Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam

Read and learn ethnic origin Vietnamese | Hảy tìm hiểu và học hỏi nguồn gốc dân tộc việt

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam

Postby Duong Nam Anh » November 2nd, 2017, 12:41 pm

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image


Lời giới thiệu: “70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam” do Hoài Nam phụ trách và đã phát sóng trên đài phát thanh SBS ở Úc châu. Là một chương trình có sức hút mạnh mẽ đến thính giả và được lan truyền khắp nơi. Nhận thấy đây là một công trình biên soạn rất giá trị, nhạc sĩ Nam Lộc đã giúp chúng tôi liên lạc tác giả Hoài Nam và được phép tác giả đăng lại trên Trẻ. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

Theo lời Hoài Nam – người biên soạn – đây chỉ là một chương trình giới thiệu tân nhạc, với mục đích chính là phục vụ nhu cầu thưởng thức của thính giả, tác giả tự xét không có tham vọng và cũng không đủ tư cách để đánh giá các tác phẩm và các tác giả như một nhà phê bình, và trong chủ đề chỉ chuyên về tình ca này, tác giả tạm gác qua lập trường chính trị cũng như cuộc sống cá nhân của từng người. Mời quý bạn đọc theo dõi và xin được lắng nghe tất cả ý kiến từ quý bạn đọc…

Hoài Nam biên soạn
Thanh Thư chuyển văn bản

--------------------------------------------------------


Từ ngàn xưa tình yêu đã là đề tài muôn thuở của thi ca, âm nhạc. Riêng trong nền âm nhạc Việt Nam ca khúc đầu tiên bản “Kiếp Hoa” của Nguyễn Văn Tuyên, cũng chính là một bản tình ca. Cho nên, khi nền tân nhạc của Việt Nam tròn 70 tuổi, thì nhạc tình của chúng ta cũng trải qua ngần ấy Xuân, Hạ, Thu, Ðông. Trước khi đề cập đến nhạc tình, chúng tôi cũng xin sơ lược về sự hình thành và phát triển bước đầu của nền tân nhạc Việt Nam nói chung. Cho tới nay, mặc dù chưa có một công trình nghiên cứu nào được chính thức nhìn nhận là lịch sử của nền tân nhạc Việt Nam, nhưng cứ theo ký ức của những người đi tiên phong, thì nền tân nhạc này được hình thành trong thập niên 1930. Ðây là khoảng thời gian có nhiều diễn tiến và biến đổi trong cuộc sống tinh thần và văn hóa của người Việt. Về mặt khách quan, nghệ thuật và văn hóa lãng mạn của Tây phương, chủ yếu là của Pháp đã bén rễ. Tiểu thuyết, phim ảnh có tiếng nói, và đĩa nhạc đã được du nhập vào. Về mặt chủ quan, chữ Quốc ngữ đã thực sự phát triển với những tác phẩm hoàn toàn thoát khỏi truyền thống văn học từ chương viết bằng Hán Văn, mà quan trọng nhất là phong trào thơ mới và các tác phẩm văn học của “Tự Lực Văn Ðoàn”.

Image
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên

Image
Bài nhạc Một Kiếp Hoa


Trong lĩnh vực ca nhạc, ngay từ sau Ðệ Nhất Thế Chiến, một số ca khúc của Pháp đã bắt đầu được người Việt ưa chuộng. Từ những suất hát cải lương ở Việt Nam với hai ban nhạc, một cổ truyền, một sử dụng nhạc khí Tây Phương, cho đến những người hát rong, hát dạo ngoài đường trình tấu, trình diễn các ca khúc mang từ mẫu quốc sang.

Tới khoảng năm 1933-34, hai nghệ sĩ tiền phong ở trong Nam là Tư Chơi tức Huỳnh Thủ Trung và Năm Châu tức Nguyễn Thành Châu, đã đề xướng việc đặt lời cho các ca khúc Pháp, để trình diễn trên các gánh hát Trần Ðắc và Phước Cương mà người ta gọi là những bài hát Ta điệu Tây.

Tới năm 1937, thể loại bài hát này đã phổ biến khắp nơi. Tại các Ðài phát thanh ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội, đâu đâu cũng thấy ca hát theo giọng Tino Rossi, nam danh ca Pháp được ưa chuộng nhất thời bấy giờ. Nhiều hãng đĩa nhạc bắt đầu tung ra thị trường những bài hát Ta điệu Tây do hai cô Ái Liên và Kim Thoa trình bày.

Theo cố nhạc sĩ Lê Thương, việc truyền bá những bài hát Ta điệu Tây đã tạo một ảnh hưởng quan trọng là thay đổi thị hiếu của công chúng khiến họ càng thêm chuộng cái mới lạ và muốn quên lãng những gì không thay đổi trong âm nhạc cổ truyền. Thế nhưng các nhạc sĩ tiên phong đã không thỏa mãn với những bài hát Ta điệu Tây, mà muốn viết những bài hát hoàn toàn Việt Nam từ nhạc cho tới lời.

Bản nhạc đầu tiên của thể loại này là bản “Kiếp Hoa” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên (Kiếp Hoa hay Một Kiếp Hoa – Nguyễn Văn Tuyên-thơ Nguyễn Văn Cổn- Ngọc Hà trình bày https://www.youtube.com/watch?v=LZ3MGjjCygs) một người gốc Huế, sống ở Sài Gòn, đã được phổ biến trên Ðài phát thanh Ðông Dương tức Radio Indochine. Vào cuối năm 1937, bản “Kiếp Hoa” cùng với 2 sáng tác khác của Nguyễn Văn Tuyên là “Anh Hùng Ca” và “Bông Cúc Vàng” về sau đã được ghi nhận là 3 ca khúc đầu tiên của nền Tân Nhạc Việt Nam, mà lúc đó được gọi là Âm Nhạc Cải Cách dịch từng chữ Musique Renovée của Ðài phát thanh Ðông Dương.
Tuy nhiên trên thực tế ba sáng tác nói trên của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên, chỉ là 3 ca khúc đầu tiên được phổ biến chứ chưa hẳn là những ca khúc đầu tiên được sáng tác, bởi vì vào khoảng thời gian này ở ngoài Bắc các nhạc sĩ tiên phong của nền tân nhạc Việt Nam như Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Văn Chung, Doãn Mẫn, Canh Thân, Lê Thương, Hoàng Quý, Ðặng Thế Phong, v.v… cũng đã sáng tác Âm Nhạc Cải Cách rồi nhưng chỉ phổ biến trong nội bộ các nhóm nhạc của mình cho tới khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên ra Bắc.

Tháng Tư năm 1938, được sự trợ giúp của Thống Ðốc Nam Kỳ và sự bảo trợ của Ðài Phát Thanh Ðông Dương, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên ra Bắc để diễn thuyết cổ động cho Âm Nhạc Cải Cách. Chuyến đi của ông đã được báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng và báo Ngày Nay của Tự Lực Văn Ðoàn hết lòng ca ngợi và trân trọng giới thiệu.

Riêng báo Ngày Nay, cơ quan ngôn luận uy tín nhất tại miền Bắc thời bấy giờ, sau đó đã khởi xướng hô hào các nhạc sĩ ở miền Bắc phổ biến các sáng tác của nền nhạc mới. Ðể rồi tới tháng 9 năm đó những tác phẩm đầu tiên của các nhạc sĩ đã lần lượt xuất hiện trên mặt báo.
Ngoài hai bản Kiếp Hoa và Bông Cúc Vàng của Nguyễn Văn Tuyên, còn có Bình Minh của Nguyễn Xuân Khoát phổ thơ Thế Lữ, (Bình minh -Lê Dung trình bày http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/binh- ... .html), Bản Ðàn Xuân của Lê Thương (Bản Ðàn Xuân-Tâm Vấn trình bày http://cuongde.org/index.php/nghe-nhac/ ... m-van), Khúc Yêu Ðương của Thẩm Oánh v.v…
Các ca khúc này đã được dùng vào việc khiêu vũ và trình diễn trong các buổi hoà nhạc vì chuyến đi của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên trong năm này cũng như sự hưởng ứng của các nhạc sĩ tại miền Bắc về sau, mốc điểm của thời gian 1938 đã được hầu hết các nhà nghiên cứu cũng như các nhạc sĩ tiên phong xem là khởi điểm của nền tân nhạc Việt Nam.


Image
Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát

Image
Bài Khúc Yêu Đương của Thẩm Oánh
HN



Chú thích của Thanh Thư

Kiếp Hoa hay Một Kiếp Hoa, còn được biết đến với tên Hoa Tàn. Nguyên là một bài thơ của cụ Nguyễn Văn Cổn và được cụ Nguyễn Văn Tuyên phổ thành ca khúc năm 1938. Ðây được coi là bài hát đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam. Cụ Nguyễn Văn Tuyên người gốc Huế nhưng sinh sống tại Sài Gòn và đã mang bài hát này ra trình bày trong các buổi diễn thuyết về đề tài “Âm Nhạc Cải Cách” tức ‘Tân Nhạc” ngày này tại Huế, Hải Phòng và Hà Nội năm 1938.

Bản ghi âm trong clip này được trích từ buổi hội thảo và triển lãm về đề tài “Báo Phong Hóa-Ngày Nay” và nhóm “Tự Lực Văn Ðoàn” trong hai ngày 6 và 7 tháng 7 năm 2013 tại tòa soạn báo Người Việt, Nam California, Hoa Kỳ.

Một Kiếp Hoa – Nguyễn Văn Tuyên-Nguyễn Văn Cổn – Ngọc Hà trình bày

https://www.youtube.com/watch?v=LZ3MGjjCygs

Kỳ tới

Doãn Mẫn và Ðặng Thế Phong
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 2nd, 2017, 1:01 pm

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image


Dzoãn Mẫn và Đặng Thế Phong



Image
Ga Hàng Cỏ xưa, nơi Dzoãn Mẫn lấy cảm hứng sáng tác Biệt Ly. nguồn: mapio.net


Hoài Nam biên soạn
Thanh Thư chuyển văn bản

------------------------------------------------


Bước sang đầu năm 1939, một số sáng tác đã được xuất bản và bày bán tại các tiệm sách, trong đó được đón nhận và ưa chuộng nhất phải là ca khúc Biệt Ly của Dzoãn Mẫn. Biệt Ly không chỉ là ca khúc tiêu biểu nhất của Dzoãn Mẫn, mà còn là tiêu biểu của tình ca trong nền tân nhạc Việt Nam buổi sơ khai. Nghe nói ca khúc này đã được Dzoãn Mẫn sáng tác khi ông còn là một học sinh trung học, khi ấy mang tựa là Huyền Trân, nằm trong vở kịch Huyền Trân công chúa. Vở kịch này Dzoãn Mẫn viết để các bạn cùng trường (Trường Bưởi sau này là trường Chu Văn An), trình diễn trong một đêm văn nghệ cuối năm của học sinh, tại nhà hát lớn ở thành phố Hà Nội. Ca khúc có một nội dung lãng mạn, ngọt ngào, lời hát như một bài thơ tình buồn, nửa thực, nửa hư.

Image
Dzoãn Mẫn. nguồn: dongnhacxua.com


“Biệt ly sóng trên dòng sông… Ôi còi tàu như xé đôi lòng ….”. Còi tàu ở đây là còi tàu thủy, mà nhà thơ Nguyễn Ðình Toàn đã mô tả. Ðó là tiếng còi tàu của những chuyến tàu Nam, tức từ Hà Nội xuống Nam Ðịnh. Những người sống hai bên ven sông Hồng gần bến Phà Ðen, chắc không ai quên được tiếng còi tàu này. Nhất là, vào những buổi chiều mùa đông, đất trời u ám. Cái tiếng ù ù trầm nặng, ngắn ngủi của còi tàu, chỉ nghe thôi, cũng đã đủ não lòng, nói gì đến phải chia ly trong cảnh ấy. Thời ấy, sinh viên, học sinh, ở Hà Nội chịu ảnh hưởng văn chương lãng mạn Pháp, hầu như ai cũng thuộc lòng bản Biệt Ly. Khi đang yêu, và nhất là yêu mà được đáp trả, chẳng ai muốn biệt ly, hoặc đi tới ly biệt. Nhưng lạ một điều, ai cũng thích hát và thích nghe hát bản Biệt Ly. Hình như trong thi ca, trong âm nhạc, cái buồn sầu, khổ đau, bi lụy, đã vượt lên trên ý nghĩa của đời thường, để chỉ còn lại những nét đẹp và thơ. Dzoãn Mẫn, không chỉ là một trong những nhạc sĩ tiên khởi của nền âm nhạc Việt Nam, mà còn là một tác giả chuyên biệt về tình ca. Trong những năm đầu của nền tân nhạc Việt Nam, ngoài bản Biệt Ly ông còn sáng tác các ca khúc Sao hoa chóng tàn, Tiếng hát đêm thu v.v.. Rất tiếc, từ sau cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ và tiếp theo là “Quốc Cộng phân tranh”, người ta không thấy có thêm sáng tác mới nào của ông nữa. Có thể vì máu lửa của chiến tranh, mặt trái của chủ nghĩa, khinh bạc của con người, đã khiến nguồn tình trong ông khô cạn.

Biệt Ly Dzoãn Mẫn-Tuấn Ngọc trình bày

http://nhacpro.net/bai-hat/biet-ly-tuan-ngoc.5dno.html

Biệt ly nhớ nhung từ đây

Chiếc lá rơi theo heo may

Người về có hay

Biệt ly sóng trên giòng sông

Ôi còi tàu như xé đôi lòng

Và mây trôi nước trôi

Ngày tháng trôi cùng lướt trôi



Về hình thức, ca khúc Biệt Ly cũng giống như tất cả các ca khúc của nền tân nhạc Việt Nam buổi sơ khai, là một sự dung hòa giữa hệ thống Ngũ Cung của nhạc dân tộc và hệ thống Thất Cung của nhạc Tây Phương. Một số người cho rằng nền tân nhạc của Việt Nam đã dứt bỏ hoàn toàn âm hưởng của Ngũ Cung. Ðây là một nhận xét không chính xác. Thật ra, các nhạc sĩ Việt Nam cũng như Trung Hoa, Nhật Bản v.v… khi soạn nhạc theo khuôn khổ và hình thức nhạc Tây Phương, vẫn giữ được âm hưởng của Ngũ Cung. Một điển hình tuyệt vời nhất, là trường ca Hòn Vọng Phu của Lê Thương vào những năm sau đó, viết theo cung bậc của nhạc Tây Phương mà vẫn chất ngất, dạt dào, thấm đượm và phô diễn dáng nét đặc thù của nền nhạc dân tộc. Dĩ nhiên, tùy theo xuất thân và cảm quan cá nhân, mức độ và hình thức dung hòa giữa hệ thống Ngũ Cung và hệ thống Thất Cung của mỗi nhạc sĩ, có thể khác nhau. Hầu hết các nhạc sĩ có công khai sáng nền tân nhạc Việt Nam, đều không được học đến nơi đến chốn về âm nhạc Tây Phương. Năm 1927, nhạc viện Viễn Ðông được mở ra tại Hà Nội, nhưng ba năm sau đó đã phải đóng cửa, vì những khó khăn kinh tế của cuộc đại khủng hoảng. Những người muốn học nhạc, ai may mắn thì tìm được một vị thầy người Pháp, bằng không thì chỉ còn cách tự học qua sách vở, hoặc theo học hàm thụ các trường nhạc bên Pháp. Cũng có một số người, lương cũng như giáo, có cơ duyên theo học nhạc với các vị tu sĩ Công Giáo và sẽ ít nhiều chịu ảnh hưởng lối viết nhạc và hòa âm của loại nhạc tôn giáo cổ điển Gregorian mà người Việt dịch là Vãn Ca hoặc Bình Ca.

Image
Đặng Thế Phong. nguồn: sbs.com.au

Nhạc sĩ được nhiều người đánh giá có trình độ nhạc lý cao nhất đó là Dương Thiệu Tước. Sở trường của ông là Hạ Uy Cầm. Ông có một tiệm bán đàn và lớp dạy Hạ Uy Cầm ở phố Hàng Gai, Hà Nội. Giữa thập niên 1930, ông cùng với Thẩm Oánh và vài nhạc sĩ khác thành lập một ban nhạc lấy tên là Myosotis. Lúc đầu, chỉ chuyên trình bày nhạc Pháp hoặc nhạc Việt, lời Pháp, chẳng hạn hai bản Joie d’aimer và Souvenance do Dương Thiệu Tước viết nhạc và Thẩm Bích (bào huynh của Thẩm Oánh), đặt lời. Hoặc bản nhạc không lời Ton Doux Sourire do Dương Thiệu Tước soạn riêng cho Hạ Uy Cầm. Nhóm Myosotis thường hoà nhạc tại các tư gia để trau dồi nghệ thuật. Chỉ thỉnh thoảng mới trình diễn tại các rạp chiếu bóng trong các dịp gây quỹ từ thiện. Năm 1939, nhóm Myosotis đã đi tiên phong trong việc xuất bản những ca khúc nhạc cải cách, tức nhạc Việt, lời Việt của các thành viên trong nhóm. Nếu ở Hà Nội có nhóm Myosotis thì Hải Phòng có nhóm Hải Phòng, gồm những tên tuổi lẫy lừng bậc nhất trong nền tân nhạc Việt Nam thời tiền chiến, như Văn Cao, Canh Thân, Hoàng Quý, Lê Thương v.v… Nhưng đó là chuyện của mấy năm về sau. Còn vào năm 1939, người thứ nhì sau Dzoãn Mẫn đã chinh phục thính giả với một tình khúc bất hủ, là một thành viên của nhóm Nam Ðịnh, cũng là một trung tâm văn hóa quan trọng ở miền Bắc thời bấy giờ. Nhạc sĩ ấy là Ðặng Thế Phong, tình khúc ấy là bản Ðêm Thu.

Ðêm Thu – Ðặng Thế Phong -Thu Hà trình bày

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/dem-t ... ejbim.html

Vườn khuya trăng chiếu

Hoa đứng im như mắt buồn

Lòng ta xao xuyến

Lắng nghe lời hoa

Cánh hoa vương buồn trong gió

Ánh hương yêu nhẹ nhàng say

Gió lay


Image
Bìa nhạc Con Thuyền Không Bến


Vào thuở sơ khai của nền tân nhạc Việt Nam, một sáng tác đầu tay mà đạt tới mức tuyệt vời về cả hình thức lẫn nội dung, như bản Ðêm Thu của Ðặng Thế Phong, không phải là chuyện bình thường.

Những lời ca mông lung trữ tình, “Vườn khuya trăng chiếu, hoa đứng yên… Lòng ta xao xuyến, lắng nghe lời hoa….” theo nhịp 3/4 khoan thai, êm ái tức điệu Boston, để chuẩn bị cho lời ca dồn dập, theo điệu Valse lả lướt. “Hoa lá cành,.. bóng trăng lam dịu dàng,.. ru hồn bao nhớ nhung”, đã có sức thu hút thính giả ngay khi thưởng thức lần đầu. Ðặng Thế Phong, một nhạc sĩ trẻ và chết trẻ. Ông mất khi mới ngoài 20 tuổi, chỉ để lại cho đời ba sáng tác, cả ba đều nói về Thu, cả ba đều là những tình khúc bất hủ. Ðêm Thu mà quý vị vừa thưởng thức, rồi Con Thuyền Không Bến và cuối cùng là Giọt Mưa Thu.

Con Thuyền Không Bến Ðặng Thế Phong-Ánh Tuyết trình bày

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/con-t ... NOqOJ.html

Image
Ban kịch Học Sinh, báo Học Sinh, 23 tháng 11 năm 1939, tr 14. nguồn: bbc.com


Cố nhạc sĩ Lê Thương đã nhận xét rằng, “Trong cả ba ca khúc của Ðặng Thế Phong đều như chứa đựng một mê luyến mông mênh, như tiên kiến cho cuộc đời đoản mệnh”. Một số người khác, chi tiết hơn, thì cho rằng, vì cả ba sáng tác của Ðặng Thế Phong đều nói về thu. Mùa thu là mùa lá rụng để chuẩn bị chết theo mùa Ðông, cho nên nó ám vào người. Thông thường cái chết của các danh nhân luôn luôn được huyền thoại hóa, nhất là cái chết trẻ như trường hợp của Ðặng Thế Phong. Ngày còn nhỏ, Ðặng Thế Phong ôm mộng trở thành họa sĩ. Cũng giống như Nhất Linh, ông thi đậu vào trường Mỹ Thuật, nhưng sau đó bỏ dở ý định theo đuổi hội họa. Huyền thoại kể lại rằng, khi thi vào trường, Ðặng Thế Phong vẽ một thân cây cụt, không có ngọn rất đẹp. Vị thầy người Pháp chấm điểm không tiếc lời khen ngợi, nhưng nói thêm, e rằng Ðặng Thế Phong sẽ không sống lâu được. Ðấy là một sự tiên đoán, còn muốn lý giải, thì có thể nhắc lại cái chết của một người họ Ðặng khác vào thời xa xưa, Ðặng Trần Côn, tác giả Chinh Phụ Ngâm. Ngày ấy, sau khi đọc xong tác phẩm này, một học giả Trung Hoa đã nói, người này nhiều lắm chỉ sống thêm được 5 năm nữa, bởi vì bao tinh hoa đã trút hết ra đây cả rồi.

Ðặng Thế Phong cũng thế, tuy ông chỉ viết được ba ca khúc, nhưng tinh hoa chất chứa trong đó, có thể còn nhiều hơn cả một đời sáng tác của một số người. Cả ba ca khúc ấy, lại đều là tình khúc, cho nên tính cách bất tử là một điều khẳng định. Một trong những điểm độc đáo và tuyệt vời trong ba ca khúc ấy là tình khúc, mà không có hình ảnh của một người tình. Chỉ có gió trăng, hoa lá, dòng sông, con thuyền và những giọt mưa thu. Làm sao một thanh niên ở lứa tuổi 20 như Ðặng Thế Phong lại có thể cảm nhận được “Dương thế bao la sầu….”, như ông đã viết trong Giọt Mưa Thu. Nghe nói, khi mới viết xong ca khúc này, Ðặng Thế Phong đã đặt tên là Sầu Vạn Cổ, nhưng sau đó thấy nó buồn quá, ông mới đổi thành Giọt Mưa Thu. Nhưng dù gọi là Giọt Mưa Thu hay Sầu Vạn Cổ thì ca khúc ấy, cũng đã để lại cho dương thế biết bao nỗi sầu. Hay vì đời người vốn dĩ đã man mác những nỗi sầu, như con thuyền trôi trên dòng sông mà không biết đâu là bờ bến.

Giọt Mưa Thu Ðặng Thế Phong-Thái Thanh trình bày



Image
Bài Sáng Trăng, Đặng Thế Phong viết cho báo Học Sinh, 24 tháng 8 năm 1939, tr. 8.
HN


-------------------------------------------------


Chú thích của Thanh Thư

1. Hình “Ga Hàng Cỏ Xưa” là nơi Dzoãn Mẫn lấy cảm hứng sáng tác bài “Biệt Ly” như trong đoạn tâm sự “Tôi viết Biệt ly năm tôi vừa 20 tuổi. Hồi đó, cha tôi làm việc ở ga Hàng Cỏ, Hà Nội. Nhà ở gần ga nên tôi thường hay ra ga chơi, chứng kiến nhiều cuộc chia tay đầy nước mắt trên sân ga, nhất là những đôi trai gái yêu nhau nhưng vì hoàn cảnh phải ly biệt. Ðiều đó khơi dậy trong lòng tôi nhiều cảm xúc và tôi có ý định sáng tác một bài hát về đề tài chia ly. Tôi nghĩ rằng tôi sáng tác bài Biệt ly với rất nhiều kỷ niệm. Qua những cuộc chia ly mà tôi được chứng kiến ở sân ga Hà Nội, ở bến cảng Hải Phòng đã cho tôi rất nhiều xúc động….” Trích trong bài viết ‘Biệt Ly (Dzoãn Mẫn) của Ðỗ Ðình Hoạt’ http://www.dongnhacxua.com/biet-ly-dzoan-man

2. Bài Sáng Trong Rừng và Sáng Trăng là hai bài nhạc Ðặng Thế Phong viết cho báo Học Sinh theo bài viết “Ðặng Thế Phong – sống và chết trước khi thời cơ đến (phần 1)”của Jason Gibb trên BBC. http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-39104463
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 2nd, 2017, 1:21 pm

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image


Hoàng Quý



Tiểu sử Hoàng Quý

– Hoàng Quý (1920 – 1946), sinh tại Hải Phòng, là anh trai của Hoàng Phú, tức nhạc sĩ Tô Vũ.

– Là học trò của Lê Thương tại trường Trung học Lê Lợi ở Hải Phòng vào cuối thập niên 1930.

– Hoàng Quý theo học nữ giáo sư âm nhạc Leperète, sau trở thành giáo viên dạy nhạc của trường Bonnal.

– Từ năm 1943-1945, Hoàng Quý đã lập thành nhóm Ðồng Vọng gồm Phạm Ngữ, Ðỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, và Hoàng Phú.

– Các tác phẩm tiêu biểu của ông như: Cô láng giềng, Bóng cờ lau, Nước non Lam Sơn, Chùa Hương, Tiếng chim gọi đàn,Trên sông Bạch Ðằng, Ðêm trong rừng v.v..

Hoài Nam biên soạn
Thanh Thư chuyển văn bản

----------------------------------------------------


Trong kỳ trước, chúng tôi đã trình bày về sự hình thành và phát triển bước đầu của nền tân nhạc Việt Nam trong thập niên 1930,
đồng thời giới thiệu một số tình khúc tiêu biểu. Tuần này xin mời quý vị bước vào thập niên 1940.

Image
Hoàng Quý


Có thể nói, vừa mới hình thành và bắt đầu phát triển, nền tân nhạc của Việt Nam đã có một sự chuyển hướng quan trọng từ nhạc tình lãng mạn sang nhạc thanh niên hùng tráng. Nguyên nhân là, sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến bùng nổ ở Âu Châu, và Pháp bị đại bại trước quân Ðức, cũng như đứng trước viễn ảnh quân Nhật sẽ xâm chiếm Ðông Dương, chính phủ Pháp đã đề ra phong trào Phục Hưng, với đối tượng chính là thanh niên, vốn được xem là rường cột của đất nước. Hai chữ “Ðất nước” ở đây có nghĩa là “Mẫu quốc Pháp”. Phần Việt Nam, để thúc đẩy cho các hoạt động thanh niên, người Pháp đã chủ trương, hoặc cho phép các phong trào thể thao, huấn luyện thân thể cường tráng, phong trào Hướng Ðạo, đào luyện tinh thần thượng võ, hội Truyền Bá Quốc Ngữ, hội Ánh Sáng do nhóm Tự Lực Văn Ðoàn chủ xướng v.v.. Trong các sinh hoạt này, ca nhạc là nòng cốt. Thế nhưng trong khi người Pháp cố gắng phổ biến những bài ca Pháp như Suy Tôn Thống Chế Pétain tức Maréchal, Nous Voilà hoặc Tuổi Xanh Tươi Ðẹp tức Belle Jeunesse, thì thanh thiếu niên Việt Nam lại chỉ ưa thích những bài hát Việt như Nhà Việt Nam.

Nhà Việt Nam, Nam Bắc Trung sáng trời Á Ðông

Bốn ngàn năm văn hóa đã đắp xây bao kỳ công

Người Việt Nam cân quắc bao anh hùng,

Từng phen nức danh trên khắp trời Á Ðông

Ai ơi đừng phân chia Nam Bắc Trung,

Một nhà Việt Nam.

Nam Bắc Trung chung giòng

Dân con Việt Nam hằng mong

(trích Nhà Việt Nam của Thẩm Oánh – ca sĩ Kim Tước, Quốc Anh, Quỳnh Giao)

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/nha-v ... ypFbL.html

Trên Sông Bạch Ðằng, Tiếng Gọi Sinh Viên v.v… Thành thử 2 chữ “Mẫu quốc” trong phong trào Phục Hưng do người Pháp đề xướng đã trở thành hai chữ “Tổ quốc” trong lòng thanh thiếu niên Việt Nam. Hai lực lượng chính trong việc sáng tác các ca hùng tráng vui tươi là nhóm Ðồng Vọng của Hoàng Quý, tác giả bài Trên Sông Bạch Ðằng

Trên sông Bạch Ðằng

Quân Nam ầm reo

Sóng nước vang đưa

Bao con thuyền mành trôi theo

Cờ bay gươm tuốt ra, quân vùng lên

Làm cho đuổi tan hết quân Nguyên

(trích Trên Sông Bạch Ðằng của Hoàng Quý– Hợp ca)

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/tren- ... 0c6Da.html


và Tổng Hội Sinh Viên của Lưu Hữu Phước, tác giả bản Tiếng Gọi Thanh Niên, ca khúc mãi sau này được sử dụng làm quốc ca của Việt Nam Cộng Hòa. Nhóm Ðồng Vọng tức nhóm Hải Phòng trước đây, gồm 2 anh em Hoàng Quý, Hoàng Phú, Lê Thương, Văn Cao chú trọng tới các sinh hoạt Hướng Ðạo bởi chính bản thân Hoàng Quý cũng như đa số các thành viên trong nhóm, đều là các trưởng Hướng Ðạo. Vì thế tinh thần các ca khúc của ông luôn luôn vui tươi, lành mạnh, tuy nhiên đó chỉ là chủ trương sáng tác, chứ không phải giới hạn khả năng của Hoàng Quý. Bởi vì, trước khi mẹ mất sớm vào năm 1946 ông cũng đã để lại cho đời 2 bản nhạc tình, Cô Láng Giềng và Tú Uyên. Bản Tú Uyên sáng tác khi ông sắp qua đời, nay đã bị thất truyền, trong khi bản Cô Láng Giềng thì trở thành ca khúc về tình yêu được ưa chuộng bậc nhất thời đó. Ðiều đáng nói là, kể cả khi viết nhạc tình Hoàng Quý vẫn duy trì được sự trong sáng, lành mạnh, khác hẳn với tính cách ủy mị, buồn sầu, đau khổ trong đa số các nhạc tình đương thời. Ngay từ tựa đề bản Cô Láng Giềng cũng cho thấy đây là một mối tình chân chất, dung dị. Làng xóm, láng giềng, biết nhau từ thuở còn bé thơ, lớn lên yêu nhau thì mối tình ấy không sôi nổi mà chân thật, không cay đắng ngọt bùi mà êm ả, hồn nhiên như đôi bướm cùng sinh ra và lớn lên trong vườn tình.

Hôm nay trời xuân bao tươi thắm
Dừng gót phiêu linh về thăm nhà
Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi
Tôi đã hình dung nét ai đang cười

…Tuy cách xa phương trời tôi không hề
quên bóng ai bên bờ đường quê
Ðôi mắt đăm đăm chờ tôi về

(trích Cô Láng Giềng của Hoàng Quý– ca sĩ Sĩ Phú)

http://lyric.tkaraoke.com/mp3-137188/co ... i_phu.html


Ngày chàng ra đi hai người cùng đứng bên bờ Tường Vi, giữa thanh thiên bạch nhật mà ước thề, thì mối tình của họ còn trong trắng. Ngày chàng trở về, hoa Tường Vi vẫn nở thắm, có khác chăng là có tiếng pháo hồng tiễn đưa ai đó đi lấy chồng. Khi biết ai đó chính là cô láng giềng của mình năm xưa, Hoàng Quý buồn thì có buồn thật, nhưng không bi lụy, sầu khổ. không oán trách, không hận tình. Dĩ nhiên, cũng giống như bất cứ chuyện tình bất hạnh nào khác, chàng đã quay gót ra đi, nhưng Hoàng Quý không thề nguyền một đi không trở lại, mà chỉ cho biết còn lâu, lâu lắm chàng mới về.

Image
Bìa bản nhạc Cô Láng Giềng trước 75
HN


-----------------------------------------------


Chú thích của Thanh Thư

Nói thêm về ca khúc Cô Láng Giềng của Hoàng Quý, trong một bài viết của Hữu Trịnh trên trang mạng Giai Ðiệu Xanh, có một tiết lộ về bài hát này, từ nhạc sĩ Tô Vũ (Em của Hoàng Quý tên thật là Hoàng Phú- tác giả bản Em đến thăm anh một chiều mưa). (trích Cô láng giềng – Tác phẩm trường tồn của một tác giả yểu mệnh- Hữu Trịnh)

http://www.giaidieuxanh.vn/news/11/hai- ... -vong.html

Cô láng giềng là ca khúc nói đến một cuộc chia tay với người yêu, nhưng đó là cuộc chia tay với lời hứa thủy chung, “em nói rằng em sẽ chờ đợi tôi…” nên nhạc điệu và lời ca đằm thắm, lạc quan tuy không kém phần da diết.

“Hôm nay trời xuân bao tươi thắm

Dừng gót phiêu linh về thăm nhà

Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi

Tôi đã hình dung nét ai đang cười

…Tuy cách xa phương trời tôi không hề

quên bóng ai bên bờ đường quê

Ðôi mắt đăm đăm chờ tôi về”

Nhạc sĩ Tô Vũ cho biết thêm rằng:
“Với Cô láng giềng, anh tôi chỉ sáng tác lời 1. Ðó là những vần thơ đầy lạc quan, phấn khởi khi chia tay người yêu và hy vọng một ngày trở về gặp nhau trong vui mừng. Còn lời 2 là do tôi sáng tác thêm, đó là cảnh chàng trở về – ngày có một đám cưới làng quê tưng bừng rộn rã của chính người yêu – và chàng buồn tình lặng lẽ ra đi… Thật ra lời 2 này không phải là tâm tư của Hoàng Quý mà do tôi hư cấu và Hoàng Quý đã đồng ý, xem như là một tác phẩm nghệ thuật chứ không phải là sự mô tả một mối tình có thật, vì thực tế Hoàng Quý không có một bi kịch về tình yêu” như nội dung của lời 2”.

Thật vậy, lời 2 là sự hư cấu để cuộc tình thêm lâm ly. Khi chàng trở về thì:

“Trước ngõ vào thôn vang tiếng pháo

Chân bước phân vân lòng ngập ngừng

Tai lắng nghe tiếng người nói cười xôn xao

Tôi biết người ta đón em tưng bừng”

Thế là “tan vỡ cuộc tình duyên” và:

“Ðành lòng nay tôi bước chân ra đi

Giơ tay buồn hái bông hồng tường vi

Ghi chút tình em nói chờ đợi tôi…”

Ðể chấp nhận một sự phũ phàng chàng đã ra đi thật “lãng mạn”:

“Chân bước xa xa dần miền quê

Ai biết cho bao giờ tôi về”

Tuy lời 2 không phải là tâm trạng của chính tác giả, nhưng chính cái nghịch cảnh éo le, lãng mạn đó làm cho ca khúc được nhiều người ưa thích hơn.
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 2nd, 2017, 1:35 pm

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image


Lê Thương



Tiểu sử Lê Thương

Lê Thương (1914-1996) tên thật là Ngô Ðình Hộ, sinh tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Theo hồi ký của Phạm Duy, Lê Thương là một thầy tu nhà dòng hoàn tục. Ông từng là giáo sư Sử Ðịa, từng làm công chức ở Trung tâm Học liệu, bộ Quốc gia Giáo dục và là giảng viên Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ thời Việt Nam Cộng Hòa. Những tác phẩm tiêu biểu như, bộ ba Hòn Vọng Phu, Bản Ðàn Xuân, Tiếng Thu, Lời Kỹ Nữ, Học Sinh Hành Khúc, Thằng Cuội, Thu Trên Ðảo Kinh Châu, Ông Nỉnh ông Nang, Nàng Hà Tiên v.v…

Hoài Nam biên soạn
Thanh Thư chuyển văn bản

-------------------------------------------------


Nhạc sĩ thứ hai trong nhóm Ðồng Vọng sáng tác những bản nhạc tình hiếm hoi trong giai đoạn này là Lê Thương, người anh cả của nhóm, tính theo cả tuổi tác lẫn hoạt động cho tân nhạc. Giới thưởng ngoạn sau này mỗi khi nhắc tới Lê Thương lại nhớ tới ba bản Hòn Vọng Phu bất hủ. Và nếu đi xa hơn, người ta sẽ nhắc tới những ca khúc dành cho thiếu nhi như Tuổi Thơ, Thằng Cuội, Ông Ninh Ông Nang hoặc những ca khúc dân gian như Người Chơi Ðộc Huyền, Bà Tư Bán Hàng, Hoa Thủy Tiên, Nàng Hà Tiên hoặc nhạc cảnh Trên Sông Dương Tử.

Image


Thế nhưng, chỗ đứng và sự nghiệp của Lê Thương trong nền tân nhạc Việt Nam không chỉ có ngần ấy. Mà theo các nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ nhất, ông còn là một trong các nhạc sĩ hàng đầu trong nền nhạc tình Việt Nam trong buổi sơ khai cùng thời với Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Văn Chung, Dzoãn Mẫn, tức là trước cả Văn Cao. Lê Thương đã từng đi tu nhà dòng và sau đó trở thành một nhà giáo, nhưng cứ theo lời Phạm Duy, ông lại là người soạn nhạc có nhiều tâm hồn thi sĩ nhất trong số các nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc. Lời ca của Lê Thương từ các bản Bản Ðàn Xuân, Tiếng Ðàn Ðêm Khuya cho tới Một Ngày Xanh, Thu Trên Ðảo Kinh Châu, luôn luôn là những lời thơ tuyệt vời, mới mẻ, mà không trần trụi, thi vị mà không sáo ngữ. Chẳng hạn ca khúc đầu tay Bản Ðàn Xuân mà Phạm Duy đã khẳng định sẽ có ảnh hưởng sâu đậm tới hai ca khúc Buồn Tàn Thu của Văn Cao và Chinh Phụ ca của chính ông sau này.

Ngồi se chỉ hồng

Hỏi ai hiểu không

Tiếng oanh muốn nhắn lời hay những tiếng ngân

Như chiếc bóng người chưa dám nhấc chân

Chờ tin thơ chim hoàng oanh đưa

Còn xa bay trong áng sương mờ….

trích Bản Ðàn Xuân– Lê Thương- Ca sĩ Tâm Vấn

http://cuongde.org/index.php/nghe-nhac/ ... ng-tam-van

Hoặc như trong bản Một Ngày Xanh

Từ nay sông vắng im lìm lời ca

Ðời xanh em ngắn như ngàn đời hoa…


Có lẽ vì mang tâm hồn thi sĩ dạt dào như thế, nên Lê Thương đã là một trong những nhạc sĩ đi tiên phong trong việc phổ nhạc những bài thơ trong phong trào thơ mới. Tất cả những bài thơ được Lê Thương phổ thành ca khúc như Lời Kỹ Nữ thơ Xuân Diệu, Bông Hoa Rừng thơ Thế Lữ, Tiếng Thùy Dương thơ Huy Cận, Tiếng Thu thơ Lưu Trọng Lư, đều được đánh giá có giá trị về nhạc rất cao. Tuy nhiên vào thời gian tân nhạc chưa được phổ biến mạnh mẽ, sáng tác của Lê Thương, phổ thơ cũng như soạn cả nhạc lẫn lời, đều đã không được nhiều người biết đến. Mãi đến sau này, khi Lê Thương đã nổi tiếng với ba bản Hòn Vọng Phu bất hủ, cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960, giới ca nhạc tại miền Nam mới tái khám phá ra bản Tiếng Thu do ông phổ từ thơ Lưu Trọng Lư và bỗng nhận ra giá trị để đời của một tác phẩm đã có từ gần 20 năm về trước.

Image
Hình bìa băng nhạc Thu Trên Đảo Kinh Châu


Em không nghe mùa thu

Dưới trăng mờ thổn thức

Em không nghe rạo rực

Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ.

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Ðạp trên lá vàng khô.

trích Tiếng Thu– Lê Thương- Ca sĩ Khánh Ly

https://nhac.vn/tieng-thu-khanh-ly-le-thu-sopYPmV


Như chúng tôi đã trình bày trong kỳ trước, về hình thức, mọi ca khúc của nền tân nhạc Việt Nam buổi sơ khai là một sự dung hòa giữa hệ thống Ngũ Cung của nhạc Dân Tộc và hệ thống Thất Cung của nhạc Tây Phương. Hai chữ dung hòa ấy, nghe qua thì ngắn gọn, nhưng đem thực hiện, lại gặp quá trình thử thách cam go, nhưng Lê Thương đã vượt qua thử thách ấy một cách tài tình. Và ông còn đi xa hơn nữa, khi sử dụng một âm giai trong nhạc Nhật Bản, gồm các nốt nhạc Rê, Mi, Fa, La và Si giảm để soạn bài Thu Trên Ðảo Kinh Châu. Ngày ấy và cả sau này, một số người cho rằng, khi sáng tác bản này, Lê Thương đã bị ảnh hưởng hay nói trắng ra là đã bắt chước âm điệu của một bản nhạc nào đó của quần đảo Phù Tang. Ðịa danh đảo Kinh Châu lại phảng phất Ðông Kinh tức thủ Ðô Tokyo của Nhật Bản, càng có sức hỗ trợ cho lập luận này. Nhưng trên thực tế, khi Lê Thương sáng tác bản nhạc này, quân đội Thiên Hoàng chưa đặt chân lên Ðông Dương, thì không thể nói rằng ông đã bị ảnh hưởng hay bắt chước âm điệu của bản nhạc Nhật. Theo sự giải thích của Phạm Duy, rất có thể, vì đề tài là mùa thu trên một hòn đảo có tên là Kinh Châu, gần gũi với cái tên Ðông Kinh, thủ đô Nhật Bản, cho nên Lê Thương đã mạnh dạn sử dụng một âm giai trong nhạc Nhật, từ đó vô tình gây ra sự nghi ngờ của một số người kém hiểu biết. Thêm một chi tiết thú vị nữa, đó là trong một công cuộc nghiên cứu mới đây về hát quan họ miền Bắc, người ta đã khám phá ra rằng bài Thu Trên Ðảo Kinh Châu đã được đưa vào thể loại hát quan họ của miền Kinh Bắc ngay từ thập niên 1940.

Image
Hòn Vọng Phu ở Lạng Sơn


Ðàn chim bay thiết tha, trên núi cao miền xa

Mang theo những nỗi buồn mộng mơ

Nguồn thảm sầu đã qua.

Khi ta đi liễu đang còn xanh lá…

trích Thu Trên Ðảo Kinh Châu-Lê Thương- Ca sĩ Duy Trác




Chúng tôi cũng đã trình bày trong tuần trước, theo các nhà chuyên môn trong lãnh vực tân nhạc, thì điển hình tuyệt vời nhất trong việc dung hòa giữa hệ thống Ngũ Cung của nhạc Dân Tộc và hệ thống Thất Cung của Tây Phương chính là các trường ca Hòn Vọng Phu của Lê Thương, mà bài thứ hai trong bản trường ca này tựa đề Ai Xuôi Vạn Lý nói về người vợ ôm con chờ chồng, chính là một tình khúc tuyệt vời. Bởi vì, tình yêu đâu thể là tình thơ mộng của đôi trai gái mới lớn, đâu chỉ là tình say đắm của cặp tình nhân sôi nổi, mà còn là tình thắm thiết của vợ chồng đã chia sẻ bao mặn nồng, đã trao nhau từng hơi thở, đã kết tinh những hình hài. Có thể nói, người vọng phu là hình ảnh đẹp nhất, cao quý nhất của tình yêu đã thăng hoa trong huyền thoại Việt Nam, và trong trường hợp này đã trở thành bất tử, qua dòng nhạc và lời hát của Lê Thương. Chỉ có điều đáng buồn là trong khi trường ca Hòn Vọng Phu trở thành bất tử với thời gian, thì pho tượng Hòn Vọng Phu lại bị bàn tay con người phá hủy. Càng đáng buồn hơn, khi việc ấy lại xảy ra trước khi Lê Thương qua đời. Khi hay tin những người phá núi lấy đá nung vôi làm vật liệu xây dựng, đã phá hủy luôn cả pho tượng Hòn Vọng Phu, ông thở dài “Ðược bao nhiêu lợi, mà người ta nỡ làm như vậy”. Cho nên với cả ba thế hệ đã từng rung cảm trước bản Ai Xuôi Vạn Lý, từ nay hình ảnh Hòn Vọng Phu chỉ còn trong trí tưởng, trong huyền thoại.

Image
Bìa bản nhạc Hòn Vọng Phu 1,2,3 trước 75.


Trường ca Hòn Vọng Phu 1,2,3- Lê Thương








HN
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 4th, 2017, 11:38 am

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image

Văn Cao



Tiểu sử

Văn Cao (1923-1995) tên thật là Nguyễn Văn Cao, là một nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ, sinh tại Hải Phòng. Ông là một trong những gương mặt quan trọng nhất của nền tân nhạc VN. Nhạc sĩ Phạm Duy đã vinh danh Văn Cao là “người đẻ ra thể loại Hùng Ca và Trường ca Việt Nam” sau khi là “người viết tình ca số một”. Ông là tác giả của “Tiến quân ca” – quốc ca của nước Việt Nam. Ông liên quan vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm tại Hà Nội trong năm 1956, bị rút khỏi ban chấp hành hội nhạc sĩ, đi thực tế lao động và từ đó không còn sáng tác nữa cho tới khi ông mất. Những tác phẩm tiêu biểu của ông như, Bến xuân, Suối mơ, Thiên Thai, Trương Chi, Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu, Cung Ðàn Xưa, Không Quân Việt Nam, Bài ca chiến sĩ Hải Quân, Mùa xuân đầu tiên.v.v..

Hoài Nam biên soạn

Thanh Thư chuyển văn bản

Image


kỳ 1



Thưa quý thính giả,
trong kỳ phát thanh trước chúng tôi đã trình bày về phát triển của tình ca trong những năm đầu thập niên 1940. Cũng như giới thiệu một số sáng tác tiêu biểu của Hoàng Quý và Lê Thương. Tuần này, xin mời quý vị theo dõi phần nói về Văn Cao, con người của tài hoa và huyền thoại.

Nhạc sĩ thứ ba trong nhóm Ðồng Vọng sáng tác tình ca vào những năm đầu thập niên 1940 chính là Văn Cao. Xét về số lượng tác phẩm, Văn Cao không thuộc hàng nhạc sĩ đứng đầu nền tân nhạc Việt Nam, vì nguyên nhân ông không viết nhiều ca khúc. Chúng tôi sẽ đề cập tới ở một phần sau, nhưng nếu chỉ xét về nhạc tình, Văn Cao là nhất. Chúng ta chưa có một cuộc bỏ phiếu để chọn bản nhạc tình được ưa chuộng nhất, được đánh giá là hay nhất, và mỗi người trong chúng ta có thể yêu thích nhất một bản nhạc tình của một tác giả nào đó. Thế nhưng, hình như từ trước tới nay, mỗi khi có người lên tiếng ca tụng nhạc tình của Văn Cao, không một ai lên tiếng phản đối, và như thế là đã đủ.

Văn Cao là một con người đa tài, nhạc, thi, họa lãnh vực nào ông cũng thành công. Bên cạnh đó, theo nhận xét của một số người, nếu thu hẹp trong quan niệm về tình yêu và đời người, ông còn là một triết gia, một nhà tư tưởng. Trong phạm vi loạt bài này, chúng tôi chỉ nói về lĩnh vực âm nhạc, nhạc tình của Văn Cao. Văn Cao sáng tác tình ca rất sớm, có lẽ cũng vào tuổi 18, 19 như Ðặng Thế Phong, và cũng giống như Ðặng Thế Phong và đa số trong lớp nghệ sĩ trẻ thời đó chịu ảnh hưởng của văn chương thi ca lãng mạn Pháp, Văn Cao cũng bị mùa thu ám ảnh. Một việc mà ông nửa đùa, nửa thật, giải thích rằng, tại vì ông sinh ra vào mùa thu. Nhưng khác với cái mê luyến, bi lụy trong thu của Ðặng Thế Phong vốn thường thấy trong thơ Pháp, chẳng hạn thơ của Apollinaire mà sau này Phạm Duy đã dịch và viết thành ca khúc Mùa Thu Chết.

Image
Văn Cao (trái) và Phạm Duy


Thu của Văn Cao đã bớt đi chất sầu vạn cổ ấy để chỉ còn man mác buồn như một bài Ðường Thi. Trong bản nhạc đầu tay tựa đề Thu Cô Liêu sáng tác năm 1942, lời hát của ông chính là những lời thơ, “Thu cô liêu, tịch liêu. Cô thôn chiều ta yêu mùa thu, yêu mùa thu. Vàng hoen đáy nước, soi rõ đường đi. Một mùa thi, một mùa thi. Lá xanh rơi rụng, buồn chi lá vàng”. trích Thu Cô Liêu-Văn Cao-ca sĩ Hồng Nhung.

https://www.youtube.com/watch?v=3ROC3WulbJc


Hoặc trong bản Buồn Tàn Thu tức Chinh Phụ Khúc cũng viết vào khoảng thời gian đó, “Còn nhớ đêm xưa. Kề má say sưa. Nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần. Thôi tình em đấy, như mùa thu chết, rơi theo lá vàng.”

trích Buồn Tàn Thu-Văn Cao-ca sĩ Thái Thanh

https://www.youtube.com/watch?v=CAbUy4_oKbE

Sáng tác thứ ba của Văn Cao sau 2 bản Thu Cô Liêu và Buồn Tàn Thu là Cung Ðàn Xưa. Tuy trong Cung Ðàn Xưa có nhắc tới mùa xuân, nhưng Văn Cao vẫn bị ám ảnh bởi mùa thu trong văn chương lãng mạn, cho nên xuân ở đây cũng chỉ là một mùa xuân đã chết đã tàn. “Hồn cầm phong sương, hình dáng xuân tàn. Ngày dần buông trôi, sầu vắng cung đàn. Lời đàn năm xưa, se kết đôi lòng. Lời đàn năm nay, chia rẽ đôi lòng” Về kỹ thuật, chàng trẻ tuổi Văn Cao đã tận dụng một nhạc điệu đầy cảm tính trong nhạc Tây Phương, cũng như thể điệu valse lưu luyến, để diễn tả một người tình tưởng tượng qua Cung Ðàn Xưa. Về cả hình thức lẫn nội dung, ca khúc ấy đã báo trước những tuyệt kỹ và tuyệt mỹ mà Văn Cao sẽ đạt tới sau này, qua 2 ca khúc bất hủ Thiên Thai và Trương Chi.

Image
Từ trái: Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tuân và Văn Cao bị treo bút sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm.


Về hình thức, tuy ngắn, nhưng Cung Ðàn Xưa cũng được chia ra thành 4 đoản khúc rõ rệt. Ðoạn đầu giới thiệu cung đàn năm xưa, đoạn 2 nói tới cung đàn và tiếng hát tức cung Thương và cung Nam trong nhạc Ðông Phương. “Cung Thương là tiếng đàn. Cung Nam là tiếng người. Ai oán khúc ca cầm chìm rơi. Tình duyên lãng đãng. Nhớ thương dần pha phôi”. Ðoạn 3 chuyển qua một nhịp điệu réo rắt, diễn tả nét buồn trong Cung Ðàn Xưa, “Cung đàn ngân, buồn xa vắng trong tiếng thầm. Buồn tê tái trong tiếng ngân, buồn như lúc xuân sắp tàn”. Ðoạn 4, nói đến người tình tuyệt thế giai nhân trong trí tưởng đầy mộng mị, “Gót hài khai hoa. Mắt huyền lưu xuân. Dáng hồng thơm hương…”

Về nội dung bản Cung Ðàn Xưa, Phạm Duy đã nhận xét bằng những dòng đầy thán phục như sau, “Những cô hái mơ, cô bán hoa, cô hàng nước, cô láng giềng mà ta thấy xuất hiện trong các bản nhạc tình thời đó làm sao mà có được những “Gót hài khai hoa, mắt huyền lưu xuân, dáng hồng thơm hương” như trong bản Cung Ðàn Xưa của Văn Cao. Chỉ cần 12 chữ, và dù chỉ để xưng tụng một người tình tưởng tượng mà thôi, Văn Cao đã đưa nhạc tình tiền chiến lên tới một độ cao vượt khỏi những khuôn sáo cũ mèm.”

Cung Ðàn Xưa-Văn Cao-ca sĩ Ánh Tuyết

https://www.youtube.com/watch?v=8eTbeJjYZAI


Sau ba bản tình ca đầu tay Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu và Cung Ðàn Xưa, Văn Cao đã sáng tác hai ca khúc để đời Suối Mơ và Bến Xuân. Trước hết nói về Suối Mơ, chỉ cần nghe 4 câu đầu chúng ta đã thấy Văn Cao viết bản này với tâm hồn của một nhà nhạc sĩ và cặp mắt của một nhà họa sĩ, “Suối mơ. Bên rừng thu vắng. Giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng. Ngày chưa đi sao gió vương. Bờ xanh ngắt, bóng đôi cây thùy dương”. Ðây không phải là lần đầu, cũng không phải lần duy nhất hình ảnh con suối được đưa vào tân nhạc, nhưng có lẽ không con suối nào đẹp như con suối trong rừng thu của Văn Cao.

Image

Image
Hình bìa nhạc Cung Đàn Xưa và Buồn Tàn Thu


Về kỹ thuật khi viết bản Suối Mơ cũng như bản Bến Xuân sau đó, Văn Cao đã sử dụng một ước lệ đã có từ bao đời trong cách viết nhạc của Tây phương, đó là điệp khúc viết bằng âm giai thứ, tức minor, tới phiên khúc thì chuyển qua âm giai trưởng, tức major. Những nam thính giả nào có chút vốn liếng âm nhạc từng đệm đàn và thả hồn theo tiếng hát của người yêu, hẳn cũng biết tác dụng của việc chuyển đổi âm giai này. Bài hát mở đầu bằng một âm giai thứ để tạo một cảm giác lâng lâng, rồi chuyển sang âm giai trưởng với một niềm vui chợt thoáng, trước khi trở lại với âm giai thứ để kết thúc trong một nỗi buồn man mác. Dĩ nhiên, nhạc sĩ sáng tác nào cũng biết ước lệ ấy, nhưng Văn Cao đã vượt lên tất cả, ông đã phối hợp một cách tài tình sự chuyển đổi âm giai với lời hát như thơ, đưa người nghe từ cảm xúc lâng lâng trong sáng, tới niềm hạnh phúc thoáng chốc rạt rào, trước khi trở về nỗi buồn muôn thuở của cuộc tình êm đềm ngàn đời theo ta, của con suối rừng thu cuối mùa trút lá, “Suối ơi. Nghe rừng heo hút. Giòng êm đưa lá khô già trút. Còn như lưu hương yêu dấu. Với suối xưa trôi nơi đâu”.

Sau này, vì Văn Cao đi theo kháng chiến, bản Suối Mơ cùng với nhiều sáng tác của ông đã được gán cho nhãn hiệu sáng tác ở chiến khu. Sự thật khác hẳn, Văn Cao không cần phải sống qua mới có khả năng sáng tác. Ðời người thường có những ước mơ, nhưng riêng Văn Cao cả đời ông chính là một giấc mơ liên tục.

****************************************************


kỳ 2



Trong các tình khúc của ông, hình ảnh người yêu thường là hư cấu. Trong nhạc hùng tráng của ông, lý tưởng là một cái gì cao siêu diệu vợi, và hình ảnh người chiến sĩ thì luôn nằm bên trên sự thật, không có ở đời thường. Văn Cao sáng tác bản Thăng Long Hành Khúc trầm hùng từ trước khi có “cách mạng mùa thu”, “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long, thành cao đứng trong khói sương chiều”. Hoặc các hành khúc Hải Quân Việt Nam, Không Quân Việt Nam, khi ông viết làm gì đã có Hải Quân, Không Quân Nhân Dân, hoặc Hải Quân, Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Xin lấy bản Không Quân Việt Nam làm thí dụ, một bản quân hành mà đẹp và thơ, như một giấc mơ.

Image
Văn Cao

Không Quân Việt Nam Cộng Hòa hành khúc-Văn Cao- hợp ca

https://www.youtube.com/watch?v=jdDZAGNQv4Y


Nhà phê bình văn học Ðặng Anh Ðào, ái nữ của học giả Ðặng Thái Mai, một người từng ước mơ theo kháng chiến từ thuở nhỏ, gần đây đã hồi tưởng, “Bấy giờ, câu hát mà tôi thường hát lên một mình, những lúc ở nhà. Mắt ngước nhìn trăng sao qua khung cửa sổ rộng của tầng lầu 2, số nhà 32 Lý Thường Kiệt, là những câu trong bài Không Quân Việt Nam-Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng”. Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ cảm giác lâng lâng, bay tới tuyệt đỉnh của giấc mơ ấy. Ngay cả những câu như-Khi nhìn qua khói những kinh thành tan, đôi cánh tung hoành vượt trên mây xanh. Ðối với tôi, cũng không hề vương vấn chút gì hung hăng, hiếu chiến, kể cả cái chết của người phi công, cũng được cho vượt lên những đau thương, bi lụy thường tình- Ði không ai tìm xác rơi..”.

Như vậy, nếu bắt buộc phải tìm ra một sự liên hệ nào đó giữa các ca khúc của Văn Cao và kháng chiến, thì chỉ có thể nói, chính những sáng tác có sẵn của Văn Cao, từ bản Tiến Quân Ca, sau này được sử dụng làm quốc ca của miền Bắc, cho tới Suối Mơ, Bến Xuân đã góp phần lý tưởng hóa, thơ mộng hóa những ngày kháng chiến, chứ không phải kháng chiến đã tạo cho nguồn cảm hứng của những sáng tác của Văn Cao. Thế nhưng, mãi tới thập niên 1980, mới có nhiều người biết rằng, Suối Mơ đã được Văn Cao sáng tác vào thưở còn thanh bình tức khoảng năm 1942-43. Khoảng trước đó, nhất là trong thời gian kháng chiến, đại đa số nam nữ đi theo lý tưởng, đều tin rằng Suối Mơ đã được Văn Cao sáng tác tại chiến khu Việt Bắc, sau khi bản thân ông đã tham gia kháng chiến.

Nhưng xét cho cùng, việc bị gán đặt cho một lý lịch cách mạng, cũng không hề ảnh hưởng tới chỗ đứng của ca khúc Suối Mơ trong nền tân nhạc Việt Nam. Bởi vì, như chúng tôi đã trình bày trong một kỳ trước, dù lịch sử có thăng trầm, lòng người có đổi thay, chân giá trị của những tác phẩm bất hủ, sẽ không bao giờ bị mai một. Huống chi ở đây, cho tới những ngày cuối đời, ước mơ của Văn Cao cũng vẫn là những ước mơ trong sáng của thuở ban đầu, thuở chưa ai nhắc tới những địa danh như Việt Bắc, Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây, mà chỉ có tiếng suối róc rách, tiếng đàn lưu luyến và những lời hẹn thề bên rừng thu trút lá.

Image
Văn Cao phu nhân Nghiêm Thúy Băng

Suối Mơ-Văn Cao- ca sĩ Lệ Thu

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/suoi- ... Qo3tZ.html


Thưa quý thính giả, trong chương trình tuần trước, chúng tôi đã giới thiệu một số sáng tác của Văn Cao. Tuần này, xin mời quý vị theo dõi tiếp, phần nói về sự nghiệp tình ca của nhà nhạc sĩ tài danh này. Trong cuốn video “Văn Cao, buổi sáng có trong sự thật”, phổ biến ít lâu sau khi ông qua đời, nhạc sĩ đã tâm sự, giải thích về việc, trong các tác phẩm của ông, luôn thấp thoáng một tình yêu lãng mạn và ẩn hiện hình bóng một người con gái đẹp như sau, “Hình tượng người thiếu nữ chỉ là hình ảnh tưởng tượng trong không gian mơ hồ của tôi, hầu như tôi làm nhạc tình ái thì không có người đàn bà nào là thật hết. Tôi gặp không phải không nhiều, mà người ta yêu tôi cũng nhiều. Tôi thích cái đẹp, nhưng lại sợ sự hòa nhập với cuộc đời của người khác.” Thế nhưng, 6 năm sau ngày ông mất, trả lời một cuộc phỏng vấn về nội dung cuốn sách sẽ viết để thân phụ, nhà thơ Văn Thao, trưởng nam của Văn Cao lại cho biết, “Tôi đã tìm gặp cả những người phụ nữ đã từng yêu dấu cha tôi, mẹ tôi rất yêu cha tôi, nên bà không thấy thoải mái khi tôi muốn đưa ra những chuyện tình cảm ngày xưa của ông, nhưng tôi cho rằng, phải bảo đảm tính cách trung thực của lịch sử. Không thể không kể tới những mối tình ấy, khi chính nó là nguồn cảm hứng để ra đời những tuyệt phẩm của Văn Cao. Tôi có đi gặp những người phụ nữ vẫn giữ từng bức thư, bài thơ, bản nhạc cha tôi tặng. Tình yêu của các cụ ngày xưa đẹp và trong sáng lắm. Bản thân họ vẫn còn chồng, con và gia đình, cho nên khi công bố họ cũng ngại. Có người còn yêu cầu tôi chờ đến lúc cô mất rồi, cháu hãy nói ra câu chuyện này.”

Image
Văn Cao khi sáng tác trường ca sông Lô -1947


Như vậy, phải chăng có một sự mâu thuẫn giữa con người và sáng tác của Văn Cao? Tùy theo cách suy nghĩ, mỗi người có thể có câu trả lời khác nhau. Riêng chúng tôi thì cho rằng, chẳng qua đây chỉ là sự biến ảo giữa thực và mộng nơi các sáng tác của Văn Cao. Nghĩa là, những người con gái đẹp ông gặp, những người đem lòng yêu ông, chính là nguồn cảm hứng, nhưng lại không phải hiện thân của những hình ảnh tưởng tượng trong không gian mơ hồ của riêng ông. Một trong những người con gái có thật, đã trở thành hình ảnh tưởng tượng ấy, là nữ ca sĩ Hoàng Oanh của Hải Phòng năm xưa. Ðiều này rất ít người biết, và cái số rất ít ấy đã không hề nói ra khi Văn Cao còn sống. Phải đợi cho tới năm 1997, tức là hai năm sau ngày nhạc sĩ qua đời, một nhà báo lão thành từng quen biết Văn Cao từ thời kháng chiến, mới dám viết ra những điều mà gần đây đã được người thân của nhạc sĩ xác nhận. Ngày ấy, đầu thập niên 1940, Hoàng Oanh một người đẹp đầy huyền thoại của Hải Phòng, đến thăm Văn Cao trên bến đò rừng, tạo nguồn cảm hứng cho chàng viết bản Bến Xuân. “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước, em đến thăm một lần.

Image
Nhà thơ Văn Thao

Bao lũ chim rừng, hợp đàn trên khắp bến xuân”


Nhưng lúc ấy Hoàng Oanh đã có người yêu, nàng chỉ đến thăm Văn Cao một lần duy nhất rồi lên xe hoa, cho nên ở phiên khúc 2 chàng mới viết

“Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác, em vắng tôi một chiều. Bến nước tiêu điều, còn hằn in nét đáng yêu”. Mấy năm sau, người chồng vắn số của Hoàng Oanh từ giã cõi đời, lúc đó cũng là thời gian chiến tranh chống Pháp nổ ra trên toàn quốc. Người góa phụ trẻ xuất thân ca sĩ ấy đi theo ban ca kịch kháng chiến cho vơi bớt sầu muộn. Mùa xuân năm 1947, nàng tái ngộ Văn Cao ở Việt Trì. Trong lần hạnh ngộ ấy, theo lời yêu cầu, một người trong nhóm nghệ sĩ hiện diện, chàng du ca Phạm Duy đã ôm đàn hát lại bản Bến Xuân. Bến Xuân của ngày nào chứ không phải Bến Xuân của thời kháng chiến, khi mà với một dụng ý nào đó, người ta đã đổi tựa thành Ðàn Chim Việt, đặt ra những lời ca mới như “Thái Nguyên tung hoành” thay cho “Giấc mơ ven đồi”, “Bắc Sơn kia thời tung cánh” thay cho “Thấy chim ghen lời âu yếm” của Bến Xuân xưa

Bến Xuân – Văn Cao – ca sĩ Hà Thanh

https://www.youtube.com/watch?v=uohEg6Q ... QKTvU#t=42


***********************************************


kỳ 3



Năm 1944 khi tài năng đã nở rộ, Văn Cao viết Thiên Thai và Trương Chi. Hai ca khúc được hậu thế đánh giá là hai tuyệt phẩm của ông, cũng như của cả nền nhạc tình Việt Nam. Trước hết nói về Thiên Thai, bản này Văn Cao lấy cảm hứng từ hai bài thơ Ðường là Ðào Nguyên Hành của Vương Duy và Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai của Tào Ðường. Xưa nay, các thi văn nhân cũng như các nhạc sĩ Việt Nam chịu ảnh hưởng của Ðường Thi không phải là ít, và số tác giả lấy cảm hứng từ hai bài thơ Thiên Thai và Ðào Nguyên cũng khá nhiều, chẳng hạn Vũ Hoàng Chương, Tản Ðà, Phạm Duy. Thế nhưng, chính như Phạm Duy đã phải nhận xét, “Chỉ có Văn Cao mới dẫn dắt chúng ta tới đỉnh cao nhất của tình ái, cũng như sẽ đưa ta vào cõi sâu thẳm nhất của khổ đau, với hai câu truyện cổ dân gian, biến thành 2 bản tình ca muôn thuở tức Thiên Thai và Trương Chi.”

Image
Văn Cao và Trịnh Công Sơn


Về hình thức, bản Thiên Thai dài tới gần 100 khuôn nhạc, với những chuyển cung, chuyển điệu tài tình, cùng với những lời ca tuyệt diệu. Có thể nói Thiên Thai, một bản trường ca, có nhiều nhạc cảnh biến đổi tuần tự, giống như một bản giao hưởng, hay một vở Opera của Tây Phương. Vì thế, cũng giống như khi thưởng thức một bản giao hưởng hay một vở Opera, người ta có thể vừa ăn uống, vừa trò chuyện hay vừa làm một công việc nào đó, vừa nghe bản Thiên Thai. Phải chú ý lắng nghe từng lời hát, thả hồn theo từng nốt nhạc và phải nghe đi nghe lại nhiều lần, thì mới rung cảm, mới thấy hết được những tuyệt diệu trong bản nhạc. Về nội dung, sau hai câu mở đầu, “Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng, nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Ðào Nguyên.”.

Văn Cao đã phối hợp một cách nhịp nhàng cung nhạc và lời hát, để mô tả đường lên tiên nó đẹp như thế nào. Rồi khi quê hương dần xa lấp núi ngàn, mái chèo khua nước Ngọc Tuyền, có tiếng hát bên bờ Ðào Nguyên, mới biết mình đã lọt vào chốn Thiên Thai. Nơi hoa xuân chưa bao giờ gặp bướm trần gian. Nơi mùa đào chưa tàn qua một lần. Nơi có thiên tiên dâng hai chàng trai trái đào thơm, múa khúc Nghê Thường, thì Văn Cao lại sử dụng một nhịp điệu lẳng lơ mời gọi. Rồi nhạc bỗng sáng lên với khúc Bồng Lai, khiến hai chàng quên đời dương thế, khiến thiên tiên khao khát tình duyên và trở nên dìu dặt khi ánh trăng mơ chốn Thiên Thai bỗng tan thành suối trần gian, bởi cuộc ái ân giữa người tiên và kẻ phàm. Tới đoạn Lưu Nguyễn cùng bầy tiên đàn ca hoan lạc suốt 300 năm, Văn Cao sử dụng một nhịp điệu rộn rã, để rồi khi hai chàng nhớ quê trần gian và đòi về, hai câu cuối bỗng chậm hẳn lại, tiếc nuối, bâng khuâng. “Nhớ quê chiều nào xa khơi, chắc không đường về tiên nữ ơi” Và cuối cùng, khi Lưu Nguyễn, giờ đây đã thành hai cụ già, tìm đường trở lại cõi tiên thì than ôi, Ðào Nguyên đã biến mất, chỉ còn tiếng ca vang vọng từ cõi tiên mỗi khi chiều tà trăng lên. Bài hát đã đưa con người vào một giấc mơ tuyệt vời và kết thúc trong nỗi buồn man mác, bâng khuâng trước nghịch lý trong thân phận con người. Ở dưới trần thì mơ lên tiên cảnh, sống nơi tiên cảnh, thì lại đòi về dương trần.

Image
Văn Cao

Thiên Thai-Văn Cao-ca sĩ Anh Ngọc, Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Dao

https://www.youtube.com/watch?v=tCRvrHukShw


Nếu cho rằng bản Thiên Thai là cõi mơ thần tiên của Văn Cao, thì bản Trương Chi chính là tiếng hát cô đơn của ông ở đời thường. Văn Cao là một con người cô đơn, cô đơn cả theo nghĩa cụ thể lẫn trừu tượng, cụ thể tới mức lạnh lùng tàn nhẫn, như trong suốt hơn 20 năm sau ngày được gọi là ngày giải phóng thủ đô Hà Nội, Văn Cao đã ngồi uống rượu một mình. Sự cô đơn thê thảm ấy đã được Trịnh Công Sơn hồi tưởng lại vào năm 1993. “Cho đến bây giờ tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái không khí ảm đạm cô đơn của những mùa thu đông ở Hà Nội, với hình ảnh Văn Cao ngồi một mình với ly rượu trước mặt, ngày này qua ngày khác. Ông ngồi đó mà như một sự vắng mặt trước cuộc sống, ngồi hơn hai mươi năm như một cái bóng, ly rượu cũng biến thành cái bóng. Cái bóng của hai người, người và ly rượu đã trở thành người thân thiết, chia sẻ cùng nhau những nỗi đời riêng hiu quạnh, không còn ai khác có thể san sẻ giùm.” .

Còn cô đơn theo nghĩa trừu tượng chính là nỗi cô đơn trong các tác phẩm của ông, ở đây chúng ta đang nói tới Trương Chi. Qua ca khúc này Văn Cao đã mượn dòng nhạc và lời hát để kể lại chuyện tình tuyệt vọng của Trương Chi với Mỵ Nương. Chuyện tình dân gian này ai cũng biết, ai cũng thuộc, thậm chí còn trở thành một ca khúc ăn xin cho những người hát dạo ngoài Bắc. “Ngày xưa có anh Trương Chi, người thì thậm xấu, hát thì thật hay. Mỵ Nương vốn ở lầu tây, con quan Thừa Tướng ngày rày cấm cung”. Nhưng Văn Cao đã đi xa hơn những nhạc sĩ khác từng cảm hứng trước chuyện tình Trương Chi, Mỵ Nương. Ông đã mượn hình ảnh xấu xí và tiếng hát tài hoa của nhân vật Trương Chi, để nói về con người và số phận, đồng thời cũng là nói về chính mình.

Image
Gia đình Văn Cao năm 1991


Trong truyện, Mỵ Nương say mê tiếng hát của chàng ngư phủ Trương Chi, nhưng khi gặp mặt thì lại thất vọng vì chàng quá xấu xí nên khước từ, chàng buồn tình gieo mình xuống dòng sông tự tử, nhưng, cũng giống như bất cứ chuyện tình thần tiên nào khác, chuyện tình éo le Trương Chi Mỵ Nương đã kết thúc có hậu. Chàng chết, nhưng vì cuộc tình chưa thỏa , trái tim không tan đi mà hóa thành ngọc đá, người đời đem ngọc ấy làm thành bộ ly trà tặng gia đình quan Thừa Tướng. Một ngày nọ, Mỵ Nương bưng chén trà lên, thấy chàng ngư phủ hiện ra, cất tiếng hát trong miệng chén, thương nhớ con người và tiếng hát năm xưa, nàng rơi lệ nhỏ xuống chén ngọc. Thế là mối oan tình tuyệt vọng từ bao năm, nay đã được đền bù thỏa mãn, chén ngọc tức trái tim của Trương Chi mới tan vào hư vô. Nhưng chàng Trương Chi thời đại, tức Văn Cao không đi tìm cái chết mà chấp nhận sống để tiếp tục, “Ngồi đây ta gõ ván thuyền ta ca, trái đất vẫn còn riêng ta”. Chỉ có điều đáng tiếc là ngay từ ngày ấy tức năm 1944, rất ít người chịu để ý, chịu hát lời hai của bản Trương Chi. Ðáng tiếc bởi vì chỉ qua lời hai ấy, Văn Cao mới tiên kiến về những hệ lụy sẽ đến với đời mình, đó là ngày ông không còn được phép đàn hát nữa. “Ðêm thu dài đến, khoan tiếng nhạc rơi, nhạc ơi, thôi đàn ..” Trong tích xưa, Mỵ Nương đã nhỏ lệ xuống trái tim Trương Chi để hồn chàng được siêu thoát. Ngày nay, ai sẽ nhỏ lệ xuống nấm mồ Văn Cao?

Trương Chi -Văn Cao- ca sĩ Anh Ngọc

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/truon ... HW1bo.html



HN
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 7th, 2017, 6:02 pm

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image


Dương Thiệu Tước



Dương Thiệu Tước (1915-1995) là một nhạc sĩ tiền chiến nổi tiếng và được coi là một trong những nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc Việt Nam.

Dương Thiệu Tước sinh ngày 15 tháng 5 năm 1915, quê ở làng Vân Ðình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Ðông (nay thuộc Hà Nội). Xuất thân trong gia đình Nho học truyền thống, ông là cháu nội cụ nghè Vân Ðình Dương Khuê, nguyên Ðốc học Nam Ðịnh.

Image


Thuở nhỏ ông học ở Hà Nội,
trong thập niên 1930 ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa lưu ly) gồm Thẩm Oánh, Lê Yên, Vũ Khánh. Ông vào miền Nam sinh sống từ năm 1954. Tại Sài Gòn ông làm chủ sự phòng văn nghệ tại Ðài phát thanh Sài Gòn đồng thời được mời làm giáo sư dạy Lục huyền cầm/Tây ban cầm tại trường Quốc gia Âm nhạc. Sau ngày miền Nam mất nước năm 1975, nhạc của ông bị cấm đoán và ông cũng bị mất chỗ dạy học tại trường Quốc gia Âm nhạc.

Vợ chính thất cũng là vợ đầu của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái đang sống tại Ðức và Hoa Kỳ.

Vợ sau của ông là Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng thập niên 1950, có con riêng là ca sĩ Quỳnh Giao. Ông bà sống hạnh phúc trong 30 năm, có với nhau 5 người con là: Dương Hồng Phong, Vân Quỳnh (ca sĩ hải ngoại), Vân Dung, Vân Hòa, Vân Khanh [1].

Sau năm 1975 do bệnh tật nên ông ở lại Sài Gòn. Năm 1978 bà Minh Trang cùng các con định cư ở nước ngoài.

Ðầu thập niên 1980 ông về chung sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh và được bà chăm lo cho tuổi về chiều.

Ông mất ngày 1 tháng 8 năm 1995 tại Sài Gòn. Gần đây, sau thời “đổi mới”, nhạc của ông đã được phép lưu hành lại trên cả nước Việt Nam.

Những sáng tác nổi tiếng tiêu biểu của ông là: Bóng chiều xưa (Dương Thiệu Tước & Minh Trang), Ðêm tàn bến Ngự, Dòng sông xanh, Khúc nhạc dưới trăng (Dương Thiệu Tước & Minh Trang), Chiều (thơ Hồ Dzếnh), Áng mây chiều, Kiếp hoa, Thuyền mơ, Tiếng xưa, Ngọc lan, Ơn nghĩa sinh thành v.v…

kỳ 1



Trong chương trình 70 Năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam các kỳ trước,
chúng tôi đã giới thiệu một số ca khúc tiêu biểu của các nhạc sĩ đi tiên phong như Dzoãn Mẫn, Ðặng Thế Phong, Hoàng Quý, Lê Thương, Văn Cao. Kỳ này, chương trình được tiếp tục với sự nghiệp tình ca của một trong các nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Trong kỳ đầu tiên, khi sơ lược về sự hình thành và phát triển bước đầu của nền tân nhạc Việt Nam, chúng tôi có nói tới bản Kiếp Hoa của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên, bản nhạc mà về sau đã được nhạc sĩ Lê Thương ghi nhận là ca khúc đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam. Tuy nhiên, ngay sau đó, chúng tôi cũng nhấn mạnh, trên thực tế các sáng tác của Nguyễn Văn Tuyên chỉ là những ca khúc đầu tiên được phổ biến, chứ chưa chắc đã là những ca khúc đầu tiên được sáng tác. Bởi vì vào thời gian ấy, ở ngoài miền Bắc, các nhạc sĩ tiên phong của nền tân nhạc Việt Nam cũng đã sáng tác khá nhiều, nhưng chỉ phổ biến trong nội bộ nhóm nhạc của mình, cho tới khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên ra Bắc, phát động phong trào phổ biến tân nhạc vào năm 1937.

Image


Hai trong những nhạc sĩ đã bắt đầu sáng tác từ giữa thập niên 1930 là Dương Thiệu Tước và Thẩm Oánh của nhóm Myosotis. Myosotis cũng là tên ban nhạc do Dương Thiệu Tước thành lập thường hoà nhạc tại các tư gia để trau dồi nghệ thuật, đôi khi cũng trình diễn tại các rạp chiếu bóng trong các dịp làm nghĩa. Theo sự hiểu biết của một số người, hai bản Cô Lái Ðò và Tiếng Khóc Trong Phòng The của Thẩm Oánh đã được nhạc sĩ viết vào khoảng năm 1936-37, riêng bản Tâm Hồn Anh Trao Em sáng tác đầu tay có lời Việt của Dương Thiệu Tước khi được xác định là viết vào năm 1936. Chúng tôi nhấn mạnh mấy chữ sáng tác đầu tay có lời Việt, bởi vì trước đó Dương Thiệu Tước đã sáng tác một số ca khúc và đã được Thẩm Bích, (bào huynh của Thẩm Oánh), đặt lời bằng tiếng Pháp, chẳng hạn 2 bản Joie d’aimer và Souvenance.

Dương Thiệu Tước là một nghệ sĩ tài hoa, có thể nói là tài hoa nhất của thế hệ nhạc sĩ tiên phong. Trước hết nói về tài, ông không chỉ là một nhà soạn nhạc, mà còn là một danh cầm, sử dụng nhiều nhạc cụ khác nhau, mà nổi tiếng nhất và có lẽ không ai có thể sánh bằng, là tài đàn Hạ uy cầm. Chính ông đã sáng tác một bản không lời có tựa tiếng Pháp là Ton Doux Sourire dành riêng cho loại nhạc cụ này. Thính giả của Ðài Phát Thanh Sài Gòn năm xưa, hẳn vẫn còn nhớ tiếng Hạ uy cầm dìu dặt, ngọt ngào của Dương Thiệu Tước trong hai thập niên 1950, 1960, hằng đêm ru hồn người qua các tình khúc nổi tiếng như Bến Xuân, Suối Mơ của Văn Cao và bản Ngọc Lan của chính ông.

Image
Bìa nhạc Đêm Tàn Bến Ngự


Là người chủ trương soạn nhạc theo âm điệu Tây Phương và chịu ảnh hưởng nhiều của loại nhạc khiêu vũ, nhưng Dương Thiệu Tước lại có hiểu biết sâu xa về loại nhạc dân tộc và có khả năng chơi đàn tranh, đàn bầu một cách điêu luyện. Tất cả những tinh hoa ấy đã được ông kết hợp lại để cho chúng ta những tác phẩm soạn theo cung điệu, thể điệu hoàn toàn Tây Phương, nhưng lại tạo ra những âm hưởng đặc thù của cổ nhạc dân tộc như bản Tiếng Xưa viết năm 1939, và sau đó là Ðêm Tàn Bến Ngự đã được xem như là hai trong số những tác phẩm để đời của ông.

Mời nghe: Đêm Tàn Bến Ngự – Dương Thiệu Tước-ca sĩ Hà Thanh.



Ca khúc Ðêm Tàn Bến Ngự mà quý vị vừa thưởng thức cùng với bản Tiếng Xưa, Kiếp Hoa đã được Dương Thiệu Tước viết theo thể điệu Tango Habanera, một thể điệu mà lúc ấy còn rất xa lạ với nền tân nhạc Việt Nam. Ngoài Tango Habanera, Dương Thiệu Tước còn là người đầu tiên sử dụng một số thể điệu khác của Tây Phương để soạn những ca khúc Việt Nam một cách tài tình, chẳng hạn bản Khúc Nhạc Dưới Trăng viết theo thể điệu Chacha. Nhưng dù viết theo thể điệu gì, viết về đề tài gì, nhạc của Dương Thiệu Tước cũng luôn mang dáng nét trau chuốt, hào hoa, lịch lãm và trang trọng, vì thế Phạm Duy đã xếp nhạc Dương Thiệu Tước vào loại nhạc quý phái cho nền tân nhạc Việt Nam.

Tiếng xưa-Dương Thiệu Tước-ca sĩ Thanh Thúy



Image
Thủ bút và chữ ký của Dương Thiệu Tước


ThanhThư chuyển văn bản


Chú thích của Thanh Thư

Nói thêm về cuộc sống của Dương Thiệu Tước vào những phút cuối đời. Vào tháng 4, năm 2017, trong một video clip, nữ ca sĩ Ánh Tuyết đã bật khóc trong một lần tìm gặp nhạc sĩ Dương Thiệu Tước để gửi tiền bản quyền. Cô kể rằng vào cuối năm 1993, lúc đó cô thực hiện album “Cung đàn xưa”, trong đó có 3 ca khúc của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Ánh Tuyết đi tìm nhạc sĩ để gửi tiền tác quyền nhưng không biết ông đang ở đâu. Cô dò hỏi Hội nhạc sĩ, các hãng băng đĩa, hầu như ai cũng không biết, mặc dù ông đang còn sống. Tình cờ Ánh Tuyết gặp một nhà thơ và được ông dẫn đến nhà nhạc sĩ. Căn nhà của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước nằm trên một con hẻm nhỏ đường Hoàng Hoa Thám, quận Bình Thạnh, bên cạnh một ngôi chùa. Ánh Tuyết khá bất ngờ khi gặp ông. “Ở tuổi 82 nhưng ông là con người rất cốt cách, từ lời ăn tiếng nói cho đến cách đối nhân xử thế. Ánh Tuyết bất ngờ là căn nhà của ông không có một cái gì, ngoài tài sản lớn nhất là chiếc tivi 14 inch trắng đen được ông bảo quản rất kỹ bằng cách lấy thùng các-tông úp lên”– chị nghẹn ngào kể.

Ðó là thời điểm cận Tết, ông và gia đình khó khăn về mọi mặt. Ánh Tuyết cho biết, chị gửi tiền tác quyền theo quy định nhà nước cho thu băng cassette lúc đó là 500.000 đồng một bài hát. Ông vui mừng nói đây là một món quà lớn cho gia đình. Ca sĩ Ánh Tuyết thắc mắc là các bài hát của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được thu âm, trình diễn và phát hành rất nhiều trên các băng đĩa, chương trình nhưng không ai biết nhạc sĩ đang ở đâu.

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước cũng chia sẻ là ông có đi đến hãng băng đĩa nhưng người này chỉ qua người kia, người kia chỉ qua người nọ và cuối cùng ông ra về tay không.”

Câu chuyện của Ánh Tuyết thật thương tâm về cảnh ngộ nghèo túng của một nhạc sĩ tài danh như Dương Thiệu Tước, tuy nhiên có sự sai biệt trong lời cô kể là cô gặp ông khoảng 1993, và nói ông 82 tuổi. Thực ra trong tiểu sử trích từ Wikipedia, ông mất năm 1995 thọ 80 tuổi.

Ánh Tuyết bật khóc…..

http://hotshowbiz.com/anh-tuyet-bat-khoc-khi-gap-duoc-nhac-si-duong-thieu-tuoc-de-tra-ban-quyen/


************************************************


sự nghiệp âm nhạc và người đẹp huyền thoại của ông.
kỳ 2



Tới đây xin đi vào sự nghiệp tình ca của Dương Thiệu Tước.


Có người nói rằng, Dương Thiệu Tước chỉ sáng tác một bản nhạc tình là Bóng Chiều Xưa, nhưng thực ra, trừ một vài bản có chủ đề đặc biệt như Tiếng Xưa, Ơn Nghĩa Sinh Thành, hầu hết các ca khúc còn lại của Dương Thiệu Tước đều là tình ca như nhà thơ Nguyễn Ðình Toàn đã nhận xét trong cuốn Bông Hồng Tạ Ơn, “Ngoại trừ bản Bóng Chiều Xưa, một tình khúc có vẻ như vì tình mà được viết ra, các ca khúc khác của Dương Thiệu Tước, tình thường là bối cảnh. Người ta không biết ông yêu người hơn hay yêu cảnh hơn? Cũng có thể vì ông yêu người, nên ông cũng yêu cảnh và ngược lại.” Và theo suy nghĩ của chúng tôi, sở dĩ nhiều người không nhận ra cái chất tình trong các ca khúc của Dương Thiệu Tước, bởi vì tình của ông thiết tha mà nhẹ nhàng, đằm thắm mà kín đáo, chứ không say đắm lộ liễu, không chất ngất hạnh phúc, mà cũng chẳng tuyệt vọng nức nở, ai oán thảm sầu. Tình trong nhạc Dương Thiệu Tước là những lời thơ, những bức họa, mơ hồ bàng bạc trong ánh trăng, thấp thoáng đâu đó dưới sóng nước hay thẹn thùng e ấp bên luống hoa. Dường như, qua các sáng tác của mình, Dương Thiệu Tước đã thể hiện một nhân sinh quan hơi khác lạ, ông thích đứng ở vị trí một người thưởng ngoạn, hơn là hòa nhập vào cuộc đời. Dưới đây là một ví dụ:

Mời nghe: Áng Mây Chiều-Dương Thiệu Tước-ca sĩ Quỳnh Giao



Image
Minh Trang

Nếu trong nhạc tình của Văn Cao có một người đẹp huyền thoại là nữ ca sĩ Hoàng Oanh, thì trong nhạc tình của Dương Thiệu Tước cũng có một người đẹp huyền thoại, đó là nữ ca sĩ Minh Trang. Ðiểm khác nhau là trước kia Hoàng Oanh đến thăm Văn Cao chỉ một lần duy nhất, rồi về lên xe hoa, còn Minh Trang sau này ra Hà Nội hát lần đầu tiên, gặp gỡ Dương Thiệu Tước để rồi ở lại trao thân gửi phận một đời. Ðiểm giống nhau, là cả hai người đẹp huyền thoại này đều trở thành nguồn cảm hứng cho 2 tình khúc bất hủ trong nền tân nhạc Việt Nam. Bến Xuân của Văn Cao và Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước. Như chúng tôi đã trình bày, Dương Thiệu Tước là một con người tài hoa, nhạc của ông là nhạc quý phái. Giờ đây ông lại chọn Ngọc Lan, loài hoa quý phái nhất, để làm biểu tượng cho người tình, thì tác phẩm ấy phải là một sự kết hợp của mọi tinh hoa và sang quý. Cung điệu và nét nhạc của bản Ngọc Lan khiến người nghe liên tưởng đến một đoản khúc nào đó trong nhạc cổ điển Tây Phương, với tiếng dương cầm thánh thót dạo đầu, để giới thiệu tiếng vĩ cầm dìu dặt vươn lên. Chúng ta có thể nghe bản Ngọc Lan qua link này:

Mời nghe: Ngọc Lan-Dương Thiệu Tước-ca sĩ Thái Thanh



Image
Dương Thiệu Tước và Minh Trang

Image
Bìa nhạc Ngọc Lan


Xưa nay người ta thường xưng tụng một đôi uyên ương xứng đôi vừa lứa là trai tài gái sắc,
nhưng riêng trong trường hợp Dương Thiệu Tước – Minh Trang, có lẽ chúng ta phải gọi là, trai tài hoa, gái tài sắc, bởi vì Minh Trang có khá nhiều tài. Còn nhớ khoảng giữa thập niên 1960, khi không còn ca hát nữa, Minh Trang đã phụ trách chương trình Nhạc Cổ Ðiển Tây Phương Dẫn Giải trên đài phát thanh Sài Gòn, đem lại một món ăn tinh thần hiếm quý cho thính giả. Theo chúng tôi được biết, từ ngày miền Nam giành được độc lập từ tay người Pháp, đây là lần đầu tiên đài phát thanh Sài Gòn có một chương trình như thế. Nhờ đó, những người yêu nhạc mà không có cơ hội, phương tiện tìm hiểu thưởng thức, trong số đó có chúng tôi, đã được làm quen với thế giới tuyệt vời và vô cùng tận của nhạc cổ điển Tây Phương. Trở lại với chuyện tình Dương Thiệu Tước-Minh Trang, nếu bản Ngọc Lan là lời tỏ tình của chàng, thì Bóng Chiều Xưa chính là sự hòa điệu của uyên ương nay đã thành đôi. Bóng Chiều Xưa không chỉ là sáng tác chung của Dương Thiệu Tước-Minh Trang mà còn được chính hai người Loan Phụng Hòa Minh trên đài Pháp Á vào thuở thanh bình xa xưa cũ. Cũng cần nói thêm, ngoài tài viết nhạc và trình diễn nhạc, Dương Thiệu Tước còn có tài ca hát dưới cái tên ca sĩ Vân Hải. Về phần nhạc, Bóng Chiều Xưa được viết theo thể điệu Tango chuẩn xác của vũ trường, mà những người yêu thích nghệ thuật khiêu vũ, chỉ cần nghe mấy nốt dạo đầu, cũng đã cảm thấy háo hức và nhún nhảy đôi chân. Thế nhưng, cũng qua bản Bóng Chiều Xưa, Dương Thiệu Tước đã lại một lần nữa cho thấy, trong khi luôn luôn theo khuôn mẫu của nhạc Tây Phương, ông vẫn có những nét đáng yêu độc đáo, mà chúng tôi xin được gọi là nét nhạc Dương Thiệu Tước. Cách đây 12 năm, Dương Thiệu Tước qua đời âm thầm tại Việt Nam, nhưng sự nghiệp âm nhạc của ông nói chung, tình ca nói riêng, vẫn mãi sáng chói và được đặt để một vị trí trân trọng nhất trong nền tân nhạc Việt Nam, và trong lòng người ái mộ. Mối tình huyền thoại Dương Thiệu Tước-Minh Trang sẽ được luôn ghi nhớ, bởi một chiều ái ân đã được đưa lên dòng nhạc ấy, không còn là của riêng hai người, mà là của bất cứ những ai đã từng yêu, và một đời mãi nhớ.

Image
Bìa nhạc Bóng Chiều Xưa

Mời nghe: Bóng chiều xưa-Dương Thiệu Tước-ca sĩ Khánh Ly

https://www.youtube.com/watch?v=he4snIxbPIo


HN

Chú thích của Thanh Thư

Kể thêm về cảm hứng của Dương Thiệu Tước, khi ông sáng tác bài Ðêm Tàn Bến Ngự.

Trong một bài báo “Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và câu chuyện Ðêm Tàn Bến Ngự” của Thanh Ngọc, Thanh Ngọc kể:

“Lạ lùng thay, cũng trong những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ 20, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước có một chuyến rời Hà Nội đến Huế rồi vào Sài Gòn; để rồi từ Huế, âm nhạc Dương Thiệu Tước được chắp cánh bởi lời ca của một người con gái Huế, ca sĩ Minh Trang. Minh Trang là cháu ngoại của Bà Chúa Nhứt là chị ruột vua Thành Thái. Minh Trang từ nhỏ đã thuộc nhiều làn điệu dân ca Huế như Nam Ai, Nam Bình, Kìm Tiền, Lưu Thủy.

Những năm 40, tiếng hát của Minh Trang phát trên sóng phát thanh hay đến nỗi nhiều nhạc sĩ miền Bắc hồi đó đã gửi bài hát về nhờ ca sĩ hát, trong đó có các nhạc sĩ Vũ Thành, Hoàng Giác, Nguyễn Văn Khánh, Thẩm Oánh… và cả Dương Thiệu Tước. Rồi như duyên tiền định, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bất ngờ gặp ca sĩ Minh Trang trong một lần ca sĩ ra Hà Nội hát, mở ra một kết cục có hậu sau này cho cuộc tình nghệ sĩ.

Quay trở lại thời gian dừng chân ở Huế, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sưu tầm và ký âm rất nhiều làn điệu dân ca Huế. Cũng trong thời gian này, Dương Thiệu Tước đã có những ca khúc trữ tình mang âm hưởng dân tộc, trong đó có cả nhạc phẩm “Tiếng Xưa”, mở đầu cho nhiều ca khúc mang âm hưởng dân tộc sau này. Sau những ngày lênh đênh trên sông, Dương Thiệu Tước quyết định rời Cố đô vào Sài Gòn sinh sống.

Trước ngày lên đường, Dương Thiệu Tước được bạn bè tổ chức nhiều cuộc rượu tiễn đưa. Ðêm cuối cùng rời Huế, chiếu rượu giang hà ngập sương trăng được một người bạn bày ra trong một con thuyền trôi trên Bến Ngự. Cho đến khi vầng trăng hạ tuần lên đầu non về sáng, Dương Thiệu Tước chợt nhiên đứng dậy, ra đầu mũi thuyền ngồi một mình, mắt suy tư nhìn ra cửa sông mơ hồ bảng lảng. Nhạc hứng bỗng từ đâu giữa trời đầy trăng sao sông nước dâng lên, Dương Thiệu Tước vội vàng lấy giấy ra ghi lại ngay bên mạn thuyền. Nhạc sĩ viết một mạch xong ca khúc, trở vào khoang thuyền đặt bài hát vừa hình thành dưới ngọn đèn dầu và cất tiếng ca tặng bạn. Những người tham dự cuộc rượu tiễn đưa lòng ai nấy đều nao nao trong ánh trăng sáng ven trời. Dương Thiệu Tước hát xong liền đặt tên cho sáng tác mới này là “Ðêm Tàn Bến Ngự”.

Có thể nghe Ðêm Tàn Bến Ngự tại:

http://baothuathienhue.vn/nhac-si-duong ... 29120.html



Thanh Thư
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 7th, 2017, 6:39 pm

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image


Nguyễn Mỹ Ca và La Hối



Tiểu sử Nguyễn Mỹ Ca

Nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca (1917-1949), còn có nghệ danh là Nguyễn My Ca, sinh năm 1917 tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Thân phụ là Nguyễn Tri Lạc, Nguyễn Mỹ Ca là anh họ của giáo sư âm nhạc Trần Văn Khê. Có thể Nguyễn Mỹ Ca học cổ nhạc với chú là soạn giả, nhạc sĩ Nguyễn Tri Khương (1890-1962). Nguyễn Mỹ Ca mất vào năm 1949 lúc vừa 32 tuổi. (Có hai ghi chép về ngày mất của ông, một là năm 1946, một là năm 1949, xin ghi nhận ở đây)


Image


Nguyễn Mỹ Ca học Le Myre de Vilers tức Trung học Nguyễn Ðình Chiểu – Mỹ Tho, rồi Pétrus Trương Vĩnh Ký tại Sài Gòn. Năm 1942, ông ra Hà Nội học Ðại học; và sinh hoạt trong nhóm sinh viên yêu nước do Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng đứng đầu. Trong khoảng thời gian này, ông sáng tác nhiều ca khúc vui tươi, lạc quan, thấm đậm lòng yêu nước như: Ðến trường, Vui đi học, Dạ khúc, đặc biệt bài Chiêu hồn nước được sinh viên – học sinh công diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội. Ông là đồng tác giả một số hành khúc với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Nguyễn Mỹ Ca từng dạy đàn mandoline cho Trần Văn Trạch trong bước đầu học tân nhạc. Là một nhạc sĩ thời tiền chiến. Cuộc đời rất ngắn nên ông sáng tác không nhiều, trong đó bài Dạ khúc được coi là nhạc phẩm bất hủ.

Trong bài: Nhạc sĩ tiền chiến Nguyễn Mỹ Ca và Dạ khúc bất hủ, trên Văn nghệ Tiền Giang Online, tác giả Cỏ May đã viết, “Nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca là thuộc dòng họ Nguyễn Tri, một dòng họ danh gia vọng tộc và có truyền thống âm nhạc ở Vĩnh Kim. Cha Nguyễn Mỹ Ca là anh của ông Nguyễn Tri Khương (cháu nội của ông Nguyễn Tri Phương, một vị quan nổi tiếng dưới thời triều Nguyễn), là một nhạc sĩ chuyên về sáo, lại thông hiểu về lý thuyết nhạc cổ, đã giúp cho GS Trần Văn Khê khi viết luận án tiến sĩ về nhạc Việt.”

Nhạc phẩm: Dạ khúc (lời Hoàng Mai Lưu), Ðến trường, Tiếng dân cày, Vui đi học, Chiêu hồn nước.

Tài liệu tham khảo: – Nguyễn Mỹ Ca Web: Wikipedia

– Cỏ May, Nhạc sĩ tiền chiến Nguyễn Mỹ Ca và Dạ khúc bất hủ Web: vannghetiengiang.vn

Hoài Nam biên soạn
Thanh Thư chuyển văn bản

*******************************************


Thưa quý độc giả trong các số báo trước, chúng tôi đã trình bày về những năm đầu của tình ca trong nền Tân nhạc Việt Nam, đồng thời giới thiệu một số ca khúc tiêu biểu.

Kỳ này, mời quý vị cùng bước sang 2 năm 1945-46, khoảng thời gian mà cố nhạc sĩ Lê Thương trong một bài viết về nhạc Tiền Chiến đã gọi là “Cảnh đua nở của Tân nhạc Việt Nam”. Như chúng tôi đã từng trình bày, nền tân nhạc Việt Nam ngày đó còn gọi là Nhạc Cải Cách, đã được khởi đầu tại miền Nam, qua việc hai nhạc sĩ Tư Chơi tức Huỳnh Hữu Trung và Năm Châu tức Nguyễn Thành Châu, vào giữa thập niên 1930, đã đề xướng việc đặt lời Việt cho các ca khúc Pháp, gọi là những bài hát Ta, điệu Tây để trình diễn trên các gánh hát Cải Lương.

Ðể rồi tới năm 1937, nền nhạc mới ấy chính thức ra đời qua việc phổ biến bản Kiếp Hoa của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên, một người gốc Huế sống tại Sài Gòn. Thế nhưng, theo hồi ức của cố nhạc sĩ Lê Thương, sau đó Tân nhạc lại phát triển mạnh tại đất Bắc, Hải Phòng, Nam Ðịnh, nhất là Hà Nội, kinh đô trí thức vào thời đó, sau đất Bắc tới miền Trung và cuối cùng mới trở lại Phương Nam.

Khoảng năm 1943-44, tại Huế, đã có sinh hoạt hòa nhạc của các nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, Văn Giảng, Lê Quang Nhạc V.V… Cũng trong thời gian này, Nguyễn Văn Thương sáng tác bản hùng ca Dưới bóng cờ và nhạc sĩ Ngô Ganh cho phổ biến các sáng tác viết cho thiếu nhi. Tại Ðà Nẵng, Hội An, nhóm nhạc sĩ La Hối, Phan Huỳnh Ðiểu, Dương Minh Ninh cũng bắt đầu hoạt động.

Riêng tại Sài Gòn, nơi mà từ năm 1941, nhạc sĩ Lê Thương đã dừng bước giang hồ để ra sức vận động cho nền nhạc mới, kết quả rất khiêm nhường. Ông hồi tưởng, “Quả thật lúc đó, Tân nhạc chưa gây được mảy may ảnh hưởng trong quần chúng miền Nam đang say mê Cải Lương vào thời đại thịnh, và trong rất nhiều gia đình quý phái, nhạc Âu Tây là món tiêu khiển thường nhật nhưng nhạc mới là cái gì, họ chưa thèm lưu ý tới, nếu không muốn nói là khinh miệt.” Năm 1943, Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn tổ chức một tuần lễ ca kịch và đã gây tiếng vang lớn nơi khán giả của Hòn Ngọc Viễn Ðông.

Từ đó, báo chí bắt đầu ủng hộ Tân nhạc. Tháng 9 năm 1944, ba tác giả Lưu Hữu Phước, Trần Văn Khê và Nguyễn Tôn Hoàn, cùng ký tên trong bản tuyên ngôn về âm nhạc. Trong đó, ba ông đã đưa ra một sự xét lại về những ý thức nhạc thuật Ðông Tây và ca tụng, cổ vũ cho nền nhạc mới.

Cùng thời gian, các lớp nhạc Nguyễn Thông, Lê Ngát, Dzoãn Ân đã mở ra tại Sài Gòn. Năm 1945, mở đầu cho cảnh trăm hoa đua nở trong Tân nhạc của miền Nam. Nguyễn Mỹ Ca, một nhạc sĩ ở vùng Sầm Giang, Ðịnh Tường, đã sáng tác bản Dạ Khúc, một tình khúc để đời mà từ lời ca cho tới tiếng nhạc, theo sự mô tả của Lê Thương cũng êm đềm nhẹ nhàng như con người khả ái của tác giả.

Image
Bìa nhạc Dạ Khúc


*******************************************


La Hối



Tiểu sử La Hối

La Hối (1920 – 1945) là một nhạc sĩ Việt Nam, tác giả nhạc phẩm nổi tiếng Xuân và tuổi trẻ. Ông tên thật là La Doãn Chánh, sinh năm 1920 tại Hội An (Quảng Nam) trong một gia đình gốc Quảng Ðông (Trung Quốc) đã định cư nhiều đời tại Việt Nam. Ngay từ nhỏ ông đã thể hiện năng khiếu về âm nhạc. Trong những năm 1936 – 1938 La Hối học ở Sài Gòn, thời gian này ông có dịp học hỏi, trau dồi âm nhạc cổ điển phương Tây. Năm 1939, La Hối và các bạn thành lập Hội yêu Nhạc (Société Philharmonique), ông làm hội trưởng. Một số nhạc sĩ nổi tiếng bây giờ như Dương Minh Ninh (tác giả ca khúc Gấm vàng), Lê Trọng Nguyễn (tác giả Nắng chiều), Lan Ðài (tác giả Chiều tưởng nhớ)… đã từng được ông hướng dẫn âm nhạc.


Image


Năm 1945 La Hối gia nhập và trở thành một trong những người lãnh đạo một tổ chức chống phát xít Nhật. Ông cùng các đồng chí in truyền đơn, nổ bom, phá đường, phá cầu, tập kích quân đội Nhật. Tháng 5 năm 1945, La Hối và 10 đồng chí bị hiến binh Nhật bắt. Sau khi bị tra tấn tàn nhẫn, tất cả bị xử bắn chôn chung một mộ tại chân núi Phước Tường, nay đã được cải táng về Nghĩa trang Chống phát xít Nhật ở Hội An. Khi ấy ông vừa mới 25 tuổi.

Nhạc phẩm Xuân Và Tuổi Trẻ của ông vốn do Diệp Truyền Hoa đặt lời tiếng Hoa. Sau khi ông mất, nhà thơ Thế Lữ đến Quảng Nam, biết được gương hy sinh dũng cảm của ông, đã xúc động mà đặt lời Việt cho ca khúc. Ngoài Xuân Và Tuổi Trẻ, La Hối còn một ca khúc khác là Xuân Sắc Quê Hương.




Bước sang miền Trung, tại Huế, Hội An, Ðà Nẵng, người ta được chứng kiến những hoạt động sáng tác sôi nổi và đặc thù. Hình như dòng sông Hương êm đềm, thơ mộng, không khí trong lành của gió mát của trùng dương đã ảnh hưởng không ít tới nét nhạc đẹp và trong sáng của các nhạc sĩ Miền Trung. Vượt lên trên Trầu Cau của Phan Huỳnh Ðiểu, Trai Ðất Việt của Dương Minh Ninh, là Xuân Và Tuổi Trẻ của La Hối.

Nhạc sĩ La Hối là một người gốc Hoa ở Hội An. Xuân Và Tuổi Trẻ là ca khúc duy nhất được phổ biến, cho nên người ta cũng không biết ông là một nhạc sĩ tài tử hay chuyên nghiệp. Chỉ có một điều chắc chắn Xuân Và Tuổi Trẻ là một ca khúc bất hủ, tuy lời hát được phổ từ một bài thơ của Thế Lữ, nhưng tài của La Hối hơn người là ở chỗ, như Nguyễn Ðình Toàn đã viết “Bài thơ được phổ nhạc tự nhiên, thanh thoát đến độ, người ta có cảm tưởng, nó hoàn toàn là một sáng tác của La Hối. Nghĩa là do chính ông vừa viết nhạc, vừa viết lời ca. Tiết điệu của nhạc, nhịp điệu của thơ, kết hợp với nhau nhuần nhuyễn, tựa hồ mỗi chữ của bài thơ đã được chứa sẵn nhạc bên trong”. Về phần nhạc của bản Xuân Và Tuổi Trẻ, trong khi không đủ khả năng đánh giá, đây có phải là bản nhạc theo thể điệu 3/4 tức điệu Valse hay nhất trong nền Tân nhạc Việt Nam?

Chúng tôi cũng có thể khẳng định Xuân Và Tuổi Trẻ là một bản Valse độc đáo, có sức thu hút, lôi cuốn, khác hẳn những bản Valse khác. Cũng nên biết Xuân Và Tuổi Trẻ đã được một đồng hương của La Hối là Diệp Truyền Hoa đặt lời bằng tiếng Hoa và ca khúc này rất được phổ biến nơi thính giả Trung Hoa. Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, đã có huyền thoại nói rằng Xuân Và Tuổi Trẻ, chính là một bản mật mã của các gián điệp Trung Hoa sử dụng để gởi tin cho nhau trong thời gian chống quân Nhật. Như vậy phải chăng La Hối và Diệp Truyền Hoa là hai chàng điệp viên có tâm hồn nghệ sĩ. Hay là, chỉ sau khi bài hát đã trở nên phổ biến, người ta mới biến tác phẩm của 2 chàng ấy, thành những mật mã cho điệp viên, không ai có câu trả lời.

Image
Bìa nhạc Xuân Và Tuổi Trẻ tiếng Việt


Thanh Thư chuyển văn bản

Mời nghe: Dạ Khúc-Nguyễn Mỹ Ca-ca sĩ Trần Văn Trạch.

https://www.youtube.com/watch?v=OsOotNjG7yY



THanh Thư
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 14th, 2017, 11:31 am

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image

Nguyễn Văn Thương




Tiểu sử Nguyễn Văn Thương

Nguyễn Văn Thương (1919-2002)
là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng, thuộc thế hệ đầu tiên của tân nhạc Việt Nam. Ông là tác giả của những ca khúc tiền chiến bất hủ như Ðêm đông, Trên sông Hương và những tác phẩm khí nhạc khác. Ông sinh ngày 22 tháng 5 năm 1919 tại Thừa Thiên-Huế. Năm 9 tuổi, ông học đàn nguyệt và tự học ký xướng âm qua sách của Pháp. Năm 1936, tốt nghiệp Quốc học Huế, ông viết bài Trên sông Hương, cũng là một trong những tác phẩm tân nhạc đầu tiên ở Huế.

Năm 1939, Nguyễn Văn Thương ra Hà Nội học. Trong đêm giao thừa năm đó, vì không có tiền để về Huế, ông đi lang thang trên những con phố của Hà Nội và sáng tác nhạc phẩm Ðêm đông bất hủ.[1]


Image


Năm 1942, Nguyễn Văn Thương vào làm việc ở Trung tâm Bưu điện Sài Gòn viết Bướm hoa ở đó. Ông còn là một trong những nhạc sĩ đầu tiên soạn nhạc cho các điệu múa chuyên nghiệp như thơ múa Chim gâu, kịch múa Tấm Cám, Múa ô, Chàm rông… Ông còn nổi tiếng với những tác phẩm khí nhạc như Lý hoài nam (độc tấu sáo trúc, cùng Ngọc Phan), Buôn làng vào hội, Quê hương (cùng Hoàng Dương), Ngày hội non sông độc tấu sáo trúc và bộ gõ, Rhapsodie số 2 cho đàn T’rưng và dàn nhạc giao hưởng, Trở về đất mẹ cho Violoncelle và piano. Ngoài ra, ông còn viết nhạc cho nhiều bộ phim như Vợ chồng A Phủ, Dòng sông âm vang, Hai Bà mẹ, Bình minh xôn xao, Sao Tháng Tám, Ngày ấy bên bờ sông Lam, Thành phố lúc rạng đông… và tác phẩm múa như Tấm Cám, Múa ô, Chàm rông, Thiếu nữ bên hồ, Dưới trăng.

Nhạc sĩ thứ 2 của miền Trung viết tình ca trong thời gian này là Nguyễn Văn Thương
, ông sinh ở Huế, học ở Hà Nội, sau đó trở lại Huế sinh hoạt âm nhạc, từng nhiều lần vào Sài Gòn quảng bá cho nền nhạc mới. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Văn Thương là bản Ðêm Ðông, cảm tác sau khi đi lang thang ngoài phố, qua Xóm Cô Ðầu, trong đêm Giao Thừa, mà chạnh lòng nhớ nhà, thương cho thân mình và thương tội cho kiếp ca nhi.

Mời nghe: Ðêm Ðông- Nguyễn Văn Thương-Lời Kim Minh-Ca sĩ Lệ Thu

https://www.youtube.com/watch?v=tT4Fl79dc9g


Image


Nhưng nói Ðêm Ðông là tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Văn Thương, không có nghĩa các sáng tác khác của ông không hay bằng, trái lại, bản Trên Sông Hương đã được ca tụng là một trong những bản nhạc hay nhất viết về dòng sông này, và bản Bướm Hoa, đã được xem là một trong những tình khúc êm đềm, tuyệt vời nhất, của những ngày chưa có khói lửa chiến tranh.

Mời nghe: Trên Sông Hương- Nguyễn Văn Thương- Ca sĩ Duy Trác

https://www.youtube.com/watch?v=iUWF8gfSI3w


Image

Bướm Hoa-Nguyễn Văn Thương- Ca sĩ Lê Dung

https://www.youtube.com/watch?v=v_W24sg1ew0


Tại miền Bắc, nơi mảnh vườn âm nhạc đã xanh tốt từ những năm đầu thập niên 1940, ngay cảnh trăm hoa đua nở đương nhiên phải huy hoàng rực rỡ hơn. Chỉ nói về tình ca thôi, trong 2 năm 1945-1946, các nhạc sĩ tại miền Bắc đã sáng tác hàng chục các ca khúc nổi tiếng. Ðiển hình như, các bản Tôi Bán Ðường Tơ, Xa Cách Muôn Trùng của Thẩm Oánh, Bóng Ai Qua Thềm của Văn Chung, Cây Ðàn Bỏ Quên, Chinh Phụ Ca, Mối Tình Trương Chi của Phạm Duy, Cô Hàng Cà Phê của Canh Thân, Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa của Tô Vũ, Giáo Ðường Im Bóng của Nguyễn Thiện Tơ v.v… Trong số các tình khúc kể trên, Cây Ðàn Bỏ Quên của Phạm Duy được xem là ca khúc được phổ biến bậc nhất thời ấy, có lẽ chỉ đến sau Buồn Tàn Thu của Văn Cao, sáng tác trước đó 2 năm. So với các tình khúc của Phạm Duy đã viết sau này, Cây Ðàn Bỏ Quên không phải là một bản xuất sắc. Cũng nên biết ngày ấy, Phạm Duy được biết tới như một chàng du ca hơn là một nhạc sĩ, vì thế năm 1943, bên dưới tựa đề của bản Buồn Tàn Thu, Văn Cao đã ghi mấy dòng như sau, “Tương tiễn nhạc sĩ Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi khắp chốn”. Sáng tác đầu tay của Phạm Duy là Cô Hái Mơ, một bản nhạc tình phổ từ thơ Nguyễn Bính, viết vào năm 1942, khi bản này cũng khá phổ biến, nhưng Phạm Duy không xem đây là một đóng góp trọn vẹn của mình, bởi vì phần lời ca là của người khác. Mãi tới năm 1945, Phạm Duy mới viết thêm 3 tình khúc khác là Chinh Phụ Ca, Khối Tình Trương Chi và Cây Ðàn Bỏ Quên. Cả ba đều là những tình khúc lãng mạn. Nhưng trong khi Chinh Phụ Ca đầy những lãng mạn cổ điển, Khối Tình Trương Chi chan chứa những lãng mạn huyền thoại, thì Cây Ðàn Bỏ Quên lại chứa đựng những lãng mạn ngây ngô dại khờ. Ðến nhà nàng, khi ra về quên mất cây đàn, hôm sau trở lại, thì nàng đã vắng bóng, chỉ thấy một bông hoa cài trên phím đàn. Nhưng dù nàng yêu người, hay yêu tiếng đàn, chàng cũng muốn tiếp tục kiếp lãng du. Chính những lời lãng mạn ngây ngô dại khờ trong bản nhạc tình và hình ảnh người nghệ sĩ với cây đàn có thật ngoài đời ấy, tức chàng Du Ca Phạm Duy, đã có sức thu hút mạnh mẽ một thời.

Image
NS Nguyễn Văn Thương và Phạm Duy

Mời nghe: Cây Ðàn Bỏ Quên-Phạm Duy-Ca sĩ Sĩ Phú

https://www.youtube.com/watch?v=zhrR3e1DiWE


Ghi chú của Thanh Thư

1.Nói thêm về hai ca khúc Trên Sông Hương và Ðêm Ðông, nữ ca sĩ Quỳnh Giao đã viết như sau: “Ở tuổi 17, Nguyễn Văn Thương mở đầu bài Trên Sông Hương trên cung Ré thứ, chậm buồn và xa vắng, dài đúng 16 trường canh. Khi trăng lên và khách du trên dòng Hương Giang thấy đắm say trước cảnh vật hữu tình thì nhạc sang chuyển đoạn (modulation), trên cung Ré trưởng, cũng dài 16 trường canh. Ðoạn thứ ba nhịp nhàng trong đúng 16 trường canh để quay về lại chuyển đoạn một để kết thúc. Khi còn là một thanh niên và tự học lấy cách đọc và viết nhạc của Tây phương, Nguyễn Văn Thương đã học được tự nền móng, tự căn bản. Trên Sông Hương vì vậy báo hiệu một nhạc sĩ có tài, một người sẽ trở thành nhạc sư đào tạo ra nhiều thế hệ nhạc sĩ.

Ba năm sau, Ðêm Ðông xuất hiện. Ðây là một trong những ca khúc đầu tiên mà cũng là ca khúc buồn bã nhất. Mùa Ðông vốn đã lạnh lùng, mà lại về đêm và đêm không nhà nữa! Ông viết với nhịp điệu trầm buồn mà sau này chúng ta thường hay hát với điệu tango chậm.

Ca khúc mở đầu từ buổi chiều tà, khi màn đêm buông xuống chầm chậm và trải qua cũng 16 trường canh. Hình ảnh qua lời từ ông viết cùng Kim Minh là cánh chim chiều bay mênh mang trong tiếng chuông cô tịch, sương bay mưa tỏa giăng mắc. Ðoạn hai mở ra tâm cảnh rộng ấy, của người chinh phu, nàng vợ hiền, của thi nhân và người ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng. Tình thì như vậy, cảnh là gió lạnh. Gió nghiêng chiều say, gió lay ngàn cây, gió reo sầu miên, gió đau niềm riêng. Ðoạn hai này dài 30 trường canh và kết thúc với lời giải: đấy là tâm tư của kẻ cô lữ xa nhà, giữa đêm đông lạnh buốt bỗng mơ về gia đình. Nguyễn Văn Thương viết ca khúc này tại Hà Nội, nhưng ông đang nhớ nhà và thương rộng ra những người cùng cảnh ngộ.”

2. Riêng về bản “Cây đàn bỏ quên” của Phạm Duy, trong một buổi trình diễn nhạc Phạm Duy ở Việt Nam trước khi ông mất, Duy Quang hát bài này. Một nữ khán giả hỏi Phạm Duy, có phải chính Phạm Duy là người đàn ông đã bỏ quên cây đàn và được tặng hoa, hay những chi tiết trong bài hát chỉ là hư cấu?. Ông đã chia sẻ bí mật thú vị ấy như sau, “Bạn hỏi tôi câu khó quá, lúc ấy tôi còn trẻ chỉ khoảng 18, 20 mà còn tham lắm. Tôi được một người rất yêu tôi tặng một bông hoa để trên cây đàn. Khi ấy tôi tự hỏi, cô ấy yêu cây đàn hay yêu tôi? Tuy nhiên bây giờ già rồi, tôi chắc không cần hỏi nữa, cách đây 80 năm, cô ấy đã yêu cây đàn và cả người già này nữa.”

Nhạc sĩ Phạm Duy bỏ quên cây đàn ở đâu?

https://www.youtube.com/watch?v=Y7ENW-0w5uk




Thanh Thư
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 14th, 2017, 11:42 am

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image

Thẩm Oánh và khoảng thời gian 1945-1946



Hoài Nam biên soạn
Trần P Thảo chuyển văn bản


Tuần này chúng tôi xin giới thiệu tiếp một số tình khúc tiêu biểu của hai năm 1945-46, khoảng thời gian nở rộ của tân nhạc Việt Nam.

Nói về sinh hoạt âm nhạc tại miền Bắc, một trong những cánh chim đầu đàn là nhạc sĩ Thẩm Oánh của nhóm Myosotis cùng với Dương Thiệu Tước ở Hà Nội. Tuy nhiên, trong khi Dương Thiệu Tước chủ trương soạn các ca khúc Việt hoàn toàn theo âm điệu Tây Phương, thì Thẩm Oánh cho rằng phải “theo ý nhạc Việt Nam và có cảm tưởng thuần tuý Á Ðông”, như ông đã viết vào năm 1948 trên tạp chí “Việt-Nhạc” do ông chủ trương.


Trong chiều hướng đó, Thẩm Oánh đã viết hai ca khúc “Cô Lái Ðò” và “Tiếng Hát Trong Phòng The” vào khoảng năm 1936-37, được xem là hai trong những ca khúc đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam. Thẩm Oánh cũng là người khởi xướng ngành Phật-Nhạc, và đã viết bài “A Di Ðà Phật”, được giới thiệu trong ngày khánh thành chùa Quán Sứ tại Hà Nội sau khi chùa được trùng tu vào năm 1942.

Image


Về sau, vì những chức vụ quan trọng do ông nắm giữ, chẳng hạn như giám đốc Ðài Phát Thanh Hà Nội, cũng như những sáng tác tầm vóc của ông như nhạc kịch “Quán Giang Hồ”, “Thiếu Phụ Nam Xương”, hùng ca “Nhạc Việt Nam” v.v… các thế hệ đi sau hầu như đã quên mất rằng Thẩm Oánh là một nhạc sĩ đã từng viết tình ca từ buổi sơ khai của nền tân nhạc Việt Nam.

Ngoài bản “Tiếng Hát Trong Phòng The” (tình khúc đầu tay của ông nay đã thất truyền) Thẩm Oánh còn để lại nhiều sáng tác khác như “Nhớ Nhung”, “Chiều Tưởng Nhớ”, “Cô Hàng Hoa”, “Tôi Bán Ðường Tơ” v.v… Tất cả đều là những tình khúc mà thanh niên ở Hà Nội đã một thời yêu chuộng.

Tôi bán đường tơ

Ca ca, hát hát, điên điên, rồ rồ

Quên quên, nhớ nhớ, mơ mơ, hồ hồ

Thương vay khóc mướn, khéo vui cợt đùa…

https://youtu.be/jO_inKJLbS4


Trong âm nhạc, có nhiều trường hợp bản nhạc nổi tiếng hơn tác giả, như bản “Cô Hàng Cà Phê” của nhạc sĩ Canh Thân. Trên thực tế, có khá nhiều người luôn miệng nghêu ngao bài hát này mà không hề biết tác giả là ai. Thời ấy, có thể nói hai bài “Cây Ðàn Bỏ Quên” của Phạm Duy và “Cô Hàng Cà Phê” của Canh Thân nổi tiếng và được yêu chuộng ngang nhau. Ðây là hai tình khúc đầu tiên theo khuynh hướng hiện thực của một bản tình ca, vốn chí lúc ấy chịu ảnh hưởng nặng nề của cả Ðường Thi Trung Hoa lẫn văn chương lãng mạn Pháp.

Image


Ðiểm khác nhau giữa hai tác phẩm
là trong khi Phạm Duy hiện thực một cách ngây ngô, dại khờ thì Canh Thân hiện thực một cách khôi hài, châm biếm. Có văn hoa chăng, thì cũng chỉ là văn hoa để làm nổi bật sự tương phản. Chẳng hạn ở trên thì “Lơ thơ tơ liễu buông mành”, xuống đoạn dưới là “vô duyên cái túi không tiền”. Thậm chí, cả cái bút hiệu Canh Thân của tác giả cũng được suy diễn có một ngụ ý châm biếm bởi vì, theo sự tin tưởng trong dân gian, những người tuổi Thân thường bị xem là có số lận đận, nhất là trên tình trường. Nhưng không phải vì thế mà bài “Cô Hàng Cà Phê” thiếu chất lãng mạn. Dù say đắm mùi hương lan thơm ngát từ người đẹp, dù mê mẩn đôi môi hé cánh hoa đào, trong giấc mơ chàng cũng chỉ dám mơ tưởng đến đôi cánh tay ngà cùng bàn tay ngọc…

Ở chợ Dầu có hàng cà phê, có một cô nàng be bé, xinh xinh.

Cô hay cười, hồn Xuân phơi phới, cứ xem dáng người mới chừng đôi mươi

Làn thu ba cô liếc nghiêng thành, mùi hương lan thơm ngát vương bên mình

Làm say mê bao gã thiếu niên đa tình

Mấy anh nho nhỏ thường đến ngồi, cười với cô…

https://youtu.be/FVCud7MuBbg


Ðến cố nhạc sĩ Lê Thương cũng gọi hai năm 1945-46 là “cảnh nở rộ của tân nhạc Việt Nam”, thì chúng tôi cũng xin phép sử dụng chữ “nở” ấy theo nghĩa đen để nói về sự xuất hiện của một bông hoa mới trong ngành nhạc. Ðó là nhạc sĩ Tô Vũ. Một cách chính xác, chỉ có cái tên là mới, còn người thì cũ. Bởi Tô Vũ chính là Hoàng Phú, bào đệ của Hoàng Quý trong nhóm Ðồng-Vọng ở Hải Phòng. Tuy là hai anh em ruột, cùng xuất thân từ phong trào Hướng-Ðạo, nhưng khác nhau ở chỗ Hoàng Quý luôn xông xáo, quên mình vì âm nhạc, vì lý tưởng phục vụ tuổi trẻ. Còn Hoàng Phú lúc nào cũng trầm tư, ung dung, thư thái. Sự nghiệp âm nhạc của ông trong suốt mấy năm đầu chỉ có một bản nhạc duy nhất là “Ngày Xưa”, một bài hát hoài niệm lịch sử, cho dù khá phổ biến nhưng cũng không đủ sức tạo một chỗ đứng cho Hoàng Phú.

Image


Nhưng ngay sau khi lấy biệt hiệu Tô Vũ, năm 1945, ông đã chinh phục cả một thế hệ với bản “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa”. Một bài hát có thể gọi là một cuộc cách mạng trong cách viết nhạc tình. Ông không sử dụng những từ văn hoa, sáo ngữ. Ông không dàn dựng một chuyện tình lâm ly, đẫm lệ. Mưa ở đây không phải là cơn mưa phùn nhẹ phớt, không phải là những giọt mưa thu thánh thót, mà là mưa mùa Ðông, mưa tầm tã, mưa dầm dề khiến đường phố “trơn ướt, tiêu điều”. Bài hát cũng không nói tới một nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn. Bởi vì theo Tô Vũ, chỉ cần một tà áo hương nồng, một ánh mắt trìu mến là đủ để “sưởi ấm lòng anh”.

Người ta thích hát bản “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa” bởi lời hát dễ hiểu và dễ hát. Người ta thích nghe “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa” bởi vì những ý tưởng thật gần gũi, thật đời thường. Có lẽ vì những đặc điểm nói trên, tình khúc “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa” đã không bị mai một, không bị quên lãng theo dòng thời gian mà năm sáu chục năm sau vẫn còn như mới, như cơn mưa mới đổ xuống chiều qua…

Image
Tô Vũ (1923-2014)

Em đến thăm anh một chiều Ðông,

Em đến thăm anh một chiều mưa

Mưa dầm dề, đường trơn ướt tiêu điều

Em đến thăm anh, người em gái tà áo hương nồng

Mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh…

https://youtu.be/WJrwUo2_VxA


Cảnh nở rộ của ngành tân nhạc Việt Nam trong hai năm 1945-46 là sự nở rộ của trăm hoa đua sắc khoe hương. Trong khi Phạm Duy ngây ngô dại khờ bỏ quên “Cây Ðàn”, Canh Thân mơ bóng hình “Cô Hàng Cà Phê”, Tô Vũ mở toang tâm hồn khi “Em Ðến Thăm Anh”, thì Nguyễn Thiện Tơ lại đắm đuối nơi “Bóng Giáo Ðường”.

Người ta không biết Nguyễn Thiện Tơ sáng tác được bao nhiêu bài, chỉ biết khi đất nước chia đôi và ông lựa chọn ở lại Hà Nội, số sáng tác được ông phổ biến chưa đủ để đếm trên năm đầu ngón tay: “Nhắn Gió Chiều”, “Giáo Ðường Im Bóng”, “Qua Bến Năm Xưa”, và “Khúc Nhạc Canh Tàn”. Trong số bốn ca khúc nói trên, “Giáo Ðường Im Bóng” là bản tình ca nổi tiếng nhất.

Thời đó, người ta không có phương tiện để ghi nhận những thứ hạng của các ca khúc được ưa chuộng. Nhưng cho dù có khả năng làm công việc ấy, bản “Giáo Ðường Im Bóng” vẫn phải được đặt vào một vị trí riêng biệt, dành cho một thể loại đặc biệt mà Nguyễn Thiện Tơ là người đi tiên phong. Ðó cũng là vị trí của những bản tình ca sau này mượn bối cảnh hoặc lồng vào những hình ảnh, màu sắc, niềm tin tôn giáo. Như “Chùa Hương”, “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím”, “Em Hiền Như Ma Soeur”, “Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời”, “Em Lễ Chùa Này”, “Ðoá Hoa Vô Thường” v.v…

Trở lại với bản “Giáo Ðường Im Bóng”, chỉ cần nghe qua một lần, và không nhất thiết phải là con chiên Chúa, người ta cũng đủ nhận ra sự êm đềm của dòng nhạc, nét thánh thiện trong lời ca. Nhưng tuyệt vời nhất, theo suy nghĩ của chúng tôi, chính là ở chỗ hầu như toàn bộ nội dung của bài hát chỉ nói về cảnh sắc và không khí của giáo đường trong đêm Giáng Sinh. Phải đợi tới câu cuối cùng mới biết đây là một bản nhạc tình.

Nơi giáo đường im bóng, tôi thầm mong ngóng

Ðắm đuối trên làn sóng mắt nàng huyền mơ

Lời hát trong bản nhạc chỉ nói về những rung cảm của nhân vật chính mà không cho biết kết cuộc của mối tình như theo lệ thường. Có những mối tình trong thơ nhạc người ta cho rằng “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”. Vì thế, sau khi bản “Giáo Ðường Im Bóng” trở nên nổi tiếng, tác giả đã đặt lời hai cho ca khúc này, mở đầu bằng câu “Tới chốn xưa nàng vắng bóng”, và kết bằng hai câu:

Tôi tiếc thời tươi sáng trôi cùng năm tháng

Trí óc âm thầm nhớ mắt nàng huyền mơ…

https://youtu.be/jbnnNeSfA-o



TPT – chuyển văn bản
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 14th, 2017, 11:50 am

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image



Tên gọi “nhạc tiền chiến”, cùng với “thơ văn tiền chiến”, xuất hiện tại miền Nam vào những năm cuối thập niên 1960. Thời gian này là thời vàng son của loại “nhạc thời trang”, mà có người còn gọi là “nhạc thương mại”. Vì thế, một số nhạc sĩ uy tín và nhiều người cầm bút tên tuổi đã cổ vũ, khuyến khích thính giả về nguồn—tức là tìm nghe lại những ca khúc đầy giá trị nghệ thuật của những ngày xưa cũ. Kết quả: phong trào nghe và hát nhạc cũ, trong đó có nhạc tiền chiến, đã phát triển mạnh mẽ.


Hai chữ “tiền chiến” ở đây có nghĩa là thời gian trước khi xảy ra cuộc chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh, còn được gọi là Chiến Tranh Ðông Dương Lần Thứ Nhất. Cuộc chiến này bắt đầu tại miền Nam vào tháng 9 năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng và Pháp đổ quân trở lại Ðông Dương để tái lập chế độ thuộc địa. Còn tại miền Bắc, tới cuối năm 1946, sau khi Hồ Chí Minh và bộ chỉ huy Việt Minh rút lên chiến khu Việt Bắc, kêu gọi toàn quốc kháng chiến, thì cuộc chiến mới khởi sự. Như vậy, “nhạc tiền chiến” là những ca khúc sáng tác từ năm 1945 – 46 trở về trước.

Image
Tô Vũ và Phạm Duy – nguồn: Nhịp Cầu Thế Giới


Thế nhưng ngày ấy ở Sài Gòn, nhiều nhà xuất bản nhạc, nhà làm băng nhạc, thậm chí cả một số người phụ trách các chương trình ca nhạc trên đài phát thanh, và sau này trên đài truyền hình, đã gọi tất cả những ca khúc sáng tác trước năm 1954 là “nhạc tiền chiến”. Chúng tôi còn nhớ ngày ấy trong số 40 ca khúc trong tuyển tập được gọi là “Những Tình Khúc Tiền Chiến Tiêu Biểu” do một nhà xuất bản nhạc lớn nhất nhì miền Nam tung ra thị trường, chỉ có phân nửa là những ca khúc sáng tác từ năm 1946 trở về trước. Và trong một cuốn băng đặt tựa đề là “Nhạc Tiền Chiến” của một nữ ca sĩ, không chỉ có hai bản “Hương Xưa” của Cung Tiến, “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành—là những sáng tác trong thập niên 1950, mà còn có cả bản “Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng”— thơ Phạm Thiên Thư do Phạm Duy phổ nhạc vào cuối thập niên 1960!

Theo sự hiểu biết của chúng tôi
, mãi tới năm 1970 mới có một tuyển tập “nhạc tiền chiến” đúng nghĩa được xuất bản. Ðó là tập nhạc có nhan đề “Nhạc Tiền Chiến”, do Ðỗ Kim Bảng tuyển chọn, Kẻ Sĩ xuất bản, gồm 27 ca khúc tiền chiến của 18 tác giả. Trong tập nhạc này nhạc sĩ Hoàng Nguyên, người viết Lời Nói Ðầu, đã gọi nhạc tiền chiến là “tiếng hát những ngày chưa chiến tranh”. Cuối tập nhạc là bài biên khảo của nhạc sĩ Lê Thương tựa đề “Thời Tiền Chiến Trong Tân Nhạc Việt Nam”. Trong đó ông đã khẳng định thời “tiền chiến” là từ năm 1938 tới 1946. Thế nhưng, nếu ngày ấy đã chẳng có mấy người chịu lưu tâm và sử dụng ba chữ “nhạc tiền chiến” đúng theo sự giải thích của Hoàng Nguyên và Lê Thương, thì nói gì tới ngày nay ở hải ngoại.

Nhưng cho dù không có tham vọng sửa sai một cái sai đã được nhiều người cho là đúng, chúng tôi—trong cương vị người phụ trách một chương trình âm nhạc dẫn giải, bắt buộc phải làm sáng tỏ ba chữ “nhạc tiền chiến” trước khi bước sang giai đoạn kế tiếp của nền tân nhạc Việt Nam.

Dưới đây là bài “Tạ Từ”, một ca khúc để đời của Tô Vũ, tức Hoàng Phú của nhóm Ðồng Vọng ở Hải Phòng trước đây:

Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh
Gió dâng khúc đàn thanh bình
Ta đi tìm thơ muôn phương
Gót in núi rừng thâm u.

Và lướt trên muôn trùng sóng
Lời anh thầm ước khi nao
Dưới trăng giữa mùa hoa đào
Trong em dư âm còn vang tiếng đồng.

Lầu chiều còn luyến ánh hồng
Lầu xây trong không sóng gió rót chia ly
Phồn hoa em chia tay ra đi
Ðưa chân dừng bước bên cầu giã từ mấy câu.

https://youtu.be/jxOqQLiYLtY


Image
Nhạc sĩ Tô Vũ thời còn trẻ nguồn: Nhịp Cầu Thế Giới


Bản nhạc này được sáng tác sau khi cuộc chiến đã nổ ra, cho nên dù vẫn là nhạc tình, nội dung bài hát và tâm tư của tác giả đã có sự thay đổi. Không còn “tà áo hương nồng, mắt huyền trìu mến” như trong bản “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa”, mà là chia ly, giã từ, là mơ ước một ngày dứt chiến chinh. Thế nhưng, không phải bài hát nào sáng tác sau năm 1946 cũng nói về chiến tranh, chia ly, cách biệt. Vẫn có những bản nhạc tình cảm thuần tuý mà từ nội dung tới nét nhạc đã đem lại cho người nghe những rung động nhẹ nhàng y như những ngày chưa có chiến tranh. Thí dụ điển hình là những ca khúc của Ðoàn Chuẩn như “Tình Nghệ Sĩ”, “Lá Thư”, “Tà Áo Xanh”, “Dang Dở”, v.v…

Tới đây một câu hỏi được đặt ra: Những ca khúc sáng tác sau khi cuộc chiến đã bùng nổ gọi là nhạc gì?

Một số người vô tư, hoặc có chủ đích chính trị, đã gọi là “nhạc thời kháng chiến” mà không chịu để ý tới tính cách gượng ép và vô lý của nó. Bởi vì, trước hết, có nhiều nhạc sĩ thời ấy không hề đi theo kháng chiến. Thứ hai, có những nhạc sĩ đi theo kháng chiến nhưng chỉ được một vài năm, nhận ra bộ mặt thật của cộng sản núp sau lưng, đã bỏ về vùng Pháp chiếm đóng—sau này gọi là vùng quốc gia. Thứ ba, kể cả một số nhạc sĩ đi theo kháng chiến từ đầu tới cuối, vào thời gian này cũng vẫn tiếp tục sáng tác những bản nhạc tình cảm thuần tuý và được phổ biến ở các vùng quốc gia.

Sau này, rất có thể vì muốn né tránh hai chữ “kháng chiến”, một số người đã đề nghị gọi tất cả mọi ca khúc sáng tác trước năm 1954 là “nhạc tiền chiến”, tức là hợp thức hoá cái sai mà chúng tôi vừa đề cập tới. Lập luận của những vị này là: Mặc dù chiến tranh xảy ra, dòng nhạc tiền chiến vẫn được tiếp nối chứ không dừng lại. Tuy nhiên, một số người khác đã không đồng ý, trong đó có nhà văn/nhà báo Ðặng Tiến. Trong bài viết tưởng niệm cố nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn, đăng trên tạp chí Diễn Ðàn vào cuối năm 2001, ông viết:

Nhạc Ðoàn Chuẩn được xếp vào “nhạc tiền chiến” một cách võ đoán. Một mặt, chữ “tiền chiến” áp dụng cho văn học nghệ thuật Việt Nam đã là một lối nói tuỳ tiện. Mặt khác, bài hát đầu tiên của Ðoàn Chuẩn là “Tình Nghệ Sĩ” làm năm 1948 thì không thể gọi là tiền chiến.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Ðặng Tiến, nhất là về tính cách tuỳ tiện trong việc áp dụng chữ “tiền chiến” trong văn học nghệ thuật Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi tự xét cũng không đủ khả năng, tư cách để bác bỏ việc một số người đã gọi tất cả mọi ca khúc sáng tác trước năm 1954 là “nhạc tiền chiến”.

Trở lại với chương trình “70 Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam”, để tránh gây tranh luận vô ích, cũng như để quý độc giả dễ dàng theo dõi, chúng tôi xin đơn giản hoá bằng cách chia bảy chục năm đó ra làm ba thời kỳ và đặt tên theo mốc điểm thời gian. Ðó là: thời kỳ thành lập và phát triển, từ năm 1938 tới 1954; thời kỳ đất nước phân ly, tức sau hiệp định Genève 1954; và thời kỳ sau 1975.



TPT chuyển văn bản
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 76
Posts: 13657
Has thanked: 12676 times
Have thanks: 10057 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Next

Return to History & Culture Of VietNam | Lịch Sử & Văn Hóa Việt Nam

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests