Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam

Read and learn ethnic origin Vietnamese | Hảy tìm hiểu và học hỏi nguồn gốc dân tộc việt

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 14th, 2017, 12:04 pm

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image

Lê Trạch Lựu



Trong những bài trước, chúng tôi đã trình bày về sự nở rộ của tân nhạc Việt Nam trong hai năm 1945-46. Tức là chúng ta đang trở lại với thời kỳ đầu, thời kỳ phát triển. Tuần này, chúng tôi xin tiếp tục với những tình khúc sáng tác sau năm 1946, tức là khi cuộc chiến đã bùng nổ. Trong số tác giả của những tình khúc bất hủ sáng tác trong thời gian này, có những người chỉ viết một hai bản rồi thôi. Có những người thì ngưng sáng tác sau khi chế độ cộng sản được thiết lập tại miền Bắc vào năm 1954. Và có những người sau thời điểm này vẫn tiếp tục sáng tác. Ðể tiện việc trình bày, cũng như để có sự liên tục nơi dòng nhạc của các nhạc sĩ, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu các sáng tác theo thứ tự nói trên.

Image
Lê Trạch Lựu thời trẻ. nguồn Hà Đình Nguyên


Sau đây là bản “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu, một trong những tác giả chỉ có một tác phẩm.

Em tôi ưa đứng nhìn trời xanh xanh.

Mang theo đôi mắt buồn vương giấc mơ.

Vu vơ đắm đuối, vương ngàn áng mây

Bao đêm thầm đếm trên trời đầy sao sáng.

Buồn vương man mác theo lời gió reo lời thơ

Trầm tư se sắt tơ lòng đắm theo đàn khóc

Bao nhiêu nước mắt chôn sầu đắng cho lời thơ,

Giờ này em hát câu chiều mơ

Bao giờ tôi về gần em

Cùng đến này trăng này sao kia nhé em,

Trăng sao dâng ý thơ, mây bay khắp trời,

Thuyền tình lung linh trong khói sương lam,

Ngày về xa quá người ơi

https://youtu.be/mHDBaWhkIFQ


Ðúng ra, sau “Em Tôi” Lê Trạch Lựu còn viết thêm một bản khác tựa đề là “Nhớ”. Nhưng vì tầm vóc của bản “Em Tôi”, đã chẳng có mấy người hát bản “Nhớ” khiến nó bị thất truyền. Người ta không được biết nhiều về tiểu sử của Lê Trạch Lựu, chỉ biết ông học nhạc tại Việt Nam, sáng tác hai ca khúc nói trên, rồi đi Pháp. Từ đó, không ai có tin tức gì về ông nữa. Nhưng ca khúc “Em Tôi” thì sống mãi trong lòng người yêu nhạc.

Image


Thời ấy, những năm cuối thập niên 1940, “Em Tôi” cùng với những bản như “Tiếng Hát Lênh Ðênh” của Lương Ngọc Châu từ Pháp, “Khúc Nhạc Chiều Mơ” của Ngọc Bích, “Trách Người Ði” của Ðan Trường, “Tiếc Thu” của Hoàng Dương, “Dứt Ðường Tơ” của Doãn Cảnh và Văn Thuỷ là những ca khúc được ưa chuộng nhất tại Hà Nội. Trong nền nhạc tình của Việt Nam, có lẽ khó kiếm được một bản thứ hai vừa buồn vừa thơ, vừa sầu vừa đẹp, vừa u uẩn vừa nhẹ nhàng trong sáng như “Em Tôi”. Dường như bao nhiêu tinh hoa trong tâm hồn, Lê Trạch Lựu đã một lần dốc cạn.

Nếu người đương thời biết rất ít về Lê Trạch Lựu, thì với Doãn Cảnh và Văn Thủy, đồng tác giả của bản “Dứt Ðường Tơ” họ còn biết ít hơn, nếu không muốn nói là không biết gì cả. “Dứt Ðường Tơ” là một tình khúc mà các ca sĩ nổi tiếng nhất ở Hà Nội thời bấy giờ như Ngọc Bảo, Quách Ðàm, Minh Ðỗ, Tâm Vấn, Thanh Hằng, Minh Hiếu đều thích hát. Nhưng hơn 50 năm sau, người ta vẫn không biết gì thêm về hai tác giả. Rất có thể, đó chính là một thái độ sống của một số nghệ sĩ giữa đời thường. Họ chỉ muốn làm cơn gió vô hình, một lần đem hương thơm đến cho đời rồi tan biến vào hư không.

Image
Lê Trạch Lựu và vợ Danica tại Pháp. ảnh: Trần Quang Hải

Khói mây chiều buồn vương theo gió

Sóng im ru hiu hắt lời thơ

Lòng lắng trôi theo hồn say mơ

Khúc mơ hồ vương vương lưu luyến

Mơ đến ngày đầy ánh huy hoàng

Lòng ơi, dứt đi đường tơ…

https://youtu.be/boTmGLkTuwc

HN

Chú thích của Trần Phương Thảo, từ trang web của Hà Ðình Nguyên


Tin tức mới nhất cho biết nhạc sĩ Lê Trạch Lựu đã qua đời tại Pháp ngày 6 tháng 2 năm 2015, hưởng thọ 84 tuổi. Sau đây là lời kể của tác giả về sự ra đời của bài nhạc bất hủ:

Nhạc sĩ kể: “Mùa hè năm 1946, hướng đạo sinh Hà Nội gồm nhiều đạo cả nam lẫn nữ tập trung ở ga Hàng Cỏ để đáp tàu đi dự trại hè tại biển Sầm Sơn (Thanh Hóa). Tôi bỗng để ý thấy trong đoàn có một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã và đặc biệt có đôi mắt tuyệt đẹp. Nếu bảo rằng có “tiếng sét ái tình” thì quả thật tôi đã bị “đánh một quả” đến choáng váng. Ðến nơi, đoàn tôi gặp may là được ở trong những biệt thự nhìn ra bờ biển của khu nghỉ mát do người Pháp vừa rút khỏi. Phía sau ngôi nhà bọn tôi ở có một giếng nước và không hiểu vô tình hay cố ý mà trưa nào tôi cũng thấy cô gái ấy ra giếng giặt áo. Lúc nào tôi cũng ngồi bên cửa sổ ngắm cô ấy. Thỉnh thoảng cô ấy ngước mắt nhìn về phía tôi, mỉm cười khiến tôi xuyến xao quá đỗi… Trở về Hà Nội, gần như ngay lập tức tôi đi tìm nhà cô ấy. Hóa ra chúng tôi ở khá gần nhau. Và ơn trời, tôi phát giác ra: thằng Mỹ đứa “đệ tử” vẫn đi theo tôi bấy lâu nay lại chính là em ruột của nàng. Qua Mỹ, tôi biết nàng tên là Phượng. Từ đó, mỗi chiều, tôi thường xuất hiện trước cổng nhà nàng với một lý do rất ư chính đáng: rủ chú Mỹ đi chơi. Và như hiểu được tình cảm của tôi, những buổi chiều nàng cũng thường ra hiên nhà hóng mát hoặc rũ tóc bên thềm. Tôi nảy ra ý định viết thư cho Phượng, nhưng nghĩ đến tình huống nàng cầm bức thư và… xé tan tành, hoặc quẳng xuống đất thì có mà… độn thổ ! Cách đơn giản nhất là nhờ chú Mỹ làm “giao liên”. Vậy là suốt 70 ngày, mỗi ngày một bức thư được Mỹ chuyển đến cô chị, nhưng tuyệt nhiên chẳng có hồi âm. Tôi nghi Mỹ “giếm” những bức thư đi, nó thề “bán sống, bán chết” đã chuyển rồi, còn tại sao không có thư trả lời thì “anh đi mà hỏi chị Phượng”. Tôi đau khổ, hoang mang…

Image
Tang lễ nhạc sĩ Lê Trạch Lựu – Paris, Jan. 07.2015. nguồn: imagemag.ru

Cho đến một chiều trước ngày “Toàn quốc kháng chiến” một tuần, Mỹ háo hức tìm tôi với bức thư hồi âm đầu tiên của nàng. Tôi run run mở bức thư có những con chữ tròn tròn, đều đều. Trong thư Phượng nói là cũng đã “để ý” tôi từ hôm gặp đầu tiên. Sở dĩ nàng không hồi âm là muốn thử xem tôi có phải là người đứng đắn không. Sau đó gia đình nàng tản cư về Hà Ðông. Hai hôm sau, tôi đi bộ từ Hà Nội đến thăm nàng. Ngạc nhiên trước “nhiệt tình” của tôi, bố mẹ nàng đã cho phép tôi đi chơi suốt một buổi dọc bờ sông Nhuệ (dưới sự giám sát của… Mỹ!). Ðó là một lần bên nhau duy nhất, một ngày hạnh phúc ngập tràn. Chỉ một điều khiến tôi ân hận đến mãi bây giờ là đã không dám cầm tay Phượng, dù chỉ một lần…

Rồi khói lửa chiến tranh, chúng tôi bặt tin nhau. Ba năm sau, tôi qua Pháp. Ở bên đó, trong những ngày tháng quay quắt nhớ về quê cũ nơi có thấp thoáng hình dáng Phượng, tôi đã sáng tác ca khúc Em tôi: “Em tôi hay đứng nhìn trời xanh xanh, mang theo đôi mắt buồn vương giấc mơ. Vu vơ đắm đuối theo ngàn áng mây. Bao đêm thầm đếm trên trời đầy sao sáng…”. Thế rồi tôi chép vào giấy, gửi về nước cho NXB Tinh Hoa. Ít lâu sau, Em tôi được hát trên cả 2 đài phát thanh Hà Nội và Sài Gòn. Lúc đó tôi vẫn còn đang ở bên Pháp, không cảm nhận được ở quê hương công chúng đón nhận Em tôi ra sao, nhưng qua thư từ trao đổi với bạn bè trong nước, Em tôi đã khá nổi tiếng. Và cũng qua bạn bè, tôi liên lạc được với Mỹ, cậu ấy thư cho tôi: “…chị Phượng đợi anh suốt mấy năm, mà anh vẫn bặt tin. Tưởng anh đã chết, chị để tang anh 3 năm (nhiều người đi hỏi, chị vẫn lắc đầu). Nhưng… hôm qua là ngày cưới của chị ấy, ba me thúc giục mà chị ấy đã 26 tuổi rồi…”. Muốn cho nàng yên phận với chồng con, từ đó tôi không còn liên lạc gì với quê nhà”.

Image


Lê Trạch Lựu rời quê hương năm 1951, và từ đó ông chưa một lần trở về. Ông tốt nghiệp ngành điện ảnh và truyền thông. Dạo đó có người bạn rủ ông về miền Nam Việt Nam hành nghề. Một hãng thông tấn của Pháp cũng đề nghị ông làm phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhưng ông từ chối. Ông lập gia đình với Danica – một phụ nữ Pháp gốc Ba Lan…

Mãi đến 60 năm sau (cuối năm 2009), từ Canada ông bắt liên lạc được với một người bạn học cũ ở Hà Nội và ông này đã tìm ra số điện thoại của bà Phượng. Thế là ông gọi. Ðầu dây bên kia, từ Hà Nội, bà Phượng trả lời. “Tôi xưng tên, cô ấy cứ nhắc đi nhắc lại 3 lần: anh Lê Trạch Lựu hả? anh Lê Trạch Lựu hả? như không tin là có thật. Khi tôi xác nhận là tôi, cô ấy òa ra khóc…Sau những ân cần hỏi han, Phượng kể: Anh ấy đeo đẳng Phượng trong 4 năm trời. Phượng nói Phượng đã có người, anh ấy cứ đeo đẳng. Phượng kể thật với anh ấy chuyện Phượng và anh, anh ấy chịu là trong lòng Phượng có một người…”.

Tôi xin thành thật cám ơn Phượng về tình yêu của Phượng dành cho tôi, cả trong những ngày tháng đợi chờ, đau khổ… Rồi tôi hỏi: “Phượng còn giữ những bức thư không?” tôi muốn tìm hiểu lúc tôi 16 tuổi viết văn ra sao, chắc lủng củng lắm! Phượng bảo: “Em để vào một chiếc hộp chung với tập ảnh chụp hồi đó. Nó theo em đi tất cả mọi nơi, nhưng chồng em thấy em lúc nào cũng buồn, nói với em nên giấu nó vào một chỗ, lúc nào vui hãy mở ra. Thế là ông ấy bỏ vào đâu không rõ. Mấy năm sau ông ấy mất, tìm cái hộp khắp nơi mà không ra! Em nhớ anh viết dài… dài lắm. Hôm nọ muốn tìm cái hình anh ngày đó mà chẳng thấy. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may mà con cháu bữa đó không có ở nhà…”.


TPT
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 75
Posts: 13553
Has thanked: 12667 times
Have thanks: 10042 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam (1)

Postby Duong Nam Anh » November 14th, 2017, 12:06 pm

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image


Lời giới thiệu: “70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam” do Hoài Nam phụ trách và đã phát sóng trên đài phát thanh SBS ở Úc châu. Là một chương trình có sức hút mạnh mẽ đến thính giả và được lan truyền khắp nơi. Nhận thấy đây là một công trình biên soạn rất giá trị, nhạc sĩ Nam Lộc đã giúp chúng tôi liên lạc tác giả Hoài Nam và được phép tác giả đăng lại trên Trẻ. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.


Theo lời Hoài Nam – người biên soạn – đây chỉ là một chương trình giới thiệu tân nhạc, với mục đích chính là phục vụ nhu cầu thưởng thức của thính giả, tác giả tự xét không có tham vọng và cũng không đủ tư cách để đánh giá các tác phẩm và các tác giả như một nhà phê bình, và trong chủ đề chỉ chuyên về tình ca này, tác giả tạm gác qua lập trường chính trị cũng như cuộc sống cá nhân của từng người. Mời quý bạn đọc theo dõi và xin được lắng nghe tất cả ý kiến từ quý bạn đọc…

Phạm Duy Nhượng



Image
NS Phạm Duy-Nhượng


Vào những năm cuối thập niên 1940, trong khi người ta biết rất ít về Lê Trạch Lựu, tác giả bản “Em Tôi”, và hầu như không biết gì về Doãn Cảnh và Văn Thủy, đồng tác giả bản “Dứt Ðường Tơ”, thì lại được biết khá nhiều về Phạm Duy Nhượng, tác giả bản “Tà Áo Văn Quân”. Ông là em trai thạc-sĩ Phạm Duy Khiêm và là anh trai nhạc sĩ Phạm Duy. Ông từng đi dạy học, rồi làm ký giả cho một hãng thông tấn ngoại quốc. Ngoài ra, ông còn có công dịch lời hát cho một số tác phẩm của Phạm Duy sang tiếng Pháp để người ngoại quốc hiểu được nhạc Việt Nam. Thế nhưng, chẳng mấy người biết được mặt ông bởi ông có một cuộc sống rất kín đáo.

Phạm Duy Nhượng có hai tác phẩm được xuất bản là “Tà Áo Văn Quân” – một tình khúc, và “Chiều Ðô Thị” – một ca khúc châm-biếm mô tả khung cảnh và hoạt cảnh những thành phố. Nhưng theo lời kể lại của người đương thời, Phạm Duy Nhượng đã sáng tác ít nhất ba ca khúc, trong đó ca khúc đầu tay là bản “Say Thuốc Lào” chỉ được truyền miệng. Ðây là một ca khúc vui, sáng tác vào thời đầu của kháng chiến, nói về những cái tức cười trước cảnh người thành phố dời về thôn quê, qua câu chuyện tình không thành giữa một người đẹp và một chàng say thuốc lào.

“Yêu em như một chiếc ngai vàng, yêu em như ngàn tiếng tơ đàn, yêu em như ngàn lời thơ duyên, yêu em như một viên thuốc lào. Người đẹp tôi yêu, lấy chồng để phụ tình tôi, vì tôi say thuốc lào…”

Nếu có thực bản “Say Thuốc Lào” là của Phạm Duy Nhượng, thì so với bản “Tà Áo Văn-Quân” phải nói là hai thái-cực. Ông là nhạc-sĩ đầu tiên mượn chuyện tình Tư-Mã Tương-Như/Trác Văn-Quân của Trung-Hoa để viết một tình-khúc hoàn toàn Việt-Nam.

Image
“Tà Áo Văn-Quân”


Thời xưa, lúc còn hàn-vi, Tương-Như ôm đàn cảm-tác gảy khúc “Phụng Cầu Hoàng”, khiến nàng goá-phụ trẻ Văn-Quân mê-mẩn, bỏ lầu sang gác tía đang đêm leo tường đi theo. Sau này, Tương-Như có ý muốn lấy thiếp, Văn-Quân bèn làm khúc “Bạch Ðầu Ngâm”, Tương-Như nghe cảm-động bèn bỏ ý-định ấy đi. Ngày nay, qua bản “Tà Áo Văn-Quân” với nội-dung nửa thực nửa mộng, nửa tục nửa tiên, Phạm Duy-Nhượng đã gợi nhớ tới mối tình đam-mê và chung-thủy muôn thuở ấy, để rồi than-thở: “Ai trong chúng ta sẽ yêu nhau đến lúc bạc đầu?”

Có những chiều hoa, nồng nhạt say liên hoan

Bên những người hoa, ngạt ngào hương tóc phấn

Một chàng phiêu lãng, ôm đàn tới giữa đời

Ðàn hôn làn tóc, người đẹp tươi nét môi

Mộng vương tà áo

Nhạc giao tình chơi vơi!



Ta gửi về người ôi! mấy cung đàn Tư Mã xưa

Yêu đôi mắt huyền

Xinh như dáng thuyền

Ai nhẹ lay màn the thấp thoáng?

Nàng nhẹ đôi gót hài

Dừng bên mái ngoài

Văng vẳng tiếng ai cười

Như mộng đời xa xôi



Tư Mã chàng ơi, dừng đàn bên Văn Quân

Nâng phím hào hoa, kề làn môi giai nhân

Dựng nhà bên suối, cung đàn ấp má đào

Mộng chưa tàn khúc, Phượng Cầu lưu luyến nhau

Phượng ôi! đàn vắng

Tìm chim Hoàng nơi nào?

https://youtu.be/tstr8ZfILuU

Lê Hoàng-Long




Trong số những nhạc-sĩ chỉ một lần ôm đàn không thể không nhắc tới Lê Hoàng-Long. Người ta biết khá rõ về tiểu-sử của Lê Hoàng-Long, nhưng chẳng mấy ai hiểu được con người của ông cũng như thái-độ của ông ở đời và với đời. Ông sinh ra ở tỉnh Sơn-Tây, lưu-lạc tới Huế, và sau này vào Sài-Gòn sinh sống bằng nghề dạy vĩ-cầm. Ông chỉ sáng-tác một ca-khúc duy nhất, nhưng là ca-khúc để đời: “Gợi Giấc Mơ Xưa”.

Image
NS Lê Hoàng-Long

Xưa nay đã không ít nhạc-sĩ thở-than cho duyên-kiếp lỡ-làng, nhưng hình như chưa thấy một sự lỡ-làng nào buồn như trong bản nhạc của Lê Hoàng-Long. Không hiểu vì hình bóng nàng đã quá xa mờ, vì sóng sầu ngập lòng theo năm tháng khiến dòng sông Hương cũng phải buồn theo. Hay tại mưa gió tiêu-điều trên dòng sông đã khiến ông thêm sầu thảm. Hoặc vì ông biết mình chỉ có thể yêu một lần: “Xa em đời anh tắt nụ cười” cho nên ông đã dồn hết tinh-hoa vào tác-phẩm duy-nhất ấy để cống-hiến cho đời. Và cũng để đời chia sẻ với ông nỗi sầu trong khúc tơ vương.

Ngày mai lênh đênh trên sông Hương,

Theo gió mơ hồ hồn về đâu?

Sóng sầu dâng theo bao năm tháng,

ngóng về đường lối cũ tìm em!



Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng rồi

Xa em! lòng anh muốn nói bao lời gió buông lả lơi

Hình bóng đã quá xa mờ dần theo thời gian.

Kiếp sau xin chắp lời thề cùng sống bước lang thang.

Em ơi! tình duyên lỡ làng rồi còn đâu nữa mà chờ,

Anh đi lòng vương vấn lời thề nhớ kiếp sau chờ nhau

Tha hương lòng thương nhớ ngày nào cùng tắm nắng vườn đào.

Gió xuân sang anh buồn vì vắng bóng người yêu.

Rồi mai khi anh xa kinh đô

Em khóc cho tàn một mùa thơ

Nhớ người em nương theo cơn gió.

Ru hồn về dĩ vãng mộng mơ.



Thương em thì thương rất nhiều mà ván đã đóng thuyền rồi.

Ða đoan trời xanh cắt cánh lìa cành khiến chim lìa đôi

Chiều xuống mưa gió tiêu điều reo trên dòng Hương.

Tháng năm chưa xóa niềm sầu vì đứt khúc tơ vương.



Em ơi, đời đã lỡ hẹn thề thì đâu có ngày về.

Xa em đời anh tắt nụ cười héo hắt đôi làn môi

Ðêm đêm đèn le lói một mình ngồi ôm giấc mộng tình.

Kiếp sau đôi tim hòa chào đón ánh bình minh.

https://youtu.be/U67OboJ1858

Tu My




Trong cuộc đời
có những điều chúng ta muốn mãi mãi khắc ghi, có những điều chúng ta muốn quên đi vĩnh-viễn. Thế nhưng bên cạnh đó cũng có những quên lãng, những nhớ nhung ngoài ước muốn. Thường thấy nhất là những vấn-vương vô-tình, những nỗi nhớ bất chợt về một bóng hình nào đó đã khiến ta xao-xuyến, rung-động một thời. Có lẽ đó cũng chính là hoàn-cảnh và tâm-trạng của Tu My, tác-giả bản “Tan Tác”.

Tu My là ai? Cho tới giờ này tất cả những điều mọi người kể về ông vẫn chỉ là huyền-thoại. Một trong những huyền-thoại ấy nói rằng ông là một nhà giáo viết tác-phẩm duy nhất của mình trong một lúc hoài-cảm bi-luỵ, nhớ về một hình bóng giai-nhân đã ngoài tầm tay, kiếp sau họa gặp kiếp này đành thôi.

Mây bao la trời đen u tối

Ðêm đông trường lữ khách bâng khuâng

Ngóng về phương xa chờ tin nhạn…

nhưng nhạn nào có biết nơi nao mà chờ,

Nhạn còn véo von bay cao bay xa tít…

chẳng có hẹn ngày về tìm ai nơi nao



Nhạn còn say mê những bông hồng tươi thắm

nô đùa cùng ngàn cành liễu lả lơi như gợi tình Xuân.

Nhạn còn mải bắt bướm vàng xinh xinh bay lướt nhẹ nhịp nhàng bên ngàn suối trong . . .

Bây giờ chim đã bạt ngàn khôn tìm . .

Cách sông cách núi muôn trùng

gió ơi, gió đưa chim về cùng ta kẻo ta mong . . .

gió im gió chẳng trả lời . . .

Chim hỡi hận lòng quyết gởi mây bay kiếp sau hẹn gặp,

kiếp này đành thôi . . .

https://youtu.be/AltPQClaREI

Võ Đức-Phấn



Quay vào trong Nam, việc sáng-tác tình-ca trong thời-gian này không đáng kể. Không phải vì miền Nam không có nhân-tài, mà vì hai nguyên-nhân khách-quan sau đây. Thứ nhất, các nhạc-sĩ trong Nam không tụ-họp thành từng nhóm như ở Hà-Nội, Nam-Ðịnh, Hải-Phòng ngoài miền Bắc, hoặc ở Huế, Hội-An ở miền Trung, nên đã không có dịp sinh-hoạt, trao đổi kinh-nghiệm và tạo ra một không-khí sôi-nổi cho công việc sáng-tác. Nguyên-nhân thứ hai, theo chúng tôi quan-trọng hơn, là vì cuộc kháng-chiến chống Pháp ở miền Nam nổ ra sớm hơn ở miền Bắc hơn một năm trời đã thu hút biết bao nhân-tài trong nền tân-nhạc. Những nhân-tài ấy, ngoài Nguyễn Mỹ Ca mà chúng tôi đã nhắc tới cùng với bản “Dạ-Khúc” bất-hủ còn có Lê Trực, tác-giả bản “Tiếng Còi Trong Sương Ðêm”; Hiếu-Nghĩa, tác-giả hai ca-khúc “Chàng Ði Theo Nước” và “Ông Lái Ðò”; Võ Hoà-Thanh, tác-giả bản “Tình Nước” v.v.

Image
Bìa nhạc-phẩm “Chàng Đi Theo Nước”


Tạm gạt bỏ yếu-tố chính-trị, tức là việc lý-tưởng cao đẹp lúc ban đầu của các nhạc-sĩ nói trên về sau đã trở thành niềm cay-đắng cho cả một thế-hệ, chúng ta phải nhìn nhận “Tiếng Còi Trong Sương Ðêm” và “Ông Lái Ðò” là hai trong những ca-khúc bất-hủ của nền tân-nhạc trong Nam. Nếu không có cuộc chiến, hoặc các nhạc-sĩ nói trên không sớm bỏ mình trong những ngày đầu khói lửa, chắc hẳn nền tân-nhạc miền Nam trong giai-đoạn ấy đã có thêm nhiều tình-khúc bất-hủ chứ không phải chỉ có một “Dạ-Khúc” của Nguyễn Mỹ Ca mà thôi. Lê Trực viết trong “Tiếng Còi Trong Sương Ðêm”: “Thương cho chồng mấy dặm sơn-khê, khi ra đi có hứa Thu nay về”. Hiếu-Nghĩa viết trong bản “Ông Lái Ðò”: “Họ đi rồi ông thấy buồn ảo-não, vì họ qua bên ấy một lần thôi.” Ðể rồi chính hai nhạc-sĩ, cùng với Nguyễn Mỹ Ca, Võ Hoà-Thanh cũng ra đi không bao giờ trở lại…

Trở lại với Sài-Gòn hoa-lệ, hòn ngọc Viễn-Ðông, trong số những sáng-tác hiếm-hoi vào thời ấy, nổi bật một bản nhạc tình thật dễ thương. Ðó là bản “Cùng Một Kiếp Hoa”, sáng-tác duy nhất của Võ Ðức-Phấn. Nội-dung bài hát nói về một tuyệt-thế giai-nhân và sánh nàng với bông hoa mới nở cùng đàn bướm nhởn-nhơ. Như nhiều người Sài-Gòn năm xưa còn nhớ, nhạc-sĩ Võ Ðức-Thu chính là cây cổ-thụ của nền tân-nhạc trong Nam. Còn Võ Ðức-Tuyết, bào-đệ của ông, một nhạc-sĩ dương-cầm nổi tiếng và một nhạc-trưởng uy-tín của đài phát-thanh Pháp-Á. Vì thế, khi bản “Cùng Một Kiếp Hoa” của Võ Ðức-Phấn được phổ-biến tại Sài-Gòn mà không ai được biết con người thật của tác-giả, đã có nhiều người nói rằng ông là em ruột của Võ Ðức-Thu, anh ruột của Võ Ðức-Tuyết. Thậm chí một số người còn viện-dẫn thể-điệu cha-cha và âm-hưởng Tây-phương trong bản “Cùng Một Kiếp Hoa” để quả-quyết đó là ba anh em một nhà. Nhưng có điều khó hiểu là trong suốt mấy chục năm bản nhạc này được phổ-biến và ưa chuộng tại miền Nam, đã không ai chịu hỏi thẳng hai nhạc-sĩ Võ Ðức-Thu và Võ Ðức-Tuyết về việc này. Ðể rồi tới nay, khi cả ba ông đã hoá người thiên-cổ, mọi người cứ tiếp tục thắc-mắc. Người ta không có dịp hỏi, hay đã hỏi nhưng vẫn muốn giữ bí-mật về tác-giả của ca-khúc độc-đáo này:

Trông em xinh xinh mắt tình tình

Ðôi môi tươi tươi má hồng hồng

Mái tóc phất phới bay như gió đưa làn sóng

Ðôi mi cong cong sắc huyền huyền



Tay em bon bon thoáng nhìn đời

Mắt thấy ướt luôn như đắm lệ từ lâu

Trông em đi tha thướt dường nào

Ðôi khi em mỉm cười vườn hoa kia chớm nở



Lả lướt phất phơi tà áo dáng đi thêm dịu dàng tựa cành hoa trước gió

Nhìn hoa mới nở màu hoa thắm tươi

nhởn nhơ nhởn nhơ đàn bướm

Nhị hoa trắng trong đàn bướm mê say đến gần bên hoa



Cành hoa đã mở nhìn hoa đắm say đổi trao biết bao lời hứa

Lòng hoa chan chứa hương xuân thơ ngây trao tình đưa duyên

Lời hoa tha thiết trao lời cùng bướm cận kề nhụy hoa



Tình hoa đang nở hương sắc đương duyên đời hoa ngây thơ

Nhụy hoa đã rữa màu hoa úa say tìm thấy đâu con bướm vàng

Còn duyên đưa đón khi hoa đương xuân đến chiều rơi hoa?

https://youtu.be/lnkxhPZyWGc



Hoài Nam
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 75
Posts: 13553
Has thanked: 12667 times
Have thanks: 10042 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam

Postby Duong Nam Anh » December 3rd, 2017, 6:21 am

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam
Image


Hoàng Giác & Nguyễn Văn Khánh



Chúng tôi đã giới-thiệu một số tình-khúc tiêu-biểu của một số nhạc-sĩ đi theo kháng-chiến. Tuần này chúng tôi bắt đầu đề-cập tới các nhạc-sĩ không theo kháng-chiến, nhưng tới năm 1954 khi đất nước bị phân-ly đã lựa chọn ở lại miền Bắc. Trong số những nhạc-sĩ không đi theo kháng-chiến nhưng sau này ở lại miền Bắc ấy, hai tên tuổi lớn nhất phải là Ðoàn Chuẩn, nổi tiếng với những bản nhạc tình uỷ-mị thiết-tha, và Hoàng Giác, nổi tiếng với những bản tình-ca chan-chứa tình người, tình quê-hương, đất nước.


Image
Hoàng Giác thời trẻ


Trong các bài trước, khi chúng tôi nhắc tới hai chữ “kháng-chiến” thì chỉ nhắc tới với ý nghĩa của thể chất, là phân-định chiến-tuyến của các nhạc-sĩ trong giai-đoạn binh lửa này. Còn “yêu nước” hay “không yêu nước”, “yêu nước một cách sáng suốt hay mê muội” là hoàn toàn tuỳ thuộc vào tâm-hồn và cách hành-xử trong cuộc sống của các nhạc-sĩ ấy, chứ không phải do vị-trí “bên này” hay “bên kia” chiến-tuyến.

Một trong những nhạc-sĩ sống ở Hà-Nội, lúc đó do Pháp chiếm đóng, nhưng lòng luôn hướng về quê-hương, dân-tộc, là Hoàng Giác. Sinh năm 1924, ông thuộc lớp nghệ-sĩ thứ hai của nền tân-nhạc Việt-Nam, cùng với những Ðoàn Chuẩn, Hoàng Trọng, Ngọc Bích, Nguyễn Văn Khánh, Phan Huỳnh Ðiểu, Văn Giảng, Châu Kỳ v.v. Ông sống tại Hà-Nội, thường lên đài phát-thanh để tự trình-bày một số ca-khúc của mình. Nhưng nếu nhìn vào toàn bộ sự-nghiệp âm-nhạc của ông và nhận xét kỹ nội-dung của từng ca-khúc, chúng ta sẽ thấy ông còn yêu nước hơn cả một số người đã rời bỏ thành-phố để đi theo lý-tưởng.

Các tác-phẩm của ông như “Quê-Hương”, “Hương Lúa Ðồng Quê”, “Khúc Hát Thương-Binh”, “Tiếng Hát Biên-Thuỳ”, “Anh Sẽ Về”, “Ngày Về”… đều là những ca-khúc đầy tình-tự quê-hương, chan-chứa tình người. Như lời hát trong bài “Quê-Hương”:

Ai qua miền binh khói, nhắn rằng nơi xa-xôi

Tôi vẫn mơ lùm tre xanh ngát

Về quê xưa để sống êm-đềm giấc mơ

Về quê xưa tìm bóng những ngày đã qua


Nhà thơ Nguyễn Ðình Toàn đã nhận xét: “Trong toàn thể nhạc của Hoàng Giác, lúc nào cũng thao-thức một niềm mong ước được trở về.” Trở về ở đây, theo suy nghĩ của chúng tôi, mang một ý nghĩa hết sức trừu-tượng và bao-quát. Ðó là sự tìm về quá-khứ êm-đềm, tiếc nuối những tháng ngày hoa mộng đã qua, hay nhớ lại những ước mơ bên dòng sông tuổi nhỏ. Cho nên bất cứ ai, dù đứng bên này hay bên kia chiến-tuyến, cũng mơ ước một sự trở về trong các ca-khúc của Hoàng Giác. Vì thế sau khi đất nước bị chia cắt, cuộc chiến-tranh giữa hai miền Nam-Bắc trở nên khốc-liệt, chính-quyền miền Nam đã sử-dụng bài “Ngày Về” của Hoàng Giác, một nhạc-sĩ đang sống ở miền Bắc, để làm nhạc-hiệu cho chương-trình Chiêu-Hồi, cũng chẳng có ai thắc-mắc, bởi vì bài hát ấy đã trở thành tiếng chim gọi đàn chung cho mọi loài chim, ở bất cứ nơi nào.

Image
Nhạc-sĩ Hoàng Giác thập niên 2010


Tung cánh chim tìm về tổ ấm

nơi sống bao ngày giờ đằm thắm

nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi

luyến tiếc bao ngày xanh.

Tha thiết mong tìm về bạn cũ

nhưng cánh chim mịt mùng bạt gió

vắng tiếng chim xanh ngày vui hót tung mây

mờ khuất xa xôi nghìn phương

Trên đường tha hương, vui gió sương

riêng lòng ta mang mối nhớ thương

âm thầm thương tiếc cho ngày về

tìm lại đường tơ nay đã dứt

Nghe tiếng chim chiều về gọi gió

như tiếng tơ lòng người bạc phước

nhắp chén men say còn vương bóng quê hương

dừng bước tha hương lòng đau.




Người ta kể lại rằng ngày ấy, bài hát này phổ-biến tới mức những chàng lính viễn-chinh Pháp đóng tại Hà-Nội cũng thích hát. Có lẽ họ không hiểu được lời hát, nhưng âm-điệu đã khiến họ rung động và chạnh lòng nhớ cố-hương chăng. Chẳng khác nào bản “Come Back to Sorrento” tức bản “Trở Về Mái Nhà Xưa” nổi tiếng của phương Tây cũng từng khiến chúng ta có cùng tâm-trạng.

Image
Hình bìa bản “Mơ Hoa” của Hoàng Giác

Nói về nhạc tình của Hoàng Giác, xét từng lời ca lẫn nét nhạc những bản như “Mơ Hoa”, “Lỡ Cung Ðàn”, “Bóng Ngày Qua” của ông, không vượt lên trên tác-phẩm của những tác-giả nổi tiếng khác. Thế nhưng ai cũng thích hát, ai cũng thích nghe. Có lẽ vì nhạc tình của ông có một sự gần-gũi với đối-tượng thưởng-thức, nồng-nàn xúc-động nhưng không thảm-sầu bi-luỵ. Hình như nghe bản nhạc tình nào của Hoàng Giác người ta cũng có thể thấy chính mình ở trong đó, với những kỷ-niệm, những mơ-ước, những nỗi-niềm riêng. Nhưng vượt lên trên tình-tự quê-hương, tình người và tình yêu đôi lứa, các ca-khúc của Hoàng Giác còn cho thấy ông là một người có tâm-hồn mơ-mộng. Và đó cũng là nguyên-nhân khiến sau năm 1954 thực-tế phũ-phàng đã khiến ông không còn nguồn cảm-hứng để sáng-tác nữa. Tuy nhiên, cũng giống như trong trường-hợp của Tô Vũ, chúng ta cũng không nên đòi hỏi thêm ở nơi Hoàng Giác. Bởi người nghệ-sĩ nói chung, và nhạc-sĩ nói riêng, vào thời ấy họ sáng-tác vì lòng yêu nghệ-thuật, vì rung động thực sự trong tâm-hồn, chứ không phải vì lợi-nhuận, bổng-lộc hoặc danh-vọng hay địa-vị. Cho nên một khi không có cảm-hứng, nguồn nhạc cũng cạn theo.

Cô hái hoa tươi, hãy dừng bước chân

Trên đường thầm xa, tôi nhắn cô em đôi lời

Lòng không lưu luyến, sao đành cô lãng quên,

Quên người gặp gỡ trong một chiều mơ.

Chuông chiều ngân tiếng vấn vương lòng trông theo cô hái hoa,

Bước đi bâng khuâng muôn ngàn sầu nhớ

bóng mờ mờ xa.

Tan giấc mơ hoa!

Bóng người khuất xa, đôi đường từ đây

Ai bước đi không hẹn ngày,

Người tuy xa cách nhưng lòng ta khắc ghi,

Bên đèn một bóng tháng ngày chờ mong

Lưu luyến chi nhau, thêm sầu đớn đau

Muôn trùng từ đây, trong gió sương thân giang hồ.

Đường xa xa tắp ngại ngùng chân bước quên,

Bên lòng thầm nhớ bóng hình người mơ.

Trên đường xa vắng bóng ai mờ khuất

lòng thêm vấn vương,

Gió thông xa đưa reo buồn sầu nhớ

tới người chiều xưa

Cô hái hoa ơi!

Mắt mờ đoái trông, sao đành thờ ơ

Trong giấc mơ ta mong chờ,

Dù hoa quen bướm âm thầm riêng có ta

Hoa còn tàn úa tơ lòng còn vương





Nguyễn Văn Khánh


Hiện nay trong chúng ta không ai còn nhớ năm sinh của tác-giả bài “Nỗi Lòng”, mà cũng chẳng biết ông mất năm nào, trong trường-hợp nào. Nhưng trước năm 1954, ở Hà-Nội hầu như giới yêu nhạc ai cũng biết tới tên tuổi của Nguyễn Văn Khánh. Vì ông không chỉ là một nhạc-sĩ sáng-tác mà còn là một trong hai nhạc-sĩ nổi tiếng mở lớp dạy đàn Hạ-Uy-Cầm. Người kia là ông William Chan. Thời ấy sinh-viên học-sinh miền Bắc hầu như ai cũng biết đàn hai loại đàn căn-bản là Mandolin và Banjo. Nhưng nếu muốn lãng-mạn thì phải học thêm Hạ-Uy-Cầm. Và thường chỉ học vừa đủ để trổ tài cho các cô bạn học, các cô hàng xóm thưởng-thức. Chỉ có những người ôm mộng sáng-tác mới dám mon-men tới lớp nhạc của Hùng Lân, một bậc thầy về nhạc-lý và người đã có công thành-lập ca-đoàn Lê Bảo Tịnh của Công-Giáo năm 1945 tại Nam-Ðịnh.

Image
Nhạc-sĩ Nguyễn Văn Khánh

Ðặc-biệt, Nguyễn Văn Khánh chơi đàn bằng tay trái. Xưa nay người ta thường nói rằng những người chơi đàn bằng tay trái nếu không phải thiên-tài thì cũng có năng-khiếu đặc-biệt—như Jimi Hendrix của Mỹ, Paul McCartney của Anh, hoặc Hồ Ðăng Tín của miền Nam sau này. Vì xuất-thân là một nhạc-sĩ chơi Hạ-Uy-Cầm nên phần lớn các sáng-tác của Nguyễn Văn Khánh cũng đều mang âm-hưởng ngọt-ngào, êm-ái của loại nhạc-cụ ấy. Về lời hát, dáng vẻ mộc-mạc, tự-nhiên trong các tình-khúc của ông có lẽ còn gần-gũi với người nghe hơn cả các ca-khúc của Hoàng Giác. Tính cho tới khi im tiếng vào năm 1954, Nguyễn Văn Khánh đã cống-hiến cho đời 5 bản tình-ca. Trong đó 3 bản “Nỗi Lòng”, “Nhạc-Sĩ Với Cây Ðàn” và “Chiều Vàng” đã được xem là những tác-phẩm để đời.

Yêu ai, yêu cả một đời

Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta

Đau tủi cả lòng vì yêu ai mà lòng hằng nhớ

Năm tháng trôi lạnh lùng hoài

Tình đó nhắc nhở luôn đến ta tình ai

Nhớ cả một trời

Tình yêu kia mà lòng nào quên.

Điệp khúc:

Lòng vẫn biết nếu yêu rồi một ngày

Là đến với đớn đau

Nhưng sao trong ta cứ vẫn yêu vẫn nhớ

Dầu sao, dầu sao nếu có một ngày

Một ngày ai reo tim ta

Là tình yêu kia ly tan

Và lòng vẫn thương vẫn nhớ

Tình đó khiến xui lòng ta đau

Rồi với bao ngày lặng lẽ sống

Nỗi đau trong lòng người yêu vẫn yêu hoài.

Yêu ai, ai hiểu được lòng

Thầm kín những đớn đau với riêng lòng ta

Ấp ủ lạnh lùng tình yêu kia mà người nào hay.




Trong giai-đoạn thành-lập và phát-triển của nền tân-nhạc Việt-Nam, tức là từ năm 1938-1954,
hình như trong mỗi khoảng thời-gian ngắn lại có một tình-khúc nổi bật được ưa chuộng hơn hẳn những bản khác. Khởi đầu là “Biệt-Ly” của Doãn Mẫn, “Giọt Mưa Thu” của Ðặng Thế Phong, rồi tới “Cô Láng Giềng” của Hoàng Quý, “Bến Xuân” của Văn Cao. Sau “Cây Ðàn Bỏ Quên” của Phạm Duy tới “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa” của Tô Vũ, và sau “Nỗi Lòng” của Nguyễn Văn Khánh là “Dư-Âm” của Nguyễn văn Tý.

Image
Nguyễn Văn Tý, tác giả “Dáng Đứng Bến Tre”, tại Sài Gòn (2016)


Chúng ta không được biết nhiều về Nguyễn Văn Tý và các tác-phẩm của ông ngoài bản “Dư-Âm”.
Và rất tiếc trong hai lần hiếm-hoi để cho một trung-tâm băng nhạc ở hải-ngoại phỏng-vấn, một lần vào năm 1995, một lần vào năm 2007, Nguyễn Văn Tý cũng đã không cho biết ngoài bản “Dư-Âm” được phổ-biến ông còn sáng-tác những bản nào khác. Ông chỉ cho biết hoàn-cảnh sáng-tác bản “Dư-Âm” là có thật.

Image
Nhạc-sĩ Nguyễn Văn Tý thời thanh-xuân

Image
Nguyễn Văn Tý cùng vị-hôn-thê Bạch-Lê (1952)


Ðêm trăng ngày ấy, người đẹp xõa tóc bờ vai ôm đàn gửi tới ông những lời thề nguyền đẹp như muôn ý thơ. Vì thế dưới mắt người yêu nhạc có thể xếp Nguyễn Văn Tý vào hàng-ngũ những nhạc-sĩ chỉ ôm đàn một lần. Chỉ một lần, nhưng tác-phẩm ấy sẽ không bao giờ bị quên lãng.

Image
Bà Bảy, nhân vật chính của bài “Dư-Âm”


Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ

Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ

Mái tóc nhẹ rung, trăng vờn làn gió

Yêu ai anh nắn cung đàn đầy vơi đôi mắt xa vời

Anh yêu tiếng hát êm như lời nguyền đẹp bao ước mơ

Anh như lầu vắng em như ánh trăng reo muôn ý thơ

Muốn nói cùng em đôi lời trìu mến….

Tim anh băng giá đang ngại ngùng câu năm tháng mong chờ

Hẹn em từ muôn kiếp trước

Nhớ em mấy thuở bạc đầu

Anh đã âu sầu vì đường tơ vương vấn

Em để cung đàn đưa anh về đâu?

Dư âm tiếng hát reo lên trong lòng anh bao nhớ nhung

Đê mê lòng nhớ đêm qua giấc mơ môi em hé rung

Anh muốn thành mây nương nhờ làn gió

Đưa anh tới cõi mơ hồ nào đây muôn kiếp bên nàng.






By Hoài Nam
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 75
Posts: 13553
Has thanked: 12667 times
Have thanks: 10042 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Re: 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam

Postby Duong Nam Anh » March 13th, 2018, 6:15 pm

70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam

Đoàn Chuẩn – Từ Linh



Trong hai kỳ trước, chúng tôi đang đề-cập đến những nhạc-sĩ đã lựa chọn ở lại miền Bắc sau Hiệp-Định Genève 1954. Tuần này, để kết-thúc phần nói về những người ở lại, chúng tôi xin dành trọn bài để nói về cố-nhạc-sĩ Đoàn Chuẩn, tác-giả của những tình-khúc để đời, và cũng là một trong những nghệ-sĩ đã để lại nhiều giai-thoại, huyền-thoại về cuộc đời và sự-nghiệp cùng với muôn vàn tiếc thương.


Ðoàn Chuẩn được xem là một trong ba nhạc-sĩ chuyên viết về mùa Thu. Hai người đi trước là Ðặng Thế-Phong và Văn Cao. Thế nhưng, khác với hai nhạc-sĩ nghèo kia, Ðoàn Chuẩn là công-tử thành-phố Cảng, tức Hải-Phòng. Ông sinh năm 1924 trong một gia-đình giàu có, chủ-nhân hãng nước mắm Vạn-Vân nổi tiếng khắp Ðông-Dương, đã được nhắc tới trong câu tục-ngữ: “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần / Nước mắm Vạn-Vân, cá rô Ðầm Sét”.

Công-tử thành-phố Cảng nổi tiếng là người hào-hoa, có thú chơi xe hơi. Vào thủa mà đa-số người dân thành-phố chỉ đủ khả-năng sắm một chiếc xe đạp, thì Ðoàn Chuẩn đã làm chủ tới sáu chiếc xe hơi. Trong đó có một chiếc Ford Frégatte độc-nhất tại miền Bắc, và một chiếc Buick cùng đời cùng kiểu với xe của Thủ-Hiến Bắc-Kỳ.

Image
Đoàn Chuẩn thời còn bé, cùng gia đình ở Hải-Phòng


Ông về Hà-Nội học tây-ban-cầm với Nguyễn Thiện-Tơ một thời-gian, rồi quay sang thọ-giáo hạ-uy-cầm với William Chấn. Người ta cho rằng nét nhạc dịu dàng, tha-thiết trong các sáng-tác của ông là do ảnh-hưởng của loại nhạc-cụ này. Năm 1947, sau khi kháng-chiến bùng nổ, gia-đình ông dời về Thanh-Hoá. Tại đây ông gặp gỡ Tô Vũ, tác-giả bản “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa”, cùng đi hát với Ngọc-Bích. Năm 1948, Ðoàn Chuẩn sáng-tác bản nhạc đầu tay, “Tình Nghệ-Sĩ”. Ca-khúc này được giới thưởng-ngoạn đón nhận ngay, có lẽ vì nhạc của ông giản-dị mà thấm-thía, nhẹ-nhàng mà lắng đọng, nhất là gần-gũi với người nghe.

Ðây khách ly hương mấy thu vàng ấm…

Nơi quán cô đơn mơ qua trùng sóng…

Mơ tới bên em em tô quầng mắt…

Em tôi ngập ngừng trong tấm áo nhung…

Tung phấn hương yêu qua muôn lời hát…

Bay tới bên em tới em thầm nhắc…

Ðây ý tơ xưa đâu duyên tình cũ…

Bóng anh phai dần ái ân tàn theo…

Mối tình nghệ sĩ như giấc mơ…

Chóng tàn vì vương muôn ý thơ…

Mỗi chiều ngàn tiếng tơ khóc than

Còn nhắc mãi tới đêm nao trăng về…

https://youtu.be/jx8fbGi5QZk

Vào khoảng năm 1949, Ðoàn Chuẩn theo một đoàn cứu thương lên chiến-khu và sáng-tác bản “Ðường Về Việt-Bắc”. Mặc dù tựa đề mang đầy màu sắc kháng-chiến, ngay ở câu đầu Ðoàn Chuẩn đã cho biết đây là một bản nhạc tình:

“Chiều nào áo tím nhiều quá, lòng thấy rộn-ràng…”

Image
Đoàn Chuẩn (giữa) và ban nhạc hạ-uy-cầm


Tới đây, chúng tôi xin phép đi ra ngoài đề để nói về một cái sai cố-tình của nhiều người. Ðó là việc đổi tựa đề bản “Ðường Về Việt-Bắc” thành “Ðường Về Miền Bắc”. Vì lý-do chính-trị, sau này khi hát một số ca-khúc hoặc sử-dụng những bài thơ sáng-tác thời kháng-chiến, người ta đã thay đổi một vài chữ cho phù-hợp với thời-thế. Chẳng hạn, mấy chữ “anh du-kích” trong bản “Sơn-Nữ Ca” của Trần Hoàn được thay bằng “anh lữ-khách”. Hoặc câu “Nàng có ba người anh đi bộ-đội” trong bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan được đổi thành “Nàng có ba người anh đi quân-đội”. Thế nhưng, trong khi hai trường-hợp kể trên có thể chấp-nhận được, thì việc đổi tựa bản “Ðường Về Việt-Bắc” thành “Ðường Về Miền Bắc” không thể chấp-nhận bởi vì nó vô-lý và vô-nghĩa. Bài này được Ðoàn Chuẩn viết khi ông đang ở miền Bắc và đi lên chiến-khu Việt-Bắc, chứ không phải từ miền Trung hay miền Nam đi ra miền Bắc. Rất tiếc, có thể nói tới 99% những nhà xuất-bản nhạc, sản-xuất băng nhạc tại miền Nam trước năm 1975 và tại hải-ngoại sau này đã quên hẳn tựa đề nguyên-thủy của bài hát nói trên. Thiết nghĩ đây là một sự huý-kỵ không cần thiết, nếu không muốn nói là xem thường tác-giả.

Image
Hình thời thanh-niên, được dùng để quảng-cáo cho thương-hiệu Vạn-Vân

Năm 1950, chỉ một thời-gian ngắn sau khi theo đoàn cứu thương, Ðoàn Chuẩn bỏ kháng-chiến để trở về Hà-Nội. Tại đây, ông cho phổ-biến một số sáng-tác có sẵn, đồng-thời làm thêm những bản mới. Trong mọi sáng-tác của Ðoàn Chuẩn, trừ bản “Gửi Người Em Gái”, tất cả còn lại đều được ghi tác-giả là “Ðoàn Chuẩn-Từ Linh”, hoặc một cách chi-tiết hơn, “nhạc Ðoàn Chuẩn, lời Từ Linh”.

Từ Linh là một người bạn thân của Ðoàn Chuẩn, di-cư vào Nam năm 1954 và sau đó không ai nghe nói tới ông nữa. Có người nói ông mất năm 1987, người khác lại nói năm 1992. Riêng Ðoàn Chuẩn thì cho biết dù có ký tên Từ Linh, tất cả các ca-khúc đều do ông sáng-tác cả nhạc lẫn lời. Tại sao ông lại ghi tên Từ Linh vào tác-phẩm của mình là một bí-mật riêng tư. Tại Hà-Nội, các sáng-tác của Ðoàn Chuẩn được nồng-nhiệt đón nhận, được nhà xuất-bản nhạc Tinh-Hoa và các đài phát-thanh đua nhau phổ-biến. Tổng cộng từ năm 1948 tới năm 1956, Ðoàn Chuẩn sáng-tác được 16 ca-khúc, nhưng chỉ cho phổ-biến 10 bản được xem là những tình-khúc để đời.

Như chúng tôi đã trình-bày ở đoạn mở đầu, Ðoàn Chuẩn được xem là một trong ba nhạc-sĩ chuyên viết về mùa Thu, sau Ðặng Thế-Phong và Văn Cao. Tuy cùng là mùa Thu ở miền Bắc, nhưng Thu trong các sáng-tác của ba tác-giả đều khác nhau. Thu trong nhạc của Ðặng Thế-Phong là Thu tuyệt-vọng, như ông viết trong bản “Giọt Mưa Thu”: “Ai nức-nở thương đời, châu buông mau / Dương-thế bao-la sầu.” Còn Thu trong nhạc của Văn Cao là tiếng kêu khắc-khoải của những tâm-hồn cô-đơn, như trong bản “Buồn Tàn Thu”: “Ai lướt đi ngoài sương gió / Không dừng chân đến em bẽ-bàng / Ðêm mùa Thu chết / Nghe mùa Thu rớt rơi theo lá vàng…”

Image
Ca-sĩ Mộc Lan, nguyên mẫu của bài “Gửi Người Em Gái Miền Nam”


Thu của Ðoàn Chuẩn thì trái lại, là Thu quyến rũ, Thu của trời xanh, của những tà áo xanh, những lá thư tình màu xanh, của gió lộng mây ngàn. Cho tới lúc ấy hình như chưa có một nhạc-sĩ nào đem lại cho mùa Thu những dáng nét tuyệt-mỹ, những thơ-mộng êm-đềm như Ðoàn Chuẩn. Cũng lá vàng rơi tan-tác, cũng những cánh chim ngập-ngừng, nhưng sao Thu của Ðoàn Chuẩn đáng yêu quá. Hay vì ông yêu người nên yêu cả mùa Thu?

Với bao tà áo xanh đây mùa thu

Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ

Lá vàng từng cánh rơi từng cánh

Rơi xuống âm thầm trên đất xưa

Gửi gió cho mây ngàn bay

Gửi bướm muôn màu về hoa

Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư

Về đây với thu trần gian

Gửi gió cho mây ngàn bay

Gửi phím tơ đồng tìm duyên

Gửi thêm lá thư màu xanh ái ân

Về đôi mắt như hồ thu

Thấy hối tiếc nhiều

Thuyền đã sang bờ

Ðường về không lối

Giòng đời trôi đã về chiều

Mà lòng mến còn nhiều

Ðập gương xưa tìm bóng

Nhưng thôi tiếc mà chi

Chim rồi bay, anh rồi đi

Ðường trần quên lối cũ

Người đời xa cách mãi

Tình trần khôn hàn gắn thương lòng

https://youtu.be/PNUJ62IOUGQ

Ðoàn Chuẩn là một con người hào-phóng, điều đó không đáng ngạc-nhiên vì ông xuất-thân là công-tử thành-phố Cảng. Ông còn là con người đa-tình, đa-tình theo nghĩa văn-nghệ. Việc này cũng chẳng có gì đáng trách, mà đã được chính Ðoàn phu-nhân xác-nhận và thông-cảm. Nhưng có một điều mà có lẽ sau này một số người phải ân-hận, vì trước kia đã nhìn Ðoàn Chuẩn với một cặp mắt thiếu trân-trọng, đó là những người cho rằng ông là con nhà giàu, làm nhạc để mà chơi. Phải đợi tới sau năm 1954, khi nhạc của ông bị cấm hát tại miền Bắc và được phổ-biến sâu rộng, được yêu mến trong giới ca-sĩ, trong tầng lớp trí-thức, sinh-viên học-sinh ở trong Nam, những người nói trên mới nhận ra rằng Ðoàn Chuẩn không làm nhạc để mà chơi như họ nghĩ. Có thể khi học nhạc ông chỉ học để mà chơi. Nhưng khi bước vào lãnh-vực sáng-tác, ông đã sáng-tác với cả tâm-hồn.

Image
Đoàn Chuẩn & Từ Linh (Tạ Đình Thâu)


Thu đi cho lá vàng bay,

lá rơi cho đám cưới về

Ngày mai, người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa tình duyên đành dứt

Có những đêm về sáng đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi

đã vội chi men rượu nhấp đôi môi mà phung phí đời em không tiếc nhớ

Lá đổ muôn chiều ôi lá úa,

phải chăng là nước mắt người đi

Em ơi đừng dối lòng

dù sao chăng nữa không nhớ đến tình đôi ta

Thôi thế từ đây anh cố đành quên rằng có người

Cầm bằng như không biết mà thôi

Lá thu còn lại đôi ba cánh

đành lòng cho nước cuốn hoa trôi

https://youtu.be/zJMZ9Snd6kQ

Sáng-tác sau cùng trong số 10 tình-khúc của Ðoàn Chuẩn đã được ông viết vào năm 1956, đó là bản “Gửi Người Em Gái”, viết cho một người con gái đã di-cư vào Nam năm 1954. Lại thêm một giai-thoại đẹp và buồn về cuộc đời và sự-nghiệp của công-tử thành-phố Cảng, người nghệ-sĩ tài-tử đáng yêu đã để lại cho chúng ta những bản tình-ca muôn thuở…

Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng

Ðượm đà phong kín cánh mong manh tấm hoa lòng

Hà Nội chờ đón tết vắng bóng người đi liễu rũ mà chi

Ðêm tân xuân Hồ Gươm sao long lanh

Hoa mai rơi rủ nhau nơi phương xa

Ðường phố vắng bóng đèn chạnh lòng tôi nhớ tới người em

Tôi có người em gái, tuổi chớm dâng hương

mắt nồng rộn ý yêu thương

Ðôi mắt em nói nhiều tha thiết như dáng kiều

ôi tình yêu

Nhưng một sớm mùa thu giữa chân trời xanh ngát

Nàng đi gót hài xanh nàng đi cho dạ sao đành

Ðừng quên lối cũ ân tình nghĩa xưa

Rồi từ ngày ấy nước sông ngăn cách đôi lòng

Chuyện tình vỡ lỡ bến cô đơn không ai ngờ

Tình nghèo xa cách mãi em tôi đành ôm mối sầu mà đi

Em tôi đi màu son lên đôi môi

Khăn soan bay lả lơi trên hai vai

Nhìn xác pháo bên thềm gợi lòng tôi nhớ tới người em

https://youtu.be/342cHEe25hE


By Hoài Nam - January 24, 2018
User avatar
Duong Nam Anh
SuperModerator
Huy Chương Đỏ I
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Hình Ảnh Đệ Nhất Văn Thơ Đệ Nhất Cua Gái
9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership9 years of membership
Status:Offline
zodiac: Virgo-Xử Nử
Mood: Creative
Age: 75
Posts: 13553
Has thanked: 12667 times
Have thanks: 10042 times
Joined: June 29th, 2009, 8:47 am
Last Visit: September 18th, 2017, 5:42 am
Location: TX
Country: United States of America
    Windows 10 Chrome

Previous

Return to History & Culture Of VietNam | Lịch Sử & Văn Hóa Việt Nam

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 5 guests