Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

VIỆT-SỬ TOÀN-THƯ (Phạm Văn Sơn)

Read and learn ethnic origin Vietnamese | Hảy tìm hiểu và học hỏi nguồn gốc dân tộc việt

Re: VIỆT-SỬ TOÀN-THƯ (Phạm Văn Sơn)

Postby DaMinhChau » April 25th, 2017, 2:49 pm


Chương V

NHỮNG CUỘC TRANH THỦ ĐỘC LẬP CỦA VIỆT NAM
TỪ 1928 – 1951

    Việt Nam dưới chế độ Pháp thuộc
    - Những cuộc tranh đấu của thế hệ chúng ta
    - Nhật Bản can thiệp vào nội tình của Việt Nam
    - Những mưu mô của hai phe Thực, Cộng
    - Chế độ Pháp thuộc cáo chung

1 – Xã Hội Việt Nam

Việt Nam do hai Hòa ước 1862 và 1884 cùng với lân quốc Ai Lao, Cao Mên từ hậu bán thế kỷ XIX đã thành thuộc địa của nước Pháp. Các việc lớn nhỏ đều do người Pháp nắm giữ hết, vì vậy nếp sống vật chất và tinh thần dần dần cũng thay đổi theo quan niệm văn hóa và chính trị của các nhà thực dân, đế quốc.
Năm 1897 ông Doumer làm toàn quyền Đông Dương đặt các thuế đinh, điền, thổ trạch, muối, thuốc phiện, xuất nhập cảng, đặt đường xe lửa, xây dựng cầu công, mở mang canh nông, công nghệ. Năm 1902, Ông Beau thay ông Doumer xúc tiến việc dạy chữ Pháp để bãi bỏ Nho học, lập Y tế cục, nhà thương, các sở bưu điện…Đứng vào địa vị người Việt Nam ở thế hệ cũ, ta thấy quả bộ mặt cũ và xã hội Việt Nam có thay đổi rõ rệt vì đã bớt được nhiều con đường nhỏ hẹp, nhiều thị thành lụp xụp, nghèo nàn ánh sáng, trục giao thông thủy lộ mở được nhiều, tin tức thư từ đi lại mau lẹ, xe điện, xe hơi, tàu hỏa đi khắp xứ. Về văn hóa, cái học của Tây phương có phần khoáng đạt và có tinh thần dân chủ hợp với sở nguyện của nhiều người tuy chưa sâu rộng lắm. Nhưng có nhìn bằng con mắt sâu sắc của các nhà chính trị với những nhận xét tinh tế thi fmowis rõ Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng, đã chỉ là một thuộc địa để khai thác và là một thuộc địa khai thác ngon lành nhất nếu so với nhiều thuộc địa khác cũng của Pháp. Trong quan niệm của Đề đốc Pháp, người Pháp đến đây đâu có phải để thi hành nhân nghĩa và thật tình giao rắt hạt giống văn minh. Như vậy những công cuộc xây dựng mở mang ở nước ta dĩ nhiên chỉ để phục vụ quyền lợi cho các nhà tư bản và đế quốc mà thôi. Xin hãy coi danh sách một số hội buôn dưới đây để có một ý niệm về sự khai thác của tư bản Pháp ở Đông Dương tai hại đến chừng nào:

Các nhà ngân hàng đứng đầu có Đông Dương ngân hàng, việc phát hành giấy bạc Đông Dương, công ty nấu rượu Fontaine, công ty Thủy điện, sở xi măng Hải Phòng, công ty chế rượu Bia và nước ngọt Hommel, công ty nông nghiệp An Nam, công ty rừng núi và các xưởng cưa Biên Hòa, công ty tàu điện Đông Dương, công ty xây dựng các cầu cống, công ty các đồn điền cao su đất đỏ, công ty hỏa xa Vân Nam, địa ốc ngân hàng, công ty cao su Cửu Long Giang, công ty dệt sợi Nam Định, công ty các xưởng làm đường Đông DƯơng, công ty vận tải hàng hải Nam kỳ và Đông Dương, công ty khai thác thiếc và Wolframs Bắc Kỳ, nhà máy diêm, công ty khai thác khoáng chất Đông Dương, công ty than Hongay, Đông Triều và nguy hiểm nhất là Đông Dương ngân hàng, viện phát hành giấy bạc Đông Dương.
Như thế thì đường xá, cầu cống làm ra chỉ để chuyển dịch hàng hóa, sản phẩm của các nhà buôn, nhà kỹ nghệ, nhà trồng tỉa và để hành quân bảo vệ quyền lợi của người Pháp ở đây hơn là để phục vụ dám dân bản xứ.

Trong khu vực kinh tế, thương mại trên đây, nhìn vào các người tai to mặt lớn, không thấy người Việt nào hết từ Hà Nội vào Sài Gòn, họa chăng có một ít mại bản tôi tới của các nhà ngân hàng được vay tiền về làm sét ty bóc lột tá điền hay mở mang vài kỹ nghệ nhỏ đã thành một thứ vật hy sinh mà Đông Dương ngân hàng đã thẳng tay bóp chết hồi kinh tế khủng hoảng năm 1930. Nhưng số người ít ỏi này riêng đối với Hoa kiều, Ấn kiều cũng chỉ là những cái bóng qua, kể chi đối với các nhà thực dân Pháp.

Về ruộng đất, những chỗ tốt lành người Pháp cũng chiếm hết, ngay cả những nơi người dân quê đã khai thác thuộc công điền hay công thổ. Năm 1890 ruộng đất người Pháp khai thác trên toàn cõi Đông Dương là 11.390 mẫu tây, tới 1939 diện tích này đã lên đến 1 triệu mẫu, riêng ở Nam kỳ tới 610.000 mẫu, theo sự kêu cứu của Piere Naville trong cuốn La Guerre du Việt Nam. Rồi những người dân quê hiền lành của ta đã bị cưỡng bách đi làm phu phen, cu ly ở các đồn điền, các xí nghiệp có đi mà chẳng có về, nhất là các người đi làm cho các đồn điền cao su đất đỏ, mỏ than Hongay, thường bị đánh đập dày vò lại thêm ma thiêng, nước độc chết vô kể.

Trong các ngành hành chánh cũng như trong quân đội, người Việt chỉ được giữ những chức đạ đẳng và một số người được làm quan Phủ, Huyện cũng không được người Pháp trọng vọng. Ta cũng nên biết rằng phần nhiều quan lại thời Pháp không thuộc về những danh gia, tử đệ. Vì cuối thế kỷ XIX nước ta bại trận, sĩ phu ta có phong trào bất cộng tác với địch, các nhà nho ái quốc đều cấm con cháu học cái thứ “chữ như con giun của đám người man di, mắt xanh lè”. Vậy nên chỉ có những người ít liêm sỉ mới nhảy ra xu mị tân trào, do đó văn chương Việt Nam đã phản ảnh được nhiều sự kiện rất hài hước qua các câu thơ dưới đây:

    Đem thân khoa giáp làm tôi Pháp
    Lầm bởi nhà nho học chữ Tàu…
    Con nên khoa giáp, cha mòn gối
    Em được công danh, chị…
    Trong nhà bà đầm cong đít vịt
    Ngoài sân ông cử ngẩng đầu rồng
Để đánh dấu sự sa đọa của một hạng người tự phụ là trí thức và phương diện quốc gia trong thời nô lệ.
Qua các trang trên đây ta thấy sự khai thác của giới tư bản và tài phiệt Pháp quá vĩ đại và không thể không có cảm tưởng rằng nước ta là một miếng thịt cho trăm dao xâu xé. Quả vậy, nếu người Pháp còn tồn tại trên giải đất này thì cái họa diệt chủng của người Việt cũng không phải là điều xa xôi lắm. Chính một số người vô tư Pháp cũng nhận thấy tình trạng này và trách các nhà thực dân Pháp quá già tay nặn bóp, quá miệt thị và các độc đối với người Việt. Và đây là cả một sự sai lầm về chính sách nên đế quốc Pháp tan tành sự nghiệp trên toàn cõi Đông Dương thật là dĩ nhiên. Sự sai lầm ấy là đã hạ người Việt Nam xuống một loại bồi thần hạ cấp, một loại nô lệ còm cõi về vật chất, nhục nhã về tinh thần, gây nên căm hờn trong các tầng lớp xã hội ở thuộc địa này, nên khi biến cố xảy ra, người Pháp ở Đông Dnag không có một bạn đồng minh nào trong những giờ phút đen tối, đáng lẽ nếu họ khôn ngoan hơn, nhân đạo hơn, đám quan trường tay sai trực tiếp của họ có nhiều uy tín để lôi kéo quần chúng cho họ, thương gia địa chủ bản xứ mạnh mẽ có thể góp phần tranh đấu với họ, giới lao động không bị chà đạp và bóc lột quá, sẽ không chạy theo đối phương.

Thời bấy giờ cụ Phan Tây Hồ đã cảnh báo các nhà cầm quyền Pháp trong một bức thư như sau: “Chính Phủ nên chọn hiền tài trao cho quyền bính, lấy lễ mà tiếp, lấy thành mà đãi, nới rộng quyền ăn nói cho các thân sĩ, báo quán cho mở rộng để thông đạt tình dân, thưởng phạt cho nghiêm minh, khuyên răn quan lại, sửa đổi luật pháp, giảm bớt sưu thuế, khuếch trương công nghệ thì sĩ dân vui lòng giúp chính phủ, chứ còn ai lo toan chống cự nữa”
Nhưng chính phủ thuộc địa còn quá say sưa với thời hoàng kim và quá tin tưởng ở cái dư uy của các chiến công F. Garnier, H. Rivière, Rigaul de Genouilly cuối thế kỷ XIX nên đã bỏ ngoài tai lý thuyết “Pháp Việt đề huề” của cụ Sào Nam và lời khuyến cáo của cụ Tây Hồ. Rồi “Vật cùng tắc biến, nhân cùng tắc phản” đó là một định luật ở thế gian này. Cái hậu quả của một chế độ “Người bóc lột người” đã đưa nước Pháp tới đâu?

2 – Các Cuộc Chiến Đấu Của Phái Tân Học

Năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị Pháp bắt được ở Thượng Hải dẫn về Việt Nam, sau cụ được ân xá nhờ ở dư luận công phẩn của đồng bào toàn quốc, đáng lẽ Pháp đã thẳng tay tiêu dietj nhà lão thành cách mạng của chúng ta. Dù sau việc cụ Phankể trên cũng tỏ rõ rằng cuộc vận động Đông Du đã thất bại, hai nước Tàu, Nhật không giúp được phái cách mạng như lòng ta muốn. Rồi cụ Sào Nam và nhiều thanh niên của ta bị mời ra khỏi đất Nhật. Chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Quốc chỉ làm được một việc la fcho cách mạng Việt Nam tá túc mà thôi, mặc dầu một số nhân tài của ta đã có công chiến đấu bên cạnh cách mạng quân của Trung Tôn Sơn để dựng nên Trung Hoa Dân Quốc. Song song với phong trào Hậu Văn Thân từ 1917, nhiều cuộc bạo động vẫn xảy ra.
Những người tân học cũng thấy mình có nhiệm vụ nối chí tiền nhân và hưởng ứng với các nhà cách mạng hải ngoại, vì vậy đã có những vụ dưới đây liên hệ rõ ràng với chương trình hành động của phái Đông Du:

- Ông Lương Ngọc Quyến ở Nhật Bản về năm 1917. Đến Hương Cảng, ông bị mật thám Anh bắt giao cho Pháp, Pháp đem giam ông tại nhà lao Thái Nguyên. Sau ông Đội Cấn khởi nghĩa ở tỉnh này, ông Quyến có tham gia nhưng bị què chân nên trước khi quân khởi nghĩa thất bại, ông tự tử để anh em khỏi vì mình mà lúng túng. Cuộc dấy động của Đội Cấn kéo dài được vài tháng.
- Năm 1923, toàn quyền Đông Dương Martial Merlin đi công cán bên Nhật về đến Sa Điện (Quảng Châu) được Pháp kiều đãi tiệc ở Victoria, bị một thiếu niên Việt Nam là Phạm Hồng Thái ném bom, chỉ riêng Merlin thoát hiểm, còn một số người chết và bị thương, họ Phạm nhảy xuống sông mà chết. Việc này có ảnh hưởng rất lớn tới tinh thần dân tộc ta ở trong nước vì bấy giờ quốc dân có vẽ thờ ơ, chán nản với việc chống Pháp.

- Năm 1924-1925, nhiều đảng phái cách mạng được tổ chức ra. Thoạt tiên là Việt Nam chi bộ của hộ Á Tế Á Áp Bức Nhược Tiểu Dân Tộc thành lập ở Quảng Đông do Nguyễn Ái Quóc và Lâm Đức Thụ chủ trương. Một chi bộ hoạt động ở Việt Nam sau đổi ra Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội như trên đã nói.

- Ở Ba Lê (Paris) có đảng Việt Nam Độc lập do ông Nguyễn Thế Tuyên tổ chức trong giới sinh viên và anh em làm tàu biển. Năm 1926 Tân Việt Cách Mạng Đảng tức Phục Việt cũ hoạt động ở Hà Tĩnh và Sài Gòn. Năm 1927, nhóm Nam Đồng Thư xã có Phạm Tuấn Tài, Hoàng Phạm Trân tức Nhượng Tống, Nguyễn Thái Học lập ra Việt Nam Quốc Dân Đảng. Năm 1928 Tạ Thu Thâu và Nguyễn An Ninh lập Đệ Tứ Quốc tế. Năm 1929 Việt Nam Cách Mạng Đồng Chí Hội đổi ra Đông Dương Cộng Sản Đảng. Năm 1930, Việt Nam Quốc dân Đảng khởi nghĩa ở Yên Bái vào mùng 10 ngày 12 bị thất bại. Đế quốc thực dân ra tay khủng bố. Mười ba yếu nhân VNQĐD bị lên đoạn đầu đài vào ngày 17-6-1930, còn hàng ngàn đảng viên bị đày đi Côn Đảo, Sơn La và Lao Bảo. Từ năm 1931-1932, khắp Nam Bắccó những vụ biểu tình do đảng Cộng Sản bí mật tổ chức bị lính Lê Dương đàn áp rất tàn nhẫn. Năm 1937, Mặt Trận Bình Dân bên Pháp lên cầm quyền thì các nhà cách mạng thuộc các đảng phải đều đứng lên công khai lập Đông DƯơng Đại Hội Nghị yêu cầu cải cách chính trị và giải phóng các quốc sự phạm. Pháp chịu nhượng bộ khá nhiều bằng cách ưu đãi quốc sự phạm, kiếm việc cho họ làm.

- Năm 1940 cuộc Đại chiến Đệ nhị xảy ra, quân đội của Thiên Hoàng tiến vào Việt Nam thì Phục quốc quân của ta đánh chiếm Lạng Sơn nhưng vì Nhật không hết lòng giúp đỡ nên ít tuần sau, Pháp điều đình xong được với Nhật, liền vây đánh tan quân cách mạng. Chủ tướng là Trần Trung Lập bị bắt và bị xử bắn cùng hàng trăm binh sĩ ở Lạng Sơn dưới thời Công sứ Chauvet.

Cũng nên nahwcs rằng trước khi quân Nhật bước vào nội địa, một đảng quốc gia mới là Đại Việt Dân Chính ra đời do ông Nguyễn Trường Tam lập ra gồm nhiều trí thức, công chức và sinh viên và cũng có liên lạc với quân phiệt Nhật Bản. Khi phục quốc quân tan vỡ, Pháp đem các quốc sự phạm trong nước đi an trí thì Đại Việt Dân chính cũng có một số đảng viên bị bắt, riêng ông Nguyễn Tường Tam chạy thoát qua Tàu. Sau ít lâu, Đại Việt Dân Chính được tổ chức lại và mang tên là Đại Việt Quốc Xã trong đó có mấy nhân vật trọng yếu là Nguyễn Văn Tiếu, Nguyễn Đăng Đệ, Trương Đình Trí…

- Từ 1943-1944 Việt Nam Ái Quốc Đảng của các ông Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Vũ Đình Di, Dân Chủ Đảng của các ông Vũ Đình Hòe, Dương Đức Hiền cũng xuất đầu lộ diện (sau này Dân chủ Đảng lệ thuộc hẳn mặt trận Việt Minh cho đến ngày nay) và trước cuộc đảo chính 9-3-1945, một số đảng phái quốc gia tập hợp lại thành một đảng lớn lấy tên là Đại Việt Quốc Gia Liên Minh trong đó có Đại Việt Quốc Xã và Đại Việt Quốc Dân Đảng là hai cột trụ. Đại Việt Quốc Gia Liên Minh bước ra sân khấu trong thời Nhật thuộc nhưng kém thủ đoạn, ít kinh nghiệm tranh đấu tuy được tay Nhật bí mật ủng hộ mà vẫn bị Mặt Trận Việt Minh dành mất địa vị, đáng lẽ chính quyền trên toàn cõi Việt Nam phải chuyển qua tay họ.

3 – Cuộc Đảo Chánh 9-3-1945

Trận Đệ nhị Thế chiến bùng nổ là lúc Việt Nam cũng như nhiều quốc gia bị trị bước sang những giai đoạn mới của lịch sử. Phong trào Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đông Dương Cộng Sản Đảng mặc dầu bị đế quốc Pháp đàn áp từ năm 1930 vẫn ngấm ngầm hoạt động. Các mạng Việt Nam bấy lâu thu nanh dấu vuốt sửa soạn nắm thời cơ, thì thời cơ ấy bắt đầu tới giữ lúc tiếng súng đại bác của Phát Xít Đức nổ trên bờ sông Rhein, phi cơ Nhật oanh tạc các căn cứ Đồng Minh ngoài bờ bể Thái Bình. Tuy mất liên lạc với chính quốc, chính phủ Đông Pháp, kinh nghiệm từ cuộc đại chiến đầu tiên, đã bắt các quốc sự phạm đem đi an trí ở các nơi như trên đã nói, vậy mà nhiều cuộc bạo động vẫn tung ra ngay sau đó.

Ở Nam bộ, Lê Hồng Phong cùng vợ là Nguyễn Thị Minh Khai hô hào dân chúng khởi nghĩa. Ở Đô Lương, ông đội Cung chỉ huy bảo an binh chiếm đồn. Phục quốc quân do cụ Trần Trung Lập theo quân đội Nhật về hoạt động ở Lạng Sơn. Tình thế trở nên rối ren hơn bao giờ hết. Dân chúng đau khổ vô cùng vì cái nạn nộp thóc cho Nhật dùng, cho chính phủ Đông Pháp dự trữ để chờ sự đổ bộ của quân đội Đồng Minh. Một phần lớn ruộng đất bị trưng dụng để trồng thầu dầu, đay gai hầu cung ứng cho kỹ nghệ chiến tranh Nhật. Quan lại được dịp bóp nặn, dân chúng vôc ùng điêu đứng, từ nơi thôn quê cùng tận đến chốn thị thành, dường như tới mức không thể chịu đựng được nữa. Thêm vào đó, một nạn đói không tiền khoáng hậu, khốc liệt quá sức tưởng tượng đã diễn ra: ngót hai triệu người chết la liệt khắp các bờ bến, ven đường, xó chợ, suốt từ miền Trung ra tới miền Bắc. Ngoài Bắc phần bị hại nhiều nhất. Cảnh ngộ bi đát đến như vậy đã thúc dục mọi người đứng dậy tìm sinh lộ cho cuộc sống bế tắc, đầy kinh khủng.

Từ 1940 đến 1945,máu bắt đầu chảy, tang tóc mịt mù khắp bầu trời Việt Nam. Lòng người Việt đang sôi nổi căm hờn gần hóa điên, hóa dại thì sang ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật đánh úp đế quốc Pháp tại Đông Dương. Sau 24 tiếng đồng hồ, bộ máy cai trị của chế độ cũ bị xụp đổ và trên các nẻo đường, người Nhật dán đầy những bản tuyên cáo kết liễu chính quyền của Pháp và tung ra khẩu hiệu “Châu Á của người Á”. Cái chiêu bài đó quả rất dễ nghe khi mà người da vàng đã quá chán chường cuộc tình duyên bất đắc dĩ với người da trắng suốt 80 năm ròng. Từ kẻ bình dân đến người trí thức, tất cả đều hướng về phía lá cờ mặt trời đỏ. Nhưng với một số người sành chính trị, người ta hiểu thế nào là chủ nghĩa Đại Đông Á trên đất Trung Hoa với hơn 450 triệu người Hán trước đó không lâu.

Tất nhiên bộ máy chính quyền phải sang tay người Việt cho danh chính ngôn thuận, miễn là ở hậu trường sân khấu, người Nhật đóng vai chỉ đạo. Hệ thống chính trị do tay người Pháp xây dựng suốt 80 năm thế là một phút tan tành. Các quan lại xưa nay vỗ ngực tuyên bố trung thành với nước Pháp bấy giờ lặng lẽ rút lui.
Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời được hoan nghênh nhiệt liệt từ Bắc vào Nam thay thế cho Nội các Phạm Quỳnh cáo chung tại Huế. Thành phần của nội các gồm có những vị sau đây:

    1 – Trần Trọng Kim: Thủ Tướng
    2 – Trần Đình Nam: Bộ Trưởng bộ Nội Vụ
    3 – Trần Văn Chương: Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao
    4 – Vũ Văn Hiền: Bộ Trưởng bộ Tài Chánh
    5 – Hồ Tá Khanh: Bộ Trưởng bộ Kinh Tế
    6 – Nguyễn Hữu Thí: Bộ Trưởng bộ Tiếp Tế
    7 – Hoàng Xuân Hãn: Bộ Trưởng bộ Giáo Dục & Mỹ Thuật
    8 – Trịnh Đình Thảo: Bộ Trưởng bộ Tư Pháp
    9 – Lưu Văn Lang: Bộ Trưởng bộ Công Chánh & Giao Thông
    10 – Vũ Ngọc Anh: Bộ Trưởng bộ Y Tế & Cứu Tế
    11 – Phan Anh: Bộ Trưởng bộ Thanh Niên

    A- Hai việc cần thiết tức khắc để biểu dương nền độc lập của một quốc gia là quốc kỳ và quốc ca. Chính phủ mới liền làm cờ quẻ ly màu vàng đỏ giữa, thay cờ long tinh là dấu hiệu của thời lệ thuộc. Bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” của sinh viên trường đại học Hà Nội được dùng làm quốc cat hay bài “Đăng Đàn Cung” ủy mị và hủ bại.
    B- Việc giáo dục cũng phải canh tân. Ông Hoàng Xuân Hãn nghiên cứu ngay một chương trình mới bằng tiếng Việt dùng làm căn bản trong mọi việc, từ giáo dục đến các công văn, từ lệnh.
    C- Ông Trần Đình Nam ra lệnh tẩy uế guồng máy hành chánh khắp ba kỳ. Một số tham quan, lại nhũng bị triệu hồi và nhiều nhân sĩ có uy tín trong dân chúng được mừi làm việc nước. Ở ngoài Bắc, bác sĩ Trần Văn Lai được cử làm Đốc Lý thành phố Hà Nội. Ông liền cho hạ tượng Paul Bert và các tượng đồng tron các phố Hà Nội khong ngoài mục đích xóa hết vết tích của thời đế quốc.
    D- Ông Phan Anh diễn thuyết ở Hà Nội, cổ võ dân chúng hưởng ứng với phong trào mới. Ông nêu lên một chương trình cải tổ thanh niên, vạch con đường phụng sự quốc gia để lo tiến hóa về ba phương diện: Đức dục, Trí dục, Thể dục mong có những phần tử hăng hái và có đầy đủ khả năng. Ông lập ra hai ngành thanh niên: Thanh Niên Tiền Tuyến và Thanh Niên Tiền Phong. Buổi diễn thuyết của ông trước nhà hát lớn làm sôi nổi lòng ái quốc của mọi người, nhất là các bạn trẻ.

Các vị bộ trưởng khác cũng đều tỏ nhiều thiện chí trong nhiệm vụ của mình, nên nội các do học giả họ Trần lĩnh đạo đã được nhiều cảm tình và tín nhiệm của quần chúng.

Các đảng phái quốc gia đối với cuộc biến chuyển chính trị này và nội các Trần Trọng Kim có vẻ dè dặt, nhất là đối với người Nhật, tuy vẫn có sự giao thiệp công khai với họ. Riêng có Mặt Trận Việt Minh là hoạt động hơn cả. Họ tuyên truyền ầm ĩ trong dân chúng, ám sát một số mật thám của chính phủ Pháp và tung ra khẩu hiệu “Đánh Nhật, đuổi Pháp”. Giữa lúc này, dân chúng Việt nam đã bắt đầu đánh nhiều dấu hỏi về cái độc lập mà Nhật vừa trao cho họ trước sự lủng củng giữa chính phủ Trần và Đại bản doanh Thiên Hoàng sau khi đã xảy ra một vài việc bất đồng ý kiến.

Dù sao, nội các Trần Trọng Kim ra đời vào buổi đầu đã là một luồng gió mát thổi vào lòng của hai mươi triệu đồng bào Việt Nam. Nó đem lại một nguồn hy vọng mới cho một dân tộc đã chịu bao nhiêu điều tai hại vì cuộc Đệ nghị Thế chiến gây nên: bao nhiêu tang tóc, bao nhiêu cuộc phá sản, bao nhiêu thảm họa vô nghĩa, vô lý, do các cuộc oanh tạc của Đồng minh trên đất ta, lại còn do sự tranh giành Nhật-Pháp trên các địa điểm quân sự và chính trị.

Người Việt đối xứ với người Pháp như thế nào khi chính quyền của Pháp đã đổ? Trừ ở một hai thành phố lớn như ở Hà Nội, Hải Phòng, có một vài sự cướp bóc, giết người mà Pháp kiều là nạn nhân bởi bọn lưu manh, người Việt không hề lợi dụng cái thế cùng của người Pháp để gây những phong trào quá khích hoặc tịch thu tài sản của họ. Cử chỉ quân tử đó đã làm cảm động rất nhiều người Pháp và có lẽ họ đã âm thầm hối hận về các lỗi lầm ở quá khứ.
Từ khi ra đời cho đến khi giải tán để nhường vai trò lịch sử cho mặt trận Việt Minh xuất hiện ngày 15 tháng 8 năm 1945 tại Hà Nội, nội các Trần Trọng Kim chỉ đứng được 4 tháng, nếu không làm được nhiều việc vĩ đại nhưng ít nhất phải nhận nội các này đã tỏ ra có nhiều thiện chí, tuy nhiên xét về năng lực, ta thấy nội các này chỉ có thể thích hợp cho thời bình, do đó ta không lấy làm lạ khi thấy nó lùi bước nhanh chóng trước sự tiến triển mau lẹ của cao trào Cách mạng năm 1945.

Nhật đầu hàng Đồng Minh vào ngày 13 tháng 8 năm 1945 sau khi bom nguyên tử của Hoa Kỳ dội xuống hai đô thành lớn là Trường Kỳ và Quảng Đảo định đoạt rõ rệt cuộc hơn thua.

Lúc này, tại Bắc Việt hai lực lượng Cách mạng tranh nhau cướp chính quyền. Đại Việt Quốc Gia Liên Minh, một mặt trận quốc gia gồm có nhiều đảng pháo và quan trọng hơn cả là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Xã của các ông Nhượng Tống, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Tiếu… và Mặt Trận Việt Minh do các lãnh tụ Đông Dương Công Sản Đảng là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp điều khiển. Dân chúng hướng cả về các lực lượng vàtrong khi Việt nam là cái nhà bỏ ngỏ, dĩ nhiên ai vào trước thì người ấy làm chủ. Việt Minh có nhiều kỹ thuật cách mạng và thủ đoạn sâu sắc, đã đi bước trước sau khi tổ chức được nhiều cuộc biểu tình cổ động quần chúng từ ngày 15 tháng 8 năm 1945 đến ngày 19 tháng 8 năm 1945,nắm được hậu thuẫn của các tầng lớp quần chúng.

Ngày 25 tháng 8, vua Bảo Đại thoái vị, chính phủ Trần Trọng Kim bị giải tán và một chính phủ lâm thời do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch, ra mắt quốc dân ngày 2 tháng 9. Vài tuần sau, quân đội Trung Hoa lấy danh nghĩa, tiếp phòng quân của Đồng Minh sang giải giáp và hồi hương quân đội Nhật, chiếm đóng từ Bắc Việt vào đến vĩ tuyến 16 (Tourane). Cũng trong dịp này, quân đội hoàng gia Anh Ấn đổ bộ ở Nam Việt. Đó là cả một sự khó khăn cho chính phủ Hồ Chí Minh vì quân đội Trung Hoa khi ấy đã giúp nhiều cho các yếu nhân Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam) trở về nước và ra mặt ủng hộ các đảng phái quốc gia. Cuộc xung đột giữa hai ông Hồ Chí Minh và Nguyễn Hải Thần rất kịch liệt, bằng báo chí, bằng những cuộc xô xát đẫm máu…Quân đội Trung Hoa giúp VNQĐD, chiếm cứ nhiều tỉnh ở Bắc Việt đã từng nhiều phen làm nao núng Mặt Trận Việt Minh. Sau này, tướng Tiêu Văn đứng ra hòa giải đôi bên để lập một chính phủ Quốc gia Liên hiệp, trong đó có ông Nguyễn Hải Thần được cử làm phó chủ tịch, Nguyễn Tường Tam làm Bộ Trưởng Ngoại Giao, Trương Đình Tri làm Bộ Trưởng Y Tế, Chu Bá Phương coi Bộ Kinh Tế. Trong quốc hội, VNQĐD (kể cả Đồng Minh Hội) giữ 70 ghế. Nhưng đây chỉ là một cuộc họp bất đắc dĩ về phía Việt Minh để Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 thành hình. Ông Nguyễn Hải Thần cùng một số lãnh tụ quốc gia lại phải rút sang tàu vì không đồng ý với tinh thần Hiệp định kể trên.

Xin coi đây nội dung của Hiệp định 6-3-1946:

    A- Nước Pháp nhìn nhận nước Việt Nam là một nước tự do đứng trong khuôn khổ Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp.
    B- Sự sáp nhập Nam Việt vào Việt Nam sẽ do một cuộc trưng cầu dân ý định đoạt.
    C- Việt Nam có quân đội riêng, nhưng quân Pháp được quyền chiếm cứ trong kỳ hạn 5 năm. Mỗi năm, số quân đội Pháp phải rút bới 1/5. Số quân đội Việt Nam không quá 10.000 người.
    D- Nước Việt Nam có tài chánh riêng, nhưng phải chịu quan thuế chung và đồng bạc do ngân hàng Đông Dương phát hành sẽ được thông dụng như trước.
    E- Nước Việt Nam có quyền đặt lãnh sự tại mấy nước lân cận.
    F- Nước Việt Nam có quyền tiếp nhận lãnh sự của mấy nước lân cận.
    Ký tên
    Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh, Saiteny

Ngay sau việc ký kết Sơ ước 6-3-1946 Việt Minh liền dốc toàn lực tiêu diệt Việt Nam Quốc Dân Đảng hết sức tàn nhẫn ở khắp mọi nơi, còn Pháp quân được Việt Nam tuyên truyền là Pháp mới, Pháp dân chủ đàng hoàng từ Hải Phòng kéo lên Hà Nội trước sự bỡ ngỡ của dân chúng thủ đô.

Ngày 24 tháng 4, lại có cuộc hội nghị Đà Lạt để hai bên đi sâu vào cuộc đàm phán. Hai tuần lễ sau (ngày 11 tháng 5 năm 1946) hội nghị này bế mạc vì không thể dung hòa lập trường của nhau khi đi vào chi tiết của những vấn đề chính. Trong lúc này, phái đoàn Phạm Văn Đồng đã có mặt ở Pháp. Ông Hồ Chí Minh tuy không dự vào cuộc bãn cãi nhưng gián tiếp điều động phái đoàn ở Fontainebleau. Ngày 14 tháng 8, phái đoàn này rũ áo đứng dậy sau một tuần lễ tranh đấu gay go. Lập trường của Pháp bấy giờ là thiết lập Liên Bang Đông Dương, chế độ này có thể kiềm chế sự phát triển mọi khả năng dân tộc của các nước hội viên về chính trị, kinh tế cũng như ngoại giao và đối với Liên Bang Đông Dương, Pháp giữ vai trò chủ tịch và nắm giữ mọi ưu thế.

Phái đoàn về nước. Ông Hồ Chí Minh ở lại Pháp để thu xếp công việc một lần nữa. Ngày 14 tháng 9 năm 1946, ông ký với Marius Moutet một tạm ước, trong đó có sự xác định của bang giao đã ghi trên hiệp định 6-3 và còn thỏa thuận với nhau sẽ mở cuộc đàm phán đầy đủ hơn vào tháng giêng năm sau (1947). Nhưng đến 8 giờ tối ngày 19 tháng 12 năm 1946 thì cuộc giao thiệp Việt Pháp đã nhường lời cho chiến xa, phi cơ và đại bác.

4 – Lá Bài Bảo Đại và Hiệp Định Hạ Long

Cuộc xung đột Việt Pháp xảy ra đêm 19-12-1946 đã kéo dài đến tháng 9-1947 mà vẫn chẳng có sự thắng bại về bên nào hết. Pháp xoay ra dùng chính trị để giải quyết vấn đề Việt Nam. Ông Bollaert, đại diện Pháp, đọc tại Hà Đông một bài diễn văn kêu gọi sự ngưng chiến thêm một phen nữa, nhưng vô hiệu quả.
Các chính khách tại Ba Lê liền quay sang phía quốc gia Việt Nam và mở cuộc điều đành với cựu hoàng Bảo Đại[1] lúc này đang lưu vong ở Hồng Kông. Rồi một chính phủ lâm thời do thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân thành lập vào cuối tháng 5 năm 1948 dưới quyền bảo trợ của cựu hoàng và ký tại Vịnh Hạ Long một hiệp định vào ngày 5-6-1948.
Hiệp định Hạ Long gồm những điều chính cương sau đây:

    1- Nước Pháp long trọng thừa nhận nền độc lập của dân tộc Việt Nam và Việt Nam có quyền thực hiện thống nhất. Nước Việt Nam công bố gia nhập khối Liên Hiệp Pháp với tư cách là nước liên hiệp với nước Pháp.
    2- Nền độc lập của Việt Nam không bị hạn định gì ngoài việc gia nhập khối Liên Hiên Pháp.
    3- Nước Việt Nam cam đoan tôn trọng các nguyên tắc dân chủ và mượn những cố vấn và chuyên viên Pháp trước những người ngoại quốc khác, trong các công cuộc tổ chức nội bộ và kinh tế Việt Nam.
    4- Ngay sau khi chính phủ trung ương lâm thời Việt Nam thành lập, các đại biểu Pháp liền sửa soạn để ký kết những thỏa hiệp riêng về các vấn đề văn hóa, ngoại giao, quân sự, kinh tế, tài chánh cùng các vấn đề kỹ nghệ chuyên môn.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, cựu hoàng Bảo Đại lại cùng tổng thống Vincent Auriol ký tại điện Élysée một thỏa hiệp xác định rõ ràng lập trường chính trị đôi bên, đã thỏa thuận về đại cương hồi năm trước. Với thỏa hiệp này dĩ nhiên nước Pháp phải nhượng bộ nhiều hơn, vừa để gây một tiêng vang với quốc tế vừa để lôi cuốn các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Nhưng sau 80 năm sống dưới quyền Pháp, nhân dân Việt Nam đã hiểu người Pháp quá nhiều, lại nhìn vào Bảo Đại và thành phần của chính phủ Bảo Đại, nhân dân cũng hết tin tưởng, vì vậy mà cây bài quốc gia tức cây bài Bảo Đại không có hiệu nghiệm.
Ta nhận thấy rằng trong giai đoạn này, Pháp rất lúng túng. Từ cuối năm 1946 họ dùng quân sự đối với chính phủ Việt Minh, cho tới năm 1949 không thâu được kết quả theo ý muốn. Những lời ước đoán củ đại tướng Valluy và Morlièređều sai hết bởi dân tộc Việt Nam năm 1946 đã khác dân tộc Việt Nam 1858. Khi mà người Pháp bước chân vào xứ Nam kỳ là lúc mà dân trí của ta còn thấp kém hơn nhiều.

Dân vẫn theo kháng chiến, kháng chiến vẫn có vẻ bền bỉ, trường tồn. Cái độc lập trao trả cho Bảo Đại và các tay sai của Pháp là Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm…vẫn là cái trò bánh vẽ không đánh lừa được ai hết. Sau này vì thất vọng, Pháp đã cho Nguyễn Văn Tâm ra làm thủ tướng để hiệp với tướng De Lattre de Tassigny thi hành chánh sách đánh mạnh đánh mau, chánh sách này buồn thay vẫn chỉ là chuyện cầm dao chém nước…

Nay nhìn về phía Thực, Cộng ta thử hỏi: Việc ký kết hiệp định sơ bộ 6-3-1946 có những ẩn ý gì? Đối với Pháp việc ký kết này rõ rệt rất cần về phương diện quân sự trước nhất. Nếu không tạm hòa với bọn ông Hồ Chí Minh thì có được Đồng Minh cho thay thế quân đội Trung Hoa cũng khó khăn, vì Pháp biết rằng không khi nào ông Hồ Chí Minh chịu để quân Pháp vào Bắc Việt một cách yên ổn. Dùng võ lực mà đổ bộ lên đất Bắc cũng không dễ dàng, vì phong trào ái quốc của dân chúng Việt Nam đang bốc lên tới cao độ, Pháp lại còn ngại đàng sau Việt Minh có Nhật nữa. Vậy hòa hoãn với Việt Minh để quân đội được vào đóng Bắc Việt đã không tốn xương máu mà lại chiếm được các vị trí then chốt thì mới là kế tuyệt dịu hơn cả. Ngoài ra theo tinh thần Sơ ước 6-3, Việt Minh chịu gia nhập Liên Minh Đông Dương và Liên hiệp Pháp thì sự kiện này là một sự lệ thuộc rất có lợi cho Pháp, nếu sau này có điều bất trắc thì Pháp cũng nắm được Hải Phòng trong tay để có nơi quân mình đổ bộ rồi.

Về phần Việt Minh, chống với tiếp phòng quân Trung Hoa là chống với Đồng Minh và chống với Pháp cũng là điều có thể tai hại về chính trị, nhất là lúc này quân đội Anh Ấn đã lấy danh nghĩa Đồng Minh đem binh đội của đại tướng Leclerc bước chân lên Sài Gòn. Do sự tính toán trên đây, chính phủ Hồ Chí Minh đã rót hết tuần lễ vàng vào túi bọn Tiêu Văn, Lư Hán và Hoàng Cường để họ kéo quân về bên kia biên giới, căn cứ vào chỗ hai phe Quốc, Cộng, Việt Nam đã thành lập xong một chính phủ liên hiệp và đã cùng ký vào Sơ ước 6-3 với Pháp. Thêm vào đó, quân Pháp đã có mặt ở Bắc Việt, tất nhiên không có Mỹ ùa vào theo và như vậy, quân đội Anh cũng sẽ ra về.

Tóm lại việc ký Sơ ước 6-3 là điều lợi cho cả hai phe Thực, Cộng và chỉ tai hại cho những người quốc gia mà thôi. Việt Minh loại được quân Tàu, nắm chắc được chính quyền để diệt phe quốc gia và đang cô lập được Đồng Minh thừa nhận. Pháp cho quân vào được Bắc Việt, giúp cho Công Sản lập được chính phủ thì sau này sẽ không có Trung Hoa và Mỹ nhúng tay vào ( bởi Pháp tin sẽ đè bẹp được Việt Minh trong ít tháng). Vấn đề Việt Nam nằm trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, Pháp sẽ hiếp đáp được Việt Minh và ngay lúc đó, Pháp đã hợp sức với Việt Minh ở thượng du Bắc Việt để tiêu diệt phe quốc gia bởi phe này cũng là kẻ thù nghịch cố hữu của Pháp.

Xin nhớ rằng Pháp cũng đồng tình với Việt Cộng thu xếp chop he quốc gia ký vào Sơ ước 6-3 có mục đích tránh sự phiền phức với Đồng Minh là Pháp đã hợp tác với một chính phủ cộng sản. Vì hiểu được dụng ý trên đây của Thực, Cộng nên hai ông Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam đa xlaanx mặt rồi băng qua Tàu. Ông Vũ Hồng Khanh ở lại đã đặt chữ ký vào Sơ ước không khỏi chịu trách nhiệm đối với Đảng cũng như đối với quốc dân. Sơ ước 6-3 thành tựu đã là cái hố chôn vùi sự nghiệp của những người quốc gia ở đây và làm đảo lộn tình thế chính trị đang có lợi chung.


5- Cuộc Chiến Tranh Thực – Cộng


Từ tháng Chạp 1946 đến 1950 cuộc chiến tranh trên toàn cõi Việt Nam chỉ là những cuộc đột kích, phục kích, du kích từ các miền đồng bằng lên đến các miền sơn cước, Bắc Việt là chiến trường náo nhiệt hơn cả. Với chiến thuật này, binh đội Việt Nam chỉ là những đám ma trơi xuất nhập bất thần, co dãn không chừng, nhờ được sức chịu đựng gian khổ dẻo dai và sự am hiểu tường tận địa hình, địa vật, lại thêm nhân dân ủng hộ nên có nhiều ưu điểm để chiến đấu mặc dù cho tới cuối năm 1951, Việt Minh còn kém Pháp về cả hai phương diện: lượng và phẩm.

Pháp bấy giờ có tới 150.000 người, vũ khí tối tân, luyện tập đầy đủ, phương tiện chuyển vận mau lẹ. Nhất là các cấp chỉ huy của quân đội Pháp đều xuất thân ở các trường địa học Quân đội, Cao đẳng chiến tranh, có nhiều thành tích rực rỡ trong cuộc Đại chiến vừa qua.
Từ năm 1950 đến 1954, Việt Minh mới thỉnh thoảng có những cuộc hành binh đại qui mô và công khai nhờ ở sự viện trợ chiến cụ và chuyên viên của Trung cộng bên kia biên thùy Hoa Việt.

Giữa thu đông 1947, đại tướng Valluy tấn công Việt Bắc do hai ngã: A) Hà Nội tiến lên Sơn Tây, Hưng Hóa, Phú Thọ, Phủ Đoan. B) Lạng Sơn tiến lên Thất Khê, Đông Khê. Theo kế hoạch “Cloclo” lính Pháp nhảy dù xuống Cao Bằng, Bắc Cạn, Chợ Chu, Tuyên Quang và các tỉnh thuộc miền duyên hải.
Từ năm 1948 – 1950 Pháp quân chiếm các trục giao thông trên đường số 5 và chiếm đóng khắp miền Nam Trung châu.

Tại Trung Việt, tướng Lebriis xua binh kiểm soát ba tỉnh Bình Trị Thiên và nhiều thị trấn từ Nam Ngãi trở vào Nam Việt. Ở đây tướng Boyer de la Tour dồn Việt Minh vào ba khu Đồng Tháp, Cà Mau, Thủ Dầu Một và nắm được hầu hết các trục giao thông, giải tỏa được các đồn điền và các vùng công nghệ của Pháp. Trong giai đoạnnày, trên khắp các chiến trường Bắc Nam, Pháp hay dùng chiến thuật “bừa cào” tức là đánh ngang, đánh dọc, rồi lại rút về căn cứ. Việt Minh được dân chúng ủng hộ nên đã được che đậy trong các vụ càn quét của Pháp. Hơn nữa, Pháp quân đi đâu cũng hãm hiếp phụ nữ, cướp của, giết người nên khiến nhân dân căm hờn, sự cộng tác của dân chúng với kháng chiến vì thế mà thêm chặt chẽ. Sau này tướng Carpentier và Gambièze cố gỡ các lỗi lầm này bằng các biện pháp chính trị nhưng đã quá muộn.

Giữa năm 1950 chiến tranh Cao Ly phát động. Biến cố này có tính cách quốc tế nhường làm chìm hẳn cuộc chiến tranh Đông Dương. Tuy vậy kể từ giờ phút này, hai khối Anh Mỹ bắt đầu gián tiếp can thiệp vào thời cuộc Việt Pháp. Bên Pháp có phái đoàn Mỹ từ Manille qua Sài Gòn do ông John Melby cầm đầu. Bên Việt Minh có đại tướng Trần Canh là một trong 5 hổi tướng của Trung cộng. Trong quân đội của Việt Minh có nhiều cố vấn và chuyên viên Tàu giúp đỡ. Việt Minh liền mở chiến dịch Hoàng Văn Thụ tức chiến dịch Cao Bắc Lạng vào ngày 16-9-1950, đáng chú ý hơn cả trong lực lượng Việt Minh ở chiến dịch này có trung đoàn Thủ Đô và trung đoàn Sông lô vốn nổi tiếng anh dũng xưa nay. Chiến dịch này kéo dài trên 100 cây số. Pháp đại bại phải triệt thoát khỏi khắp các căn cứ miền Đông Bác cũng như Tây Nam Bắc Việt mà cuộc hành binh L E A mùa đông 1947 đã chiếm được.

Thấy binh đội Việt Minh đã có cơ lợi hại, chính phủ Ba Lê cho đại tướng Revers sang điều tra và nghiên cứu tình hình. Ngày 17-12-1950, đại tướng La Lattre de Tassigny được đặc phái sang Đông Dương làm Tổng cao ủy kiêm nhiệm mọi quyền văn võ. Xin nhắc De La Lattre là một thượng tướng của Pháp từng cầm quân đội Đồng Minh trong thời Đệ nhị Chiến tranh ở Âu châu. Viên tướng này, sau khi nhận rõ chiến thuật và chiến lược của đối phương đã cho lập: 1) Nhiều đội quân lưu động chống du kích Việt Minh. 2) Xây các chiến lũy bê tông quanh khu Hà Nội. 3) Đặt một hành lang trắng ngăn thượng du Bắc Việt với Trung châu.

Vậy mà quân đội của Việt Minh chọc thủng được hệ thống phòng thủ của De Latter, rồi ngày 9-1-1951 Việt Minh đánh thử mặt trận địa chiến và áp dụng chiến thuật biển người tại Vĩnh Yên. Hai bên quân đội Thực-Cộng trong trận này hết sức quyết liệt ăn thua. Pháp quân phải cho dội bom xuống như mưa vào giữa trận tuyến, hy sinh cả quân đội mình trong động tác quân sự này để cứu vãn tình thế, nếu không quân đội Việt Minh đã thắng và có thể tràn vào Hà Nội tết năm đó.

Ngày 17-2-1952, Việt Minh tiến vào đất Lào với Liên minh Việt Miên Lào. Cuộc hành quân “Hautes Alpes” thả dù binh đội xuống cánh “đồng Chum” và đánh vào khu Tư (Thanh Hóa) và Hòa Bình, hy vọng cắt mọi sự liên lạc của Việt Mih với miền Thượng du kế cận Trung cộng. Việt Minh đã tung ra tới 40.000 quân ở đây tiến về Luang Prabang, uy hiếp vùng Đông Bắc Sầm Nứa, chặn đường liên tỉnh 41 (Sơn La – Lai Châu) và hoạt động ở khắp lãnh thổ Đông Dương để phân tán lực lượng của Pháp. Giữa lúc chiến cuộc đang ào ạt thì tướng De Latter bị tử thương ở Hòa Bình vào ngày 11-1-1952. Tướng Salan lên thay quyền Tổng tư lệnh. Xét ra, cho tới năm 1952, Pháp quân luôn luôn lâm vào thế bị động, lo phòng thủ đã đủ mệt rồi. Chính đại tướng Navarre người kế vị Salan vào mùa thu năm 1953 đã phải công nhận rằng quân Pháp lúc này hết lạc quan, trên khắp các mặt trện đều có sự thiếu thốn cán bộ. Thế là Pháp bị ba thứ khủng hoảng: khủng hoảng tinh thần, khủng hoảng vật chất, khủng hoảng cán bộ, mặc dù Pháp được Mỹ tiếp tục viện trợ đầy đủ.

Đến tướng Navarre, Pháp quân đổi chiến Pháp, sau những kinh nghiệm chua cay từ năm 1945 – 1953, xét rằng không thể áp dụng được lối đánh cổ điển và cũng không thể chấp nhận được lối đánh tối tân do tình trạng đặc biệt của chiến trường Việt Nam lúc này. Cho tới bấy giờ, Pháp đã điêu đứng về giao thông chiến, du kích chiến, lại còn đau khổ về cả lối đánh mìn, đánh giáp lá cà bằng mã tấu (bạch binh), lối độn thổ, độn thủy và lối đánh chông rất ác độc của Việt Minh. Xét ra, nếu Việt Nam kém hậu thuẫn của nhân dân, thì họ khó mà dùng được một cách hiệu nghiệm các chiến thuật kể trên, bởi nếu nhân dân tố cáo, họ sẽ thất bại trông thấy. Nhưng Pháp, quân đi tới đâu tàn phá đến đấy, gieo căm thù tang tóc khắp nơi. Pháp quân lại là quân xâm lược, thì cũng đủ là kẻ địch của nhân dân rồi.

Navarre liền thi hành một chủ trương mới: 1) Triệt bỏ các đồn lẻ loi để khỏi bị Việt Minh phá được, làm lợi khí về mặt tuyên truyền. 2) Giành lại quyền chủ động chiến trường bằng cách tìm địch mà đánh, bắt địch ứng chiến. 3) Hành binh bất thường, tránh sự dự liệu của địch quân.
Rồi ngày 18-7-1853, Navarre mở cuộc hành quân “Con én” vào Lạng Sơn và cuộc hành binh “Camarque” vào Quảng Trị phá hủy được một số dụng cụ và máy móc của Việt Minh. Ở Lạng Sơn, Pháp diệt được hai tiểu đoàn, một số căn cứ của địch trong khu tam giác ở dãy phố Buồn Thiu là mối hăm dọa trên quốc lộ số 1 (Trung Việt)

Liên tiếp với hai cuộc hành quân này, mồng 9-8-53 Pháp rút quân ra khỏi Na Sản bằng không vận. Trước đây, 10-52 Pháp đặt chiến lũy Na Sản để ngăn Việt Minh trên con đường tiến của họ qua xứ Lào.

Cho tới 1953, chiến trường Bắc Việt vẫn gay go hơn cả. Ngoài những trận lớn kể trên, còn có những trận lẻ tẻ: trận Tarentaise diễn vào tháng 8 năm 1953 tại Bùi Chu, trận Claude tại Tiên Lãng (Kiến An), trận Brochet tại Hưng Yên…
Tại Nam Việt, Pháp mở trận Savoie tại Hậu Giang và Sông Bé. Tại Ai Lao, có trận Bearn giữa các vùng Nong Het, Ban Ban, trận Dampierre thâu lại hai thị trấn Paksé và Mương Sung.
Xét ra, quả Navarre đã nắm được quyền chủ động chiến trường cho tới cuối năm 1953 nhưng Việt Minh nhờ được sự che đậy, tiếp tế đều hòa của dân chúng nên vẫn có thể trường kỳ chiến đấu được.

Cuối năm 1953, vào ngày 15-10 Pháp quân xuất toàn lực phá Liên khu Tư của Việt Minh. Vùng đất này có tới 255.000 mẫu tây ruộng và một triệu dân chúng cung cấp được hàng vạn quân chính quy và địa phương quân. Việt Minh đặt hai sư đoàn 304 và 320 ở đây.
Hai tướng Cogny và Gilles đem hải lục quân vào Thanh Hóa. Cuộc xo xát lâu đời tới 23 ngày gây được nhiều thiệt hại cho Việt Minh, cắt đứt được giao thông của Việt Minh một thời, nhưng Pháp cũng tổn thất không kém.

Ngày 11-12-1953 sư đoàn 320 của Việt Minh ra công phá kịch liệt miền Trung châu. Pháp tưởng đã tiêu diệt được sư đoàn này bằng cuộc hành quân Mouette, vậy mà ngày 20-12 sư đoàn này lại xuất hiện ở Lai Châu và Điện Biên Phủ. Từ giờ phút này, hai quân Thực-Cộng quần nhau riêng ở vùng Điện Biên. Tại đây, đại tá De Castries hy vọng cầm chân Việt Minh để tiêu diệt họ, yên trí rằng do đường núi gập gềnh hiểm trở, Việt Minh không chuyển được các trọng pháo đến. Rồi sau 48 tiếng đồng hồ, cạm bẫy gài ở Điện Biên Phủ chống Việt Minh trở lại khép kín quân đội Liên hiệp Pháp.

Cuộc giao tranh đầu tiên vào pháo lũy này nhằm ngày 13-3-1954, lực lượng Việt Minh có tới 45.000, Pháp có 12.000. Điện Biên Phủ là một khu vực lòng chảo của xứ Thái, Pháp đã chiếm đóng hồi tháng 4 năm 1953. Tới 20-11-1953 tướng Cogny cho quân nhảy dù chiếm lại cứ điểm này để ngăn việc Việt Minh tiến vào xứ Lào. Sự thực, Việt Minh tiến vào xứ Lào để nhử Pháp đến đóng quân ở Điện Biên Phủ rồi tiêu hao lực lượn của thực dân tại đây. Pháp đã trúng kế.
Đầu tháng 3-1954, Việt Minh tấn công ráo riết pháo lũy này. Hàng ngàn trái phá từ các sườn núi lao xuống khu đất rộng 140 cây số vuông biến “lòng chảo” này thành một biển lửa. Nhiều trận giáp lá cà diễn ra rất là ác liệt.

Hàng vạn con người xô nhau trong khói lửa, hò hét, bắn chém, kinh khủng chẳng khác gì quang cảnh của chiến trường Âu Châu vừa qua. Suốt 55 ngày bom nổ đại bác rền không ngớt. Rồi người chỉ huy pháo đội của Pháp là đại tá Pirotte tuyệt vọng trước hỏa lực quá hùng hậu của Việt Cộng đã tự sát. Thiếu tướng De Castries đầu hàng và cuộc chiến Điện Biên Phủ hạ màn vào ngày 7-5-1954.

Nhìn vào các việc đã xảy ra trên đây, ta thấy Việt Cộng đã mua cuộc chiến thắng bằng một giá vô cùng đắt đỏ để gây áp lực đối với Hội nghị bên hồ Leman bấy giờ đang họp bàn đến việc ngừng bắn ở Đông Dương. Hội nghị này lúc đầu đã do sự thăm dò của ngoại trưởng Pháp J. Bidault với ngoại trưởng Nga Molotov sau khi hội nghị tứ cường tan vỡ vào những tháng đầu của năm 1954 ở Genève. Rồi hai phe Nga Mỹ đều hưởng ứng với tiếng kêu gọi hòa bình của dư luận Quốc tế, đại diện của Việt Minh, Trung Cộng, Nga Số đã họp với đại diện Anh, Pháp, Việt, Miên, Lào. Đêm hôm 20-7-1954 Pháp và Việt Minh đã đi tới chỗ ký kết một thỏa hiệp ngừn bắn được mệnh danh từ nay là Hiệp định Gènève gồm các khoảng dưới đây:
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103211
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49586 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: VIỆT-SỬ TOÀN-THƯ (Phạm Văn Sơn)

Postby DaMinhChau » April 25th, 2017, 2:55 pm


6 – Nội Dung Của Thỏa HIệp Genève về Việt Nam[2]

    1) Đường phân ranh tạm thời về quân sự được ấn định vào nơi vĩ tuyến 17 (thuộc tỉnh Quảng Trị) từ đông sang tây như sau: Vàm sông Bến Hải (sông cửa Tùng và dòng sông này mang tên Bảo Thanh chảy qua vùng núi đến tận làng Bo Ho Su kế đó đi sóng đôi với làng Bo Ho Su cho đến biên giới Lào Việt.
    Ở bên này cũng như bên kia vĩ tuyến 17, mỗi bên phải lập một khu phi chiến cách xa đường phân ranh 5 cây số để dùng làm khu tráo độn và tránh mọi sự lộn xộn có thể gây ra tái chiến…
    2) Nam Việt cũng như Bắc Việt cam kết không chấp thuận việc lập thêm những căn cứ quân sự mới (tỉ như Mỹ hay Trung Cộng) và không tham gia một tổ chức liên minh quân sự nào. Nhưng Pháp được duy trì binh sĩ ở Việt Nam nếu chính phủ quốc gia ở đây yêu cầu như vậy,…
    3) Trong thời hạn 2 năm chờ đợi tổ chức tổng tuyển cử, quốc gia nào được lòng dân bằng các cuộc cải cách sáng suốt và cấp tiến sẽ có hy vọng tồn tại.
    4) Cho tới ngày đó, quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp tại Bắc Việt vẫn được Việt Minh bảo đảm.
    5) Một ủy hội được đặt ra gọi là Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến gồm có đại diện Pháp, Việt Minh, Gia Nã Đại, Ấn Độ, Ba Lan và Việt Nam được lập ra để trông coi việc thi hành thỏa hiệp Genève, được đặt trụ sở tại Hà Nội và Sài Gòn cùng Bến Hải. Mọi việc khiếu nại của bên này hay bên kia đều do ủy hội phân xử.

Cho tới ngày nay là 1960, tình trạng Việt Nam cũng như Đức Quốc và Hàn Quốc vẫn chưa thay đổi là vì hai khối Nga Mỹ chưa quyết định được cuộc tổng tuyển cử.
Trước hiệp định Genève và qua các biến cố đã kể ra ở các chương trên đây, chúng ta có thể kết luận rằng Pháp hoàn toàn thất bại trên cả hai địa điểm chính trị và quân sự. Sự thất bại đó đưa Đông Dương tới một hiểm họa nguy vong đã do sự lỗi lầm liên tiếp của những chính phủ luôn luôn thay đổi, bất nhất và vô trách nhiệm đúng như lời tiên đoán của J. Decoux, nguyên toàn quyền Đông Dương trong thời Nhật thuộc ở cuốn A la barre de I’Indochine của ông.

7 – Kết Luận

Qua giai đoạn thực thi, chính phủ Việt Cộng đã tiếp thu Bắc Việt vào cuối năm 1954, lập nên một chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân và ở Nam vĩ tuyến 17, các cường quốc Tây-Minh đã ủng hộ ông Ngô Đình Diệm, một cựu chiến sĩ cách mạng quốc gia về nước cũng lập ra một chính phủ theo khuôn khổ và tinh thần dân chủ. Lúc này một biến cố đặc biệt xảy ra: ngót một triệu đồng bào Bắc Vĩ tuyến không tán thành chế độ Công sản đã di cư vào Nam.
Ông Ngô Đình Diệm có mặt ở Sài Gòn ngày 25-6-1954, lập xong nội các vào ngày 7-1955 và ông cho mở một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23-10-1955. Sau việc này, ông vua thứ 13 của triều Nguyễn bị triệt hạ. Ngày 26-10-1955 chính phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố từ nay nước Việt Nam là một nước Cộng Hòa, theo Tổng Thống Chế. Ngày 5-3-1956 Quốc Hội Việt Nam ra đời. Kể từ giai đoạn này trở đi, Việt Nam cắt đứt mọi liên hệ với thực dân và phong kiến, thành lập một quốc gia độc lập tại Đông Nam Á và có mặt trong đại gia đình Thế giới tự do.

Chúng tôi xin ngừng lại nơi đây vì nguyên tắc viết sử không cho phép đi quá sâu vào những việc còn đang diễn tiến.
Nhưng trước trang sử cuối cùng này, kẻ viết khi buông cán bút không thể ngăn cản mối cảm xúc tràn ngập lòng mình, nghĩ rằng dân tộc chúng ta còn tồn tại đến ngày nay, còn một mãnh đất này để mà sống, đó là nhờ công nghiệp đấu tranh, xây dựng bằng biết bao nhiêu mồ hôi và nước mắt của tổ tiên từ 40 thế kỷ nay.

Nhớ thuở còn luân lạc bên bờ Dương Tử, mình trần khoác da thú, lặn lội nơi sông ngòi, chúa tôi, cha con, chồng vợ, nương tựa vào nhau mà sống cho đến khi Hán tộc quá mạnh, đẩy người Bách Việt chúng ta xuống khắp miền Hoa Nam, kẻ lên rừng, người xuống biển não nề, bi đát vô cùng. Trước kỷ nghuyên Thien Chúa, ông cha chúng ta lại trải thêm một cuộc phù trầm với nửa triệu binh sĩ viễn chinh của Thủy Hoàng Đế đang tràn đầy nhựa sống. Họ đã nuốt đứt ba chi phái Đông Việt, Mân Việt và Nam Việt, còn lại Âu Lạc là nhóm cuối cùng của chúng ta đã chiến thắng vẻ vang và anh dũng nên giống nòi ta mới còn sống sót đến bây giờ.

Trên mảnh đất bao la gồm những rừng núi Quảng Tây, thượng du miền Bắc và lưu vực sông Nhị, chúng ta tái tạo lại cơ đồ, dựng triều đình riêng một cõi, tiếc thay chẳng bao lâu lại lâm vào Hán họa để lệ thuộc Bắc phương luôn 10 thế kỷ.

Mười thế kỷ làm tôi dị tộc, sống như trâu ngựa, toàn dân xác như vờ, sơ như nhộng vì sự bóc lột của quan lại Trung quốc đến nỗi trai không lấy nổi vợ, gái không lấy nổi chồng, nhân khẩu mỗi ngày một hao hụt gần như diệt chủng. Những kẻ có chút đầu óc hơi khác ý thì bị moi gan, móc mắt, gông cùm xiềng xích đầy mình, do đó mà gái anh thư đã có khi phải thay đấng tu mi phất cờ cách mạng, họ Khúc, họ Ngô, thế cô mà dám đuổi xâm lăng. Tới khi khôi phục được nguyên lực quốc gia, Lý Thường Kiệt Bắc tiến, Trần Quốc Tuấn diệt Nguyên, Nguyễn Huệ mộng dành lại Lưỡng Quảng để thỏa cái thù mất đất về tay Hán.

Xét các sự kiện này thì lịch sử Việt Nam thật là cái gì ly kỳ nhất, lâm ly nhất mà cũng oai hùng đến tột bực, bởi một dân tộc nhỏ bé năm ba triệu người trước đây mà dám ganh tài, đọ sức với một cường quốc đông gấp trăm, giàu gấp ngàn, và là cái lò văn minh cố cựu nhất thế giới. Phải chi thêm người người, thêm của, đất đai rộng rãi hơn nữa thì Mông Cổ vào Trung Nguyên, Mãn Thanh ngự trị Hoa tộc, có lẽ đâu người Việt chẳng có phần mênh mông của con cháu Hoàng Đế.

Từ Lý qua Trần, qua Lê, văn hóa của chúng ta đã đi xa, tiến mạnh, khiến Trung Quốc dưới thời Minh phải xác nhận không thể coi người Việt như các rợ và phải đãi vào hàng quốc gia văn hiến, do đó vài vần thơ kiêu hùng dưới đời Mạc đã bãi được một cuộc đao binh của Minh Thế Tông (thế kỷ XVI).

Nhưng cũng buồn thay, cái đà của dân tộc đang được đẩy mạnh thì từ những con cháu cuối cùng của vua Lê Thái Tổ và giới phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đớn hèn dần nên mới phát sinh ra cái bi trạng tam phân thiên hạ, kế đó là cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh đưa nước nhà vào vòng suy bại. Trong những thế hệ gần đây, giới lãnh đạo quốc gia đã tỏ ra quá vụ lợi, ích kỷ, thoái hóa nên tinh thần dân tộc không biết quy tụ vào đâu cho tới khi ngọn trào Đế quốc Tây phương tràn qua Thái Bình Dương thì xã hội Việt Nam tan rã như cành khô, cỏ mục. Trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử trước vấn đề này, ai phải chịu?

Sau hai hòa ước 1862, 1884 nước nhà bị Pháp thuộc luôn 80 năm ròng. Cha con tủi nhục, vợ chồng lầm than, cái thảm họa vong nô lần này cũng hết sức não nề bi đát. Rồi cũng luôn 80 năm ấy, toàn dân lại vùng lên tranh đấu. Máu đào xương trắng lại tràn nhập Bắc Nam. Mười năm qua, (1944-1954) lợi dụng được cuộc Hoàn cầu Đại chiến, Việt Nam cùng Thực dân Pháp đánh một canh bạc cuối cùng, liều như một mất, một còn[3]. Kết cục, con cháu Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ đã rửa được cái nhục mất nước. Nhưng cũng từ năm 1954 đất nước ta chia hai, tuồng sông Giang lại tái diễn như ngày nào.
Giờ đây trên giấy mực, người Việt làm chủ người Việt, miền Bắc thuộc ảnh hưởng của Đệ Tam Quốc Tế, miền Nam đứng trong hàng ngũ Thế Giới tự do. Lý thuyết chính trị nào mà chẳng được tô điểm bằng nước sơn tươi đẹp, nhưng lý thuyết nào cũng không thể ra ngoài nguyện vọng của nhân dân là Cơm áo được bảo đảm, hạnh phúc được chu toàn, nhân vị con người được tôn trọng. Và nhìn vào xã hội nhân loại hiện tại, qua các kinh nghiệm lịch sử, chúng ta không khỏi có nhiều thắc mắc: con người làm chính trị mỗi ngày một thêm sa đọa. Cái ý niệm vì dân, vì nước, vì nhân loại mỗi ngày một thêm hiếm hoi, trái lại, cái óc vụ lợi cá nhân, gia đình, bè đảng, mỗi ngày một nhiều khiến một điểm lương tâm có khi không thoi thóp nổi, đến nỗi đồng loại, đồng bào giết chóc, băm vằm mổ xẻ nhau quá loài lang sói.

Trên 40 thế kỷ trước, Nghiêu, Thuấn không nhường ngôi cho con, đó là do quan niệm lấy thiên hạ làm đại nghĩa, coi gia đình, bè đảng là nhẹ, mỗi khi tai trời, ách nước xảy ra, kẻ cầm quyền tự cho mình lầm lỗi, làm lễ cáo minh cùng Trời đất và dân chúng, lại xin sửa đổi chính sách. Kẻ lãnh đạo đối với quốc dân có thành ý như vậy là cùng. Nhưng các người như Nghiêu, Thuấn của giống Hán, như St. Louis của nước Pháp, như Lê Thánh Tông của nước Việt thì ít mà Néron Cèsar, Charles 1er, Kiệt, Trụ thì quá nhiều, tự cho mình là con Trời, con Thánh, có quyền cầu vui, hưởng lạc mà đám dân đen thì chỉ đáng làm tôi mọi. Kết cục họ đã bị những phong trào cách mạng của quần chúng triệt hạ như cỏ may bị gió lướt, lúc hối tỉnh thì đã muộn.

Chúng tôi, với nhiệm vụ sử học, thấy có bổn phận giới ý những nhà cầm quyền những sự việc đã từng xảy ra trên sân khấu chính trị cổ kim với hy vọng nhắc nhở một vài định luật và qui tắc di dịch cho giới người lãnh đạo quần chúng. Định luật và qui tắc ấy là: Nhà cầm quyền đã do dân mà có thì được quyền hành phải tôn trọng nhân dân, những kẻ phản bội đồng loại, coi rẻ nhân dân thì dầu xây thành vạn lý, nắm giữ trăm vạn hùng binh cũng là thừa. Dân chúng là sức mạnh duy nhất đã từng đạp tan biết bao nhiêu ngai vàng, nghiệp bá, sự thực đó, ai chối cãi được?
Riêng về đại cuộc Việt nam ngày nay, đất nước qua phân, đồng bào chia rẽ, nếu tổ tiên sống lại chẳng khỏi héo gan, đứt ruột. Của đã ít, người đã thưa, độc lập còn non nớt, vậy mà nếu Nam, Bắc coi nhau quá kẻ địch truyền kiếp thì rồi đây nòi giống Việt Nam liệu có thoát khỏi cái bi cảnh dịch chủ tái nô hay diệt chủng chăng?

Chúng tôi ngừng bút ở nơi đây, thành tâm thắp nén hương lòng cầu phúc cho các nhà làm chính trị sớm thành công trong sự nghiệp cứu nhà, cứu nước, xây dựng cho xứ sở một địa vị hùng cường ở Đông Nam Á và cũng xin nhấn mạnh rằng những ai xa rời quần chúng, phản bội quê hương, đi ngược dòng tiến hóa của nhân loại thì lịch sử sẽ là nơi ngàn năm bia miệng.

SÁCH BÁO THAM KHẢO

Việt Ngữ

Bánh xe Khứ quốc, Phan Trần Chúc
Dân Luật Khái Luận, Vũ Văn Mẫn
Dụ Am Ngâm Tập, Phan Huy Ích
Dụ Am Văn Tập, Phan Huy Ích
Đại Nam Liệt Truyện Sơ Tập (quyển thứu 30-32), quốc sử quán Nguyễn Triều
Đại Nam Nhất Thống Trí, Nguyễn Tạo
Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử quán Nguyễn Triều
Đại Nam Sử Ký Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên
Đông Án Trên Trường Chính Trị Quốc Tế, Lê Văn Sáu
Hậu Các Anh Hoa, Ngô Thời Nhậm
Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Ngô Thời Chí
Hoàng Việt Luật Lệ, Quốc sử quán Nguyễn Triều
Hồng Đức Thiện Chính Thư,Chính quyền Hậu Lê soạn
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Quốc Sử quán Nguyễn Triều
Kinh Tế Thế Giới Đang Đi Đến Đâu?, Vũ Văn Mẫu
La Sơn Phu Tử, Hoàng Xuân Hãn
Lê Kỷ Dã Sử, Khuyết danh (sách chép tay của trường Bắc Cổ)
Lịch Sử Xã Hội Việt Nam, Hoàng Thúc Trâm
Lược Khảo Về Binh Chế Việt Nam Qua Các Thời Đại, Nguyễn Tường Phượng
Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Phan Huy Chú
Nam Bộ Chiến Sử, Nguyễn Bảo Hóa
Nam Sử Tập Biên, Nguyễn Văn Tố
Nguyễn Trãi, Anh Hùng Dân Tộc, Trúc Khê
Nhà Chính Trị Hồ Quý Ly, Chu Thiên
Nho Giáo, Trần Trọng Kim
Những Bài Học Lịch Sử I,II,III, Lê Văn Hòe
Phan Đình Phùng, Đào Trinh Nhất
Quan Niệm Cổ Truyền Về Pháp Luật, Vũ Văn Mẫu
Quốc Sử Đính Ngoa, Lê Văn Hòe
Quốc Triều HÌnh Luật, Chính quyền Hậu Lê soạn
Quốc Triều Sử Toát Yếu, Cao Xuân Dục
Quốc Văn Đời Tây Sơn, Hoàng Thúc Trâm
Sử Liệu Việt Nam, Huỳnh Khắc Dung
83 năm, Mấy Lần Việt Pháp Ký Hòa Ước?, Nguyễn Kỳ Nam
Tang Thương Ngẫu Lục, Phạm Đình Hồ & Nguyễn An
Thanh Triều Sử Lược, Khuyết danh (sách chép tay của trường Bắc Cổ)
Thiên Nam Dư Hạp Tập, Chính quyền Hậu Lê
Trần Hưng Đạo, Hoàng Thúc Trâm
Trần Thủ Độ, Trúc Khê
Trung Hoa Sử Cương, Đào Duy Anh
Trung Quốc Sử Lược, Phan Khoang
Trung Quốc Duy Tân, Nguyễn Nam Thông
Vấn Đề Nhân Quyền Trong Phạm Vi Pháp Luật, Vũ Văn Mãu
Văn Hóa Nguyệt San, Tạp chí của Bộ giáo dục
Việt Nam Khai Quốc Chí Truyện, chính quyền Hậu Lê
Việt Nam Giáo Sử, L.M. Phan Phát Hườn
Việt Nam Lịch Sử Giáo Trình, Đào Duy Anh
Việt Nam Máu lửa, Nghiêm Kế Tố
Việt Nam Phong Sử, Nguyễn Văn Mụi
Việt Nam Sử Lược, Trần TRọng Kim
Việt Nam Tây Thuộc Sử, Đào Trinh Nhất
Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Đào Duy Anh
Việt Nam Đại Toàn, Mai Đăng Đệ
Việt Sử Giai Thoại, Đào Trinh Nhất
Xã Hội Việt Nam, Lương Đức Thiệp

Pháp Ngữ

A La Barre De I’Indochine, J. Decoux
Bulletin De I’Ecole Francaise d’Extrême Orient
Bulletin Des Amis Du Vieux Huế
Bulletin Des Études Indochinoise (1904)
Connaissance Du Việt Nam, P. Huard
Contribution À I’Histoire De La Nation Vietnamienne, Jean Chesnaux
Cours d’Histoire Annamite, Trương Vĩnh Ký
Documents Historiques Relatifs À La Cochinchine Et Au Cambodge, A. d’Epinay
Essai Sur Les Tonkinois, Dumoutier
Études d’Histoir d’Annam, B.E.F.E.O
Gia Long, M. Gaultier
Histoire Ancienne Et Moderne De I’Annam, A. Launay
Histoire De La Cochinchine-des Origines À 1883, P. Cultru
Histoire De I’Expédition De La Cochinchine, Gabriel Auberet
Histoire Des Relations De La Chine Avec La Việt Nam (du XVI ème au XIX ème siècle),
G. Deveria
Histoire d’Une Paix Manquée, Jean Sainteny
Histoire Généra E Des Voyages, A. Prévost
Histoire Moderne Du Pays d’Annam, C.B. Maybon
Histoire Militaire De I’indochine De 1664 À Nos Jours, P. Cultru
Histoire Naturelle, Civille Et Politique Du Tonkin, A. Richard
La Cochinchine Relegieuse, L. E. Louvet
La Conquète De I’Indochine, A. Thomazi
La Geste Francaise En Indochine, George Taboulet
L’Annam d’Autrefois – Essai Sur La Constitution de I’ An Nam Avant I’Intervention Francaise
La Clergé Indi gene de I’Indochine – Les Mission Catholiques, L. Cadière
L’Empire d’Annam, Gosselin
L’Empire d’Annam Et Le Peuple Annamite, J. Silvestre
L’Histoire Du Việt Nam, Philippe Devillers
Le Việt Nam, Lê Thành Khôi
Le Việt Nam Et Sa Civilisation, Trần Văn Tùng
I’Enseignement Dans I’Ancient Việt Nam, Huỳnh Khắc Dụng
Les Chams d’Autrefois Et d’Ajourd’hui, J. Lenba
Les Débuts Du Christianisme En Annam – Des Origines Au Commencement Du XVIème siècle, Bonifacy
Les Origines Du Clergé Vietnamien, L.M. Nguyễn Hữu Trọng
Mémorial De La Cochinchine Et Du Tonkin, Missionnaires De La Sté De Jésus
Notes Et Spuvenirs Au Tonkin 1873-81-86, R. Bonal
Premières Études Sur Les Sources Annamites De I’Histoire d’Annam, M. M. Peliot &Cadtère
Revue Indochinoise 1921
Sociologie d’Une Guerre, Paul Mus
Texte Et Commentaire Du Miroir Complet De I’Histoire Du Việt Nam, Durand
(Khâm Dịch Việt Sử Thông Giám Cương Mục)
Voyages Et Mission, A. de Rhodes

Ý Kiến Của Văn Gia Trí Thức
Về Những Tác Phẩm Sử Học Của Phạm Văn Sơn


Tôi nhận thấy tác giả đã dày công sưu tầm để viết bộ sử này (V.S.T.B) với một thể tài mới gọn ghẽ và dễ hiểu. Tôi tin rằng Việt Sử Tân Biên sẽ giúp ích nhiều cho các giáo sư và giới hiếu học.
Trần Hữu Thế, Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục
(Thư gửi tác giả đề ngày 6-11-58)

Bộ sách (V.S.T.B) đã được tác giả biên soạn rất công phu, với một phương pháp khoa học và dựa trên một căn bản dân chủ hợp với quan niệm chung của các sử gia hiện đại trên thế giới. Sách lại được chú giải bằng nhiều tranh ảnh làm cho người đọc ham thích hơn. Việt Sử Tân Biên thực là một tài liệu quý giá cho những ai muốn nghiên cứu về sử nước nhà.
Bác sĩ Trần Sỹ Đôn, Giám đốc sở Tu Thư Bộ Quốc Gia Giáo Dục

(Thư gửi tác giả ngày 3-2-1959)
Bộ sử của anh lấy yếu tố “người dân” làm gốc, và như vậy, anh đã “dân chủ hóa” lịch sử, đúng với quan niệm mới mẻ và chisnhd dáng của các sử gia hiện đại. Tôi có thể nói rằng, trên điểm này anh đã thành công một phần lớn và tôi cũng tin rằng bộ Việt Sử Tân Biên của anh sẽ đạt được mục đích mong muốn.
Hơn nữa, tôi hy vọng rằng độc giả toàn quốc sẽ tìm ở đây niềm tin tưởng bất diệt nơi tiền đồ tổ quốc và các thế hệ ngày mai sẽ còn lưu dụng mãi mãi bộ “Việt Sử Tân Biên”.
Thái Văn Kiểm, Chủ nhiệm Văn Hóa Nguyệt San, Phó Giám Đốc Nha Văn Hóa

(Thư gửi cho tác giả đề ngày 5-11-1958)
Về sử học, ngoài cuốn Việt Sử Tân Biên, phần lớn các sách có tính cách giáo khoa, dễ thương chưa cuốn nào làm lu mờ được cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim…

Tạp chí Bách Khoa – Số 70
(sau cuộc triển lãm văn hóa toàn quốc tháng 12-1959)
Bộ “Việt Sử Tân Biên” của sử gia Phạm Văn Sơn đã đi đến thời Nam Bắc phân tranh (loạn phong kiến). Bộ “Việt Sử Tân Biên” được viết theo một quan niệm mới, khoa học và đầy đủ là một công trình có giá trị quốc tế. Tưởng cần nên nhắc là bộ “Việt Nam Tranh Đấu Sử” của họ Phạm, một bộ sách rất quý giá, đã được tái bản lần thứ năm…Thiếu tá Phạm Văn Sơn đã làm vẻ vang cho nền sử học: Việt Nam và quân đội với bộ “Việt Sử Tân Biên”.

Chỉ Đạo – Xuân Canh Tý
“Việt Sử Tân Biên” là một bộ sử được biên soạn công phu nhất từ trước tới nay. Việt Sử Tân Biên, dưới ngòi bút sắc sảo, với quan niệm biên thảo rất khoa học của sử gia Phạm Văn Sơn, sẽ giúp ích rất nhiều cho chúng ta trên đường sử học.

Ngôn Luận 1960
Tác giả đã dày công viết bộ Việt Sử đại toàn này. (V.S.T.B) gồm 7 quyển, với một thể tài mới mẻ, gọn gàng và dễ hiểu. Hơn nữa, tác giả đã nhận chân nhiệm vụ một sử gia lấy yếu tố “người dân” làm gốc và đã “dân chủ hóa” lịch sử Việt Nam đúng với quan niệm chân chính của các sử gia hiện tại.

Văn Hóa Nguyệt San – Số 37
Tháng 12-1958
Việt Sử Tân Biên được biên khảo công phu, tài liệu phong phú, quả là một cuốn sử rất có giá trị mà mọi người không nên thiếu khi nghiên cứu lịch sử.
Minh Tân Nguyệt San – Số 56 – Tháng 3 – 1959
Cuốn Việt Sử Tân Biên, Tập I và II, sau khi xuất bản đã được một số văn gia trí thức nhận xét và xác nhận cuốn sử này đã thành công một phần lớn trong vấn đề tìm cách dân chủ hóa lịch sử, đề cao vai trò tranh đấu của nhân dân trên mọi phương diện, đưa ra những tư tưởng cách mạng, cấp tiến.
Tạp chí Thế Giới Tự Do
Tập VIII – Số 5
Quan niệm viết sử của ông Phạm Văn Sơn đã biết dùng lập luận của một người dân nhược tiểu giải quyết sự kiện lịch sử, phương pháp viết khoa học… Kỹ thuật viết sử của ông hấp dẫn khiến chúng tôi nhớ đến Michelet, Tư Mã Thiên… Chắc chắn những ai về sau muốn tìm sử liệu Việt Nam không thể bỏ qua Phạm Văn Sơn

Thế Phong
(Lịch sử văn nghệ Việt Nam – Nhà văn hậu chiến)


Với Việt Sử Tân Biên quyển 3, ông Phạm Văn Sơn nghiên cứu riêng về loạn phong kiến Việt Nam. Đây là một nhận xét rất mới và cấp tiến trên phương diện sử học của nước nhà để định ra trách nhiệm của hai họ Trịnh – Nguyễn đã gây nên cuộc nội chiến luôn ba thế kỷ gần đây.
Chúng tôi tán thành quan điểm này vì người dân không thể là những dụng cụ tranh đấu ngai vàng nghiệp bá của dòng họ phong kiến dầu ở bất cứ một quốc gia và một tình thế nào.
Nhật Báo Tự Do ngày 3-2-1959



Chú thích:

[1] Ngày 17-2-1947, cụ Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số chiến sĩ cách mạng đã tiếp xúc với Bảo Đạ và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trần này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc” và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại.
[2] Chúng tôi xin nhắc rằng trong nội dung của thỏa hiệp Genève ngoài phần liên hệ với Việt Nam còn phần nói về sự cam kết giữa Việt Minh với hai quốc gia Cao Miên và Ai Lao.
[3] Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vừa qua có thể coi bắt đầu bộc phát từ năm 1944.

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103211
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49586 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: VIỆT-SỬ TOÀN-THƯ (Phạm Văn Sơn)

Postby DaMinhChau » April 25th, 2017, 2:57 pm


Phụ Lục

Bảng Đối Chiếu Các Triều Đại Việt Nam Với Năm Dương Lịch Và Các Triều Đại Trung Hoa
Ghi chú: TCN: Trước Công Nguyên


I. Họ Hồng Bàng (2879 – 258 TCN)
Quốc hiệu: Văn Lang
Kinh đô: Phong Châu
Triều đại Việt Nam Quốc hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
Kinh Dương Vương Phục HI
Lạc Long Quân Thần Nông
Hoàng Đế Hạ, Thương, Chu
Vua Hùng Vương: 18 đời 2879 TCN
1. Hùng Dương (Lộc Tục) Văn Lang
2. Hùng Hiến (Sùng Lãm)
3. Hùng Lân
4. Hùng Việp
5. Hùng Hy
6. Hùng Huy
7. Hùng Chiêu
8. Hùng Vỹ
9. Hùng Định
10. Hùng Hy
11. Hùng Trinh
12. Hùng Võ
13. Hùng Việt
14. Hùng Anh
15. Hùng Triều
16. Hùng Tạo
17. Hùng Nghi
18. Hùng Duệ 258 TCN
II. Nhà Thục (257 TCN – 208 TCN)
Quốc hiệu: Âu Lạc
Kinh đô: Phong Khê (Cổ Loa, Huyện Đông Anh, Hà Nội)
Triều đại Việt Nam Quốc hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
Thục Phán 257 TCN – 208 TCN Chu Noãn Vương
An Dương Vương Âu Lạc Tần Thủy Hoàng
III. Nhà Triệu (207 TCN – 111 TCN)
Quốc hiệu: Nam Việt
Kinh đô: Phiên Ngung (gần Quảng Châu, Trung Hoa)
Triều đại Việt Nam Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1. Triệu Vũ Vương (Triệu Đà) 207 TCN – 136 TCN Tần Nhị Thế
2. Triệu Văn Vương (Triệu Hồ) 136 TCN – 124 TCN Hán Võ Đế
3. Triệu Minh Vương (Triệu Anh Tề) 124 TCN – 112 TCN Hán Võ Đế
4. Triệu Ai Vương (Triệu Hưng) 112 TCN Hán Võ Đế
5. Triệu Dương Vương (Triệu Kiến Đức) 111 TCN Hán Võ Đế
IV. Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (207 TCN – 40)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
Tây Hán đô hộ 111 TCN - 25 Hán Võ Đế
Đông Hán đô hộ 25 – 40 Hán Quang Võ
V. Trưng Nữ Vương (40 – 43)
Kinh đô: Mê Linh (Vĩnh Phúc)
Triều đại Việt Nam Quốc hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
Trưng Vương (Trưng Trắc, Trưng Nhị) 40 - 43 Hán Quang Võ
VI. Thời Kỳ Bắc thuộc lần thứ hai (43 – 543)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
Thời Đông Hán 43 Hán Quang Võ
Thời Ngô 244 Tam Quốc
Khởi nghĩa Bà Triệu 248 Tam Quốc
Thời Ngô, Ngụy 264 Ngụy Nguyên Đế
Thời Ngô, Tấn 265 – 279 Tấn Võ Đế
Thời Tấn 280 – 420 Tấn Võ Đế
Thời Lưu Tống 420 – 479 Tống Võ Đế
Thời Tề 479 – 505 Tề Cao Đế
Thời Lương 505 - 543 Lương Võ Đế
VII. Nhà Tiền Lý và Nhà Triệu (544 – 602)
Quốc hiệu: Vạn Xuân
Kinh đô: Long Biên
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Lý Nam Đế (Lý Bôn) Thiên Đức 544 – 548 Lương Võ Đế
2. Lý Đào Lang
Vương Thiên Bảo 549 – 555 Lương Võ Đế
3.Triệu Việt Vương (Triệu Quang Phục) 549 – 570 Lương Võ Đế
4.Hậu Lý Nam Đế (Lý Phật Tử) 571 - 602 Trần Tuyên Đế
VIII. Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba (603 – 939)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
Thời Tùy 603 – 617 Tùy Văn Đế
Thời Đường 618 – 721 Đường Cao Tổ
Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan) 722 Đường Huyền Tông
Thời Đường 723 – 790 Đường Huyền Tông
Bố Cái Đại Vương (Phùng Hưng) 791 Đường Đức Tông
Thời Đường 792 – 906 Đường Đức Tông
Thời Hậu Lương 907 – 922 Đường Đức Tông
Lương Thái Tổ
Thời Hậu Đường 923 – 936 Đường Trang Tông
Thời Hậu Tấn 937 - 939 Tấn Cao Tổ
IX. Thời kỳ xây nền tự chủ (905 – 938)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
Khúc Thừa Dụ 905 – 907 Đường Ai Đế
Khúc Hạo 907 – 917 Lương Thái Tổ
Khúc Thừa Mỹ 917 – 923 Lương Mạt Đế - Nam Hán
Dương Đình Nghệ 931 - 938 Đường Minh Tông
X. Nhà Ngô (939 – 965)
Kinh đô: Cổ Loa
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Ngô Vương Ngô Quyền 939 – 944 Tấn Cao Tổ - Nam Hán
2.Dương Bình Vương Tam Kha 945 – 950 Tấn Xuất Đế - Nam Chiếu
3.Ngô Nam Tấn Vương Xương Văn 950 – 965 Hán Ẩn Đế
4.Ngô Thiên Sách Vương Xương Ngập 951 - 959 Hậu Chu Thái Tổ
5.Thập Nhị Sứ quân 966 - 968 Tống Thái Tổ
XI. Nhà Đinh (968 – 980)
Quốc hiệu: Đại Cồ Việt
Kinh đô: Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) Thái Bình 968 – 979 Tống Thái Tổ
2.Đinh Phế Đế (Đinh Toàn) Thái Bình 980 Tống Thái Tông
XII. Nhà Tiền Lê (980 – 1009)
Kinh đô: Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Lê Đại Hành (Lê Hoàn) Thiên Phúc 980 – 1005 Tống Thái Tông
2.Lê Trung Tông (Lê Long Việt) 1005 Tống Chân Tông
3.Lê Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) Ứng Thiên 1006 - 1009 Tống Chân Tông
XIII. Nhà Lý (1010 – 1225)
Quốc hiệu: Đại Cồ Việt, Đại Việt (1054)
Kinh đô: Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình); năm 1010 dời đô về Thăng Long (Hà Nội)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) Thuận Thiên 1010 – 1028 Tống Chân Tông
2.Lý Thái Tông (Lý Phật Mã) Thiên Thành 1028 – 1054 Tống Nhân Tông
3.Lý Thánh Tông (Lý Nhật Tôn) Long Thụy 1054 – 1072 Tống Nhân Tông
4.Lý Nhân Tông (Lý Càn Đức) Thái Ninh 1072 - 1128 Tống Thần Tông
5.Lý Thần Tông (Lý Dương Hoán) Thiên Thuận 1128 – 1138 Tống Cao Tông
6.Lý Anh Tông (Lý Thiên Tộ) Thiệu Minh 1138 – 1175 Tống Cao Tông
7.Lý Cao Tông (Lý Long Cán) Trinh Phủ 1176 – 1210 Tống Hiếu Tông
8.Lý Huệ Tông (Lý Hạo Sảm) Kiến Gia 1211 – 1224 Tống Ninh Tông
9.Lý Chiêu Hoàng (Chiêu Thánh) Thiên Chương 1224 - 1225 Tống Ninh Tông
XIV. Nhà Trần (1225 – 1400)
Quốc hiệu: Đại Việt
Kinh đô: Thăng Long (Hà Nội)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Trần Thái Tông (Trần Cảnh) Kiến Trung 1225 - 1258 Tống Lý Tông
Tống Lý Tông
2.Trần Thánh Tông (Tr. Hoảng) Thiệu Long 1258 – 1278 Tống Lý Tông
3.Trần Nhân Tông (Trần Khâm) Thiệu Bảo 1279 – 1293 Tống Đế Bính
4.Trần Anh Tông (Trần Thuyên) Hưng Long 1293 - 1314
Nguyên Thế Tổ
5.Trần Minh Tông (Trần Mạnh) Đại Khánh 1314 – 1329 Nguyên Nhân Tông
6.Trần Hiến Tông (Trần Vượng) Khai Hựu 1329 – 1341 Nguyên Minh Tông
7.Trần Dụ Tông (Trần Hạo) Thiêu Phong 1341 - 1369 Nguyên Thuận Đế
8.Dương Nhật Lễ (soán ngôi) Đại Định 1369 - 1370 Minh Thái Tổ
9.Trần Nghệ Tông (Trần Phủ) Thiệu Khánh 1370 - 1372 Minh Thái Tổ
10.Trần Duệ Tông (Trần Kính) Long Khánh 1373 - 1377 Minh Thái Tổ
11.Trần Phế Đế (Trần Hiện) Xương Phù 1377 - 1388 Minh Thái Tổ
12.Trần Thuận Tông (Trần Ngung) Quang Thái 1388 - 1398 Minh Thái Tổ
13.Trần Thiếu Đế (Trần Án) Kiến Tân 1398 - 1400 Minh Thái Tổ
XV. Nhà Hồ (1400 – 1407)
Quốc hiệu: Đại Ngu
Kinh đô: Tây Đô (Thanh Hóa)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Hồ Quý Ly Thánh Nguyên 1400 - 1401 Minh Huệ Đế
2.Hồ Hán Thương Thiệu Thánh 1401 - 1407 Minh Huệ Đế
XVI. Nhà Hậu Trần (1407 – 1414)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Trần Giản Định (Trần Ngỗi) Hưng Khánh 1407 – 1409 Minh Thành Tổ
2.Trần Quý Khoáng Trùng Quang 1409 - 1414 Minh Thành Tổ
XVII. Thời kỳ kháng chiến chống nhà Minh đô hộ (1414 – 1427)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
Thời Minh đô hộ 1414 – 1417 Minh Thành Tổ
Bình Định Vương (Lê Lợi khởi nghĩa) 1418 - 1427
XVIII. Triều Lê sơ (1428 – 1527)
Quốc hiệu: Đại Việt
Kinh đô: Đông Đô (Hà Nội)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Lê Thái Tổ (Lê Lợi) Thuận Thiên 1428 - 1433 Minh Tuyên Tông
2.Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long) Thiệu Bình 1433 - 1442 Minh Tuyên Tông
3.Lê Nhân Tông (Lê Bang Cơ) Thái Hòa 1442 - 1459 Minh Anh Tông
4.Lê Nghi Dân (soán ngôi) Thiên Hưng 1459 Minh Anh Tông
5.Lê Thánh Tông (Lê Tư Thành) Hồng Đức 1460 - 1497 Minh Anh Tông
6.Lê Hiến Tông (Lê Tăng) Cảnh Thống 1498 - 1504 Minh Hiếu Tông
7.Lê Túc Tông (Lê Thuần) Thái Trinh 1504 Minh HIếu Tông
8.Lê Uy Mục (Lê Tuấn) Đoan Khánh 1505 - 1509 Minh Hiếu Tông
9.Lê Tương Dực (Lê Oanh) Hồng Thuận 1509 - 1516 Minh Võ Tông
10.Lê Chiêu Tông (Lê Ý) Quang Thiệu 1516 – 1522 Minh Võ Tông
11.Lê Cung Hoàng (Lê Xuân) Thống Nguyên 1522 - 1527 Minh Thế Tông
XIX. Nhà Mạc (1527 – 1592)
Kinh đô: Đông Đô (Hà Nội)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) Minh Đức 1527 - 1529 Minh Thế Tông
2.Mạc Thái Tông (Mặc Đăng Doanh Đại Chính 1530 - 1540 Minh Thế Tông
3.Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) Quảng Hòa 1541 - 1546 Minh Thế Tông
4.Mạc Tuyên Tông (Mạc Phúc Nguyên) Vĩnh Định 1546 - 1561 Minh Thế Tông
5.Mạc Mậu Hợp Thuần Phúc 1562 - 1592 Minh Thần Tông
6.Mạc Toàn Võ An 1592 Minh Thần Tông
7.Mạc Kính Chỉ Bảo Định 1592 - 1593 Minh Thần Tông
8.Mạc Kính Cung Kiền Thống 1593 - 1625 Minh Thần Tông
9.Mạc Kính Thoan Long Thái 1623 - 1625 Minh Thần Tông
10.Mạc Kính Vũ Thuận Đức 1638 - 1677
XX. Nhà Hậu Lê (Lê trung hưng 1533 – 1788) bị gián đoạn từ 1527 – 1532 do nhà Mạc soán ngôi
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Lê Trang Tông (Lê Duy Ninh Nguyên Hòa 1533 – 1548 Minh Thế Tông
2.Lê Trung Tông (Lê Huyên) Thuận Bình 1549 – 1556 Minh Thế Tông
3.Lê Anh Tông (Lê Duy Bang) Thiên Bình 1557 – 1573 Minh Thế Tông
4.Lê Thế Tông (Lê Duy Đàm) Thiên Hựu 1573 – 1599 Minh Thần Tông
5.Lê Kính Tông (Lê Duy Tân) Gia Thái 1600 – 1619 Minh Thần Tông
6.Lê Thần Tông (Lê Duy Kỳ) Thuận Đức 1619 – 1643 Minh Thần Tông
7.Lê Chân Tông (Lê Duy Hựu) Vĩnh Tộ 1643 – 1649 Minh Tư Tông
8.Lê Thần Tông (Lê Duy Kỳ lần 2) Phúc Thái 1649 – 1662 Thanh Thế Tông
9.Lê Huyền Tông (Lê Duy Vũ) Khánh Đức 1663 – 1671 Thanh Thánh Tổ
10.Lê Gia Tông (Lê Duy Hợi) Cảnh Trị 1672 - 1675 Thanh Thánh Tổ
11.Lê Hy Tông (Lê Duy Hợp) Vĩnh Trị 1676 - 1705 Thanh Thánh Tổ
12.Lê Dụ Tông (Lê Duy Đường) Vĩnh Thịnh 1705 - 1729 Thanh Thánh Tổ
13.Lê Đế (Lê Duy Phường) Vĩnh KHánh 1729 - 1732 Thanh Thế Tông
14.Lê Thuần Tông (Duy Tường) Long Đức 1732 - 1735 Thanh Thế Tông
15.Lê Ý Tông (Lê Duy Thìn) Vĩnh Hựu 1735 - 1740 Thanh Thế Tông
16.Lê Hiển Tông (Lê Duy Diêu) Cảnh Hưng 1740 - 1786 Thanh Cao Tông
17.Lê Mẫn Đế (ê Duy Kỳ) Chiêu Thống 1787 - 1788 Thanh Cao Tông
XXI. Nhà Tây Sơn (1778 – 1802)
Kinh đô: Phú Xuân (Huế)
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Nguyễn Nhạc Thái Đức 1778 – 1793 Thanh Cao Tông
2.Nguyễn Huệ Quang Trung 1788 – 1792 Thanh Cao Tông
3.Nguyên Quang Toản Cảnh Thịnh 1793 - 1802 Thanh Nhân Tông
XXII. Nhà Nguyễn (1802 – 1945)
Quốc hiệu: Việt Nam, Đại Nam (Từ Minh Mạng)
Kinh đô: Huế
Triều đại Việt Nam Niên hiệu Dương Lịch Triều đại Tr. Hoa
1.Nguyễn Thế Tổ (Nguyễn Phúc Ánh) Gia Long 1802 - 1820 Thanh Nhân Tông
2.Nguyễn Thánh Tổ (Nguyễn Phúc Đảm) Minh Mạng 1820 - 1840 Thanh Nhân Tông
3.Nguyễn Hiến Tổ (Nguyễn Miên Tông) Thiệu Trị 1841 - 1847 Thanh Tuyên Tông
4.Nguyễn Dục Tông (Nguyễn Hồng Nhiệm) Tự Đức 1847 - 1883 Thanh Tuyên Tông
5.Nguyễn Dục Đức (Nguyễn Ưng Chân) Dục Đức 1883 (3 ngày) Thanh Đức Tông
6.Nguyễn Hiệp Hòa (Nguyễn Hồng Dật) Hiệp Hòa 1883 (6 tháng) Thanh Đức Tông
7.Nguyễn Giản Tông (Nguyễn Ưng Đăng) Kiến Phúc 1883 - 1884 Thanh Đức Tông
8.Nguyễn Hàm Nghi (Nguyễn Ưng Lịch) Hàm Nghi 1884 – 1885 Thanh Đức Tông
9.Nguyễn Cảnh Tông (Nguyễn Ưng Xụy) Đồng Khánh 1886 – 1888 Thanh Đức Tông
10.Nguyễn Thành Thái (Nguyễn Bửu Lân) Thành Thái 1889 - 1907 Thanh Đức Tông
11.Nguyễn Duy Tân (Nguyễn Vĩnh San) Duy Tân 1907 - 1916 Thanh Đức Tông
12.Nguyễn Hoằng Tông Khải Định 1916 - 1925 Trung Hoa Dân Quốc
13.Nguyễn Bảo Đại (Nguyễn Vĩnh Thụy) Bảo Đại 1926 - 1945 Trung Hoa Dân Quốc
Phụ Lục 2
Thế Phả Họ Nguyễn
Các Chúa Nguyên Niên Hiệu Dương Lịch Vua Nhà Lê
1.Triệu Tổ
Nguyễn Kim Chiêu Huân
Tĩnh Công 1533 - 1545 Lê Trang Tông
2.Thái Tổ
Nguyễn Hoàng Chúa Tiên 1558 - 1612 Lê Anh Tông
3.Hy Tông
Nguyễn Phúc Nguyên Chúa Sãi 1613 - 1634 Lê Kính Tông
4.Thần Tông
Nguyễn Phúc Lan Chúa Thượng 1635 - 1648 Lê Thần Tông
5.Thái Tông
Nguyễn Phúc Tần Chúa Hiền 1648 - 1687 Lê Chân Tông
6.Anh Tông
Nguyễn Phúc Thái Chúa Nghĩa 1687 - 1691 Lê Hy Tông
7.Hiển Tông
Nguyễn Chúc Chu Chúa Quốc 1691 - 1725 Lê Hy Tông
1. Túc Tông
Nguyễn Phúc Thụ Ninh Vương 1725 - 1738 Lê Dụ Tông
2. Thế Tông
Nguyễn Phúc Khoát Võ Vương 1738 - 1765 Lê Ý Tông
3. Duệ Tông
Nguyễn Phúc Thuần Định Vương 1765 - 1777 Lê Hiển Tông
Phụ Lục 3
Thế Phả Họ Trịnh
Các Chúa Trịnh Niên Hiệu Dương Lịch Vua Nhà Lê
1.Thế Tổ Minh Khang
Thái Vương Trịnh Kiểm 1545 - 1569 Lê Trang Tông
2.Bình An Vương Trịnh Tùng 1570 - 1623 Lê Anh Tông
3.Thanh Đô Vương Trịnh Tráng 1623 - 1657 Lê Thần Tông
4.Tây Đô Vương Trịnh Tạc 1657 - 1682 Lê Thần Tông
5.Định Vương Trịnh Căn 1682 - 1709 Lê Hy Tông
6.An Đô Vương Trịnh Cương 1709 - 1729 Lê Dụ Tông
7.Uy Nam Vương Trịnh Giang 1729 - 1740 Lê Duy Phường
8.Minh Đô Vương Trịnh Doanh 1740 - 1767 Lê Ý Tông
9.Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm 1767 - 1782 Lê Hiển Tông
10.Điện Đô Vương Trịnh Cán (2 tháng) Lê Hiển Tông
11.Đoan Nam Vương Trịnh Khải 1782 - 1786 Lê Hiển Tông
12.Án Đô Vương Trịnh Bồng 1787 - 1788 Lê Mẫn Đế

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership7 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: tired
Posts: 103211
Has thanked: 35661 times
Have thanks: 49586 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: November 23rd, 2018, 2:45 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Previous

Return to History & Culture Of VietNam | Lịch Sử & Văn Hóa Việt Nam

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests