Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

Hiểu về trái tim

Create your own personal blogs|Tự tạo cho mình những căn nhà riêng.

Hiểu về trái tim

Postby hathybesu » July 31st, 2017, 9:05 pm


Image



Chiều qua, mình vừa trải qua một cơn tức giận. Số là hôm trước đó, mình nhắn tin, vì tin nhắn cứ hiện dấu chấm than nên mình phải nhắn 3-4 lần gì đấy, vì mình nghĩ chắc có sự nhầm lẫn, cứ nhắn lại. Mình bị trừ tiền đã đành, mà hãng Mobifone còn gởi thông báo nói rằng mình vi phạm lỗi spam và chặn tin nhắn của mình. Đến lúc có việc cần nhắn tin thì mới nhớ ra. Và mình gọi tới tổng đài. Tổng đài viên nói mình là muốn mở khóa tin nhắn, phải đợi qua ngày mai.

Cảm giác của mình lúc ấy là quá oan uổng. Đã oan uổng vì bị phạt chặn tin nhắn một cách vô lý, giờ lại biết thêm là Mobifone không cho mở khóa ngay mà đợi ngày mai. Sao lại ngày mai? Mình tự nhiên thấy một cơn tức giận bùng phát và xui khiến mình chỉ muốn tuôn ra những lời thật cay nghiệt. Thực sự thì khi tổng đài viên hỏi chị muốn mở tin nhắn chứ, mình đã nói “Tôi sử dụng điện thoại là cho công việc và cần mở ngay. Tôi đâu có dùng điện thoại để thờ. Và tôi muốn kiện”.

Trong phút ấy, mình đã bị cảm xúc tức giận điều khiển hoàn toàn. Cũng may là mình mới đọc về chủ đề Tức giận trong Hiểu về Trái Tim nên mình kịp kìm bản thân lại, quan sát tiến trình và thấy luồn khí của tức giận thật kinh hồn. Có cảm giác là hơn cả bão dữ, có thể cuốn phăng, phá hủy mọi thứ.

Mình thấy nể phục bạn tổng đài viên. Trong cơn bão tức giận của khách hàng, bạn ấy không bị cuốn theo. Bạn ấy vẫn giữ được thái độ bỉnh tĩnh bằng cách bảo mình muốn kiện thì có thể làm A,B,C... Còn muốn mở khóa thì vui lòng đọc thông tin. Tuy bạn ấy chưa làm mình hài lòng hoàn toàn vì cảm giác bạn ấy vẫn làm vì nghĩa vụ hơn vì đồng cảm với khách hàng nhưng ít ra, bạn ấy không làm tình hình tồi tệ hơn, hoặc đổ thêm dầu vào lửa đang cháy.

Tức giận chưa bao giờ đem lại điều gì tốt đẹp. Người tức giận thường hối hận vì những gì mình làm trong lúc tức giận. Bởi mức độ càn quét của tức giận, như đã nói, rất hủy diệt, hơn là những gì ta tưởng. Từ tức giận, người ta thường sẽ có nhiều hành động sai lầm tiếp theo. Sách vở thường khuyên, khi tức giận nên tránh khỏi “hiện trường”. Nếu không tránh được thì ráng im lặng, dồn nó sang hơi thở và quan sát nó. Nếu giả sử làm hết các cách mà tức giận vẫn kéo dài, thì có thể trút xả lên nhật ký, lên những chỗ riêng tư, chứ đừng trút lên người khác.

Thật khó thực hành quá nhỉ? Nhưng muốn đời bình an, phải ráng tập rèn. Và mình xin giới thiệu nội dung chủ đề TỨC GIẬN trong HIỂU VỀ TRÁI TIM của tác giả Thích Minh Niệm, như một kiến thức cần phải học.

TỨC GIẬN

Cơn giận từ đâu tới?
Mỗi khi nổi giận ta thường cho rằng chính người kia là thủ phạm đã làm cho ta giận, như thể cơn giận đang ở trong ta là do họ đem tới vậy. Vì thế ta luôn tìm mọi cách để trả đũa, dù ít nhất là một câu nói hay một hành động khiến người kia phải đau điếng hay tức giận thì ta mới hả dạ. Ta cho rằng mình phải làm như thế thì mới mạnh mẽ, để họ không còn dám chọc giận mình nữa. Sự thật là càng trả đũa thì cơn giận càng lớn mạnh và khiến ta càng đuối sức. Vì khi giận năng lượng trong ta bị đốt sạch, cơ thể liên tục phóng thích ra các chất kích thích adrenaline và cortisol gây rối loạn chu trình sinh học của cơ thể, nhất là nhịp tim và hơi thở tăng dồn dập. Ta sẽ rơi vào tình trạng "hôn mê tạm thời" , nhìn mọi thứ đều sai lệch, suy nghĩ không sáng suốt và không kiểm soát nổi mọi hành vi của mình.

Nếu thế hệ trước, gần nhất là cha mẹ, có mang tính nóng giận thì ta khó thoát khỏi sự trao truyền từ nhiễm sắc thể (DNA). Ta còn chịu sự "tưới tẩm" từ cách nói năng và hành động hằng ngày của họ. Môi trường lớn lên và làm việc cũng đóng góp đáng kể cho tính cách nóng giận hình thành trong ta. Sự nuông chiều và nể trọng cũng rất dễ khiến ta có thói quen muốn gì được nấy hay muốn chứng tỏ quyền lực trước mọi người, vì thế chỉ cần có chút vấn đề không vừa ý là ta lập tức nổi giận ngay. Ngoài ra, ta còn bị ảnh hưởng sâu nặng bởi tâm thức xã hội, nên ta luôn cho rằng nổi giận là bản năng tự vệ của con người, nhờ nó mà người khác mới không dám uy hiếp mình. Ta còn xem đó cũng là cách giải tỏa cảm xúc để ta lấy lại sự cân bằng mỗi khi gặp điều phiền toái. Nhưng thực chất là ta đã thất bại. Ta chưa thuần phục được bản tính hơn thua cố hữu, không biết cách giãi bày sự không hài lòng một cách hiểu biết hơn và đang làm cho tình trạng càng tồi tệ hơn.

Chuyển hóa cơn giận
Sau mỗi cơn giận, ta thường cảm thấy hối tiếc và ray rứt vì những phản ứng dại dột và thấp kém của mình. Ta biết mỗi lần tức giận là mỗi lần ta đánh mất hình tượng đẹp và làm suy giảm niềm tin yêu trong mắt người khác, nên lòng cứ dặn lòng sẽ không để cho cơn giận thao túng mình thêm lần nào nữa. Thế nhưng khi gặp chuyện trái nghịch, nhất là tổn hại đến quyền lợi hay danh dự, là cơn giận cứ không hẹn mà đến. Ngay lúc ấy dù được người khác nhắc nhở ta cũng gạt ngang, lý trí cũng phải đứng lặng chào thua cảm xúc. Từ thất bại này đến thất bại khác, ta dần trở nên căm ghét cơn giận của mình. Rồi có khi ta quay sang trách giận cha mẹ trao chi cái tính làm khổ mình khổ người như thế.

Thật ra, nếu hạt giống giận trong ta không được nuôi dưỡng thường xuyên thì nó không đủ sức làm cho ta khổ. Ta đã vô tình tạo ra nó từ những điều bất như ý nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày mà ta không hay biết như: kẹt xe, xếp hàng mua đồ, gọi điện người thân không nhấc máy, thức ăn không vừa miệng, người kia quên chào hỏi đến những phiền toái do chính mình gây ra như: mở nhầm chìa khóa, uống nước bị bỏng miệng, trượt chân ở cầu thang, tìm mãi không ra quyển sách, hồi tưởng về quá khứ đau buồn. Nếu ta không quan sát và hóa giải bớt những phản ứng chống đối một cách âm ỉ từ những việc như thế, thì cơn giận chắc chắn sẽ hình thành như một quy trình tự nhiên.

Khi nguồn năng lượng giận gần như được mặc định trong tâm thức, chỉ cần một hành động không dễ thương hay một hoàn cảnh trái ý nho nhỏ cũng đủ khiến cho nó bị kích động. Nó sẽ nhanh chóng biến thành cơn giận dữ dội mà chính ta cũng rất bất ngờ. Khi phát hiện ra cơn giận đang nổi lên và sắp sửa "bung" ra thành lời nói hay hành động, ta hãy mau chóng tìm cách tách ly ra khỏi đối tượng vừa mới tác động vào cơn giận của mình. Lý tưởng nhất là ngồi trong căn phòng yên tĩnh, hay dạo bước trên con đường râm mát. Trong trường hợp không thể tách khỏi hoàn cảnh thì ta hãy ngồi yên đó, cố gắng đừng mở lời nói thêm một câu hay một từ nào, dù ta cho đó là lời giải thích thỏa đáng. Mọi hành vi xảy ra trong cảm xúc giận hờn đều sẽ khiến ta hối tiếc sau này. Ta hãy cố quên đối tượng kia đã làm hay đã nói điều gì với ta, mà chỉ đem hết tâm ý tập trung vào hơi thở để làm lắng dịu cơn bão cảm xúc. Nếu ta đã có sẵn kỹ năng theo dõi hơi thở để định tâm thì chỉ 15 phút sau là ta sẽ vượt khỏi. Cũng như khi căn nhà của ta bất ngờ bị cháy thì ta chỉ cần lo chữa cháy để cứu lấy những tài sản quý báu bên trong, chứ đừng vội vã truy cứu hay trừng phạt kẻ mà ta tình nghi đã đốt nhà. Chuyện đó "hạ hồi phân giải".

Hơi thở là điểm tựa rất an toàn mỗi khi ta bị những cơn bão cảm xúc tấn công mà ta không biết phải làm sao. Tuy nhiên, nếu cứ sử dụng mãi cách này thì ta sẽ không bao giờ hiểu rõ bản chất cơn giận của mình. Không hiểu rõ cơn giận thì muôn đời ta cũng không thể chuyển hóa được nó, sẽ mãi bị nó phiền nhiễu. Cho nên, sau khi luyện tập được thói quen nhìn lại bản thân mình mỗi khi nổi giận, thay vì tìm cách trả đũa, ta hãy dành nhiều thời gian để quan sát cơn giận của mình. Hãy chú tâm quan sát tiến trình từ khi cơn giận biểu hiện lên bề mặt ý thức, thôi thúc ra hành động, đến khi nó tan biến.

Khi có kinh nghiệm, ta sẽ phát hiện ra cơn giận vốn không có thật. Nó chỉ là nguồn năng lượng được sinh ra từ vài sai sót trong sự vận hành của guồng máy tâm thức như: nhận thức sai lầm, trí tưởng tượng phóng đại, cảm xúc nhạy bén, các giác quan không được phòng hộ cẩn thận. Nên chỉ cần duy trì khả năng quan sát tiến trình ấy lâu bền, bằng thái độ không thành kiến, từ từ ta sẽ thấy rõ những gì đã tạo nên cơn giận và dễ dàng chuyển hóa nó. Tuy nhiên, lỗi thường mắc phải là ta mong muốn mình sẽ hết nóng giận ngay khi bắt đầu luyện tập. Một thói quen được hình thành trong thời gian quá dài thì không thể thay đổi trong một sớm một chiều được. Tiến trình quan sát cơn giận có thể đem tới cho ta những khó chịu bất ngờ trong giai đoạn đầu, nhưng dần dà ta sẽ quen và còn cảm thấy rất thú vị như đang xem một bộ phim hành động. Ta cứ ngồi đó quan sát cơn giận của mình như đang ngả người ra ghế xem phim vậy. Trong trường hợp bất hại đến kẻ khác, ta hãy để cơn giận của mình nổi lên một cách tự nhiên, nhưng khác với mọi lần là ta có quan sát. Lẽ dĩ nhiên, cơn giận vẫn cứ xảy ra theo tốc độ của riêng nó và ta không có ý đuổi theo để dập tắt. Ta chỉ quan sát để thấu hiểu cơ chế hoạt động của nó như thế nào thôi. Mỗi lần quan sát sẽ cho ta một cái thấy mới về bản chất vô thường của cơn giận. Nhận thức sai lầm trong ta từ đó sẽ rơi rụng. Ta cần kiên nhẫn luyện tập để điều chỉnh lại cơ chế hoạt động của tâm thức, chứ không phải muốn trấn áp hay điều khiển cơn giận. Khi ta chưa thấu hiểu cơn giận, dù có điều khiển được nó thì cũng chỉ là giải pháp tạm thời mà thôi.

Có thương đừng giận
Ta cũng đừng vội thỏa mãn với kết quả thực tập ban đầu, dù ta không còn dễ giận như trước nữa. Thậm chí, ta có thể mỉm cười thật tươi để nghe lời quở trách của sếp hay hành động bất cẩn của một bạn đồng nghiệp. Hãy đợi đấy! Khi về đến nhà, nếu bất ngờ ta bị người thương nghi ngờ hay phán xét một cách vô căn cớ, thì cơn giận năm xưa có thể sẽ quay về ngay lập tức. Thế nhưng, ta lại hay biện minh rằng "có thương mới giận". Ta nghĩ đối với người dưng nước lã thì như thế nào ta cũng mặc kệ, ta chẳng cần quan tâm vì họ chẳng liên quan gì đến ta. Đằng này, một người sống với ta chừng ấy năm trời, lúc nào ta cũng tin yêu và sẵn sàng cho họ tất cả, mà họ lại đối xử với ta như thế thì đó là sự xúc phạm rất nặng nề. Nhưng sự thật là ta đang tức tối trước những "đòn tấn công" mà ta không hề có ý thức phòng thủ. Vì ta cho rằng khi ta đã hết lòng với ai thì người đó không được quyền làm cho ta tổn thương. Đòi hỏi một người đừng bao giờ có những lầm lỡ với ta, chỉ vì ta đã từng nâng đỡ hay hiến tặng cho họ quá nhiều thứ thì đúng là một ảo tưởng.

Thử đổi lại vị trí ấy xem ta có làm như thế được không? Đời sống ngày càng nhiều áp lực, chỉ mỗi khó khăn kinh tế thôi cũng đủ khiến người ta mất hồn mất vía rồi, nên việc bỏ bê bản thân và hành động sai sót cũng rất đỗi thường tình. Nếu ta là người có hiểu biết và đang bình ổn thì hãy giúp họ tươi tỉnh lại, để họ nhận diện ra chính mình và sự mầu nhiệm của cuộc sống đang hiện hữu. Chứ lẽ nào ta lại muốn quẳng tiếp vào họ cơn thịnh nộ nảy lửa để thiêu đốt họ thêm? Trừ phi không tự chủ được mình, chứ ta đừng bao giờ cố gắng giả bộ nổi giận để mong bên kia thức tỉnh và hành động đúng đắn trở lại. Không ai thích đón nhận những cảm giác nặng nề và khó chịu cả. Dù biết mình có lỗi và không thể phản kháng ra mặt, nhưng họ sẽ rất mệt mỏi và bất mãn ta. Không cẩn thận thì cách đó có khi bị hiểu lầm là thái độ trừng phạt không thương tiếc, nên họ sẽ nuôi hận trong lòng và sẽ làm cho tình trạng tồi tệ hơn. Nên nhớ, phiền não vốn rất tinh tế. Nếu không có một kỹ năng quan sát thật tốt thì ta khó mà phát hiện hết sự vận hành của nó. Để rồi một ngày nào đó ta không thể ngờ cơn giận cuồng điên bỗng từ đâu tràn ra như thác lũ. Cũng do ta thường quá chủ quan tưởng mình không còn giận hờn nữa, hoặc nghĩ rằng mình chỉ giả bộ để ra uy, hay cố gắng trình diễn để lấy lòng kẻ khác, mà ta không thấy những đợt sóng tức giận đang ngấm ngầm bên trong.

Mỗi ngày một chút, năng lượng giận hờn kết tinh thành một khối rất lớn mà người ta thường gọi đó là nội kết. Khối nội kết này gần như chi phối mọi hành vi của ta. Lúc nào nó cũng khiến ta cau có hay gây sự với đối tượng ấy, mặc dù họ chẳng làm gì ta cả. Hóa ra, ta đã không hiểu hết cái tâm cố chấp và chưa đủ độ lượng của mình, dù trong ý chí ta cho rằng những chuyện ấy không đáng chi cả. Thế mới biết, thấu hiểu hết những ngõ ngách sâu kín trong tâm còn quan trọng hơn là dập tắt được ngay một cơn giận. Cho nên, khi nào ta vẫn còn quá quan trọng và luôn tìm cách nâng niu cái tôi của mình thì cơn giận sẽ vẫn còn. Trong khi đó, tình thương chính là "khắc tinh" của cơn giận.

Cơn giận cũng vô thường
Nắng bừng vỡ màn sương
Mời lên tâm tỉnh thức
Càng nhìn lại càng thương

https://youtu.be/y686_8ZhjEc?list=PLo9f ... snJS3ya5WG (sao post video không được nhỉ? :nail_bite2: )

DMC: Vì Bé Su lấy link trọn bộ, (list) và không biết cách dùng đúng code cho list đó, nè bài TỨC GIẬN (Chỉ lấy phần đàu của link thôi)

TỨC GIẬN



Trọn bộ:


Image

For this message the author hathybesu has received thanks: 2
DaMinhChau, Duong Nam Anh
User avatar
hathybesu
SuperVIP Member
Master III
Đệ Nhất Hát Hay Đệ Nhất Đẹp Gái Đệ Nhất Ngoan Hiền 
4 years of membership4 years of membership4 years of membership4 years of membership
Status:Offline
Posts: 2778
Has thanked: 8629 times
Have thanks: 5590 times
Joined: December 15th, 2012, 10:16 pm
Last Visit: December 11th, 2017, 8:18 am
Country: Vietnam
    Windows 7 Chrome

Re: Hiểu về trái tim

Postby hathybesu » July 31st, 2017, 9:29 pm


Trong nhà, có lẽ mình là đứa bấp bênh nhất. Cho đến giờ, mọi thứ xung quanh mình vẫn chưa ra đâu vào đâu, nếu nhìn theo cách thẩm định của xã hội. Và cũng một thời, mình cũng thấy sao chuyện không vui cứ hay đến với mình.

Nhưng đọc xong cái mục KHỔ ĐAU, rồi cái mục HẠNH PHÚC, mình mới thấy lâu nay mình lầm. Đời của mình tính ra sung sướng, vui vẻ, tươi tắn, hạnh phúc hơn rất nhiều người. Cái may mắn nhất với mình bây giờ, là đang có cơ hội để đọc, học lấy những điều có tính giải thoát cho bản thân. Mong sao từ đọc tới học, tới luyện tập, thực hành, sẽ không quá xa.

1-KHỔ ĐAU

Người ta vẫn thường hay nói nghèo khổ. Nghèo khổ chứ ít ai nói giàu khổ cả. Thực ra người nghèo có cái khổ của người nghèo, người giàu có cái khổ của người giàu. Người nghèo vì không chấp nhận cái nghèo, oán ghét cái nghèo, muốn được giàu, nên họ khổ. Người giàu sợ bấy nhiêu tài sản chưa làm người khác nể phục, sợ bị phá sản, sợ bị người khác lợi dụng hay hãm hại mình nên khổ…So ra, cái khổ của người giàu còn phức tạp và nan giải hơn người nghèo. Phải chi trong xã hội ai cũng như ai, ai cũng sở hữu tài sản như nhau thì chắc chắn ý niệm giàu nghèo sẽ không có. Cho nên, nếu ta thoát khỏi ý niệm giàu nghèo, không bị cuốn theo quan niệm của xã hội, ta thấy hưởng thụ vật chất không phải là lý do lớn nhất khiến ta có mặt trên đời này thì ta sẽ không bao giờ than khổ.

Cực cũng vậy. Người ta vẫn thường gộp chung cực với khổ. Cực khổ, trong khi bản thân của việc cực nhọc chưa chắc là khổ. Chỉ vì ta bỏ thêm thái độ của mình vào, ta kháng cự lại nó, ta muốn mình không phải vất vả nhiều nhưng vẫn có đầy đủ mọi thứ như những người ta, nên ta khổ. Ta so sánh, đòi hỏi, chứ không cần tìm hiểu căn nguyên sâu xa tại sao ta lại cơ cực. Ta đã từng chứng kiến có những người chỉ cần người thân của họ qua khỏi cơn hiểm nghèo, dù người ấy không thể tiếp tục lao động thì họ vẫn vui lòng đem hết thân mạng ra để bảo bọc. Có những người làm công tác cứu hộ, họ biết lao vào lửa, chui xuống lòng đất hay đi ngang qua làn tên mũi đạn sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng nhưng vì tình thương mà họ cho đó không phải là nỗi khổ.

Dù nhiều người cho rằng cái cực tâm trí mới thật là khổ, phải suy tính đủ điều mới gánh vác nổi công việc. Nhưng trong thời buổi kinh tế suy thoái như hiện nay, mà còn có một công việc để làm, để suy tính thì đã là hạnh phúc lắm rồi.

Và điều mà ta thường than thở nhiều nhất, đó là đau khổ. Hễ đau là phải khổ, như là một sự thật không thể nào thay đổi. Ai đó tát vào ta một cái có thể làm ta đau. Nhưng nếu ta có lỗi với người ấy và sẵn sàng đón nhận nó thì cái tát đó sẽ không làm ta khổ. Đằng này bằng một thái độ khinh miệt, họ đã tặng ta một cái tát để sỉ nhục ta trước mọi người thì ta khổ thật đấy. Làm ăn thất bại, tiền bạc mất trắng…, ai mà chẳng đau, vì đó là mồ hôi nước mắt mà ta chắt chiu dành dụm suốt bao năm trời. Nhưng từ đau ấy đến cái khổ là khoảng cách khá xa, nếu ta biết rõ nguyên nhân và hoàn toàn chất nhận

Và có lẽ cái đau khủng khiếp của nhân sinh chính là sự chia lìa, nên được ví như khúc ruột cắt làm đôi, là đoạn trường thương đau. Nhưng nếu ta ý thức hợp tan là chuyện nhân duyên, biết đâu đó cũng là cơ hội để 2 người nhìn lại mà thay đổi chính mình, để tạo ra cái duyên mới trong tương lai tốt đẹp hơn. Cuộc sống luôn có những điều hợp với ý ta nhưng lại trái với sở thích của người khác, hoặc thỏa mãn nhu cầu người khác nhưng lại ngược lại với lòng ta. Ngay chính bản thân ta cũng có lúc sáng nắng chiều mưa, mà ta còn không hiểu nỗi. Có những cái trước kia ta ghét cay ghét đắng, nhưng bây giờ lại thích. Có những thứ trước kia ta hết sức say mê nhưng bây giờ ta chán ngán không muốn nhìn tới. Có những vấn đề trước kia ta hết sức xem thường, nhưng bây giờ ta lại cảm thấy rất hệ trọng. Giả sử mọi mong muốn của ta đều thành tựu hết, thì thử hỏi ta sẽ thành cái gì và cuộc đời này sẽ ra sao? Vậy mà ta cứ cố gắng đòi hỏi cho bằng được mà ít khi nào chịu suy xét cặn kẽ, những mong muốn của mình có thực sự hợp lý không? Tức là nó có cần thiết và phù hợp với khả năng của ta hay hoàn cảnh hiện tại của ta không, và nó có ảnh hưởng hay liên quan đến người khác không? Vì vậy, hầu hết mọi nỗi khổ của ta, thực ra chỉ vì bất như ý với ta mà thôi.

Rõ ràng, cái khổ của ta không hẳn là cái khổ của người khác. Cho nên, thay vì than van “Khổ quá”, thì ta nên nói “nó không như ý tôi” mới đúng. Cách gọi này sẽ đánh động vào ý thức, để giúp ta nhìn lại thói quen phản ứng của mình, thay vì rượt đuổi theo đối tượng khác. Từ đó, ta sẽ thấy quan niệm “Đời là bể khổ” chỉ là do cách nghĩ hay chỉ là định kiến.

Ta đừng bao giờ quên rằng, ta không phải là một cá thể tồn tại biệt lập mà phải chịu sự tương tác của bao nguồn lực chung quanh, từ bạn bè, gia đình, xã hội và cả thế giới bao la nữa. Dù ta có tài năng đến đâu, có chuẩn bị kỹ lưỡng đến mức nào, thì những điều bất như ý vẫn cứ xảy ra theo lẽ tự nhiên của nó. Hễ có thành thì phải có bại, có hợp thì phải có tan. Tại sao tại chỉ muốn thành và hợp, còn bại và tan, để cho ai? Lúc may mắn, sao ta không tự hỏi xem, mình có thật xứng đáng với thành quả này và có nên đón nhận nó hay không? Và khi gặp xui rủi, ta lại khóc than ầm ĩ, đòi hỏi công bằng. Ta đã hưởng quá nhiều tặng phẩm của vũ trụ, thì lâu lâu, bị vũ trụ lấy lại để chia cho người khác, thiết tưởng đó là lẽ đương nhiên chứ đâu có gì là thua thiệt.

Đối với những mất mát quá lớn, tất nhiên ta cần thời gian mới chấp nhận và cân bằng. Nhưng có những điều quá đỗi bình thường, nếu không nói là tầm thường, mà ta than khổ, thì đó là lỗi ở ta. Trời mưa cũng khổ, kẹt xe cũng khổ, bị lỗi hẹn cũng khổ, thúc ăn không vừa miệng cũng khổ, chiều cao không như ý cũng khổ, mau già cũng khổ, không ai hỏi thăm cũng khổ, được nhiều người thương cũng khổ… Tất cả chỉ do lòng tham của ta quá lớn mà nội lực của ta quá yếu kém, nên nó đã dìm ta xuống khổ đau mà thôi. Ta đừng đổ thừa hoàn cảnh. Không ai có thể làm cho ta khổ được, nếu ta có một hiểu biết đúng đắn và một khả năng chấp nhận đủ lớn.
Để có khả năng chấp nhận rộng lớn đó, ta cần biết thu gọn những mong cầu không cần thiết của mình. Ngay cả với những điều chính đáng, nếu không có nó mà ta vẫn có thể sống vững vàng và hạnh phúc được, thì ta cũng nên cố gắng khước từ, để tâm ta bớt lệ thuộc vào hoàn cảnh, để khi hoàn cảnh biến động thì ta vẫn bất động.

Ngoài ra, ta cũng nên luyện tâm cho mình cách đối mặt với khó khăn, hoặc tự tạo cho mình một cách nghĩ, cách sống đừng quá cầu mong sự an toàn, để sức chịu đựng trong ta mau lớn mạnh.

Một đứa trẻ lớn lên trong môi trường bảo bọc quá đầy đủ, muốn gì được nấy nên khi bước vào đời không có chút vốn liếng kinh nghiệm nào để chống chọi với khó khăn, nghịch cảnh. Chỉ cần một tác động nhỏ xíu, như bị chê bai, là nó đã chao đảo và muốn bỏ cuộc ngay. Cũng như những loại cây mọc trên đất tơi xốp, trông xanh tươi mơn mởn, nhưng chỉ cần một cơn gió lớn đi ngang qua đã gãy đổ. Còn những loại cây mọc trên đá núi tuy dáng dấp khẳng khiu nhưng độ bám rất vững vàng, không gió bão nào xô ngã nỗi. Cho nên ta không thể cầu nguyện cho cuộc đời đừng xô đẩy mình vào những hoàn cảnh nghiệt ngã, nhưng ta có thể làm cho mình không bị ngã trước những sóng gió cuộc đời bằng một trái tim vững chải.

Để có được trái tim vững chải, ta phải bớt chạy theo những cái mình vốn ưa thích và cố gắng chấp nhận những thứ mình vốn không ưa thích. Thích hay không thích đều là sự thể hiện của cảm xúc phục vụ cái tôi trong nhất thời. Chỉ cần điều chỉnh lại nhận thức, thì cảm xúc ấy sẽ tan rã ngay. Ta đừng vội kêu ca sống mà không hưởng thụ thì sống để làm gì. Có ai cấm ta hưởng thụ đâu. Nhưng cái gì cũng có cái giá của nó cả. Ta cứ dung dưỡng cho cái tôi yếu đuối đi, rồi đừng hỏi tại sao mình cứ khổ hoài.

Lẽ dĩ nhiên, một người có trái tim vững chải thì bao nhiêu danh lợi cũng không là vấn đề. Họ có đủ bản lĩnh để vượt lên danh lợi hay sử dụng danh lợi một cách hữu ích cho đời. Song thực tế, số người có ý niệm muốn buông bỏ thói quen hưởng thụ rất hiếm. Số người làm được lại càng hiếm hơn. Nhất là xã hội ngày này, người ta dám đạp đổ thành trì đạo đức để tranh giành quyền lợi, bất chấp hậu quả xảy ra cho mình, con cháu mình hay cho người khác. Vì vậy mà con người sống ngày càng khổ hơn. Cũng vì lẽ đó mà khổ đau đã vô tình trở thành bản trường ca bất tận và không ai mà không một lần hòa giọng ngâm nga nó. Đúng, khổ đau là thực tại không ai chối cãi nhưng tính chất nó vốn không cố định. Khổ đau không phải là bản chất mặc định của cuộc đời này.

Thực ra không có gì là khổ đau cả. Chỉ là guồng máy tâm thức trong ta vận hành sai lệch nên nó đã tạo ra phản ứng chống đối lại những hoàn cảnh mà nó cho là trái nghịch. Rất may, guồng máy tâm thức ấy là một hợp thể linh động nên có thể điều chỉnh được. Bắt đầu từ nhận thức đúng đắn trở lại về những gì liên quan đến mình luôn tương quan với vạn vật để nó không tiếp tục tạo ra những phản ứng ích kỷ. Đồng thời nó cần một khả năng quan sát và phân tích thật tinh tường về những thói quen mà ta đã tạo dựng trong quá khứ đến nay. Tiến trình tháo gỡ những tâm lý tiêu cực ấy chính là tiến trình vượt thoát khổ đau.

Càng bớt tự ái tổn thương là càng bớt khổ đau. Hết nghĩ cho cái tôi là hết khổ đau. Suy cho cùng, ta cần phải biết ơn khổ đau. Bởi khổ đau vừa giúp ta ý thức được cái gì là hạnh phúc, vừa giúp khả năng chịu đựng trong ta lớn mạnh, để ta có thể phát tiết hết bản năng sinh tồn tiềm ẩn của mình. Cũng như hoa đào phải nhờ cái rét của đông mới tung cánh tỏa ngát hương khi nắng xuân về. Nếu không bị lạc đường ta sẽ khó biết mình sợ hãi; nếu không bị xúc phạm, ta sẽ khó biết mình nóng giận; nếu không bị dối dạt, ta sẽ khó biết mình dễ tổn thương. Nếu không bị bỏ rơi, ta sẽ khó biết mình yếu đuối. Thông qua bản năng sinh tồn mà ta sẽ thấy rõ từng ngõ ngách sâu kín của phiền não tạo nên khổ đau, từ đó ta biết cách điều chỉnh lại tâm thức và nếp sống của mình, sao cho hài hòa với vụ trụ. Để sự hiểu biết và tình thương trong ta bừng nở, để ta có thể nắm tay nhau đi giữa thăng trầm của cuộc đời này một cách thong dong, tự tại.

Vậy nên tâm ta như thế nào, ta sẽ cảm nhận khổ đau như thế ấy. Vì khổ đau vốn từ tâm sinh ra mà cũng từ tâm diệt đi.

Nếu không có khổ đau, biết đâu là hạnh phúc
Nhờ mộng mị hôm nào, ta tìm về tỉnh thức.

2- HẠNH PHÚC

Hạnh phúc luôn là niềm khao khát lớn nhất của con người. Tùy vào hiểu biết của mỗi người qua từng xã hội, từng thời đại mà hạnh phúc được quan niệm một cách khác nhau. Không ít người cứ gặp phải xui rủi thường xuyên thì cho rằng, trên đời này làm gì có hạnh phúc. Còn những người trẻ thì cứ mơ mộng hạnh phúc ở cuối con đường mình đang đi. Và hàng bao lớp người đi gần hết kiếp nhân sinh này mà còn đuổi theo hạnh phúc như trò chơi cút bắt. Có khi tóm được nó thì nó tan biến. Có khi ngỡ mình tay trắng thì lại thấy nó hiện về. Mặc dù ai cũng mong muốn có hạnh phúc, nhưng khi được hỏi hạnh phúc là gì thì phần lớn đều rất lúng túng, định nghĩa một cách rất mơ hồ hoặc mĩm cười trong mặc cảm.

Chẳng phải ta cũng như bất kỳ người trẻ nào, đã từng thấy hạnh phúc khi nắm được mảnh bằng tốt nghiệp sau nhiều năm vật lộn với đèn sách. Nhưng chỉ liền sau đó, ta lại than phiền rằng, phải kiếm được việc làm có nhiều tiền, khiến bạn bè ai cũng nể phục thì mới thực sự là hạnh phúc. Rồi cái cảm giác hạnh phúc ấy không ở lại bao lâu, ta lại nghĩ nếu không cưới người mình yêu thì sao gọi là hạnh phúc. Và chưa được bao lâu, ta lại trông đứng trông ngồi có được đứa con rồi thêm đứa nữa cho vui nhà vui cửa đẹp lòng hai họ. Những ngày tháng hạnh phúc ấy lại qua nhanh. Bây giờ ta lại ao ước được dọn ra riêng, được sở hữu một căn hộ đắt tiền thì mới gọi là trọn vẹn. Và rồi ta lại bất an khi thấy bạn bè chạy chiếc xe đời mới, con của họ được học ở trường danh tiếng, chức vụ của họ được nhiều người ngưỡng mộ. Ta lo nếu không theo kịp thì hạnh phúc mình đang có cũng trở nên tầm thường, chẳng đáng vào đâu. Thế là ta cứ bỏ hình bắt bóng, đứng núi này trông núi nọ, rốt cuộc chẳng biết hạnh phúc là gì.

Tuy ta cảm nhận được hạnh phúc chính là cảm giác sung sướng, dễ chịu, thoải mái khi đạt điều mình mong muốn nhưng ta không lý giải được những cảm giác ấy đến và đi quá vội vàng. Ta mặc kệ,ta chẳng buồn nhìn lại, ta cứ lao tới, để nắm bắt những thứ mà ta đinh ninh rằng nếu không có nó thì ta không thể nào sống hạnh phúc được. Thật ngộ. Ta không biết được những gì ngay trong hiện tại có thể làm cho ta hạnh phúc thì làm sao ta quả quyết những gì trong tương lai có thể làm cho ta hạnh phúc. Hạnh phúc có phải là vấn đề của hiện tại hay tương lai không? Hạnh phúc có cần hội đủ những điều kiện tối ưu cho nó không? Nếu vậy những người không có đủ điều kiện ấy, thì họ không có hạnh phúc sao?

Thật ra những điều kiện của hạnh phúc luôn có mặt, chỉ có điều nó không hấp dẫn ta nữa mà thôi. Không phải nó mất đi tính hữu dụng mà tại ta mau chóng nhàm chán. Nhu cầu hưởng thụ của ta thay đổi liên miên, một phần do bản năng hưởng thụ quá lớn, một phần bị tác động bởi tâm thức xã hội. Đôi khi ta vất vả cả chục năm trời để mua cho được món đồ cao cấp sang trọng chỉ vì ta lo sợ, nếu không có nó, thì đời sống của ta không được an toàn, hoặc chỉ vì muốn chứng tỏ cho mọi người biết mình là ai, chứ ta có hưởng thụ được bao nhiêu đâu. Mọi tranh đấu của ta, chung quy cũng chỉ là để có càng nhiều càng tốt những tiện nghi vật chất và tiện nghi tinh thần để thỏa mãn cảm xúc, phục vụ cho cái tôi ham thích hưởng thụ không biết dừng của mình.
Nếu hạnh phúc chỉ là cảm xúc được thỏa mãn khi được hưởng thụ, thì ngay trong giây phút hiện tại đây, ta cũng đang nắm trong tay vô số những điều kiện mà nhờ nó, ta mới tồn tại một cách vững vàng. Vậy tại sao ta vẫn chưa thấy hạnh phúc? Một đôi mắt sáng để nhìn thấy cảnh vật và những người thân yêu, một đôi chân khỏe mạnh có thể đi đến bất cứ nơi nào. Một công việc ổn định đủ mang lại thu nhập kinh tế vừa giúp ta thể hiện được tài năng. Một gia đình luôn chan chứa tình thương giúp ta có điểm tựa vững chắc. Một vốn kiến thức đủ để ta mở rộng tầm nhìn ra thế giới bao la. Một tấm lòng bao dung để ta có thể gần gũi và chấp nhận được rất nhiều người. Đó không phải là điều kiện của hạnh phúc thì là gì? Chỉ cần ta nhìn sâu một chút, ta sẽ thấy mình sở hữu nhiều lắm, nhiều hơn là mình tưởng.

Đừng nhìn vào một vài điều chưa toại nguyện mà ta vội than trời trách đất rằng mình là kẻ bất hạnh nhất trên đời. Vì vậy, kẻ khôn ngoan không cần chạy thục mạng về tương lai để tìm kiếm những thứ chỉ đem lại những cảm xúc nhất thời, mà sẽ dành thời gian và năng lượng để khơi dậy và giữ gìn những giá trị hạnh phúc mình đang có. Không cần nhiều tiện nghi, chỉ cần sống một cách an vui là ta đã có hạnh phúc rồi. Mà ngay khi đời sống chưa mấy ổn định thì ta vẫn có thể hạnh phúc vì thấy mình còn may mắn giữ được thân mạng này.

Hãy nhìn một người đang nằm hấp hối trong bệnh viện, một người đang cố ngoi lên từ trận động đất, một người vừa suýt mất đi người thân trong gang tấc thì ta sẽ biết hạnh phúc là thế nào. Hạnh phúc của họ rất đỗi bình thường, đôi khi chỉ là một hơi thở, một nắm cơm hay một cái nhìn nhau lần cuối. Cho nên không có thứ hạnh phúc đặc biệt ở tương lai đâu. Ta đừng mắc công tìm kiếm. Có chăng chỉ là những trạng thái cảm xúc khác nhau mà thôi. Mà cảm xúc chỉ có ghiền chứ có bao giờ đủ.
Khi hay tin người thân đang bị kẹt trong bão tuyết thì tuy đang nằm trong nệm ấm chăn êm, ta cũng không tài nào hạnh phúc được. Ta không cần cảm giác sung sướng đó. Chỉ cần có mặt kịp thời để cứu giúp người thân thì dù có trải qua cái cảm giác lạnh thấu xương trong bão tuyết, ta vẫn thấy hài lòng. Cũng vậy, một bà mẹ làm việc quần quật suốt ngày để kiếm tiền lo cho con ăn học thành tài, thì phải chấp nhận sự mệt nhọc của thể xác nhưng bà cảm thấy thật hạnh phúc vì làm tròn tâm nguyện. Một người hoạt động chính trị bị khảo tra rất đau đớn nhưng họ vẫn thấy tự hào vui sướng vì đã đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Như vậy, hạnh phúc không chỉ là cảm xúc dễ chịu, đôi khi phải hy sinh những cảm xúc ấy để đổi lấy thứ hạnh phúc sâu sắc hơn. Đó là thỏa mãn ý chí. Mặc dù thỏa mãn ý chí vẫn còn đứng trên nền tảng cái tôi, phục vụ cho bằng được điều mình muốn làm, nhưng nó là sự hưởng thụ rất tinh tế và phải để tâm sâu sắc mới nhận ra. Bởi nó vượt qua những đòi hỏi tầm thường của thói quen, dốc hết bản năng sinh tồn để chịu đựng, vận dụng tất cả những hiểu biết và kỹ năng luyện tập để xử lý nên chắc chắn phẩm chất của nó bền vững hơn loại hạnh phúc được tạo nên bằng cảm xúc. Vì bản chất của cảm xúc biến đổi không ngừng theo tâm thức và sự chi phối của những đối tượng chung quanh. Nghĩa là hạnh phúc được thỏa mãn cảm xúc bị điều khiển hóa nhiều hơn là hạnh phúc khi được thỏa mãn ý chí.

Như vậy, khi gặp hoàn cảnh khó khăn, đối đầu với những cảm giác không mấy dễ chịu, ta đừng vội chống trả. Ta phải ý thức là mình đang thực hiện mục đích lớn lao hay cao cả nên không thể đòi hỏi những tiện nghi hưởng thụ tầm thường được. Nhưng có khi mức khó khăn của hoàn cảnh lên tới đỉnh điểm, khiến cho cảm giác khó chịu trở thành khổ đau thì ta cũng đừng vội bỏ chạy. Bởi chính cái khổ đau ấy sẽ làm cho ta ý thức được cái gì là hạnh phúc. Cũng như nếu ta bị đói, ta mới biết sự quý giá của thức ăn, đã từng chịu giá rét của mùa đông thì ta mới mong đợi nắng ấm về. Đã từng bị mất mát chia lìa, ta mới nâng niu từng giây phút đoàn tụ.. Đã từng trải qua tai nạn thập tử nhất sinh thì ta mới yêu thương quá đỗi cuộc đời này. Cho nên ta đừng sợ khổ đau, đừng chia tách rạch ròi giữa hạnh phúc và khổ đau. Vì không có khổ đau, ta sẽ không biết thế nào là hạnh phúc. Cũng như ngọc chỉ có trong đá, sen chỉ ở dưới bùn. Ngọc là sự kết tinh của sỏi đá, sen là sự kết tinh của bùn nhơ. Không thể nào tìm kiếm ngọc ở ngoài đá hay tìm kiếm sen ở ngoài bùn. Vì thế, không có cái hạnh phúc nào từ trên trời rớt xuống, cũng không có thiên đường nào chỉ toàn là hạnh phúc. Bởi ý niệm hạnh phúc chỉ có khi con người biết cảm nhận khổ đau. Hạnh phúc không thể thiếu khổ đau và còn nơi nào tuyệt diệu hơn cõi đời này vì nó có cả hạnh phúc lẫn khổ đau.

Hạnh phúc khi được sống với người mình yêu thương thường không còn được nguyên vẹn sau đôi ba năm. Hạnh phúc mua được căn nhà như ý thường không kéo dài quá đôi ba tháng, hạnh phúc được thăng chức thường được lãng quên sau đôi ba tuần và hạnh phúc được khen ngợi sẽ tan thành mây khói, bay đi chỉ sau đôi ba tiếng. Rồi ta lại khát khao đi tìm và dễ dãi tin rằng một đối tượng nào đó trong tương lai sẽ mang lại hạnh phúc lâu bền hơn. Vậy đó, hạnh phúc của ta thật ngắn ngủi. Đôi khi ta mất rất nhiều thời gian và năng lực để tạo dựng, nhưng rồi nó cứ bỏ mặc ta mà đi một cách tàn nhẫn. Tại vì nó vốn ngoài ta, ta đã vay mượn những điều kiện bên ngoài để nhào nặn ra một thứ hạnh phúc để ta hưởng thụ, nên ta không thể làm chủ nó là phải. Ta biết nhưng không thể làm khác vì ta không vượt qua được bóng tối tham vọng của mình.

Thực ra hạnh phúc thỏa mãn cảm xúc hay hạnh phúc thỏa mãn ý chí đều xuất phát từ tâm con người, chứ không phải do điều kiện bên ngoài. Nhưng vì thiếu hiểu biết nên ta cứ tưởng nếu không có cái này hay không có cái kia thì ta không thể hạnh phúc. Điều kiện bên ngoài cũng cần nhưng ít thôi. Cái trạng thái tâm lý không muốn tìm kiếm thêm bất cứ cái gì để phục vụ cho mình, và không cần loại trừ những gì mình cho là bất lợi, mới chính là hạnh phúc chân thật. Nó bằng lòng và chấp nhận tất cả. Nó chân thật vì nó là thứ hạnh phúc được tạo ra từ sự bình an của chính lòng mình chứ không vướng kẹt vào hoàn cảnh bên ngoài. Vì thế người xưa hay nói, lạc phải đi với an. An lạc thì mới bền vững.

Một người không có nhiều tiền, không có quyền lực, không được ai ngưỡng mộ nhưng luôn sống thảnh thơi, lúc nào cũng có thể mĩm cười, và tiếp xúc sâu sắc với những giá trị mầu nhiệm trong thực tại thì chẳng phải đáng kiếp sống sao. Tâm tham cầu và tâm chống đối thì ai cũng có. Có người trải qua vài biến động lớn lao trong đời thì những năng lượng ấy đột nhiên suy giảm. Nhưng phần lớn những ai nắm giữ hạnh phúc chân thật đều phải luyện tập chuyển hóa từng ngày những thói quen lâu đời ấy. Thực ra những mong cầu hay chống đối cũng chỉ là những phản ứng để phục vụ cái tôi dại khờ xưa nay của ta thôi. Chỉ cần ta nhận ra bản chất của mình, luôn sống trong tỉnh thức, để biết rõ mình đang làm gì, và với thái độ nào, tập buông bỏ dần những tham cầu và chống đối không cần thiết, để cái tôi bé nhỏ này được tan chảy vào vũ trụ, để nó vận hành đồng điệu với mọi người và vạn vật thì tự nhiên hạnh phúc trong ta sẽ rộng mở đến vô cùng.

Vậy nên tâm ta như thế nào ta sẽ cảm nhận hạnh phúc như thế ấy. Bởi hạnh phúc vốn có sẵn trong ta, ở đây và ngay bây giờ.

Mĩm cười nhìn đóa hoa
Lòng nghi ngờ tan vỡ
Hạnh phúc ở đây rồi
Dại khờ tìm muôn thuở
Image

For this message the author hathybesu has received thanks: 2
DaMinhChau, Duong Nam Anh
User avatar
hathybesu
SuperVIP Member
Master III
Đệ Nhất Hát Hay Đệ Nhất Đẹp Gái Đệ Nhất Ngoan Hiền 
4 years of membership4 years of membership4 years of membership4 years of membership
Status:Offline
Posts: 2778
Has thanked: 8629 times
Have thanks: 5590 times
Joined: December 15th, 2012, 10:16 pm
Last Visit: December 11th, 2017, 8:18 am
Country: Vietnam
    Windows 7 Chrome

Re: Hiểu về trái tim

Postby hathybesu » July 31st, 2017, 10:05 pm


Cứ tưởng yêu, thương là cảm xúc, là thiên tính, ai có mặt trên đời này chắc cũng đều biết rõ cả. Nhưng từ những gì đọc được, mới thấy chúng ta nhân danh tình yêu, tình thương, nhưng lại chủ yếu yêu thương bản thân là chính, nên ít có tình thương yêu chân thật và lâu bền.

TÌNH YÊU

Đã mang lấy một chữ tình
Người ta thường hay nói đùa với nhau: "Yêu thì khổ, không yêu thì lỗ. Thà chịu khổ còn hơn chịu lỗ". Nói đùa mà thật. Dù được cảnh báo yêu là khổ như một nguyên tắc bất di bất dịch, nhưng hầu hết ai cũng chấp nhận khổ để có được cảm giác yêu. Thi sĩ Xuân Diệu đã từng lên tiếng dùm ta: "Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào". Sống mà không yêu thương thì sự sống đâu còn ý nghĩa gì nữa. Hãy cứ yêu đi.

Càng yêu ta sẽ thấy cuộc đời này càng thêm mầu nhiệm. Nếu sợ khổ mà không dám yêu thì ta có chắc là mình sẽ sống hạnh phúc hơn không? Đời sống còn nhiều thứ khác khiến ta khổ chứ đâu chỉ có mỗi tình yêu. Xung quanh ta có biết bao người dám "chịu khổ" để yêu thì tại sao ta phải sợ? Tình yêu có thật đáng sợ như ta nghĩ không?

Yêu thương vốn là bản năng tự nhiên của con người. Nhưng nếu ta yêu thương con sông, yêu thương cánh đồng, yêu thương quê hương, yêu thương kẻ bất hạnh thì ta đâu có khổ. Đằng này đối tượng yêu thương của ta quá hấp dẫn, có thể đánh động vào cảm xúc khát khao của ta, có thể làm cho ta đêm nhớ ngày mong hay mất ăn bỏ ngủ, có thể khiến ta bất chấp tất cả để sở hữu được nó. Thi hào Nguyễn Du đã diễn tả tâm trạng này rất hay trong đoạn thơ: "Đã mang lấy một chữ tình/ Khư khư mình buộc lấy mình vào trong/ Vậy nên những chốn thong dong/ Ở không yên ổn ngồi không vững vàng/ Ma đưa lối quỷ đưa đường/ Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi".
Khi cảm xúc yêu đương bùng vỡ thì ta không còn tự chủ được nữa, mọi nhận thức hay phản ứng đều vượt tầm kiểm soát. Ta cứ lầm lũi lao tới phía trước như kẻ mộng du, không ý thức được mình đang đi đâu dù sắp bước vào hầm hố chông gai. Người Tây phương gọi trạng thái ấy là "fall in love" , tức là đang bị cuốn vào tình yêu, mà cũng có thể hiểu là đang bị té ngã trong tình yêu.
Cảm xúc yêu đương mãnh liệt đến thế, nên nó lấn át lý trí và lấn át cả những liên hệ tình cảm sâu sắc khác. Chẳng trách sao ai yêu rồi thì ít nhiều cũng trở nên mù quáng. Ta thấy ở đối tượng mình yêu toàn một màu hồng tuyệt hảo, rất khác với cái thấy của mọi người. Vì thế, ta muốn tháo tung ranh giới cái tôi của mình ra, để mời người ấy bước vào. Dĩ nhiên, ta cũng muốn người ấy nhường chỗ cho ta một nửa trong trái tim họ. Thậm chí ta còn muốn dâng tặng cả cuộc đời mình cho họ, nên ta đã mạnh dạn tuyên bố "yêu hết mình".

Thật ra, không ai đem hết con người của mình ra để yêu thương kẻ khác mà không mong muốn nhận lại điều gì cả. Lời tuyên bố ấy chẳng qua vì không kiềm chế nổi cơn cảm xúc muốn được thỏa mãn, hay vì muốn thấy giá trị của mình qua sự nâng niu của kẻ khác mà thôi. Bởi khi màu hồng ấy trong mắt ta nhạt phai thì trái tim ta không còn rung cảm nữa. Tình yêu như thế cũng chỉ là sự trao đổi cảm xúc. Một tình yêu đích thực phải chứa đựng tình thương, phải có thái độ muốn hiến tặng và chia sớt để nâng đỡ cuộc đời của nhau. Có thể ta đã từng lầm tưởng tình yêu là cung bậc cao hơn tình thương. Sự thật, tình yêu chỉ mạnh hơn tình thương về mặt cảm xúc thỏa mãn, nhưng tình thương lại lớn hơn tình yêu về mặt thấu hiểu và cảm thông. Tức là tình yêu nghiêng về phía hưởng thụ, còn tình thương lại nghiêng về phía trách nhiệm.

Trong liên hệ tình cảm lứa đôi, nếu tình yêu lấn át đi tình thương thì tình cảm ấy cũng giống như lửa rơm - bạo phát bạo tàn; còn nếu tình thương lấn át được tình yêu thì tình cảm ấy sẽ như lửa than - mãi âm ỉ cháy. Dù khởi điểm là vì tiếng sét ái tình, nhưng nếu ta biết nhận diện và buông bỏ bớt những đòi hỏi không cần thiết, hết lòng quan tâm đến cuộc đời của người mình thương, thấu hiểu những khó khăn hay ước vọng của họ mà tận tình giúp đỡ, thì ta sẽ có được tình yêu chân thật. Yêu không đúng cách Thi sĩ Xuân Diệu đã từng phát hiện ra những lý do thường khiến tình yêu rạn vỡ: "Người ta khổ vì thương không phải cách/ Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người".

Hãy luôn nhớ rằng, mọi hiện tượng trên thế gian này đều phải nương tựa vào nhau mới có thể tồn tại. Tình yêu cũng không ngoại lệ. Sẽ không có cái gì gọi là tình yêu nếu nó tách biệt với những yếu tố khác như sự bình an, vững chãi, bao dung, cởi mở, lắng nghe... Thậm chí nếu không có gia đình, bạn bè, xã hội, kinh tế, chính trị, đạo đức và cả thiên nhiên thì tình yêu cũng không có chỗ để tồn tại. Cho nên, nếu ta biết quay về chăm sóc những yếu tố tưởng chừng như đứng ngoài tình yêu thì cũng chính là chăm sóc tình yêu.

Vậy mà khi yêu ta thường chỉ để ý tới sự ham thích nhau, suốt ngày cứ quấn chặt vào nhau không dám rời nửa bước. Đến khi một bên không thể đáp ứng sự thỏa mãn, thì sự nhàm chán và phản bội nhau là điều tất yếu sẽ xảy ra. Khi ấy, bên ở lại sẽ dễ dàng ngã quỵ vì họ thấy không còn gì để sống. Thi sĩ Hàn Mặc Tử đã từng than thở: "Người đi một nửa hồn tôi chết/ Một nửa hồn kia bỗng dại khờ". Thật ra, ta chẳng bao giờ trao nửa linh hồn cho ai đâu. Chỉ vì một nửa (hay cả) đời sống của ta đã lỡ phụ thuộc vào cảm xúc của đối phương, nên khi họ đi rồi ta không còn chỗ bám. Cơn nghiện đang hành hạ ta đó thôi. Lắm lúc ta cũng rất thực dụng, đến với tình yêu theo kiểu tranh hơn tranh thua như trong chiến trường kinh tế. Hễ đòi hỏi được là đòi hỏi. Ta xem người ấy như sự bảo an vững chắc cho cuộc đời mình. Thành ra, cụm từ "đi tìm bến trong" bây giờ có nghĩa là tìm một nơi có thể bảo đảm cho mình một cuộc sống sung túc, không thua sút bạn bè.

Quan điểm này cũng bị ảnh hưởng sâu sắc từ tâm thức xã hội. Nhìn kỹ, ta sẽ thấy những đòi hỏi kia chỉ mang tới những cảm xúc tạm bợ qua sự tán thưởng của những người sống bằng hình thức, nhưng nó lại là thứ mộng tưởng điên đảo làm phương hại đến tình yêu. Vậy mà ta vẫn tin chắc rằng nếu có tất cả những thứ đó thì đời sống lứa đôi sẽ hạnh phúc hơn. Vì thế sự ham thích của ta không dừng, còn năng lực của người ấy lại bị ta vắt đến cạn kiệt, nên hai tâm hồn ngày càng cách xa nhau. Nếu người ấy vì đam mê mà vẫn cố gắng chiều chuộng ta thì chính họ cũng đang sống trong cơn mộng tưởng. Cả hai đều không cắm rễ vào nền tảng của tình yêu chân thật thì đừng hỏi tại sao chỉ vì bất đồng quan điểm với nhau, lỡ gây tổn thương nhau, thậm chí không tiếp tục làm thỏa mãn nhau là đôi bên dễ dàng bỏ nhau. Cũng có lần thi sĩ Xuân Diệu tự thú nhận: "Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá/ Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì".

Tình yêu cũng như một loại cây xanh, nếu ta không biết cách chăm sóc dưỡng nuôi, hoặc thừa hoặc thiếu, thì nó sẽ héo tàn và lụn bại. Cảm xúc thỏa mãn ai mà không thích. Nhưng sự thỏa mãn ấy phải đi liền với trách nhiệm thì ta mới có thể giữ gìn mãi được. Mà nếu ranh giới cái tôi thật sự được tháo tung để nhường chỗ cho người ấy, thì trách nhiệm dìu dắt nhau đi về hướng thảnh thơi và hạnh phúc chân thật không phải là gánh nặng hay là sự miễn cưỡng nữa.
Vấn đề là ta có khả năng nới rộng trái tim của mình ra không? Nếu ta còn quá coi trọng vật chất, vướng kẹt danh vọng, đam mê hình thức hấp dẫn, mà lại muốn có một tình yêu bền vững thì đó chỉ là tham vọng. Ta còn quá yêu bản thân mình thì làm sao ta có thể yêu thêm người khác. Dù có yêu người khác thì cũng chỉ để phục vụ cho bản thân mình mà thôi. Còn lỡ như đối tượng ấy xem tất cả những phương tiện kia là lý do chính để tình yêu có mặt, thì ta biết rằng đó chẳng phải là một nửa đáng tìm. Tuy nhiên, nếu ta đủ giỏi và bản lĩnh thì vẫn có thể dẫn dắt mọi đối tượng đi về hướng mình chọn mà không sợ "Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người".
Tình yêu có thật hay không là tùy thuộc vào sức mạnh và dung lượng trái tim của mỗi người. Bí quyết là ta phải luôn tỉnh táo để nhận ra mình và hiểu được người mình thương.
Yêu như yêu lần đầu
Xin nâng đỡ đời nhau
Bằng con tim hiểu biết
Lo sợ gì thương đau.
Tình yêu thương rộng lớn
Luôn đem tới niềm vui
Cùng sớt chia nỗi khổ
Dìu nhau về thảnh thơi

TÌNH THƯƠNG

Có bao giờ ta tự hỏi vì sao ta lại thương người ấy không? Vì họ dễ thương ư? Ồ, như vậy là ta chỉ đến để hưởng cái dễ thương ấy chứ ta đâu có thương. Điều đó thì ai cũng làm được, người nào cũng có thể thương một người dễ thương kia mà! Người dễ thương tức là người rất ngọt ngào, rất nhẹ nhàng, và đặc biệt lúc nào cũng quý mến hay nhún nhường trước ta. Nếu họ dễ thương với người khác mà không dễ thương với ta, thì chưa chắc ta thấy họ dễ thương và ta thương.

Trong những mối quan hệ ruột rà cũng vậy, có phải ta thương họ vì trách-nhiệm-phải- thương bởi họ có liên hệ ràng buộc với cuộc đời ta, hay vì ta biết họ đáng thương và đang cần đến tình thương của ta? Thực tế, không ít người đã cảm thấy mình chịu tổn thất quyền lợi quá nhiều vì những người thân, nên họ đã đóng cửa trái tim lại mà không muốn thương nữa. Thân chỉ trở thành thương khi cái thân ấy ít nhiều có thể mang tới quyền lợi, dù chỉ là thái độ nể trọng hay được tiếng là người tốt. Ai thương ta thì ta mới thương lại, ai không thương ta thì tội gì ta phải thương. Nghe có vẻ đổi chác sòng phẳng quá, nhưng đó luôn là thực trạng.
Đúng là rất khó có thể thương một người mà họ không hề thương ta, thậm chí còn thù ghét ta hay làm khổ ta nữa. Thà họ thương ta ít hơn thì may ra cũng còn chấp nhận được. Trừ phi đó là tấm lòng của cha mẹ hay những bậc tu hành đạt tới từ bi thì mới có thể thương yêu mà không đòi hỏi điều kiện. Ta như thế nào họ cũng thương. Nhưng ta cũng đã từng chứng kiến, có nhiều bậc cha mẹ cam tâm dứt bỏ con mình chỉ vì nó bị tật nguyền, hư hỏng. Hoặc có những vị nổi tiếng làm công tác từ thiện, nhưng lại dễ dàng làm ngơ trước đứa trẻ bụi đời chìa tay xin ăn ở một nơi không ai hay biết.

Thương yêu tuy là thiên tính của con người, nhưng ta phải luyện tập rất nhiều để chuyển hóa sự ích kỷ hẹp hòi thì tình thương mới chân thật được. Tình thương chân thật trước tiên phải là thái độ hiến tặng. Ta đừng nhầm lẫn với thái độ lăng xăng cố làm mọi cách để vừa lòng người kia, mà thực chất chỉ vì muốn "ghi thêm điểm". Sự hiến tặng chân thật phải xuất phát từ tấm lòng muốn cho bên kia được an vui và hạnh phúc hơn. Vì vậy, mỗi vật phẩm ta đem tới phải hoàn toàn vì quyền lợi của họ, chứ không được xen ké quyền lợi của ta vào, dù chỉ cần họ thấy được tấm lòng của ta. Muốn người kia thấy được tấm lòng của ta, thì cũng không ngoài mục đích khiến họ thương yêu thêm hoặc đánh giá cao về ta mà thôi. Dù biết rằng trái tim ta chưa quảng đại để có thể thương họ mà không cần được thương lại, nhưng cũng đừng vì thế mà ta cứ phải kèm theo điều kiện trong mỗi lần hiến tặng. Đó không còn là tình thương nữa.

Suy cho cùng, thương người khác đã là một sự hưởng thụ rồi. Chẳng phải trên đời này có biết bao người muốn thương mà không có người để thương đó sao. Người thì thiếu gì, nhưng người để thương ắt phải dính dấp gì đó đến ta, chứ đâu thể tự nhiên muốn thương ai là thương được đâu. Nói đúng hơn, đối tượng ấy phải từng có cảm tình hay ân nghĩa với ta, hoặc ít ra họ phải chấp nhận và cảm thấy vui sướng khi biết ta thương họ thì ta mới thương được. Nên có người để thương là hạnh phúc lắm rồi, đâu nhất thiết phải đòi hỏi họ làm gì thêm cho ta nữa. Một ngày nào đó mọi người bỏ ta chạy hết, ta chẳng còn ai để thương thì khốn khổ. Sống mà không thể thương yêu thì đó là một tai nạn lớn.

Vậy nên, ta hãy thương sao để đối tượng thật sự được thừa hưởng, mà ta vẫn không trở thành kẻ khổ lụy vì tình thương. Có như thế ta mới không làm lu mờ nghĩa đẹp của tình thương. Tình thương làchiasớt Nếu như hiến tặng là đem tới niềm vui, thì chia sớt là lấy đi nỗi khổ. Ai cũng có lúc gặp hoàn cảnh khó khăn hay vướng vào nỗi khổ. Nhưng họ sẽ không cảm thấy buồn tủi, mà trái lại còn có thêm nghị lực để vượt qua, nếu họ luôn có người thương ở bên cạnh để chia sớt. Dù ta không đủ sức kéo họ ra khỏi vũng lầy khổ đau, nhưng ít ra sự có mặt kịp thời của ta cũng có thể làm cho nỗi khổ niềm đau kia vơi đi ít nhiều. Bởi vì họ đã cảm nhận được sự chân thành của ta. Họ biết ta thật sự thương yêu cuộc đời họ, muốn gánh vác phần nào trách nhiệm cho cuộc đời họ, và muốn đồng hành với họ đi về tương lai.

Một nỗi đau khi được chứa đựng bởi hai trái tim thì chắc chắn nó sẽ không đủ sức làm thành nỗi đau nữa. Đó là lý do mà ta luôn cần có nhau trong cuộc đời này. Sống với một người lúc nào cũng nói thương ta, nhưng khi ta gặp khó khăn thì họ lại tỏ ra chẳng hề hay biết. Đến nỗi, ta đã trực tiếp báo cho họ biết và chỉ xin họ ngồi xuống lắng nghe để thấu hiểu thôi mà họ cũng có đủ thứ lý do để thoái thác. Tình thương như thế sẽ không mang lại hạnh phúc. Họ luôn nghĩ rằng, họ đã quá cực khổ để đem tiền bạc và danh dự về cho ta rồi, nên họ không còn đủ sức để nhận thêm những phiền toái khác nữa. Ta hãy tự giải quyết lấy. Đáng lẽ khó khăn kia chỉ là khó khăn thôi, nhưng chính thái độ hờ hững vô tâm của họ đã khiến cho khó khăn ấy biến thành nỗi khổ. Ta biết chứ. Ta biết họ đang rất bận rộn và không có nhiều năng lượng để giúp ta giải quyết vấn đề. Nhưng ta chỉ cần thái độ quan tâm chia sẻ của họ thôi, dù chỉ là một lời hỏi han cũng đủ làm ta cảm thấy ấm áp rồi. Vì thái độ ấy báo cho ta biết đó là người đang cùng chịu nỗi đau với ta. Có hiểu mới có thương, không hiểu mà thương thì tình thương ấy sẽ rất hời hợt và có khi là giả tạo. Mà muốn hiểu nhau thì cần phải lắng nghe nhau, phải biết bên kia muốn gì hay không muốn gì để ta ứng xử cho hợp lý.

Cho dù có những yêu cầu không thật sự chính đáng, nhưng ta cũng cần biết họ đang vướng kẹt vào tâm lý nào để kịp thời tháo gỡ. Nếu ta nhân danh tình thương rồi cứ làm theo kiểu của mình, thì rốt cuộc chẳng giúp được gì mà còn làm cho nỗi khổ lớn thêm. Dĩ nhiên thiện chí là cần thiết. Bởi đôi khi ta phải kiên nhẫn lắm mới lắng nghe nổi, hoặc ta phải khuyên lơn hay nài nỉ thì người kia mới chịu nói ra hết những niềm đau chôn giấu. Ngoài ra, ta còn phải đón nhận những năng lượng rất nặng nề từ những lời kể lể, khóc than hay đầy sân hận của họ mà không để bị tổn thương.

Vì vậy, thiện chí phải là thái độ biết nghĩ cho người kia hơn là nghĩ cho mình (thương), mà cũng phải biết cách nghĩ sao cho đúng đắn (hiểu) thì mới có thể giúp được. Cho nên nếu đã thật sự thương nhau thì ta phải luôn biết và hiểu được những gì đang xảy ra cho nhau mà không cần đợi loan báo.

Lòng phải hiểu được lòng mới là tình thương chân thật. Đâu cần làm điều gì quá lớn lao mới gọi là thương yêu. Chỉ cần thường xuyên quan tâm sâu sắc đến tình trạng sức khỏe của họ, nấu một món ăn đúng sở thích của họ, sẵn sàng xắn tay áo phụ họ rửa dọn bếp núc, giúp họ sửa lại cái thắng xe, không nỡ nhờ vả khi thấy họ đang bận bịu, không bao giờ bỏ mặc mỗi khi họ hoang mang hay lạc lõng. Như thế cũng đủ làm cho đối tượng thương yêu cảm nhận được sự chân thành của ta rồi.

Để có đủ năng lực làm tất cả những điều đó, ta phải ý thức rằng chia sớt và hiến tặng là hai chất liệu không thể thiếu trong bất cứ tình thương nào. Không có nó thì không có gì để gọi là tình thương cả. Bởi vì nỗi khổ của người ta thương cũng chính là nỗi khổ của ta. Ta không giúp người thương của ta thì ai sẽ giúp bây giờ?

Image

For this message the author hathybesu has received thanks: 2
DaMinhChau, Duong Nam Anh
User avatar
hathybesu
SuperVIP Member
Master III
Đệ Nhất Hát Hay Đệ Nhất Đẹp Gái Đệ Nhất Ngoan Hiền 
4 years of membership4 years of membership4 years of membership4 years of membership
Status:Offline
Posts: 2778
Has thanked: 8629 times
Have thanks: 5590 times
Joined: December 15th, 2012, 10:16 pm
Last Visit: December 11th, 2017, 8:18 am
Country: Vietnam
    Windows 7 Chrome

Re: Hiểu về trái tim

Postby hathybesu » July 31st, 2017, 11:13 pm


Đọc phần CHỊU ĐỰNG mình thấy nội lực mình quá yếu kém. Cũng không thể trách bản thân vì đúng là đã có thời gian dài mình không được nuôi dưỡng năng lực, để cho lo lắng và thế sự bên ngoài kéo trôi, để cho bản năng cảm xúc chi phối nhiều. Tính ra mình có lỗi với những người đã từng đi với mình trong những hành trình cũ... Nhưng mình sẽ rút kinh nghiệm cho chặng đường sau, chứ không có ý quay lại con đường cũ. Bởi những gì đã qua, mình nghĩ hãy cứ để nó trôi qua nhẹ nhàng

Đối với nội dung HIẾN TẶNG là phần rất giá trị, để mỗi người nhìn lại tâm thế khi bố thí, khi cho tặng, khi làm các việc phúc đức...

CHỊU ĐỰNG

Khi nghe bác sĩ báo tin ta đã bị ung thư, thông thường ta sẽ hốt hoảng và gào khóc lên: "Ồ không, không thể như thế được. Tôi có làm gì đâu mà phải bị ung thư. Tại sao không phải là ai khác mà lại là tôi?". Ta còn tưởng là mình không thể sống nổi khi nhận được hung tin ấy. Nhưng rồi chừng vài tuần hay vài tháng sau, ta cũng học cách chấp nhận được sự thật mình đã bị ung thư. Dù phải cần có những phương thuốc thích hợp để chữa trị lâu dài nhưng tế bào ung thư đã chậm phát tán, vì ta đã tạo được năng lượng hòa thuận với chúng mà không ra sức kháng cự hay ghét bỏ nữa.

Theo y khoa, tiến trình trị liệu đã bắt đầu xảy ra. Chấp nhận mình có bệnh là can đảm nhìn vào những khó khăn của cơ thể mình trong thực tại để kịp thời cứu giúp, chứ không phải là thái độ bỏ cuộc. Cũng vì chạy theo những tham vọng hay vì ý thức chủ quan mà ta đã để cho cơ thể mình xuống cấp trầm trọng. Đến khi nó không còn đủ sức để phục vụ cho ta nữa thì ta lại bực tức, trách móc và căm ghét nó. Đó là thái độ thiếu hiểu biết và thiếu tình thương với chính mình.

Có nhiều người tỏ ra rất tự tin khi tuyên bố: "Tôi không bao giờ chấp nhận thất bại". Đó là lời tuyên bố rất ngây thơ, vì không ai mà không từng thất bại dù họ đang rất thành công. Nên nhớ, những điều kiện đưa tới sự thành công có khi nằm ngoài tầm tay, ta không thể cưỡng ép nó đến với ta khi ta chưa tìm ra sự liên kết đúng đắn. Tất nhiên, cảm giác thất bại rất khó chịu. Ta vừa mất mát những gì mình đã hết lòng đầu tư, vừa suy giảm niềm tin vào bản thân, và vừa phải cố gắng tỏ ra bình thản trước mọi người. Nhưng tất cả sức ép đó đều do chính ta tạo ra. Nếu ta biết nhìn đúng đắn và khoáng đạt hơn về vị trí của mình và bản chất của đời sống, thì chắc chắn ta sẽ bớt ép uổng mình phải như thế này hay như thế kia.

Như khi ta phạm lỗi, dù đã được người ấy tha thứ, nhưng ta lại không chấp nhận bản thân mình. Ta không thể nào tin nổi một người có hiểu biết và vững chãi như ta mà lại vướng vào lỗi lầm không đáng ấy, nên ta căm ghét và muốn trừng phạt nó. Cũng bởi vì ta áp đặt mình phải luôn hoàn hảo, trong khi bản thân còn rất nhiều chỗ yếu kém cần được ta nhìn nhận và chăm sóc.

Chấp nhận yếu kém là trung thực với chính mình, là vượt qua được những thói quen đặt để hay sự đối phó không cần thiết. Khi ta đã luyện tập được thói quen chấp nhận những yếu kém của chính mình, chấp nhận được những điều không như ý xảy ra theo nguyên tắc nhân quả và duyên sinh của cuộc sống, thì ta cũng sẽ dễ dàng chấp nhận những vụng về và lầm lỡ của kẻ khác.

Nhìn lại, ta thấy phần lớn lý do không chấp nhận của ta cũng chỉ vì ta thấy người kia không còn gì hay ho để cho ta hưởng thụ, hoặc ta không muốn sự xấu xa của họ làm ảnh hưởng đến danh dự của mình. Chứ không phải vì ta muốn giúp họ cố gắng để tiến bộ hơn như ta giải thích.

Nếu ta thật lòng vì cuộc đời họ thì sự chấp nhận kia không phải là thái độ dung dưỡng cho thói hư tật xấu. Trái lại, nó còn giúp họ có thêm niềm tin và nghị lực để vượt qua bản thân. Vì họ thấy mình vẫn còn giá trị trong mắt người thương và họ còn tin tưởng tình thương chân thật luôn vượt ra khỏi sự sòng phẳng. Nên dù ta có chấp nhận hay không chấp nhận thì sự thật vẫn cứ diễn ra theo tiến trình của nó.

Nếu chọn lựa thái độ chấp nhận, không tiếp tục tránh né hay chống đối nữa, tức là ta đã bắt tay vào tiến trình tìm hiểu sự thật và tháo gỡ. Vấn đề dù vẫn còn đó, nhưng ta không còn thấy nặng nề và khó chịu nữa. Ta sẽ đủ kiên nhẫn tìm thêm điều kiện thích hợp để giúp nó được chuyển hóa.

Khả năng chịu đựng
Tùy vào nhận thức của mỗi người và thói quen luyện tập mà khả năng chấp nhận rất khác nhau. Có những vấn đề người khác chấp nhận một cách bình thường nhưng ta lại phản kháng kịch liệt, và ngược lại. Ngay cả chính ta cũng liên tục thay đổi mức độ chấp nhận. Có những điều tưởng chừng ta không bao giờ chấp nhận, nhưng bây giờ ta lại thấy cũng được; và có những điều ta đã từng chấp nhận một cách rất dễ dàng, nhưng sau này ta lại than chịu hết nổi.

Khi chấp nhận được ta thường cho rằng tại đối tượng kia dễ thương; còn khi không chấp nhận được thì ta lại đổ thừa tại họ tăng thêm mức khó chịu. Chứ ta không hề nghĩ rằng chính cơ chế tâm thức của ta đã không còn giữ nguyên trạng thái ban đầu.

Có thể nhận thức của ta đúng đắn hay lệch lạc hơn, trí tưởng tượng tạm dừng hoạt động hay phóng đại hơn, cảm xúc suy yếu hay mãnh liệt hơn, và những phiền não trong ta đã tan biến hay phát triển hơn. Vì vậy, ta đừng quá tin vào sự chấp nhận hay không chấp nhận hôm nay của mình.

Dù ta đang rất ổn khi thực hiện một quyết định, nhưng với thời gian thì chính ta và đối phương cũng sẽ có những chuyển biến rất bất ngờ. Ta nên biết rằng trái tim ta luôn có khả năng chứa đựng. Trong kinh Anguttara Nikaya, đức Phật từng đưa ra hình ảnh về sự chứa đựng rất hay. Giả sử có một người lấy một vốc muối bỏ vào trong tô nước thì tô nước ấy sẽ rất mặn, đến mức không thể uống được. Nhưng nếu họ cho vốc muối ấy xuống dòng sông, dù cho cả chục ký muối, thì nước của dòng sông vẫn uống được như thường. Nước của dòng sông uống được không phải vì nó không có chứa muối. Mà vì lượng nước quá mênh mông nên với số muối ấy thì chẳng có nghĩa lý gì cả.

Ai mà không có những nỗi khổ niềm đau hay khó khăn, nhưng vấn đề là trái tim mỗi người có đủ lớn để chứa đựng nó hay không. Nếu trái tim ta nhỏ mà khó khăn bên ngoài quá lớn thì tất nhiên ta sẽ không thể nào chứa đựng nổi. Một người cha quyết định từ bỏ đứa con hư hỏng vì sợ nó làm ảnh hưởng những đứa con còn lại thì không hẳn đó là một quyết định sai. Nhưng thực chất ông đã thất bại. Tình thương của người cha vốn bao la như dòng sông thì tại sao không chịu nổi nắm muối bé nhỏ của con? Một trái tim thật sự rộng lớn thì đâu cần đòi hỏi gì thêm nơi đối tượng đang quá yếu ớt.

Ta thường hiểu lầm chữ nhẫn nhục có nghĩa là đè nén hay cắn răng chấp nhận. Trong khi ý nghĩa của nó rất hay và rất gần gũi: chịu đựng. Chịu có nghĩa là đồng ý chấp nhận; đựng có nghĩa là cái khả năng dung chứa. Chấp nhận mà không có khả năng dung chứa thì cũng như không. Dòng sông vì có cái dung lượng lớn hơn cái tô gấp chục ngàn lần, nên nó mới chứa đựng được nhiều muối. Thi hào Nguyễn Du cũng đã từng nói: "Có dung kẻ dưới mới là lượng trên".

Người có khả năng dung chứa được kẻ khác, dù kẻ ấy có như thế nào cũng không bao giờ ghét bỏ hay loại trừ thì đó mới đích thực là người lớn, người bề trên. Cho nên, nhẫn nhục không phải là thái độ hèn nhát, mà đó là sự thực tập mở rộng dung lượng trái tim để chứa đựng được những khó khăn lớn.

Ta không thể nói tội tình gì mình phải nhẫn nhục. Cuộc đời không phải lúc nào cũng thuận theo ý ta đâu. Nếu ta không chuẩn bị sẵn một dung lượng trái tim khá lớn, thì sẽ có lúc ta phải gục ngã trước hoàn cảnh hay đánh mất người thương vì khả năng chấp nhận quá yếu kém của mình.

Điều tuyệt diệu là trái tim ta có thể mở rộng tới mức vô cùng - vô lượng tâm - không có biên giới. Tâm ta có thể ôm trọn trời đất này và cả vũ trụ, nếu nó phá vỡ được ranh giới của cái tôi bé nhỏ. Nhưng chẳng cần phải đi hết cả thế gian này để trải lòng ra như biển như đất thì ta mới có thể ôm hết muôn loài.

Chỉ cần có thể chấp nhận bất cứ một đối tượng nào đó, thấy họ chính là một phần thân trong bản thể vô ngã của mình, thì ta sẽ không thấy mình đang cố gắng chấp nhận gì cả. Chấp nhận mà như không chấp nhận. Có khả năng chấp nhận một cách tự nhiên như thế thì ta sẽ chấp nhận được tất cả mọi đối tượng. Đạt đến trình độ này là ta đã tìm thấy được con người chân thật vĩ đại của mình. Mọi vô thường biến hoại trên cuộc đời sẽ không còn đủ sức uy hiếp ta được nữa.

Nắm muối không hề mặn
Với lượng cả dòng sông
Lỗi lầm kia bé nhỏ
Với cõi lòng mênh mông

HIẾN TẶNG

Cho và nhận

Khi tặng quà cho một người nào đó, ta hay nghĩ rằng mình là ân nhân của họ. Vì món quà ấy dù mang giá trị vật chất hay tinh thần cũng đều góp phần làm cho họ được an vui và hạnh phúc hơn. Nói chung, ta nghĩ họ đã nợ ta một cảm xúc tốt.

Nhưng nếu ta thật lòng muốn tặng mà họ lại khước từ vì họ đã đầy đủ, hoặc vì họ không muốn mắc nợ ta, hay vì họ không còn có mặt ở đây để đón nhận, thì ý niệm hiến tặng sẽ không thể nào thực hiện được. Vậy nên, người cho cũng cần người nhận chứ không chỉ người nhận mới cần người cho. Và như thế, không chỉ người nhận phải cảm ơn người cho, mà người cho cũng phải cảm ơn người nhận. Bởi cả hai đều là điều kiện cần thiết cho nhau.

Điều này nghe rất lạ, nhưng đó là sự thật rất hiển nhiên để tạo nên sự cân đối giữa các mối liên hệ trong vũ trụ. Khi ta hiến tặng những món quà mà mình rất yêu quý, hoặc đã từng bỏ ra rất nhiều công sức để làm nên và món quà ấy thật sự có giá trị hữu dụng cho người kia, thì không những ta giúp họ được an vui và hạnh phúc hơn, mà chính ta cũng nhận được một nguồn năng lượng bù đắp từ vũ trụ.

Dù ta chỉ một lòng muốn giúp đỡ chứ không có ý gì khác, nhưng năng lượng được phóng thích từ tâm ý cộng với trị giá món quà sẽ kết nối với những nguồn năng lượng có cùng tần số trong vũ trụ, để phản hồi lại ta một hiệu ứng tốt đẹp. Hiệu ứng ấy có thể xảy ra tức thì, nhưng cũng có khi đến nhiều thế hệ sau nó mới hội đủ điều kiện để hoàn tất. Và dù món quà hiến tặng không phải là thứ ta yêu quý, hoặc không phải do chính công sức của ta tạo ra, cũng không mang lợi ích thiết thực cho người kia, thì ta vẫn nhận được sự hồi đáp không nhỏ. Vì ta đã có thiện ý muốn giúp.

Một sự thật khác. Từ khi ta phát sinh ý niệm muốn hiến tặng, đến suốt tiến trình hiến tặng và mãi tận sau này, mà ta cũng không hề có thái độ phân biệt chọn lựa hay coi thường đối tượng, không có ý muốn họ phải đền đáp, và không bao giờ cảm thấy tự đắc vì mình đã làm được một việc tốt, thì ta sẽ nhận được toàn bộ năng lượng đền trả của vũ trụ. Phần hồi đáp ấy có khi được nhân lên gấp bội. Bởi đó là sự hiến tặng trong sạch, hoàn toàn vì đối tượng chứ không xen ké quyền lợi của mình vào. Còn nếu ta chỉ chọn lựa đối tượng mình ưa thích mới hiến tặng, hoặc luôn mong mỏi người kia ghi khắc công ơn mình dù chỉ cần đáp lại bằng thái độ kính trọng, hay ta luôn thấy mình cao thượng vì đã làm được một việc tốt, thì năng lượng đền trả của vũ trụ cũng xảy ra.

Tuy nhiên, nó rất yếu ớt. Trong trường hợp ta mượn đối tượng ấy để đánh bóng tên tuổi của mình, hoặc để ta thực hiện việc tích phước với mong muốn đời sống của mình sẽ được an toàn và hạnh phúc hơn, hay để ta tìm thấy giá trị của mình sau những thất bại thảm hại trong cuộc đời, thì ta chỉ nhận được chút ít năng lượng từ món quà quý giá đã gửi đi. Điều không ngờ là nếu nhờ vào hình thức hiến tặng đó mà ta thu về khá nhiều quyền lợi, thì tức là ta đã vay lại từ đối tượng kia một món nợ cảm xúc. Dù họ không hề hay biết, nhưng vũ trụ sẽ có bổn phận lấy lại của ta bằng cách này hay cách khác để trả lại cho họ.

Như vậy, cho cũng chính là nhận, mà cũng có thể trở thành vay nợ. Tất cả đều tùy thuộc vào tâm ý của ta. Đó là lý do tại sao có rất nhiều người siêng năng làm công tác giúp đỡ, nhưng cuộc đời họ chưa bao giờ khởi sắc hơn cả. Thậm chí, càng giúp đỡ thì cuộc đời họ càng tăm tối hơn. Thêm một sự thật kỳ diệu nữa. Khi ta hiến tặng bằng tất cả tấm lòng, trao đi một món quà thật sự quý giá đối với ta và mang tới giá trị hữu dụng cho người kia, thì không những vũ trụ sẽ đền trả mà chính năng lượng trong người nhận sẽ tự động bị hút về người cho theo "quy luật cân bằng cảm xúc".

Mức cân bằng tùy thuộc vào quan niệm về trị giá món quà và ý nghĩa của sự hiến tặng giữa hai người. Nếu người nhận không còn đủ năng lượng dự trữ để hồi đáp thì vũ trụ vẫn chấp nhận cho nợ. Đến khi nào họ tích tụ thêm được năng lượng mới thì vũ trụ sẽ tiếp tục thu lại để gửi đến ta cho đến khi cân bằng. Điều kỳ diệu là lòng biết ơn, sự kính trọng hay tình thương chính là những nguồn năng lượng giá trị nhất để tạo thế cân bằng. Vì nó được sản sinh từ nền tảng vô ngã. Có được nó thì ta sẽ không còn lo sợ bị mắc nợ nữa. Ngược lại, thái độ vô ơn hay phản trắc sẽ khiến cho món nợ nhân lên gấp bội. Có khi đến nhiều thế hệ con cháu của ta mới trả xong món nợ ấy. Cho nên, nhận cũng chính là cho mà cũng có thể là vay thêm nợ.

Ta nên khôn ngoan từ khước những món quà không thật sự cần thiết, nếu biết năng lượng của mình không đủ để đền trả lại. Nhất là đối với những món quà được tạo ra từ năng lượng của đại chúng. Truyền thống Phật giáo đại thừa luôn nhắc đến nguyên tắc bố thí để trở thành sự bố thí tuyệt đối, đó là: "Tam luân không tịch". Nghĩa là ba đối tượng gồm người bố thí, người nhận bố thí và món quà bố thí phải nương tựa vào nhau thì mới thành lập được. Thứ nhất, người bố thí phải thấy cả vũ trụ trong họ cùng đang bố thí chứ không phải cái tôi biệt lập đang bố thí. Đặc biệt, nhờ có người đón nhận thì ta mới thực hiện được việc làm này, nên trước và sau khi bố thí trong tâm không hề có sự thay đổi. Thứ hai, người bố thí phải thấy món quà này cũng do sự góp mặt của vạn sự vạn vật mới làm ra được, nên không có thái độ lựa chọn giá trị cao thấp của món quà để bố thí. Thứ ba, người bố thí không có sự phân biệt hay đòi hỏi gì nơi người nhận, chỉ một lòng vì họ. Cả ba điều này nếu xảy ra đầy đủ thì ta sẽ đạt tới đỉnh cao của sự bố thí - bố thí không điều kiện hay sự bố thí trong sạch.

Nguyên tắc này có thể khiến ta không khỏi giật mình, vì dường như xưa nay ta chưa thật sự bố thí. Phần lớn chỉ là sự trao đổi cảm xúc qua lại: tôi cho anh cái này thì anh phải cho tôi lại cái kia. Nhưng không sao. Chỉ cần ta có ý niệm đúng đắn trở lại, cố gắng luyện tập thói quen quan sát tâm mình mỗi khi muốn bố thí và suốt tiến trình thực hiện để ngăn chặn những bám víu nhỏ nhoi.

Trong nhất thời, nếu không thể buông bỏ được thái độ bám víu vào hành động bố thí của mình thì ít nhất ta cũng đừng đòi hỏi đối tượng hay lợi dụng đối tượng để trục lợi. Tất nhiên, nếu tâm ta vẫn còn phiền não tham cầu và chống đối thì sự hiến tặng sẽ không thể nào đạt tới mức hoàn hảo. Dù vậy, càng tiến về nguyên tắc ấy thì ta sẽ càng tiến gần tới chân lý, để người cho và kẻ nhận đều được lợi ích.

Phước và Đức
Truyền thống văn hóa Việt Nam luôn đề cao hai phẩm chất quý giá của con người, đó là: phước và đức. Phước là năng lượng được tạo ra từ hành động hướng tới kẻ khác để giúp đỡ; còn đức là năng lượng được tạo ra từ quá trình chuyển hóa năng lượng xấu và phát huy năng lượng tốt của bản thân. Thực chất, phước cũng chính là đức và đức cũng chính là phước.

Trong khi hướng tới kẻ khác để giúp đỡ, ta không ngừng quan sát thái độ bám víu và đòi hỏi của mình để buông bỏ, đó là vừa có phước mà cũng vừa có đức. Còn trong khi quay về chăm sóc nội tâm, tháo gỡ những cố tật phiền não bảo vệ cái tôi, trở thành con người nhún nhường dễ thương, luôn tỏa chiếu năng lượng an lành và mát mẻ đến mọi người xung quanh, đó là vừa có đức mà cũng vừa có phước. Nếu chỉ có phước mà không có đức thì lòng tốt ấy chỉ là một sự đổi chác hay lợi dụng; còn nếu có đức mà không có phước thì đó chỉ là hành động trốn tránh, ích kỷ. Sự thật, phước và đức chỉ là hai mặt của một thực thể.

Thực thể ấy chính là vô ngã - bản chất của vạn sự vạn vật. Do đó, vì người cũng là vì mình và vì mình cũng là vì người, bởi không có ranh giới khác biệt giữa mình và người. Tùy theo hoàn cảnh mà ta cần phải chú trọng phần phước hay phần đức nhiều hơn, nhưng không bao giờ được quên tính chất liên đới và không thể tách rời của chúng. Cho nên, trong khi quay về xây dựng đời sống nội tâm ta phải thực tập làm sao để chính ta và mọi người chung quanh đều được lợi ích, dù ta chưa có hành động giúp đỡ nào cụ thể. Và trong khi hướng tới giúp đỡ mọi người ta cũng cố gắng thực tập làm sao để những đối tượng ấy thật sự được lợi ích và chính ta cũng thấy an vui, nhẹ nhàng và thanh thản, dù ta chưa chính thức bước vào công trình chuyển hóa tâm tính.

Tuy nhiên, trên thực tế thì thực tập phước thường dễ thất bại hơn thực tập đức, vì ta rất dễ bám víu vào hành động hiến tặng được cho là cao thượng của mình. Vì thế, quay về thay đổi chính mình trước khi muốn chia sẻ với người khác, tự lợi rồi mới lợi tha, là con đường hợp lý nhất. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận lợi như ta sắp đặt. Phải thông minh và bản lĩnh lắm thì ta mới có thể sử dụng phước và đức một cách uyển chuyển và hiệu quả. Vì người hay vì mình? Có một thiếu phụ nọ đến tìm tôi để tham khảo một quyết định. Con chó của bà đã già yếu, không còn ăn uống được nữa và nằm bất động một chỗ. Bác sĩ thú ý đã khuyên bà đừng để nó tiếp tục sống trong tình trạng như thế nữa, phải tiêm một mũi thuốc để giúp nó ra đi. Bà ấy biết điều bác sĩ khuyên là đúng nhưng bà làm không được. Bà cảm thấy tội nghiệp cho con chó, vì nó đã sống trung thành và thân thiết như một người bạn suốt mười lăm năm qua - kể từ khi bà ly dị chồng và sống hiu quạnh một mình. Tôi đã hỏi bà: "Nếu bà đã biết con chó đang trong cơn đau đớn như thế mà bà vẫn muốn níu kéo thì thật sự là bà đang thương nó hay thương chính bà?". Bà ấy lặng im rất lâu mà không trả lời được. Tôi nói thêm: "Nếu bà lấy cảm xúc cô đơn của mình ra để đặt mình vào nỗi khổ sở của con chó thì bà sẽ hiểu nó muốn gì trong lúc này. Bà thật sự thương nó thì hãy làm theo ý của nó đi. Bà phải can đảm chấp nhận sự mất mát này để đối tượng thương yêu của bà được mãn nguyện và hạnh phúc". Nghe tới đây bà mới thấm thía và an lòng chấp nhận. Khi hay tin người thân yêu đang trong cơn hấp hối, ta thường hay hốt hoảng than khóc và dốc lòng cầu nguyện cho người ấy đừng chết.

Câu hỏi đặt ra là ta thật sự muốn người ấy sống vì biết họ đang rất cần được sống, hay vì ta đang thương cho cái cảm xúc cô đơn hụt hẫng của mình? Hai thái độ hoàn toàn khác nhau - một cái vì người, một cái vì mình. Cũng có khi ta rơi vào tình trạng vừa vì người mà cũng vừa vì mình. Nhưng ta thường không thấy được sự thật ấy, nên lúc nào ta cũng tưởng là mình đã hết lòng vì người kia. Sự cầu nguyện như thế cũng khó mà thành công. Một trong những điều kiện để sự cầu nguyện thành công là ta phải dồn hết 100% tâm ý để hướng đến đối tượng.

Tâm chưa thật trong sạch thì không thể vay nợ vũ trụ. Cũng như khi quyết định không tha thứ hay trừng phạt người kia thì ta hay cho rằng mình phải làm như thế mới có thể giúp họ tỉnh ngộ. Nhưng sự thật là do ta bị cảm xúc tổn thương khống chế và muốn phóng thích nó bằng hành động trả đũa. Nếu hoàn toàn vì họ thì ta sẽ có vô số cách hữu hiệu hơn so với những hành động nặng nề kia. Và cách tốt nhất là dùng tình thương chân thành để cảm hóa.

Trong bài hát Để gió cuốn đi, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thật tinh tế khi viết: "Hãy nghiêng đời xuống/ Nhìn suốt một mối tình/ Chỉ lặng nhìn không nói năng/ Để buốt trái tim/ Để buốt trái tim". Khi thật lòng muốn giúp đỡ người nào, ta phải có khả năng thoát khỏi vai của mình để sẵn sàng bước vào vai của người kia thì ta mới có thể gần gũi và thấu hiểu họ được.

Ta phải "nghiêng xuống" bên họ vì ta đang trong tình trạng lành lặn, năng lượng dồi dào và trong vị trí của người hiến tặng. Ngoài ra, cần có thêm hai điều kiện nữa. Thứ nhất, phải có khả năng im lặng quan sát mà không lên tiếng trách móc hay buộc tội. Thứ hai, phải chuẩn bị tinh thần đón nhận những năng lượng tiêu cực trong tâm người kia tràn ra bất cứ lúc nào - nó có thể làm "buốt trái tim" ta. Biết sẽ chịu nhiều mất mát, thiệt thòi trong khi cứu giúp mà ta vẫn toàn tâm chấp nhận là vì ta có một tấm lòng lớn, một tình thương chân thật.

Tình thương chân thật là tình thương không có điều kiện hay rất ít điều kiện. Nó rất nhẹ. Nhẹ đến nỗi gió có thể cuốn đi khắp ngàn phương - "Sống trong đời sống/ Cần có một tấm lòng/ Để làm gì em biết không?/ Để gió cuốn đi/ Để gió cuốn đi". Tình thương là món quà cao quý nhất mà ai cũng cần. Dù ta hiến tặng bất cứ món quà nào thì tấm lòng chân thật mới thật sự quyết định nên giá trị đích thực của sự hiến tặng.
Tất cả cũng tàn phai
Chỉ tình thương ở lại
Những gì trao hôm nay
Sẽ theo nhau mãi mãi.




Image

For this message the author hathybesu has received thanks: 2
DaMinhChau, Duong Nam Anh
User avatar
hathybesu
SuperVIP Member
Master III
Đệ Nhất Hát Hay Đệ Nhất Đẹp Gái Đệ Nhất Ngoan Hiền 
4 years of membership4 years of membership4 years of membership4 years of membership
Status:Offline
Posts: 2778
Has thanked: 8629 times
Have thanks: 5590 times
Joined: December 15th, 2012, 10:16 pm
Last Visit: December 11th, 2017, 8:18 am
Country: Vietnam
    Windows 7 Chrome

Re: Hiểu về trái tim

Postby hathybesu » August 1st, 2017, 9:24 am


Ai mà chẳng có lo lắng. Người ta bảo, lo xa để khỏi buồn gần. Xưa nay, biết lo luôn là phẩm chất được đề cao của con người. Tuy nhiên, đúng là nhiều khi ta lo lắng quá nhiều thứ. Trong khi cái lo, nếu chỉ liên quan đến sinh tồn, như muôn thú vạn vật,thì nỗi lo ấy không đến mức thái quá và nặng nề, biến ta thành kẻ stress nặng, ăn không ngon, ngủ không yên, chìm trong mệt mỏi..
Dẹp được lo lắng, bỏ được những mong cầu hay chống đối, bình yên cũng tự nhiên tìm đến.
LO LẮNG

Ngày sau sẽ ra sao?
Do bản năng sinh tồn mà hầu hết các loài động vật đều có khả năng suy đoán những tình huống có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến cuộc sống hay cả tính mạng của mình. Như loài thiên nga phải lo tranh thủ cùng bầy di cư về miền Nam trước khi mùa đông đến. Nếu vô tình bị bỏ lại thì nó không thể nào một mình vượt nổi đoạn đường hàng nghìn dặm để về miền ấm áp, và có thể chết vì không thể tìm thấy thức ăn dưới những lớp tuyết dày. Loài tắc kè hoa cũng khẩn trương chuyển đổi màu da cho kịp thích hợp với màu vỏ cây hay màu lá khi thời tiết giao mùa. Tuy nhiên, lúc nào chúng cũng nơm nớp lo sợ những loài chim có cặp mắt tinh anh phát hiện ra sự ngụy trang của chúng. Vì thế, khả năng quan sát của tắc kè hoa cực kỳ nhạy bén, sự di chuyển cũng hết sức nhẹ nhàng và cẩn trọng. Loài người cũng vậy. Tổ tiên ta từ thuở xa xưa cũng vì lo nghĩ đến tương lai mà học cách quan sát thời tiết, chinh phục thú dữ, cất giữ hạt giống kỹ càng để chuẩn bị tốt cho mùa vụ sau. Cứ thế, sự lo lắng ăn sâu vào huyết mạch con người.

Ngày hôm nay ta cũng không khỏi tiếp nối và phát huy thứ vũ khí sinh tồn lợi hại ấy. Xã hội dù văn minh tới đâu cũng không thể nào dự phòng hết những khó khăn hay hiểm họa bất ngờ. Cho nên ai biết chuẩn bị từ xa một cách chu đáo thì được xem là mẫu người khôn ngoan, chín chắn. Thương gia thì luôn lo sợ mất khách hàng, thị trường biến động, làm ăn lỗ lã. Công nhân thì cứ mong muốn được tăng lương, hay lo sợ bị đuổi việc. Học sinh luôn quan tâm đến các kỳ thi, sợ không trúng tuyển vào những ngôi trường danh tiếng. Người bán hàng rong rầu rĩ khi thấy trời đổ mưa. Gã ăn mày cũng lo âu khi chiều tàn mà chiếc lon vẫn trống rỗng. Tuy nhiên, không phải bất cứ sự lo lắng nào cũng thuộc về bản năng sinh tồn. Có những mục tiêu chỉ nhằm thăng hoa sự hưởng thụ, không đạt được nó thì ta vẫn bình yên và sống tốt.
Nhưng nhận thức của con người khá kỳ lạ, cứ nghĩ rằng càng có nhiều điều kiện tiện nghi từ vật chất hay tinh thần (danh dự) thì sẽ càng an toàn và hạnh phúc nên cả đời không ngừng tích góp. Nhưng càng ra sức tích góp thì ta càng lo lắng. Dù cho đã đạt được nguyện vọng rồi ta vẫn cứ lo lắng. Ta sợ thành quả đang có sẽ bị hư hoại, hay thấy mình vẫn còn thua sút kẻ khác. Tệ hơn nữa, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi là ta bỗng thấy những gì đạt được không còn hấp dẫn. Nên ta lại vắt kiệt sức ra để tìm kiếm thêm, rồi lại lo lắng. Nỗi lo lắng của con người vì thế mà nhiều khôn xiết.

Có lẽ, đến khi nhắm mắt lìa đời thì họa chăng mới chấm dứt được. Tất cả nỗi lo ấy đều phát sinh từ nhận thức sai lầm và từ nội lực yếu kém của ta. Đó cũng là một bệnh trạng tâm lý cần phải chữa trị sớm. Bắt đầu từ sự lo lắng về một vấn đề cần phải giải quyết dứt điểm trong một thời gian ấn định. Nhưng vì chưa có giải pháp nên não bộ cứ liên tục nhắc nhở vấn đề khiến ta phải nhớ. Rồi lại lo lắng vì chưa tìm được giải pháp. Rồi lại nhớ vấn đề. Rồi lại nôn nóng giải quyết nhưng chưa được. Rồi lại lo lắng Mỗi vòng lặp lại như vậy sẽ làm cho mức độ cảm xúc xấu tăng dần, nếu bị dồn nén liên tục thì cảm xúc sẽ bị nghẽn mạch. Trường hợp đó là vấn đề quan trọng thì chắc chắn sự thôi thúc của ý chí sẽ càng lớn, cường độ sẽ càng mạnh và khả năng bùng vỡ cảm xúc sẽ càng dễ xảy ra. Lẽ dĩ nhiên, vấn đề quan trọng mà không được giải quyết thì ta phải chịu tổn thất nặng nề.
Nhưng sự tổn thất ấy sẽ không làm cho ta phải đau đầu hay khổ sở, nếu ta có khả năng chấp nhận nó như một sự thật ngoài ý muốn - điều vẫn thường xảy ra trong cuộc sống vốn không ngừng biến động này. Ít khi ta làm được như thế. Trong thực tế, chuỗi phản ứng tâm lý sợ hãi, lo lắng và căng thẳng cứ không ngừng xảy ra để bảo vệ quyền lợi mà ta đang có. Chuỗi tâm lý ấy là những cảm xúc rất tai hại. Một khi tâm lý bế tắc liên tục, sẽ khiến cho cảm xúc xấu dồn nén cao độ. Đây là cơ hội thuận lợi cho các nội tiết tố độc hại như epinephrine tiết xuất ồ ạt trong não bộ, khiến các hoạt động trao đổi chất của cơ thể bị rối loạn. Y học đã xác nhận sự rối loạn đó tác động mạnh mẽ đến sự hình thành bệnh tim mạch, suy nhược thần kinh, tăng huyết áp, giảm trí nhớ, trợ lực cho các tế bào ung thư phát triển. Ngoài ra nó còn khiến ta trở nên mệt mỏi, chán nản, khó tính và làm việc mất năng suất.

Tưởng tượng là tác nhân quan trọng tạo nên sự lo lắng đến mức căng thẳng và khủng hoảng. Nhưng trước khi trí tưởng tượng phóng đại lên những hình ảnh hoàn toàn không có thật thì nó thường bị kích động bởi tâm sợ hãi. Tâm sợ hãi bắt nguồn từ sự thiếu niềm tin vào kiến thức và kinh nghiệm đối ứng của mình trong việc giải quyết vấn đề, thiếu bản lĩnh để chấp nhận mọi tình huống xảy ra mà không sợ mình mất giá trị hay tổn thương.

Các nhà tâm lý học cho rằng cơ chế tâm lý của phái nữ nhạy cảm về những điều sắp xảy ra hơn phái nam, vì khả năng tưởng tượng của phái nữ cực kỳ phong phú. Nhưng ngược lại, khả năng ứng phó và chịu đựng cảm xúc xấu của phái nữ lại kém hơn phái nam nên khối lượng lo lắng của họ luôn khổng lồ. Nhiều thống kê cho thấy, hầu hết phái nam khi lạc đường khoảng nửa giờ hay một giờ sau mới chịu lên tiếng hỏi đường, còn phái nữ thì chỉ sau năm phút. Tất nhiên, trong số phái nam đó cũng có vài người vì sĩ diện nên không muốn lên tiếng. Nhưng cũng chính vì thế mà họ chịu khó vận dụng hết khả năng tiềm tàng và cố gắng đương đầu với những rủi ro bất trắc. Quả thật, sự lo lắng của phái nữ dường như không bao giờ ngừng nghỉ, ngay cả khi mọi thứ đã giải quyết đâu vào đấy.
Có lẽ do phái nữ thường quá quan trọng đến nhiều chi tiết xung quanh, mà hầu hết những lo lắng ấy đều dư thừa. Điều đó lý giải vì sao phái nữ thường khổ tâm hơn phái nam. Phút hiện tại nhiệm mầu Người xưa có nói: "Không lo xa ắt có buồn gần". Đó là lời nhắc nhở ta đừng sống phóng túng, dễ dãi, không ý thức hậu quả của mọi hành vi thì chắc chắn sẽ sớm ân hận hối tiếc, chứ không phải khuyên ta hãy lo lắng càng nhiều là càng tốt.
Dĩ nhiên, làm việc gì cũng đều suy tính cẩn thận trước thì ta sẽ dễ dàng đạt kết quả cao. Nhưng thực tế cho thấy không phải bao giờ ta cũng tiên đoán chính xác. Có những lo lắng không cần thiết và sai lệch trầm trọng, nhưng ít khi được ta xem xét lại hay buông bỏ bớt. Dù biết rằng thái độ lo lắng sẽ thúc đẩy ta siêng năng vận động và tập trung năng lực để giải quyết rốt ráo vấn đề, nhưng hậu quả trước mắt của sự lo lắng là khiến ta không thể có mặt trọn vẹn trong giây phút hiện tại để tiếp xúc sâu sắc với những giá trị mầu nhiệm xung quanh. Tâm trí ta lúc nào cũng bị chiếm đóng bởi vô số hình ảnh và âm thanh hỗn độn, thì làm sao ta còn đủ tinh thần để ghi nhận và quan sát? Tình trạng đánh mất mình cũng bắt nguồn từ đó.

Khi ta cầm một cốc nước trên tay và đưa lên cao, trong vài phút đầu ta thấy không có vấn đề gì. Nhưng chừng nửa giờ hay một giờ sau cánh tay ta sẽ tê cứng và đau nhức. Nếu cứ giữ như thế suốt một ngày thì chắc chắn toàn bộ cơ thể ta sẽ tê liệt. Tâm ta cũng vậy. Nếu phải gánh chịu sự lo lắng trong một thời gian dài thì nó sẽ bị tê liệt, không còn mạnh mẽ và sáng suốt để nhận diện hay giải quyết được vấn đề gì cả. Dù vấn đề sắp giải quyết rất quan trọng, nhưng nếu ta cứ mãi hy sinh những nguồn lực quý giá trong tâm hồn để có được sự hưởng thụ xa xỉ, thì ta có thật sự khôn ngoan không?
Muốn nắm bắt được sự sống, ta phải luyện cho mình có khả năng đặt nỗi lo lắng trong một khuôn khổ thích hợp. Nhưng với điều kiện là ta phải có đủ năng lực và tinh thần sáng suốt, để kịp thời quan sát tiến trình lo lắng diễn ra. Đừng để lo lắng đeo bám ta ở bất cứ nơi đâu và hình thành như một hoạt động tự nhiên. Năng lực lo lắng rất độc hại. Nó không chỉ khiến ta luôn nhăn nhó, khô cằn, mau chóng già cỗi, mà còn khiến cho những người xung quanh cảm thấy tê liệt và mệt mỏi.

Nên nhớ, lo lắng cũng có tính di truyền. Ta đã lỡ mang trong mình khối lo lắng quá lớn từ thế hệ trước truyền xuống, thì hãy cố gắng chuyển hóa dứt điểm ngay từ bây giờ, để con cháu ta nhẹ nhàng bước tới tương lai. Một trong những bí quyết giúp ta giảm bớt sự lo lắng là thái độ sẵn sàng chấp nhận kết quả tồi tệ nhất có thể xảy ra. Điều này còn tùy thuộc vào hiểu biết và bản lĩnh của mỗi người.

Đối với người từng trải, họ sẽ ưu tiên việc giữ gìn tâm hồn bình thản hơn là hy sinh chúng để có thêm sự hưởng thụ. Bởi sự hưởng thụ nào cũng chỉ có giá trị nhất thời, còn những xáo trộn tâm hồn sẽ chi phối đời sống ta mãi. Thật ra, chỉ tại ta quá lo lắng đó thôi. Còn thiếu gì lý do để ta thấy đời sống của mình có giá trị. Dù ta có phải chuốc lấy sự thất bại, thì đó cũng là bài tập quan trọng để ta kiểm chứng lại thái độ sống bám víu, hay để ta phát huy khả năng chịu đựng của mình. Khi ta đã chấp nhận được mức tổn thất tồi tệ nhất thì ta không còn lý do gì để lo lắng nữa, dù ta vẫn tiếp tục dồn năng lực giải quyết để giảm bớt hậu quả phải gánh chịu.
Chính thái độ không quá quan trọng việc thành bại sẽ giúp cho ta có đủ sự bình tĩnh, sáng suốt và tự tin để tìm ra những giải pháp đúng đắn nhất. Dĩ nhiên không phải lúc nào ta cũng có thể "mặc kệ" mọi vấn đề xảy ra, vì nó còn tùy vào mỗi vấn đề và cả trình độ của ta ngay lúc ấy. Vậy nên, ta cũng cần thiết lập một nguyên tắc thích hợp để giải quyết nhanh gọn các vấn đề mà không mất quá nhiều năng lượng.

Bước một, ta nên viết ra những điều đang lo lắng. Bước hai, ta cần ngồi lại tập trung tư tưởng để suy nghĩ cách giải quyết vấn đề đang lo lắng, tức là tránh tình trạng nghĩ ngợi lung tung ở mọi lúc mọi nơi. Bước ba, ta viết ra cách giải quyết vấn đề một cách chi tiết. Bước bốn, ta dồn hết năng lượng để giải quyết vấn đề đang lo lắng, nếu thấy thật sự cần thiết. Bước năm, ta loại bỏ những điều lo lắng ngoài khả năng hiện tại. Bước sáu, ta dứt khoát không bận lòng suy nghĩ đến những điều lo lắng không giải quyết được.

Điều nên lưu ý là trong sáu bước giải quyết vấn đề đều cần có sự thoải mái, bình tĩnh và không tự ép buộc mình phải làm cho bằng được. Phải can đảm dừng lại ngay khi ta thấy mình đang rất căng thẳng và mệt mỏi. Dịp khác tỉnh táo hơn, ta sẽ giải quyết tiếp. Nuôi dưỡng năng lực chú ý và quan sát thường trực đối với những gì đang xảy ra trong ta và xung quanh ta cũng chính là phương pháp rất kỳ diệu giúp ta dừng lại những suy tưởng mông lung và hồi phục năng lực. Bất cứ hoạt động nào trong đời sống thường nhật như nấu ăn, quét dọn, nói chuyện điện thoại, tiếp xúc khách hàng, lên kế hoạch hay quyết định công việc quan trọng cũng đều cần được chú ý và quan sát thật tinh tường.

Điều quan trọng nhất là phải thấy rõ những phản ứng của ta đi kèm theo đó. Bước ra ngoài trời đi bộ để tập trung tâm ý vào bước chân và hơi thở cũng là giải pháp cắt cơn lo lắng rất hữu hiệu. Năng lượng thiên nhiên sẽ góp phần làm cho ta tươi tỉnh và yên ổn trở lại. Nếu quá căng thẳng thì ta hãy nằm xuống thư giãn. Hãy nằm ngửa thoải mái trên sàn nhà hay trên giường, thả lỏng hai tay theo chiều cơ thể, hai bàn chân ngả ra ngoài, hai mắt nhắm lại và nở nụ cười nhẹ nhàng cho các cơ mặt được thư giãn. Tiếp theo đó, ta hãy theo dõi sự phình xẹp của bụng để ý thức hơi thở đang vào ra. Chừng năm phút sau, ta lại đem sự chú tâm đặt vào bất cứ bộ phận nào trên cơ thể bằng sự cảm nhận trực tiếp, chứ không cần phải dựa vào hơi thở nữa.

Nếu trong cơ thể có vùng nào đang bị bệnh hay đau nhức, ta hãy hướng sự chú ý vào đó lâu hơn, đồng thời gửi kèm theo đó ý niệm thương yêu. Thực tập vài lần ta sẽ cảm nhận được vùng đau nhức được xoa dịu và chữa trị từ năng lượng của những vùng lành mạnh khác. Trong khi thư giãn có thể ta sẽ chìm sâu vào giấc ngủ. Cơ thể và tâm thần bấy giờ đã mềm mại vì chúng rũ bỏ được những căng thẳng, lo âu. Nửa giờ thư giãn trong tư thế nằm như thế sẽ giúp ta sớm lấy lại sự tươi mát và an ổn.
Từ lâu sự bận rộn đã khiến ta đánh mất thói quen nghỉ ngơi. Khi thân thể mệt mỏi thì tinh thần cũng không thể nào sáng suốt. Nếu ta cứ mãi vắt kiệt năng lực của thân tâm để phục dịch cho những tham vọng của mình, thì một ngày không xa ta sẽ phải ân hận vì sự suy sụp không thể cứu vãn của chúng. Đừng mải mê lao theo những sự hấp dẫn bên ngoài mà quên mất mục đích chính của đời người là được sống.

Sống là để hạnh phúc và thương yêu nhau. Trải qua bao đợt thăng trầm, chắc ta cũng đã thấm thía rằng không có sự mất mát và khổ đau nào lớn hơn sự chia lìa. Tài sản hay danh dự đầy ắp để làm gì khi xung quanh ta không còn một ai để chia sẻ và cảm thông? Chính những nỗi lo toan quá lớn đã tách ta ra khỏi thực tại, khiến ta không còn nhìn thấy giá trị mầu nhiệm của những người thân yêu. Ngày mai sẽ ra sao, làm sao ta biết được. Hãy quay về nắm giữ những điều rất thật đang xảy ra hôm nay. Sống sâu sắc với hôm nay chính là bớt lo lắng cho ngày mai.

Ngày mai sẽ ra sao
Bây giờ ai biết được
Phút hiện tại nhiệm mầu
Hết lòng với nhau trước.

BÌNH YÊN

Cảnh bình tâm cũng bình

Tâm ta vốn gắn kết chặt chẽ với ngoại cảnh, vì hai nhu cầu hưởng thụ căn bản nhất của con người là tiện nghi vật chất và tiện nghi tinh thần (danh dự) đều nằm ở bên ngoài. Thế nên, ngày đêm ta không ngừng cầu mong những điều kiện thuận lợi luôn đến với mình. Chỉ khi nào những ước nguyện của ta đều được thành tựu, hay ít nhất không có bất kỳ khó khăn nào xảy ra thì ta mới thấy lòng bình yên. Rồi chẳng bao lâu những điều bất như ý lại ập đến, hoặc chính trong ta phát sinh những mong cầu khác nên cái bình yên kia không còn cơ sở để tồn tại được nữa. Cảnh không bình yên thì tâm cũng không bình yên.

Ta dễ thấy lòng bình yên mỗi khi rong ruổi đến một vùng quê xa xôi hẻo lánh, hay một miền sơn cước tĩnh mịch nào đó. Vừa tạm gác lại những lo toan tất bật của cuộc sống, vừa được nuôi dưỡng trong những cảnh vật hiền hòa và tươi mát, lại vừa cảm nhận được sự sống mà ta đang tiếp xúc ở từng phút giây, nên lòng ta đã thật sự lắng dịu và dừng lại. Nếu ta có chủ ý tìm đến không gian như thế để nuôi dưỡng tâm hồn thì hẳn nhiên ta sẽ trân quý từng khoảnh khắc trôi qua. Nhưng tiếc thay, sự cố gắng cũng chỉ là ý chí. Thói quen bám víu vào những đối tượng đem tới cảm xúc quen thuộc có thể xuất hiện bất ngờ và lấn át cả ý chí. Thế rồi, bỗng nhiên ta thấy mình không thuộc về nơi này nữa, lòng chợt bâng khuâng như kẻ xa lạ. Còn nếu vì bất đắc dĩ mà ta phải rơi vào khung cảnh bình yên thì chắc chắn ta sẽ thấp thỏm như ngồi trên than hồng. Thậm chí, ta còn tìm cách phá tan bầu không gian yên tĩnh cho thoải mái hơn. Nếu không được chuyện trò với ai, ta sẽ nhớ về quá khứ hoặc tưởng tới tương lai để giết bớt thời gian. Cho nên, cảnh bình yên cũng có thể làm cho tâm bình yên, nhưng nếu tâm bị xáo động quá lớn thì cảnh cũng chịu thua. Bây giờ nhiều người trẻ hay than cuộc sống quá bận rộn, đến nỗi họ không còn thời gian để nghỉ ngơi. Nhưng khi có được những ngày nghỉ thì họ lại kiếm đủ mọi việc để làm. Không đi mua sắm thì họ đi gặp bạn bè; không nấu nướng thì họ lên mạng tìm kiếm thông tin; không xem ti-vi thì họ lang thang ngoài đường. Dường như họ không thể nghỉ ngơi. Tâm tư phải bám vào một cái gì đó, ít nhất là phải nghĩ tưởng đến những điều gì mà họ cho là cần thiết. Như vậy họ mới thấy ổn. Khi nào đuối sức họ mới chịu dừng lại và chìm vào giấc ngủ; hoặc khi nằm trên giường bệnh hay rơi vào một tai nạn khốn đốn họ mới thấy giá trị của sự nghỉ ngơi.
Tâm bình yên trong trường hợp này vẫn còn dựa vào điều kiện của hoàn cảnh, vẫn nằm ngoài sự chủ động của ta. Nhiều người sau khi trải qua những tai nạn lớn lao, cảm nhận được giá trị của cuộc sống, ý thức được điều gì đáng giữ gìn, nên họ tưởng rằng mình đã bước sang khúc quanh khác của cuộc đời. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn ngủi thì những hấp dẫn của ngoại cảnh lại đưa họ trở về với tâm thức cũ. Họ lại tiếp tục tranh đấu và đầy mệt mỏi như chưa từng ngộ ra điều gì cả.

Có một vị tên là Huệ Khả đến cầu đạo với thiền sư Bồ Đề Đạt Ma. Trải qua nhiều ngày mà Huệ Khả vẫn chưa thấy thiền sư trao truyền những kinh nghiệm tu tập quan trọng như mong đợi, lòng chợt hoang mang. Huệ Khả liền lấy hết can đảm, bước tới chỗ thiền sư và quỳ xuống xin ban cho phương pháp giúp tâm yên ổn. Thiền sư bảo: "Đưa tâm không yên đây ta giúp cho". Huệ Khả nhìn kỹ lại mình để tìm kiếm tâm không yên, rồi thưa: "Dạ, con đã tìm nhưng không thấy ạ". Thiền sư cười đáp: "Ta đã yên tâm cho con rồi đấy". Ngay cả khi ta mong muốn được tiếp nhận những điều hay lẽ phải, tìm học những phương pháp giúp thăng hoa giá trị tâm hồn thì cũng có thể khiến tâm ta không yên, mệt mỏi và khổ sở.
Lẽ dĩ nhiên, không ai có thể đưa tâm mình ra cho người khác xem, bởi nó vốn không có hình tướng cụ thể. Huống chi, tâm không yên chỉ là một hiện tượng tâm lý nhất thời, nó không thể giữ nguyên một trạng thái. Nhưng thiền sư lại đề nghị đem tâm không yên ra là vì muốn giúp thiền sinh hiểu rằng: khi lòng còn mong cầu là còn không yên, hết mong cầu thì tự nhiên tâm sẽ yên. Đúng ra, thiền sư chẳng trao truyền phương pháp gì cả, chỉ nhắc thiền sinh quay lại dùng chính cái không yên của mình để tìm ra cái yên. Cái yên không dựa vào điều kiện bên ngoài như thế mới là cái yên chân thật. Tất nhiên, phải thêm nhiều công phu nữa mới giữ vững tâm yên ấy, nhưng đó là khởi điểm rất quan trọng.

Tâm yên cảnh sẽ yên

Khi tâm ta giữ được trạng thái quân bình với chính mình - hài lòng với những gì mình đang có, không mong muốn có thêm cũng không muốn loại trừ bớt - tức là ta cũng đang giữ được thế quân bình với vạn vật xung quanh. Đây chính là nền tảng quan trọng để cho sự yên ổn ra đời. Điều kỳ diệu là khi tâm bình yên ta sẽ thấy mọi đối tượng hay mọi vấn đề ở cung bậc khác, khá chính xác với những gì đang thật sự diễn ra. Bởi tâm bình yên không những rất trong sáng, mà còn có thể kết nối với những năng lượng phóng ra từ chính đối tượng hay vấn đề đang tiếp xúc. Vì vậy, khi tức giận hay yêu đương cuồng nhiệt, ta không thể nào thấy đúng đắn về thực tại. Ta dường như ở trong một thế giới khác. Khi nhìn những gợn sóng lăn tăn trên mặt hồ, có thể ta nghĩ cái hồ này đang bị xáo động. Hay khi nhìn thấy một màu trắng xóa bao phủ trên ngọn núi, ta lại tưởng ngọn núi này chắc đã già nua. Nhưng đó là cái nhìn hời hợt. Khi tâm bình yên, quan sát kỹ hơn ta sẽ thấy cái xáo động kia chỉ là phần trên mặt hồ bị gió tác động, chứ phía dưới mặt hồ vẫn yên lắng. Ta cũng phát hiện ra cái trắng xóa kia chỉ do tuyết phủ, chứ ngọn núi vốn rất xanh, rất trẻ.
Khi tâm bình yên, ta sẽ thấy rõ đâu là hiện tượng đâu là bản thể, đâu là giả tạm đâu là chân thật. Quan trọng hơn hết là ta đã tìm thấy được chính mình - cái tôi thật thà, hồn nhiên đã trôi lạc theo thăng trầm cuộc sống từ bấy lâu nay. Tâm bình yên mới đích thực là tâm chân thật của ta; còn tâm lao xao chỉ là sự biến động trong nhất thời. Đức Phật đã từng khẳng định: "Nhất thiết duy tâm tạo" - tâm ta như thế nào thì ta sẽ cảm nhận thế giới xung quanh như thế ấy. Đẹpxấu, cao-thấp, sang-hèn, thuận- nghịch vốn không phải là bản chất của thực tại. Tất cả đều do tham-sân-si của con người dệt lên. Khi được thỏa mãn những mong muốn của mình thì ta nghĩ cuộc đời rất tươi đẹp; còn khi mọi thứ diễn ra trái nghịch với những nguyện vọng của mình thì ta cho rằng cuộc đời thật đáng chán. Trong khi đó, vạn sự vạn vật trên thế gian này và cả vũ trụ bao la đều vận hành theo nguyên tắc rất tự nhiên: nhân quả và duyên sinh. Nó không chiều chuộng ai, cũng không có ý ghét bỏ ai. Chỉ tại ta quá tham lam. Khi nó thuận với ta thì ta mừng rỡ mà không hề ngạc nhiên và từ khước; còn khi nó nghịch với ta thì ta lại hốt hoảng và chống đối.

Cho nên, khi nào ta chuyển hóa được những năng lượng mong cầu và chống đối không cần thiết ấy, trả lại bản chất tĩnh lặng mầu nhiệm của tâm hồn, thì ta sẽ thấy thế giới xung quanh mình thật bình yên - rất dễ thương và rất đáng giữ gìn. Từ tuệ giác sâu sắc, đức Phật cũng đã từng nhấn mạnh: "Tâm bình thế giới bình". Dù thế giới xung quanh ta còn nhiều xáo động, nhưng nếu tâm ta bình yên thì sẽ không bị nó làm cho xáo động theo. Trái lại, năng lượng bình yên trong ta sẽ lên đường xâu kết với những năng lượng bình yên khác đang bàng bạc khắp nơi trên thế giới. Đến khi hội đủ điều kiện thì nó sẽ trở thành hiệu ứng vĩ đại - thế giới bình yên.

Thật ra, vạn vật trên khắp hành tinh vốn rất bình yên, chỉ có con người mới không bình yên và đã làm đảo lộn mọi thứ. Nhưng bản chất con người cũng rất bình yên, chỉ vì họ đã để cho những năng lượng tham cầu và chống đối lấn át đi vẻ tự nhiên hiền hòa mà trời đất đã ban tặng. Cho nên, không ai có thể làm cho mọi người trên thế giới này bình yên được cả, đó là vấn đề của mỗi người. Tuy nhiên, năng lượng bình yên trong mỗi người có tính tương tác rất lớn. Nó sẽ giúp cho điều kiện đi tới sự bình yên trong mọi người dễ dàng xảy ra. Vì vậy, năng lượng bình yên của mỗi người luôn rất cần thiết cho gia đình, xã hội, thế giới, và cả vũ trụ nữa.
Trong bài hát "Bình yên" , nhạc sĩ Quốc Bảo thật tinh tế khi nhận ra: "Bình yên một thoáng cho tim mềm/ Bình yên ta vào đêm/ Bình yên để đóa hoa ra chào/ Bình yên để trăng cao/ Bình yên để sóng nâng niu bờ/ Bình yên không ngờ/ Lòng ta se sẽ câu kinh bình yên". Khi tâm hồn bình yên, dù chỉ trong một thoáng, những giận hờn hay cố chấp cũng sẽ tan rã. Trong thoáng bình yên ấy, ta đã thấy được những thực tại mầu nhiệm mà thường ngày ta không hề thấy: đóa hoa vừa hé nở, trăng đang lên cao và sóng không ngừng nâng niu bờ. Tuy nhiên, nhạc sĩ lại khẳng định chính năng lượng bình yên của ta trong đêm nay đã khiến cho hoa nở, trăng cao và sóng nâng niu bờ.

Đúng là cảnh vật xung quanh vẫn xảy ra theo lẽ tự nhiên của nó, nhưng điều đó không có nghĩa là nó không liên quan gì với con người. Vì vạn sự vạn vật vốn luôn tương tác với nhau kia mà. Khi đóa hoa trong lòng ta đã nở, trăng trong lòng ta đã sáng trong, sóng trong lòng ta đã chấp nhận nâng niu bờ, thì làm sao những thứ bên ngoài ấy không được nuôi dưỡng bởi ta kia chứ? Và chính ta cũng không ngờ khi lòng bình yên thì từ bi bỗng nhiên thức giấc. Trong bài hát có hai câu rất lạ: "Như từ bao la ta ra đời một kiếp nữa/ Như từ trong nhau lớn lên khôn lên cùng nhau". Phải là người đã đi qua kinh nghiệm thương đau và đã từng chạm tới bến bờ bình yên mới viết được những câu này. Khi tâm hồn bình yên thì chẳng khác gì ta được sinh ra một lần nữa - ý niệm cũ chết đi để nhường chỗ cho ý niệm mới được sinh ra. Đó là con người mới của ta. Tuy nó và con người cũ không phải là hai cái khác biệt, nhưng không thể là một nữa rồi. Vấn đề là ta có thật sự muốn và can đảm để ý niệm giận hờn và thù hận trong ta chết đi, cho ý niệm bao dung và tha thứ được sinh ra không? Nhiều khi nó đã sinh ra rồi mà ta không chịu nhìn nhận. Ta cứ cố bám lấy con người cũ kỹ tàn tạ kia để thỏa mãn cái tôi ích kỷ và yếu đuối của mình.

Điều tuyệt vời là cái kiếp mới của ta có được chính nhờ vào cái khổ đau của người kia đem đến. Và khi ta ý thức rằng ta đã từ trong nhau lớn khôn lên thì làm sao có thể oán trách nhau? Cho nên "Tặng nhau nhé tiếng nghe hồn nhiên/ Để quên hết khó khăn chia lìa" - không những tha thứ mà ta còn trân quý giây phút được gặp mặt nhau, hết lòng giúp đỡ nhau tươi tỉnh lại chứ không trách móc hay hơn thua nữa. Chỉ có cõi lòng bình yên mới làm được như thế! Quả thật, chỉ khi nào tâm hồn ta không còn những khắc khoải mong cầu hay chống đối, chấp nhận và tùy thuận mọi hoàn cảnh, thì ta mới nếm được chất liệu bình yên và hạnh phúc chân thật. Trong giai đoạn ban đầu, nếu thấy khó giữ tâm trước những hoàn cảnh quá trái nghịch, thì ta hãy tạm thời tìm cho mình một không gian đủ an ổn để tịnh dưỡng tâm hồn.

Khi tâm hồn đã thật sự bình yên, những phiền não đã lắng đọng và chuyển hóa thì ta cứ mạnh dạn tiếp xúc trở lại với mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng. Dù hoàn cảnh vẫn còn đang xáo trộn, dù đối tượng vẫn chưa hết khó khăn, nhưng với trình độ mới của tâm thức thì ta sẽ nhìn thấy nó không còn là vấn đề ghê gớm nữa. Và chính ta cũng có thể góp phần làm cho tình trạng được thay đổi.
Cho nên, nếu biết tâm bình yên chắc chắn cảnh sẽ bình yên thì ta chỉ nên giữ gìn tâm mình mà không cần phải đuổi theo cảnh. Bởi cảnh bình yên mà tâm ta chưa bình yên thì ta cũng chẳng thấy nó bình yên.

Tùy thuận theo hoàn cảnh
Không buộc theo ý mình
Giữ tâm không giữ cảnh
Tâm bình cảnh cũng bình.

Image

For this message the author hathybesu has received thanks: 2
DaMinhChau, Duong Nam Anh
User avatar
hathybesu
SuperVIP Member
Master III
Đệ Nhất Hát Hay Đệ Nhất Đẹp Gái Đệ Nhất Ngoan Hiền 
4 years of membership4 years of membership4 years of membership4 years of membership
Status:Offline
Posts: 2778
Has thanked: 8629 times
Have thanks: 5590 times
Joined: December 15th, 2012, 10:16 pm
Last Visit: December 11th, 2017, 8:18 am
Country: Vietnam
    Windows 7 Chrome

Re: Hiểu về trái tim

Postby DaMinhChau » August 4th, 2017, 2:06 pm

Biết ra sao ngày sau.... thôi thì hãy sống như mai mình không còn sống nữa vậy.... :give_rose:
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image

For this message the author DaMinhChau has received thanks:
hathybesu
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership6 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 88954
Has thanked: 35380 times
Have thanks: 47697 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: December 13th, 2017, 1:51 am
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: Hiểu về trái tim

Postby Duong Nam Anh » August 4th, 2017, 8:13 pm

Tất cả sự "KHỔ ĐAU & HẠNH PHÚC" trên đời này đều do cái " DỤC " mà ra!
Vậy, muốn có được cuộc sống "AN... LÀNH"
Ta không thể không nghĩ đến "NHẪN NHỤC"... "TUỲ THUẬN" và... "BẰNG LÒNG"
cóp ý của Người đi trước


Trái tim nó không biết nói...Chỉ có cái đầu bảo...cái miệng nói thui...heheh


hay ghê

For this message the author Duong Nam Anh has received thanks:
hathybesu
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
8 years of membership8 years of membership8 years of membership8 years of membership8 years of membership8 years of membership8 years of membership8 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 75
Posts: 13067
Has thanked: 12531 times
Have thanks: 9969 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome


Return to My Blogs

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 4 guests