguio sau đó. Roxas được đề nghị trả 3 triệu pesos để ông khẳng định trước mọi người rằng bức tượng đồng thau là thật.

Cuối tháng 4, với sự an toàn được “đảm bảo” bởi Thư ký Toà án Philippines, Roxas trở về Baguio để thẩm định bức tượng Phật, cùng với bốn cận vệ, hai công tố viên và một số nhà báo… Tại toà án, Roxas xem kỹ bức tượng và đã can đảm (hoặc ngớ ngẩn) tuyên bố bức tượng là giả.

Giới truyền thông hào hứng trước câu chuyện David và Goliath, mà trong đó, Roxas là chàng David đối đầu với gia tộc Marcos hùng mạnh và nổi tiếng tàn ác. Các thành viên của Đảng đối lập thích thú trước cơ hội làm bẽ mặt Marcos trong các cuộc thăm dò bầu cử. Họ thuyết phục được Roxas làm chứng trước Thượng viện trong một cuộc điều tra toàn diện vụ án Bức tượng Phật vàng.

Tổng thống Marcos cáo buộc việc này là một đòn chính trị bẩn thỉu và đe doạ sẽ trả thù cá nhân.

Nói là làm, Roxas liên tục bị bắt cóc và tra tấn bởi cảnh sát chìm của Marcos. Đầu tháng 7, ông bị bắt giữ với lý do không có mặt tại phiên tòa xử tàng trữ vũ khí trái phép và bị kết án tù.

Một tháng sau, Roxas được bảo lãnh ra bởi luật sư của Thượng nghị sĩ Sergio Osmena, lãnh đạo Đảng Tự Do đối lập. Osmena yêu cầu Roxas xuất hiện tại một buổi mít tinh chính trị có sự tham dự của nhiều chính trị gia nổi tiếng. Nhưng chỉ vài phút sau khi đám đông tụ tập, hai quả lựu đạn phát nổ làm 10 người chết và 66 người bị thương, kể cả Osmena và 7 ứng viên thượng nghị sĩ khác.

Quá sợ hãi, Roxas bỏ trốn đi Manila và ẩn mình một năm trước khi bị bắt giữ trong một chuyến hồi hương. Tiếp tục chuỗi ngày bị tra tấn và tù tội nhưng Roxas kiên quyết không đầu hàng, đặc biệt là từ chối hợp tác khai quật kho báu gần bệnh viện Trung ương Baguio.

Biết không bẻ gãy được Roxas, Marcos chuyển sang tra tấn một người trong nhóm đào kho báu của ông, Olimpo Magbanua. Magbanua bị bẻ từng chiếc răng bằng kềm cho đến khi anh ta gục ngã và phải khai ra vị trí của mật đạo.

Vào một ngày năm 1974, các nhân viên bệnh viện nhìn thấy quân đội bắt đầu vận chuyển những thùng gỗ nặng ra khỏi đường hầm. Một nhân viên đếm có khoảng 10 chiếc thùng được chất lên xe tải mỗi ngày trong vòng một năm trời, nghĩa là khoảng 3,600 thùng tất cả. Trong thời gian đó, cảnh vệ xuất hiện khắp nơi để xua đuổi những người không liên quan.

Dù biết quân đội đã tìm thấy mật đạo và lấy đi số vàng, nhưng Roxas đành bất lực trong tình cảnh châu chấu đá xe.
Năm 1976, Roxas mang gia đình đi sống ẩn dật và chỉ xuất hiện trở lại vào năm 1986, sau khi Ferdinand và vợ là Imelda Marcos bị truất quyền bởi chính phủ Mỹ và bị lưu đày tại Hawaii.


Tháng 3 năm 1988, Rogelio Roxas đệ đơn lên toà án Mỹ kiện vợ chồng Ferdinand và Imelda Marcos. Roxas cáo buộc bị Marcos và quân đội bắt giữ tra tấn khi ông phát hiện ra kho tàng Yamashita.Năm 1996, bồi thẩm đoàn Honolulu đề nghị bồi thường 22 tỷ đô la thiệt hại cho Roxas, cộng với tiền lãi tổng cộng lên đến 40 tỷ – số tiền nhiều nhất trong lịch sử tư pháp.Ngày 17 tháng 11 năm 1998, Toà án tối cao Hawaii hủy bản án với phán quyết rằng không đủ chứng cứ xác định giá trị và số lượng vàng được phát hiện. Tuy nhiên, toà án vẫn công nhận việc Marcos đánh cắp 17 thỏi vàng và tượng phật từ Roxas.

Vụ việc được trả về cấp sơ thẩm để xác định giá trị của các hiện vật.Ngày 28 tháng 2 năm 2000, toà sơ thẩm thành phố Honolulu đã có một phiên điều trần để xác định giá trị của tượng Phật và 17 thỏi vàng. Buổi xét xử được tường thuật bởi tờ báo địa phương Star Advertiser.Felix Dacanay, với tư cách đại diện cá nhân cho gia đình Roxas đã cáo buộc chống lại Imelda Marcos đòi bồi thường 6 triệu đô la Mỹ do liên quan đến vụ bắt giữ và tra tấn Roxas. Công ty Golden Budha Corp., vốn được thành lập để khẳng định quyền sở hữu kho báu của Roxas, đòi Imelda số tiền hơn 13 triệu đô la đền bù bức tượng vàng bị tráo đổi. Các cáo buộc được Tòa án tối cao Hawaii công nhận ngày 25 tháng 11 năm 2005.

Trong một thủ tục pháp lý liên quan năm 2006, Toà án phúc thẩm thứ chín Hoa Kỳ, khi mô tả các bằng chứng vụ kiện Roxas và Marcos, đã nêu rõ: “Kho báu Yamashita được tìm thấy bởi Roxas và bị đánh cắp bởi Marcos và người của ông ta”.

Trí Dũng
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 8.1 Chrome

Re: Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến

Postby Duong Nam Anh » March 23rd, 2015, 9:14 am

Kỳ 8: Người tỷ phú bí ẩn
Ngày nay, dù cho chính phủ Philippines chối bỏ sự tồn tại của Santa Romana – Santy, những tài liệu, sách vở, video, giấy kết hôn, tài khoản ngân hàng… là các minh chứng hùng hồn về sự xuất hiện của người đàn ông này hơn 60 năm trước.


Santy sở hữu khối tài sản khổng lồ gồm tiền mặt và vàng rải đều ở khắp các ngân hàng trên thế giới.Vàng được Santy khai quật trở thành nguồn tài sản chính cho rất nhiều “quỹ đen” phục vụ các âm mưu chính trị. Santy trở thành “người canh đền” cho kho báu Loa Kèn Vàng, rất lâu trước khi bị Ferdinand Marcos hất cẳng.

Người gác đền



Trong những năm tháng Roxas bị giam giữ và tra tấn, Tổng thống Marcos song song tiến hành việc ép Santa Romana phải “nhả” ra những tài khoản vàng khổng lồ của mình. Theo một thành viên gia tộc Marcos, mối quan hệ giữa Santy và Marcos đã bắt đầu từ rất lâu, trước khi Marcos trở thành tổng thống giữa thập kỷ 60.

Nguồn tin này cũng khẳng định rằng Santy từng là một người bạn thân thiết của Imelda – vợ Marcos sau này – khi cô ta còn là một nữ hoàng xinh đẹp đất Leyte. Santy là người đã giới thiệu Imelda cho Marcos nhưng có nghi ngờ rằng giữa hai người từng có mối quan hệ vượt trên tình bạn. Vào thời điểm đó, Santy là một bản sao của Casanova: đẹp trai, mạnh mẽ, với chiều cao đáng ngưỡng mộ và thân hình cường tráng… có nhiều nét tương đồng với một diễn viên điện ảnh.

Bởi còn nhiều các tài liệu chưa được giải mật, Seagraves đặt giả thuyết rằng vai trò của Santy là một “người gác đền” – chuyên điều phối dòng tiền của kho báu Yamashita về Mỹ dưới lớp vỏ bọc của một tỷ phú Philippines bí ẩn mà CIA đã khoác cho y.

Theo những tài liệu thu thập được, dòng vàng chảy từ Philippines đến khắp các ngân hàng ở Hồng Kông, Zurich (Thuỵ Sĩ), Buenos Aires (Argentina), hay London (Anh) qua các đường “chính ngạch” của quân đội Mỹ như phi trường Clark, vịnh Subic, phi trường quốc tế Manila… Một tổ chức tên Umbrella chịu trách nhiệm về an ninh cho những đợt vận chuyển này, đảm bảo những chuyến hàng “đi đến nơi, về đến chốn”.

Santy sử dụng tên thật và rất nhiều tên giả để mở tài khoản ngân hàng. Ramon Poirrotee, Jose Antonio Diaz, Jose Antonio Severino Garcia Diaz, Jose Almond… Vì có quá nhiều tên giả, Santy thường được ví như là “Người đàn ông không tên”. Theo luật pháp Mỹ, sử dụng tên giả là hợp pháp khi chúng không được dùng cho những mục đích lừa gạt.

Santy thực hiện sứ mệnh theo lệnh từ CIA và Bộ tài chính Mỹ. Y kiểm soát và sở hữu các công ty như DNP Enterprise (Diaz-Nanette-Poirrotte), Nanette Enterprise, Collette Enterprises, Poirrotte Enterprises… Đây là những công ty ma, được dựng lên để che dấu các hoạt động vận chuyển vàng ra khỏi Manila đến các trung tâm tài chính lớn trên thế giới.

Đổi lại cho vị trí “người canh đền” đầy rủi ro, Santy được nhận những khoản phí quản lý hào phóng, tuy không được kiểm chứng đầy đủ nhưng có thể lên đến 1% cho mỗi tài sản y đứng tên. Với mức đó, tài khoản 1 tỷ đô la thì y sẽ bỏ túi 10 triệu; còn tỉ lệ khiêm tốn hơn 0.1% cũng đã là 1 triệu đô, chưa nói đến việc có rất nhiều tài khoản như vậy.

Vào đầu thập niên 70, các tài khoản đứng tên trực tiếp bởi Santa Romana hay có nguồn gốc từ y được ước tính vào khoảng trên 50 tỷ đô la Mỹ. Nếu các tài khoản này là tài sản cá nhân thì chắc hẳn Santy đã trở thành một trong những người giàu nhất thế giới. Tuy nhiên, thu hút sự chú ý hẳn là cơn ác mộng tồi tệ nhất của Santy. Dù sở hữu nhiều ngôi nhà rộng lớn ở Manila, thành phố Cabanatuan… nhưng Santy chưa bao giờ khoe mẽ, mua sắm máy bay riêng hay siêu xe Ferrari.

Hầu như ít ai biết đến Santy bên ngoài Philippines, ngoại trừ giới ngân hàng và thế giới ngầm. Vai trò của Santa Romana chỉ là một miếng xếp hình trong mê cung rất phức tạp thời Chiến tranh lạnh. Nếu không có những tài liệu mật từ CIA và Bộ tài chính Mỹ, thì hầu như rất khó để biết được nhờ đâu mà Santy được bổ nhiệm để quản lý những tài khoản quan trọng như vậy.


Đoạn kết



Những gì đã diễn ra bên ngoài ở Philippines thì tương đối dễ nắm bắt.

Một phần trong hầu bao của Santy được dùng để giúp Ferdinand Marcos trở thành Tổng thống. Marcos đã chuẩn bị 20 năm cho vị trí này, và cuối cùng đã thành công vào năm 1965. Sau đó, Marcos đã hỗ trợ ngược lại cho CIA và Lầu Năm Góc trong việc mở rộng cuộc chiến tranh ở Đông Dương.

Tuy nhiên những hỗ trợ này không hoàn toàn miễn phí. Marcos trao đổi việc chính phủ mình sẽ chính thức và công khai ủng hộ các chính sách của Mỹ với điều kiện Nhà Trắng giữ vững vị trí quyền lực của hắn ta tại điện Malacanang càng lâu càng tốt.

Marcos trở thành thân thích với Nhà Trắng cho đến khi chính quyền Reagan lên thay năm 1986.

Cùng thời gian Marcos đánh cắp tượng Phật vàng và Roxas bị bắt giữ, Santy mở thêm một tài khoản ở chi nhánh ngân hàng First National City Bank – nay là ngân hàng Citibank – ở Manila. Một nhân viên ngân hàng tên James J. Collins đã nhận 43 triệu đô la Mỹ toàn tiền mặt và anh ta mất sáu ngày để đếm hết số tiền ấy.

Tại sao Santy lại bắt đầu thiết lập những tài khoản tiền lớn như vậy?

Khi đã trở nên giàu có và có một cuộc sống khác thường, Santy thường chọn cách giữ tiền trong nhiều ngôi nhà và văn phòng an toàn trên khắp Philippines.

Image


Tuy nhiên khi cảm nhận được mối đe doạ đến từ Marcos, y bắt đầu phân tiền vào những túi giặt đồ và mang thẳng đến ngân hàng.
Do áp lực từ CIA cũng như Marcos, Santy nghiện rượu và tình hình sức khoẻ ngày càng tồi tệ. Ngày 13 tháng 9 năm 1974, Santy đột quỵ và được đưa vào bệnh viện San Juan de Dios tại thành phố Pasay.

Trên giường bệnh, y dặn dò Tarciana, một cận vệ tin cẩn, rằng đã đến lúc để mở các “tài khoản an toàn”. Santy đưa cho Tarciana tất cả giấy tờ, chứng chỉ đầu tư, bảng mã màu để mở các tài khoản bí mật, kèm theo rất nhiều các chỉ dẫn và chuyện kể về những chuyến khai quật xuyên suốt cuộc đời y.

Ngày 21 tháng 9, Santy viết một bản di chúc dài 4 trang mở đầu như sau: “Thời gian của tôi đã sắp hết, dù cho di chúc này không được mạch lạc đi chăng nữa, xin hãy mang nó ra ánh sáng”. Santy kể về việc bị Marcos ép ký một bản di chúc khác tại cung điện Malacanang, đồng thời đề cập đến một số tài khoản gửi tại ngân hàng HSBC Hồng Kông và một số ngân hàng khác tại Manila cùng với tên của 14 người thừa kế.

Sau 12 ngày vật lộn với tử thần trên giường bệnh, con gái Santy – Flordeliza Tantoca Santa Romana – yêu cầu đưa cha mình về nhà. Mặc dù Santy sợ phải rời bệnh viện nhưng Liza muốn ông được yên nghỉ trong vòng tay của gia đình và bè bạn. Trở về thành phố Cabanatuan, huyền thoại Santa Romana qua đời vài ngày sau đó bởi chứng xơ gan.

Theo nguồn tin trong gia tộc Marcos, tướng Lansdale ngay lập tức thu xếp chuyển tất cả số vàng còn lại của Santy tại ngân hàng Citybank Manila về trụ sở chính của ngân hàng này ở New York. Còn tại chi nhánh UBS Geneva – Thụy Sĩ, 20.000 tấn vàng dưới tên của Santy cũng được chuyển cho Lansdale.
Bằng cách nào Lansdale làm được điều này rất khó để biết, không loại trừ ông ta xoay sở tìm ra được những đầu mối từ những tên giả của Santy. Tuy nhiên, động cơ rõ ràng của việc này là để chuyển tài sản ra khỏi Manila trước khi Marcos chiếm đoạt chúng.

Nếu Marcos nghĩ cái chết của Santy sẽ ban cho hắn quyền kiểm soát số tài khoản ngân hàng đó, có lẽ hắn ta đã rất thất vọng. Mối quan hệ giữa Marcos với CIA và Nhà Trắng đã trở nên “hỗn loạn”, một bên nghĩ có thể thao túng được “những người Mỹ” và ngược lại “những người Mỹ” tưởng có thể lợi dụng được Marcos.

Cả hai bên đều có phần đúng, cho đến chừng nào vàng vẫn còn đó chờ được khai quật, và những tài khoản còn đóng băng của Santy chưa có người đụng tới.

Trí Dũng
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 8.1 Chrome

Re: Bí mật kho báu Nhật thời Đệ nhị thế chiến

Postby vandon » March 25th, 2016, 9:26 pm

Cám ơn Duong nam Anh ,bài đọc rất có giá trị...Còn đối với nước ta thì rất có thể người Nhật đã "tử tế"hết mực khi "giúp đỡ" xây dựng nhà máy thủy điện Đa nhim trong thập niên 60 với cùng 1 ý đồ là tìm kiếm kho tàng mà họ đã không kịp đem về mẫu quốc khi bỏ chạy .Xin bác cho thêm tài liệu này (nếu có thể) ....

For this message the author vandon has received thanks:
Duong Nam Anh
Random avatar
vandon
Babie
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
Posts: 8
Has thanked: 1 time
Have thanks: 3 times
Joined: December 18th, 2011, 10:15 pm
Country: United States of America
    Windows 7 Mozilla


Return to Phóng Sự - Khám Phá

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests