Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

Lịch Sử Việt Nam

Read and learn ethnic origin Vietnamese | Hảy tìm hiểu và học hỏi nguồn gốc dân tộc việt

Re: Lịch Sử Việt Nam

Postby DaMinhChau » February 23rd, 2016, 4:13 pm


Tìm lại huy hoàng kỳ 3.3:
Lý Triều Quốc Sư – vị tứ bất tử lưu dấu ấn của Phật Pháp tại nhân gian


Trong các phần trước của loạt bài “Tìm lại huy hoàng”, chúng ta đã đi qua các câu chuyện về các vị “Tứ bất tử” của Việt Nam.

Trong các ngôi vị tứ bất tử, chúng ta thấy có đại diện của cả tín ngưỡng Phật, Đạo, Thần (Phật, Thánh, Thần, Tiên…). Mỗi vị đã đặt định ra cho con người nền tảng văn hóa tín ngưỡng khác nhau vào Phật, Đạo, Thần và đạo lý làm người.



Trong các vị được lưu danh bất tử qua các thời kỳ, Chử Đồng Tử (đời Hùng Vương thứ 18) được thờ như ông tổ của đạo thờ tiên (Chử Đạo Tổ); Thánh Gióng (đời Hùng Vương thứ 6) vốn là Thiên tướng trên trời, xuống giúp dân tộc Việt dẹp giặc, rồi lại bay về trời; Tản Viên Sơn Thánh (còn gọi là Sơn Tinh, đời Hùng Vương thứ 18), hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ, dòng dõi con rồng cháu tiên, vốn “theo cha xuống biển”, rồi lại “từ biển đi lên” để lưu danh lịch sử. Liễu Hạnh công chúa (thời Hậu Lê thế kỷ 15) vốn là con gái thứ 2 của Ngọc Hoàng Thượng Đế, 3 lần giáng trần để ngàn đời được tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Còn Từ Đạo Hạnh (1072-1116) và Nguyễn Minh Không với quốc hiệu Lý Quốc Sư (1066 – 1141), là hai vị thiền sư, cao tăng nổi tiếng đời nhà Lý thế kỷ 11, với huyền sử cuộc đời mang dấu tích của Phật Pháp thần thông đã đưa họ thành bất tử. Họ đã đặt định ra văn hóa tín ngưỡng Phật giáo.

Image
Tượng ngài Lý Triều Quốc Sư


Trong chính sử và huyền sử, ngôi vị đệ tứ của tứ bất tử thường thuộc về Thánh Mẫu Liễu Hạnh nhiều hơn (tham chiếu phần 3 của “Tìm lại huy hoàng”), tuy nhiên, có nhiều ghi chép cho thấy trước khi Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh vào thế kỷ 15, ngôi vị đệ tứ Tứ Bất Tử thuộc về Nguyễn Minh Không tức Lý Triều Quốc Sư, và Từ Đạo Hạnh, giáng sinh từ thế kỷ 11. Kiều Oánh Mậu, học giả người làng Đường Lâm, là nhà học giả cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục có viết:

“Tên các vị Tứ bất tử của nước ta là: Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Vì bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào.”

Còn tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử là bản Dư Địa Chí, in trong bộ Ức Trai di tập. Nguyễn Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Lời chú ấy như sau:

“… Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn), Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy”.

Lý Quốc Sư – vị thiền sư chứng ngộ Phật Pháp thần thông và mở mang Phật giáo tại Việt Nam

Lý Quốc Sư, ông là ai, người ngày nay thường lầm tưởng đó là 1 cái tên của một vị anh hùng lịch sử họ Lý.

Thực ra hoàn toàn không phải, Lý Quốc Sư là tên gọi do triều nhà Lý ban cho, họ Lý là họ của Vua do nhà vua ban tặng, ghép với chức danh pháp lý cao nhất của một vị thiền sư nổi tiếng Nguyễn Minh Không thành tên Lý Quốc Sư – danh hiệu này có nghĩa là “vị thầy của quốc gia”.

Và trang sử gắn với ông là một trang sử huy hoàng bởi những kỷ lục ít ai ngờ tới: vị thiền sư sáng lập nhiều ngôi chùa nhất Việt Nam (hơn năm trăm ngôi chùa). Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Quốc sư Minh Không rất linh ứng. Phàm khi có tai ương hạn lụt, cầu đảo đều nghiệm cả.” Nguyễn Minh Không, cùng với người anh em kết nghĩa Từ Đạo Hạnh, là hiện thân quyền lực linh thiêng của Phật giáo hưng thịnh thời Lý – là dược sư tài giỏi, là thiền sư tài cao đức trọng, là bậc thánh tổ nghề đúc đồng Việt Nam.

Những ai có ít nhiều hiểu biết về Phật giáo, hẳn sẽ không quên cái tên Mục Kiền Liên và Liên Hoa Sắc, những vị đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni với danh xưng “đệ nhất thần thông”. Và những ai am hiểu Phật Giáo hơn, cũng sẽ biết về việc Tổ Bồ Đề Đạt Ma của môn phái Thiền tông vượt sông chỉ bằng một cọng lau. Nhưng ít ai ngờ tới là ngay tại đất Đại Việt của chúng ta, vào triều nhà Lý, có những vị thiền sư đã chứng ngộ thần thông của Phật Pháp… Thần thông ngoài đời nơi đất Việt của chúng ta thực sự có tồn tại, chứ không phải chỉ trong những câu chuyện hư cấu. Đó là nhờ nỗ lực chân tu Phật Pháp của các vị chân sư thời đó…

Theo Thiền Uyển Tập Anh và Đại Việt Sử Ký Toàn thư, Đức Thánh Nguyễn hay Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không có tên húy là Nguyễn Chí Thành. Ông sinh ngày 14 tháng 8 năm Bính Ngọ, niên hiệu Long Chương Thiên Tự thứ nhất triều Lý Thánh Tông (1066) tại làng Điềm Xá, phủ Tràng An ( nay thuộc thôn Quốc Thanh xã Gia Thắng huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình). Cha của Thánh Nguyễn là ông Nguyễn Sùng, quê ở thôn Điềm Xá, phủ Tràng An. Mẹ ông là bà Dương Thị Mỹ, quê ở Phả Lại, phủ Từ Sơn (Bắc Ninh). Thiếu thời ông chuyên làm nghề chài lưới của ông cha. Năm 11 tuổi ông xuất gia đầu Phật. Ông đã kết nghĩa anh em cùng thiền sư Nguyễn Giác Hải và thiền sư Từ Đạo Hạnh, là những vị chân sư có uy tín đương thời. Họ cùng sang Tây Trúc học đạo.

Image


Thời ấy, Phật giáo đã được truyền vào Việt Nam và đang ở giai đoạn cực thịnh. Phật giáo được coi là quốc giáo và có ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt của đời sống. Chính vì vậy, rất nhiều người dân Đại Việt thời bấy giờ đều lập chí tu hành học đạo. Chí Thành cũng là một trong số ấy.

Theo sách “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược” (Phòng Địa chí – Thư viện tỉnh Nam Định chế bản) tại trang 146, trong mục chùa Keo thì: Không Lộ tên chính là Nguyễn Chí Thành người xã Điềm Xá huyện Gia Viễn cùng Nguyễn Viết Y người xã Loa Điền Hải Thanh kết bạn với nhau, Chí Thành đạo hiệu là Không Lộ, Viết Y đạo hiệu là Giác Hải, sau gặp sư Từ Đạo Hạnh người Yên Lãng cùng sang Tây Trúc học đạo đều thành.

Vị thiền sư sáng lập nhiều ngôi chùa nhất Việt Nam

Khi đã đắc đạo, ông trở về quê nhà dựng chùa Viên Quang, sau đó lại lập nhiều chùa ở vùng châu thổ Sông Hồng: Phả Lại (Bắc Ninh), Giao Thủy (Nam Định), Vũ Thư (Thái Bình), Hoa Lư (Ninh Bình), Hà Nội, Hải Dương… lấy vị hiệu là Minh Không. Từ đó dân gian thường gọi ông là Nguyễn Minh Không. Theo lịch sử xây dựng chùa, trong suốt cuộc đời, Nguyễn Minh Không đã sáng lập hơn năm trăm ngôi chùa trên đất Đại Việt.

Nhiều ngôi chùa lớn còn tồn tại đến ngày nay như: chùa Bái Đính, chùa Cổ Lễ, chùa Non Nước, chùa Địch Động, chùa Quỳnh Lâm, chùa Am Tiên, chùa Kim Liên, chùa Hàm Long….

Image
Chùa Cổ Lễ

Image
Chùa Non Nước Hà Nội


Dược sư, pháp sư tài danh

Tu thiền đắc đạo, ông có thể đi mây về gió, ngả nón làm thuyền vượt sông cả, cho cả kho đồng nước Tống vào túi đem về đúc tứ đại khí, thò tay vào vạc dầu đang sôi vớt hàng trăm chiếc kim chữa bệnh cho Vua Lý Thần Tông. Đó là những câu chuyện được lịch sử ghi chép.

Người sáng tạo Đại Nam Tứ Khí (Tượng Phật, Hồng Chung, Đỉnh, Vạc)

Theo thiền sư Thích Thanh Từ viết trong Thiền sự Việt Nam, bấy giờ Nguyễn Minh Không muốn tạo Đại Nam tứ khí (Tượng Phật, Hồng Chung, Đỉnh, Vạc), một hôm Minh Không suy nghĩ: “Nước Tống ắt có nhiều đồng tốt có thể dùng đúc được”. Nghĩ xong, sư thẳng đường sang Bắc Triều (Trung Quốc), trước hết sư ghé trọ một nhà trưởng giả xin mảnh đất bằng chiếc áo cà sa để lập kỳ viên.

Trưởng giả cười bảo: “Xưa kia Thái tử nhà Lương muốn lập kỳ viên, mảnh đất rộng đến nghìn dặm, lấy vàng lót đất. Tại sao ông chỉ xin mảnh đất bằng áo cà sa chỉ bằng chuồng gà làm gì?” Đêm ấy sư trải chiếc áo cà sa ra khắp 10 dặm đất. Trưởng giả thấy phép thần thông của nhà sư, liền dắt vợ con ra lễ bái và từ đó cả nhà đều quy y tam bảo.

Hôm khác sư mang bát, chống gậy trước thềm rồng đứng khoanh tay. Vua Tống vào triều bá quan văn võ tung hô xong xem thấy vị sư già bèn triệu vào hỏi:

– Thầy già ốm yếu này quê phương nao, tên họ gì, đến đây có việc chi?

Sư tâu:

Thần là bần tăng nơi tiểu quốc xuất gia đã lâu, nay muốn tạo Đại Nam tứ khí mà sức không tùy tâm nên chẳng sợ xa xôi lặn lội tới đây, kính mong thánh đế mở rộng lòng thương ban cho chút ít đồng tốt để đem về đúc tạo. Vua Tống hỏi:

– Thầy đem bao nhiêu đồ đệ? Sư tâu:

– Bần tăng chỉ có một mình xin đầy đãy này quảy về.

– Vua bảo: Phương nam đường xa diệu vợi tuỳ sức sư lấy được bao nhiêu thì lấy, đủ quảy thì thôi.

Sư vào kho đồng lấy gần hết sạch kho mà chưa đầy đãy, quan giữ kho lè lưỡi lắc đầu vào triều tâu việc ấy với Vua. Vua ngạc nhiên hối hận nhưng lỡ lời hứa rồi không biết làm sao. Sư nhận đồng xong, vua Tống sai bá quan tiễn sư về nước sư từ chối nói rằng:

– Một đãy đồng này tự thân bần tăng vận sức quảy được.

Nói xong sư bước ra lấy đãy mang vào đầu gậy nhẹ nhàng mang đi. Đến sông Hoàng Hà sư lấy nón thả xuống nước làm thuyền sang sông chỉ trong khoảng chớp mắt đã đến bờ.

Về nước, sư đến chùa Quỳnh Lâm, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đúc một pho tượng đồng lớn là tượng A-di-đà. Tại Kinh Đô nơi Tháp Báo Thiên sư đúc một cái đỉnh, ở Phả Lại sư đúc một quả Đại Hồng Chung, tại Minh Đảnh sư đúc một cái vạc. Công quả hoàn thành sư làm bài tán rằng:

    Lạp phù việt đại hải
    Nhất tức vạn lý trình
    Tống đồng nhất lang tận
    Phấn tý thiên câu lực


    Dịch nghĩa:

    Nón nổi vượt biển cả
    Một hơi muôn dặm đường
    Một đãy sạch đồng Tống
    Dang tay sức ngàn ngựa.

Nguyễn Minh Không được các làng nghề đúc đồng suy tôn là ông tổ nghề đúc đồng, mặc dù mặc dù từ thế kỷ X, Vua Đinh Tiên Hoàng đã cho đúc tiền bằng đồng đầu tiên trong lịch sử và trước đó người Việt cổ đã đúc trống đồng. Với vai trò là quốc sư triều Lý, ông tham gia gây dựng nhiều công trình Phật giáo và “An Nam Tứ đại khí” là những báu vật nổi tiếng của nước Đại Việt thời Lý – Trần. Ông là người sưu tầm và phục hưng nghề đúc đồng – tinh hoa của văn minh Đông Sơn – văn minh người Việt cổ mà trở thành tổ sư nghề đúc đồng.

Image
Tháp Báo Thiên

Image
Vạc Phổ Minh


Thần y chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông

Thiền sư Minh Không đồng thời là một dược sư nổi tiếng thời Lý, một trong những kỳ tích của ông được sử sách ghi lại là chữa thành công bệnh cho vua Lý Thần Tông, từ đó được phong làm quốc sư.

Năm vua Lý Thần Tông 21 tuổi bỗng nhiên mắc bệnh hóa thành cọp ngồi xổm chộp người, cuồng loạn đáng sợ. Triều đình phải làm cũi vàng nhốt vua trong đó. Khi đó có đứa bé ở Châu Định hát rằng:

    Nước có Lý Thần Tông
    Triều đình muôn việc thông
    Muốn chữa bệnh, thiên hạ
    Cần được Nguyễn Minh Không.


Tương truyền lúc còn đang học đạo, trong khi đi qua khu rừng, Từ Đạo Hạnh dùng phép thần thông hóa hổ dọa, Nguyễn Minh Không không nao núng e sợ, ung dung nói với con hổ: “Đạo huynh đấy à? Tưởng đạo huynh làm gì ích lợi cho đời, lại đi làm thú dữ hại người đấy ư? Đạo huynh muốn thế, kiếp sau sẽ được làm mà…”

Từ Đạo Hạnh hối hận: “Xưa kia đức Thế Tôn tạo quả viên thành còn chịu báo kim sương, mã mạch, huống chi tôi sinh thời mạt pháp đâu có thể tránh được, đời sau sẽ làm quốc chủ và sẽ chịu báo này, ông với tôi có nhân duyên bằng hữu lúc đó hãy cứu tôi.“

Image
Tượng Từ Đạo Hạnh


Sau khi thiền sư Đạo Hạnh hóa, đầu thai là Dương Hoán, được Vua Nhân Tông yêu quý lập làm Hoàng Thái tử và kế vị ngai vàng tức Lý Thần Tông hoàng đế.

Khi vua mắc bệnh, triều đình sai quan chỉ huy đi đón sư, đến am sư cười bảo: “Đây không phải là chuyện cứu cọp đó ư?” Quan chỉ huy hỏi: “Sao thầy biết trước?” Sư bảo: Ta biết việc này trước 30 năm”

Trong quốc sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng ghi rằng: “Tục truyền khi sư Từ Đạo Hạnh sắp trút xác, trong khi ốm đem thuốc niệm thần chú rồi giao lại cho Nguyễn Minh Không, dặn rằng sau 20 năm nếu thấy Quốc Vương bị bệnh lạ thì tới chữa ngay, có lẽ là việc này.”

Sư đến triều, khi gặp vua, Sư lớn tiếng nói: “Ðấng đại trượng phu, giàu sang bốn bể, há lại làm ra những điều cuồng loạn đấy ư?” Sư vào trong điện ngồi, lên tiếng bảo: Bá quan đem cái đảnh dầu lại mau, trong đó để 100 cây kim và nấu cho sôi, đem cũi vua lại gần đó. Sư lấy tay mò trong đảnh lấy 100 cây kim châm cứu cho nhà vua. Lông và móng răng hổ rụng hết, toàn thân vua hoàn phục như cũ. Vua tạ ơn sư một ngàn cân vàng và ngàn khoảng ruộng để hương hỏa cho chùa. Ruộng cày không lấy thuế.

Đến năm Đại Định thứ 2 (1141) Sư quy tịch.

Đại Việt sử ký toàn thư tập 1 có ghi: vua bệnh nặng, chữa thuốc không khỏi, nhà sư Minh Không (người Gia Viễn Ninh Bình) chữa khỏi, phong làm Quốc sư, tha phu dịch cho vài trăm hộ.

Trang 353 Đại Việt Sử Ký Toàn thư ghi: Mùa thu tháng 8 Quốc sư Minh Không chết. Sư người Đàm Xá, huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên rất linh ứng, phong chi có thủy hạn tai hại gì cầu đảo đều nghiệm cả. Nay hai chùa Giao Thủy và Phả Lại đều tô tượng để thờ.

Ngày nay, vùng đồi núi Gia Sinh, Gia Viễn, hiện vẫn còn cái tên làng Sinh Dược (làng thuốc sống) do Lý Quốc Sư dùng cây thuốc ở đây chữa bệnh. Từ các loại thảo dược này ông đã chữa bệnh nan y cho vua Lý Thần Tông và bào chế ra nhiều loại thuốc chữa bệnh cho nhân dân, ông đã truyền lại cho dân nhiều bài thuốc hay và sử dụng thuốc nam, châm cứu chữa bệnh. Đến nay vùng đồi núi Sinh Dược, Gia Sinh vẫn còn nhiều cây thuốc quý như: Bình vôi, Ngành ngạnh, Hoài sơn, Khúc Khắc, Mặt quỷ, Bòn bọt, Hà thủ ô, Hy thiêm thảo, chè vằng, Thiên niên Kiện, Bố chính sâm…

Là một dược sư pháp sư và quốc sư tài danh được phong Thánh, ông đã được vinh danh Tứ bất tử của Việt Nam. Trang sử gắn với ông là một trang sử huy hoàng của Phật giáo hưng thịnh thời Lý.


Nhưng trên tất cả, phải chăng ông được vinh danh Bất tử để mãi mãi lưu dấu ấn Phật Pháp thần thông tại nhân gian…?

Hà Phương Linh

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80741
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46211 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 22nd, 2017, 11:31 pm
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: Lịch Sử Việt Nam

Postby DaMinhChau » February 24th, 2016, 2:26 pm


Tìm lại huy hoàng kỳ 4:
Tinh hoa văn hóa thời Hùng Vương


Image

Tượng Vua Hùng. Cinet


Đất Phong Châu có một cây lớn có tên là Chiên Đàn, cành lá rậm rạp, có chim hạc trắng làm tổ ở trên, nên thời ấy được gọi là Bạch Hạc. Ngã ba sông Bạch Hạc là nơi “sơn chầu, thủy tụ” (núi sông hội tụ) dồi dào khí thiêng sông núi. Ba con sông hợp lưu nơi ấy là sông Thao, sông Đà và sông Lô ngày nay.

Image
Ngã 3 sông Bạch Hạc, nơi “sơn chầu, thủy tụ”, dồi dào khí thiêng sông núi… Ba con sông hợp lưu nơi ấy là sông Thao, sông Đà và sông Lô.


Thưở vua Hùng dựng nước, do địa thế “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, có núi, có đồi và đồng bằng, nên người Việt cổ chúng ta đã chọn nơi ấy làm nơi cư ngụ: khi nước ngập thì lên đồi núi kiếm thức ăn, lúc mưa thuận gió hòa thì xuống đồng bằng gieo cấy. Ngày ấy nơi ngã 3 bến sông Bạch Hạc này, tổ Lạc Long Quân và mẫu Âu Cơ đã đã chia tay nhau, dẫn các con đi khai khẩn mở mang bờ cõi. Rồi chính nơi ấy người con cả của Tổ Lạc Long Quân và Mẫu Âu Cơ, vua Hùng Lân Vương đầu tiên đã chọn làm đất xây dựng nên quốc gia Văn Lang gồm 15 bộ: Việt Thường, Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Văn Lang, Quế Lâm, Tượng Quận.

Nước Văn Lang chúng ta thời ấy, phía Đông giáp Nam Hải (người Việt ngày nay gọi là Biển Đông), Tây tới Ba Thục, Bắc tới Hồ Động Đình, Nam tới nước Hồ Tôn Tinh ( sau trở thành nước Chiêm Thành).

Bạch Hạc còn lưu giữ biết bao câu chuyện. Tiên Ông vừa câu cá vừa đặt tên cho 100 người con của Tổ Lạc Long Quân trên bến sông ngày ấy…, đến giờ vẫn còn hòn đá hằn dấu chân khổng lồ của Tiên Ông và địa danh Bến Gót vẫn còn được lưu lại cho con người.

Image
Tiên Ông vừa câu cá vừa đặt tên cho 100 người con của Tổ Lạc Long Quân trên bến sông ngày ấy…, đến giờ vẫn còn hòn đá hằn dấu chân khổng lồ của Tiên Ông và địa danh Bến Gót vẫn còn được lưu lại cho con người.


Nơi núi Nghĩa Lĩnh, các Vua Hùng chọn đất đóng đô, Vua Hùng dạy dân cấy lúa, nấu mật, cầu mưa… Lang Liêu ngày xưa gói bánh chưng, giã bánh dày dâng vua cha ngày Tết, tiếng giã gạo đêm đêm tiếng thậm, tiếng thình…cùng rước kiệu, đánh trống đồng, đâm đuống, hát Xoan… tất cả đều lắng đọng còn đây những lớp văn hoá cổ xưa của chúng ta mà mỗi câu chuyện giờ đây vẫn được gắn với sông núi, ao hồ, đất đai, vẫn còn đó tên tuổi và chứng tích.

Image
Đền Hùng ở chân núi Nghĩa Lĩnh

Từ chân núi lên 225 bậc đá là đền Hạ; nơi đó ngày ấy mẫu Âu Cơ sinh bọc trăm trứng nở 100 trai. Chùa Thiên Quang bên cạnh đền Hạ, muốn nhắc nhở hậu thế, rằng đây là ánh sáng từ trời tỏa xuống (Thiên Quang), cùng gác chuông.


Đi tiếp 168 bậc đá là đền Trung, nơi đây xưa kia vua Hùng cùng các Lạc Hầu, Lạc Tướng đánh cờ, rồi bàn việc nước; lại lên tiếp 102 bậc đá nữa là đền Thượng nơi xưa vua Hùng lập Điện thờ Trời và Thần Nông, thủy tổ của Bách Việt chúng ta, vị thần của cư dân nông nghiệp lúa nước, cũng là nơi sau này An Dương Vương dựng cột đá thề. Con người vẫn còn lưu giữ tại nơi đây để thờ tự.


Image
Đền Thượng nơi xưa vua Hùng thờ Trời đất, thủy tổ của Bách Việt chúng ta


Image
Trước sân đền Thượng có cột đá thề, tương truyền Thục Phán An Dương Vương được vua Hùng thứ 18 nhường ngôi, cảm kích công ơn đã dựng cột đá, thề đời đời trông nom miếu Vũ và giang sơn bờ cõi các vua Hùng để lại...

Trước sân đền Thượng có cột đá thề, tương truyền Thục Phán An Dương Vương được vua Hùng thứ 18 nhường ngôi, cảm kích công ơn đã dựng cột đá, thề đời đời trông nom miếu Vũ và giang sơn bờ cõi các vua Hùng để lại…

Từ đền Thượng mở tầm mắt ra là mảnh đất tụ nhân, tụ thuỷ, tụ đức. Nơi đây vẫn còn dấu tích làng Cả xưa kia của chúng ta, với những dấu tích của kinh đô Văn Lang giàu đẹp, nơi có vườn trầu, khu luyện quân, lầu Tiên Cát, cùng làng lúa Minh Nông khi xưa các Hùng Vương dạy dân cấy lúa. Dưới chân núi Hùng vẫn có Giếng Ngọc, nơi đây ngày xưa các công chúa soi gương chải tóc. Ngày nay hậu thế lập Đền Giếng dưới chân núi, nhưng họ thả nhiều tiền lẻ vào làm bẩn và mất hết ý nghĩa của Giếng Ngọc. Lầu Thượng Lầu Hạ là nơi cửa cấm của triều cung; Hương Trầm là ruộng lúa nếp hương mà người dân dùng gói bánh dâng vua Hùng để cúng tế trời đất. Làng Cả kinh đô ấy một thời vàng kim…

Image
Từ Đền Thượng mở tầm mắt ra là mảnh đất tụ nhân, tụ thủy, tụ đức…

Image
Giếng Ngọc ngày xưa, nơi các công chúa soi gương chải tóc. Ngày nay hậu thế lập đền Giếng dưới chân núi, nhưng họ thả nhiều tiền lẻ vào làm bẩn và mất hết ý nghĩa của Giếng Ngọc



Theo truyền thuyết ngày xưa Sơn Tinh và Thủy Tinh gặp vua Hùng để cầu hôn với công chúa Mỵ Nương, vua Hùng truyền tỉ thí pháp thuật. Sơn Tinh Đại Vương chỉ núi, núi lở, ra vào trong núi không có gì trở ngại. Thủy Tinh lấy nước phun lên không biến thành mây mưa. Vua nói: “2 vị đều có phép thần thông, nhưng ta chỉ có một con gái, vậy ai mang sính lễ tới trước, ta khắc gả cho”.


Hôm sau Sơn Tinh tới sớm, mang ngọc quý, vàng bạc, sơn cầm, dã thú, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao tới. Thủy Tinh tới sau, nổi giận đã định đem loài thủy tộc để đánh mong cướp lại Mỵ Nương. Sơn Tinh Đại Vương lấy lưới sắt ngăn ngang sông huyện Từ Liêm. Thủy Tinh bèn mở một dải sông tiểu Hoàng Giang từ Lý Nhân ra sông Hát, vào sông Đà để đánh ập sau lưng núi Tản Viên. Lại mở ngách sông Tiểu Tích Giang hướng về phía trước núi Tản Viên, ở khoảng ven sông đánh sụt thành vũng lớn để mở lối đi cho quân thủy tộc. Thủy Tinh thường làm mưa gió mịt mù, dâng nước lên đánh Sơn Tinh Đại Vương. Cũng may dân chúng ở trên núi cũng dựng hàng rào đón đỡ, đánh trống gõ cối, hò reo cứu viện. Thấy củi cành trôi bên ngoài hàng rào bèn bắn, thủy tộc chết biến thành xác ba ba thuồng luồn trôi tắc cả một khúc sông.

Sơn Tinh Đại Vương có được bí quyết trường sinh của Thần Tiên nên rất hiển linh, trở thành vị đệ nhất phúc thần của Đại Việt vì ngài vô cùng linh ứng.

Sơn Tinh Đại Vương từ hải quốc trở về, nơi ngày xưa theo Cha Lạc Long Quân đi xuống. Ngài đã trở về qua cửa biển Thần Phù, tìm nơi đất thanh, dân đôn hậu để ở. Đi men theo sông Cái đến đất Long Đỗ, rồi đến Trấn Trạch, định lại, nhưng chưa ưng ý. Đại Vương lại theo sông Lô, ngược lên tới bờ Phúc Lộc Giang, đứng trên bờ trông thấy núi Tản Viên cao vút đẹp đẽ, ba ngọn núi đứng xếp hàng như tranh vẽ. Dân dưới núi hàng ngày ca vịnh ngâm nga và chất phác. Vương đã làm một con đường thẳng như sợi dây từ Bạch Phiên Tân lên thẳng phía Nam núi Tản Viên, tới động An Uyên lập điện nghỉ lại.

Thủy Tinh vẫn không nguôi giận, thủy tộc của Thủy Tinh hàng năm cứ tới tháng Tám, tháng Chín vẫn gây gió bão lụt lội cho nhân dân.



Image
Ngã ba Bạch Hạc là một vùng sông nước hữu tình, sầm uất trên bến dưới thuyền, buổi chiều tà mặt trời đỏ ối lặn sau dãy Ba vì, nơi có núi Tản Viên, trên sông các thuyền thả lưới đánh cá vọng vang trong những làn điệu dân ca tạo cho Bạch Hạc một vẻ đẹp nên thơ.

Image
Cây có cội, nước có nguồn, con người có tổ có tông, chân lý ấy không bao giờ thay đổi.


Lê Thánh Tông – vị vua anh minh đã có công trong việc chính thức hoá khởi đầu lịch sử dân tộc của các Vua Hùng trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.

Đến vua Minh Mạng – thời Nguyễn, Vua đã rước bài vị vào kinh thành Huế để thờ các Vua Hùng. Thời Tự Đức lễ hội Đền Hùng được khôi phục như cũ, vua Tự Đức còn cho xây dựng lăng Vua Hùng.

Nhân ngày giỗ tổ vua Hùng: Cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, nhà nhà hạnh phúc.

Image


Image
(Ảnh: cinet)


Ngày 10 tháng Ba này, đã trở thành tiếng chim hạc trắng gọi bầy, là lời hiệu triệu muôn triệu trái tim con dân đất Việt:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba.”


Hà Phương Linh
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80741
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46211 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 22nd, 2017, 11:31 pm
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: Lịch Sử Việt Nam

Postby DaMinhChau » February 25th, 2016, 11:40 pm


Tìm lại huy hoàng kỳ 5:
Mỹ nhân 2 lần xả thân cứu vua Trần Nhân Tông khỏi nanh vuốt thú dữ


Image
Bảo Thánh hoàng hậu lại được sử sách ca tụng là người “đức tốt trong cung, rạng rỡ đáng ghi chép” (Tranh minh họa)


Kỳ 5: Người mang danh “Thần Hộ Mệnh” của vua Trần Nhân Tông: đằng sau sự rạng danh của vua có một bóng hồng

Nếu như vua Trần Nhân Tông nổi tiếng về tài đức, sau khi xuất gia tu hành trở thành Tổ đệ nhất Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và được suy tôn là Điều Ngự Giác Hoàng thì vợ của ông – Bảo Thánh hoàng hậu lại được sử sách ca tụng là người “đức tốt trong cung, rạng rỡ đáng ghi chép”. Bà chính là “bóng hồng” đằng sau nhà vua, tuy nữ nhi yếu đuối mảnh mai mà 2 lần dám xả thân cứu vua khỏi nanh vuốt thú dữ…


Đại Việt sử ký toàn thư đã miêu tả vua Trần Nhân Tông là “được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn”, vua Thánh Tông đặt tên cho ông là Kim Phật, và cuộc đời của hoàng hậu Bảo Thánh được sắp đặt như “Thần hộ mệnh” bên cạnh ông.

Xuất thân danh giá, nhân đức vẹn toàn

Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu, sinh khoảng năm 1251, mất năm 1293, chính là con gái thứ nhất của danh tướng Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo và mẹ là Nguyên Từ Quốc mẫu Thiên Thành.

Năm Bảo Phù thứ 2 (1274), bà được lập hoàng thái tử phi, trở thành chính thất của hoàng thái tử Trần Khâm, tức Nhân Tông hoàng đế. Tới năm Thiên Bảo thứ 1 (1279), Nhân Tông hoàng đế lên kế vị, bà chính thức lên ngôi hoàng hậu.

Image
Nàng là con gái thứ nhất của danh tướng Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo


Xuất thân trong gia đình quý tộc, dòng dõi võ tướng, thân phụ Trần Hưng Đạo là bậc lương đống của quốc gia, một lòng trung tín, trọn đạo tôi trung với triều đình, thân mẫu là người đảm đang, luôn sát bên chồng vì đại sự, đảm đương công việc hậu cứ, đặc biệt có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Những phẩm chất tốt đẹp của gia đình và tư chất khiêm tốn, chan hòa, bao dung, dịu dàng của nàng, khiến vua Trần Nhân Tông hết mực sủng ái và nể vì. Khi chưa vào cung, tuy không phải là con vua, do phụ thân có công rất lớn nên nàng vẫn được phong tước vị là Quyên Thanh công chúa.

Chính sử ghi chép, Quyên Thanh từ nhỏ đã là người có tính tình nhu mì, thông minh sáng suốt, có nhân đối với kẻ dưới nên ai cũng yêu mến quý trọng. Lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp, đức hạnh.

Tiên nữ giáng sinh để mang lại rạng danh cho dòng tộc và vương triều?

Image
Hoa hải đường thần thông cô Nhất
Phủ Mạc Tư là đất trâm anh


Trong dân gian tương truyền nàng chính là tiên nữ giáng sinh, đầu thai xuống làm con nhà họ Trần để đem lại rạng danh cho dòng tộc và vương triều, vì vậy trong hệ thống Đạo Mẫu, bà được tôn là đệ nhất Vương Cô. Khi làm lễ thỉnh, thường hát rằng:

    “Hoa hải đường thần thông cô Nhất
    Phủ Mạc Tư là đất trâm anh.”


    Hay

    Đức Thái Hậu ban cho mỹ tự
    Đệ Nhất Vương Cô đại nữ Quyên Thanh
    Kim chi ngọc diệp rành rành
    Cung phi nhất phẩm đương triều ai hơn”

Hai lần xả thân cứu vua thoát khỏi nanh vuốt thú dữ

Đại Việt Sử Ký Toàn thư đã chép lại hai câu chuyện thần kỳ về lòng dũng cảm và đức hy sinh của một nữ nhi yếu đuối nhưng dám xả thân bảo vệ nhà vua trước thú dữ…

Lần thứ nhất đối diện với chúa tể rừng xanh

Hoàng hậu Khâm Từ Bảo Thánh sửa sang lại xiêm y, cùng mấy thị nữ đi ra chuồng đấu hổ. Hoàng hậu vừa đi vừa lo nghĩ. Hôm vừa rồi, một tù trưởng vùng sơn cước, muốn làm đẹp lòng ngài, đã dâng một chú hổ sa bẫy. Vị chúa sơn lâm này toàn vằn đen, vàng, lưng thẳng băng, bụng thon, ức nở. Chúa sơn lâm đi đi lại lại trong chuồng, dáng bồn chồn, bứt rứt lắm. Đi chán, nó nằm vào một góc, mắt lim dim, đầu hất về một bên, cái đuôi dài thượt thỉnh thoảng hơi động đậy. Hoàng hậu Bảo Thánh gọi viên tổng quản lại hỏi:

“Ông đã cho kiểm tra kỹ cái cũi này chưa? Hôm nay bệ hạ đến xem đấu hổ, ông phải rất cẩn thận mới được”.

Viên tổng quản đáp:

“Bẩm lệnh bà, đây là con hổ mới được đưa vào cung. Thần đã lo liệu đầy đủ cả, xin lệnh bà yên tâm.”

Một lát sau, một tốp lính khuân một chiếc cũi sắt nữa vào chuồng đấu. Vị chúa sơn lâm này bị bỏ đói lâu, lại bị nhốt trong cũi nên khi nhìn thấy mọi người thì nhe nanh, gầm gừ đe dọa.

Vua Nhân Tông bước tới chuồng đấu hổ. Mọi người rạp xuống thi lễ. Hôm đó vua cho phép các quan trong triều ngoài nội, các cung tần mỹ nữ của ngài tới xem đấu hổ. Nhà vua vui vẻ lắm. Ngài an tọa xong liền giơ tay làm hiệu. Người ta tháo cũi để hai vị chúa sơn lâm gặp nhau. Hai vị chúa này đều bị bỏ đói, lại thêm không khí kích động của đám người xem bên ngoài nên càng trở nên hung dữ. Chúng rống lên những tiếng kinh khủng và bắt đầu vờn nhau. Mọi người hồi hộp theo dõi, một số cung phi sợ hãi nhắm mắt lại. Bỗng nhiên ngoài dự kiến của mọi người, hai con thú chỉ gằm ghè nhau một lát rồi mỗi con đi về một phía. Rắc, tiếng then chuồng bật mạnh, một con thú xổng ra, nhảy tót lên khán đài. Những tiếng rú kinh hãi nổi lên. Mọi người chạy dạt ra hai phía. Nhà vua chậm chân, cùng một số thị nữ, phi tần đang run bần bật, đứng dồn về một góc.

Nhưng, hoàng hậu Bảo Thánh bình tĩnh, tiến nhanh tới trước mặt nhà vua, đứng che chắn cho nhà vua, đối diện với hổ dữ. Tấm thân yểu điệu, mảnh mai cố che đỡ.


Thật là kỳ lạ, vị chúa sơn lâm tiến thêm 2 bước nữa, dáng bệ vệ, ngó nhìn người phụ nữ nhỏ bé, mảnh mai đang đứng giang hai tay ra, mắt trừng trừng nhìn nó. Rồi con hổ lúc lắc cái đầu, kéo lê cái đuôi rồi nhảy tót xuống chuồng thú.

Image
Vị chúa sơn lâm tiến thêm 2 bước nữa, dáng bệ vệ, ngó nhìn người phụ nữ nhỏ bé, mảnh mai đang đứng dang hai tay ra, mắt trừng trừng nhìn nó…


Sách Đại Việt Sử Ký toàn thư chép về chuyện này như sau:

“Thượng Hoàng (tức vua Trần Nhân Tông) thường làm chuồng hổ ở thềm Vọng Lâu. Có lần thượng hoàng ngồi xem đấu hổ, Thái Hậu (tức Bảo Thánh) và phi tần đều theo hầu. Vì thềm lầu thấp, chuồng và thềm cũng thấp, con hổ bổng nhảy ra khỏi chuồng leo lên lầu, mọi người đều sợ chạy tan cả, duy chỉ còn có Thái Hậu và bốn, năm người thị nữ vẫn ở đấy. Thái Hậu nghĩ bụng không khỏi bị hại, mới lấy chiếu che cho Thượng Hoàng và cả mình. Con hổ lên lầu kêu gầm lên rồi vội vàng nhảy xuống, không hại ai cả.”

Đám người đứng chết lặng thở phào nhẹ nhõm. Vua Trần Nhân Tông mệt mỏi lặng lẽ trở về cung. Hoàng hậu Bảo Thánh cùng các phi đi theo sau. Vua xua tay hiệu cho mọi người lui ra. Ngài vời hoàng hậu lại gần, giọng cảm động:

“Ái khanh, hoàng hậu của ta. Nếu không có nàng, hôm nay ta chắc không qua khỏi nạn. Từ giờ trở đi, ta coi nàng như vị thần hộ mệnh của ta, xin cảm tạ…!”

Hoàng hậu Bảo Thánh ôn tồn đáp:

“Bệ hạ quá khen. Thiếp chịu ơn mưa móc của bệ hạ, lẽ nào lại không dám xả thân vì người. Chỉ xin bệ hạ luôn bảo trọng, thiếp sẽ mãi mãi ở bên người…”

Lần thứ 2 đối diện với voi dữ tại Hội Long Trì

Sách Đại Việt sử ký toàn thư còn cho biết, vào một lần khác, vua Trần Nhân Tông đang ngự tại điện Thiên An, xem đấu voi ở Long Trì. Con voi bỗng nhiên sổng thoát định xông lên điện tới nơi vua ngồi, khiến tả hữu sợ chạy tán loạn, chỉ có Bảo Thánh không dao động, bình tĩnh đối phó với thú dữ, bảo vệ nhà vua.

Khi chép lại những câu chuyện này, sử thần Ngô Sỹ Liên có lời bàn:“Con hổ hay vồ, con voi hay quật, há chẳng phải đáng sợ hay sao? Thế mà Thái Hậu (thời điểm chép là Kỷ Anh Tôn, nên Bảo Thánh Hoàng Hậu đã thành Thái Hậu), đương lúc con hổ, con voi đang lồng xông xáo, tâm thần không động, vẫn cứ thản nhiên. Vì là bụng nghĩ đã chắc, lý lẽ đã rõ vậy. Kể người đàn bà sức vóc yếu ớt mà có thể như thế, so với nàng Tiệp Dư đứng chắn con gấu ngày xưa cũng không thẹn gì.”.

Nàng Tiệp Dư là câu chuyện đời Hán Nguyên Đế, ông ngự xem chuồng gấu, con gấu xổng ra trèo lên điện. Vương Hoàng Hậu cùng bọn gia nô chạy hết cả, duy chỉ có Phùng Tiệp Dư dùng thân mình nhảy lên chắn trước vua.

Sử sách sau này đều ca ngợi hoàng hậu Bảo Thánh là một người phụ nữ hiền thục, nhu mỳ và dũng cảm. Tứ đức công-dung-ngôn-hạnh của nàng chỉ cần qua một câu chuyện trên, đã được thể hiện trọn vẹn.

    Vốn là lá ngọc của nhà Trần, hun đúc bởi khí thiêng sông núi
    Mãi như âu vàng của đất Việt, kết tinh từ linh diệu cỏ cây
    Hương thơm bát ngát vườn xuân, gởi kiếm cung nhờ cao tiên chỉ dạy

Tại đền thờ Đức Thánh Trần ở Nha Trang, có ban thờ Đệ Nhất Vương Cô Quyên Thanh công chúa – Bảo Thánh hoàng hậu. Tại đó có bức bửu cáo viết những dòng ca ngợi nữ anh thư lỗi lạc của triều Trần như sau:

    “Đông A chi ngọc diệp lưu căn, giang sơn chung tú
    Nam Việt chi kim âu vĩnh diện, thảo mộc quyết linh
    Hương trú xuân viên, thụ kiếm nhi cao tiên chỉ điểm”



Image


Lai ngẫm, người xưa, tuy nữ nhi liễu yếu đào tơ, hiền thục nhu mì mà nội lực vô song, trước sóng dữ mà tâm không lay động, xả thân hy sinh vì người khác mà không mảy may tính đếm đến được mất của bản thân. Đức hạnh ấy, sự hy sinh ấy, chẳng đáng để nam nữ chúng ta ngày nay nghiêng mình kính nể?

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80741
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46211 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 22nd, 2017, 11:31 pm
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: Lịch Sử Việt Nam

Postby DaMinhChau » February 26th, 2016, 4:04 pm


Tìm lại huy hoàng kỳ 6:
Từ bỏ ngai vàng, vua Trần Nhân Tông làm nên huyền thoại Trúc Lâm Yên Tử


Image
Vua Trần Nhân Tông quyết định rời bỏ cung vàng điện ngọc, xuất gia tu hành trên núi Yên Tử


    “Từ bỏ ngôi vua để tu hành
    Từ cái nhất thời, cái hữu danh
    Vĩnh hằng vô hạn, vua tìm đến
    Yên Tử trường xuân hóa đất lành”


Vua Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, sau khi nhường ngôi cho con, đã quyết định rời bỏ cung vàng điện ngọc, xuất gia tu hành trên núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sau là Trúc Lâm Đại sĩ. Cuối đời Ngài tu và tọa hóa tại am Ngọa Vân, Yên Tử, được xưng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật. Sau khi ngài viên tịch, vâng theo di chúc, thân thể ngài sau 100 ngày được hóa tại Am Ngọa Vân. Pháp Loa, tổ thứ hai của Thiền Phái Trúc Lâm đến tưới nước thơm lên giàn hỏa, thu được ngọc cốt và hơn 3000 viên ngọc xá lợi lấp lánh ánh kim cương…

Chúng ta cùng khám phá những câu chuyện đẹp đẽ thấm đẫm từ bi trên con đường tu luyện và giác ngộ của Ngài và cùng ngẫm về thiên mệnh khi tới thế gian của Ngài.

Image


Tâm hướng Phật thời niên thiếu và giấc mộng báo trước cuộc đời tu hành.

Vua Trần Nhân Tông tên huý là Trần Khâm, lúc nhỏ còn có tên là Nhật Tôn hay Kim Phật. Ông là vị vua thứ 3 của triều Trần, con trai trưởng vua Trần Thánh Tông và hoàng hậu Thiên Cảm. Hoàng hậu Thiên Cảm là con gái Trần Liễu, chị em gái của Trần Hưng Đạo.

Ông sinh năm 1258. Lúc mới sinh, Đại Việt sử ký toàn thư đã miêu tả ông là “được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn”, vua Thánh Tông đặt tên cho ông là Kim Phật. Trong phần đề từ của bức tranh “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ” đương thời, hoạ sĩ Trần Quang Chỉ thời Nguyên đã ghi lại “Khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc”.

Trích đoạn thư họa Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn chi đồ

Image
Ông được miêu tả là: “Được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy,
nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều
cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có
thể cáng đáng được việc lớn.” (Ảnh minh họa)


Về Phật Pháp, ông học đạo với Tuệ Trung Thượng Sĩ, được Thượng Sĩ hết lòng hướng dẫn. Ông tâm đắc nhất là câu:

Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc (Quan sát lại chính mình đó là bổn phận, không do người khác làm được).


Tháng 12 năm 1274, ông 16 tuổi, được sắc phong thái tử, kết hôn với con gái của Trần Hưng Đạo là Quyên Thanh công chúa.

Theo “Thánh đăng ngữ lục” thì ông từ nhỏ đã có lòng hướng Phật, không có ý làm vua nên nhiều lần xin nhường ngôi thái tử lại cho em trai mình là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không chấp nhận. Sau khi kết hôn vài tháng, ông trốn khỏi hoàng cung vào giữa đêm khuya, tá túc ở một ngôi chùa trên Yên Tử. Vua Thánh Tông và hoàng hậu sau khi phát hiện ông biến mất thì vội vàng cho người tìm kiếm, khuyên giải ông về, cuối cùng ông đồng ý trở về.

Sau khi về cung, ông lui tới chùa Tư Phúc, ngôi chùa rất nổi tiếng trong Cấm thành Thăng Long thời Trần.

Hôm ấy tại đó ông nằm mộng thấy từ rốn của mình trổ ra một đoá sen vàng lớn như một bánh xe, trên đó có một đức Phật vàng. Bên cạnh, có người chỉ vào vua mà hỏi: Biết đức Phật này không? Đó là đức Biến Chiếu Tôn đấy!


Image
Giấc mộng sen vàng


Sách Tam Tổ Thực Lục chép lại tỉ mỉ câu chuyện trên như sau:

“Một đêm giờ Tý, vua vượt thành mà đi, muốn vào núi Yên Tử. Đến chùa ở núi Đông Cứu thì trời sáng, liền vào ẩn trong tháp. Vị tăng trụ trì thấy tướng mạo dị thường liền đem thức ăn khoản đãi. Hôm ấy thái hậu và vua Thánh Tông sai quần thần đi tìm tứ tán, bất đắc dĩ vua phải về. Khi lên ngôi, tuy ngồi lên chín bệ vinh quang nhưng sinh hoạt rất thanh tịnh.

Một hôm nghỉ trưa tại chùa Tư Phúc trong đại nội, vua mộng thấy trên rốn mình nở ra một hoa sen lớn như bánh xe, trên đó có một đức Phật vàng. Bên cạnh, có người chỉ vào vua mà hỏi:

Biết đức Phật này không? Đó là đức Biến Chiếu Tôn đấy!

Vua tỉnh thức, đem giấc mộng nói lại cho Thánh Tông nghe, ai cũng lấy làm lạ. Từ đó thường ăn chay, tránh thịt cá, long nhan gầy mòn. Thánh Tông lấy làm lạ, hỏi, Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông), cứ thực trình bày. Thánh Tông khóc nói: “Ta đã già, cậy vào mỗi mình ngươi, nếu ngươi như thế làm sao nối được thịnh nghiệp của tổ tông” Điều Ngự cũng khóc. Điều Ngự thánh tính thông minh, hiếu học, nhiều tài, đọc khắp các loại sách thông suốt cả đến nội điển, thường mời các vị thiền khách tới cùng giảng cứu thiền học.”

Năm 1276, con trai trưởng Trần Thuyên của ông ra đời, người sau này trở thành vua Trần Anh Tông.

Năm 1278, Trần Nhân Tông lên ngôi vua lúc 20 tuổi. Tới tháng 3 năm 1293, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho thái tử, lên làm thái thượng hoàng. Từ thời điểm này ông thường lấy hiệu là Đầu đà Giác Hoàng Điều ngự, chuyên tâm vào kinh sách nhà Phật.

Sau ba trận chiến oanh liệt thắng quân Nguyên Mông, Trần Nhân Tông dường như đã hoàn thành trách nhiệm với đất nước ông trị vì, vào tháng 8 năm 1299, nhà vua quyết định lên núi Yên Tử tu hành.


Chốn khổ hạnh hay niềm vui tu luyện nơi thần tiên Yên Tử?


Image
Việc vua Trần Nhân Tông lên Yên Tử tu hành đã để lại nhiều truyền thuyết
và gắn chặt chẽ với những di tích, danh thắng nổi tiếng trên núi Yên Tử.


Tục truyền rằng sau khi vượt dốc vào Yên Tử, thầy trò Trần Nhân Tông tắm ở một dòng suối. Trưa hè oi ả, vua Trần đóng khố, nhoài mình nơi dòng nước trong xanh. Tiếng nước réo rắt hòa với tiếng chim rừng lảnh lót, hoa muôn sắc tỏa hương theo gió thơm ngào ngạt. Nhà vua trồng cây đa bên bờ để người sau có bóng nghỉ. Kể từ dạo ấy suối được đặt tên là suối Vua Tắm.

Image


    Trưa hè oi ả tiếng suối reo
    Chim ca lảnh lót giữa lưng đèo
    Hoa rừng hương sắc hương theo gió
    Đàn cá xuôi dòng nước trong veo
    Đây chính nơi xưa suối vua Trần
    Tìm nơi đất Phật để dừng chân
    Bảy trăm năm đã bao dời đổi
    Suối đẹp chùa xưa vẫn sắc xuân

Image


Nếu như hòa vào thiên nhiên tuyệt đẹp chốn thần tiên Yên Tử, coi vật chất và phù hoa chốn kinh thành nhẹ tựa lông hồng, ai sẽ bảo tu hành là khổ?…


Cảnh sắc gần chốn thần tiên, sự tĩnh lặng, thanh khiết và từ bi của Trúc Lâm Đại Sĩ hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà làm rung động vạn vật:

Image


    Tiếng mõ am xưa vua thiền định
    Chim rừng buông cánh lặng nghe kinh
    Hầu vượn từng đàn ngồi chật cửa
    Muôn vật từ bi cõi nhân sinh

Hay như khúc hoan ca khi tâm hồn người tu hành thanh bạch và thăng hoa cùng cảnh sắc Yên Tử:

Image


    Đêm thu am cỏ mây đầy mây
    Song thưa trăng phủ tấm thân gầy
    Thái Thượng thiền sư say giấc mộng
    Nhạc vàng sáo trúc cõi trời tây.

Image


    Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc
    Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm
    Tiếng sáo thiền ca vui bất tận
    Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng

Image
Vua Trần mặc áo lá, ăn rau, uống nước suối Yên Tử. Đêm thu
lạnh, trăng phủ lên người, hình ảnh Hoàng đế ngộ đạo tu
hành có một không hai trên cõi trần thế


Image
Đỉnh chùa Đồng- Yên Tử


Ở Yên Tử còn có địa danh Cửa Ngăn, tục truyền đó là cửa ngăn giữa thế tục và cõi tiên:

    Cửa Ngăn hậu thế mãi lưu truyền
    Cửa ngăn trần tục với thần tiên
    Am tháp mọc lên thành đất Phật
    Mây ngủ trong mây với chùa chiền

Khảo nghiệm ý chí kiên định của người tu hành nơi Yên Tử: câu chuyện bi ai của các cung nữ trầm mình xuống dòng Hổ Khê

Khi Trần Nhân Tông vào núi Yên Tử tu hành, vua Trần Anh Tông không yên tâm đã sai các cung tần mỹ nữ của triều đình băng ngàn vượt suối vào Yên Tử gặp cha mình, khuyên Thượng Hoàng trở lại kinh thành Thăng Long. Không lay chuyển được ý chí kiên định của người tu hành, các cung tần mỹ nữ trầm mình xuống suối Hổ Khê để tỏ lòng trung trinh. Trần Nhân Tông xót thương, cho lập đàn tràng làm lễ giải oan những linh hồn cung nữ. Nơi lập đàn tràng sau dựng chùa Giải Oan và suối Hổ Khê được đổi cùng tên thành Suối Giải Oan từ thuở ấy.

Image
Chùa Giải Oan- Yên Tử


    Khúc hát thiền ca chùa Giải Oan

    Rì rào tiếng suối giữa mây ngàn
    Ngân nga chuông vọng chiều xa vắng
    Cung nữ ngàn xưa tiếng thở than
    Có phải đây là suối Giải Oan
    Nhà Vua đau xót lập đàn tràng
    Cây đa soi bóng hồn trinh nữ
    Ngân hà ô thước dặm quan san

Image
Hồ Yên Trung- Yên Tử


Trong số các cung nữ trầm mình xuống dòng Hổ Khê có năm cung tần được trai làng cứu sống. Để đền ơn cứu mạng, năm cung nữ lấy năm trai làng làm chồng, gọi là làng Năm Mẫu, tồn tại cho đến ngày nay.

Hồ Năm Mẫu lúc đó là biển nước, Trần Nhân Tông lập đàn tràng cầu Phật Tổ Như Lai cho nước rút hết. Nước rút trong sự kinh ngạc của người dân và vùng này trở thành vùng đất nông nghiệp màu mỡ. Từ đó các cung nữ ở lại hai làng, sinh sống bằng nghề làm ruộng trên vùng đất Phật độ màu mỡ.

Từ bi cảm hóa chúng sinh nơi non thiêng Yên Tử: ba tên cướp trở thành tín đồ ngoan đạo của thiền phái Trúc Lâm

Image
Đường vào Yên Tử, giữa mây và núi


Tam Tổ thực lục có ghi chép lại rằng, khi ấy Vua Trần Nhân Tông và đồ đệ là Bảo Sái vào Yên Tử, qua hẻm núi có ba tên cướp nhảy ra đòi tiền mãi lộ. Ngài cho chúng tiền và cả phần cơm trưa của hai thầy trò và nhẹ nhàng thuyết giáo thức tỉnh nhân tâm của ba tên cướp. Từ đó hẻm núi Yên Tử hết cường bạo. Cả ba tên cướp sau này trở thành tín đồ ngoan đạo của phái Trúc Lâm.

    Ba tên kẻ cướp nhảy chắn đường
    Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
    Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
    Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương
    Bỏ nghề đao búa thiện giáo đường
    Sơn lâm từ ấy hết tai ương
    Gập ghềnh hẻm núi người qua lại
    Bình an, vô sự, hết đạo cường

Image
(Ảnh minh họa)


Thầy trò nhà vua tiếp tục lên đường đến một quả núi tròn như mâm xôi. Bảo Sái mở túi lục tìm cơm chay cho thầy mới giật mình sực nhớ là suất ăn đã đưa cho ba tên cướp ở cửa rừng. Vua Trần vui vẻ cùng Bảo Sái uống nước suối thay bữa rồi nằm nghỉ trên quả núi. Về sau, nơi đây dựng chùa mang tên Cấm Thực (không ăn), như thể khắc ghi hành động quên mình cứu độ chúng sinh của vị hoàng đế tu hành.

Sau này, Trúc Lâm Đại Sĩ (tức Trần Nhân Tông) còn cùng 2 môn đệ của Ngài là Pháp Loa (Nhị Tổ Thiền phái Trúc Lâm) và Huyền Quang (Tam Tổ Thiền Phái Trúc Lâm) tiếp tục đi giáo hóa chúng sinh suốt quãng đời còn lại của ngài.

Giúp triều đình nhà Trần quy y Phật Pháp

Cuối năm 1304, vua Trần Anh Tông thỉnh Trúc Lâm Đại Sĩ (tức cha Trần Nhân Tông) vào Đại Nội và xin thọ giới Bồ Tát Tại Gia. Những bậc quốc vương thọ giới Bồ Tát Tại Gia là những người phát nguyện dùng khả năng và quyền hạn của ngôi vị mình để phục vụ cho nhân sinh của Bồ Tát.

Ngày Trúc Lâm Đại Sĩ vào thành, vương công bách quan đều theo vua đi đón. Thấy vua Trần Anh Tông phát nguyện thọ giới Bồ Tát, mọi người trong triều đình cũng nhất loạt xin phát nguyện thọ tam quy ngũ giới (“Tam quy”, tức quy y tam bảo: Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo; “ngũ giới”, tức 5 giới cấm của nhà Phật: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu). Vậy là cả triều đình nhà Trần đã trở thành Phật Tử.

Vua Trần Nhân Tông đã biết trước thời điểm mình giã từ nhân gian nhập cõi niết bàn như thế nào?


Theo “Thánh đăng ngữ lục” và “Tam tổ thực lục”, niên hiệu Long Hưng thứ 16, ngày mồng 5 tháng 10, chị gái của vua Trần Nhân Tông là công chúa Thiên Thụy cho người lên núi, tâu rằng: “Công chúa bệnh tình nguy kịch, muốn được trông thấy Điều Ngự lần cuối”. Trần Nhân Tông liền chống gậy xuống núi, chỉ có một người đi theo.

Ngày mồng 10 tới kinh đô, ngày 16 dặn dò xong lại trở về núi. Trên đường về, người như linh cảm thấy thời khắc nhập niết bàn đã tới, Ngài đã qua một số chùa để giã từ tăng hữu. Tối ấy, người nghỉ chân ở chùa Siêu Loại, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Sáng hôm sau, người đi đến chùa Cổ Pháp, huyện Nam Sách, Hải Dương.

Ngày 17, người nghỉ chân ở chùa Sùng Nghiêm, huyện Chí Linh, Hải Dương. Ngày 18, người đến chùa Tú Lâm gần đó. Rồi người nói với hai nhà sư Tử Nan và Hoàng Trung rằng: “Ta muốn lên am Ngoa Vân, nhưng chân không bước nổi, biết làm sao đây?”. Hai nhà sư thưa: “Đệ tử xin hết sức giúp đỡ”.

Image
Đỉnh Ngọa Vân (nằm trên mây)


Tới quá chiều vua Trần mới lên được đỉnh núi Ngọa Vân. Đây là ngọn núi cao nhất vùng thuộc làng Yên Sinh, huyện Đông Triều, quê gốc họ Trần. Trong thời gian tu ở Yên Tử, Trần Nhân Tông đã cho lập một am ở đây, đặt tên là Ngọa Vân (nằm trên mây), từ đó thành tên núi. Đôi khi người dừng chân đọc sách và tham thiền, nên đã có lối mòn đi tắt sang Yên Tử. Trần Nhân Tông cảm ơn hai nhà sư và bảo: “Thôi xuống núi ngay đi, chăm chỉ việc tu hành “.

Ngày 19, Trần Nhân Tông sai người hầu là Pháp Không lên núi Yên Tử gọi Bảo Sái. Bảo Sái tới suối Doanh, trông thấy một đám mây đen từ phía Ngoạ Vân bay qua núi Lỗi, đến suối thì nước dâng cao mấy trượng rồi lại phẳng lặng như thường. Bỗng thấy hai con rồng, đầu to như đầu ngựa cùng nghển cổ lên cao đến một trượng, hai mắt sáng như sao, một lúc thì biến mất.

Ngày 21, Bảo Sái tới Ngọa Vân. Trần Nhân Tông cười nói:

“Ta sắp đi đây, sao ngươi tới muộn thế? Trong pháp thuật có chỗ nào chưa hiểu thì hỏi ngay đi”

Mấy ngày liền, trời đất tối tăm, gió gào dữ dội, mưa như trút nước. Bỗng đêm ngày mồng Hai, rạng ngày mồng Ba tháng 11, trời quang mây tạnh. Vua hỏi: “Giờ này là giờ gì?“. Bảo Sái thưa: “Bây giờ là giờ Tý”. Vua đẩy cửa sổ ra và nói:

“Giờ của ta đó!”

Nói xong, người nằm dáng sư tử (sư tử ngọa), rồi tịch ngay trong am trên núi. Đó là ngày mồng Ba, tháng Mười một, năm Mậu Thân (1308).

Image
Am Ngọa Vân- nhỏ nhoi đơn sơ giữa núi rừng trùng điệp, nơi vua Trần nhập diệt


Trước khi tịch diệt về cõi niết bàn, Ngài bảo mọi người hãy xuống núi, sau đúng 100 ngày mới đến được đến gần, thấy núi thơm thì hãy hỏa táng thi hài, nếu không thì thôi. Mọi người tuân theo, đúng 100 ngày sau tới lưng chừng núi đã thấy thoang thoảng mùi thơm. Người vẫn nằm nghiêng dáng sư tử một mầm trúc non xanh mọc xuyên qua đùi trái.

Đời sau còn lưu luyến trong dân gian bài thơ về hình ảnh trên, trong đó có câu: “Thân Tổ nằm nghiêng, trúc một mầm…”.

Image
Tượng Phật Thương Hoàng Trần Nhân Tông trong tư thế nằm nghiêng (sư tử ngoạ) nhập Niết bàn với mầm trúc mọc xuyên qua đùi khi ngài tịch diệt. Trong Am Ngọa Vân.


Điều mà Ngài để lại cho thế nhân từ hình ảnh mầm trúc mọc từ thân thể ngài là gì, có lẽ chính là ngụ ý ghi dấu ấn Đệ Nhất Sư Tổ của Thiền Phái Trúc Lâm (“Trúc Lâm” nghĩa là “rừng trúc”) từ thời điểm đó…


Một thân thể tu luyện thành những viên kim cương lấp lánh? Những viên xá lợi của vua Trần hiện giờ đang ở đâu?

Image

Image

Những viên xá lợi đủ màu sắc lấp lánh ánh sáng và cứng như kim cương,
là “đan” luyện thành từ thân thể các hành giả tu luyện, không tiêu biến
đi khi hỏa táng, còn gọi là vật chất cao năng lượng, không tồn tại trong
người thường...




Tuyên theo di chúc của Ngài, Pháp Loa đã hỏa thiêu thi hài người sau 100 ngày khi thấy núi tỏa hương thơm.

Ngay sau hóa thân xác Ngài trên giàn hỏa, tổ thứ hai của Thiền Phái Trúc Lâm là Pháp Loa đến tưới nước thơm lên giàn hỏa, thu được ngọc cốt và hơn 3000 viên ngọc xá lợi lấp lánh…

Theo “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” và sách “Tam Tổ Thực Lục”, cùng các bằng chứng khảo cổ, các viên ngọc xá lợi này hiện đang được lưu giữ tại khoảng tám địa điểm khác nhau.

Việc hoả thiêu và có xá lợi được “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi rất rõ: “Pháp Loa đem xác của Thượng hoàng thiêu đi, nhặt được hơn 3.000 viên xá lị mang về chùa Tư Phúc ở Kinh sư…”.


Các địa điểm hiện đang lưu giữ ngọc xá lợi của vua Trần Nhân Tông là:


Phật Hoàng Tháp bằng đá trên đỉnh Ngọa Vân: Phật Hoàng tháp hiện vẫn còn đứng sừng sững uy nghiêm trên đỉnh Ngọa Vân, tháp 2 tầng, mặt trước khắc nổi bức đại tự Phật Hoàng Tháp (佛皇塔), trong lòng tháp đặt một bài vị bằng đá xanh, trang trí hoa lá và hình rồng, bài vị ghi “Nam mô đệ nhất tổ Trúc Lâm đầu đà Tĩnh tuệ giác hoàng Trần triều đệ tam Nhân Tông Hoàng đế Điều ngự vương phật”

Tháp Huệ Quang ở chùa Hoa Yên, Yên Tử: Huệ Quang Kim tháp (慧 光 金塔), hay Tuệ Quang tháp (慧 光塔), hay hiện nay được gọi là tháp Huệ Quang hoặc tháp Tổ là tháp lớn nhất được nằm ở khu vực trung tâm Vườn tháp tổ phía dưới chùa Hoa Yên trong quần thể di tích danh thắng Yên Tử, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Image
Vườn Tháp Tổ- Chùa Hoa Yên – Yên Tử


Image
Tháp Huệ Quang


Bảo tháp ở Đức Lăng (còn gọi là lăng Quy Đức, được xây dựng trong khu lăng tẩm nhà Trần xưa thuộc đất Tinh Cương, phủ Long Hưng, nay là Thôn Tam Đường, xã Tiến Đức huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình);

Tháp Phổ Minh ở khuôn viên chùa Phổ Minh, nằm ở phía Tây cung Trùng Quang phủ Thiên Trường, Nam Định, nơi Thượng hoàng nhà Trần ở sau khi nhường ngôi cho con;

Image
Tháp Phổ Minh


Bảo Tháp Tư Phúc trong Đại Nội Cấm Thành Thăng Long: Sau khi hỏa thiêu, ngọc cốt và xá lỵ của Điều Ngự được vua Trần Anh Tông rước về kinh thành. Ngọc cốt để vào bảo khám, xá lợi được để trong bình vàng quản tại chùa Tư Phúc trong Đại Nội. Chùa Tư Phúc chính là nơi trước khi lên ngôi vua, Trần Nhân Tông thường đến ngủ trưa và đã mộng thấy trên rốn trổ một bông hoa sen vàng lớn như bánh xe và hình ảnh 1 vị Phật trên đó.

Tháp Đại Thắng tư thiên bên hồ Lục Thủy hay thường gọi là tháp Báo Thiên tòa tháp nổi tiếng được xây dựng năm 1057 dưới thời Lý Thánh Tông trong khuôn viên chùa Báo Thiên nằm phía Tây hồ Lục Thủy, nay thuộc khu vực Nhà Thờ lớn Hà Nội.

Tự viện Quỳnh Lâm là nơi đào tạo tăng tài lớn nhất của Thiền phái Trúc Lâm thế kỷ 14, thuộc chùa Quỳnh Lâm, xã Tràng An huyện Đông Triều…. Tự Viện Quỳnh Lâm vốn được thiền sư Nguyễn Minh Không xây dựng từ thời Lý, thế kỷ 12, tại đây ông đã cho đúc một pho tượng Phật Di Lặc lớn, đó là một trong bốn vật khí lớn nhất của An Nam (An Nam Tứ khí).

Image
Tháp Quỳnh Lâm- Tự Viện Quỳnh Lâm


Qua những ghi chép sử sách và những bằng chứng khảo cổ học hiện có, chúng ta thấy dường như hành trình tu luyện của vua Trần Nhân Tông, từ rời bỏ ngai vàng vào núi tu hành đến từ bi cảm hóa chúng sinh, nhập diệt theo thế sư tử nằm, phân phát ngọc xá lợi đi khắp nơi của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, đều như một câu chuyện mô phỏng tái hiện thu nhỏ quá trình tu luyện, viên tịch và phân phát xá lợi của Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni. Trong chuỗi sự kiện đó thì Yên Tử là nơi vua Trần Nhân Tông tu luyện, giảng pháp, độ tăng, và Ngọa Vân là nơi kết thúc trọn vẹn quá trình tu luyện và nhập cõi niết bàn của vua Trần Nhân Tông, các nơi khác được lưu giữ xá lợi đều là những trung tâm lớn về chính trị, kinh tế hoặc tôn giáo dưới thời Trần.

Image
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập cõi niết bàn trong thế sư tử nằm (sư tử ngọa)


    Cảm Thán

    Từ bỏ đài son điện ngọc ngà
    Cung tần mỹ nữ chốn kiêu sa
    Yên Sơn Linh Tử vua Trần đến
    Kinh đô thành cũ mỗi bước xa
    Non xanh cắt tóc dứt trần duyên
    Vua đến nơi đây để nhập thiền
    Không phải trốn đời và yếm thế
    Cứu đời nhập thế với Thần Tiên

Vậy phải chăng, toàn bộ cuộc đời của vua Trần Nhân Tông là một sự sắp đặt hữu ý của Thiên Ý? Từ ngày Ngài ngài sinh ra, cho tới khi nhìn thấy bông hoa sen vàng trổ ra từ thân thể và nghe Phật danh đức Biến Chiếu Tôn, như để báo trước cho Ngài và thế nhân về Thiên mệnh Ngài mang tới cõi nhân gian. Sự từ bỏ ngai vàng điện ngọc để xuất gia tu hành của Ngài dường như không đơn giản là xuất phát từ mong muốn tìm kiếm giải thoát cá nhân cho riêng mình, từ sự lánh đời đi tu mà đã được đặt định trước để Ngài hạ thế, viết nên tấm gương tu hành và làm vững vàng đạo Phật tại đất Việt, đặt định vững chắc thêm nữa văn hóa tu luyện cho hậu thế.

Hà Phương Linh

Ghi chú: Những bài thơ được dùng trong bài viết nằm trong tập thơ Thi Vân Yên Tử- những vần thơ chấn động linh giác, tác giả Hoàng Quang Thuận.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80741
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46211 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 22nd, 2017, 11:31 pm
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: Lịch Sử Việt Nam

Postby DaMinhChau » February 27th, 2016, 3:01 pm


Tìm lại huy hoàng kỳ 7:
Vụ án ly kỳ lịch sử –
Mối oan tình của Đệ Tam Trúc Lâm Sư Tổ Huyền Quang



Image
Đỉnh thiêng Yên Tử (Ảnh: tripzilla.vn)


Tại non thiêng Yên Tử, 5 năm sau khi vua Trần Nhân Tông nhập niết bàn, còn chứng kiến một lần khảo nghiệm nữa với ý chí kiên định của người tu hành nơi đây, đó là khảo nghiệm với Huyền Quang Tôn Giả, Đệ Tam Sư Tổ của Thiền phái Trúc Lâm.

Huyền Quang Tôn Giả (1254-1334) tên là Lý Đạo Tái, đỗ Trạng Nguyên năm 21 tuổi, được bổ về Hàn Lâm Viện .

Theo Tam tổ thực lục (三祖實錄), mẹ của Huyền Quang là bà Lê Thị hay đến chùa Ngọc Hoàng cầu nguyện vì tuổi đã 30 mà chưa có con. Đầu năm Giáp Dần 1254, vị trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Huệ Nghĩa mơ thấy “các toà trong chùa đèn chong sáng rực, chư Phật tôn nghiêm, Kim Cương Long Thần la liệt đông đúc. Đức Phật chỉ Tôn giả A-nan-đà bảo: ‘Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Đông Độ và phải nhớ lại duyên xưa.

Năm ấy bà Lê Thị sinh Huyền Quang. Lớn lên Sư dung mạo dị thường, làm quan đến chức Hàn Lâm.

Một hôm, Sư cùng vua Trần Anh Tông (kế vị vua Trần Nhân Tông) đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phượng Nhãn, nghe Thiền sư Pháp Loa (tổ thứ 2 của Thiền phái Trúc Lâm) giảng kinh, liền nhớ lại “duyên xưa“, xin xuất gia thụ giáo. Sư được cử làm thị giả của Trúc Lâm Đầu Đà (Trần Nhân Tông) và được ban pháp hiệu là Huyền Quang.

Năm Quý Sửu (1313), khi ấy Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông đã tọa hóa (1308), sư Huyền Quang bị cung nữ Điểm Bích thời vua Trần Anh Tông gây ra câu chuyện oan tình.

Điểm Bích là ai?


Image
Điểm Bích- Người con gái sắc nước hương trời của huyện Đường An. (Ảnh minh họa)


Theo các sách cổ và bia ký ghi lại thì Điểm Bích họ Nguyễn, lấy theo họ mẹ, người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, nay thuộc xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, sinh vào cuối thế kỷ XIII.

Điểm Bích lớn lên ngày càng xinh đẹp, lại thông minh, 9 tuổi đã đ­ược tuyển làm cung nữ, vua khen là nữ thần đồng.

Vụ án oan tình chùa Hoa Yên: Yên Tử chứng kiến lòng kiên định trong sáng của Huyền Quang

Image
Đất trời Yên Tử chứng kiến lòng kiên định trong sáng của sư Huyền Quang.


Đương thời từ dân gian đến quan triều người ta cho rằng Huyền Quang là một người chân tu. Ông cũng đã từ chối hôn nhân với công chúa Liễu. Vì thế mà suốt 30 năm làm việc ở triều đình ông chưa hề cùng ai. Cuộc đời trong sáng đó không dễ ai cũng tin, nhất là tầng lớp Nho sĩ.

Bấy giờ trong triều Điểm Bích đang độ thanh xuân, tài sắc tuyệt vời. Vua Trần Anh Tông quyết định chọn Điểm Bích làm người kiểm nghiệm sự chân tu của Huyền Quang và dặn: “Phải lấy được vàng của Huyền Quang, nếu lão tăng còn dục vọng sắc tình”. Khi Huyền Quang ở Yên Tử tuổi đã ngoài 60, nhưng chỉ là đệ tử của Pháp Loa, vì khi ông xuất gia đã 52 tuổi. Nếu Điểm Bích “lấy được vàng của lão tăng”, sẽ mặc định là Huyền Quang phải động lòng trước giai nhân, tức chưa bỏ được dục vọng trần tục.

Từ kinh thành Thăng Long, Điểm Bích cùng một tiểu tì đến chùa Hoa Yên (Vân Yên), xin ở nhờ một bà vãi già. Lấy cớ xuất gia học đạo, ngày ngày nàng mang nước đến chỗ Huyền Quang. Qua nhiều lần tiếp xúc, Huyền Quang như không để ý đến người con gái xinh đẹp, dịu dàng hiếm thấy, nhưng thực tế thì sư quan sát rất kỹ nên hiểu thấu nội tâm nàng. Sư khuyên Điểm Bích hãy trở về, khi nào cao tuổi mới có thể tu được.


Image
Chùa Hoa Yên (Vân Yên), Yên Tử. (Ảnh: Internet)


Một hôm, nàng tự xưng là con quan huyện thừa huyện Cẩm Hoá. Nàng kể cha nàng mang 15 cân vàng nộp công khố, không may bị kẻ gian lấy cắp, may nhờ người thân và xóm giềng giúp đỡ đã gần đủ, nay nhờ sư phát tâm làm phúc cho chút đỉnh để trọn đạo với cha, nếu không, cha nàng sẽ mang trọng tội.

Huyền Quang động lòng thương cảm, nói với tăng ni: “Ta vì người này để quảng đức hiếu sinh của Hoàng đế và làm một lương đồ cứu khổ cho chúng sinh”.

Một tiểu tăng nói: “Pháp luật là công cộng của thiên hạ, kẻ có của không biết giữ gìn cẩn thận, theo pháp luật mà trị là điều lệ công. Nay ta mang vàng công đức để lấy ơn riêng. Vậy có nên lấy ơn riêng mà bỏ phép công không?”. Huyền Quang thấy thế là phải, song vì lòng thương, người vẫn lấy một dật vàng (nén vàng) cho Điểm Bích.

Lấy được vàng, Điểm Bích trở về kinh đô, dựng nên một chuyện hoàn toàn khác sự thật, tâu vua: “Một hôm sư lên chùa tụng kinh, đến trống canh ba, sư cùng các tăng ni về buồng ngủ. Thần thiếp đến bên cạnh phòng của sư, xem sư làm gì. Một lúc sau, sư ngâm một bài kệ rằng:

    Vằng vặc trăng soi đáy nước,
    Hiu hiu gió trúc ngâm sênh.
    Người hoà tươi tốt cảnh hoà lạ,
    Mâu Thích Ca nào thú hữu tình.

Sư ngâm nga mấy lần. Thần thiếp thấy sư còn thức, vào phòng xin phép sư về thăm mẹ, sang năm lại đến học đạo. Sư giữ thần thiếp lại một đêm và cho thần thiếp một dật vàng”.

Nghe xong, vua uất ức, nói: “Nếu việc ấy có thực thì ta đã đạt được kế giăng lưới bắt chim. Nếu việc ấy không có, thì sư này cũng không tránh khỏi cái nghi ngờ qua ruộng dưa mà sửa giày.”

Tấm lòng trong sáng được trời đất chứng minh: mối oan tình được rửa sạch

Vua sai mở hội Vô già ở phía tây kinh thành, mời Huyền Quang về làm án pháp. Sư về đến Thăng Long, thấy sự thể, biết mình đã bị lừa. Sư ngửa mặt lên trời, than vãn, lạy ba lần; cúi xuống đất, lạy ba lần; rồi đứng lên đàn tràng vọng bái mười phương.

Image
Kinh thành Thăng Long (Ảnh: Wikipedia)


Chuyện kỳ lạ bỗng xảy ra: Đang trời quang mây tạnh, vậy mà khi sư Huyền Quang cầu đảo, phút chốc gió mây mịt mù cuốn trôi hết đồ vàng bạc tạp phẩm, chỉ còn lại hương đèn đại lễ. Vua Trần Anh Tông trước cảnh tượng trời đất minh chứng cho tấm lòng trong sạch của Huyền Quang, thấy nỗi oan khiên thông thấu lòng người cùng đất trời, liền vội vàng xuống đàn, xin lỗi sư và giáng Điểm Bích làm người quét chùa Cảnh Linh ở nội điện.

Từ đó mối oan tình của quốc sư được rửa sạch.

Ngày 5 tháng 2 năm Khai Hựu thứ hai (1330), Pháp Loa đang giảng kinh ở Viện An Lạc thì đột ngột mắc bệnh. Sư về Viện Quỳnh Lâm tĩnh dưỡng nhưng bệnh càng trở lên trầm trọng. Thấy khó qua khỏi, sư cho mời Huyền Quang đến, trao cho những bảo bối mà 22 năm trước Điều ngự Đầu đà Trần Nhân Tông đã trao cho sư trước khi nhà vua băng hà, như: áo cà sa, tâm kệ, và nói rằng: “Huyền Quang sẽ là người hộ trì, thừa kế sự nghiệp“. Đêm mồng 3 tháng 3 năm ấy, Pháp Loa viên tịch tại Viện Quỳnh Lâm. Kể từ đó, sự nghiệp của Thiền phái Trúc Lâm do Huyền Quang chủ trì và trở thành vị Tổ thứ ba của thiền phái này.

Image
Tượng tam tổ Huyền Quang tại Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt. (Ảnh: wikipedia)


Huyền Quang từng ở chùa Thanh Mai 6 năm, rồi về trụ trì chùa Côn Sơn. Ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1334), sư viên tịch tại chùa Côn Sơn. Vua Trần Minh Tông cho 10 lạng vàng xây tháp ở bên tả phía sau chùa, lấy tên là Đăng Minh bảo tháp, đặc phong tự pháp Huyền Quang tôn giả, Tháp Huyền Quang hiện nay vẫn còn, ở sau chùa Côn Sơn, trên đường lên Bàn Cờ tiên và Thanh Hư động.

    Oan Tình

    Đệ tam Tổ Trúc Lâm – Huyền Quang
    Oan tình Điểm Bích bởi giật vàng
    Anh Tông sao nỡ gây phiền lụy
    Quốc Sư khó tránh mối ngờ oan
    Vua bèn cho mở hội Vô Già
    Đồi mồi vàng bạc với cà sa
    Quyến vàng căng lụa, nhang đèn lễ
    Thiền sư vọng bái, nổi phong ba
    Cát bụi bay tung cả đất trời
    Bạc vàng châu ngọc gió cuốn trôi
    Chỉ còn sót lại đèn nhang lễ
    Oan tình cháy mãi, mãi không thôi.

    (Tác giả: Hoàng Quang Thuận)

Image
Đăng Minh Bảo Tháp, tức Tháp Huyền Quang- chùa Côn Sơn

Image
Tháp Huyền Quang, Yên Tử


Lại ngẫm, nước chảy sông trôi, nếu thực sự đệ tam sư tổ của Trúc Lâm Thiền Phái Huyền Quang là An Nan Đà đầu thai, thì mục đích để làm gì? Liệu có phải chỉ đơn giản để lưu lại một câu chuyện oan tình trong lịch sử cho người đời sau? Có lẽ, là để lưu lại mãi mãi một câu chuyện về tấm lòng thanh sạch và kiên trung của một người, như gương sáng không bụi bẩn không tì vết, có thể cảm động thấu trời đất, có thể hóa giải mọi nỗi oan khiên. Cũng có lẽ là mong con người ngày nay, vào thời loạn thế này, dù vấp ngã hay oan ức, khổ đau, hãy giữ tín niệm kiên định với Thần Phật, sống đức hạnh thủy chung, như câu thành ngữ “Trời nào phụ kẻ có nhân?”
———————————————-

    Tỉnh mộng

    Luân hồi chuyển thế mấy nghìn năm
    Đến đến đi đi tại cớ gì?
    Công danh lợi lộc nào giữ mãi?
    Thế đạo hưng suy định bởi Trời
    Sinh mệnh vốn là Tiên thiên thượng
    Thành bại trong đời mây khói bay
    Thị phi vốn là ân oán trước
    Đắc Pháp tỉnh mộng về cố hương.

    (Tác giả: Minh Tịnh)

Hà Phương Linh

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80741
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46211 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 22nd, 2017, 11:31 pm
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: Lịch Sử Việt Nam

Postby DaMinhChau » February 29th, 2016, 3:08 pm


Tìm lại huy hoàng kỳ 8:
Nội hàm của bia tiến sĩ Văn Miếu làm chấn động kẻ sỹ thời nay


Image
Nội dung bia Văn Miếu có thể sâu sắc và rộng lớn gây chấn động cho kẻ sỹ thời nay... (Ảnh: www.bestprice.vn)


Đi lễ Văn Miếu Quốc Tử Giám ngày đầu Xuân đã trở thành phong trào mới nở rộ từ khoảng năm 2000, nhà nhà đi lễ Văn Miếu để cầu mong điều tốt lành và xin chữ, ước vọng một năm mới sự nghiệp thành công, học hành đỗ đạt.

Image
Bia Văn Miếu trường tồn với thời gian… (Ảnh: internet)


Ai cũng đi qua những nhà bia tiến sĩ Văn Miếu, biết rằng đó là những tấm bia ghi danh tiến sĩ qua các thời kỳ lịch sử, nhưng trong số hơn 15 nghìn người tới lễ Văn Miếu tết Bính Thân năm nay, mấy ai ngờ rằng nội dung bia Văn Miếu lại có thể sâu sắc và rộng lớn đến thế, có thể gây chấn động cho kẻ sỹ thời nay…

Image
Kẻ sỹ ngày nay cầu tài bằng cách “sờ đầu cụ Rùa” ở bia Văn Miếu, có phải thế chăng? (Ảnh: internet)


“Nếu kẻ nào nhờ vào việc thi đỗ để làm cái cầu ấm no, mượn con đường ấy để làm lối tắt ra làm quan, chỉ biết mưu cho thân, không nghĩ đến việc nước thì người ta sẽ chỉ tận tên mà nói: Kẻ này gian, kẻ này nịnh, kẻ này đặt việc nhà lên trên việc nước, làm gầy người béo mình, kẻ này hãm hại người thiện, bè đảng với lũ gian, nhơ nhuốc cho khoa mục”.

(Trích văn bia khoa thi 1478)


Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, hay bia tiến sĩ Văn Miếu-Quốc Tử Giám
là các bia đá có những bài văn bia hào hùng và ghi tên những người đỗ Tiến sĩ các khoa thi thời Lê Sơ, thời Mạc và thời Lê Trung Hưng (1442-1779) tại Văn Miếu -Quốc Tử Giám Hà Nội. Các bia đá này đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới thuộc Chương Trình Ký Ức Thế Giới ngày 9/3/2010 tại Ma Cao. Sau Mộc bản triều Nguyễn, bia Tiến sĩ Văn Miếu trở thành di sản tư liệu thứ hai của Việt Nam được đưa vào danh mục Di sản tư liệu thế giới.

82 tấm bia được dựng từ năm 1484 (niên hiệu Hồng Đức thứ 15) đến năm 1780 (niên hiệu Cảnh Hưng thứ 41), khắc các bài văn bia đề danh tiến sĩ Nho học Việt Nam của các khoa thi Đình từ năm 1442 (niên hiệu Đại Bảo thứ 3) đến năm 1779 (niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40) với nội dung, hàm ý, cấu tứ sâu sắc thật sự là tài sản quý giá của lịch sử thế giới.

Những lời răn dạy sâu sắc của bia Văn Miếu khiến kẻ sỹ thời nay phải giật mình…

Lời lẽ nghiêm khắc, câu từ sắc bén như nhát kiếm, ý tứ thâm thúy của người xưa khiến cho kẻ sỹ ngày nay kinh ngạc. Với những câu từ xúc tích đầy hình ảnh như “làm gầy người béo mình”, “ngoài ngọc trong đá, tiếng phượng hoàng và lông diều hâu”, “gian tà mà hèn nhát”, “quỳ gối uốn mình”, “tô vẽ giả dối”, “ngọc vết khó giấu”, “đá vết khó mài”, người xưa đã thực sự răn dạy các tiến sĩ các đời: tài phải đi liền với đức, cốt yếu phải giữ được tấm lòng thanh liêm trong sạch vì bia đá còn lưu mãi đó…


“Kẻ sĩ ở đời này, thấm nhuần ơn huệ, mang đội nhân sâu, vậy báo đáp phải nên thế nào? Ắt phải có chí khí tiết tháo ngọc vàng, tấm lòng trung trinh sắt đá, phải luôn trau chuốt cho trong sạch sáng quang, rèn giũa tiết hạnh, thề giữ đức trong trắng tứ tri, theo đúng đạo thận cần tam pháp, lấy chính trực trung hậu mà đứng giữa triều đình, lấy đạo đức nhân nghĩa phò tá chinh sự, làm đá tảng cột trụ ở chốn miếu đường, đưa quốc gia đến chỗ vững yên, như Thái Sơn bàn thạch, ngõ hầu không phục với sở học, không thẹn với khoa danh, mà họ tên khắc trên đá cứng có thể trường tồn không nát vậy”.

(Trích văn bia khoa thi 1733)


Mục đích của bia tiến sĩ Văn Miếu liệu có phải chỉ để rạng rỡ lưu danh?

    “Một khi đã khắc tên lên tấm đá này người đời sau đến xem sẽ chỉ tên và bảo nhau: người này được, người kia hỏng; người này hay, người kia dở; nhờ đó mà kẻ thiện biêt tự khuyến khích, kẻ sác biết tự răn đe. Thế thì tấm đá này dựng lên, há chỉ chuộng hư danh làm cho đẹp mắt mà thôi đâu! Ý nghĩa sâu xa của sự khuyến khích răn đe chính gửi ở trong đó”.

    (Trích văn bia khoa thi năm 1583)

    “Những người có chức quan vẫn thường nghiền ngẫm trung nghĩa, dồi mài liêm cần, nguyện làm vị Trạng nguyên trung hiếu, làm bậc quân tử ngọc vàng, ngõ hầu không hỗ thẹn với các bậc tu thân toàn mỹ đời trước. Thảng hoặc có kẻ ngoài ngọc trong đá, tiếng phượng hoàng mà lông diều hâu, làm kẻ gian tà hèn nhát, làm kẻ tầm thường a dua nịnh hót không biết hổ thẹn bởi sự chỉ trích chê bai của người đời sau”.

    Vậy tấm đá này dựng lên uy nghiêm suốt cả ngàn năm, công luận phải trái vẫn còn đó, há chẳng đáng sợ lắm thay”.

    (Trích văn bia khoa thi 1554)

    “Kẻ sĩ được ghi tên vào tấm đá này, ắt nên giữ lòng trong sạch, tiết tháo kiên trinh, giúp đời hành đạo, giúp vua ban ơn cho dân, ngõ hầu công danh sự nghiệp được khắc vào chuông đỉnh, thêu lên cờ hiệu, cùng với tấm đá này soi tỏ mới không hổ thẹn với khoa danh. Thảng hoặc có kẻ quỳ gối uốn mình, tô vẽ giả dối, ngọc vết khó giấu, đá vết khó mài, công luận ngàn năm, há chẳng đáng sợ sao! Thế thì dựng bia đá này chẳng phải riêng để bồi đắp Nho phong mà còn để giồi mài sĩ khí, việc đó có quan hệ đến thanh danh giáo hóa thật lớn vậy”.

    (Trích văn bia khoa thi năm 1748)

    “Thánh nhân tác thành nhân tài, mà hiền tài làm cho nền trí trị được bền vững lâu dài. Cho nên nuôi dưỡng người tài năng ở trường học, dung khoa mục để tuyển chọn, là để cho họ làm rạng rỡ pháp độ của vua, làm mưu lược của vua được tốt đẹp, há chỉ cốt làm vẻ hào nhoáng bên ngoài mà thôi đâu! Lớn có thể làm rường cột, nhỏ có thể làm rui mè. Người dũng sĩ, kẻ tâm phúc không ai không được tin dùng, như vậy mới không phụ ý nuôi dưỡng khích lệ nhân tài của nước nhà”.

    (Trích văn bia khoa thi năm 1772)


Toàn văn tấm bia tiến sĩ đầu tiên tại Văn Miếu

Năm 1484, với chủ chương đề cao Nho học và tôn vinh bậc tri thức Nho học đỗ đại khoa, vua Lê Thánh Tông đã cho dựng các tấm bia tiến sĩ đầu tiên tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám cho các khoa thi Đình các năm trước đó của nhà Hậu Lê, 7 bia đầu tiên, trong số 82 bia, được dựng năm này.

Chúng tôi trích toàn văn nội dung bản dịch văn bia đầu tiên này:

    Lớn lao thay! Thánh triều ta, Thái Tổ Cao hoàng đế, trời ban trí dũng, nghiệp lớn kinh luân, diệt bạo trừ tàn, cứu dân sinh khỏi chốn lầm than. Ngay khi vũ công đại định, văn đức sửa sang, muốn chiêu tập hiền tài, canh tân chính trị. Bèn xuống chiếu cho các nơi trong nước dựng nhà học để đào tạo nhân tài. Tại kinh đô có Quốc tử giám, ngoài các phủ có trường học. Thánh thượng đích thân chọn con cháu quan viên và thường dân tuấn tú vào làm học sinh ở các cục Nhập thị, Cận thị, Ngự tiền, cùng là giám sinh ở Quốc tử giám. Lại sai quan chuyên trách rộng chọn con em các nhà lương thiện vào làm sinh đồ ở các trường phủ, cử thày dạy dỗ, in kinh sách ban phát, đất trồng tài năng thực đã rộng mở. Còn như phép tuyển chọn kẻ sĩ, hoặc hỏi nghĩa lý kinh điển, hoặc các đề phú luận, hoặc Thánh thượng đích thân ra đề thi văn sách, tùy tài học từng người mà bổ dụng. Lúc bấy giờ tên gọi khoa thi Tiến sĩ tuy chưa đặt ra, nhưng thực chất đề cao Nho học và phép chọn người thì đại khái đã có đủ. Nền thái bình muôn thuở thực đã bắt đầu từ đây.

    Ôi! Thái Tông Văn hoàng đế nối giữ nghiệp lớn, làm rạng rỡ ông cha, xem xét nhân văn, giáo hóa thiên hạ. Lấy việc trọng đạo Nho làm việc hàng đầu, coi kén chọn anh tài tôn trọng hiền sĩ làm mưu lược tốt. Nghĩ việc đặt khoa thi, kén kẻ sĩ là chính sự cần làm trước nhất. Tô điểm cơ đồ, khôi phục mở mang trị hóa chính là ở đây; mà sửa sang chính sự, sắp đặt công việc, giáo hóa dân phong mỹ tục cũng là ở đây, các bậc đế vương đời xưa làm nên trị bình đời nào cũng theo thế.

    Thánh Tổ Cao hoàng đế đã định quy mô, nhưng chưa kịp thi hành. Làm rạng rỡ đời trước, khuyến khích đời sau, nay chính là lúc làm việc này. Bèn vào năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) rộng mở xuân vi thi Hội cho các sĩ nhân trong nước. Bấy giờ số dự thi đông đến 450 người. Qua bốn trường, lấy trúng cách được 33 người. Quan Hữu ti chuyên trách kê tên dâng lên, Thánh thượng sai chọn ngày ban cho vào sân rồng ứng đối. Lúc ấy Đề điệu là Thượng thư Tả Bộc xạ Lê Văn Linh, Giám thí là Ngự sử đài Thị Ngự sử Triệu Thái, cùng các quan Tuần xước, Thu quyển, Di phong, Đằng lục, Đối độc ai nấy đều kính cẩn thi hành công việc. Ngày mồng 2 tháng 2, Thánh thượng ra ngự ở điện Hội Anh, đích thân ra đề thi văn sách. Ngày hôm sau các viên Độc quyển là Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ kiêm Trung thư Quốc sử sự Nguyễn Trãi, Trung thư sảnh Trung thư Thị lang Nguyễn Mộng Tuân, Nội mật viện Tri viện sự Trình Thuấn Du, Quốc tử giám Bác sĩ Nguyễn Tử Tấn nâng quyển tiến đọc. Hoàng thượng sáng suốt ngự lãm, xét định thứ bậc cao thấp. Ban cho Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Như Đổ đỗ Bảng nhãn, Lương Như Hộc đỗ Thám hoa lang; bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ Tiến sĩ, bọn Ngô Sĩ Liên 23 người đỗ Phụ bảng . Đó là gọi theo danh hiệu đã có từ đời trước.

    Ngày mồng 3 tháng 3, xướng danh treo bảng, để tỏ cho kẻ sĩ thấy sự vẻ vang. Ân ban tước trật để nêu cao nổi bật với dân thường, ban áo mũ cân đai để đẹp cách ăn mặc, cho dự yến vườn Quỳnh để tỏ ơn huệ, cấp ngựa về quê để rõ lòng đặc biệt mến yêu. Kẻ sĩ và dân chúng Trường An đâu đâu cũng tụ tập đến xem, đều ca ngợi Thánh thượng chuộng Nho xưa nay hiếm thấy.

    Ngày mồng 4, bọn Trạng nguyên Nguyễn Trực lạy chào dâng biểu tạ ơn. Ngày mồng 9, lại vào bệ kiến cáo từ, xin được vinh quy. Đó là khoa thi đầu tiên đời thánh triều được ơn vinh long trọng, đến nay kẻ sĩ vẫn còn tấm tắc ngợi ca. Từ đó về sau thánh nối thần truyền, đều tuân theo lệ cũ.

    Thánh hoàng trung hưng nghiệp lớn, rộng mở nhân văn, đổi mới chế độ, lừng lẫy tiếng tăm. Đặc biệt về phép lựa chọn kẻ sĩ lại càng lưu tâm chú ý: phàm những định lệ triều trước đã thi hành thì noi theo giữ gìn, những việc triều trước chưa đủ thì mở rộng thêm. Sau khi truyền lô yết bảng, lại cho dựng đá đề danh để truyền lại lâu dài. Phép hay ý tốt khuyến khích thật rất mực chu đáo tận tình. Tốt thay, thịnh thay

    Nay xét các khoa thi Tiến sĩ từ năm Đại Bảo thứ 3 đến nay đều chưa được dựng bia, bọn Thượng thư Bộ Lễ Quách Đình Bảo vâng mệnh Hoàng thượng đem họ tên thứ bậc người thi đỗ khắc lên đá tốt, đồng thời xin đem danh hiệu Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa lang đổi làm Tiến sĩ cập đệ, người đỗ Phụ bảng đổi gọi là đồng Tiến sĩ xuất thân để cho hợp với quy chế hiện nay. Hoàng thượng chuẩn tấu, sai từ thần là bọn Thân Nhân Trung chia nhau soạn bài ký

    Thần kính vâng lời ngọc, khôn xiết vui mừng. Kính nghĩ việc dựng bia khắc đá là cốt để làm cho ý tốt cầu hiền tài và đạo trị nước của thánh tổ thần tông được lưu truyền mãi mãi. Đó chính là phép lớn để rèn dũa người đời và là điều rất may cho Nho học. Thần tuy vụng về nông cạn, đâu dám chối từ. Kính cẩn cúi rập đầu mà ghi rằng

    Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết. Vì kẻ sĩ có quan hệ trọng đại với quốc gia như thế, được quý chuộng không biết dường nào, đã được đề cao bởi khoa danh, lại được ban trọng tước trật. Ơn ban đã nhiều mà vẫn coi là chưa đủ. Lại nêu tên ở Tháp Nhạn, ban danh hiệu Long Hổ để ngợi khen. Báo tin mở tiệc, triều đình mừng được người tài, không việc gì không làm hết mức.

    Nay Thánh thượng anh minh, lại nhận thấy rằng việc lớn tốt đẹp tuy đã vẻ vang một thời, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ để lưu truyền lâu dài cho hậu thế. Vì thế lại cho khắc đá đề danh dựng ở cửa nhà Thái học để cho kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ phấn chấn, rèn luyện danh tiết, hăng hái kính giúp nhà vua. Há phải chỉ là chuộng hư danh, sính hư văn mà đặt ra đâu

    Ôi! kẻ sĩ ở chốn trường ốc lều tranh, danh phận thật là nhỏ mọn mà được triều đình đề cao hết mực như thế, thì người mang danh kẻ sĩ phải trọng thân danh mình mà lo báo đáp, phải nên thế nào?

    Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại, thì thấy nhiều người đã đem tài năng văn học, chính sự để tô điểm cho nền trị bình, mấy chục năm qua được quốc gia trọng dụng. Cũng không phải là không có kẻ vì tham lam hối lộ mà hư hỏng hoặc rơi xuống hạng gian tà, có lẽ vì lúc sống bọn họ chưa được nhìn thấy tấm bia này. Ví thử đương thời chính mắt họ trông thấy, thì lòng thiện được khuyến khích mà ý xấu được ngăn ngừa, mầm nghiệt đâu dám nảy sinh? Thế thì việc dựng bia khắc đá này có lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện lấy đó làm gắng, biết rõ dĩ vãng, rộng nhìn tương lai, vừa là để rèn giũa danh tiết của kẻ sĩ, vừa là để củng cố mệnh mạch nước nhà. Việc lớn mà Thánh tổ Thần tông đặt ra đâu phải là vô ích. Vậy những ai xem đến tấm bia này cũng nên hiểu ý sâu xa đó

    Thần kính cẩn làm bài ký.


Soi lại cho thời nay

Lại ngẫm, bấy lâu nay, người ta chỉ nói về bia ghi danh tiến sĩ Văn Miếu để tôn vinh và cổ súy danh vọng của các bậc làm quan đỗ đạt, người ta chỉ tới Văn Miếu để cầu đỗ đạt, mà không hề thấu được nội dung sâu xa hơn, vốn hiện rõ mồn một trên mặt bia Văn Miếu, đó những lời cảnh báo răn dạy nghiêm khắc về sự tha hóa hư hỏng của các bậc đỗ đạt làm quan, của những người có quyền có chức, có thể sử dụng tài nguyên đất nước, sử dụng tài nguyên con người, nhưng lại cho mục đích nhỏ bé tư lợi…

Soi chiếu những lời trên với thực trạng thời nay, độc giả có thể buồn cho những quan chức bon chen xu nịnh, ham hố chức quyền, mua danh bán tước, vơ vét tư túi… Nhưng cũng hy vọng rằng, lời người xưa không chỉ để người thanh liêm đọc rồi ngẫm, và buồn cho nhân tình thế thái, mà những ai đang ở trong vòng xoáy danh vọng kia, có thể giật mình nhìn lại, không coi lời người xưa như những lời sáo rỗng, để kịp thời dừng lại trên con dốc trượt…

Hy vọng rằng, sẽ có nhiều “vị tiến sĩ” thời nay nghiền ngẫm những văn bia này để tự nhắc nhở mình, thực sự lo tu tài, tích đức mà lo cho nước, cho dân.

Biết đâu sẽ còn vị trong quan trường có sáng kiến, nên chăng làm văn bia ghi danh các “lãnh đạo” ngày nay, để cho “Kẻ sĩ được ghi tên vào tấm đá này, ắt nên giữ lòng trong sạch, tiết tháo kiên trinh, giúp đời hành đạo, giúp vua ban ơn cho dân, ngõ hầu công danh sự nghiệp được khắc vào chuông đỉnh, thêu lên cờ hiệu, cùng với tấm đá này soi tỏ mới không hổ thẹn với khoa danh”?

Và để cho: “Một khi đã khắc tên lên tấm đá này người đời sau đến xem sẽ chỉ tên và bảo nhau: người này được, người kia hỏng; người này hay, người kia dở; nhờ đó mà kẻ thiện biêt tự khuyến khích, kẻ sáo biết tự răn đe. Thế thì tấm đá này dựng lên, há chỉ chuộng hư danh làm cho đẹp mắt mà thôi đâu! Ý nghĩa sâu xa của sự khuyến khích răn đe chính gửi ở trong đó”

Hà Phương Linh tổng hợp và biên soạn
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80741
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46211 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 22nd, 2017, 11:31 pm
Country: United States of America
    Windows 7 Firefox

Re: Lịch Sử Việt Nam

Postby DaMinhChau » March 13th, 2016, 11:47 pm


Tìm lại huy hoàng: Vở diễn lớn của trời xanh:
Trung – Hiếu – Nghĩa thời Đinh Lê 1000 năm trước


Image
Cõi nhân sinh như mộng thoảng, quá khứ đẹp đẽ tráng lệ thuở nào. Người xưa quay trở về, nhìn lại đã nghìn năm trôi qua...


Cõi nhân sinh như mộng thoảng, quá khứ đẹp đẽ tráng lệ thuở nào. Người xưa quay trở về, nhìn lại đã nghìn năm trôi qua…

Kinh thành đất Việt ngày xưa ấy, núi rừng trùng điệp, non nước đẹp như thơ, hai vị hoàng đế Đinh -Lê trong những chiếc áo bào uy nghi lộng lẫy ra trận, hoàng hậu ghim cài gương soi, những vị quan văn quan võ chính trực thành tín, công chúa thanh tao hiền thục, những thiên tình sử triều đình bi thương mà khí phách, những trung thần oai hùng tuẫn tiết theo vua, họ trở về như bức tranh đối lập với con người hiện đại vội vã mệt mỏi với guồng quay bận rộn của cuộc sống và những lo toan cá nhân dường như bất tận….

Lòng bỗng chùng xuống, dịu lại, êm ả bước vào bức tranh cổ tích…

Là con người hiện đại của thời nay, trong cuộc sống hối hả này, khi dừng lại trong một khoảng tĩnh lặng, chợt thấy rằng những vẻ đẹp Trung – Hiếu – Nghĩa ấy là vẻ đẹp lẫm liệt và vĩnh cửu.

Mời quý độc giả lên xe bước vào hành trình ngược về quá khứ, tìm lại năm tháng huy hoàng thuở nào.

Tìm lại huy hoàng kỳ 7: Kinh thành Hoa Lư- Những trang hùng sử khắc ghi những tấm lòng Trung –Hiếu- Nghĩa của triều đại Đinh Lê 1000 năm trước (Phần 1)

Image
Kinh thành đất Việt ngày xưa ấy, núi rừng trùng điệp, non nước đẹp như thơ


I. Đinh Bộ Lĩnh, chân mệnh đế vương, thống nhất giang sơn, xưng đế dựng lập kinh đô Hoa Lư nước Đại Cồ Việt – vùng đất “địa linh nhân kiệt”, “sơn thanh thủy tú”

Triều Đinh Lê thế kỷ 10 gắn với giai đoạn lịch sử đặc biệt của Việt Nam, giai đoạn của kỷ nguyên độc lập, tự chủ và phục hưng dân tộc sau 1000 năm Bắc thuộc.

Thành tựu của thế kỷ này là sự thành lập và củng cố chính quyền độc lập từ nền móng ban đầu của chính quyền họ Khúc, họ Dương đến vương triều Ngô, Đinh, tiền Lê; trong đó nhân vật lịch sử Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn đã ghi dấu những mốc son chói lọi. Đinh Bộ Lĩnh, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, trở thành vị Hoàng đế khai sáng đầu tiên của nước Đại Cồ Việt độc lập sau một ngàn năm phương Bắc đô hộ.

1. Chân mệnh đế vương từ thuở lọt lòng: hai chữ “Thiên tử” báo hiệu người mang thiên mệnh tới thế gian.

Đinh Bộ Lĩnh là con của ông Đinh Công Trứ (quê ở làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng tức thôn Văn Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình ngày nay) và bà Đàm Thị. Ông Đinh Công Trứ vào Châu Ái (Thanh Hóa ngày nay) tham gia cuộc khởi nghĩa của Dương Đình Nghệ, được phong làm thứ sử Châu Hoan (nay là Nghệ An). Đến thời Ngô Quyền (con rể của Dương Đình Nghệ), ông Đinh Công Trứ vẫn được làm thứ sử Châu Hoan.

Sách sử chép lại rằng, Đinh Bộ Lĩnh sinh ra trong khoảnh khắc: “Hôm ấy trời đang nắng chang chang, bỗng sấm chớp nổi lên ầm ầm, mây đen vần vũ”. Khi bà Đàm Thị khai hoa nở nhụy, những nguời vào động lễ sơn thần thấy trên các cây sen núi, lá nào cũng có vệt sên bò thành chữ “Thiên tử” (nghĩa là con của Trời).

Sau khi ông Đinh Công Trứ mất, bà Đàm Thị đưa Đinh Bộ Lĩnh về quê ở động Hoa Lư, sống nương nhờ vào người chú của Đinh Bộ Lĩnh là Đinh Thúc Dự.

Từ nhỏ, Đinh Bộ Lĩnh đã có biệt tài về bơi lội. Dòng sông chảy qua làng rất lớn, rất sâu và xiết, chỉ có Đinh Bộ Lĩnh mới bơi ra được giữa dòng, lặn sâu xuống bắt được cá. Ai muốn ba ba to chừng nào chỉ cần lấy tay vẽ lên cát, đứng chờ một lát Lĩnh sẽ bắt lên đúng như hình vẽ này. Chính tài lạ này khiến cho dân làng càng tin Lĩnh là con của Thần, bởi vì người thường thì làm sao có thể bơi lặn giỏi như thế. Không chỉ có tài về bơi lặn, Đinh Bộ Lĩnh còn là một tài năng quân sự ngay từ thuở còn chăn trâu cắt cỏ. Dưới bóng cờ lau, ông và các bạn thân cùng trang lứa ở Sách Bông như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ đã thao tập, luyện rèn, tập đánh trận giả.

Thấy Đinh Bộ Lĩnh có nhiều tài lạ, các “huynh đệ” chăn trâu tôn làm “vua”, khoanh tay giả làm ngai vàng để rước theo lễ, lấy hoa lau làm cờ cho quân mang phía trước và có các “quan” đi rước ở hai bên, giống như nghi thức rước thiên tử của triều đình. Đội quân trẻ trâu của Đinh Bộ Lĩnh thường “chiến đấu” với đám trẻ trâu ở những làng khác, tiến thoái có quy củ và đánh đâu… thắng đó làm cho “quân địch” vừa sợ vừa phục, khiến Đinh Bộ Lĩnh được tôn vinh “Vạn Thắng Vương”.

Image


Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “”Vua mồ côi cha từ bé, mẹ họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần trong động. Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng. Bọn trẻ tự hiểu kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn ông làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử. Ngày rỗi, thường kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác, đến đâu bọn trẻ đều sợ phục, hàng ngày rủ nhau đến phục dịch kiếm củi, thổi cơm. Bà mẹ thấy vậy mừng lắm, mổ lợn nhà cho bọn chúng ăn. Phụ lão các sách bảo nhau: “Đứa bé này khí lượng như thế ắt làm nên sự nghiệp, Chúng ta nếu không theo về, ngày sau hối thì đã muộn“.

    Cờ lau tập trận ở Thung Lau
    Mưu lược tài cao thưở ban đầu
    Lũ trẻ công kênh làm minh chúa
    Ai biết làm vua kẻ chăn trâu

    Hoa Lư địa lợi với nhân hòa
    Hai đường thủy bộ dễ vào ra
    Núi non trùng điệp thành chiến lũy
    Sứ quân yên loạn cõi sơn hà

    Lên ngôi đế hiệu Đinh Tiên Hoàng
    Đất nước an hòa cả giang san
    Sánh ngang Hoàng đế vua đất Bắc
    Chủ quyền dân tộc được an bang.

    (Vua Đinh Tiên Hoàng)

2. Dấu tích thuở hàn vi: Đinh Bộ Lĩnh cưỡi rồng vàng vượt qua sông Hoàng Long – được Thần bảo hộ từ tấm bé

Khi nhắc đến cuộc đời của Đinh Bộ Lĩnh, người ta thường không thể không nhắc đến hình ảnh rồng vàng.

Những gì người dân chứng kiến được ghi chép lại và truyền sang các đời sau. Lâu dần người đời gọi đó là truyền thuyết.
Sự tích có ghi lại, thuở còn chơi trò cờ lau tập trận, sau khi được khiêng kiệu, Đinh Bộ Lĩnh đã dám giết trâu của chú để khao quân. Bị chú cầm gươm lăm lăm đuổi, những tưởng là ông không thoát khỏi cái chết. Thế nhưng ngay sau lời gọi: “Rồng ơi rồng, chở ta qua sông, cứu ta với” thì một con rồng vàng lớn hiện ra, hụp đầu ba lạy như vái, như chào mời rồi ghé sát lưng đón Bộ Lĩnh qua sông. Người chú đang vung gươm thấy vậy sợ hãi, biết cháu mình có chân mệnh đế vương, nên vội quỳ lạy và cắm gươm xuống. Hiện nay còn lưu lại dấu tích núi Cắm Gươm (còn gọi là núi Vân Sơn).

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép lại sự kiện này như sau: “Người chú toan đâm, bỗng thấy hai con rồng vàng (hoàng long) hộ vệ vua”:

    Vân Sơn bao bọc đền Đinh Lê
    Phù điêu thủy mạc đón người về
    Trông xa núi báu gươm còn đó
    Hoàng Long uốn lượn giữa Sào Khê

    (Vân Sơn)

Rồng vàng không chỉ giúp Bộ Lĩnh thoát khỏi lửa hận của ông chú mà còn chỉ ra những bước đầu tiên để tạo dựng được cơ đồ đế vương: “Trời còn thử thách đại vương dăm ba năm nữa. Cuộc đời, sự nghiệp của đại vương phải trải qua một vòng tròn khép kín: từ rừng ra bể rồi lại về rừng” (Đinh Bộ Lĩnh cưỡi rồng về Cửa Bố).

Ở nơi Hoa Lư, con sông mà Đinh Bộ Lĩnh được rồng vàng hộ mệnh chở bay qua có tên Hoàng Long, còn núi Bái Đính như một con long mã tung bờm lao về phía Bắc ở thế thượng phong:
Cờ lau thuở ấy còn soi bóng- Rồng vàng lượn sóng giữa thinh không
Chú thích ảnh: Cờ lau thuở ấy còn soi bóng- Rồng vàng lượn sóng giữa thinh không
    Hoa Lư kinh thành của đế vương
    Mây bay phủ núi lũy biên cương
    Hoàng Long dậy sóng ngàn năm ngủ
    Long mã truy phong thượng đạo cường

    Thiên tôn sư tử phục hướng đông
    Văng vẳng trời nam sáo mục đồng
    Cờ lau thuở ấy còn soi bóng
    Rồng vàng lượn sóng giữa thinh không

    (Thành cổ)

3. Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn và những lần báo mộng về thiên mệnh với thế gian

Loạn 12 sứ quân là một giai đoạn loạn lạc của lịch sử Việt Nam, xen giữa nhà Ngô và nhà Đinh. Giai đoạn này phát triển mạnh từ khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, các nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng và đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Loạn 12 sứ quân (sứ quân có nghĩa là “Vua cai trị”) kéo dài hơn 20 năm (944-968) và kết thúc khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt – nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi về sự kiện này: “Nam Tấn Vương mất, các hùng trưởng đua nhau nổi dậy chiếm cứ quận ấp để tự giữ.”

Nhà sử học Ngô Sĩ Liên nhận xét:

“Vận trời đất, bí rồi ắt thái, Bắc Nam đều cùng một lẽ ấy. Thời Ngũ đại bên Bắc triều Trung Quốc suy loạn rồi Tống Thái Tổ nổi lên. Ở Nam triều nước ta, 12 sứ quân phân chia quấy nhiễu, rồi Đinh Tiên Hoàng nổi lên. Không phải là ngẫu nhiên mà do vận trời vậy.”


Sách Việt Giám Thông Khảo tổng luận ca ngợi “Vua bình được 12 sứ quân, trời cho người theo, thống nhất bờ cõi,… sáng chế triều nghi, định lập quân đội, vua chính thống của nước Việt ta, thực bắt đầu từ đấy, kể về mặt dẹp giặc phá địch thì công to lắm.”

Từ “căn cứ địa Hoa Lư” này, với “tài năng, thông minh hơn người, dũng lược nhất đời” (theo mô tả của Đại Việt sử ký toàn thư), Đinh Bộ Lĩnh lần lượt khéo léo dùng mưu lược, kế sách để thu phục, hàng phục hoặc xuất quân tấn công tiêu diệt, dẹp xong “loạn sứ quân” vào năm 967.

Image
Thành cũ Hoa Lư giữa trùng điệp núi rừng bao phủ


Các giấc mộng báo về thiên mệnh thống nhất giang sơn của ông xuất hiện không chỉ một lần, như mộng báo cho sứ quân Trần Minh Công biết sự xuất hiện của nhân vật tài năng là Đinh Bộ Lĩnh, báo cho sứ quân Phạm Bạch Hổ biết nên quy thuận vua Đinh vì Đinh Bộ Lĩnh chính là tướng tài đã được trao thiên mệnh. Hoặc có khi đó lại là những giấc mộng báo các vị tướng tài sẽ trợ giúp cho Đinh Bộ Lĩnh lập nên nghiệp lớn như: Ba vị tướng tài ở Thạch Khê, ba vị tướng quân ở Lộng Đình – Kinh Bắc…

    Dũng lược tài ba khắp thiên hạ
    Sứ quân lần lượt quy phục hàng
    Đế nghiệp từ đây soi bóng cả
    Bộ Lĩnh cờ lau Đinh Tiên Hoàng

    (Quân thành)

4. Đinh Bộ Lĩnh xưng đế, lập kinh đô Hoa Lư: Bậc Thiên Tử hành sự thuận theo Thiên Ý, một lòng trung với Trời xanh, kính Trời, kính Phật.

Trước khi đi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh vào động Thiên lập Kính Thiên Đài cầu thắng giặc:

    Thiên Tôn nằm chân núi Dũng Đương
    Trấn vũ Hoa Lư đại điện đường
    Vua Đinh ứng nghiệm lời cầu nguyện
    Tiền tế Kính Thiên đài dâng hương

    Oai nghiêm thần đứng tại Long Đình
    Rồng chầu một cặp tỏa khí linh
    Ngàn năm trấn giữ đất anh kiệt
    Trời Nam một dải đất thanh bình.

    (Chùa Thiên Tôn)

Image
Cố đô Hoa Lư- ngàn năm trấn giữ đất anh kiệt- Trời Nam một dải đất thanh bình


Năm 968, sau khi bình định 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi xưng hoàng đế, xưng là “Đại Thắng Minh hoàng đế” chọn Hoa Lư làm kinh đô, cho xây cung điện, sắp đặt trăm quan, chế triều nghi, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Hoa Lư trở thành kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền của Việt Nam. Nơi đây gắn liền với ba triều đại: Đinh, Tiền Lê và khởi đầu nhà Lý – tính từ vua Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) đến thời vua Lý Thái Tông.

Hai năm sau khi tôn xưng “Hoàng Đế”, Đinh Tiên Hoàng bỏ niên hiệu của các hoàng đế phong kiến phương Bắc, tự đặt niên hiệu riêng là “Thái Bình” và cho đúc đồng tiền đầu tiên có tên “Thái Bình hưng bảo”. Như vậy, tuy chỉ là vị “đế” thứ ba (sau Lý Nam Đế và Mai Hắc Đế) song Đinh Tiên Hoàng lại là người đầu tiên xưng “Hoàng Đế” xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên của nước ta được triều đình phương Bắc công nhận.

Image


Trong bộ quốc sử uy tín “Đại Việt sử ký toàn thư”, nhà sử học Lê Văn Hưu cũng viết về “thiên ý” này:

“Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ quân phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà lại sinh bậc thánh triết để tiếp nối quốc thống.”


5. Sấm truyền về số mệnh 12 năm tại vị của vua Đinh Tiên Hoàng và sự chuyển tiếp triều Lê

Đinh Tiên Hoàng ở ngôi 12 năm (từ đầu năm 968 đến cuối năm 979), đến tháng 10 năm Kỷ Mão (979) bị kẻ bề tôi phản nghịch là Đỗ Thích thích sát, thọ 55 tuổi, con trai ông là Đinh Liễn cũng bị hại cùng vua cha.

Theo sách sử chép lại, Đỗ Thích giết vua là để cướp ngôi, sách “Đại Việt sử ký toàn thư” cho biết như sau: “Trước đó Đỗ Thích làm chức lại ở Đồng Quan, đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng, Thích cho là điềm tốt, bèn nảy ra ý định giết vua. Đến đây, nhân lúc vua ăn yến ban đêm, say rượu nằm trong sân, Thích bèn giết chết.”

Theo ghi chép sử sách thì số mệnh Hoàng đế đã được dự báo trước nhiều lần: Viên ngọc khuyết góc sáng dưới đáy sông và lời tiên tri của nhà sư trụ trì chùa Giao Thủy

Trong Đại Việt sử ký tiền biên chép: “Khi vua còn hàn vi, thường đánh cá ở sông Giao Thủy, kéo lưới được viên ngọc khuê to nhưng va vào mũi thuyền, sứt mất một góc. Đêm ấy vào ngủ nhờ ở chùa Giao Thuỷ, giấu ngọc ở dưới đáy giỏ cá, đợi sáng ra chợ bán cá. Bấy giờ vua đang ngủ say, trong giỏ có ánh sáng lạ, nhà sư chùa ấy gọi dậy hỏi duyên cớ, vua nói thực và lấy ngọc khuê cho xem. Sư than rằng: “Anh ngày sau phú quý không thể nói hết, chỉ tiếc phúc không được dài.

Image
Mệnh trời đã định nẻo xưa – Ngọc khuê dành để đợi chờ đế vương


Duyên gặp gỡ giữa Đinh Bộ Lĩnh với sư trụ trì chùa Giao Thuỷ (chùa Cổ Lễ, Nam Định nay) được Thiên Nam ngữ lục khái lược rõ hơn. Theo đó, khi Đinh Bộ Lĩnh ngược xuôi theo sông đánh cá mưu sinh, bởi có duyên tiền định nên được biết tới ánh hào quang phát dưới sông đã mười hai năm. Sau này, như có mệnh báo trước, nghiệp đế của ông cũng kéo dài 12 năm thì dứt chốn hồng trần.

    Mệnh trời đã định nẻo xưa,
    Ngọc khuê dành để đợi chờ đế vương.
    Thường thường có khí hào quang,
    Đêm đêm sáng dậy bên giang trùng trùng.
    Bộ Lĩnh hỏi chúng ngư ông,
    “Ấy gì mà sáng dưới sông đấy rầy?”

    Chúng ngư bèn bảo rằng bây:
    Sáng ở sông này đã mười hai năm.

12 năm ngọc nằm dưới đáy sông không ai biết mà lấy được. Vậy mà đến Đinh Bộ Lĩnh, ông tìm được viên ngọc quý ấy.

Như Việt sử diễn âm đời Mạc viết:

    Được một báu vàng đem lên,
    Đánh phải đầu thuyền khuyết một góc đi.

Chính vì ngọc quý “khuyết một góc” đã trở thành điềm trời định dành cho hậu vận sau này của vị vua tương lai. Sư trụ trì của chùa vốn trước kia làm đạo sĩ tinh thông tướng số, biết nhìn người. Đêm ấy, viên ngọc quý nằm trong giỏ cá “Bỗng sao sáng khắp hòa chiền”. Câu chuyện về viên ngọc mỗi lúc lại một tỏ:

    Sáng ngày thầy hỏi trước sau,
    Ngọc khuê nghĩ mới đem hầu thầy coi.
    Nhìn đi nhìn lại một thôi,
    Giờ lâu thầy mới mở lời nói ra.
    “Con ta phúc đức thay là,
    Ngày sau làm chúa quốc gia trị đời.
    Nghĩ hiềm phúc hậu chẳng dài,
    Vắn dài có số tượng trời đã chia.

6. Câu sấm động nhân gian: Mưu sự tại nhân, hành sự tại Thiên

Lên ngôi cao trong thiên hạ, đến năm Giáp Tuất (974) đời vua Đinh Tiên Hoàng, tức là 5 năm trước khi xảy ra vụ mưu sát của kẻ phản nghịch, trong dân gian đã có xuất hiện bài sấm, báo trước việc có một người tên Đỗ Thích sau này sẽ sát hại vua và sự nối ngôi của triều Lê:

    Đỗ Thích thí Đinh Đinh,
    Lê gia xuất thánh minh,
    Cạnh đầu đa hoành nhi,
    Đạo lộ tuyệt nhân hành,
    Thập nhị xưng đại vương,
    Thập ác vô nhất liệt,
    Thập bát tử đăng tiên,
    Kế đô nhập nhị thiên.

Dù câu sấm được cho là xuất hiện ngay trong thời trị vì của Đinh Tiên Hoàng, lại chỉ rõ cả tên kẻ phản nghịch là Đỗ Thích, dù hậu vận đã được dự báo từ thuở hàn vi, nhưng vua Đinh vẫn không có biện pháp gì để phòng ngừa. Điều đó có lẽ để cho hậu thế hiểu rằng, số trời đã định ắt khó tránh.

Tháng 11 năm Kỷ Mão (979), đêm ấy vua Đinh Tiên Hoàng ngự tiệc ở điện với quần thần, uống rượu say, nằm ngủ luôn tại bậc thềm của sân điện. Phúc Hầu Hoằng là Đỗ Thích đã có dã tâm từ trước, ra tay giết vua và giết luôn cả Nam Việt Vương Đinh Liễn.

Các bài thơ được sử dụng trong bài viết được trích dẫn từ tập thơ Hoa Lư Thi Tập, tác giả Hoàng Quang Thuận.



“Tìm lại huy hoàng” là loạt bài nhiều kỳ do chuyên mục Văn Hóa thời báo Đại Kỷ Nguyên biên soạn, nhằm khôi phục dấu ấn nền văn hóa truyền thống đất Việt qua những câu chuyện lịch sử mang màu sắc“huyền sử”, hy vọng đem tới cho độc giả một cái nhìn mới về những nhân vật lịch sử và văn hóa truyền thống nước nhà.

Hà Phương Linh

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80741
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46211 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 22nd, 2017, 11:31 pm
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Re: Lịch Sử Việt Nam

Postby DaMinhChau » March 14th, 2016, 2:44 pm


Tìm lại huy hoàng: Vở diễn lớn của trời xanh:
Trung – Hiếu – Nghĩa thời Đinh Lê 1000 năm trước (Phần 2)



Cõi nhân sinh như mộng thoảng, quá khứ đẹp đẽ tráng lệ thuở nào. Người xưa quay trở về, nhìn lại đã nghìn năm trôi qua…


II. Chuyển tiếp triều Tiền Lê: Chân mệnh đế vương của Lê Đại Hành- tất cả là một vở diễn lớn do Trời Xanh sắp đặt?

Vua Đinh Tiên Hoàng bị sát hại khi đang tại vị được 12 năm, lúc đó con trai nhỏ Đinh Toàn của nhà vua mới 6 tuổi. Thừa cơ nhà Tống đem quân sang xâm lược Đại Cồ Việt. Thái hậu Dương Vân Nga trước mối an nguy của nước nhà, đã khoác long bào cho Lê Hoàn (tức Lê Đại Hành) lên ngôi Hoàng Đế. Ngài ra trận chống kẻ thù phương bắc và trở về trong khúc khải hoàn, giữ yên bờ cõi Đại Việt.

Lê Hoàn sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Sửu, (tức 10 tháng 8 năm 941). Trong cuộc đánh dẹp 12 sứ quân, ông đã lập được nhiều công lao và được vua Đinh Tiên Hoàng giao chức vụ Thập đạo tướng quân (tướng chỉ huy mười đạo quân), Điện tiền đô chỉ huy sứ – tức chức vụ Tổng chỉ huy quân đội cả nước Đại Cồ Việt, trực tiếp chỉ huy đội quân cấm vệ của triều đình Hoa Lư. Lúc đó ông chỉ mới 27 tuổi.

Khi Lê Hoàn lên ngôi trị vì lấy hiệu là Thiên Phúc năm thứ nhất, giáng Đinh Toàn làm Vệ Vương (tháng 7 năm 980). Tháng 3 năm Tân tỵ (981), quân Tống tiến vào nước ta. Lê Hoàn đã lãnh đạo quân dân Đại Cồ Việt phá quân Tống xâm lược, sau đó trừng phạt quân Chiêm Thành ở phía Nam. Năm Nhâm Ngọ (982) Lê Đại Hành thân chinh cầm quân đánh quân Chiêm để phạt tội dám bắt giam hai sứ thần nước ta là Từ Mục và Ngô Tử Canh.

Sử sách chép rằng, Lê Hoàn sinh ra trong cảnh “mây ngũ sắc bay đến che phủ, chim bay về đỗ kín cành đa, hươu trong rừng ra cho cậu bú.”

Có lẽ bởi ông có mệnh vương nên đã được bảo trợ từ bé, ngay cả khi còn ở trong bụng mẹ. Bà Đặng Thị mẹ ông mang thai ông rất lâu mà chưa sinh nở, đến nỗi bị xóm làng dị nghị cười chê là hoang thai nên uất ức nhảy xuống sông tự tử. Nhưng lạ thay, bà không biết bơi mà người cứ nổi lên, nước suối lại rẽ ra, rồi như có bàn tay vô hình nâng lên bờ, quần áo vẫn khô nguyên. Có lẽ vì đứa con trong bụng bà có mệnh thiên tử nên dẫu bà có muốn chết cũng chẳng thể chết được.

    Chân mệnh đế vương thuở lọt lòng
    Rồng vàng đã ấp ở bên trong
    Lê Hoàn Thập Đạo mang chân khí
    Trên vai nặng gánh vận non sông.

    Vua Đinh tiên đế đã băng hà
    Để yên xã tắc với triều ca
    Vận nước lâm nguy tôn minh chủ
    Thái hậu vua Lê lại một nhà.

    Phá Tống bình Chiêm Lê Đại Hành
    Ngàn năm còn mãi với sử xanh
    An dân dựng nước đầy mưu lược
    Hào lũy thung sâu dựng trường thành.

    (Vua Lê Đại Hành)

“Vua đánh đâu được đấy: Chém vua Chiêm Thành để rửa mối nhục bị bọn phiên di bắt giữ sứ giả của mình; đánh tan quân của vua nước Tống là người vốn dòng họ Triệu, mau chóng đập tan mưu đồ của họ. Có thể coi vua là đấng anh hùng nhất đời vậy.” – Ngô Sĩ Liên (Đại Việt sử ký toàn thư)


Image
Tượng vua Lê Đại Hành tại Hoa Lư


1. Tấm lòng vì xã tắc và nỗi oan khuất của thái hậu Dương Vân Nga?

Vua Đinh Tiên Hoàng bị sát hại, con trai nhỏ Đinh Toàn, mới 6 tuổi, nhà Tống thừa cơ đem quân sang xâm lược, thái hậu Dương Vân Nga trước mối an nguy của nước nhà, đã khoác long bào cho Lê Hoàn (tức Lê Đại Hành) lên ngôi Hoàng Đế.

Tuy nhiên, việc Lê Hoàn tiếp ngôi, lập thái hậu Dương Vân Nga làm hoàng hậu, khiến Dương Vân Nga trở thành hoàng hậu của cả 2 triều Đinh và Lê, nhiều nghi án đã được đặt ra trong hậu thế: Phải chăng Dương Vân Nga và Lê Hoàn câu thông để sát hại Đinh Tiên Hoàng? Khi Lê Hoàn lập Dương Vân Nga làm hoàng hậu, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi rõ: “Vua lập Đại Thắng Minh hoàng hậu triều Đinh làm hoàng hậu”.


Dẫu hậu thế có nặng lời với Lê Đại Hành, nhưng liệu tất cả có phải đều do trời sắp đặt, chọn người anh minh tiếp ngôi để yên ổn xã tắc? Bởi nhắc đến Dương Thái hậu, người ta không thể quên giai thoại khi bà mới sinh. Khi ấy, bà thường hay khóc dạ đề. Một hôm có người đạo sĩ đi qua, ông đọc hai câu thơ khiến cô bé nín bặt: “ Nín đi thôi, nín đi thôi, một vai gánh vác cả đôi sơn hà.

Lời tiên tri của ông đạo sĩ ứng nghiệm vào việc bà lấy 2 vị vua là Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành. Nhưng tấm lòng người trong cuộc, vì non sông, xã tắc, vì muôn dân, hay vì chỉ vì tư tình riêng, sẽ mãi mãi là dấu hỏi cho hậu thế nếu như không được nghe những lời giãi bày của Thái Hậu Dương Vân Nga xuyên qua ngàn năm không gian và thời gian:

Image
Thái Hậu Dương Vân Nga trao long bào cho vua Lê Đại Hành


    Hương lửa đang nồng trâm vỡ tan
    Con còn thơ dại giặc ngoại bang
    Thế nước lòng dân trời binh lửa
    Có hiểu lòng ta hỡi Đinh Hoàng!
    Hậu thế nghĩ gì ngôi Thái Hậu
    Vân Nga đâu tiếc tấm thân vàng
    Vì nước an dân trao ngôi báu
    Lê Hoàn dậy sóng thắng lân bang.

    (Thái Hậu Dương Vân Nga)

2. Lòng trung quân của các đại thần: để lại ngàn thu một tấm lòng

2.1 Nguyễn Bặc


Thuở nhỏ, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trịnh Tú kết nghĩa anh em, cùng tuổi Giáp Thân, cùng làng- đồng lân đồng Giáp Thân, bốn người được vua Đinh giao cho tứ trụ triều đình.

Sau khi vua Đinh Tiên Hoàng bị sát hại, Nguyễn Bặc không tuân phục vua Lê Đại Hành, giữ lòng trung trinh, tiết liệt với vua Đinh. Ông đã cùng tướng Đinh Điền kéo quân về đánh Lê Đại Hành để khôi phục nhà Đinh, nhưng bị thất bại và bị xử tử năm 979.

    Hàn vi thuở nhỏ bạn vua Đinh
    Kết nghĩa anh em nặng chữ tình
    Ai biết trời xanh gây gió bão
    Lòng trung Phật tổ có hiển linh
    Ngàn năm oanh liệt đức trung thần
    Hương khói đền thờ Định Quốc Công
    Hoàng Long soi bóng người trung nghĩa
    Để lại ngàn thu một tấm lòng

    (Đền Thờ Định Quốc Công)

Image
Tượng Nguyễn Bặc tại đền thờ dòng họ Nguyễn


2.2 Lòng trung nghĩa của 2 danh tướng: Thả Thanh Trù và Hữu Thanh Trù

Khi Đinh Tiên Hoàng và con trai Thái Việt Vương bị Đỗ Thích sát hại, triều đình nổi loạn, hai tướng Tả Thanh Trù và Hữu Thanh Trù là quan giám sát Đại tướng quân của triều Đinh, bồng ấu chúa Đinh Toàn 6 tuổi trốn vào hang núi. Sau khi ổn định, triều đình cho người đón ấu chúa. Hai tướng ở lại nơi này cho đến lúc mất. Dân làng lập đền thờ Phủ Đột hay còn gọi là đền Trình để tưởng nhớ hai vị trung thần.

Image
Đền thờ hữu tả Thanh Trù ở quần thể di tích Hoa Lư


    Nội loạn triều Đinh phò ấu chúa
    Ơn vua nghĩa nước cưỡi phong vân
    Tràng An sóng nước còn muôn thuở
    Hương khói đền xưa tiếc trung thần
    Lòng trung sáng mãi cùng nhật nguyệt
    Thiên thu còn có với non sông
    Hữu tả Thanh Trù người trung liệt
    Gió thổi đền thiêng ngọn cờ hồng.

    (Đền Trình)

2.3 Lòng trung nghĩa của 7 vị danh thần tuẫn tiết theo vua mang theo bí mật ngàn thu ngôi mộ Đinh Tiên Hoàng

Sau khi vua Đinh Tiên Hoàng và con trai Đinh Liễn bị sát hại, triều đình đã lấy 100 cỗ quan tài giống hệt nhau di long bốn hướng. Hậu thế không biết được đâu là ngôi mộ thật của vua Đinh Tiên Hoàng. Sau khi an táng vua, 7 vị danh thần đã tuẫn tiết, đem theo bí mật ngôi mộ của vua Đinh Tiên Hoàng vào thiên thu.

    Tuẫn tiết theo vua bảy danh thần
    Lòng trung vì nghĩa tiếc gì thân
    Khói hương nghi ngút đền Phủ Khống
    Ngàn năm con cháu mãi tri ân

    (Đền Phủ Khống)

2.4 Câu chuyện mối oan tình và lòng trung hiếu của công chúa Phất Kim: Tôn xưng Tiết liệt trung trinh

Công chúa Phất Kim con gái của Đinh Tiên Hoàng được cha gả cho Ngô Nhật Khánh, một trong mười hai sứ quân mà ông thu phục. Trong khi đi cầu viện vua Chiêm để khôi phục dòng họ Ngô, Nhật Khánh đã ra tay hành hạ và xẻo má vợ trên bãi biển Nam Giới, nay thuộc Hà Tĩnh. Khi Nhật Khánh dẫn hơn 1000 chiến thuyền của quân Chiêm đánh vào đất Việt, quá phẫn uất trước tâm địa của chồng, công chúa Phất Kim đã gieo mình xuống giếng Ngọc ở lầu Vọng Nguyệt, kinh thành Hoa Lư.

Cuộc hôn nhân của công chúa Phất Kim và Ngô Nhật Khánh trong những ngày đầu diễn ra êm ấm và hạnh phúc tới khi Ngô Nhật Khánh được dụ đi cầu viện vua Chiêm về đánh Đại Cồ Việt.

Khi phò mã đô úy Nhật Khánh xin phép vua cha cho mình cùng công chúa Phất Kim đi kinh lý Ái Châu bằng đường thủy và xin phép vua cha cấp năm chiến thuyền hộ tống công chua và phò mã, là khi Nhật Khánh nhận được một bức thư từ sứ thần Nhà Tống gửi. Thuyền xuôi dòng Vân Sàng, qua Ngọc Thỏ cảng,vượt cửa Thần Phù rồi ra biển Đông, Phất Kim hỏi chồng: ” Chúng ta đi đâu?”

Nhật Khánh nghĩ Phất Kim lúc này là phận gái, đã theo chồng nên đáp: ” Chúng ta sẽ vượt qua Nam Giới chạy sang cầu cứu vua Chiêm. Người Tống đưa đường và sẽ giúp chúng ta. Việc thành,nàng sẽ trở thành chính cung hoàng hậu của nước Đại Cồ Việt”.

Không như những gì Ngô Nhật Khánh mong muốn, Phất Kim một lòng cương quyết: “Không! Chúng ta không bao giờ được phản bội phụ vương, phụ bạc kinh thành Hoa Lư và nước non Đại Việt”.

Image
Không! Chúng ta không bao giờ được phản bội phụ vương, phụ bạc kinh thành Hoa Lư và nước non Đại Việt!


Nhật Khánh lại nói thêm: “Hôm vừa qua, viên khách thương nhà Tống đã báo cho ta biết sứ giả nhà Tống đang đợi ta đến yết kiến vua Chiêm. Vua Chiêm có nhiệm vụ cấp cho ta binh lính và chiến thuyền tấn công Đại Cồ Việt bằng đường thủy. Còn về đường bộ,vua Tống đã hứa giúp đội quân mạnh nhất, có nhiều dũng tướng giỏi, đánh bằng được Đại Cồ Việt. Nàng không nghe ta thì sau có hối hận là muộn”.

Công chúa Phất Kim vẫn tha thiết khuyên răn:

“Thiếp theo lệnh vua cha đã xuất giá để theo minh công. Trọn đời này, kiếp này chỉ biết có minh công mà thôi. Nhưng chàng phải hồi triều, không thể nào phản lại vua cha để mang tội bất hiếu, bất trung và mang tội phản lại dân tộc“.


Nhưng lời lẽ thống thiết không làm thay đổi rắp tâm của Ngô Nhật Khánh. Khánh đã rút dao xẻo má công chúa một cách lạnh lùng, tàn nhẫn.

Sách ” Khâm định Việt sử thông giám cương mục” chép: Ngô Nhật Khánh dẫn vợ là công chúa của Đinh Tiên Hoàng đi trốn. Tới cửa biển Nam Giới (tức cửa Sót,Hà Tĩnh), hắn rút dao bên mình ra, xẻo má vợ mà kể tội: Cha mày đã lừa gạt để ức hiếp mẹ con ta. Ta đau lại vì mày mà bỏ qua tội ác của cha mày. Thôi, mày hãy trở về, ta sẽ một thân một mình đi tìm ai có thể cứu được ta đây. . .” Sau đó sang thuyền chiến bên cạnh, hối thúc quân chèo đi, bỏ lại công chúa với người hầu.

Công chúa Phất Kim được đưa về kinh thành Hoa Lư chạy chữa thuốc men, tuy vết thương trên mặt đã lành, nhưng vết sẹo trên má không bao giờ có thể làm nguôi được nỗi đau đớn,tủi nhục trong lòng của một người vợ có chồng là Tướng Quốc, là phò mã, mà lại theo giặc ngoại bang để chống lại vua cha. Phất Kim đã xuống tóc, đi tu trong một ngôi chùa ở kinh đô Hoa Lư. Nàng đau đớn tuyệt vọng, lại phải chịu nỗi đau đớn kinh hoàng nữa là vua cha và anh cả là Đinh Liễn đã bị Đỗ Thích sát hại. Triều đình rối ren, các đại thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lê Hoàn đang dàn quân đánh lẫn nhau. Rồi Đinh Điền, Nguyễn Bặc, hai cựu trung thần và đệ nhất công thần của vua Đinh,vì lòng trung quân mà kéo quân từ Ái Châu về đánh Lê Hoàn, bị Lê Hoàn giết chết cả. Giữa lúc ấy,một tin như sét đánh ngang tai, Ngô Nhật Khánh đang dẫn hơn một nghìn chiến thuyền thủy quân của vua Chiêm, lại có vua Chiêm cùng xuất binh, theo hai cửa biển Đại Ác và Thần Phù vào đánh Đại Cồ Việt thì bị phong ba nổi lên, nhấn chìm hết cả thuyền bè và bị chết đuối. Công chúa Phất Kim đau đớn, xót xa, tủi nhục đến tuyệt vọng. Nàng nhảy xuống giếng trước lầu Vọng Nguyệt, phía tây bắc Kinh thành Hoa Lư tự vẫn.

Image
Giếng Ngọc ở cung Vọng Nguyệt cố đô Hoa Lư. Ngàn năm ngọc vỡ hoa rơi rụng. Bóng hồng mây nước giữa Hoàng Long.


Cái chết đau đớn, tiết liệt trung trinh của công chúa Phất Kim làm cả triều đình và dân chúng Hoa Lư vô cùng xúc động. Ai cũng khâm phục: Thật hiếm có người phụ nữ trung trinh, đức hạnh và tiết liệt như nàng.

Nhân dân Hoa Lư lập đền thờ nàng ngay trên nền nhà của cung Vọng Nguyệt. Các triều đại sau đều sắc phong cho nàng là Tiết liệt Trung trinh.

Đền thờ công chúa Phất Kim còn gọi là đền Thục tiết công chúa, phủ Bà Chúa, được xây dựng dưới triều Đinh để tôn thờ tấm lòng trung hiếu, sáng trong, vì nghĩa lớn mà thà chết chứ không chịu theo giặc chống lại vua cha của công chúa Phất Kim.

    Bãi bể nương dâu ôm tình hận
    Áo mây trả lại chốn khuê phòng
    Ngàn năm ngọc vỡ hoa rơi rụng
    Bóng hồng mây nước giữa Hoàng Long

    Oan trái tình xưa còn giếng Ngọc
    Phất Kim công chúa của Kinh thành
    Sương khói thu sầu ngày ly biệt
    Mây tắm ao trời nước trong xanh

    (Hận tình)

***

    Thất Trụ chùa xưa còn có nữa
    Phất Kim công chúa của Tiên Hoàng
    Đền lạnh gió mưa màu rêu nhạt
    Lau mọc chen cành cảnh sơ hoang

    Ôm hận nghìn thu rơi lệ ngọc
    Trâm tan bình vỡ nước hoa trôi
    Xiêm áo còn vương bờ giếng cũ
    Duyên tình bi hận nước mắt rơi

    (Chùa Thất Trụ)

Những tấm gương trung hiếu nghĩa đó qua các câu chuyện nghìn năm đọng lại giống như một vở diễn lớn của Trời xanh, mà những nhân vật lịch sử như những diễn viên đã giúp chúng ta giờ đây hiểu được sự thâm sâu và trọn vẹn của nội hàm thế nào là Trung- Hiếu – Nghĩa, hiểu được khí khái cổ nhân, tấm lòng thành tín chân thật của người xưa xuyên suốt lịch sử và bề dày văn hóa truyền thống dân tộc… Khí phách oai hùng, vì nước, vì dân, vì nghĩa lớn của họ tỏa sáng lấp lánh trong thời đại ngày nay khi con người đang quay cuồng trong các lợi ích cá nhân, khiến bất giác mỗi người phải thốt lên: “Ngày xưa thật đẹp!”…

***

Mời Quý độc giả cùng chúng tôi thưởng ngoạn vẻ đẹp cố đô Hoa Lư trước sau 1000 năm để đắm mình vào một thời quá khứ huy hoàng của dân tộc…

Image
Cung điện vàng son một thuở nào


    “Cố nhân quay lại đã nghìn năm
    Đô thành ngày ấy dưới trăng rằm
    Hoa trôi giếng Ngọc đâu còn nữa
    Lư thành người cũ có viếng thăm
    Cung điện vàng son một thuở nào
    Thuyền rồng sóng vỗ mạn lao xao
    Ngàn thu bóng xế bao ưu hoạn
    Để lại kinh thành vạn ánh sao”
    (Cố Nhân)

Mở một cánh cửa nhìn vào quá khứ ấy, bước vào một thế giới gần như bị bỏ quên, thế giới của những rồng, phượng hoàng, kỳ lân, tiên Phật, nhà vua và anh hùng dân tộc nơi kinh thành Tràng An (Hoa Lư, Bái Đính Ninh Bình) triều Đinh Lê Lý, cách đây đã hơn 1000 năm. Đó là kinh đô nơi “vùng đất của các hang động kỳ ảo giữa những đỉnh núi đá mây phủ”, với những ngọn núi thiêng, những con suối trong lành được gọi là long mạch. Thế giới ấy là kinh đô nước Đại Cồ Việt xưa:

    “Nghìn năm mưa nắng với đất trời
    Thành cổ Hoa Lư giữa mây trôi
    Vách núi dựng cao trời đất nước
    Cờ lau gió thổi mãi không thôi.”
    (Trường Thành)

Image
Thành cổ Hoa Lư – nghìn năm mưa nắng với đất trời


Cung điện Hoa Lư ngày xưa gồm ba cung điện vàng son lộng lẫy là cung điện Trường Xuân, Phong Lưu và Cực Lạc, giờ đã nằm sâu trong lòng đất.

Những trụ cổng, tường gạch, lối đi đều in dấu vết thời gian với những lớp rêu phong cũ kỹ:

Image
Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng xưa chính là nền cung điện lộng lẫy, giờ đã một phần bị chôn vùi trong lòng đất. Đôi nghê trên cột trụ cổng và câu đối có khắc chữ TÂM


    “Nghê chầu đồng trụ đã ngàn năm
    Sương gió thời gian mãi dãi dầm
    Lồng lộng trời cao đôi nghê cổ
    Lưu lại đời sau có chữ TÂM”
    (Đồng trụ)

Năm 1010, kết thúc triều đại Đinh Lê, vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long, từ đó Hoa Lư trở thành Cố Đô. Hoa Lư làm kinh đô được 42 năm:

    “Trường Xuân cung điện triều nhà Đinh
    Phong Lưu, Cực Lạc cả cung đình
    Hoang phế ngàn năm trong lòng đất
    Dấu ấn một thời thịnh hiển vinh.
    Đàn xưa cung nữ múa bên sân
    Trăm quan chầu trước cửa bệ rồng
    Vua Đinh bào tía thời cung kiếm
    Gió thoảng mây ngàn giữa hư không”
    (Cung điện triều Đinh)

Vẻ đẹp kinh đô kỳ vĩ Hoa Lư xưa, hiểm trở nhưng nên thơ gắn với hình ảnh như mơ như thực, vua Đinh Tiên Hoàng cùng rồng tía cưỡi hạc bay về:

    “Cố đô Đại Việt thành Hoa Lư
    Núi non trùng điệp phủ mây mù
    Kinh đô Việt cổ nằm thung rộng
    Đại Thắng Minh Hoàng mãi ngàn thu.”
    (Cố đô Hoa Lư)

Image
Vòng cung Tây Bắc dãy non Lê


    “Vòng cung Tây Bắc dãy non Lê
    Vua Đinh rồng tía cưỡi hạc về
    Chiều tà soi bóng kỳ lân phục
    Hùng vĩ trời nam dãy non khê”
    (Dãy non Lê)

Vẻ đẹp cố đô Hoa Lư xưa còn gắn liền với những hình ảnh đồng quê, khi xanh mướt thanh bình, khi vàng ruộm màu lúa chín, những cánh cò, hay những hang động kỳ vĩ thần tiên:

Image
Sông nước bao la cảnh hữu tình – Nắng tràn thung rộng sóng lung linh


    “Sông nước bao la cảnh hữu tình
    Nắng tràn thung rộng sóng lung linh
    Chim bơi cá nhảy trên sông vắng
    Đâu biết ngày xưa cảnh chiến chinh
    Đàn trâu gặm cỏ bên chân núi
    Mục đồng thổi sáo dắt trâu về
    Lam chiều vương khói trên giàn mướp
    Ráng hồng nhuộm thắm cánh đồng quê.”
    ([b]Đồng quê)[/b]

Image
Sông soi bóng nhạn cánh chim trời, những đàn cò trắng ngàn năm vẫn đậu – Một vẻ đẹp khó tả của cố đô Hoa Lư


Những hang động kỳ vĩ thần tiên Tam Cốc, Bích Động, Hang Sáng, Hang Tối, Hang Nấu Rượu… những chùa chiền trầm mặc:

    “Nước mòn vách núi hẻm đá vôi
    Biển cả ngàn xưa đã xa rồi
    Ngô đồng uốn lượn theo vách núi
    Sông soi bóng nhạn cánh chim trời.”
    (Tam Cốc)

Image
Bích Động – xứng danh ngọc quý của trời Nam


    “Lung linh ngọc quý của trời Nam
    Động xanh ngọc bích ghép tên vàng
    Ngũ nhạc triều quy Long hội tụ
    Thanh tao thi vị cảnh thôn trang.”
    (Bích Động)

Vẻ đẹp kỳ ảo của cố đô Hoa Lư như mơ như thực, như xứ của thần tiên gửi vào giữa đời thực:
    “Nhũ đá trần hang giọt nước rơi
    Tiên bay mây trắng cả hang trời
    Ngư ông râu bạc ngồi câu cá
    Ông lão đánh cờ nước chảy xuôi.”
    (Hang đá)

Image
Nước mòn vách núi hẻm đá vôi – Biển cả ngàn xưa đã xa rồi…


Hoài niệm quá khứ và người xưa dường như về ẩn hiện với Hoa Lư:

    “Cung tần mỹ nữ có về đây
    Sương khói ngàn thu đã vơi đầy
    Gió thổi chim kêu hòa điệu múa
    Ngọc ngà người đẹp ẩn trong mây.”
    (Hang Múa)

(Các bài thơ được sử dụng trong bài viết được trích dẫn từ tập thơ Hoa Lư Thi Tập, tác giả Hoàng Quang Thuận)


Hà Phương Linh

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 80741
Has thanked: 35168 times
Have thanks: 46211 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: May 22nd, 2017, 11:31 pm
Country: United States of America
    Windows 10 Firefox

Previous

Return to History & Culture Of VietNam | Lịch Sử & Văn Hóa Việt Nam

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests