Welcome to Vietdethuong. Click here to register
Feed

ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Read and learn ethnic origin Vietnamese | Hảy tìm hiểu và học hỏi nguồn gốc dân tộc việt

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 15th, 2017, 12:12 pm


HỒI THỨ MƯỜI

Khí hùng, Trí Dũng


Hà Thiện-Lãm, Trần Anh ngồi trên lưng ngựa hướng mắt nhìn xuống con đường dẫn tới chân núi. Bên cạnh nó, Nguyễn Khánh cũng nhìn theo.

Nguyễn Khánh hỏi:

– Này cậu. Tôi thấy cậu còn nhỏ tuổi. Chắc không phải bạn hữu của quan Điện-tiền chỉ-huy-sứ. Khuôn mặt cậu cũng không giống người, chắc chẳng phải anh em ruột. Tại sao cậu lại gọi người bằng anh hai?

Hà Thiện-Lãm cười:

– Anh thắc mắc cũng phải. Nguyên chúng tôi gồm chín người kết thành huynh đệ, đặt tên là Thuận-thiên cửu hùng. Anh Tạ Sơn đứng hàng nhì. Vì vậy tôi gọi anh là anh hai.

Nguyễn Khánh nhăn mặt:

– Thuận-thiên cửu hùng nghe kêu thực. Tạ chỉ huy sứ thì hùng nghe được. Còn các cậu nhỏ quá, xưng hùng nghe không ổn tý nào cả. Thế chín người là những ai?

Thiện-Lãm cười nhạt:

– Tướng-quân khinh chúng tôi nhỏ tuổi không đáng gọi là anh hùng hẳn? Thế tôi hỏi tướng-quân câu này nhé. Theo tướng-quân thế nào mới gọi là anh hùng?

– Thì nam nhi đại trượng phu, làm những truyện kinh thiên động địa tức là anh hùng.

Trần Anh hừ một tiếng:

– Sai, vừa sai vừa bậy. Tướng-quân bảo muốn thành anh hùng phải có hai điều kiện. Một, phải là nam nhi đại trượng phu. Hai phải làm truyện kinh thiên động địa. Thế vua Trưng, Lệ-hải bà-vương có là nam nhi đâu? Thế mà các ngài vẫn là anh hùng! Còn tướng-quân bảo chúng tôi còn nhỏ không đáng gọi anh hùng. Thế Phù-đổng Thiên-vương mới có mấy tuổi, đánh giặc Ân không là anh hùng sao? Điều tướng-quân hỏi chúng tôi chín người là những ai ư? Để tôi kể tên cho tướng-quân nghe. Anh cả tôi họ Lý tên Long-Bồ.

Nguyễn Khánh nghe đến chữ Long-Bồ, y kinh khiếp:

– Cậu không được nói đến tên húy đó. Chỉ nên dùng danh xưng vương-gia hay Khai-quốc vương là được rồi.

Nguyên vào thời Lý, ảnh hưởng của Nho-giáo tương đối gần bằng đạo Phật, chứ không còn thuần túy Việt như hồi Lĩnh-nam nữa. Tục lệ kiêng húy cũng theo các văn gia ảnh hưởng đến đời sống, luật lệ. Trong gia tộc khi một đứa trẻ sinh ra, muốn đặt tên phải mở gia phả phía nội, phía ngọai, xét xem tên định đặt có trùng với tên của tổ tiên không? Tất cả những tên đó, con cháu phải kiêng không được nói tới, gọi là húy. Buột miệng gọi tới là phạm húy. Như trong nhà có ông cố tên Minh thì con cháu muốn nói đến tiếng Bình minh phải nói trệch đi là Bình manh hay Bình mênh. Húy như vậy gọi là húy gia. Khi đặt tên con cũng phải xét xem có phạm húy đến chức sắc trong làng, trong tổng không.

Quan trọng hơn khi nói, cũng như khi đặt tên con phải kiêng húy các vị vua, thái hậu, hoàng hậu, phi tần, hoàng tử, công chúa. Phạm phải thì bị tội nặng. Ngày xưa đi thi cũng phải kiêng húy. Trong khi làm bài, lỡ có tiếng trùng âm, trùng tên với các vị thánh trong làng Nho như Khổng-tử, Mạnh-tử, cùng 72 vị tiên-hiền, họăc tên vua, chúa, cung điện, thái hậu, hoàng-hậu v.v. phải viết chữ nhỏ hơn, thiếu một nét và đề bên cạnh câu kính khuyết nhất bút. Ngay đến hồi thuật giả còn niên thiếu, trứơc năm 1954 tục này vẫn còn. Trong khi nói truyện lỡ miệng gọi Hưng-đạo vương là Trần Quốc-Tuấn, lập tức bị phụ huynh mắng ngay, bắt phải gọi là Đức thánh Trần hay Hưng-Đạo vương. Nói đến Phạm Ngũ-Lão phải gọi là Phạm phò mã.

Thiện-Lãm kể tiếp, đến Lý Mỹ-Linh, Nguyễn Khánh không biết là ai. Y ngơ ngác, thì Trần Anh nói:

– Chị tư còn có tên là Bình-Dương.

Nguyễn Khánh à lên một tiếng. Y trố mắt nhìn hai đứa trẻ, trong đầu y nghĩ không biết hai đứa làm thế nào mà kết anh em với hoàng tử, người hiện là chúa tướng của y, có thể chặt đầu y bất cứ lúc nào. Y làm hiệu úy bấy lâu, cũng chưa từng được nhìn mặt hai người, chứ đừng nói được tiếp truyện. Mà nay hai thiếu niên này lại kết anh em với vương gia, công chúa, ắt chúng là con vương công, đại thần chứ không tầm thường. Nguyễn Khánh không dám coi thường chúng nữa.

Vừa lúc đó từ xa xa xuất hiện một cỗ xe hai ngựa kéo. Thiện-Lãm chỉ tay nói:

– Kìa, xa giá công chúa đến kìa.

Nguyễn Khánh cầm tù và rúc lên hai hồi. Từ trên đền thờ Bà-vương, một hàng người mũ, áo rực rỡ đi xuống. Thiện-Lãm chú ý thấy gần đủ mặt quan văn võ tại trấn Thanh-hóa. Trong đó có cả An-vũ sứ Đàm Toái-Trạng. Các quan văn vũ đứng xếp hàng hai bên đường, dưới cổng chào kết hoa. Một người đến bên Thiện-Lãm, Trần Anh hỏi:

– Hai thằng quỷ con ăn trộm sao dám đến dây?

Thiện-Lãm nhận ra Đàm An-Hòa. Nó cười nhạt:

– Ta đến đây vì theo lệnh Điện-tiền chỉ huy sứ.

Đàm An-Hòa vung tay định tát Thiện-Lãm. Tay y vung lên, nhưng không hạ xuống được. Tiếp theo một giọng nói uy nghiêm:

– Không thể vô phép.

Đàm An-Hòa quay lại nhìn, thì ra Nguyễn Khánh dùng roi ngựa quấn lấy tay y. Từ lâu An-Hòa ỷ thế cha làm đại thần, chị được tuyển vào cung làm qúi phi. Y rong chơi, học võ không thành, học văn không thông. Suốt ngày lêu bêu ở Thăng-long, ăn quỵt, nói láo. Mãi năm trước đây, nhân anh ruột là Đàm Toái-Trạng đang từ chức Chiêu-thảo-sứ thăng bổ làm An-vũ sứ Cửu-chân. Y được anh cho chức hiệu-úy. Tuy chức hiệu-úy nhỏ bé. Song y ỷ thế anh, hết đe dọa dân chúng lại trêu ghẹo con gái nhà lành.

Bấy giờ đang thời thịnh trị triều Lý, xã hội có kỷ cương, quan lại công bằng. Vì vậy An-Hòa tuy có dựa thế cha, anh, chị song không dám càn rỡ qúa độ. Mấy hôm trước y được lệnh anh, tháp tùng sứ bộ Tống điều tra vụ sứ bộ bị trộm cướp. Sau khi điều tra, y biết sứ bộ không hề bị mất trộm. Trái lại họ sang Đại-Việt ăn trộm di thư thời Lĩnh-nam. Biết thế, nhưng An-Hòa vẫn nhắm mắt tuân theo lệnh sứ bộ. Y sẵn sàng làm công việc gian manh, hy vọng sứ bộ tâu lên vua Tống, ban cho y chức tước.

Song việc chưa đi đến đâu. Sứ bộ đã trở mặt phong chức tước cho kẻ mới trước đó mấy gìơ còn là tội nhân. Sứ bộ làm ngược, coi y như một thứ tôi mọi ngu hèn. Y cảm thấy cay đắng, vì bị vắt chanh, bỏ vỏ. Giữa lúc cay đắng. Y gặp lại Trần Anh, Hà Thiện-Lãm là hai đứa trẻ trong trấn, y đã vì tuân lệnh thiên sứ bắt trói như con chó ghẻ… đang đứng giữa đường. Y trút tất cả bực tức lên đầu hai đứa, vung tay tát, thì bị Nguyễn Khánh tung roi ngựa cản lại.

Hồi còn làm công tử ở Thăng-long, nhiều lần phạm tội. Y đã bị đạo cấm quân bắt giam. Sau nhờ chị gái can thiệp được thả ra. Người bắt y chính là Nguyễn Khánh. Nay thấy Nguyễn Khánh, y như gà phải cáo.

Y hỏi:

– Nguyễn vũ-vệ đại-tướng quân xin đại-tướng quân, bắt giam hai thằng này ngay lập tức. Chúng nó là quân trộm cướp.

Nguyễn Khánh cười nhạt:

– Đàm công tử. Người là cái gì mà truyền lệnh cho ta? Người có biết lý lịch hai vị tiểu công tử này không, mà dám vô phép? Người liệu mà giữ cái mồm. Nếu không ta e mất chỗ đội nón.

Đàm An-Hòa định hỏi nữa, thì cỗ xe từ xa đã đến gần. An-Hòa trố mắt nhìn. Y đưa tay dụi mắt. Không biết y trông lầm hay trong giấc mơ… kìa là hòa thượng Huệ-Sinh, kìa là đạo sĩ Nùng-Sơn tử, kìa là Tạ Sơn, kìa là Tôn Trung-Luận đang cỡi ngựa đi cạnh xe. Trên xe rõ ràng Lê Thuận-Tông đang ngồi đó. Phía sau còn Trần Thanh-Mai nữa. Chẳng thiếu ai cả. Y lại bên Đàm Toái-Trạng nói nhỏ:

– Anh ơi, coi chừng bị lầm. Bọn trộm cướp mà em nói với anh, chính là bọn đi cạnh xe công chúa. Chỉ còn thiếu mụ sư Tịnh-Huyền, hai con bé Thanh Nguyên, Mỹ-Linh. Còn tên Tôn Đản, Trần Tự-Mai, Lý Long-Bồ trốn mất từ hôm trước.

Nguyễn Khánh chỉ mặt Đàm An-Hòa:

– Đàm hiệu úy. Người liệu giữ mồm. Người dám gọi tên của vương-gia, công chúa ra, đã là một tội đáng chém đầu. Người còn dám bảo Tạ chỉ huy sứ với sư phụ của thái tử là đạo tặc ư?

Đàm An-Hòa đưa mắt nhìn anh. Thấy anh quắc mắt đầy vẻ nghiêm khắc.Y kinh hoảng đến ngẩn người ra. Y đoán chắc có điều gì bí ẩn. Trong đầu óc y, y cho rằng bọn Mỹ-Linh giả công chúa đánh lừa mọi người. Chi bằng cứ để cho chúng mạo xưng. Lát nữa y sẽ đứng ra tố cáo bắt trói cả bọn chém đầu, lập công lớn.

Xe đã tới nơi. Đàm Toái-Trạng hô lớn:

– Bọn hạ thần là bá quan văn võ trấn Thanh-hóa kính cẩn khấu đầu trước công chúa điện hạ.

Mọi người đều qùi xuống hành lễ. Có tiếng thanh thoát từ trong xe vọng ra:

– Miễn lễ.

Hơn trăm nhạc công cử nhạc.

Cứ như sử sách ghi, nhạc đời Lý không bị ảnh hưởng của nhạc Tống. Cũng chưa thấm mùi yếm thế của nhạc Chiêm-thành. Nhạc đầu đời Lý bắt nguồn từ chiến thắng Bạch-đằng thời tiền Lê, cùng hùng khí trong các lần chinh phục Chiêm-thành. Trống, chiêng, sáo, đàn, nhị truyền những âm thanh hùng tráng vang vang đi khắp núi rừng.

Lý Mỹ-Linh khoan thai bước xuống xe giữa hàng trăm ngàn tiếng hoan hô, chúc tụng của bá quan văn võ, của dân chúng. Trời nắng chang chang. Dân chúng chen chúc hai bên con đường. Có người leo lên cây để chiêm ngưỡng dung nhan công chúa.

Gió hây hây thổi, quần áo nàng bay nhè nhẹ. Nắng chiếu xuống làn da trắng mịn, làm da nàng trở thành hồng tươi. Nàng lễ phép đứng tránh sang bên cạnh, chờ sư thái Tịnh-Huyền xuống.

Đạo Phật là quốc giáo đời Lý. Tăng-ni được đức hoàng đế độ cho, mới được đi tu. Nghĩa là ai muốn đi tu phải được nhà vua cho phép, chứ không phải cứ cạo đầu, vào chùa rồi đòi làm thầy người ta, rồi nhân danh cái này, cái nọ mà lên mặt. Vì vậy tăng ni được kính trọng đặc biệt. Hôm nay dân chúng thấy công chúa thiên kim lễ phép theo sau một vị ni sư. Họ cho rằng nàng là đệ tử, không dám đi trước sư phụ. Nào ngờ Tịnh-Huyền là thái-cô, trước đây là công chúa. Đừng nói Mỹ-Linh, đến thân phụ của nàng là thái-tử Phật-Mã tước phong Khai-thiên vương cũng không giám đi trước bà.

Quan tổng trấn Thanh-hóa Đinh Ngô-Thương hỏi Tạ Sơn:

– Tạ chỉ huy sứ. Trong chiếu chỉ hoàng thượng dạy rằng Khai-quốc vương cùng công chúa gía lâm. Sao nay chỉ có công chúa?

Tạ Sơn nói sẽ vào tai Đinh Ngô-Thương:

– Quan tổng trấn nói sẽ thôi. Vương gia có việc cơ mật, không thể xuất hiện. Người giả dạng dân chúng, thăm dân cho biết sự tình.

Câu nói của Tạ Sơn làm Đinh Ngô-Thương kinh hỏang. Y có con gái được tuyển làm thứ phi của thái-tử Phật-Mã vì vậy được cử vào vào tổng trấn vùng Thanh-hóa. Uy quyền của y như ông vua con. Y dùng tiền bạc đút lót các quan trong triều hầu che dấu những điều tồi tệ xẩy ra. Nay đích thân thái tử đi điều tra, thì sao y dấu được. Y biết, thái-tử thứ nhì tước phong Khai-quốc vương, mới được cử lĩnh chức thái-úy, thống lĩnh quân quốc trọng sự, kiêm nhiệm tổng trấn từ Trường-yên cho tới biên giới Chiêm-thành. Quốc-vương Bồ là người tài kiêm văn võ, trị quân rất nghiêm. Y cảm thấy lo lắng không nguôi.

Một cỗ kiệu, do tám thiếu nữ trong y phục mầu xanh, dây lưng vàng hạ trước Lý Mỹ-Linh. Đinh Ngô-Thương kính cẩn:

– Khải tấu công chúa điện hạ. Mời công chúa điện hạ lên kiệu.

Mỹ-Linh ngoắt tay ra hiệu:

– Cảm ơn Đinh tổng trấn. Tôi không cần kiệu.

Nói rồi nàng thoăn thoắt theo Tịnh-Huyền lên núi. Đi đón công chúa có đủ mặt mệnh phụ phu nhân. Các bà cho rằng công chúa ắt liễu yếu đào tơ. Nay thấy Mỹ-Linh leo núi nhẹ nhàng. Không những leo núi dễ dàng. Nàng còn dừng lại thăm hỏi dân chúng đang đứng chào hai bên đường. Nàng đi đứng nhanh nhẹn, phiêu hốt như một thiên tiên. Dân chúng những tưởng phen này sẽ được thấy một công chúa trong y phục sang trọng. Nào ngờ, họ chỉ thấy Mỹ-Linh mặc quần lụa đen, với chiếc áo tứ thân mầu mỡ gà. Nàng lại không mang một món nữ trang nào, ngoài bông hoa nhài trắng mà Thuận-Tông đã cài lên mái tóc nàng hồi trưa. Các mệnh phụ phu nhân quần áo, son phấn lòe loẹt, người đeo đầy nữ trang, tự nhiên cảm thấy ngượng ngùng.

Bá quan cũng như dân chúng đều cảm thấy ở vị công chúa này tàng trữ những tình cảm ấm áp, dễ thân cận. Cạnh Mỹ-Linh họ thấy Thanh-Mai, một thiếu nữ ẻo lả, có sắc đẹp tươi hồng, nhưng bước đi nhẹ nhàng, thân thể nẩy nở cân đối. Họ càng ngạc nhiên khi thấy bọn Lê Thuận-Tông, Hà Thiện-Lãm, Trần Anh là những thiếu niên nổi tiếng nghịch ngợm ở trấn Thanh-Hóa đi cạnh công chúa.

Lăng bà Triệu khá lớn. Phía trước là cổng bằng đá. Hai bên có cột đề đôi câu đối. Phía sau cổng, trải ra sân với một hàng tượng đá. Từ ngòai vào, hai tượng hổ, rồi tới hai tượng voi. Cuối cùng hai tượng rồng chầu. Ở giữa là tấm bia. Tấm bia này được dựng vào thời kỳ vua Ngô Quyền còn trấn tại đây. Qua một lần cổng nữa mới tới lăng. Phía sau lăng là đền thờ.

Lăng đã được làm cỏ sạch sẽ. Cây cối cắt xén gọn gàng. Tượng đá lau chùi bóng loáng. Từ cổng, chiếu hoa trải dài vào trong. Hơn 10 cái bàn phủ vải đỏ chói. Trên bàn bầy đồ tế. Bởi cuộc tế bà Triệu do hoàng tử, công chúa đại diện đức Đại-Việt hoàng đế đứng chủ. Lễ vật do ba nơi đến. Một là do công nho trấn Thanh-hóa đài thọ. Một phần do hội Lệ-hải Bà-vương mua sắm. Một phần do thập phương dâng lễ. Hơn hai mươi cái rạp, cột gỗ, mái tranh mới được cất lên theo hình chữ phẩm . Trong mỗi rạp, có mười hàng ghế bằng tre. Các cột rạp kết bông, lá rất đẹp.

Mỹ-Linh được mời ngồi vào chiếc ghế bọc gấm đặt giữa rạp chính. Cạnh nàng là sư thái Tịnh-Huyền, hòa thượng Huệ-Sinh, đạo sư Nùng-Sơn tử. Phía sau là Thanh-Mai, Lê Thuận-Tông, Hà Thiện-Lãm, Thanh-Nguyên. Còn Tạ Sơn điều khiển đám thị-vệ bao vây quanh lăng.

Theo đúng chương trình đã được duyệt trước, lễ tế Lệ-hải bà vương có ba phần chính. Phần đầu tuyên đọc sắc phong của Thuận-thiên hoàng đế (Lý Thái-tổ), phần thứ nhì là lễ nghi tôn giáo, tế Bà-vương. Phần thứ ba cực kỳ quan trọng, Khai-quốc vương, lĩnh Thái-úy phụ quốc, thống lĩnh quân quốc trọng sự đại diện hoàng đế tiếp đại diện các gia, các phái võ bàn truyện giữ nước.

Cứ như bộ Việt-sử lược của một tác giả vô danh viết đời Trần, và bộ Tư-trị Thông-gíam trường biên của đại sử gia Lý Đào đời Tống thì vào các vua đầu triều Lý, triều đình dùng đạo Phật cai trị dân, được dân kính trọng tuyệt đối. Trên cao, vua lấy đức từ bi, hỉ xả của đạo Phật ban ân cho dân. Các quan thì thanh liêm hết lòng hết dạ thương yêu trăm họ. Vì vậy sĩ dân thiên hạ với triều đình như một. Triều đình xướng xuất điều gì, khắp nước đều răm rắp tuân theo. Phần trên đã thuật lời của các nhân vật, nhân bàn về xuất thân của vua Lý Thái-tổ. Những lời đó, được đời sau huyền thọai hóa đi. Thực sự chính nhà vua lại không hề tủi hổ về đường xuất thân của mình. Có thuyết nói ngài là con hoang, mẹ sợ không chồng mà chửa, bị làng bắt phạt, đem con bỏ ngòai chùa rồi nhà sư Lý Khánh-Vân đem về nuôi.

Sự thực, cho đến nay,sử không cho biết đích xác thân phụ ngài là ai. Chỉ biết ngài sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp-tuất ( 8-3-974), băng hà ngày 3 tháng 3 năm Mậu-thìn (31-3-1028). Về nguồn gốc của ngài rất mơ hồ. Sử chỉ cho biết rằng, ngài có anh trai, em trai, em gái. Anh em mồ côi cha từ nhỏ, mẹ không đủ sức nuôi, đem ngài lên ở chùa. Nhà sư Lý Khánh-Vân thấy ngài thông tuệ khác thường nhận làm con nuôi, vì vậy ngài mang họ Lý. Ngài còn được thiền-sư Vạn-Hạnh thu làm đệ tử.

Vạn-Hạnh thiền-sư là người hô hào sĩ dân Đại-Việt bỏ qua thù hận việc Lê Hoàn cướp ngôi nhà Đinh, cùng đứng dậy chống quân Tống. Sau khi đuổi giặc Tống, ngài được tôn làm Quốc-sư. Lý Công-Uẩn là đệ tử của ngài, nên đường tiến thân mau chóng. Hơn nữa được gả công chúa, mà thành phò mã. Dưới thời Lê Ngọa-triều, Lý làm tới Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Tương đương với ngày nay là Tổng Tư-lệnh quân đội. Khi Lê Long-Đĩnh chết, tức em vợ ông. Ôâng được người sư điệt Đào Cam-Mộc là Vũ-vệ đại tướng quân, tương đương với ngày nay là Tư-lệnh lục quân hô hào triều thần tôn lên làm vua.

Việc đầu tiên của Lý Công-Uẩn khi mới lên ngôi vua, là tôn sư phụ Vạn-Hạnh làm Quốc-sư, dùng niên hiệu Thuận-thiên tỏ ý rằng ngài thuận theo mệnh trời mà lên làm vua. Ngài phong cho mẹ làm Thái-hậu Minh-đức, truy phong cha làm Hiển-khánh đại vương. Phong cho em gái làm công chúa Hồng-Châu. Phong cho anh làm Vũ-uy vương, phong cho em là Dực-thánh vương. Phong cho em con chú các chức đô thống, tổng-quản, tướng-quân. Như vậy ngài biết rõ cha là ai, mình họ gì. Song là người biết ơn nghĩa, ngài không trở về họ mình, mà vẫn giữ họ của nghĩa-phụ.

Xuất thân con nuôi một vị sư, được một vị sư thu làm đệ tử, nhờ thế lực Phật-gíao lên làm vua. Ngài tự biết mình có tài, nhưng không phải là vua đựng nước bằng chiến công như vua An-Dương, lại càng không thể sánh bằng vua Trưng. So với tiền Lý, Dương Diên-Nghệ, Ngô Quyền, Đinh Tiên-Hòang, dựng nghiệp bằng chiến công đuổi ngọai xâm. Đến vua Lê Đại-Hành, tuy dựng nghiệp bằng đường lối xấu xa, nhưng cũng có chiến công che lấp. Ngài dựng nghiệp hơi giống Lê Đại-Hành, mà không có công lao gì. Bởi vậy ngài lấy việc chăm lo hạnh phúc cho dân làm gốc.

Mạnh-Tử nói Nhân chi sơ tính bản thiện. Con người ta không bao gìơ xa được cái giáo dục hồi thơ ấu. Thơ ấu của Lý Thái-tổ là gì? Mồ côi cha, được nuôi trong chùa. Chùa ở Việt-Nam, Trung-quốc, Nhật-bản, tuy có đời sống đạm bạc, song cung cách đối xử cực kỳ thanh nhã, khoan hòa, từ ái. Người đã sống trong khung cảnh một ngôi chùa từ nhỏ, sau này không thể nào bỏ được nếp sống đó (Trừ những người đi tu phá giới). Cho nên trong suốt 19 năm trị vì, ngài không bao giờ quên nhiệm vụ một Phật-tử, là luôn hoằng dương đạo pháp: truyền in kinh sách, xây chùa, cùng trùng tu chùa.

Về cuối đời, bị ảnh hưởng của các con, ngài đồng ý cho các vị hoàng-tử phát triển kinh tế, huấn luyện thanh niên, mưu đòi lại phần đất bị Trung-nguyên chiếm mất từ thời Lĩnh-nam. Người chủ xướng là hòang-tử thứ nhì, tước phong Khai-quốc vương. Chứ ngài, thì ngài chủ trương cần giữ lấy mảnh đất Đại-Việt là đủ rồi. Gây chiến tranh, chỉ thêm núi xương, sông máu, mà có đòi lại được đất cũ cũng khó giữ.

Thanh-Mai hỏi Nùng-Sơn tử:

– Đại sư bá, chí hướng đòi lại đất tổ của anh cả khởi nguồn từ đâu? Và từ bao gìơ?

Nùng-Sơn tử nói sẽ vào tai nàng:

– Bắt đầu vào niên hiệu Thuận-thiên thứ 4 (1013) tức năm Qúi-Sửu, bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Đại-trung Tường-phù thứ 6 (đời vua Tống Thần-tông). Vương gia được 13 tuổi. Nhân quan thái-phó giảng Bắc-sử, Nam-sử cho các hoàng tử nghe, với sự chứng kiến của hoàng-thượng. Khi giảng đến đọan vua An-dương sai Trung-tín hầu cầm quân, diệt 50 vạn quân Tần, giết Đồ Thư ở Thiên-cấm-sơn. Các hoàng-tử khác không nói gì. Chỉ riêng Vương-gia đặt câu hỏi : Tại sao sau khi thắng giặc, vua An-Dương không nhân đó chiếm lại vùng Tượng-quận, Nam-hải, Hợp-phố? . Hoàng-thượng nhân đó hỏi các con : Nếu các con là vua An-dương, các con sẽ làm gì? . Thái-tử Phật-Mã đáp : Con hành động như vua An-dương, giữ vững phần đất còn lại, vỗ về trăm họ. Các thái tử khác im lặng không có ý kiến. Riêng Vương-gia, người khảng khái : Trung-nguyên với Lĩnh-nam vốn phân cương giới từ thời vua Đế-Minh, lấy Ngũ-lĩnh làm mốc. Trung-nguyên trải qua Hoàng-đế, Hạ, Thương, Chu, Tần. Lĩnh-nam trải qua triều Hồng-Bàng, Thục. Tiếng nói, văn tự, phong tục, cho đến ăn uống, y phục khác nhau. Tần Thủy-Hoàng thống nhất Trung-nguyên còn chưa cho là đủ. Y muốn xâm lăng Lĩnh-nam. Nếu cứ nhường nhịn mãi, rồi một ngày kia nước không còn. Nếu con là vua An-dương, con sẽ chỉnh bị binh mã, thừa thắng, tiến lên đuổi giặc Tần đòi lại đất cũ .

Thanh-Mai gật đầu:

– Tuyệt! Thế hoàng thượng phán gì?

– Ngài gật đầu khen : Khí hùng, trí dũng. Tiếc rằng vua An-dương không làm thế . Tiếp đến khi quan thái-phó giảng tới thời Lĩnh-nam, đến đoạn công-chúa Gia-Hưng đem quân định diệt nhà Hán, cai trị Trung-nguyên. Vương-gia suýt xoa khoan khoái trong lòng. Hoàng thượng lại hỏi ý kiến các con. Thái-tử Phật-Mã khen vua Trưng có quyết định sáng suốt là rút quân về. Vương-gia lại không đồng ý. Người nói Nếu con là vua Trưng, con truyền lệnh cho công chúa Nguyệt-đức từ Tượng-quận hợp với Vương Nguyên từ Thục đánh ra ngả Trường-an. Công chúa Phật-Nguyệt vượt Trường-giang đánh chiếm Kinh-châu. Thời trước, Triệu-Đà chẳng từng đem quân đánh Nam-quận, Trường-sa đó sao? Còn đại-tư-mã Đào Kỳ, tể-tướng Phương-Dung đem quân theo tiếp viện. Công chúa Thánh-Thiên vượt Nam-hải đánh vào vùng Triết-giang. Như vậy chắc chắn Quang-Vũ phải bỏ Lạc-dương mà chạy. Ta chia Trung-nguyên làm ba. Phần phía Tây trả cho Thục. Phía Đông giao cho Hợp-phố lục hiệp. Trung-nguyên chia làm ba đánh nhau. Lĩnh-nam ta yên ổn. Chỉ cần mười năm, bấy gìơ Trung-nguyên có thống nhất ta không sợ họ nữa .

Thanh-Mai lắc đầu:

– Không được rồi. Chắc chắn vương gia với anh cả sẽ cãi nhau lớn.

Nùng-Sơn tử ngạc nhiên:

– Sau cháu biết?

– Cháu đoán vậy thôi. Thái-tử Phật-Mã như tên mang, với lòng dạ nhân từ của Phật-tử, chắc chắn sẽ không chấp nhận đường lối chiến tranh. Hơn nữa Thái-tử Phật-Mã sợ phụ hoàng chấp nhận đường lối của anh cả. Khi đường lối đó được thi hành, đương nhiên anh cả sẽ là người cầm quân. Dù thái-tử có tin anh cả mấy chăng nữa, thì cái gương sau khi Lê Hoàn chết, Long-Đĩnh giết anh tranh ngôi vua cũng làm cho thái-tử sợ rằng em nắm quyền, ngôi vua của mình lung lay.

– Đúng thế. Nghe em phát biểu, mặt thái-tử nhợt nhạt, tỏ ý không vui. Cháu nên biết tất cả vua Trung-quốc cũng như Đại-Việt, đương thời trị vì, đều chỉ định trừ quân, sau kế nghiệp. Trừ quân được gọi là thái tử. Song Thuận-thiên hoàng đế không làm thế. Tất cả các con trai của ngài đều được phong thái tử. Ngài còn ban dụ trong các em cũng như con, ai tỏ ra có tài trị quốc, thu phục được nhân tâm ta sẽ truyền ngôi cho . Vì vậy giữa các vương có sự tranh đấu quyết liệt để được chỉ định là trừ quân.

– Thế các vương nào đã được hoàng-đế chú ý?

– Khai-thiên vương tỏ ra là người nhân từ, rất được lòng các bà hoàng hậu cùng thứ phi. Dực-thánh vương võ công cao cường, tài kiêm văn võ, hiện được giữ quyền Đại-đô đốc thống lĩnh thủy quân, thành ra các quan đều có ý tôn người làm trừ quân. Vũ-đức vương lại là Binh-bộ thượng thư, tướng soái nể phục. Đông-chinh vương là Lại-bộ thượng thư, cai trị dân bằng đạo đức.

– Hiện chức tước các vương ra sao?

– Lớn tuổi nhất anh ruột của hoàng thượng được phong Thái-phó, trung thư thị lang, bình chương sự, Đăng-châu tiết độ sứ, Vũ-uy vương . Vương rất hiền lành, không tranh dành với ai. Thứ đến em hoàng thượng, được phong Thái bảo, Trung thư lệnh, Đại Đô-đốc, thống lĩnh thủy quân, Dực-thánh vương . Vương nhiều mưu, lắm mẹo, thân với Tống triều.

– Như vậy về võ chức, cấp bực Dực-thánh vương cao hơn Vũ-uy vương. Còn về văn, Dực-thánh thấp hơn Vũ-uy một bậc.

– Đúng thế. Thái tử trưởng Phật-Mã được phong Thái phó, thượng thư lệnh, bình chương sự, Long-thành tiết độ sứ, Khai-Thiên vương . Thái tử thứ nhì là chủ nhân bần đạo mới được phong Thái-úy, Thượng-trụ quốc, chưởng quản Khu-mật viện, Phụ-quốc đại tướng quân, Tổng-đốc binh mã, Khai-quốc vương .

Thanh-Mai hiểu ra:

– Như vậy anh cả tiểu nữ được phong chức lớn nhất. Văn chỉ thua Thái-sư. Võ người lên tới Phụ-quốc đại tướng quân, tức tột đỉnh. Đã vậy còn lĩnh Khu-mật viện. Hà, quan trọng đấy. Còn ý kiến các quan về việc lập trừ quân?

– Tạ Sơn lĩnh Nội-điện chỉ huy sứ, Khu-mật viện sứ, thống lĩnh Ngự-lâm quân, chỉ biết có vương gia. Quan Tư-đồ, kiêm thị trung Tả Bộc-xạ Trần Nam-Sơn đứng giữa. Quan Tư-không kiêm Thị- trung, thượng thư Hữu Bộc-xạ Đào Kiến thân Khai-Thiên vương. Quan Thái-sư Trần Phương thân Vũ-đức vương. Đô nguyên-soái Đàm Can thống lĩnh thập đạo Thiên-tử binh thân với Dực-thánh vương.

– Như vậy cho đến giờ phút này hoàng thượng vẫn chưa quyết định đấng trừ quân?

– Nguyên do, như cô nương đã biết. Đến tháng tám này, các đại tôn sư võ học hội nhau ở Thăng-long, quyết định việc phù Lê, phù Lý. Cái nguy nhất của hoàng thượng là phái Đông-a, phái Sài-sơn. Cho nên hoàng thượng truyền chỉ cho các thái tử, rằng ai thu phục được, hoặc hoá giải được hai mũi dùi này, ngài sẽ truyền ngôi cho.

Ông ngừng lại một lát rồi tiếp:

– Vương gia rất hào phóng, người đem hết của cải riêng tư bán đi, dùng tiền đó tu bổ đền thờ các anh hùng thời Lĩnh-nam. Theo luật của bản triều, khi các thái tử mười ba tuổi được mở phủ đệ riêng, tuyển vương phi. Thái-tử Phật-Mã năm mười hai tuổi đã tuyển bẩy bà chính-phi, hai mươi bốn phi-tần, hơn trăm mỹ-nữ. Khi hoàng thượng tỏ ý kén vương-phi cho vương-gia. Vương-gia không muốn vướng víu thê nhi sớm. Người hỏi ý kiến đại-sư Huệ-Sinh. Đại-sư đồng ý với Vương-gia. Hôm sau vào chầu hoàng-thượng với hoàng-hậu, vương-gia tâu : « Con sinh ra được cái may mắn hơn phụ hoàng, vì đã là con vua. Phụ-hoàng thì mồ côi, nghèo khổ. Nếu nay con vội say mùi phú qúi, rồi mai một chí khí đi. Vì vậy con luôn nhớ đến việc phụ hoàng lập nghiệp gian lao. Con xin phụ hoàng cho con khoan việc thê nhi ít năm đã. Vả hiện con đang luyện Thiền-công, nếu sắc dục vào, thì còn đâu công lực nữa. » Hoàng-thượng không ngớt khen ngợi vương-gia.

– Nhưng đêm ấy hoàng-hậu Tá-Quốc tâu rằng : Vương-gia dối cha lừa mẹ. Vì vương-gia tuy tập Thiền-công Tiêu-sơn thực, song chưa đến trình độ phải kiêng nữ sắc.

Thanh-Mai hỏi:

– Hoàng-hậu thiên vị con trưởng hại con thứ sao?

– Không phải thế. Hoàng-thượng có ba hoàng-hậu. Hoàng-hậu Tá-Quốc sinh ra Khai-Thiên vương. Còn hoàng-hậu Lập-Nguyên sinh ra vương-gia. Hoàng hậu Tá-quốc là công chúa của vua Lê Đại-hành.

Nùng-Sơn tử ngừng lại một lúc, rồi tiếp:

– Khi nghe tâu như vậy, hoàng-thượng giận lắm. Đang đêm triệu vương-gia vào. Ngài không nói không rằng ra chiêu Phổ-quang chưởng đánh vào vai vương-gia. Vương-gia vận công chịu đòn.

Thanh-Mai ngạc nhiên:

– Thế nghĩa là gì?

– Võ nghệ của vương-gia đều do hoàng thượng dạy. Võ công của hoàng-thượng gốc từ Tiêu-sơn. Nguyên trước đây việc dạy nội công cho tục gia đệ tử và Phật-gia đệ tử hoàn toàn giống nhau. Đến đời tổ thứ tám, là ngài Vô-Ngại, thì có sự thay đổi. Tục gia đệ tử tập Thiền-lực, áp dụng vào việc tập võ. Còn Phật-gia đệ tử học Thiền-tuệ làm chính, Thiền-lực làm phụ. Vì Thiền-tuệ để đi vào con đường giải thoát. Hoàng-thượng chỉ được dạy Thiền-lực thì không kiêng nữ sắc. Bây giờ nghe Vương-gia nói tập Thiền-công kiêng nữ sắc, rồi nghe hoàng hậu Lập-Quốc tâu vậy, ngài mới ra chiêu, để thử công lực vương-gia. Khi chưởng đánh xuống, một kình lực nhu hòa làm tiêu tan công lực hoàng thượng. Ngài mỉm cười hỏi vương-gia : « Thực là đại phúc. Con định đi tu chăng? Cao nhân nào trong bản phái đã thu con làm đệ tử . » Vương-gia nói thực là đại-sư Huệ-Sinh. Hoàng thượng nghe vậy thì tươi nét mặt phán : « Đại sư huynh ta gớm thực, nhận con làm đệ tử mà dấu ta. Đại phúc, ta đông con, mong có người đi tu mang phúc về cho giòng họ. Không ngờ con là người ta ước nguyện. Tuy vậy, con phải ở trần thế một thời gian, cứu dân, độ nước đã, rồi hãy hạc nội mây ngà . » Hôm sau hoàng thượng ban chỉ cho vương-gia trấn nhậm vùng Trường-yên.

Thanh-Mai nghe đến đây, lòng nàng nổi lên cơn bão táp. Nàng tự hỏi:

– Như vậy anh cả đi tu chăng? Nếu định đi tu, sao còn theo đuổi ta ở Trường-yên, gửi hoa tặng mấy tháng liền? Rồi chàng đề thơ ở gốc đào tỏ ý thương nhớ ta? Rồi hôm rồi, trên núi Chung-chinh, đã cùng ta tâm tình gần trọn đêm. Ta phải dò mới được.

Thanh-Mai hỏi tiếp tục :

– Thì ra thế. Từ qua đến giờ cháu cứ thắc mắc tại sao anh cả tuổi đã hai mươi bẩy mà chưa tuyển phi-tần. Ai ngờ anh cả vượt ra ngoài đời sống thế tục. Không biết anh cả cháu đã thụ giới tỳ-kheo chưa?

– Vương-gia muốn, mà đại-sư Huệ-Sinh chưa cho. Đại-sư muốn Vương-gia trả hiếu cha mẹ, trả hiếu đất nước đã.

Mời độc giả thăm cố đô Trương-Yên, nay thuộc thị xã Ninh Bình, nơi có đền thơ vua Đinh, Lê .
Hình chụp tháng 8-2001

Image

1- Cờ của triều Đinh
(Chữ trên cờ là Thái-bình)

Image

2. Đền thờ vua Đinh

Image

3. Cổng vào đền thờ vua Đinh

Image

4. Đường vào đền thờ vua Đinh

Image

5. Cờ triều Lê
(Chữ trong cờ là Thiên-phúc)



Hết quyển I
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 79770
Has thanked: 35132 times
Have thanks: 45992 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: April 30th, 2017, 7:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 17th, 2017, 2:06 pm


QUYỂN II
– hồi 11 — 20 –

HỒI THỨ MƯỜI MỘT

Lĩnh Nam Bảo Quốc Hoà Dân Công Chúa


Đến đó cuộc đối thọai của hai người tạm ngừng, vì có nhiều tiếng pháo nổ, tiếng người vỗ tay. Thì ra Đinh Ngô-Thương tổng-trấn Thanh-hóa đứng ra chúc tụng Mỹ-Linh. Y đến trước Mỹ-Linh cung kính hành lễ. Y nói thực lớn:

– Hạ thần, Đinh Ngô-Thương, tổng trấn Thanh-hóa kính cẩn ra mắt công chúa điện hạ. Kính chúc công chúa điện hạ thánh thể an khang, tâm thường an lạc.

Sau đó Đinh Ngô-Thương ê a kể lể công việc cai trị trong trấn, toàn những kết qủa tốt đẹp. Sau Đinh Ngô-Thương đến các quan, lần lượt đến bái yết công chúa, dâng lễ vật. Đợi cho các quan bái yết xong, Mỹ-Linh vận nội lực nói lớn:

– Tuân chỉ dụ của đức Thuận Thiên Hoàng Đế. Hôm nay tôi tới đây để cùng các vị dự lễ tế Bà-vương. Như các vị đã biết, kể từ khi lập quốc đến giờ, vùng Thanh-hóa của ta thời nào cũng nảy sinh ra các bậc anh tài phò vua, cứu nước. Thôn nào, xóm nào cũng có bậc hiền tài làm gương cho dân chúng. Chịu gian lao suốt đời, mưu cứu nước như anh hùng Đào Thế-Kiệt, Đinh Đại, Đào Thế-Hùng. Lập đại công với quốc gia, khảng khái tuẫn quốc như Đào Kỳ, Đào Hiển-Hiệu, Đào Phương-Dung, Quách Lãng. Cũng đất này, anh hùng Đô Dương, Chu Bá, Nguyễn Thành-Công tử thủ chống giặc Hán. Thế rồi, hai trăm lẻ năm năm sau, các anh hùng Cửu-chân lại cùng Triệu Trinh-Nương, nổi dậy đánh giặc Ngô. Sự tuy không thành, song khí tiết anh hùng, muôn đời không phai. Hôm nay chúng ta cùng tụ lại đây để tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân. Hoàng đế có ban sắc chỉ gia phong cho các anh hùng tuẫn quốc đồng thời với Triệu Trinh-Nương.

Lê Thuận-Tông ngồi sau đạo-sư Nùng-Sơn tử. Nó hỏi:

– Sư phụ. Đức hoàng đế ban sắc chỉ phong thần cho bà Triệu cùng các tướng của bà, đây là lần đầu tiên trong lịch sử hay vốn có từ trước?

Nùng-Sơn tử, sẽ vỗ tay vào vai đệ tử:

– Con hỏi câu đó thực phải. Để thầy nói cho con nghe về điển lệ Đại-Việt. Chắc con biết Quốc-tổ, Quốc-mẫu lập quốc ra sao rồi chứ?

– Thưa thầy con biết.

Nùng-Sơn tử tiếp:

– Khi đức hoàng đế bản triều vừa lên ngôi (1010), ngài nghĩ ngay đến việc phong thần cho các anh hùng dựng nứơc, qui luật đã định rõ ràng. Đầu tiên là những vị được tôn phong. Tôn phong khác với tấn phong. Tôn có nghĩa là những bậc có địa vị qúa cao, hơn hẳn hoàng đế. Hoàng đế chỉ dám « tôn » chứ không dám phong tặng. Đó là các vị được tôn lên hàng quốc tổ như Phục-hy, Thần-nông, Hùng-vương (gồm các vua Hùng từ Kinh-dương vương, Lạc Long-Quân trở xuống), An-dương vương. Triều đình truyền xây đựng đền thờ khắp nơi. Hằng năm các ngày giỗ, ngày đản sinh, tổ chức hội rất lớn. Tại Thăng-long chính hoàng đế đứng chủ lễ. Tại địa phương, thì quan chức cao nhất đứng chủ tế. Mọi chi phí do công qũi đài thọ. Lọai thứ nhì là các bậc thánh. Thánh có thánh Gióng tức Phù-đổng Thiên-vương, thánh Chèm tức Vạn-Tín hầu Lý Thân, Nhị Thánh tức hai bà Trưng. Sau, Lão-học ngày càng ảnh hưởng rộng, thêm hai vị thánh nữa là Chử Đồng Tử và Tiên-Dung . Thứ ba đến các thần. Thần chia làm năm bậc khác nhau. Bậc cao nhất là các anh hùng dựng nước, có huân công với dân tộc như Đào Kỳ, Phương-Dung, Thánh-Thiên, Phùng Vĩnh-Hoa, Đàm Ngọc-Nga, Triệu Trinh-Nương, Ngô Quyền v.v. Bậc thứ nhì là các thần hiển linh, giúp đỡ, che chở cho dân chúng, được gọi là phúc thần. Các quan địa phương theo thỉnh nguyện của dân chúng dâng biểu về triều. Bộ lễ có bổn phận cứu xét, rồi tâu lên hoàng đế ban sắc phong. Bậc thứ ba, là những vị có công với thôn xóm. Khi chết dân chúng thờ cúng. Những vị đó dù không hiển linh cũng vẫn được phong. Thứ tư là những vị thần trong truyền kỳ, như thần sông, thần núi, thần sấm, thần sét. Những lọai thần này nếu hiển linh giúp dân. Quan địa phương theo thỉnh nguyện của dân chúng, dâng biểu về triều. Bộ lễ cứu xét một lần nữa, nếu có gì nghi hoặc, bộ cho điều tra lại, rồi thượng biểu lên hoàng đế, ban sắc phong.

Ông ngừng lại cho học trò theo kịp, rồi tiếp :

– Đối với bà Triệu, hồi tiền Lý. Vua Lý Nam-Đế đã ban sắc phong cho bà vào năm Giáp-tý (544 sau Tây-lịch). Đến thời Lý lại một lần nữa ban chỉ dụ tu bổ đền thờ cùng lăng bà. Tuy các đời trước chỉ phong bà là thần, họăc công chúa họăc linh thần. Song dân chúng vẫn gọi bà là Lệ-hải Bà-vương. Hôm nay công chúa đem sắc chỉ của Thuận-thiên hoàng đế đến tế lăng bà Triệu, truy phong bà cùng các vị anh hùng theo bà khởi nghĩa.

Nghi lễ tế bắt đầu.

Hà Thiện-Lãm, Trần Anh đến ngồi cạnh Thanh-Mai. Thanh-Mai hỏi:

– Nãy đến giờ hai em đi đâu?

– Bọn em tuân lệnh anh ba Tạ Sơn theo dõi một bọn Tầu. Chúng ẩn ẩn hiện hiện đó vẻ gian dối. Anh Sơn dặn bọn em báo cho chị biết, phải tối cẩn thận. E chúng ám sát chị Mỹ-Linh.

Thanh-Mai gật đầu:

– Em yên tâm.

Từ hồi có trí nhớ, Lãm, Tông từng xem tế nhiều lần. Chúng xem chỉ để mà xem, tuyệt không hiểu những động tác đó ra sao. Bây giờ bên cạnh chúng có Thanh-Mai. Trong tâm tưởng, chúng cho rằng cái gì Thanh-Mai cũng biết, chúng tha hồ mà hỏi.

Thiện-Lãm hỏi Thanh-Mai:

– Thông thường tế các thần khác, tam sinh gồm trâu, dê, lợn. Hôm nay tế bà Triệu lại thay trâu bằng nai. Em đố chị biết tại sao đấy?

– Chắc hồi còn sống bà thích ăn thịt nai?

– Không phải. Đương thời, bà Triệu cấm giết trâu, bò, hầu giữ hai con vật này, dùng cầy cấy.

– Nai thì làm sao tĩnh sinh được?

Thiện-Lãm nhăn mặt:

– Tĩnh sinh là gì vậy?

– Em không biết à? Trước khi tế một ngày, chủ tế phải làm lễ cáo yết, dắt tam sinh ra khám xét xem chúng có thực khỏe không? Có béo tốt không? Có sạch sẽ không. Sau khi biết chắc tam sinh thực tốt, ông cầm chén rượu đổ vào đầu chúng. Sau đó người ta mới giết chúng. Lễ đổ rượu có tên tĩnh sinh.

Thiện-Lãm hiểu được ý nghĩa đổ rượu vào đầu tam sinh. Nó sướng quá, hỏi:

– Mọi năm, trước khi tế một ngày, ban trị sự mặc áo thụng, đem kiệu đến nhà vị làm văn tế, rước bản văn về. Người viết văn tế cũng phải đội mũ, mặc áo thụng đi theo. Tới đền, ông chủ tế ra đón vào. Sao năm nay không có lệ đó?

Thanh-Mai bẹo má nó:

– Hai thằng giặc này! Hôm qua Mỹ-Linh nói rồi, không nhớ sao?

– Ừa nhỉ! Năm nay quan đại học sĩ trong triều làm văn tế. Bản văn rước từ Thăng-long về đây được mấy ngày rồi. À, em hỏi, ngoài Bắc tế có giống như ở đây không?

– Giống! Việc tế tự tối quan trọng. Vì vậy thời vua Đinh, đã ban hành bộ Quốc-triều điển lệ , ấn định rõ phương thức tế tự, thờ cúng. Vì vậy cả nước tế giống nhau.

Thời Lý, việc tế ấn định như sau: đầu tiên phải có một người chủ tế. Chủ tế có thể chọn một vị đạo cao đức trọng, hoặc một vị khoa bảng. Khi tế những anh hùng, thường chọn những vị có chức tước cao nhất. Bốn người bồi tế. Bồi tế đứng sau chủ tế năm bước. Bồi tế cứ theo chủ tế. Chủ tế làm gì, cũng làm như vậy.

Ngoài sân, các quan viên tế đã đứng vào chỗ. Thiện-Lãm nhận ra các chức sắc, nó nói:

– Ông chủ tế họ Đinh tên Ngô-Thương, hiện làm tổng trấn vùng Thanh-hoá. Bốn ông bồi tế gồm Tuyên-vũ sứ Đàm Toái-Trạng, còn ba ông kia thuộc kỳ hào vùng này.

Thanh-Mai hỏi:

– Hai ông Đông xướng, Tây xướng kia là ai?

– Ông Đông xướng là Đề-đốc thủy quân. Còn ông Tây xướng coi kị binh trấn này.

Nó hỏi Thanh-Mai:

– Tại sao lại có hai ông đứng quay mặt vào bên phải, bên trái chủ tế vậy?

Thanh-Mai nhắc sẽ:

– Hai ông đó có tên nội tán hầu nhắc chủ tế phải làm gì.

– Như vậy tức nhiên hai ông tán ra lệnh cho chủ tế phải không? Còn hai mươi ông đứng hai bên kia để làm gì?

– À, họ có tên chấp sự lát nữa sẽ dâng hương, dâng rượu, hoặc chuyển đọc chúc văn. Nghĩa là làm những việc lặt vặt.

Đến đó quan viên tế đều vào chỗ, áo thụng như đại triều, mũ cánh chuồn, đai ngọc. Người đồng văn cầm dùi đánh ba hồi trống tế mở đầu. Ông Đông xướng hô lớn:

– Khởi chung cổ!

Hai ông chấp sự đi hai bên, vào chỗ giá để chiêng trống. Một ông đánh trống, một ông đánh chiêng. Cứ một tiếng trống, tiếp theo đến tiếng chiêng. Sau ba hồi chiêng trống, đánh tiếp ba tiếng dõng dạc, rồi vái ba vái lui ra.

Ông Đông xướng lại hô:

– Nhạc sinh tựu vi…i…ị…ị!

Phường bát âm tấu nhạc. Nhạc tế bà Triệu không hiểu ai đề nghị, và đề nghị từ bao giờ, mà tấu các bản : Động-đình ca để mở đầu, tiếp theo tấu nhạc thiết triều đời vua Hùng. Nhạc cực kỳ hùng tráng.

Tiếp theo các ông xướng thi nhau xướng, chủ tế kiểm điểm tế vật xem có đầy đủ, thanh khiết không. Thiện-Lãm kể:

– Chị biết không, hàng năm trong trấn cử ra ba người có tâm huyết phụ trách nuôi tam sinh tế bà. Năm nay cả ba người nuôi nai, lợn, dê đều thuộc làng em lĩnh vinh dự. Chị xem con nai có béo không? Con lợn kia to kém gì con nghé? Con dê lớn hơn con lợn nhiều. Lệ tế ở đây để nguyên tam sinh. Nai, dê thui cả con. Lợn phải luộc chín.

Thanh-Mai hỏi:

– Tại sao lại có tới mai mươi mốt con lợn lớn nhỏ khác nhau trên hai dẫy bàn thờ kia vậy?

– À đó là lợn của các xã, các hội, cùng các quan văn võ trong trấn. Khắp vùng này, ai cũng mong đến ngày hôm nay, để được quỳ gối lễ Bà.

Đến đó tiếng xướng cực lớn, làm Thanh-Mai, Thiện-Lãm phải ngừng lại:

– Nghênh thần cúc cung bái!

Tất cả chủ tế, bồi tế v.v. đều xuống gối.

– Hưng!

Tất cả lên gối.

– Bái!

Tất cả xuống gối.

Sau khi lên gối, xuống gối lễ đủ tám lễ. Tiếp theo lễ dâng rượu, dâng hoa quả xong, lại có tiếng xướng:

– Bình thân, phục vị!

Mọi người về chỗ mình. Tiếng xướng:

– Nghệ độc chúc văn.

Tức độc văn tế. Tiếng xướng rõ ràng, tuân chỉ hoàng đế, người soạn văn tế là Hàn lâm học sĩ, kiêm thị trung Lý Nhân . Nhưng người đọc lại là một chức quan ở Cửu-chân. Vị Đông-xướng cất cao giọng:

– Phụng chỉ Đại-Việt hoàng đế, người đọc văn tế là Thự mẫn thư lang, quản câu ngự phủ, đồng trung thư kiện biên tu, kiêm thủ Thanh-hóa trại, Cửu-chân huyện, cộng sự Vũ Anh-Thông .

Vũ Anh-Thông tiến đến trước bàn thờ quỳ gối, mở trục giấy ra. Ông đằng hắng một tiếng rồi cất cao giọng đọc. Văn tế thời Lý còn ảnh hưởng của thời Lĩnh-nam. Thể văn dùng thường là văn xuôi, chứ không dùng lối văn biền ngẫu như đời Lê, đời Nguyễn sau này. Bài văn tế khá dài. Sau đọan mở đầu nói về việc dựng nước của vua Hùng, vua An-dương, tiếp đến đọan ca tụng cuộc khởi binh của vua Trưng. Đoạn ca tụng Lệ-hải Bà-vương như sau:

« …Trải hơn 200 năm, dân Việt do phương Bắc cai trị. Người Việt bị coi như trâu như chó. Muốn cam phận trâu ngựa cũng không yên, sống không nổi, chết cũng không xong.

… Hào kiệt bao phen nổi lên, ngặt vì thế nước chông chênh, mà giặc Bắc đông người, nhiều của, nên đành nuốt hận. Uất khí tụ lại thành căm gan, tím mật.

…Đất Cửu-chân, địa linh nhân kiệt, anh hùng đã nhiều, nữ kiệt cũng lắm. Giặc Ngô ngày càng hung bạo, bắt dân trói lại từng xâu, đưa sang Kiến-nghiệp làm lính đánh Ngụy. Lương gạo bị thu, trâu bò không còn đủ để cầy bừa. Dân chúng căm hận, nguyền rủa chó Ngô… »

Bỗng nghe tiếng kêu véo inh tai nhức óc. Vũ Anh-Thông đang quỳ, bị bật tung lên cao, rồi ngã vật ra. Đầu vỡ làm đôi, óc, máu bầy nhầy.

Biến cố xẩy ra đột ngột, cao thủ tham dự có hàng trăm, mà không ai ngờ tới. Véo, véo hai tiếng nữa, chỉ thấy bóng xanh thấp thoáng, Thanh-Mai đã đứng trước Mỹ-Linh, nàng rút kiếm gạt đánh choang, choang hai tiếng. Mỹ-Linh kinh hoàng nhìn lại thì ra hai qủa phi trùy ám toán nàng. Nếu không có Thanh-Mai ra tay nhanh thì nàng đã chết rồi.

Trong sân rối lọan cả lên. Tạ Sơn từ phía sau vọt lên trước. Chàng vung tay chụp một người quần áo rách rưới ngồi lẫn trong đám dân chúng. Người này bật tung một cái, vọt lên cao, tránh cái chụp chụp của Tạ Sơn. Tạ Sơn biến chiêu thần tốc từ cái chụp biến thành chưởng hướng lên trời. Người kia từ trên cao phóng xuống một chưởng. Hai chưởng gặp nhau đến Bùng một tiếng, cát bụi bay mịt mờ. Người kia bay lên cao. Ở trên cao, y đá gío một cái, người bay vọt về phía bàn thờ. Tạ Sơn vọt theo đánh lên một chỉ. Người đó còn ở trên cao, tay rút kiếm khoa một vòng. Y đã đáp xuống đất. Y cười khì:

– Tưởng võ công Giao-chỉ thế lào, hóa ra tầm thường thôi.

Giọng nói của y lơ lớ, thì ra y là người Hán.

Trong khi hai người đấu với nhau, thì đạo quân Ngự-long vây kín khu lễ đài, trong tư thế chuẩn bị tác chiến. Tạ Sơn đã rút kiếm ra cùng người kia giao chiến. Kiếm pháp của Tạ Sơn là kiếm pháp Tiêu-sơn, đường đường, chính chính, rõ ràng là kiếm pháp con nhà Phật. Còn kiếm pháp người kia khi nhanh, khi chậm, điêu luyện. Hai ngươi đầu với nhau được trên năm mươi hiệp. Lý Mỹ-Linh đứng quan sát trận đấu, nàng hỏi Nùng-Sơn tử:

– Thưa đạo trưởng, kiếm pháp của người này thuộc môn hộ nào vậy?

Nùng-Sơn tử đáp:

– Kiếm-pháp Hoa-sơn. Hoa-sơn là một phái võ ở vùng Giang-tô. Phái võ được thành lập trên hai trăm năm. Võ công cực kỳ ảo diệu. Có thời phái Hoa-sơn đã lấn át cả phái Thiếu-lâm, Võ-đang. Cách đây mấy năm, nhân võ công nước Đại-lý trở thành vô địch thiên-hạ, làm cho Tống triều lo lắng không ít. Hồi đầu năm qua, vua Tống cho mở võ đài ở Biện-kinh, tuyển anh hùng vô địch. Võ đài tuyển trong một tháng, kết quả, đệ tử phái Hoa-sơn là Địch Thanh đoạt chức vô địch, giật giải trạng nguyên. Đệ tử phái Thiếu-lâm giật giải bảng nhãn. Còn đệ tử phái Võ-đang chỉ đoạt được giải Thám-hoa.

Lê Thuận-Tông hỏi:

– Thưa sư phụ, tại sao anh Sơn chưa thắng được tên ăn mày kia?

Nùng-Sơn tử giảng:

– Có hai lý do. Tạ chỉ-huy sứ tuổi còn trẻ, công lực không được làm bao. Trong khi tên Hán kia đã già, công lực cao thâm khôn lường. Điều thứ nhì là võ công Tiêu-sơn xuất phát từ Thiền-công, tinh kỳ thì có, nhưng căn bản vẫn không hung dữ để có thể đàn áp được đối thủ đễ dàng. Nếu người đấu với tên Hán thuộc phái Đông-a thì tên Hán kia chịu sao nổi.

Tạ Sơn đang đấu với tên người Hán, chàng dùng hết sức mình mà không hạ được đối thủ. Trong khi chàng là Điện-tiền chỉ huy sứ, thống lĩnh toàn bộ Ngự-lâm quân, thì còn gì là thể thống? Nghe Nùng-Sơn tử nói, chàng tỉnh ngộ. Chàng chưa học kiếm pháp Đông-a, nhưng đêm trước đã cùng Thanh-Mai trao đổi mấy chiêu. Chàng nghe sư phụ dặn Kiếm pháp Đông-a với Tiêu-sơn cùng nguồn gốc. Chỉ khác ở điểm kiếm pháp Đông-a đánh ngược lại với Tiêu-sơn . Tạ Sơn định đánh chiêu Mã qúa Hằng giang , theo đúng kiếm pháp Tiêu-sơn thì kiếm từ dưới vung lên, rồi biến chiêu đưa vào ngực đối thủ. Chàng đổi thành từ dưới tạt ngang, đưa vào chân đối thủ. Kiếm đáng lẽ vòng sang phải, chàng vòng sang trái. Xoẹt một tiếng, tên ăn mày bị trúng đầu gối. Y nhảy vọt lên chửi thề:

– Con mẹ nó tên Nam-man dữ qúa.

Y đánh liền mười chiêu, với lối đánh như cả hai cùng chết. Tạ Sơn chiết với y mười chiêu, rồi chàng lại đổi ngược kiếm pháp Tiêu-Sơn. Choảng một tiếng, hai kiếm chạm nhau, chàng cảm thấy cánh tay tê chồn.

Tạ Sơn đổi chiêu thình lình thắng đối thủ dễ dàng. Chàng đổi thêm chiêu nữa, tay y trúng kiếm. Kiếm rơi xuống đất. Chàng dí kiếm vào cổ y nói:

– Quỳ xuống, bằng không ta lấy mạng mi.

Từ phía dân chúng có tiếng cười khanh khách:

– Tưởng võ công Giao-chỉ thế nào, hóa ra hai người đánh một.

Ba người bước ra. Họ trang phục theo lối khách trú. Một người to béo, tuổi khoảng ba mươi. Một người dáng dấp như thư sinh, tuổi khoảng hăm ba hăm bốn, và một đạo sĩ tuổi khá gìa. Tên thư sinh vung tay bắt kiếm của Tạ-Sơn.

Tạ Sơn lượn kiếm một vòng, đẩy vào ngực y. Y không coi kiếm chàng vào đâu, dùng hai ngón tay kẹp cứng thanh kiếm Tạ Sơn. Y rung tay một cái, kiếm Tạ Sơn gẫy làm mấy mảnh. Y cười ha hả.

Tạ Sơn bật một chưởng, đẩy mấy mảnh kiếm gẫy vào người thư sinh. Thư sinh vọt người lên cao tránh khỏi. Tạ Sơn không nhân nhượng, đánh ngược lên một chưởng. Thư sinh đá gió một cái, bật người ra xa hơn hai trượng, rơi xuống đất. Tạ Sơn tấn công y bằng hai chưởng liền. Y cười nhạt một tiếng, vung tay đỡ. Bình, bình hai tiếng. Tạ Sơn bật lui ba bước, khí huyết trong người chạy nhộn nhạo.

Nguyễn Khánh truyền đạo Ngự-long vây bọn này đến bẩy tám vòng. Y quát:

– Các người là ai?

Thư-sinh nói:

– Tại hạ họ Địch tên Thanh.

Y vừa lên tiếng, khắp quảng trường bật lên tiếng ồ…

Mặt trời ngả về tây. Nắng chiều chiếu chụp xuống núi rừng xanh tươi mầu vàng úa. Thỉnh thoảng có đám mây trắng trôi lững lờ về vùng núi xanh xa xa. Người dân Cửu-chân dự hội tế Bà-vương có cảm tưởng như Bà đang ngự trên đám mây nhìn xuống dương gian.

Tướng-quân Nguyễn Khánh cầm cờ đỏ chỉ một cái, hơn trăm Thiên-tử-binh bao vây ba người vào giữa, cung dương thẳng. Chỉ cần một hiệu lệnh nhỏ, là buông tên.

Mười đội thiếu niên Hồng-hương, gươm đao sáng ngời đứng vây vòng ngoài. Lại còn ba đội giáo chúng Hồng-thiết giáo cung tên đứng sau, sẵn sàng nhảy vào vòng chiến.

Địch Thanh cười nhạt:

– Ta từ Trung-quốc sang đây muốn nói truyện với võ-lâm Giao-chỉ, chứ không muốn nói truyện với đám binh lính này.

Một đạo trưởng Hồng-thiết giáo bước ra cười nhạt:

– Ta, Hoàng Can thủ lãnh Hồng-thiết giáo trấn Thanh-hóa. Chúng ta là người võ lâm. Người muốn nói gì?

Địch Thanh vẫn bình tĩnh:

– Hồng-thiết giáo bọn mi chẳng qua là bọn cướp, uống máu người. Ta không nói truyện với mi.

– Thế thì được.

Hoàng Can vẫy tay, giáo chúng Hồng-thiết cầm ống tiêu thổi lên điệu nhạc âm thanh ma quái, như từ cõi âm vọng về. Lập tức, từ trong cái xe đậu gần đó, hàng trăm con rắn từ từ bò ra, vây xung quanh thầy trò Địch Thanh. Địch Thanh kinh hoảng, vung tay phát chưởng hướng vào đàn rắn. Thì lập tức bốn con rắn vọt lên quấn quanh người y. Vung tay chụp, thì mấy con rắn trườn xuống chân, rồi lên cổ. Y chụp con trên cổ, thì con khác luồn vào bụng. Y nhảy nhót, chụp một lúc, thủy chung vẫn không chụp được con nào.

Đông-Sơn lão nhân thấy đệ tử lâm nguy, lão nghĩ:

– Phải khống chế tên Hoàng Can này, mới hy vọng cứu Địch Thanh.

Lão nhảy vèo đến, tay sử dụng cầm-long công, bắt Hoàng Can. Nhưng tay lão vừa chạm vào cổ Can, thì bốn con bọ cạp sắc xanh mướt không hiểu đã bám trên tay lão từ hồi nào. Lão kinh hoảng, dùng tay trái búng mấy con bõ cạp khỏi tay phải. Nhưng tay trái vừa vung lên, thì bốn con bọ cạp chui vào trong tay áo lão.

Hoàng Can nói lớn:

– Sao? Địch trạng nguyên. Người có muốn nói truyện với Hồng-thiết giáo ta không?

Chợt Địch Thanh ngoạc mồm ra đọc một tràng tiếng quái dị:

Ta pha tà ka la.

Sa sa thanh thí u tơ lơ ma.

Củng thiên chi ha ha.

Đạo ta cà mạ mạ thì di hu.

Hoàng Can nghe Địch Thanh đọc chú, gương mặt y cực kỳ kho coi. Y hú lên một tiếng, bao nhiêu rắn, rời Địch Thanh trườn xuống đất, rồi chui về xe. Can đến trước Đông-Sơn lão nhân thu mấy con bọ cạp về. Y chắp tay:

– Xin tiên sinh thứ tội, tiểu nhân không biết.

Rồi lùi về chỗ giáo chúng.

Tạ Sơn thấy bọn Hồng-thiết đang hùng hùng hổ hổ, mà Địch Thanh đọc có mấy câu chú, lập tực rút lui, thì không hy vọng gì vào chúng nữa. Chàng phất tay ra hiệu cho binh đội lui lại. Chàng hỏi Địch Thanh:

– Người tên Địch Thanh? Phải chăng người là đệ tử phái Hoa-sơn, vừa mới đây người đoạt chức vô địch trong trận đấu võ đài vùng Biện-kinh?

Địch Thanh cười rất thanh nhã:

– Tạ huynh quả không hổ với chức Điện-tiền chỉ-huy-sứ. Kiến văn Tạ huynh rộng mênh mông. Truyện vừa mới xẩy ra ở Trung-nguyên mà Tạ huynh đã biết. Tại hạ qủa không xứng với chức vô địch Trung-nguyên. Sở dĩ tại hạ đạt được giải Hoàng-long, do anh hùng bốn biển nhường cho đó thôi.

Địch Thanh chỉ vào người béo tròn:

– Vị này là đại-sư huynh tại hạ. Họ Dư tên Tĩnh.

Trong khi Tạ Sơn không biết Dư Tĩnh là ai, thì Địch Thanh chỉ vào đạo-sĩ:

– Vị này là Đông-sơn lão-nhân, sư phụ của tại-hạ.

Cả quảng trường cùng bật lên tiếng ồ . Vì Hoa-sơn tứ lão khét tiếng võ lâm trên 20 năm qua. Họ mang tên Đông, Tây, Nam, Bắc. Lão này mang tên Đông cho nên trang phục mầu xanh. Dư luận đồn Hoa-sơn tứ lão võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Chỉ nguyên đệ tử của Đông-sơn lão nhân là Địch Thanh đọat chức vô địch võ đài Biện-kinh thì đủ biết võ công sư phụ Địch còn cao thâm biết là dường nào?

Lê Thuận-Tông hỏi Nùng-Sơn tử:

– Sư phụ. Gã Địch Thanh đựơc vua phong anh hùng vô địch hay võ lâm bầu lên?

Nùng-Sơn tử ngơ ngác không hiểu nhìn Thanh-Mai. Thanh-Mai đáp:

– Nguyên khi vua Tống Chân-tông băng vào niên hiệu Càn-hưmg nguyên niên, để di chiếu cho con thứ 6 là thái tử Trinh lên nối ngôi, bấy giờ mới 13 tuổi. Thái-tử Trinh sinh ngày 14 tháng 4 năm Canh-Tuất (1010) mẹ là Lý thần-phi. Nhân Chương-hiến hòang hậu họ Lưu không con, nuôi Trinh làm con nuôi. Vua Chân-tông để di chiếu cho cho Lưu hòang hậu được quyền buông rèm nghe việc nước. Bấy giờ bên Đại-Việt, nhằm niên hiệu Thuận-thiên thứ 13 đương kim Thiên-tử (1022). Lưu hậu hay nghe lời dèm pha của bọn hoạn-quan, gây lắm truyện rắc rối, làm người trong nước không phục. Việc đầu tiên Lưu thay thế các tể-thần, phong Đinh Vị giữ chức tư-đồ kiêm thị-trung thượng-thư tả bộc-xạ. Phùng Thừa giữ chức tư-không kiêm thị-trung, khu-mật-viện-sứ, thượng-thư hữu bộc-xạ. Tào Lợi-Dụng được phong thượng-thư tả bộc-xạ kiêm thị-trung. Lại biếm chức danh sĩ Khấu Chuẩn đang là tư-mã Đạo-châu làm tham-quân Lôi-châu. Khấu Chuẩn buồn qúa, thành bệnh mà chết. Thấy vua còn nhỏ, Lưu hậu vốn thất học, quyết định việc nước hồ đồ, dân chúng không phục, mùa màng mất liền hai năm, tình hình Trung-nguyên rối lọan, các nước Tây-hạ, Thổ-phồn, Đại-lý, Liêu đều tự xưng đế, không nạp cống tế, đem quân vào xâm lấn.

Thanh-Mai liếc nhìn bọn Địch Thanh rồi tiếp:

– Năm năm sau, Thiên-thánh hoàng đế đã đến tuổi trưởng thành, có ý khôi phục đế nghiệp như thời vua Thái-tổ, Thái-tông. Nhà vua rất ham tập võ. Các quan hiến kế rằng muốn cho nước mạnh, phải có nhiều võ tướng dũng mãnh. Nhà vua nảy ra ý lập võ đài ở Biện-kinh, tuyển các võ sĩ phong làm tứơng cầm quân. Thể lệ đặt ra như sau: Người nào vô địch sẽ được lĩnh giải Hoàng-long, vua ban cho con rồng bằng vàng, được lĩnh bằng trạng-nguyên. Kế đó là hai người về nhì được lĩnh giải Bạch-phụng, vua ban cho con phụng bằng ngọc trắng, được lĩnh bằng bảng nhãn. Tiếp theo bốn người được ban giải Hắc-hổ, mỗi người sẽ lĩnh một đầu hổ bằng ngọc đen, được bằng thám-hoa. Bảy người kế tiếp được phong Thiên-thánh thất ưng. Thiên-thánh là niên hiệu của đương kim thiên-tử nhà Tống. Ngòai ra nhà vua còn tuyển thêm 18 anh hùng nữa gọi là Thập bát anh hùng. Tất cả được lĩnh đồng Tiến-sĩ. Tổng cộng 32 người đều được bổ là tướng cầm quân. Kể từ khi Tống Thái-tổ cầm quyền, đây là lần đầu tiên võ lâm Trung-nguyên từ tay trắng, phút chốc giữ địa vị trọng yếu. Phong trào luyện võ sôi nổi khắp Trung-quốc. Các nước Tây-hạ, Đại-lý, Thổ-phồn hqảng kinh, vội sai người tiến cống tỏ ý qui phục. Ngoại trừ Liêu vẫn đem quân quấy rối biên giới. Nhất là phương Nam, Đại-việt tuy vẫn cống hiến đầy đủ, song hễ có đụng chạm ở biên giới là xua quân đánh tràn qua.

Đến đó Thanh-Mai phải ngừng lại vì tiếng nói của Địch Thanh.

Địch Thanh vận nội lực vào đơn điền mói thực lớn:

– Tại hạ Địch Thanh, trước đây là một thôn phu vùng Hoa-sơn. Bản lĩnh võ công có, võ đạo có. Nhiều khi muốn đem tài ra, trước tuốt ba thứơc gươm hầu báo đáp hoàng ân, sau mang ấn phong hầu về làm rạng tổ tông, sư môn. Nhưng đường tiến thân vào binh nghiệp thực gian nan. Trước phải đầu quân, rồi mới từ từ thăng quan. Trong khi đó thì con các vương hầu, sinh ra đã được phong làm tướng làm sóai. Vì vậy tại hạ đành tiêu dao với cỏ cây. Không chịu tòng quân.

Đến đó y ngừng lại để quan sát cử tọa. Hầu như quân binh, dân chúng đều đồng ý với y. Y tiếp:

– Năm trước đây, thánh thiên tử đã nhìn thấy nhiều anh hùng, có tài, có đức, cứ phải chôn vùi cuộc đời với cỏ cây. Người cho tổ chức thi võ. Bên Đại-tống có văn trạng-nguyên, bảng-nhãn, thám-hoa, tiến-sĩ, thì cũng có võ trạng, võ bảng-nhãn, võ thám-hoa và võ tiến-sĩ. Hồng-ân ban xuống lấy một trạng-nguyên, hai bảng-nhãn, bốn thám-hoa, bẩy hòang-giáp, và mười tám tiến-sĩ, tổng cộng 32 người.

Quảng trường im phăng phắc không tiếng động. Địch Thanh tiếp:

– Tất cả 32 người đều được trọng dụng. Mới buổi sáng còn là thôn phu, buổi chiều bảng vàng ghi tên, được triều kiến long nhan, nhận ấn nguyên soái, ruổi ngựa đuổi giặc. Khi tại hạ được phong trạng-nguyên, tự cảm thấy tủi hổ khi nhìn về Lĩnh-nam. Đất Lĩnh-nam nghìn xưa vốn là nơi rồng nằm hổ phục, anh tài như lá trong rừng. Trước đây Vạn-tín-hầu Lý Thân chả từng được vua Thủy-hòang nhà Tần phong nguyên nhung ruổi ngựa khắp Vạn-lý trường-thành đuổi Hung-nô lên tận miền tuyết phủ đó sao? Dù sau khi hầu qua đời, Hung-nô nghe danh còn khiếp đảm. Ngày nay phái Mê-linh chẳng là đồ tôn của người đó sao? Lại như thời Đông-hán, Đào Kỳ của đất Cửu-chân, thắng khắp anh hùng Trung-nguyên, cầm quân đánh Thục, được phong Hán-trung vương.

Dân chúng, võ lâm hiện diện nghe một võ-trạng nguyên Trung-quốc ca tụng anh hùng người Việt đều mát lòng hả dạ, vỗ tay vang trời. Địch Thanh tiếp:

– Thiên-thánh hoàng đế coi con dân trong Thiên-hạ đều như nhau. Tống, Liêu, Việt, Hạ, Thổ đều là con dân cả. Ngài xuống chiếu truyền mở Anh hùng đại hội vào 15 tháng 3 năm tới tại Biện-kinh. Ngài truyền cho tất cả nam, nữ, Hán, Việt, Liêu, dù gìa, dù trẻ đều được tham đự. Tổng số lấy một trạng, hai thám, bốn bảng, bẩy hoàng gíap và 32 tiến-sĩ. Tất cả đều được phong chức từ tiết-độ-sứ tới chiêu-thảo-sứ.

Địch Thanh cất cao giọng:

– Nào các anh hùng võ lâm con cháu Vạn-tín-hầu, Bắc-bình-vương. Hãy mau mau lên đường đi Biện-kinh tham đự Anh hùng đại hội. Tại hạ sẽ thân hành gửi thư mời đến từng gia, từng phái sau.

Địch Thanh vừa ngừng, cử tọa vỗ tay vang dội, hết tràng này, đến tràng khác.

Nguyễn Khánh cầm roi chỉ vào mặt thầy trò Địch Thanh:

– Các người sang đây với tư cách võ lâmTrung-quốc, thăm võ lâm Đại-Việt hay do chiếu chỉ của Tống đế?

– Nếu với tư cách võ lâm thì sao? Do chiếu chỉ thì sao?

Nguyễn Khánh cười rung quảng trường:

– Nếu là võ lâm, thì thẻ bài nhập cảnh đâu? Có gì làm bằng rằng người là Địch Thanh? Luật lệ Đại-Việt cũng như Tống định rằng dân hai nước Hoa, Việt, muốn từ nước nọ sang nước kia phải có thẻ bài?

Dư Tĩnh cười nhạt:

– Luật lệ đó có từ bao giờ mà tại hạ không hề biết?

Chợt một âm thanh rất quen thuộc dùng lăng không truyền ngữ nói như rót vào tai Thanh-Mai. Nghe tiếng nói, nàng mừng run lên, vì chính là tiếng của sư thúc nàng tên Trần Kiệt. Như vậy phái Đông-a nhà nàng đã có mặt tại đây. Trần Kiệt giảng giải cho nàng một lúc, rồi dặn:

– Xuất hiện đi thôi!

Thanh-Mai bước khỏi khán đài, chắp tay hướng quần hùng hành lễ, rồi chỉ tay vào mặt Dư Tĩnh:

– Thưa các vị anh hùng Đại-Việt, vị này họ Dư tên Tĩnh. Trước đây thi đậu tiến sĩ, lại là cao thủ phái Hoa-Sơn. Dư tiên sinh hiện là biên cương trọng thần nhà Đại-Tống, giữ chức an-vũ sứ Quảng-tây lộ, tức điều động binh mã vùng biên giới Tống-Việt. Dư tiên sinh hằng tự hào rằng hàng ngày bên Đại-Việt có người đẻ thêm đứa trẻ, hay một ông già mới chết Khu-mật viện Quảng-đông cũng biết. Dư tiên sinh trực tiếp điều khiển nhiều toán tế tác sang Đại-Việt. Thế mà tiên sinh bảo không biết gì về luật lệ hai nước, thì quả khinh người quá.

Dư Tĩnh bị Thanh-Mai lột mặt nạ, y kinh hoảng:

– Cô nương là ai?

– Tiểu nữ là một con dân Đại-Việt. Này Dư tiên sinh, theo luật Tống khi một dân Tống muốn sang Đại-Việt, phải có thẻ bài, cùng giấy kiềm thự của quan trấn thủ biên giới Tống, rồi phải được quan trấn thủ Đại-Việt cho phép. Vậy những thẻ bài, cùng giấy của tiên sinh đâu?

Dư Tĩnh cười ha hả hỏi lại:

– Cô nương là ai? Ta có thẻ bài hay không, dễ thường phải trình cho cô nương chắc?

Tạ Sơn tiến lên chắp tay hướng Dư Tĩnh:

– Dư an vũ sứ! Tại hạ Tạ Sơn, điện tiền chỉ huy sứ Đại-Việt, xin thỉnh tiên sinh cho xem thẻ bài. Nếu tiên sinh không có thẻ bài, tại hạ đành vô phép với tiên sinh. Tiên sinh thử nghĩ coi, nếu như một tên trộm trâu, trộm bò cũng đến đây xưng là an vũ sứ sao?

Giữa lúc đó, có đoàn người từ dưới đồi đi lên. Dẫn đầu là một thớt voi khí thế cực kỳ hùng tráng. Phái đòan đông đến hơn trăm người. Họ trang phục rất kỳ lạ. Sau bành voi phất phới lá cờ có chữ Lạc-hầu Lạng-châu, phò mã Thân cạnh đó có lá cờ mầu xanh, trên thêu hàng chữ Lĩnh-nam Bảo-quốc, Hoà Dân Công Chúa . Một trung niên nam tử thân thể hùng vĩ, cằm vuông, mắt hổ, da hồng hào, cỡi trên con cọp trắng nõn. Trên bành voi là một thiếu phụ trẻ, mặc áo lụa vàng, giây lưng mầu hồng nhạt, quần đen, nhan sắc cực kỳ diễm lệ.

Mỹ-Linh xa chú mới hai ngày, nàng cảm thấy cô đơn, lo sợ viển vông, dù có thái-cô Tịnh-Huyền bên cạnh. Nay thấy thiếu-phụ. Nàng rời ghế ngồi, chạy đến trước ngựa cung cung kính kínhh hành lễ:

– Thần nhi Mỹ-Linh kính cẩn ra mắt cô-mẫu.

Nàng chưa kịp hành lễ với trung niên nam tử, thì thiếu-phụ phóng một chiêu cầm-long trảo. Người Mỹ-Linh không tự chủ được, bay vọt lên cao. Nàng đã ngồi trước bành voi với thiếu phụ.

Tạ Sơn đến trước voi, cung kính chắp tay hành lễ:

– Hạ thần Tạ Sơn, lĩnh điện-tiền chỉ-huy-sứ xin tham kiến công-chúa điện hạ và phò-mã.

Các quan văn võ trấn Thanh-hóa đồng cúi đầu hành lễ. Thiếu-phụ ôm Mỹ-Linh đáp xuống đất. Nàng tát yêu Mỹ-Linh hai cái rồi mỉm cuời:

– Con bé hay nhè của cô, bây giờ đẹp quá rồi.

Thiếu phụ với tay ôm đầu Mỹ-Linh vào ngực, nàng ghé miệng trái đào cắn lên má Mỹ-Linh. Người ngoài không biết liên hệ cô cháu. Cứ nhìn tướng mạo hai người giống nhau cũng đoán ra cùng nguồn gốc huyết tộc. Hai cô cháu giống nhau như hai giọt nước. Có điều ở thiếu-phụ thì đôi mắt sáng cực kỳ tinh anh. Nước da nàng trắng hồng, khuôn mặt trái soan, tóc để dài xuống lưng thon. Còn Mỹ-Linh thì da trắng trong, khuôn mắt dịu hiền, bàn tay trắng dài, dáng đi yểu điệu. Thiếu-phụ đó là con gái thứ nhì của Thuận-thiên hoàng đế. Nguyên hoàng đế có mười ba con gái. Năm 1009, khi lên ngôi, phong cho các con gái làm công chúa. Con gái đầu lòng được phong An-Quốc công-chúa gả cho sư điệt của ngài là Đào Cam-Mộc. Đào Cam-Mộc là học trò của sư-huynh nhà vua. Đào có công phò trợ nhà vua trong lúc dựng nghiệp. Lại gả con gái thứ nhì sắc phong Lĩnh-nam Bảo-quốc hòa dân công-chúa cho lạc-hầu Lạng-châu là Thân Thừa-Quý. Người đương thời thấy tên Lĩnh-nam bảo-quốc hòa-dân công-chúa dài qúa, mới gọi tắt là công-chúa Bảo-Hòa.

Gió chiều chạy qua đồi, mơn trớn da thịt, làm quần áo của thiếu-phụ với Mỹ-Linh bay nhè nhẹ. Quảng trường im lặng, để nhìn hai tiên nữ nói chuyện với nhau.

Hà Thiện-Lãm hỏi Nùng-Sơn tử:

– Sư phụ, hai vị đó là ai vậy.

Nùng-Sơn tử giảng:

– Nguyên hồi mới lập quốc, nước Văn-lang chia làm 100 vùng khác nhău. Mỗi vùng do một lạc-hầu coi về hành chính, kinh-tế; một lạc-tướng coi về quân sự. Chế độ này kéo dài trong mấy nghìn năm. Đến thời Lĩnh-nam, sau khi vua Bà tuẫn quốc, Mã Viện tâu về triều xin hủy bỏ chế độ lạc-hầu, thay vào đó bằng chế độ làng xã. Tuy vậy, khi Viện bị triệu-hồi. Dân chúng vẫn trở lại chế độ cũ. Sau này, trải qua thời đại Bắc thuộc dài gần nghìn năm, hầu hết miền đồng bằng đã trở thành quận huyện. Trừ miền núi, ảnh hưởng bởi phái Tây-vu vẫn gĩư nguyên. Các trang, động dần dần thống nhất thành châu. Nay còn hơn 20 châu chia làm hơn trăm trang, động. Tuy vậy chỉ có 7 châu lớn gọi là Bắc-địa thất châu là Vĩnh-an, Tô-mậu, Lạng-châu, Thất-nguyên, Quảng-nguyên, Bảo-lạc và Thiên-long. Khi đức Đại-Việt hoàng-đế mới lập nghiệp, gả em gái là công-chúa Hồng-Châu cho lạc-hầu Thân Thiệu-Anh. Nào ngờ công-chúa tìm người thế thân đi tu, tức là sư thái Tịnh-Huyền. Sau đức Kim-thượng lại gả công-chúa Lĩnh-nam Bảo-quốc hòa dân công-chúa thường gọi tắt là công-chúa Bảo-Hòa cho con trai Thân Thiệu-Anh là Thân Thừa-Quý, tức vị to lớn như Hộ-pháp kia.

Đến đó Nùng-Sơn tử phải ngừng lại, vì có nhiều tiếng quát tháo của phò-mã Thân Thừa-Quý và tiếng cãi vã của Đông-sơn lão-nhân.

Phò-mã Thân Thừa-Quý nghiêm nghị hỏi Đông-Sơn lão nhân:

– Người đường đường là một trong bốn đại cao thủ bậc nhất Trung-nguyên. Hà cớ gì vượt biên vào Đại-Việt ta làm truyện ám muội. Như vậy chẳng hóa ra tự mình làm hại thanh danh mình ư?

Đông-Sơn lão nhân cười khành khạch:

– Ta không ngờ một vị phò-mã văn võ kiêm-toàn như Thân lạc-hầu mà cũng không thông thế tục. Ta sang đất Giao-chỉ một cách đường đường chính chính, sao lại bảo rằng mất tinh thần võ-đạo Hoa-sơn?

Đàm Toái-Trạng bước ra chỉ mặt Đông-Sơn:

– Người là ai? Tên gì? Đến trấn Thanh-hóa của ta ăn nói vô phép. Bộ người chê gươm ta không sắc sao?

Nói xong, Trạng hô lớn:

– Quân bay, chuẩn bị cung nỏ.

Hơn trăm cung thủ hướng vào nhóm người Địch Thanh. Địch Thanh cười nhạt:

– Ta tưởng đến Cửu-chân sẽ gặp được nhiều nhân vật kỳ vĩ võ-lâm Giao-chỉ. Không ngờ chỉ gặp bọn hèn hạ, dùng binh đội đàn áp người.

Đàm Toái-Trạng cười nhạt:

– Bản-nhân là an-vũ-sứ trấn Thanh-hóa. Bản nhân chỉ biết luật pháp của đức hoàng-đế Đại-Việt chứ không cần biết luật lệ võ-lâm. Bản nhân có bổn phận bắt gian nhân. Bọn mi đến đây quấy rối trong trấn. Bản nhân hãy bắt để xét xử. Các ngươi có chịu buông vũ khí chịu trói hay không? Bằng không bản nhân hạ lệnh buông tên.

Địch Thanh cười khinh khỉnh:

– Chúng ta là tùy tùng của sứ đòan Thiên-triều, mượn đường qua đây để vào Chiêm-quốc. Người chẳng qua là một tên an-vũ-sứ của đất Giao-chỉ, mà cũng dám hỗn láo với chúng ta ư?

Đàm Toái-Trạng cười nhạt:

– Thì ra các vị là khâm sai Thiên-triều đấy. Xin các vị cho bản nhân được coi thẻ bài.

Địch Thanh luống cuống:

– Chúng ta không có.

Đàm Toái-Trạng nạt lớn:

– Quân bay đâu, gô cổ chúng nó lại.

Đông-Sơn lão nhân hỏi

– Xin an-vũ-sứ cho biết chúng tôi phạm tội gì?

Toái-Trạng nói:

– Thứ nhất, bọn mi nhập bản quốc không có thẻ bài của quan tổng-trấn Bắc-cương. Ta phải bắt mi điều tra xem mi đến bản quốc với mưu đồ gì. Thứ nhì, mi đến giữa hội tế Bà-vương gây hỗn loạn, đó là tội đại-bất kính. Chiếu luật Đại-Việt, phải tội phanh thây.

Toái-Trạng chỉ vào gã ăn mày bị bắt trói:

– Huống hồ tên này cùng bọn với mi. Y giết mệnh quan triều đình trong khi thi hành sắc chỉ của hoàng-đế, lại mưu sát công-chúa. Hai tội ấy đều phải lăng trì.

Đông-sơn lão-nhân đưa mắt cho Địch Thanh hỏi ý kiến. Địch Thanh dáo dác nhìn khắp nơi như muốn tìm ai. Song nhìn mãi cũng không thấy. Suy nghĩ một lát y nói:

– Sư phụ. Mình cứ chịu trói đi, rồi tính sau. Khổng-tử còn chịu buông xuôi để tránh tai nạn tại nước Trần mà.

Toái-Trạng ra lệnh cho Thiên-tử-binh trói ba người lại.

Cuộc tế lại tiếp tục. Một văn quan được chỉ định thay thế người đã chết đọc văn tế. Cuộc tế chấm dứt.

Vừa lúc đó, có tiếng tù và thổi, rồi một kỵ binh tay cầm cờ phi như bay lên đồi. Quân canh phòng tránh dạt sang hai bên. Mọi người đều biết rằng đó là ngựa lưu-tinh chạy trạm.

Thời Lý dùng phương tiện truyền tin giống như thời Lĩnh-nam. Trên đường từ các huyện về trấn, đều có những trạm thông tin. Như tại huyện có tin tức, thư tín khẩn, muốn trình về quan tổng-trấn, dùng phương tiện này. Một viên kỵ binh, đeo cái túi vải trước ngực. Trong túi đựng công văn khẩn, rồi phi ngựa từ huyện tới trạm thứ nhất. Tới nơi, trao túi cho viên kỵ binh thứ nhì. Viên này lại phi tới trạm thứ ba. Cứ như thế cho tới trấn. Bất cứ quan, quân, dân lớn nhỏ thấy ngựa lưu tinh đều phải tránh xa. Ai không tránh, phạm tội ngăn trở việc quốc-gia đại sự, phải tội chém.

Viên kỵ binh xuống ngựa đến trước Đàm Toái-Trạng kính cẩn trình lên cái túi trước ngực. Đàm Toái-Trang mở túi ra, lấy công-văn đọc. Y đọc xong đến trước Mỹ-Linh, cúi rập người xuống:

– Khải tấu công chúa điện-hạ, có văn thư khẩn của Khu-mật-viện nói rằng Thiên-tử triều Tống là Thiên-thánh hoàng đế (Tống Nhân-tông) gửi một sứ-đòan sang Chiêm-thành. Sứ đòan sẽ qua trấn Cửu-chân. Khu-mật-viện còn ban lệnh rằng, các quan trấn thủ dọc đường phải cung ứng mọi nhu cầu cần thiết như nhà ở, người hầu, lương thực, cùng sai binh tướng hộ vệ. Lệnh này trái với lệnh cách đây nửa tháng. Cách đây nửa tháng, lệnh nói rằng: sứ đoàn mượn đường qua Chiêm-thành. Không cần hộ vệ, cung ứng nhu cầu ẩm thực cùng tiếp đãi . Tiểu nhân thực không hiểu.

Lý Mỹ-Linh vẫy tay gọi Đinh Ngô-Thương, Đàm Toái-Trạng tới cạnh. Nàng nói nhỏ:

– Khu-mật-viện đổi lệnh, tức là hoàng-thượng đã biết rõ sứ-đòan giả mượn đường để do thám cùng ăn cắp di-thư. Như thế Khu-mật-viện muốn chúng ta thù tiếp, hộ vệ, tức là canh gác họ.

Đàm Toái-Trạng ngơ ngác:

– Truyện mới xẩy ra hai ngày. Bọn hạ thần chưa tấu về triều, sao hoàng-thượng đã biết?

Phò-mã Thân Thừa-Quý nói:

– Vậy chắc chắn sứ-đoàn không có bọn Đông-sơn lão nhân rồi. Vì cách đây hơn tháng, ta với công-chúa được tin báo có bọn gian phi Tống đột nhập vào lãnh địa các khê-động, thuyết phục các động-chủ, trang chủ phản Việt đầu Tống. Ta lập tức cho người theo dõi. Thì ra chúng có đến ba đòan. Ta đánh đuổi hai đòan về Ung-châu. Còn bọn mới tới là bọn này đây. Võ công bọn chúng rất cao cường. Chúng ta âm thầm theo chúng từ Lạng-châu tới Thăng-long. Song chúng không ở lại Thăng-long, mà khẩn cấp lên đường đi Trường-yên. Tại Trường-yên chúng dò thám phủ Khai-quốc vương. Phủ Khai-quốc vương canh phòng cực kỳ chu đáo. Chúng vừa lọt vào đã bị bại lộ. Cao thủ trong phủ Khai-quốc đông như vậy, mà cũng không bắt được chúng.

Đàm Toái-Trạng vừa định lên tiếng hỏi, thì từ dưới đồi, một đòan người ngựa đi lên. Dẫn đầu là Triệu Thành, phía sau còn có bọn Triệu Huy, Vương Duy-Chính. Tay Triệu Huy cầm cây cờ lớn, trên đề chữ Sứ đòan Đại-Tống . Triệu Huy hô lớn:

– Bách quan trấn Cửu-chân, thuộc Giao-chỉ mau mau tiếp sứ thần Thiên-triều.

Sứ đoàn Bình-nam vương Triệu Thành đến Đại-Việt bằng đường Khâm-châu, chứ không bằng đường Ung-châu như thường lệ. Sự thực một bộ phận phụ do bọn Địch Thanh, Đông-Sơn lão nhân theo đường Ung-châu vào dò thám vùng Quảng-nguyên, Lạng-châu. Không ngờ bọn này bị công chúa Bảo-Hòa và phò mã Thân Thừa-Quý khám phá ra, theo dõi rất gắt.

Thủ tục ngọai-giao thời Lý-Tống như sau: Khi sứ đoàn Trung-quốc tới biên giới, báo cho quan trấn-thủ. Quan trấn-thủ có bổn phận tiếp đón cung cấp chỗ ăn, ở, cùng người hầu, kể cả người tắm ngựa, cỏ, cho ngựa ăn. Sau đó cho ngưạ lưu-tinh báo về triều. Triều đình cử quan lên bên giới tiếp dẫn sứ-gỉa đến Thăng-long. Thường là lễ-bộ thượng-thư. Khi sứ đoàn tới nơi, thì thái-tử hoặc hoàng đệ sẽ mở cửa thành ra đón. Thành Thăng-long có các cửa Tường-phù, Quảng-phúc, Đại-hưng và Diệu-đức. Thông thường thì thái-tử mở cửa Đại-hưng ra đón sứ đoàn. Sứ đoàn được hướng dẫn tới cư ngụ ở điện Long-an. Ngày đầu, thái-tử chiêu đãi, trao đổi quà tặng. Ngày thứ nhì chánh, phó sứ vào yết kiến vua ở điện Kiền-nguyên, đọc chiếu chỉ của vua Tống sắc phong cho vua Lý. Song lần này sứ đoàn Bình-nam vương Triệu Thành không đến Đại-Việt, mà chỉ mượn đường sang Chiêm. Vì vậy triều đình cử Dực-thánh vương, em trai của vua hoàng đế lên châu Vĩnh-an đón, hương dẫn về tới Thăng-long, đãi tiệc tặng quà. Bình-nam vương Triệu Thành tự giới thiệu là người trong võ-lâm, không muốn những nghi thức phiền toái. Thành xin Dực-thánh vương để cho sứ đoàn tự tại. Thành xin triều đình sức giấy cho các trấn dọc đường giúp đỡ phương tiện khi được yêu cầu là đủ. Khu-mật-viện lập tức đạt giấy đi khắp nơi.

Nào ngờ Bình-nam vương Triệu Thành, dùng cái vẻ bề ngoài là võ-lâm, không cần nghi-thức, để dễ bề do thám, và nhất là tìm di thư thời Lĩnh-nam. Ngay khi rời Thăng-long lên đường đi Chiêm-quốc, Thành chia sứ đoàn làm hai. Một do Triệu Anh, Ngô Tích, Triệu Huy, Quách Quỳ lên đường đi Cửu-chân trước. Còn một do Triệu Thành dẫn Minh-Thiên, Vương Duy-Chính đi vòng sang Thiên-trường dò thám khu vực ảnh hưởng của phái Đông-a.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 79770
Has thanked: 35132 times
Have thanks: 45992 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: April 30th, 2017, 7:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 18th, 2017, 12:34 pm


HỒI THỨ MƯỜI HAI

Chính Khí Tộc Việt


Phái đoàn Triệu Huy đã dò la ra tông tích bộ Lĩnh-nam võ-kinh rồi xẩy ra cuộc dụng võ ở đền thờ Tương-liệt đại vương. Quách Quỳ bị bắt. Sau khi bọn Triệu Anh tìm thấy cuốn phổ trong bụng pho tượng. Y tưởng đó là di thư… thì bị người bịt mặt cướp mất. Bọn y đuổi theo, đánh nhau suốt đêm, người bị mặt quẳng trả bọn y cuốn phổ. Bọn y mở ra coi, thất vọng ê chề. Khi trở về tìm Quách Quỳ, thì Quỳ bị bắt giải lên tri huyện. Bọn y bàn với nhau rằng phải vu cáo cho Tôn Trung-Luận ăn trộm châu báu của sứ đoàn. Mưu kế đã định, bọn Triệu Huy tìm đến dinh an-vũ-sứ Đàm Toái-Trạng. Đàm Toái-Trạng sai em là Đàm An-Hòa điều tra. Đàm An-Hòa bị Triệu Anh dụ nên bí mật làm việc với Thiên-sứ, sẽ được phong chức tước lớn. Vì vậy y không cần cứu xét đến luật pháp, yêu cầu huyện lệnh tha Quách Quỳ, rồi chính y trói Tôn Trung-Luận, giải trở về đền Tương-liệt đại-vương. Trong khi đi đường, gặp đoàn của công chúa Bình-dương.

Còn phái đoàn Triệu Thành đến Thiên-trường, không dò được tin tức gì của phái Đông-a. Bọn chúng lên đường đi Cửu-chân. Dọc đường gặp đòan của Triệu Anh. Triệu Anh cho biết di thư đã hé lộ một chú ánh sáng. Thế là cả hai nhập làm một lên núi Chung-chinh, đụng độ với Khai-quốc vương. Trong khi đi đường, chúng được biết ngày hôm sau có buổi lễ tế Lệ-hải Bà-vương. Vương Duy-Chính cho Triệu Thành biết rõ rằng triều đình nhà Lý phong thần, tổ chức tế Lệ-hải Bà-vương, rõ ràng khuyến khích sĩ dân thiên hạ chống Trung-quốc. Sứ đoàn nên tìm cớ đến đó, may ra tìm được thêm chi tiết nào về di thư chăng. Thế rồi bọn chúng cùng theo Đàm An-Hòa trở lại đền thờ Tương-liệt đại vương, rồi xẩy ra cuộc đụng chạm với người bịt mặt. Triệu Thành bị người bịt mặt bắt đi, rồi được thả ra. Chúng tuyệt vọng, tìm Tôn Trung-Luận,thì được tin ông đã đi dự lễ tế Lệ-hải Bà-vương. Bọn Thành kéo lên dự lễ đúng lúc bọn Địch Thanh bị bắt.

Đàm Toái-Trạng tới trước ngựa Triệu Thành:

– An-vũ-sứ trấn Thanh-hóa nước Đại-Việt, xin tham kiến Bình-nam vương, Thiên-sứ Đại-tống.

Triệu Thành chỉ bọn Địch Thanh:

– Cô-gia lĩnh chỉ Thiên-tử sang phủ dụ man dân phía nam. Hôm qua đã bị bọn trộm cướp cản đường. Hôm nay tùy tòng của cô-gia lại bị các người bắt trói làm nhục. Thì ra các người không coi Thiên-triều vào đâu cả.

Triệu Thành nói lớn:

– Chúa người là Lý Công-Uẩn, trước đây cướp nghiệp của họ Lê, thực đáng ghét. Song Thiên-triều lờ đi cho, tưởng rằng chúa người hết tâm hết sức phủ dụ dân chúng, diệt cướp, bắt trộm. Nào ngờ?

Y hỏi Vương Duy-Chính:

– Vương chuyển-vận-sứ, những chức tước đã phong cho Lý Công-Uẩn ra sao?

Vương Duy-Chính kính cẩn đáp:

– Niên hiệu Đại-trung Tường-phù thứ 3 (1010) đời vua Chân-tông bản triều đã phong cho chức Kiểm-hiệu thái-phó, Tĩnh-hải tiết-độ-sứ, quan-sát- sứ, xử-trí-xứ, An-nam đô-hộ, Ngự-sử đại-phu, Thượng-trụ-quốc, Giao-chỉ quận- vương, suy-thành thuận-hóa công-thần . Cũng năm đó thêm Đồng-bình-chương-sự . Đến niên hiệu Đại-trung Tường-phù thứ 5 (1012) lại thêm cho Khai-phủ nghi-đồng tam-ti, dực đái công-thần .

Duy-Chính ngừng lại một lát rồi tiếp:

– Niên hiệu Đại-trung Tường-phù thứ 7 (1014) lại thêm cho mỹ-tự Bảo-tiết thủ-chính công-thần . Sang niên hiệu Đại-trung Tường-phù thứ 10 (1017) lại gia phong Nam-bình vương . Sang niên hiệu Thiên-hy nguyên-niên (1018) gia phong Kiểm-hiệu thái-úy . Niên hiệu Càn-hưng nguyên-niên (1022) gia phong lên tột đỉnh Kiểm-hiệu thái-sư .

Triệu Thành thở dài:

– Thiên-triều không ngớt thăng quan cho chúa người. Chúa người trọng dụng người, ban cho chức an-vũ-sứ coi trấn Thanh-hóa, người lười biếng, để trộm cướp tụ tập. Đến ngay sứ đoàn mà chúng không từ. Hỏi rằng đối với dân chúng, trộm cướp còn hòanh hành tới đâu?

Tạ Sơn đến trước mặt Triệu Thành nói lớn:

– Này Bình-nam vương gia. Vương-gia là sứ-gỉa Thiên-triều, đến nước tôi. Ở ngôi chủ nhân, chúng tôi nhường nhịn vương-gia thực, song nhường nhịn cũng có giới hạn. Tống Thiên-tử truyền Vương-gia mựơn đường nước tôi sang Chiêm, chứ không sai vương-gia sang nước tôi ăn trộm. Hôm trước đây bọn Triệu Anh, Ngô Tích, Triệu Huy, Quách Quỳ vào đền thờ Tương-Liệt đại-vương ăn trộm, bị bắt qủa tang. Thế mà họ còn vu cáo cho kẻ bắt trộm ăn cướp vàng bạc của họ.

Dân chúng nghe Triệu Thành nói năng hỗn láo, tức muốn cành hông, mà không biết phải biện-minh như thế nào cho phải. Nay nghe Tạ Sơn hạch tội bọn Thiên-sứ, họ hả hê trong lòng, cùng vỗ tay vang dội.

Tạ Sơn tiếp:

– Nước tôi với qúi quốc, từ mấy nghìn năm đã phân cương vực, tiếng nói, phong tục. Chúa tôi phải nhận sắc phong của qúi quốc chẳng qua là muốn tránh chiến tranh mà thôi. Chứ sĩ dân chúng tôi há sợ Trung-nguyên sao? Sông Bạch-đằng hết hai lần thây người Hán lấp nghẹt chưa đủ sao?

Tổng-trấn Thanh-hóa lĩnh chức tiết-độ-sứ Đinh Ngô-Thương cũng nói:

– Thiên-sứ mượn đường qua nước tôi, rồi làm truyện đạo-tặc đó là điều sai quấy không dung thứ. Dù cho chúa tôi có là quan triều Tống chăng nữa, như Vương Duy-Chính vừa nói: Triều Tống phong cho chúa tôi tước Nam-bình vương, kiểm-hiệu thái-sư, Khai-phủ nghị đồng tam-tư… Chức tước chúa tôi cao hơn Vương-gia nhiều. Thế mà Vương-gia kêu tên tục chúa tôi ra mà mạ lị. Xin Vương-gia nhớ rằng gươm chúng tôi để trong bao lúc nào cũng sắc.

Vương Duy-Chính cười nhạt:

– Đinh tiết-độ-sứ muốn đe dọa chúng ta ư?

Đinh Ngô-Thương cười nhạt:

– Tôi chỉ đem lý ra mà nói. Về vụ trộm cướp trong trấn, không do Đàm an-vũ-sứ trách nhiệm, mà do tôi. Tôi Đinh Ngô-Thương, lĩnh tiết-độ-sứ, Tổng- trấn Thanh-hóa, tôi có bổn phận điều tra vụ trộm ở đền thờ Tương-Liệt đại vương.

Đinh Ngô-Thương chỉ vào bọn Địch Thanh:

– Người tùy-tòng của Thiên-sứ can tội trộm, còn phá phách đền thờ anh hùng nước tôi. Tôi có thể vì thể diện của Thiên-sứ mà bỏ qua. Còn bọn này, không có tên trong danh sách tùy-tòng sứ-đoàn. Chúng can tội nhập cảnh không phép, do thám quân tình. Tội nặng khộng tha thứ là chúng giết mệnh quan của chúa tôi giữa lúc đang đọc văn tế.

Địch Thanh tỏ vẻ quật-cường chỉ vào tên ăn mày bị trói:

– Giao-chỉ vốn là quận huyện của đại Tống. Hoa nhân, Việt nhân cũng thế. Vậy mà trong bài văn tế, các người không ngớt mạt sát người Hoa. Rõ ràng Vũ Anh-Thông đọc bọn chó Ngô . Vì vậy vị huynh đệ của ta là Lý Tự mới tung phi trùy giết y.

Công-chúa Bảo-Hòa chỉ mặt Địch Thanh:

– Này trạng-nguyên họ Địch. Người đường đường là đệ nhất cao thủ Trung-quốc. Người lại là đệ tử của một trong Tứ đại thần kiếm phái Hoa-sơn, mà nói năng như vậy ư? Tên ăn mày này rõ ràng tung ba mũi phi trùy. Hai mũi định giết chết cháu Bình-dương của ta. Một mũi giết Vũ Anh-Thông. May đâu có Trần Thanh-Mai nữ hiệp vung kiếm cứu cháu ta. Còn Vũ Anh-Thông vốn là quan văn nên bị giết chết. Như vậy mà người dám nói rằng tên ăn mày kia nổi giận vì lời văn tế ư?

Triệu Thành biết sự không ổn. Y tỏ vẻ ôn hòa:

– Được, cô-gia nhận lỗi vì không quản cố thuộc hạ, để chúng phạm tội. Theo luật bản triều, khi nha thuộc của vương hầu phạm tội, thì trả lại, để chủ trừng trị. Cô gia xin an-vũ-sứ, tiết-độ-sứ vì cô-gia tha cho bọn Địch Thanh và Lý Tự.

Đinh Ngô-Thương đến trước công-chúa Bảo-Hòa trình:

– Xin công-chúa điện hạ ban chỉ dụ.

Bảo-Hòa suy nghĩ không biết giải quyết ra sao thì có tiếng nói nhỏ như muỗi kêu rót vào tai:

– Nếu nay mình bắt giam bọn Địch Thanh, ắt Triệu Thành chạy về Thăng-long xin triều đình tha bọn chúng, chắc chắn triều đình sẽ ban lệnh ân xá. Chi bằng mình tha chúng tại đây cho giản dị. Như vậy chúng tưởng ta vô dụng. Chúng sẽ hành động không úy kị gì. Trong khi đó ta tung người theo dõi, khắc biết rõ hành tung của chúng.

Báo-Hòa không biết tiếng của ai, song tiếng nói rất quen thuộc, thân ái, ấm áp vô cùng, rõ ràng là tiếng nói phụ nữ. Nàng thấy người này đưa đề nghị hợp lý, bèn bảo Đinh Ngô-Thương:

– Thôi chúng ta cũng nên vị nể Bình-nam vương, giao bọn tội phạm cho người trừng trị.

Đinh Ngô-Thương truyền cởi trói cho bọn Địch Thanh. Đinh vừa truyền lệnh, thì Đông-Sơn lão nhân chuyển động thân mình, bao nhiêu dây trói đứt hết. Địch Thanh quát lên một tiếng, giật mạnh hai tay, dây trói đứt tua tủa. Mọi người đều kinh hoàng về công lực của thầy trò Đông-Sơn. Triệu Thành cười lớn:

– Cô-gia cần tỏ cho các người biết: thuộc-hạ của cô gia không dễ gì các người bắt được. Sở dĩ họ để cho các người trói, vì cô gia dặn họ khi đến Giao-chỉ thì mình là khách, phải tôn trọng chủ nhân mà thôi. Các người cứ nhìn đó mà coi.

Địch Thanh tỏ vẻ nhũn nhặn, y tiến tới trước công-chúa Bảo-Hòa:

– Thân phu nhân. Địch Thanh này kiến thức thô lậu, mong phu-nhân chỉ dạy cho một vài điều.

Công-chúa Bảo-Hòa gật đầu:

– Được, Địch trạng-nguyên cứ nói.

Địch Thanh kính cẩn:

– Chúng tôi là thần tử nhà Đại-tống. Thân hầu là chưởng-môn phái Tây-vu, lại làm vua một cõi. Thân hầu cùng phu nhân có hàng trăm việc ích lợi cho dân, cho võ lâm. Hà cớ gì hai vị bỏ phí thời gìơ theo cản trở sư-phụ cùng sư-huynh tại hạ. Hơn tháng nay, người của phái Tây-vu không ngớt theo chọc phá bọn tại hạ. Cuối cùng đích thân quân-hầu cùng phu nhân theo bọn tại hạ tới đây? Bọn tại hạ không thù, cũng không hề có điều chi sai quấy với qúi phái, với Lạng-châu.

Thân Thừa-Quý đáp:

– Người bảo không có lỗi gì với phái Tây-vu ư? Ta hỏi người nhé: Mấy tháng nay người âm thầm vượt biên giới đến các khê, động thuộc quyền của ta làm gì chẳng lẽ người không tự biết ư? Ngày rằm tháng trước, người tới tổng-đàn của phái Tây-vu lục lọi không còn thiếu gì. Đến ngay tượng của Hồ tiên-cô người cũng lật lên. Tượng của Thiên-ưng lục tướng, người cũng không tha. Như vậy mà người bảo rằng không vô lễ ư?

Đến đó, một cặp nam nữ thiếu niên leo lên đồi. Nam cực kỳ hùng vĩ tuổi khoảng mười tám. Nữ thì thanh nhã tuổi khỏang mười sáu, mười bẩy. Nam cỡi trên lưng một con cọp lông đen nhánh. Nữ cỡi con ngựa mầu đỏ như máu. Điều lạ là cả hai con vật đều không cương. Họ rời thú, xuống đất. Hai con thú thủng thỉnh theo sau. Hai người đến đứng sau Thân Thừa-Quý.

Địch Thanh trông thấy đôi nam nữ thiếu niên, y nổi giận lôi đình:

– Thằng khốn nạn! Con nha đầu kia! Ta phải bắt mi lột da, nấu thịt ăn cho hả giận mới được.

Y chuyển động thân mình, tay phải sử dụng hổ trảo. Tay trái sử dụng ưng trảo chụp thiếu nữ. Thiếu nữ dường như không để ý đến hai thế trảo của Địch Thanh. Nàng cười ha hả. Chỉ chậm một chút, trảo của Địch đã bao trùm người nàng.

Tạ Sơn đứng gần, thấy vậy vội phát một quyền đánh vào lưng Địch Thanh. Chàng hy vọng, y phải thu tay về đỡ thế quyền của chàng, thì thiếu nữ có thời giờ phản kích. Không ngờ Địch Thanh biến trảo trái thành chưởng, đỡ quyền của Tạ-Sơn. Tay phải tiếp tục chụp thiếu nữ. Binh một tiếng, Tạ Sơn bật lui đến ba bước, khí huyết chạy nhộn nhạo, tai chàng kêu lên những tiếng vo vo không ngớt. Chàng cảm thấy khí từ ngực đưa lên cổ. Oẹ một tiếng, chàng mửa ra búng máu.

Địch Thanh cười nhạt:

– Xin lỗi Tạ chỉ huy sứ. Tại hạ mới vận có ba thành công lực.

Tạ Sơn biết y nói thực. Chàng muốn nhảy đến giải cứu cô bé, mà vô lực.

Mọi người kinh hoảng, thấp thoáng một cái, có bóng nâu rơi vào giữa Địch Thanh với thiếu nữ. Bóng đó chụp thiếu nữ nhảy lùi hai bước. Địch Thanh nhảy theo, tay trái y phát quyền đánh vào vai bóng nâu. Bóng nâu tung quyền đỡ. Bộp một tiếng, cả hai đều bật lui lại.

Bấy giờ mọi người mới thấy bóng nâu là một nhà sư. Mặt nhà sư trơ như gỗ, rõ ràng ông đeo mặt nạ da người, lộ đôi mắt sáng loáng. Địch Thanh kinh hãi tự nghĩ:

– Ta tưởng với bản lĩnh mình, hiện vô địch thiên hạ. Tại sao nhà sư này lại đỡ được quyền của ta? Trông y dường như còn trẻ thì phải?

Địch Thanh cười nhạt:

– Nam nữ thụ thụ bất tương thân. Tiểu sư phụ động lòng trần, ôm thiếu nữ trong tay thế kia, thanh qui để đâu?

Nhà sư không nói không rằng, nhảy lui một bước, vô tình ông tới trước Dư Tĩnh. Dư Tĩnh phóng một chưởng cực kỳ hùng hậu vào nhà sư. Nhà sư xuất chưởng đỡ. Bùng một tiếng. Cả hai lùi lại. Nhà sư tung thiếu nữ ra xa, đỡ chưởng thứ nhì của Dư Tĩnh, thì Địch Thanh đã chụp được thiếu nữ.

Mọi người đều kinh ngạc tự hỏi:

– Bản lĩnh điện tiền chỉ huy sứ đâu phải tầm thường? Thế sao chỉ một chiêu hời hợt của Địch Thanh, đã phun máu miệng. Như vậy công lực y ắt cao thâm khôn lường! Thế nhưng nhà sư là ai? Dáng người còn trẻ thế kia, mà coi bộ không thua gì Dư Tĩnh, Địch Thanh. Lại nữa, giữa chốn đông người, nhà sư dám ôm thiếu nữ, thực là điều không tưởng tượng nổi.

Nhà sư vọt người theo tấn công Địch Thanh, thiếu nữ nói:

– Đa tạ tiểu sư phụ. Tên này không hại được tiểu nữ đâu. Tiểu sư phụ khỏi mất công dạy dỗ y.

Nhà sư khoanh tay nhìn Địch Thanh.

Từ lúc nhà sư xuất hiện, trong lòng Thanh-Mai nảy ra những tình cảm nao nao trong dạ, khó hiểu. Dáng dấp nhà sư rất thân ái, rất quen với nàng, mà tuyệt nàng không nhớ gặp ông ở đâu?

Địch Thanh nhấc bổng thiếu nữ lên rồi hỏi:

– Suốt một tháng qua, người theo dõi ta làm gì? Anh em người trêu ghẹo ta dọc đường với mục đích gì? Lại cả tên hòa thượng áo nâu này nữa.

Dường như thiếu nữ không tỏ vẻ sợ hãi. Nàng cười lớn:

– Thế người bắt ta làm gì? Người có bỏ ra không?

Con cọp xám thấy chủ lâm nguy, nó gầm lên một tiếng, chồm hai chân trước chụp Địch Thanh. Địch Thanh vọt mình lên cao. Tay trái y túm thiếu-nữ. Tay phải phóng một chưởng xuống đầu con cọp xám. Chưởng phong của y cực kỳ hùng hậu, những người đứng gần đều cảm thấy nghẹt thở, phải bật lui mấy bước để hóa giải. Con cọp nhảy lên cao tránh thế chưởng của Địch. Chưởng đánh xuống đất, bùng một tiếng, lủng thành một hố khá sâu.

Thiếu nữ quát lanh lảnh:

– Sơn-Sơn, không được vô phép. Ta với Địch trạng nguyên đùa cợt chơi, mi mau lui ra.

Con hùm xám vẫy đuôi lui lại.

Nàng nói với Địch Thanh:

– Người đùa như vậy đủ rồi, hãy bỏ ta xuống.

Địch Thanh cười nhạt:

Ta không bỏ người xuống. Nếu người không trả lời ta, ta vung tay một cái, người sẽ nát xương ra mà chết.

Thiếu nữ hỏi công chúa Bảo-hòa:

– Mạ mạ ơi, giết tên này hay tha?

Bấy giờ mọi người mới biết nàng là con gái của công chúa Bảo-hòa và lạc-hầu Thân Thừa-Quý. Lạ một điều, con gái bị một cao thủ nhấc lên, tính mệnh khó bảo tòan, mà hai người thản nhiên như không. Nghe con gái hỏi, công chúa Bảo-hòa nghiêm nghị:

– Con hư, Địch trạng nguyên với con đùa bỡn nhau đã hơn tháng nay, sao con đòi giết người ta. Hãy tha Địch trạng nguyên ra.

Thiếu nữ cười khúc khích:

– Này Địch Thanh. Mạ mạ ta bảo ta không được giết người. Vậy người bỏ ta xuống mau. Bằng không người chết thì mạ mạ đánh đòn ta đó.

Địch Thanh cùng mọi người còn ngơ ngác, không hiểu bằng cách nào, mà thiếu nữ dám đe dọa Địch trong khi Địch vung tay một cái, nàng nát xương ngay.

Địch Thanh cười:

– Thì ra cô nương là quận chúa, ái nữ của lạc hầu Lạng-châu đấy. Này quận chúa, nếu người có tài hãy thóat khỏi tay ta, ta mới phục.

Thiếu nữ cười khúc khích:

– Được!

Bỗng Địch-Thanh kêu lên một tiếng aí chà rồi buông tay ra nhảy lùi lại. Thiếu nữ ung dung đến bên mẹ. Nàng cười:

– Mạ mạ ơi. Con tha nó rồi đấy.

Bấy giờ mọi người mới thấy Địch Thanh hai tay ôm lấy nhau tỏ vẻ đau đớn cùng cực. Triệu Thành hỏi:

– Địch trạng nguyên, cái gì vậy? Địch Thanh nhăn nhó:

– Trúng độc.

Hai tay Địch tím ngắt, sưng vù trông thực khủng khiếp. Triệu Thành cười nhạt:

– Thân lạc hầu, Tây-vu là danh môn chính phái. Tại sao qúi ái nữ lại dùng độc dựơc hại người của ta.

Thiếu nữ cười nhe hàm răng trắng như bắp:

– Này ông Thiên-sứ. Tôi có phóng độc hại Địch trạng nguyên đâu. Địch trạng nguyên chụp tôi. Trên người tôi có chất độc, Địch trạng nguyên tự mình làm, tự mình chịu, sao Thiên-sứ còn trách bố tôi. Tôi đã hỏi mạ mạ rằng giết hay tha y. Mạ mạ bảo tha, chứ không tôi đã giết y rồi. Y trúng độc của tôi không chữa thì trong một ngày mới chết, chứ bây gìơ thì không sao cả. Y muốn sống, cũng dễ thôi, điều cần thiết là y phải chặt hai tay đi.

Đông-Sơn lão nhân muốn dùng võ công. Song Triệu Thành đưa mắt tỏ ý ngăn cản. Rồi y hướng vào công-chúa Bảo-hòa:

– Công chúa điện hạ. Địch trạng nguyên trẻ người non dạ, lỡ vô phép với qúi quận chúa. Mong công chúa dung tình ban thuốc giải.

Công-chúa Bảo-hòa mỉm cười:

– Bình-nam vương gia. Địch trạng nguyên với mấy đứa con tôi tuổi còn trẻ. Chúng đùa với nhau cho khỏi buồn. Vương gia để tâm làm gì.

Bà nói với Đàm Toái-Trạng:

– Đàm an-vũ-sứ. Nhân có Vương gia cùng sứ đòan đến đất Cửu-chân lễ đền thờ Lệ-hải Bà-vương. Xin an-vũ-sứ chuẩn bị cho sứ đoàn vào lễ.

Triệu Thành kinh ngạc:

– Cô-gia phải lễ… Triệu Ẩu ư?

Triệu Thành chợt hiểu, đây là điều kiện công-chúa Bảo-hòa đặt ra: muốn cứu Địch Thanh, thì y phải khấu đầu làm lễ trước lăng mộ một vị thần linh Giao-chỉ. Điều y không thể chấp nhận. Triệu Trinh-Nương đối với dân Việt, thì là một vị đại anh hùng, phất cờ khởi nghĩa, toàn dân cúi đầu phụng thờ. Vua Lý vừa ban sắc chỉ phong làm Lệ-hải Bà-vương, tôn kính không gì bằng. Đối với người Hoa, thì bà là một cô gái ương nghạnh, tụ tập bè đảng làm loạn thời Tam-quốc, bị dẹp tan. Thường người Hoa gọi là Triệu Ẩu. Triệu Thành đường đường là hoàng đệ, lĩnh chức thái-úy coi Khu-mật-viện tước phong đến Bình-nam vương, cầm binh quyền Thiên-triều trong tay. Y sang Đại-Việt với tư cách sứ thần thay mặt vua. Thế mà nay phải cúi đầu làm lễ trước Triệu Ẩu thì còn gì là thể thống? Nhưng y tự biết cục diện ngày hôm nay, nếu y không nghe lời công-chúa Bảo-hòa thì Địch Thanh phải chết.

Y khôn ngoan, lại có tài thu phục nhân tâm. Y nghĩ đến khi xưa Ngô Khởi thân làm tướng mà ghé miệng mút mủ ở vết thương cho một người lính, sau việc đó tiếng đồn lan rộng, quân lính không ai mà không cảm phục Ngô. Y quyết định rất nhanh: phải cứu Địch Thanh. Y lẳng lặng đi trước, bọn Vương Duy-Chính, Đông-Sơn lão nhân theo sau.

Bọn Triệu Thành vừa đến trước bàn thờ, thì Đàm Toái-Trạng hô lớn:

– Tấu nhạc!

Chiêng, trống, nhạc nổi lên. Triệu Thành qùi trước, bọn Vương Duy-Chính quỳ sau. Mỗi người lễ 8 lễ. Lễ tất. Công chúa Bảo-hòa tươi cười nói:

– Nào chúng ta bầy cỗ mời Thiên-sứ cùng sứ đoàn thụ lộc Bà-vương.

Bấy giờ công chúa Bảo-hoà mới lễ phép hỏi nhà sư trẻ:

– Tiểu sư phụ! Đa tạ tiểu sư phụ quan tâm tới cháu gái nhà tôi. Tiểu sư phụ pháp danh là gì? Đệ tử cao nhân nào?

Nhà sư tần ngần một lát rồi đáp:

– Xin công chúa thứ lỗi. Tiểu tăng vì lẽ riêng không thể thố lộ thân thế cùng sư đồ. Tiểu tăng được lệnh sư phụ theo dõi sứ đoàn, phòng họ ăn trộm bảo vật Đại-Việt.

Công chúa Bảo-hoà nghĩ thầm:

– Dường như thiếu niên này không phải nhà sư thực. Y được cao nhân nào đó sai theo dõi sứ đoàn. Căn cứ vào tiếng nói, y còn trẻ, khoảng hai chục tuổi là cùng. Với hai chục tuổi, mà võ công y đến trình độ này, thì sư phụ y hẳn phải là nhân vật khét tiếng. Mắt y luôn luôn để vào Bảo-Hoà, rõ ràng y có tình ý với con gái ta. Được, ta lờ đi cho tình cảm ấy nảy nở. Y đã xiêu lòng vì Bảo-Hòa, trước sau y cũng phải tìm đến ta.

Triệu Thành thấy Bảo-Hòa lờ đi không cho Địch Thanh thuốc giải. Nếu y thôi thúc thì chẳng hóa ra nhát gan sao? Chợt nghĩ được một kế, y bảo Địch Thhanh :

– Địch trạng nguyên mau đến tạ ơn công chúa đã cứu mạng đi.

Địch Thanh giận tím gan, nhưng đứng trước cái chết gần kề. Y phải tuân lệnh chủ nhân. Y đến trước công-chúa Bảo-hòa khom lưng:

– Tiểu nhân đa tạ công-chúa cứu mạng.

Công-chúa Bảo-hòa chỉ con gái:

– Nó là con gái của chúng tôi tên Thân Bảo-Hòa. Chúng tôi hiếm hoi, được hai trai đầu lòng, mà chỉ có mình nó là gái. Vì vậy tôi lấy nhũ danh của mình đặt cho con.

Lịch sử Việt-nam nói về công chúa Bảo-Hòa có hai thuyết khác nhau. Một thuyết nói ngài là con thứ vua Lý Thái-tổ, gả cho Thân Thừa-Quý, lạc hầu Lạng-châu, có công lớn trong việc đánh Nùng Trí-Cao, bình Chiêm. Một thuyết nói công chúa vốn là người miền thượng, cùng hai anh có công đánh sang vùng Ung-châu, Liêm-châu, kháng chiến hồi quân Tống xâm lăng Đại-Việt. Các sử gia đời sau không ngớt cãi nhau. Sự thực có đến hai công chúa Bảo-Hòa. Chỉ độc gỉa Anh hùng Tiêu-sơn là biết rõ ràng rằng trong trường hợp nào, tại sao có hai anh hùng cùng mang tên Bảo-Hòa. ‘

Quận chúa Thân Bảo-Hòa vẫy tay:

– Địch trạng nguyên, lại đây, tôi cho thuốc giải.

Phò-mã Thân Thừa-Quý sợ con mình làm nhục Địch Thanh qúa, gây thù chuốc oán sau này. Ông móc trong bọc ra hai viên thuốc, đưa lên tay búng một cái. Hai viên thuốc quay tròn với tốc độ thực mau, kêu lên nhửng tiếng vo vo từ từ bay tới Địch Thanh. Khi hai viên thuốc sắp tới tay Địch Thanh thì vỡ tan thành bụi chụp xuống người y.

Một đám mây trắng trôi ngang bầu trời xanh ngắt. Ánh nắng dịu hẳn xuống, gío chiều thổi nhè nhẹ, không khí buổi lễ bớt ngột ngạt.

Trong khi biến cố xẩy ra, Thanh-Mai ngồi yên lặng phía sau Mỹ-Linh, để bảo vệ cho sư muội. Từ lúc thấy anh em Thân Bảo-Hòa lên đồi, phong thái uy nghi, tư cách khác phàm. Tuổi họ ngang nàng, võ công e không thua. Qua mấy câu đối đáp, Thanh-Mai biết đây là những người được giáo dục giống chị em nàng. Sợ nàng quên mất việc Lý Tự giết Vũ Anh-Thông, Thanh-Mai nói nhỏ vào tai Bảo-Hòa mấy câu. Thân Bảo-Hòa gật đầu cười. Nàng hướng vào Triệu Thành:

– Triệu vương gia, bố tôi đã ban thuốc giải cho Địch trạng nguyên. Thế còn việc tên Lý Tự giết mệnh quan Đại-Việt thì vương gia tính sao đây? Miệng nói, tay nàng ngắt bông hồng trên lộc bình cạnh bàn thờ, cài lên mái tóc Thanh-Mai, rồi liếc ngang mắt nhìn người bạn mới. Thanh-Mai nắm lấy tay Bảo-Hòa.

Triệu Thành xuất thân là một hoàng tử, tài kiêm văn võ. Với tuổi của y, thì trong nhà không thiếu gì thê thiếp xinh đẹp. Ở Trung-nguyên, quyền lực y chỉ thua có hoàng đế. Y hăng say tổ chức quân đội, giao du với võ lâm, cho nên các khuê nữ, tiểu thư, quận chúa ngưỡng mộ y như một ông thần. Y muốn cô nào, cha mẹ cô ấy hãnh diện đem con gái dâng cho. Những người con gái đến với y trong tư thế dâng hiến, khiến cho y không mấy ưa thích. Từ ngày bôn tẩu giang hồ sang Đại-Việt đã hơn hai tháng không gần đàn bà, khiến y nhìn cô gái nào cũng thấy đẹp. Hôm đầu gặp Trần Thanh-Mai, y đã chết mê, chết mệt vì nhan sắc của nàng. Y tìm thấy ở Thanh-Mai, một thiếu nữ hồng hào, khoẻ mạnh, linh họat của người tập võ. Hơn nữa hầu hết thiếu nữ Trung-nguyên thấy y là qùi gối hành lễ. Lần đầu tiên y thấy một thiếu nữ chất vấn, đấu chửơng với y. Hôm nay y gặp công-chúa Bảo-hòa với nhan sắc diễm lệ trong tư thế uy nghiêm của một vua Bà. Cạnh công chúa Bảo-hòa còn con gái bà, còn Mỹ-Linh… toàn người đẹp mà y không thể tưởng nổi. Cho nên khi nghe quận chúa Thân Bảo-Hòa chất vấn, y tỏ vẻ muốn được nghe nàng nói truyện:

– Thân quận-chúa. Theo ý quận-chúa, điều kiện gì quận chúa mới tha cho Lý Tự?

Thân Bảo-Hòa chỉ Đàm Toái-Trạng:

– Cũng dễ thôi, Vương gia trao y cho tuyên-vũ-sứ xử theo luật lệ Đại-Việt. Luật lệ Đại-Việt có dự trù trường hợp kẻ sát nhân muốn tránh khỏi tội, nạp tiền thế mạng.

Nàng quay lại hỏi Đàm Toái-Trạng:

– Đàm đại nhân, trường hợp Lý Tự giết chết Vũ Anh-Thông, thì y phải bồi thường cho gia đình nạn nhân bao nhiêu tiền?

Đàm Toái-Trạng đáp:

– Theo bộ Hình thư bản triều, tội cố sát phải nộp một ngàn lượng vàng. Trong một ngàn lượng, hai trăm lượng nộp vào công khố, tám trăm lượng trao cho người thừa kế nạn nhân.

Triệu Thành cười:

– Được, cô-gia nộp vàng thế mạng cho Lý Tự.

Y quay laị hất hàm, Triệu Huy mở trong bọc lấy ra một trăm nén vàng, trao cho Triệu Thành:

– Khải tấu vương gia, đây một trăm nén, mỗi nén mười lượng, cộng thành một ngàn lượng.

Triệu Thành cầm vàng trao cho quận chúa Thân Bảo-Hòa:

– Thân quận chúa, tại-hạ xin nhờ quận chúa trao vàng cho gia đình Vũ Anh-Thông. Bây giờ tại hạ phải lên đường đi Chiêm-thành. Lúc trở về thế nào cũng tới Lạng-châu tạ lỗi với Thân lạc hầu, phu nhân và nhất là với quận-chúa.

Thái độ của Triệu Thành đối với quan chức Đại-Việt rất hống hách. Song đối với Thanh-Mai, Thân Bảo-Hòa lại rất nhũn nhặn. Y hướng Thanh-Mai, Bảo-Hòa xá một xá:

– Trần, Thân cô nương, non xanh còn đó, thế nào trên đường trở về,tại hạ cũng đến Thiên-trường, Lạng-châu thăm các vị.

Từ lúc lên đồi, thiếu niên đi cạnh Thân Bảo-Hòa không nói một câu. Bây giờ chàng mới lên tiếng:

– Địch trạng nguyên. Người bắt em ta nhấc lên định giết chết về tội trêu ghẹo người suốt tháng qua. Chẳng may trên áo em ta có phấn độc, nên người tự hại người. Chắc người còn ấm ức chưa tiết hận ra được phải không?

Địch Thanh đã đến cửa qủi-môn quan, được trở về. Tuy vậy trong lòng y còn giận cành hông. Nghe Thân Thiệu-Thái hỏi. Y trả lời bằng cái gật đầu. Trái với em gái lí lắc, Thiệu-Thái nghiêm trang, uy nghi. Chàng cười lớn:

– Địch trạng nguyên võ công cao, kiến thức không tầm thường mà sao hủ lậu quá vậy. Bố ta hiện là phò mã hoàng đế Đại-Việt, được trao trọng trách trấn nhậm biên cương phía Bắc. Ngoài phòng gian, trong phủ dụ dân chúng, thì nhất cử nhất động của biên sự người phải biết. Ngay khi trạng nguyên cùng tôn sư vượt biên vào Quảng-nguyên của Hoàng sư thúc, bố ta đã biết rồi. Người còn đi dụ các trang động tham dự cái gì Thiên-hạ anh hùng đại hội vào năm tới. Có đúng không?

Đông-Sơn lão nhân cùng Địch Thanh sượng sùng nhìn nhau. Vì cả hai thầy trò nhập biên Việt trời không biết, qủi không hay, sao Thân Thừa-Quý lại biết rõ ràng như vậy?

Thân Thiệu-Thái biết Địch Thanh đang nghĩ gì rồi. Chàng tiếp:

– Người không tin ư? Để ta nói cho người hay. Đầu tiên hai thầy trò người theo bọn lái buôn băng qua động Hoành-sơn thuộc Ung-châu, rồi vào châu Quảng-nguyên của Lưu sư thúc ta. Sau đó người trở về động Thái-bình thuộc châu Ung nghỉ trong bẩy ngày, rồi lại vào động Đình-lập thuộc châu Tô-mậu của thái sư thúc Vi. Từ đó người băng rừng vào Lạng-châu. Mạ mạ ta không nỡ hại người, sai anh em ta theo dõi. Em gái ta đùa cợt người, để người hiểu rằng tung tích bại lộ mà trở về Trung-nguyên. Không ngờ người chẳng hiểu nổi thiện ý của mạ mạ ta.

Mặt Địch Thanh tái nhợt. Y than thầm: Mình đáng chết thực. Hành tung bị lộ mà không biết.

Thiệu-Thái chỉ vào nhà sư trẻ tiếp:

– Khi thầy trò người tới động Quang-lang, vô tình chúng ta khám phá ra rằng người còn bị tiểu sư phụ này theo dõi nữa. Người mua bánh chưng mang theo ăn. Em gái ta muốn cảnh cáo người, nên nhờ tiểu sư phụ lén lấy trộm bánh chưng của người, bóc ra, ăn mất nhân. Rồi nó bỏ vào đó một con chuột chết, gói lại cẩn thận. Bởi vậy người mới được ăn thịt chuột thối.

Hôm trước thầy trò Địch Thanh mua bánh chưng, gói mang theo vì sợ rằng trên đường len lỏi vào các khê động không có hàng quán. Buổi trưa thày trò cắt bánh ra ăn, thì ôi thôi, nhân bánh là một con chuột, máu me dơ bẩn. Đông-Sơn lão nhân biết có bàn tay bí mật của cao nhân trêu chọc, mà không hiểu nổi bằng cách nào đã thay nhân bánh bằng con chuột chết. Trí nhớ giúp lão loé ra ánh sáng: một đêm nọ thầy trò ngủ trong rừng. Hai người cẩn thận treo cặp bánh lên cành cây, vì sợ để trong bọc, trời nóng dễ bị thiu. Không ngờ với bản lĩnh hai thầy trò nghiêng trời lệch đất, mà trong khi ngủ dưới gốc, bị người ta đổi bánh trên cành cây không hay. Y đưa mắt nhìn nhà sư:

– Tên trọc còn trẻ, mà bản lĩnh tới dường này thực hiếm có.

Thân Bảo-Hòa cười khúc khích:

– Lúc người đến Vạn-nhai, người ăn trộm công khố Đại-Việt mười nén vàng. Người có mau đem trả không? Úi chao, ông trạng nguyên ăn trộm, đẹp mặt chưa?

Địch Thanh giận tím gan, y quát lớn:

– Vu cáo. Cô nương vu cáo cho người ta. Cô nương bảo ta ăn trộm, theo luật của Tiêu thừa tướng, thì bắt trộm phải có chứng cớ. Vậy chứng cớ đâu?

Thân Bảo-Hòa cười nhe hàm răng trắng như bắp. Nàng mặc bộ quần áo ngũ sắc của vùng cao nguyên, khăn choàng cổ, dây lưng mầu hồng nhạt. Gió trên đồi thổi, y phục nàng bay phất phới trông như một thiên tiên. Nàng thừa biết Địch Thanh muốn nói rằng theo luật Tiêu Hà đời Hán làm ra, đến nay còn giá trị đối với triều Tống. Nàng vờ không biết:

– Đây là đất Đại-Việt, thì phải dùng luật Đại-Việt. Ta chỉ biết luật Đại-Việt do công-chúa Phùng Vĩnh-Hoa làm thời vua Bà, chứ không biết luật của Tiêu thừa tướng hay tỏi thừa tướng nào cả.

Sĩ dân Việt biết quận-chúa Bảo-Hòa đùa bỡn Địch Thanh, đem một danh nhân thời Hán ra làm trò cười. Mọi người cười ồ lên. Thân Bảo-Hòa liếc nhìn bố, mẹ, thấy cả hai cùng cười, nàng càng được thể, tiếp:

– Vàng của công khố Đại-Việt đều gốc từ châu Quảng-nguyên. Mỗi thỏi vàng nặng mười lượng, trên có khắc chữ Thuận-thiên quốc bảo . Người ăn cắp vàng của Đại-Việt hoàng đế để trong bọc. Người có gan thử mở bọc ra cho mọi người coi nào?

Triệu Thành đưa con mắt nghiêm khắc nhìn Địch Thanh. Khi rời Trung-nguyên sang Đại-Việt, Tống-đế đã chỉ dụ cho sứ đoàn phải dùng vàng bạc, châu báu mua chuộc quan lại, trang-chủ, động-chủ, khiến cho họ tối mắt lại mà theo Tống. Bây giờ nghe Thân Bảo-Hòa kết tội thầy trò Địch Thanh chắc như đinh đóng cột thì sự kiện không sai được. Bất cứ thầy trò Địch phạm tội gì y, cũng có thể tha thứ, duy tội trộm cướp thì không dung. Dung thứ sao được khi mục đích chuyến đi là đem cái giầu có, sung túc của Trung-nguyên khoe với Man-di, mà sứ đoàn ăn trộm thì không khác gì bôi do trát trấu vào mặt Tống-đế.

Địch Thanh kinh hỏang, song y tự tin mình không trộm cắp thì dù Bảo-Hòa có vu oan cũng khó. Y mở bọc ra,trong bọc nào quần áo, nào sách vở, nào thuốc men, nào ám khí. Cuối cùng tới cái túi vải nhỏ. Y móc trong túi ra mười thỏi vàng sáng chói, đưa ra nói:

– Đây rõ ràng là vàng Trung-nguyên, chứ làm gì có vàng Giao-chỉ mà…

Y chưa nói hết câu, thì há hốc mồm ra, vì trên mười thỏi vàng, đều có in hình nổi của đức Quan-thế-âm, dưới có khắc chữ Thuận-thiên quốc bảo . Thân Bảo-Hòa nói với Triệu Thành:

– Bình-nam vương gia, xin vương gia chứng cho: Địch trạng nguyên ăn cắp vàng, tôi nói đâu có sai? Nếu là vàng Đại-Tống thì khắc chìm hình hai con rồng chầu vào nhau, dưới có chữ Thiên-thánh bảo-khố chứ đâu có khắc hình Phật và niên hiệu hoàng-đế Đại-Việt?

Vương Duy-Chính chạy lại cầm các thẻ vàng lên coi, rõ ràng hình Phật Quan-thế-âm nổi, không chối cãi vào đâu được. Y nói với Triệu Thành:

– Vương gia. Vàng Đại-Việt thực.

Địch Thanh cố moi óc xem bằng cách nào y đã bị đánh tráo vàng. Lúc khởi hành, Triệu Thành trao cho thầy trò y hai mươi nén vàng. Dọc dường y đã chi mất mất nén để mua chuộc khê-động, còn mười nén. Thế mà nay vàng Tống bỗng hóa ra vàng Giao-chỉ. Trong đầu óc y lóe ra một tia sáng. Nguyên lúc đến thuyết phục động trưởng Vạn-nhai, y đã đem tất cả hai nươi nén vàng bầy ra cho động-trưởng coi. Cạnh động-trưởng có một thanh niên đã cầm từng nén một bỏ vào túi cho y. Bây giờ y mới biết thanh niên đó là Bảo-Hòa giả trai. Song tình ngay, lý gian, khó cãi. Y đến trước Triệu Thành qùi xuống:

– Vương gia. Thần bị oan.

Triệu Thành có con mắt tinh đời. Y chỉ liếc qua đã biết Địch Thanh bị oan, mọi việc do Thân Bảo-Hòa xếp đặt. Y bảo Địch Thanh:

– Người đem số vàng Đại-Việt, trả về cho Thân hầu.

Địch Thanh giận tím mặt, song y phải cầm vàng trao cho Thân Thừa-Quý.

Triệu Thành hô lớn:

– Đi thôi.

Y vọt lên ngựa, cùng đám tùy tòng xuống núi.

Công-chúa Bảo-hòa gọi với theo:

– Bình-nam vương gia. Khoan!

Triệu Thành dừng ngựa lại:

– Không biết công-chúa còn muốn dạy tại hạ điều chi nữa?

Khác với mọi người, y hống hách trong chức vụ Thiên-sứ. Nhưng vì ngây ngất trước sắc dẹp Thân Bảo-Hòa, y dùng danh xưng võ lâm với mẹ nàng. Y còn dùng chữ dạy dỗ. Chỉ nghe vài lời đối đáp giữa Triệu Thành với con gái, cùng nhìn con mắt lấm lét của y, công-chúa Bảo-hòa đã hiểu tâm lý y. Bà cười:

– Cách đây mấy hôm Khu-mật-viện lệnh cho quan chức Cửu-chân theo dõi việc sứ đoàn mượn đường qua đây. Song hôm nay lại nhận được lệnh mới, nói rằng cần hộ tống, bảo-vệ. Sở dĩ có lệnh mới, vì hôm trước tùy tùng của vương-gia là Triệu Huy báo với tuyên-vũ-sứ việc nhân viên sứ đoàn bị trộm cướp. Bây gìơ xin vương gia khoan đi, để chúng tôi sai tướng-binh theo hộ vệ.

Bà quay lại nói với Đàm Toái-Trạng:

– Tuyên-vũ-sứ, xin tuyên-vũ-sứ đích thân hộ tống sứ đoàn đến biên giới Chiêm-thành. Tôi cho đô-thống Nguyễn Khánh đem toàn bộ đạo Ngự-long theo.

Triệu Thành kinh hoàng trong lòng. Y tự nhủ:

– Hệ thống tế-tác Giao-chỉ thực kinh khủng. Đại-tống ta không thể nào theo kịp. Bọn Địch Thanh nhập biên bí mật như thế, mà bị chúng theo dõi, khám phá hết tung tích, hành trạng. Truyện ta với bọn Triệu Huy tìm di thư, mới hôm qua đây, mà Khu-mật-viện đã kịp thời truyền lệnh xuống. Với Đàm Toái-Trạng, Nguyễn Khánh thêm đạo quân Ngự-long, có khác gì chúng bỏ tù ta? Con bà nó. Tụi Giao-chỉ làm bộ lễ phép, phục vụ ta. Kỳ thực chúng áp tải ta. Thôi đành chịu.

Đàm Toái-Trạng cùng Nguyễn Khánh, dẫn đạo Ngự-long theo bọn Triệu Thành xuống đồi.

Thân Bảo-Hoà nói với nhà sư trẻ:

– Tiểu sư phụ. Chúng ta cùng làm việc với nhau hơn tháng qua. Thế mà thủy chung tiểu nữ vẫn không biết dung nhan tiểu sư phụ ra sao. Tiểu sư phụ có thể bỏ khăn ra cho mọi người biết được chăng?

Nhà sư chắp tay:

– Tiểu tăng có tâm sự riêng, không thể lộ diện được. Mong quận chúa miễn trách phạt.

Nói rồi nhà sư chắp tay xá một xá. Thấp thoáng, nhà sư đã biến vào đám dân chúng dự lễ.

Từ lúc nhà sư xuất hiện, trong lòng Thanh-Mai cảm thấy bồi hồi khó tả. Nhìn dáng nhà sư rất quen, mà nàng không biết đã gặp ở đâu.

Đinh Ngô-Thương mời tất cả đòan tùy tùng Mỹ-Linh cùng Thân Thừa-Quý về dinh tổng-trấn. Tới dinh, Thân Thừa-Quý nói với Đinh Ngô-Thương: Tôi có việc bàn riêng cùng công chúa, xin tiết-độ-sứ cho được tự do.

Đợi Đinh Ngô-Thương cùng các quan ra ngoài, trong phòng chỉ còn Tịnh-Huyền, Mỹ-Linh với vợ con, phò-mã Thân Thừa-Quý chỉ Tịnh-Huyền:

– Công chúa cùng các con có biết ai đây không?

Thân Thiệu-Thái, đưa mắt nhìn rồi nói:

– Bố ơi, có gì lạ đâu, đây là một sư bà đạo cao đức trọng.

Thân Bảo-Hòa suy nghĩ một lát rồi trả lời:

– Con thấy dường như sư bà với mạ mạ cùng em Mỹ-Linh giống nhau. Phải chăng sư bà là dì, là cô hay là chị của mạ mạ.

Thân Thừa-Quý hỏi vợ:

– Còn công chúa. Công chúa thấy thế nào?

Công-chúa Bảo-hòa bật lên tiếng kêu:

– Cô mẫu!

Bà quên cả lễ nghi đương thời, chạy đến ôm lấy Tịnh-Huyền, nước mắt dàn dụa.

Thân Thừa-Quý đưa mắt ra hiệu cho các con cùng qùi xuống ,rồi hô lớn:

– Thần nhi kính cẩn ra mắt đại công-chúa điện hạ.

Sư-thái Tịnh-Huyền phất tay, ra hiệu miễn lễ:

– Các con không nên đa lễ. Mọi việc ở Lạng-châu tốt đẹp cả chứ?

Thân phụ của Thân Thừa-Quý là Thân Thiệu-Anh được vua Lý Thái-tổ gả em gái là công chúa Hồng-Châu cho. Trên đường về Lạng-châu, công chúa truyền nữ tỳ xinh đẹp thay mình lấy chồng, còn bà đi tu, pháp danh Tịnh-Huyền. Sau 15 năm, sư thái Tịnh-Huyền tuân lời sư phụ, trở về Lạng-châu, nói hết mọi truyện cho Thân Thiệu-Anh nghe. Bấy gìơ Thiệu-Anh mới bật ngửa ra rằng vợ mình không phải em nhà vua, mà chỉ là một nữ tỳ. Sư thái Tịnh-Huyền đền bù cho Thiệu-Anh bằng cách hỏi con gái anh mình là công-chúa Bảo-hòa cho con trai Thiệu-Anh là Thân Thừa-Quý. Vua Lý Thái-tổ bằng lòng ngay. Nhà vua tưởng gả con gái cho em mình, nào ngờ…

Sư thái Tịnh-Huyền tuy hạc nội mây ngàn, nhưng bà luôn luôn theo dõi mọi biến chuyển của Lạng-châu. Truyện công chúa Hồng-Châu đi tu, chỉ có vợ chồng Thân Thiệu-Anh biết. Sau khi công chúa Bảo-hòa về làm dâu họ Thân, mới được biết mẹ chồng không phải cô mình mà là nữ tỳ. Hôm nay, sau bao năm, cô cháu gặp nhau. Công-chúa Bảo-hòa có nhan sắc vô song, cùng chồng tổng trấn các khê-động Bắc biên nước Việt. Võ công bà cực cao, mưu trí trùm thiên hạ, nhưng tình cảm thực giầu. Bà xa cách cô từ lâu, nay gặp lại, khiến bà không cầm được nước mắt.

Tịnh-Huyền ôn tồn nói với Thân Thừa-Quý:

– Ta được tiêu dao hạc nội mây ngàn, hưởng thú thanh cao bao năm nay cũng nhờ lòng trung thành của mẹ con. Mẹ con theo hầu ta từ nhỏ. Nghĩa thì là chúa tôi. Song tình như chị em. Mẹ con xinh đẹp, đoan trang. Ta hằng ước mong tìm đấng anh hùng mà gả. Hay đâu hoàng-huynh bắt ta vu qui về làm dâu họ Thân. Nếu ta lấy chồng, thì không kiếm đâu được người phẩm chất hơn bố con. Nhưng chí của ta là cõi Bồ-đề. Ta đang luống cuống không biết làm cách nào để không trái lời dạy của huynh trưởng, mà tiêu dao cõi Phật, thì mẹ con tình nguyện làm bất cứ việc gì nếu ta cần. Ta mới nghĩ ra kế thế thân. Trên đường rước dâu từ Thăng-long về Lạng-châu, nhân nghỉ ở nhà trạm, ta thay quần áo làm cung nữ. Còn mẹ con mặc quần áo của ta làm công chúa. Về tới Lạng-châu mẹ con đóng vai công chúa truyền lệnh cho ta làm tỳ nữ phải đi tu, cầu phúc cho chủ. Thế là ta được toại nguyện.

Công-chúa Bảo-hòa hỏi:

– Bây giờ cô-mẫu có cần dấu thân phận nữa không?

Không. Cô đã cho Bồ nhi, cho Mỹ-Linh cùng nhiều người biết rồi. Truyện xưa qúa, dấu diếm làm gì nữa. Anh ta có phiền trách thì cũng trễ rồi.

Bà hỏi quận chúa Thân Bảo-Hoà:

– Nhà sư cứu cháu ban nãy thân thế ra sao? Cháu gặp ở đâu?

Thân Bảo-Hoà khoan thai kể :

– Cách đây gần tháng, anh em nàng được lệnh mạ mạ theo dõi bọn Đông-Sơn lão nhân, Địch Thanh. Một hôm tới động Vạn-nhai. Hai anh em vào quán cơm ăn. Vừa lúc đó, cũng có nhà sư dừng ngựa, vào quán gọi một vài món ăn chay. Anh em Bảo-Hoà sống ở Bắc-biên từ nhỏ. Bắc-biên không theo đạo Phật, mà thờ 162 anh hùng thời Lĩnh-nam làm thần. Vì vậy hai người ít gặp tăng ni.

Bản tính Bảo-Hòa hay đùa, nàng đưa mắt nhìn nhà sư, thấy da mặt vàng ủng, trơ trơ như người chết, thì biết nhà sư đeo mặt nạ da người. Nàng trêu:

– Đại hoà thượng! Mời đại hoà thượng lại đây ngồi chung bàn với anh em tại hạ cho vui.

Bảo-Hoà tưởng mình là con gái, mời nhà sư ngồi chung bàn, y không dám. Nào ngờ y đến ngồi cạnh nàng. Muốn trêu người, mà người không chuyển động, Bảo-Hoà càng trêu già:

– Đại hoà thượng năm nay bao nhiêu tuổi? Có mấy vợ? Bao nhiêu con rồi.

Nhà sư thản nhiên:

– Tiểu tăng tu đạo đức Thế-tôn vì vậy không vợ, dĩ nhiên chẳng có con.

Bảo-Hoà cười lớn:

– Không vợ cũng có con được chứ! Tiểu nữ đoán chừng hoà thượng có nhiều con rơi.

Nhà sư cười tha thứ:

– Tiểu tăng tuy chưa có con, song nếu sau này thu đệ tử, cũng như có con vậy.

Bảo-Hoà trêu đến cùng:

– Hoà thượng ăn chay chi cho khổ. Nào mời hòa thượng xơi cái đùi gà luộc này đi.

Nói rồi nàng xé đùi gà luộc bỏ vào bát nhà sư. Nhà sư chắp tay:

– Đa tạ cô nương bố thí.

Rồi y bưng bát cơm, có đùi thịt gà, miệng gọi con chó đang ngửng đầu chực, tay vỗ lên cổ nó:

– Ăn đi! Ăn đi! Ngon lắm đó.

Bảo-Hoà cười khúc khích:

– Chắc chắn đại hoà thượng từng ăn vụng thịt gà, nên mới biết nó ngon lắm. Không chừng còn ăn cả thịt chó cũng nên.

Thiệu-Thái thấy em đùa quá trớn, định xin lỗi nhà sư. Không ngờ nhà sư đáp:

– Cô nương nói đúng. Hồi chưa đi tu, bần tăng đã ăn thịt gà, thịt chó. Không những ăn, mà còn ăn nhiều nữa. Từ ngày đi tu đến giờ, bần tăng chỉ ăn chay.

Ăn chay có gì là ngon! Ở đây chỉ có anh em tại hạ. Hoà thượng xơi mấy miếng thịt, không ai biết đâu.

Nhà sư vẫn mỉm cười. Bảo-Hoà nói với anh:

– Tiếc qúa, đại hoà thượng không được lấy vợ, bằng không em xin mạ mạ cưới làm chồng quách.



Image
Hình chụp tượng Thái-hậu, thân sinh ra vua Lý Thái-tổ
tại chùa Kiến-sơ, xã Phù-đổng, huyện Gia-lâm, Hà-nội.
Chùa tọa lạc cạnh đền thờ thánh Gióng
(Phù-đổng Thiên-vương)
(Tháng 8 năm 2001)



Image
Chùa Kiến-sơ
(Tháng 8 năm 2001)



Image
Hình chụp toàn cảnh đền thờ Phù-đổng Thiên-vương
và chùa Kiến-sơ (Tháng 8 năm 2001)



IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 79770
Has thanked: 35132 times
Have thanks: 45992 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: April 30th, 2017, 7:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 19th, 2017, 1:51 pm


HỒI THỨ MƯỜI BA

Bồ Tát Vô Ngại


Bảo-Hoà ngổ ngáo nói vậy, nàng những tưởng rằng nhà sư sẽ giận lắm. Không ngờ nàng thấy nhà sư rùng mình, rồi quay đi, không dám nhìn nàng nữa. Đến đó thầy trò Địch Thanh vào quán, gọi mấy món ăn. Địch Thanh thấy anh em Bảo-Hoà, y tiến lên chỉ vào mặt:

– Con nha đầu kia! Mi theo chọc phá ta hơn tháng qua. Tưởng mi trốn đâu, không ngờ hôm nay ta bắt được mi ở đây.

Địch Thanh dơ tay chụp Thiệu-Thái, kình lực tay y phát ra mạnh vô cùng. Y nhắc bổng Thiệu-Thái lên. Tay kia chụp Bảo-Hoà. Nhà sư lạng mình đứng trước nàng, quát lên:

– Ngừng tay!

Địch Thanh cười nhạt, vung tay tát nhà sư một cái. Nhà sư không đỡ, né đầu tránh khỏi. Tay phải nhà sư chĩa ngón chỏ ra. Véo một tiếng, vai Địch Thanh đau nhói. Y phải buông Thiệu-Thái ra.

Đông-Sơn lão nhân kêu lên:

– Tiểu sư phụ! Phải chăng vừa rồi tiểu sư phụ sử dụng Lĩnh-nam chỉ, đã thất truyền.

Nhà sư chắp tay đáp lễ:

– Lão nhân thực tinh mắt. Tiểu tăng mới luyện được có ba thành.

Địch Thanh định tấn công nhà sư, nhưng y chợt nhớ nhiệm vụ của mình, không được hiển lộ thân thế. Vì vậy y chỉ vào mặt Bảo-Hoà:

– Nể mặt tiểu sư phụ, ta tha cho anh em mi lần này.

Nói rồi hai thầy trò mua mấy tấm bánh chưng, rồi ra đi. Bấy giờ anh em Thiệu-Thái mới tạ lỗi với nhà sư. Hai bên tuổi còn trẻ, họ trao đổi với nhau nhiều về nhiệm vụ. Nhà sư cho biết, ông tuân lệnh sư phụ âm thầm theo giúp anh em Thiệu-Thái thu thập tin tức về bọn gian tế Tống.

Thế là hai bên cùng kết thành bạn. Họ âm thầm theo dõi thầy trõ Địch Thanh. Nhà sư tuyệt đối chiều Bảo-Hoà. Nàng muốn nhà y ăn trộm bánh của thầy trò Địch Thanh, cho nàng móc nhân ăn, rồi bỏ chuột chết vào. Nhà sư làm theo ngay. Nàng muốn nhà sư đem vàng Đại-Việt, đổi vàng Đại-tống trong túi hành trang thầy trò Địch Thanh, nhà sư cũng cố thực hiện cho được.

Tịnh-Huyền nghe xong, bà suy nghĩ, hỏi Thanh-Mai:

– Thanh-Mai, nhà sư đó thuộc phái Đông-a chăng?

Thanh-Mai lắc đầu:

– Nhà sư nhảy ra cứu Bảo-Hoà bằng thân pháp Đông-a. Y chụp nàng nhảy lên bằng thân pháp Mê-linh. Hai chiêu quyền đánh Địch Thanh thuộc bộ Thiên-vương chưởng của phái Sài-sơn. Khó có thể quyết định ông ta thuộc môn phái nào.

Công chúa Bảo-Hoà hỏi Đinh Ngô-Thương:

– Đinh tiết độ sứ. Tôi có một thắc mắc: trong khi Hồng-hương thiếu niên bao vây bọn Địch Thanh hùng hùng, hổ hổ. Bỗng nhiên bọn chúng đọc lên một tràng quái gở, lập tức đám Hồng-hương thiếu niên cúi đầu tạ tội. Tại sao vậy?

Đinh Ngô-Thương bứt rứt:

– Thần cũng không rõ. Xin điện hạ để thần điều tra, rồi phúc bẩm sau.

Đinh Ngô-Thương đặt tiệc trong dinh mời mọi người ăn. Sau bữa tiệc, Tạ Sơn đứng lên hỏi:

– Đinh tiết-độ-sứ, tiểu tướng muốm gặp một số người trong trấn có việc cơ mật. Mong tiết-độ-sứ giúp cho.

Theo chức quan triều Lý, thì tiết-độ-sứ cao hơn điện-tiền chỉ-huy-sứ nhiều. Song tiết-độ-sứ là chức quan trấn nhậm ở xa. Còn điện-tiền chỉ huy sứ là chức quan tín cẩn vừa chỉ huy lực lượng bảo vệ nhà vua, vừa trông coi hệ thống tình báo quốc gia. Nên các quan lớn nhỏ đều kiêng nể. Nghe Tạ Sơn hỏi, Ngô-Thương tỏ ý lo lắng:

– Chỉ-huy sứ cần gặp những ai?

– Tôi muốn gặp em ruột của tuyên-vũ-sứ là Đàm An-Hòa cùng viên hiệu úy Vi Bản, chúa ngục Vương Dương, các cai ngục.

Đàm Toái-Trạng gọi tên quân hầu vào truyền lệnh. Một lát bẩy người tới. Đàm An-Hòa vừa trông thấy Tịnh-Huyền, Huệ-Sinh, Nùng-Sơn tử v.v. Y chỉ mặt mọi người nói:

– Thưa Đinh đại nhân, mấy tên này ăn trộm bảo vật của sứ-đòan. Hôm qua tôi bắt giam, không hiểu sao chúng ở đây?

Đinh Ngô-Thương tái mặt, hỏi:

– Bằng vào cớ gì mi dám bảo những vị này là quân trộm cướp?

Mặt Đàm An-Hòa tái nhợt. Y đứng chết trân. Đinh Ngô-Thương khoan khoái trong lòng. Y xuất thân làm quan võ, vào sinh ra tử không biết bao phen. Y lại là bạn thời thơ ấu của đương kim thiên-tử (Lý Thái-tổ). Con gái y được tuyển làm thứ phi của thái-tử Phật-Mã, tước phong Khai-thiên vương. Mai này hoàng đế băng hà, thái-tử lên nối ngôi, con gái y đương nhiên thành hoàng-hậu, mẫu-nghi thiên-hạ. Y được phong tiết-độ-sứ tổng-trấn vùng Cửu-chân. Trong khi đó Đàm Toái-Trạng chỉ là một viên đô-thống. Em gái Trạng được tuyển vào làm quí-phi cho hoàng-đế, dù Trạng chẳng có công gì cũng được bổ làm tuyên-vũ-sứ Thanh-hóa, quyền hành không thua Thương. Hai bên thường xẩy ra xung đột lặt vặt. Nay y thấy em Trạng là An-Hòa, vô phép với công-chúa, thì, y chắc họ Đàm đến ngày tàn.

Y nói với Tạ Sơn:

– Tôi xin trao bẩy tên này cho điện-súy, tùy nghi điều tra.

Tạ Sơn gọi đô-thống Nguyễn Khánh vào:

– Phiền đô-thống đem bẩy người này ra lấy khẩu cung, rồi cho tôi biết rõ ngọn nguồn việc đánh thuốc độc sư thái cùng công-chúa.

Tạ Sơn kể sơ lược mọi biến chuyển trong mấy ngay qua cho Đinh Ngô-Thương nghe. Thương kinh tâm động phách. Y biết rằng dù Tịnh-Huyền có tâm Bồ-tát, dù Huệ-Sinh là cao tăng đắc đạo, luật lệ đương thời tuy có nhiều điều châm chước song anh em họ Đàm khó tránh khỏi bay đầu.

Đợi Nguyễn Khánh giải ba phạm nhân đi rồi, Tạ Sơn kính cẩn nói với công-chúa Bảo-hòa:

– Công-chúa điện-hạ. Khi rời Thăng-long, thần theo Khai-quốc vương đến đây. Bây giờ không rõ Quốc-vương đi đâu. Mọi việc xin công chúa phát lạc.

Công-chúa Bảo-hòa gật đầu:

– Được, tôi xin đảm trách.

Bà nói với mọi người:

– Bọn Triệu Thành, Địch Thanh sang Đại-Việt với năm nhiệm vụ. Thứ nhất tìm di thư thời Lĩnh-nam. Điều này chúng thành công đôi chút là phăng ra đầu mối. Điều thứ nhì là dò xét tình hình trong nước ta. Điều này chúng thành công lớn, vì đã dụ dỗ được một số người Việt, quan lại làm gian tế cho chúng. Tuy nhiên Tạ điện-súy đã nắm được đầu mối. Thứ ba là chúng dụ dỗ các trang, động vùng Bắc Đại-Việt. Điều này chúng khá thành công. Song chúng tôi khắc có biện pháp đối phó. Điều thứ tư là dụ dỗ võ lâm Đại-Việt sang dự cuộc tuyển võ năm tới. Mục đích của chúng muốn anh hùng thiên hạ giết nhau. Còn lại bao nhiêu, trở thành thù hận nhau. Những người trúng cách, sẽ được phong chức tước, cầm quân đánh dẹp các vùng lân bang cho chúng. Như cao thủ Tây-hạ, Đại-lý, Thổ-phồn đánh Đại-Việt. Cao thủ Đại-Việt đánh Liêu. Cao thủ Liêu đánh Tây-hạ, Đại-lý. Điều này tôi trở về kinh tâu phụ hoàng rồi định liệu. Điều thứ năm là dụ dỗ Chiêm-thành, hầu Chiêm sẵn sàng đánh phía sau ta, rồi chúng cất quân đánh phía trước.

Bà quay sang hỏi Tôn Trung-Luận:

– Tôn tiền bối. Người là hậu duệ của anh hùng thời Lĩnh-nam. Qua lời tường thuật của cháu Mỹ-Linh, tôi thấy tiền-bối có tấm lòng son với xã tắc, lại tài kiêm văn võ. Thế mà tiền bối cứ mai một ở thôn dã chẳng đáng tiếc ư? Bình-nam vương Triệu-Thành nhà Tống đã phong chức tước cho tiền bối. Ngụ ý của y tuy thâm hiểm, song cũng là điều đáng cho tôi suy nghĩ. Đản hiện theo em tôi hành quốc-sự. Tôi xin thượng tấu về triều, trọng dụng tiền bối.

Tôn Trung-Luận đáp:

– Công-chúa hiểu cho hoàn cảnh đặc biệt tôi phải giả nhận chức tước của bọn Tống…

Mỹ-Linh đến cạnh Trung-Luận cầm tay ông:

– Bác Luận à. Cháu là bác Luận cháu cũng làm thế. Một là lừa cho bọn cướp đánh nhau, ta đứng ngoài vỗ tay. Hai là tránh bị chúng đánh cho thiệt thân. Cô của cháu có dám trách bác đâu? Bác chịu khó ra gánh vác việc nước, nối chí tiền nhân xưa.

Một là lời nói của Mỹ-Linh trong, ngọt. Hai là thái độ của nàng bình dân, ấm áp. Tôn Trung-Luận cảm động:

– Luận này nguyện tuân lời công-chúa điện hạ.

Công chúa Bảo-hòa nói với đám trẻ Trần Anh, Lê Thuận-Tông, Hà Thiện-Lãm:

– Các con còn nhỏ tuổi, sớm hấp thụ đựơc cái tự hào dân tộc. Văn có thể học mà có. Võ có thể tập mà thành. Còn thiên tính hứơng về đại-nghiã dân tộc rất hiếm hoi. Cô sẽ nói với bố mẹ các cháu, đem các cháu về Thăng-long theo học ở trường Quốc-tử-giám. Tiền chi phí nuôi dữơng, cô lo hết.

Trần Anh, Lê Thuận-Tông, Hà Thiện-Lãm là những đứa trẻ ham vui, thích đùa nghịch, hiếu động. Chỉ vì may mắn ở gần đền thờ Tương-liệt đại-vương, Lệ-hải Bà-vương, hằng ngày nghe phụ huynh nhắc nhở công nghiệp người xưa, chúng khâm phục, mộng làm những gì đại sự quốc gia, trong khi những đứa cùng tuổi chỉ biết đánh khăng, đánh đáo. Mấy ngày qua, chúng như lạc đừơng vào lịch-sử. Chúng được nhìn, được nghe những gì thấy trong sách vở. Chúng được nói truyện, ăn uống cùng với những vị hoàng-tử, công-chúa. Mà hoàng-tử, công- chúa lại đối xử với chúng trong tình thương yêu hơn cả cha mẹ chúng đối với chúng. Ba đứa đến trước công-chúa Bảo-hòa cùng phò-mã Thân Thừa-Quý qùi gối:

– Chúng con tạ ơn công chúa, và phò-mã..

Nùng-Sơn tử nhắc chúng:

– Phàm hành đại lễ với cha, mẹ, chú, bác, cô, dì thì lạy bốn lạy. Đối với hoàng-đế, hoàng-tử, công-chúa, sư-phụ thì lạy tám lạy. Công-chúa mở rộng lòng từ bi, thương yêu các con, nhận nuôi các con, vậy các con lạy bốn lạy coi như lạy bố mẹ nuôi.

Bốn đứa trẻ lậy đủ bốn lạy. Quận-chúa Thân Bảo-Hòa hỏi mẹ:

– Mạ mạ ơi. Cả ba đứa này đều là em con cả sao?

– Ừ. Nào bây giờ anh chị em nhận nhau đi.

Từ lúc gặp nhau, Mỹ-Linh và Thân Thiệu-Thái cứ quấn quýt bên cạnh nhau, hết truyện nọ sang truyện kia. Hai người là anh em con cô, con cậu, song hoàn cảnh khác nhau. Mỹ-Linh học văn, học võ, mà chưa một chút kinh nghiệm. Còn Thân Thiệu-Thái học võ nhiều hơn học văn. Hàng ngày cùng bố mẹ ruổi ngựa dọc biên thùy dẹp trộm cướp, phòng quân Tống, kinh lịch có thừa. Truyện trò tưởng không bao giờ hết. Thiệu-Thái đang say truyện, nghe mẹ nói vội ngừng lại. Thân Bảo-Hòa nói:

– Này ba đứa, nghe chị nói đây.

Hà Thiện-Lãm cười:

– Dạ em nghe.

– Ở vùng Lạng-châu không kêu thân-mẫu bằng mẹ, mà kêu bằng mạ mạ. Còn bố thì kêu giống như miền xuôi. Trong nhà ta có ba anh em. Lớn nhất là anh Thiệu-Thái. Tốt bụng, bởi vậy bụng lớn gần bằng cái trống. Trong bụng anh có một đàn hổ.

– Hổ???

– Ừa. Người ta nói ăn như hổ. Trong bụng anh ý có đàn hổ. Bởi vậy ăn bao nhiêu cũng không biết no. Tướng anh ụt ịt như con lợn, chúng ta gọi anh bằng lợn.

Bị em gái trêu, Thiệu-Thái dơ tay phẩy một cái làm như tát yêu hụt. Thân Bảo-Hòa tiếp:

– Anh Thiệu-Thái có tật cả ngày không nói một câu. Kế đó là anh Thiệu-Cực. Anh Cực thì miệng như con két, nói cả ngày. Anh Cực trấn thủ Lạng-châu thay bố, mẹ. Anh Cực khôn ngoan, linh lợi, mưu trí. Vì vậy bọn ta gọi anh ấy là cú rừng.

Thuận-Tông kinh ngạc:

– Cú rừng! Cái tên xấu quá.

– Không xấu đâu! Con cú thường cúi đầu ủ rũ. Thế mà trong đầu nó tính toán trăm mưu nghìn kế. À, còn chị, trước chị là con út. Bây giờ có bọn em mất chức út.

Công chúa Bảo-hòa bẹo má Trần Anh:

– Ta cùng phu-quân theo dõi bọn Tống, không ngờ thêm được ba đứa con. Như vậy ta có sáu đứa tất cả. Ngày xưa Quốc-tổ, Quốc-mẫu có những 100 con. Ta cần nuôi thêm 94 đứa nữa.

Bà kính cẩn nói với Tịnh-Huyền:

– Cô mẫu. Thiện-Lãm đã được Nùng đạo trưởng thu làm đệ tử. Thần nhi kính xin cô mẫu mở tâm Bồ-đề thu hai cháu Lê Thuận-Tông, Trần Anh làm đệ tử. Một mai chúng sẽ là rường cột quốc-gia, là sứ giả hoằng dương đạo pháp.

Tịnh-Huyền mỉm cười:

– Duyên phúc biết mấy.

Hai đứa trẻ quì trước Tịnh-Huyền lễ tám lễ, cùng gọi:

– Sư phụ.

Bà xoa đầu hai đứa trẻ:

– Hôm nay sư phụ thu hai con làm đệ tử. Các con trở thành đệ tử ngoại đồ của phái Mê-linh. Tên Mê-linh như các con biết là thủ đô thời Lĩnh-nam. Sau khi vua Bà tuẫn quốc ở Cẩm-khê, các tướng tiếp tục kháng chiến, hoặc ẩn thân vào dân chúng. Những người còn sống sót tiếp tục truyền thụ võ công cho đệ tử. Suốt gần, một nghìn năm, diễn ra trước sau 24 cuộc khởi binh, thì 20 là do con cháu di thần thời Lĩnh-nam. Như các con biết thời Lĩnh-nam có các phái Tản-viên, Sài-sơn, Long-biên, Quế-lâm, Khúc-giang, Hoa-lư, Cửu-chân. Trong gần nghìn năm, các võ phái không ngớt tranh chia rẽ. Võ phái này hại võ phái kia. Trong võ phái thì chi phái này hại chi phái kia. Nói xấu, dèm pha nhau rồi tiến tới chém giết nhau. Đến thời Thập-nhị sứ quân còn tàn hại hơn nữa. Mỗi võ phái theo một sứ quân tàn sát đồng đạo. Vật cùng tất phản, uốn qúa hóa cong. Đến lúc tưởng tan nát hết, thì nảy ra hai thiên tài võ học, đó là thiền-sư Vô-Ngại thuộc phái Tiêu-sơn và Hoa-Minh thần-ni thuộc phái Long-biên. Hai vị này mời các tôn sư võ học tới họp, rồi đưa ra ý kiến chỉ giúp một mình vua Đinh. Vì vậy vua Đinh thắng hết các sứ quân, thống nhất sơn hà.

Thanh-Mai hỏi:

– Sư phụ, con nghe bố con nói rằng thiền-sư Vô-Ngại, trước khi làm chưởng môn phái Tiêu-sơn, ngài tu ở chùa Sơn-tĩnh, thuộc Cửu-chân. Ngài có thu nhiều đệ tử người Trung-quốc phải không?

Tịnh-Huyền đưa mắt nhìn Huệ-Sinh :

– Đại-sư, việc này bần ni không rành cho lắm.

Huệ-Sinh đáp:

– Gần như thế. Đời thứ mười bản phái, có bốn cao tăng đắc đạo. Đó là La Qúi-An, Pháp-Thuận, Ma-ha Kỳ-vực (Mahamaya) và Vô-Ngại. Võ công, Phật-pháp đều siêu đẳng. Tổ Vô-Ngại có sang Trung-quốc thuyết pháp nhiều năm. Trong lúc ẩn cư tại chùa Sơn-tĩnh, một đại thi hào đời Đường là Thẩm Thuyên-Kỳ có tới thăm. Thẩm nghe người thuyết pháp trong mười ngày. Giác ngộ, Thẩm xin qui y. Thẩm được ngài truyền Phật-pháp, chứ Thẩm không học võ công Tiêu-sơn. Thẩm có làm bài thơ tạ ngài nguyên văn như sau:

Thượng-sỹ sinh Thiên-trúc,
Phân thân hóa Nhật-nam.
Nhân trung xuất phiền não,
Sơn hạ tức Già-lam.

Hiện diện hơn mười người, thế mà chỉ riêng quận chúa Thân Bảo-Hòa nghe đọc đọan thơ trên, trong lòng tự nhiên bừng bừng như có ánh sáng chiếu vào. Nàng gật đầu liên tiếp. Lê Thuận-Tông hỏi:

– Chị Bảo-Hòa, bốn câu tên nghĩa là gì vậy? Thơ đã bằng chữ Hán, lại mang ý nghĩa cao-siêu của nhà Phật thì bọn em làm sao hiểu được?

Bảo-Hòa cười đáp:

– Thẩm gọi tổ Vô-Ngại là Thượng-sĩ. Thượng-sĩ cùng nghĩa với Bồ-tát. Ý Thẩm nói Tổ trước đây chính là đức Phật sinh ở Thiên-trúc, nay phân thân giáng thế xuống đất Nhật-nam. Lòng ngài trong sạch. Bao nhiêu phiền não đều biến đi. Dưới núi ngài dựng Già-lam.

Huệ-Sinh đọc tiếp:

Tiểu-gỉan hương vi sát,
Nguy phong thạch tác am.
Đằng ái vân gian bích.
Hoa thê thạch hạ đàm.
Tuyền hành u cung hảo.
Lâm quải dục y kham.

Thân Bảo-Hòa lại giảng:

– Thẩm ca tụng cuộc sống của ngài. Ngài giặt quần áo phơi ở giữa rừng hương, nào là cảnh khe suối thơm, ngài ngồi hóng mát, nào là cảnh am làm bằng đá. Chim rừng được hạnh Bồ-tát của ngài truyền cho cũng biết tập thiền định. Vượn đứng nghe giảng kinh. Xung quanh ngài, vách đá dây mây cuốn, hoa trên mặt đầm xếp lớp lên như thang.

Huệ-Sinh đọc tiếp:

Đệ tử ai vô thức,
Y vương tích vị đàm.
Siêu nhiên hổ khê địch,
Chích thọ hạ hư lam.

Thân Bảo-Hòa giảng:

– Thẩm tự hận rằng mình ngu tối, chưa thông hiểu Phật pháp, ngồi đàm luận cùng sư phụ, đến hổ còn kinh ngạc, nhìn ra khắp nơi khói lam bay mịt mờ.

Thanh-Mai suy nghĩ một lát, nàng hỏi Huê-Sinh:

– Bạch sư bá, đệ tử có một vài thắc mắc về tổ Vô-Ngại và Thẩm Thuyên-Kỳ. Kỳ sinh năm Bính-thìn, tức niên hiệu Hiển-khánh nguyên niên đời Đường Cao-tông (656), chết năm Qúi-sửu niên hiệu Khai-nguyên nguyên niên đời Đường Huyền-tông (713). Trong khi đó tổ Vô-Ngại lại tham gia vào việc thống nhất của vua Đinh, tức cách nay chưa tới trăm năm. Không lẽ tổ sống đến ba trăm tuổi?

Huệ-Sinh gật đầu:

– Cháu thực thông minh. Để bần tăng giảng cho cháu nghe. Chắc cháu có biết về thuật đầu thai, đổi xác trong nhà Phật chứ?

– Dạ cháu có nghe. Truyện này bên xứ Tây-tạng. Đức Quan-thế-âm phân thân đầu thai vào một vị cao tăng, cai trị xứ này. Khi về gìa, thấy xác mình sắp mục, ngài nằm nhập thiền, rồi thình lình xuất hồn bay về một hướng nào đó, Nơi ấy ngài biết sắp có đứa trẻ ra đời. Ngài nhập vào xác đứa ấy. Trong khi ngài xuất hồn bay đi, các đệ tử của ngài tụ lại trên bờ ao trong cung của ngài nhìn xuống nước. Hồn ngài bay đi đâu, bóng in dưới nước. Khi thấy rõ ngài nhập vào xác đứa trẻ rồi, thì lập tức vào điện kiểm lại thân thể ngài, quả nhiên ngài đã viên tịch. Xác ấy được đem đốt đi. Rồi họ kéo nhau tới nhà đứa trẻ sơ sinh, rước đứa trẻ đó về thay ngài làm Đạt-lai Lạt-ma.

Mỹ-Linh hỏi:

– Chị Thanh-Mai à. Thế nhỡ hồn đứa trẻ đó không phải đức Quan-thế âm phân thân thì sao?

– Sau khi đem đứa trẻ về nuôi, đợi nó lớn lên, các đệ tử phải thử thách nó. Như hỏi lại những truyện hồi tiền kiếp ngài sống, xem có đúng không. Như khi ngài sắp tịch, thì ngài làm nhiều bài kệ bí mật bỏ bào một tráp niêm phong kín. Đợi khi đứa trẻ lớn, bắt trả lời về nội dung từng bài kệ một. Nếu tất cả mấy bài đều đúng. Bấy giờ mới cho làm lễ đăng quang. Không lẽ ngài Vô-Ngại cũng là Quan-thế-âm phân thân?

Huệ-Sinh gật đầu:

– Ngài nguyên là Tôn-gỉa A-Nan tái sinh.

Mọi người cùng bật lên tiếng kêu kinh ngạc. Huệ-Sinh tiếp:

– Ngài giáng sinh vào niên hiệu Canh-tý, niên hiệu Phổ-thông nguyên niên đời Lương Vũ-Đế, bên Trung-nguyên (520). Năm Đinh-tỵ, niên hiệu Khai-hoàng thứ mười bẩy, đời Tùy Văn-Đế (599), khi thấy xác mình sắp mục, ngài gọi đệ tử lại trăn trối rằng Ta thấy giòng giống Việt sắp bị tuyệt diệt. Ta giáng sinh làm tăng, mong mở lại nước. Truyện chưa thành thì xác mục. Sau đây ta bay về phương nam, tìm trẻ sơ sinh, tái nhập thế. Ta để lại năm bài kệ làm tin, gói trong năm bao thư. Các người đợi kiếp sau ta sáu tuổi sẽ có cái mà thử. Nói rồi nhập thiền. Đệ tử y lời, ra suối nhìn bóng hồn ngài bay in xuống mặt nước, thấy rõ hồn ngài nhập vào một trẻ sơ sinh. Hôm sau đệ tử của ngài tới nhà bố mẹ đứa trẻ nói cho biết, xin đem về nhà nuôi. Bố mẹ đứa trẻ đứa trù trừ không tin hỏi con rằng : Nếu phải hồn đại-sư Vô-Ngại thì chớp mắt năm cái . Đứa trẻ không nói được, chớp mắt đủ năm lần. Thế là đứa trẻ được đem về chùa Tiêu-sơn nuôi. Sau sáu năm, đứa trẻ đã lớn. Đệ tử đem từng bao thư, bắt đọc bài kệ bên trong. Đứa trẻ thuộc làu, đọc trơn tru.

Thân Bảo-Hòa hỏi:

– Thế ngài Vô-Ngại mà Thẩm Thuyên-Kỳ được gặp là ngài thứ mấy

– Là Vô-Ngại thứ nhì.

Thân Thiệu-Thái hỏi:

– Bạch thầy, thế ngài Vô-Ngại bị hủy diệt rồi tái nhập xác trước sau mấy lần?

– Tất cả bốn lần. Sau khi xác lần thứ tư mục. Ngài gọi chư đệ tử lại dặn: Kỳ này ta đi luôn. Từ nay nước Việt lại tái lập. Ta không còn phải bận tâm nữa . Sau đó tịch.

Mỹ-Linh gật đầu:

– Thế gian đều có Phật tính. Ai cũng thành Phật được cả. Duy có lời nguyện là quan trọng. Hạnh nguyện của ngài A-Nan với đất Việt quả thực phúc đức vô vàn. Con nghĩ những Bồ-tát như thế nhất định không chịu thành Phật đâu. Không chừng ngài còn tái sinh nữa. Con nghe đời thứ mười một phái Tiêu-Sơn còn hai vị đắc pháp nữa. Con chỉ biết pháp danh một vị là Sùng-Phạm. Còn một vị nữa, con không biết.

Huệ-Sinh chỉ vào bức tranh vẽ một hòa thợng mập ú, cười toe tóet tay cầm tràng hạt treo trên tường:

– Là Bố-Đại hòa thượng.

Tất cả mọi người hiện diện đều bật lên tiếng kêu kinh ngạc. Mỹ-Linh mở to mắt:

– Là ngài à? Ngài không phải là Di-Lặc bồ-tát à? Hồi ở trong cung, con thờ ngài, ước mong được thấy ngài.

Huệ-Sinh nhìn học trò với con mắt thương cảm:

– Con sẽ được như ý.

Thân Bảo-Hòa chợt nói:

– Phàm các vị Bồ-tát đều có hạnh nguyện cả. Khi các vị thực hành xong lời nguyện, mới chịu thành Phật. Di-Lặc tôn giả đâu phải mới giáng sinh lần đầu ở nước Việt mình?

Huệ-Sinh gật đầu:

– Đúng thế, ngài giáng sinh lần này là lần thứ ba.

Mỹ-Linh suy nghĩ một lúc rồi hỏi:

– Sư phụ! Thế lần thứ nhất ngài giáng sinh, vào lúc nào?

– Vào thời Lục-triều, tại nước mình, ở vùng Quảng-đông bây giờ. Cái tên Bố-Đại có từ đó?

Thuận-Tông hỏi:

– Đại sư! Bố-Đại nghĩa là gì vậy?

– Bố là vải, đại là cái túi. Nguyên đi đâu ngài cũng đeo cái túi vải. Ai cúng dàng gì, ngài cũng nhận hết, rồi ngài đem cho bọn trẻ con. Lần thứ nhì ngài giáng sinh ở trấn Nghệ-an bây giờ, bấy giờ gọi là Nhật-nam. Ngài vân du sang Trung-quốc vào đời Đường, thuyết pháp cho chúng sinh. Trong những người nhiều hạnh được gặp ngài có thi sĩ Trương Tịch. Trương Tịch làm bài thơ khen ngợi ngài.

Huệ-Sinh hỏi Thanh-Mai:

– Cháu có biết gì về thi sĩ Trương Tịch không?

Thanh-Mai ngồi ngay ngắn lại:

– Thưa sư bá có. Trương Tịch (767-830) tự là Văn-Xương, người đất Hoà-châu thuộc vùng Ô-giang đời Đường. Đỗ tiến sĩ niên hiệu Trinh-nguyên. Lúc đầu ông dạy học ở Quốc-tử-giám. Sau lên Quốc-tử-giám tư nghiệp. Cuối cùng ông làm đến chức tiết độ sứ. Bài thơ ông làm để ca tụng ngài Bố-Đại như sau:

Độc hướng song phong lão,
Tùng môn bế lưỡng nha,
Phiêu kinh thượng tiêu diệp,
Quải nạp lạc đằng hoa,
Thứu thạch tân khai tỉnh,
Xuyên lâm tự chủng ma.
Thời phùng Nam-hải khách,
Man ngữ vấn thùy gia?

Thuận-Tông hỏi Mỹ-Linh:

– Thơ chữ Hán khó quá. Chị giảng cho em nghe đi.

Mỹ-Linh vuốt tóc sư đệ, rồi nàng địch:

Ở trên tuyệt đỉnh núi,
Cửa thông hai cánh gài.
Viết kinh trên láø chuối,
Treo áo lạc hoa mây.
Tạc đá đào giếng mới,
Mở rừng trồng cây đay.
Nếu gặp khách Nam-hải,
Tiếng man hỏi nhà ai?

Bảo-Hòa hỏi:

– Lần đầu ngài có tên Bố-Đại, thế lần thứ nhì ngài mang tên gì?

– Lần thứ nhì, ngài vẫn mập, vẫn đeo túi vải, người ta vẫn gọi ngài là Bố-Đại, nhưng ngài có pháp danh là Duy-Giám.

Mỹ-Linh « á » lên một tiếng:

– Sư phụ, con biết rồi, ngài được vua Đường mời sang kinh đô Trung-nguyên thuyết pháp. Lúc trở về, lại một thi sĩ lừng danh thời thịnh Đường là Giả-Đảo làm thơ tiễn ngài. Bài thơ như sau:

Giảng kinh Xuân điện lý,
Hoa nhiễu ngự sàng phi,
Nam-hải kỷ hồi hoá?
Cựu sơn lâm lão qui.
Súc phong hương tốn ấn.
Lộ vũ khánh sinh y.
Không thủy ký như bỉ.
Vãng lai tiêu tức hi.

Thuận-Tông lại đưa mắt nhìn Mỹ-Linh cầu cứu. Mỹ-Linh nhoẻn nụ cười:

– Để chị dịch cho Tông nghe:

Giảng kinh trong cung điện,
Ngự viên hoa Xuân bay.
Tha hương từ mấy độ?
Núi cũ về từ nay.
Mưa rơi trên áo bạc.
Gió thổi hương ấn phai.
Biển không là thế đó,
Xa vắng tin nào hay?

Thiện-Lãm hỏi Thanh-Mai:

– Thế còn thi sỉ Giả-Đảo? Ông là ai?

– Ông người Triệu-châu (Hà-bắc) thủa nhỏ ở vùng Tung-sơn Hà-nam. Ông đỗ tiến sĩ niên hiệu Đại-lịch đời Đường (766-779). Sau khi đó được bổ làm Mật-thư tỉnh hiệu thư lang. Cuối cùng lên tới chức tư-mã Hàng-châu. Ông là một trong mười thi sĩ danh tiếng, được tặng danh hiệu Thập tài tử Đại-lịch .

Bảo-Hòa nhìn sư thái Tịnh-Huyền:

– Thưa thái cô, nước mình tưởng mất, song nhờ các thiền sư mà dựng lại được. Vì vậy, người ta thường nói Thầy tăng mở nước Phật Giáo quả thực đã cứu dân mình.

Tịnh-Huyền liếc nhìn Thân Bảo-Hòa, bà thấy dường như đứa cháu này với bà như đã quen nhau từ nhiều kiếp. Bà nói:

– Phúc đức qúa. Cháu có hạnh Bồ-tát, chỉ nghe qua mà đã hiểu ý người xưa. Bây giờ bần ni xin tiếp. Sau khi vua Đinh thống nhất sơn hà, các tôn sư gặp nhau, thành lập môn phái. Phái Tiêu-sơn, Đông-a mới thành lập, không có gì thay đổi. Phái Sài-sơn, Tản-viên vẫn giữ nguyên. Phái Cửu-chân, Long-biên, Hoa-lư, Khúc-giang, Quế-lâm thống nhất thành phái Mê-linh. Đệ tử Tây-vu của công-chúa Hồ Đề tự thống nhất thành phái Tây-vu.

Lê Thuận-Tông hỏi:

– Bạch sư-phụ, tôn chỉ của phái Mê-linh thế nào?

– Lấy tinh thần Lĩnh-nam làm yếu chỉ: tất cả cho đất nước. Hy-sinh thân mình, hy-sinh gia-đình, môn phái cho đại cuộc dân tộc. Bất cứ thời nào, sau khi hoàn thành sứ mạng, cũng không nhận tưởng thưởng của triều đình. Tổng-đàn của bản phái hiện giờ đặt tại Mê-linh, không xa với tổng đàn phái Tản-viên.

Trần Anh hỏi:

– Bạch sư phụ, hồi nãy sư-phụ dạy rằng thu bọn con làm ngoại đồ. Vậy thế nào là ngoại đồ? Con nghĩ đệ tử là đệ tử chứ sao lại là ngoại đồ. Thế có nội đồ không?

– Con hỏi thực phải. Kể từ khi thành lập, các chưởng môn nhân bản phái đều là tỳ-kheo ni. Vì vậy khi thu đệ tử chúng ta chia làm hai. Nội đồ là những đệ tử được thọ giới tỳ-kheo thành tăng ni. Còn ngoại đồ là đệ tử tục gia. Các con là đệ tử tục gia nên ta gọi là ngoại-đồ.

Lê Thuận-Tông hỏi:

– Sư phụ đã thu bao nhiêu đệ tử rồi?

– Trước các con, ta thu ba nữ đệ tử. Thể lệ bản phái, lấy chữ sau của sư phụ đặt làm chữ đầu cho đệ tử. Sư phụ của ta pháp đanh Duyên-Tịnh, thì pháp danh của ta là Tịnh-Huyền. Ba sư tỷ của các con có pháp danh Huyền-Thanh, Huyền-Lam, Huyền-Ninh.

Lê Thuận-Tông chỉ Thanh-Mai hỏi:

– Chị Thanh-Mai, anh Tự-Mai cũng là đệ tử của sư phụ phải không?

– Không hoàn toàn. Hai người là đệ tử phái Đông-a, nhưng qui y tam bảo với ta. Ta là bản-sư của hai người, chứ không phải sư-phụ. Bản-sư cao qúi hơn sư-phụ nhiều.

Thân Bảo-Hòa xen vào:

– Người học võ chỉ có một sư-phụ mà thôi. Khi muốn học thêm võ với người khác phái, thì phải hỏi sư phụ mình. Sư phụ có đồng ý mới được học. Còn ngược lại trong đạo Phật khi gặp một người đạo pháp cao hơn, mình kính cẩn nghe dạy dỗ, thì người đó thành bản-sư, không cần phải hỏi bản sư mình nữa. Cho nên người Phật-tử có nhiều bản sư. Các em thường niệm Nam vô bản sư Thích-ca Mâu-ni Phật . Ngài cũng là bản sư vậy.

Tịnh-Huyền nhìn Thân Bảo-Hòa mỉm cười.

Lê Thuận-Tông chợt nhớ ra điều gì:

– Mấy hôm nay con thấy nào là bác Trung-Từ, nào là bọn Tống, kể cả sư phụ đều bận tâm về bộ Dụng binh yếu chỉ và bộ Lĩnh-nam vũ kinh. Như vậy võ công thời Lĩnh-nam thất truyền hết rồi hay sao? Không lẽ từ hồi ấy đến giờ võ công không tiến hơn được chút nào cả, mà phải tìm di thư?

Tịnh-Huyền gật đầu:

– Đúng đấy.Võ công thời Lĩnh-nam đã mất đi căn bản. Người sau chỉ nhớ được phân nửa. Rồi từ cái phân nửa đó, sáng chế thêm ra. Nếu bây giờ tìm được toàn bộ võ công Lĩnh-nam mà hợp những gì mới sáng chế ra, thì thực bao la vô cùng. Tóm lại võ công Tản-viên, Sài-sơn, Tây-vu, Mê-linh là võ công có từ xưa. Rồi cách đây năm trăm năm, do Thiền-công nhập vào nước ta, nên có thêm phái Đông-a, và Tiêu-sơn. Tuy vậy người ta tìm kinh sách cũng có, mà tìm kho tàng Tần-Hán, Âu-Việt cũng có.

Bọn trẻ nhao nhao lên:

– Sư phụ! Kho tàng đó nhiều vàng lắm phải không?

Bà đưa mắt nhìn Thanh-Mai. Thanh-Mai nghiêm nghị:

– Các em ngồi im lặng chị kể cho nghe về hai kho tàng này. Bất cứ nước nào, dù Tống, dù Việt, dù Chiêm… ai tìm được kho tàng ấy, coi như nước trở thành giầu có súc tích.

Trần Anh hỏi:

– Kho tàng Tần-Hán chắc của người Tầu, còn kho tàng Âu-Việt hẳn của tộc Việt.

– Đúng thế. Trước hết chị kể về kho tàng Tần-Hán. Khi vua Văn-vương nhà Chu diệt Trụ, phong tám trăm chư hầu. Hàng năm các chư hầu tiến cống châu ngọc, vàng bạc không thiếu gì. Trải tám trăm năm, kho tàng trở thành khổng lồ. Tần diệt nhà Châu chiếm kho tàng đó. Tần đem quân diệt bẩy nước, thống nhất thiên hạ. Bao nhiêu của cải cướp được đem về Hàm-dương. Hán tiến quân vào Hàm-dương cướp kho tàng ấy, sau chôn ở nền điện Vị-ương, gọi là kho tàng Chu-Tần. Đời Hán, đem quân đánh cướp các nước xung quanh, cùng chư hầu tiến cống, thành kho tàng Tây-Hán. Khi Vương-Mãng cướp ngôi nhà Hán. Y gộp hai kho tàng làm một thành kho tàng Tần-Hán, đem chôn ở hồ Động-đình. Khi vua Trưng thành đại nghiệp, sai đào lên mang về Lĩnh-nam. Số bảo vật phải chở trên năm mươi xe mới hết.Thuận-Tông sáng mắt ra:

– Chà lớn quá. Thế kho tàng đó chôn ở đâu?

– Khoan đã. Bây giờ nói về kho tàng Âu-Việt. Quốc tổ phong trăm con, mỗi người trấn nhậm một nơi. Hàng năm các hoàng tử mang châu báu về dâng ngài. Trải tám mươi tám đời vua Hùng, qua mấy ngàn năm, các Lạc-hầu, Lạc-tướng dâng về triều không biết bao châu báu. Kho tàng đời Hùng chất cao như núi. Vua An-dương diệt vua Hùng, chiếm kho tàng ấy. Vua An-dương cai trị tộc Việt, được các Lạc-hầu, Lạc-tướng tiến cống cũng thành kho tàng nữa. Triệu Đà chiếm Âu-lạc, y chập hai kho tàng làm một, đem về để ở Phiên-ngung. Con cháu Triệu Đà bị Hán diệt. Kho tàng lọt vào tay Trường-sa vương nhà Hán, gọi là kho tàng Âu-Việt. Sau kho tàng ấy chuyển chủ, thuộc Trường-sa vương Công-tôn Thiệu. Khi Trưng Nhị giúp Hán đánh Công-tôn Thiệu. Đặng Vũ hứa ai vào thành Bạch-đế đầu tiên, y sẽ cho kho tàng ấy. Thiên-ưng lục tướng bắt sống Công-tôn Thiệu, vào thành đầu tiên. Kho tàng do đó trở về Lĩnh-nam. Trưng Nhị sai Hồ Hác đem về Lĩnh-nam chôn cất.

Ngừng một lúc, Thanh-Mai tiếp:

– Sau khi thành đại nghiệp, vua Trưng sai đào kho tàng Tần-Hán về cất một nơi. Khi công chúa Phùng Vĩnh-Hoa cùng Bắc-bình vương Đào Kỳ chép bộ Lĩnh-nam vũ kinh, cũng chép cả nơi chôn cất hai kho tàng ấy.

Mỹ-Linh đã nghe Khai-quốc vương nói về kho tàng này nhiều lần, chi tiết hơn Thanh-Mai, song đây thuộc cơ mật quốc gia, nàng không dám nói ra. Chỉ thêm vào mấy lời:

– Vì vậy, suồt hơn nghìn năm nay, võ lâm Hoa, Việt thi nhau tìm bộ Lĩnh-nam vũ kinh. Nếu tìm ra, sẽ trở thành giầu có vô cùng, theo đó luyện tập, thành anh hùng vô địch.

Đến đấy một tên tiểu-hiệu vào hành lễ với Đinh Ngô-Thương:

– Khải bẩm đại nhân có Sùng-ban lang-tướng Ngô An-Ngữ cùng phu nhân xin vào tiếp kiến.

Ngô-Thương gật đầu:

– Cho vào.

Một vị tướng tuổi trên ba mươi cùng một thiếu-phụ nhan sắc xinh tươi bước vào. Cả hai đều đeo kiếm. Ngô An-Ngữ hành lễ quân cách với Đinh Ngô-Thương.

– Tiểu tướng nhận được chỉ dụ của Khai-quốc vương đem bản bộ quân mã thuộc quyền vào đóng trên đảo Nghi-sơn thi hành nhiệm vụ đặc biệt. Tiểu tướng trình diện đại-nhân, để xin giúp đỡ chiến thuyền chở quân ra biển.

Đinh Ngô-Thương gật đầu:

– Bản nhân sẽ cung cấp cho tướng quân đầy đủ vào giờ Dần ngày mai tại cảng Bắc.

Chợt thấy trong phòng có Trần Thanh-Mai. Ngô An-Ngữ ngạc nhiên:

– Thanh-Mai, sư muội cũng ở đây sao?

Thanh-Mai kính cẩn:

– Thưa sư huynh, em theo hầu bổn sư dự lễ tế Lệ-hải Bà-vương mới xong. Sư huynh vẫn mạnh chứ ?

Ngô An-Ngữ chỉ thiếu phụ đi cùng:

– Đây là vợ của sư huynh, tên là Hàn Diệu-Chi.

Diệu-Chi thấy Tạ Sơn cũng tỏ vẻ mừng:

– Chú Sơn. Công việc chưa xong ư? Cô ấy cũng đi cùng với anh chị vào đây có cả các cháu nữa, đang ở ngoài xe.

Nàng hướng ra ngoài gọi:

– Thuần-Trúc vào đây. Anh Sơn ở trong này.

Thiếu-phụ tên Ngô Thuần-Trúc lưng đeo kiếm bước vào.

Thuần-Trúc, Diệu-Chi nhìn thấy Tịnh-Huyền. Cả hai quì mọp xuống đất:

– Đệ tử Hàn Diệu-Chi, Ngô Thuần-Trúc tham kiến sư thúc.

Tịnh-Huyền phất tay ra hiệu miễn lễ:

– Các con đi đâu đây?

Nguyên Ngô An-Ngữ là đệ tử phái Đông-a, giữ chức Sùng-ban lang-tướng dưới quyền Khai-quốc vương. Chàng là đệ tử của chưởng môn Trần Tự-An, thân sinh Trần Thanh-Mai. Vì vậy Thanh-Mai thấy chàng vội vấn an, và gọi là sư huynh. Chàng có em gái tên Ngô Thuần-Trúc, cùng bạn là Hàn Diệu-Chi được sư thái Tịnh-Tuệ thu làm đệ tử. Ngô Thuần-Trúc kết hôn với Tạ Sơn. Trúc lại mai mối bạn mình là Hàn Diệu-Chi cho anh. Hai cặp tài tử đều đầu quân dưới trướng Khai-quốc vương ở Trường-yên. Mới đây Khai-quốc vương tiến cử Tạ Sơn lên chức điện-tiền chỉ-huy-sứ, thống lĩnh Ngự-lâm-quân. Còn Ngô An-Ngữ thống lãnh đội quân hộ vệ Khai-quốc vương, kiêm tổng trấn thành Trường-yên. Tạ Sơn đẫn đạo quân Ngự-long theo hộ tống Khai-quốc vương với công-chúa Mỹ-Linh vào Cửu-chân dự lễ tấn phong bà Triệu. Tạ Sơn chưa về, thì Ngô An-Ngữ được lệnh đem đạo quân Quảng-thánh vào trấn trên đảo Nghi-sơn với nhiệm vụ bí mật. Khi đi, Ngữ mang theo vợ cùng hai con tên Tuấn, Hiến theo. Thấy chồng đi lâu chưa về, vợ Tạ Sơn là Ngô-thuần-Trúc cũng dẫn con gái là Tạ Thuần-Khanh theo đi du lịch xem cảnh trí Cửu-chân. Không ngờ đến đây, họ gặp nhau.

Ngô An-Ngữ thấy Lý Mỹ-Linh, vội hành lễ:

– Tiểu tướng xin tham kiến công-chúa điện-hạ.

Lý Mỹ-Linh hỏi:

– Ngô tướng quân. Tôi có đôi thắc mắc, xin tướng quân cho biết tướng quân nhận lệnh trực tiếp từ chú hai tôi, hay qua trung gian người khác? Chú tôi hiện ở đâu?

– Thưa, tiểu tướng không rõ vương-gia ở đâu. Từ hôm vương gia cùng công chúa Nam du đến giờ, tiểu tướng chưa gặp lại người. Còn lệnh thì tiểu tướng nhận từ Khu-mật-viện. Trong lệnh, Khu-mật-viện nói rõ rằng do chỉ dụ của vương-gia.

IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 79770
Has thanked: 35132 times
Have thanks: 45992 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: April 30th, 2017, 7:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 20th, 2017, 11:13 pm


H
ỒI THỨ MƯỜI BỐN

Sơn Tĩnh Cổ Tự


Lý Mỹ-Linh hỏi Tạ Sơn:

– Tạ điện-súy, hôm qua chú hai tôi còn ở đây với chúng ta. Làm cách nào chú hai truyền lệnh về cho Khu-mật-viện được?

Tạ Sơn gật đầu:

– Khải tấu công chúa, được. Nếu vương-gia muốn, chỉ cần hai gìơ lệnh tới Thăng-long. Khu-mật-viện làm lệnh trong nửa giờ. Lệnh gửi từ Thăng-long tới Trường-yên trong nửa giờ. Đạo Quảng-thánh chỉ cần một giờ là có thể lên đường. Từ Trường-yên tới đây không cần tới một giờ.

Mỹ-Linh chỉ Tịnh-Huyền, công-chúa Bảo-hòa, Thân Thừa-Qúi giới thiệu với Ngô An-Ngữ. Ngô An-Ngữ vội hành lễ quân cách. Nhưng trong đầu óc chàng nghi hoặc không ít. Vì chàng biết rõ Tịnh-Huyền là sư thúc của vợ, nay bỗng nhiên lại là đại công chúa, em đức hoàng-đế.

Công-chúa Bảo-hòa chỉ ghế nói:

– Ngô tướng quân ngồi đây. Thì ra phu nhân Tạ tướng quân lại là em Ngô tướng quân. Cả hai vị cùng là cao đồ phái Mê-linh. Ở Lạng-châu tôi có nghe danh Thụy-khê song-phụng hành hiệp cứu đời. Hai phu nhân cũng đi theo giúp trong quân ư?

Hàn Diệu-Chi e thẹn:

– Công-chúa quá khen, làm chị em tiểu-nhân hổ thẹn.

Tịnh-Huyền ngắt lời:

– Diệu-Chi! Bảo-hòa là cháu của ta. Con là đệ tử của sư tỷ ta .Hai bên tuy không cùng môn hộ, mà tình thâm nào kém ruột thịt. Hai con ít tuổi hơn Bảo-Hòa, thì gọi là sư tỷ được rồi. Đừng khách sáo, nào công chúa, nào tiểu-nhân, nghe không thân mật tý nào cả.

Hàn Diệu-Chi, Ngô Thuần-Trúc hướng công-chúa Bảo-hòa:

– Sư-tỷ.

Công-chúa Bảo-hòa chắp tay tạ Tịnh-Huyền:

– Đa tạ cô-mẫu lại cho con thêm hai sư muội.

Tịnh-Huyền tủm tỉm cười. Công-chúa tháo hai chiếc vòng ngọc đỏ tươi trên tay đeo vào tay Hàn Diệu-Chi, Ngô Thuần-Trúc:

– Gọi là chút quà mọn làm lễ diện kiến. Đúng như cô mẫu nói hễ có duyên, thì tự nhiên gặp nhau . Chị sinh ra làm công-chúa, các em sinh ra là khuê nữ. Vì sẵn có duyên từ tiền kiếp, nên hôm nay lại tái hồi ở đây. Nguồn gốc tuy có khác, song chúng ta cùng nhau gánh vác sơn-hà. Ở Bắc-biên, chị nghe nói nhiều về Thụy-khuê song phượng hành hiệp suốt một giải Long-thành, nên trong tâm sẵn có lòng muốn kết thân, mà chưa có dịp. Hôm nay mới được như nguyện.

Thanh-Mai nhìn công-chúa Bảo-hòa, trong lòng nàng rộn lên những niềm vui:

– Hồi ở nhà, mình thường nghe bố nói: Thằng cha Lý Công-Uẩn, xuất thân chăn trâu, chăn bò, nhưng thực có phúc. Nó sinh ra muời ba con gái, đều khác đời. Công chúa An-quốc giúp cha dựng nghiệp. Công-chúa Bảo-hòa tổng trấn biên cương .

Thanh-Mai vẫn tự hào được bố truyền dạy bản lĩnh hơn người. Hôm nay nàng mới biết ngoài bầu trời này còn bầu trời khác. Nàng nghĩ thầm:

– Bắc cương hiện có hai trăm khê động. Suốt từ thời Lĩnh-nam đến giờ, tự tách ra khỏi chính quyền trung-ương. Dù thời Hán thuộc, Tùy thuộc, Đường thuộc họ sống tự tại. Thuế không đóng, binh dịch không tuân. Mỗi khê, mỗi động như một nước. Gần đây triều Ngô, Đinh, Lê tuy họ qui phục, nhưng vẫn giang sơn một cõi, giống như sứ quân. Khi vua Lý lên cai trị, họ mới chịu nộp thuế, chịu binh dịch, nhưng vẫn không nhận các chức quan của triều đình cử tới. Phải đợi tới khi con gái thứ nhì của đức vua được phong Lĩnh-nam bảo quốc Hoà Dân Công Chúa kết hôn với họ Thân, trở thành vua bà vùng Lạng-châu, các sắc dân 207 khê-động dần dần qui tụ, thống nhất thành một khối. Nay trên danh nghĩa hai vị là phò-mã, công-chúa giữ chức vụ tổng-trấn Bắc-cương, chứ thực ra là vua vùng núi rừng Đại-việt. Triều đình, cũng như võ-lâm không ai hiểu bằng cách nào công-chúa khiến các khê-động qui phục mau như vậy. Bây giờ thấy thái độ đối với ba đứa trẻ, với Diệu-Chi, Thuần-Trúc, mình mới biết công-chúa dùng đức thu phục nhân tâm.

Hàn Diệu-Chi dẫn vào hai đứa con trai, một đứa tên Tuấn mười tuổi. Một đứa tên Hiến, tám tuổi. Thuần-Trúc chỉ có con gái tên Thuần-Khanh tám tuổi. Ba đứa trẻ theo lời chỉ của bố mẹ hành lễ với mọi người.

Thanh-Mai hỏi Ngô An-Ngữ:

– Sư huynh, các cháu đã tập võ chưa? Chúng tập võ công Đông-a hay Mê-linh?

An-Ngữ đáp:

– Anh cho cháu tập võ công Đông-a trước. Bản lĩnh chúng cũng khá. Anh chờ chúng lớn rồi mới cho tập võ-công Mê-linh.

Khi An-Ngữ nói đến đó thì Tuấn đang hành lễ với Thân Bảo-Hòa. Thình lình Bảo-Hòa nắm tay đấm thẳng vào mặt nó. Không tránh né, cũng không đỡ đòn, nó xuống đinh-tấn, vung chân phải đá vòng vào mặt nàng. Bảo-Hòa tuyệt không ngờ thằng bé phản ứng lạ lùng như vậy, nàng phải nhảy lùi lại sau mới tránh khỏi. Tuấn không nhân nhượng, nó vọt người theo tấn công liên tiếp hai đòn rồi mới ngừng lại.

Ngô An-Ngữ bảo con:

– Con mau tạ ơn quận-chúa đã dạy con bài học phản ứng đi.

Tuấn cúi đầu tạ ơn. Thân Bảo-Hòa kéo nó lại gần, hôn lên trán:

– Bé ứng phó mau thực. Tại sao bé không đỡ đòn của cô mà chỉ tấn công thôi. Quyền pháp phái Đông-a nghiêm chỉnh, kín đáo. Bao gìơ cũng bảo vệ hạ bàn rất vững, mà bé không bảo vệ, chỉ lo tấn công?

Tuấn kính cẩn nói:

– Thưa quận-chúa. Nếu người tấn công cháu là kẻ thù thì cháu phải thủ cho chắc rồi mới phản đòn. Còn đây quận chúa muốn thử nghiệm võ công của cháu. Mà thử nghiệm là gì? Tức muốm biết bản lĩnh của cháu. Quận chúa đâu phải kẻ thù? Đã không phải kẻ thù thì quận chúa tấn công chỉ là gỉa. Gỉa thì không cần đỡ. Không lẽ quận chúa là người lớn lại đánh chết cháu?

Thình lình Bảo-Hòa xỉa tay vào mặt Tuấn. Nó trầm người xuống tránh khỏi, rồi bật ngược người lên, hai chân đá hậu vào cổ nàng. Bắt buộc Bảo-Hòa phải lùi lại hai bước để tránh đòn. Chân nàng quét dưới đất. Nếu trúng hai tay, nhất định Tuấn sẽ ngã lộn đi một vòng. Nó co tay lại, rồi duỗi ra thực mạnh, người vọt lên cao. Nó lộn một vòng. Chân phải nó đá vào huyệt Nhân-nghinh trước cổ, chân trái đá vào huyệt Hạ-quan bên tai. Bảo-Hòa chụp hai chân Tuấn. Nàng không dám dùng kình lực, sợ nó bị thương. Còn ở trên cao, nó co chân lại, hai tay biến thành chỉ, xỉa vào tay nàng. Bắt buộc Bảo-Hòa phải lui lại hai bước nữa.

Thân Bảo-Hòa gật đầu:

– Đứa trẻ này đã nhanh trí, lại minh mẫn, sự nghiệp sau này không nhỏ. Này Tuấn, sau này lớn lên cháu định làm gì?

Tuấn chắp tay:

– Thưa quận-chúa, cháu sẽ phải như Bắc-bình vương Đào Kỳ, hay ít ra cũng phải như Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung.

Huệ-Sinh bật lên tiếng :

– A-di-đà Phật. Trung-tín hầu, Bắc-bình vương sinh vào thời loạn thì mới có sự nghiệp trùm hòan vũ. Chứ nay con sinh vào thời bình thì sao thi hành được cái chí đó?

Ngô Tuấn kính cẩn chắp tay:

– Bạch đại-sư, Đại-việt mình không bao giờ có thái bình cả.

Thanh-Mai gật đầu liền ba lần, rồi hỏi:

– Tuấn, tại sao con bảo Đại-Việt không

bao giờ có thái bình?

Tuấn nhìn bố, nhìn mẹ rồi nói:

– Bố với mẹ cháu thường bàn rằng kể từ nghìn xưa, người Trung-quốc ảnh hưởng bởi các văn gia, tự coi mình là thiên hạ. Ông vua nào cai trị Trung-quốc cũng bắt các nước phải tuân phục. Hễ nước nào không tuân phục thì họ đem quân đánh. Như Đại-việt hiện nay tuy có thái bình, nhưng phương Bắc người Tống không ngừng kiếm truyện. Phương nam họ xúi Chiêm-thành cướp phá. Vậy thì thái bình ở chỗ nào.

Tịnh-Huyền hỏi:

– Nếu như con là vua Đại-việt, thì con làm gì?

– Con không bao giờ muốn làm vua. Có muốn làm cũng không được. Con chỉ muốn được cầm quân. Nếu con cầm quân, thì trước tiên đánh Chiêm cho chúng sợ, không dám quấy phá. Rồi đem quân đánh sang Trung-quốc đòi lại đất cũ thời vua Hùng.

Huệ-Sinh gật đầu tỏ vẻ tán thành. Ông hỏi Ngô An-Ngữ:

– Lý luận của cháu thực là lý luận của hào kiệt. Không biết Ngô tướng quân đã đặt tên tự cho cháu chưa?

– Bạch đại sư chưa. Xin đại sư ban cho cháu một tên tự.

Huệ-Sinh ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

– Được, tôi đặt cho cháu tên tự là Thường-Kiệt. Trên đời này, tất cả đều là vô thường. Nhưng tinh khí anh kiệt thì muôn thủa. Vì vậy cháu phải xứng đáng với chữ thường kiệt.

Ngô Tuấn chắp tay tạ ơn:

– Đa tạ đại sư. Đệ tử nguyện ghi lời đại sư dạy dỗ.

Thường-Kiệt ngừng lại hỏi Thân Bảo-Hòa:

– Thư cô, cô nhận cháu làm đệ tử có được không?

Bảo-Hoà vuốt tóc nó:

– Được chứ, bây giờ thì cô chưa đủ bản lĩnh dạy cháu. Cháu cứ học với bố mẹ đi, lớn lên cô sẽ thu làm đệ tử.

Mỹ-Linh kéo Thường-Kiệt lại ngồi bên cạnh:

– Cháu học văn chưa?

– Có, cháu đã học Tứ-thư. Còn Ngũ-kinh mới bắt đầu. Cô ơi, tại sao mình không có chữ, mà phải học chữ của người Tầu?

Mỹ-Linh khẽ cắn vào má Thường-Kiệt:

– Mình có chữ đấy cháu ạ. Thời cổ mình có văn-tự Khoa-đẩu. Sau thời Lĩnh-nam, người Tầu cai trị mình, họ cấm không cho học, bắt học chữ Nho. Bao nhiêu sách vở chở về Tầu hết. Vì vậy những sách của mình viết vào thời Hùng-vương, An-dương-vương có hàng nghìn, hàng vạn, mà nay không còn lưu giữ được bộ nào cả. Thời Tần Thủy-hòang về trước, học thuật Trung-quốc rực rỡ vô cùng. Bách-gia, chư tử đều khởi từ đó. Bên mình thịnh hơn. Thế mà nay người Việt chỉ biết sách vở Tầu mà thôi, vì sách Việt thất truyền.

Thường-Kiệt nhăn mặt:

– Không lẽ trên toàn nước Việt mình, nay không còn ai biết chữ Khoa-đẩu?

Câu hỏi của thằng bé không ai trả lời được, người nọ nhìn người kia. Lê Thuận-Tông cũng thắc mắc với Tịnh-Huyền:

– Bạch sư phụ, theo con nghĩ thì mình chẳng nên tìm bộ Dụng binh yếu chỉ cùng bộ Lĩnh-nam vũ-kinh làm chi. Vì hai bộ đó viết bằng văn-tự Khoa-đẩu. Dù mình có tìm được cũng vô ích mà thôi. Câu nói của Lê Thuận-Tông kéo mọi người về thực tại: đang phải đối phó với các đoàn dò thám của nước Tống. Khai-quốc vương cùng Tôn Đản, Trần Tự-Mai không biết đi đâu?

Tịnh-Huuyền nói:

– Việc ở đây coi như tạm xong. Bắc biên cương không thể vắng mặt chủ soái lâu ngày. Thừa-Qúi với Bảo-Hòa phải lên đường về Bắc-biên ngay. Bần ni cùng với Lê Thuận-Tông, Trần Anh trở về Mê-linh. Nùng đạo sư cần dẫn Hà Thiện-Lãm về tổng đàn cho làm lễ nhập môn.

Bà chắp tay nói với Huệ-Sinh:

– Bồ nhi cùng với Tự-Mai, Tôn Đản không biết bao giờ trở lại. Phiền đại-sư cùng Thanh-Mai ở lại chờ bọn họ.

Phò-mã Thân Thừa-Qúi nói với Tôn Trung-Luận:

– Tôn tiên sinh, xin tiên sinh chuẩn bị hành trang cùng gia đình, lên đường với chúng tôi cho tiện. Cháu Đản đi với Khai-quốc vương, khi việc kết thúc sẽ cũng lên Bắc-biên sau.

Công-chúa Bảo-hòa hạ lệnh:

– Bọn Tống bằng đủ mọi cách ắt trở lại đây. Việc đầu tiên, chúng sẽ lật tường viên gạch, viên ngói ở đền thờ Nhâm-Diên tìm di thư. Vậy Tạ điện-súy cùng Hàn sư muội ở lại canh chừng đền thờ Tương-liệt đại-vương, Lệ-hải Bà-vương. Võ công chúng rất cao thâm, tuyệt đối không được giao chiến với chúng. Nếu cần dùng quân sĩ với cung nỏ. Chúng có làm bậy, chỉ cần xuất hiện chúng thấy động sẽ bỏ đi. Ngô tướng quân cùng Hàn sư muội trấn ngoài đảo Nghi-sơn, chu toàn nhiệm vụ Khu-mật-viện giao cho.

Bà nói với con gái, con trai:

– Mặc dầu có Đàm an-vũ-sứ, cùng Nguyễn Khánh theo kèm sứ-đòan. Tuy vậy ta cũng không an tâm. Hai con tiếp tục theo dõi chúng, dù phải sang Chiêm.

Bà nói với Thanh-Mai:

– Sư muội biết nói tiếng Chiêm, tiếng Hán. Võ công kiến thức sư muội không mấy người có. Ta nhờ sư muội theo giúp hai con ta.

Mỹ-Linh thấy sắp phải về Thăng-long. Mắt nàng đỏ ngầu, long lanh muốn khóc. Nàng nói với công-chúa Bảo-hòa:

– Cô ơi. Cô cho con ở lại đây chờ chú hai. Đây là lần đầu tiên con gặp chị Bảo-Hòa cùng anh Thiệu-Thái. Cô cho con ở lại đi, để chúng con có dịp truyện trò với nhau.

Thấy từ lúc gặp nhau, Thiệu-Thái, Mỹ-Linh truyện trò rất tương đắc, không muốn xa nhau. Thân Thừa-Qúi vốn dễ tính hơn vợ. Ông sợ vợ bắt cháu về Thăng-long. Ông nói :

– Ừ cháu ở lại. Khi bác về qua Thăng-long thế nào cũng vào hội kiến với bố cháu. Bác sẽ nói với bố cháu cho.

Ông dặn hai con:

– Bình-Dương chưa từng ra ngoài nhiều. Các con phải chiếu cố cho em nghe .Nếu có gì sơ xẩy thì bố đánh què cả hai. Mọi việc nhất thiết phải nghe lời dạy dỗ của đại-sư Huệ-Sinh.

Mọi người lên đường tức thì.

Huệ-Sinh nói với Đinh Ngô-Thương:

– Sau đây chúng tôi không giám làm phiền đại-nhân nữa. Chúng tôi xin đến chùa Sơn-tĩnh ở, hầu chờ vương-gia.

Đinh Ngô-Thương hỏi:

– Bạch thầy, nơi đây là chốn bụi hồng, sợ ô uế áo nhà Phật. Vì vậy thầy cần nơi yên tĩnh hành Thiền. Chùa Sơn-tĩnh là chi phái của chùa Tiêu-sơn. Tuy nhiên còn công-chúa, quận chúa thì sao? Vì Nguyên-Hạnh đại-sư trụ trì Sơn-tĩnh tự từ lâu, không chấp thuận cho nữ nhân ở trong chùa.

Thân Bảo-Hòa ngắt lời Đinh-ngô-Thương:

– Tôi nghe Nguyên-Hạnh đại-sư tổ chức một lực lựơng tên Hồng-hương, tiếng tăm vang dội. Tổ chức ấy như thế nào?

Đinh Ngô-Thương tỏ vẻ hãnh diện:

– Ngài Nguyên-Hạnh thực là đại Bồ-tát, che chở cho trấn chúng tôi. Ngài vốn bác học đa năng, thường chú ý đến thanh thiếu niên. Từ khi về trụ trì Sơn-tĩnh, ngài chiêu tập bọn vong mạng, bọn thiếu niên hư hỏng, đem về dạy dỗ, dùng các thiếu niên đó san bằng khu thung lũng hoang vu, thành lập bốn xã Sơn-tĩnh. Mang tên Đông, Tây, Nam, Bắc. Dân trong xã hoàn toàn ăn chay, sống như những tăng sĩ. Chỉ khác một điều họ được lấy vợ, lấy chồng.

Thanh-Mai đã từng nghe nói về Nguyên-Hạnh. Nàng thắc mắc:

– Thưa Đinh đại nhân, thế tại sao đại nhân lại dạy rằng ngài Nguyên-Hạnh che chở cho trấn Thanh-hóa?

Đinh Ngô-Thương vui vẻ đáp:

– Cô nương hỏi vậy thực phải. Nguyên nam nữ thiếu niên trong bốn xã Sơn-tĩnh được học văn, học võ, luyện tập, tổ chức thành đoàn ngũ như binh sĩ, lấy tên là Hồng-hương thiếu niên. Họ đều mặc quần áo nâu, cổ quàng khăn đỏ. Họ sang các làng xung quanh giúp tráng đinh canh phòng đạo tặc, giúp người gìa yếu, chăm sóc trẻ mồ côi. Thành ra trấn chúng tôi suốt bao năm qua không có trộm cắp. Tối đến đi ngủ, nhà không phải đóng cửa. Khi có trận mạc, các thiếu niên Hồng-hương theo giúp trong quân.

Huệ-Sinh nói với Mỹ-Linh, Bảo-Hòa:

– Nguyên-Hạnh đại sư là đệ tử của Bố-Đại hòa thượng đấy. Bố-Đại hòa thượng là thái sư thúc của ta. Như vậy ta phải gọi ngài Nguyên-Hạnh là sư thúc. Sư thúc không muốn cho con gái ở trong chùa, thì chẳng nên trái ý người.

Đinh Ngô-Thương tiếp:

– Các xã Sơn-tĩnh mỗi năm mở đại hội vào tháng 6-7-8 cho thập phương kéo về ăn ở trong xã, học đạo, luyện Thiền. Còn ngòai ra ngài không muốn cho đàn bà con gái lên chùa.

Mắt phượng dựng ngược, quận-chúa Thân Bảo-Hòa hỏi Đinh Ngô-Thương:

– Đại-sư Nguyên-Hạnh xuất thân từ đâu? Niên kỷ bao nhiêu rồi mà còn hồ đồ như vậy? Phàm cao tăng,thì tứ đại giai không. Nam cũng thế, nữ cũng vậy. Con chó con mèo với hòa thượng đều vô thường cả, có khác gì nhau? Sơn-tĩnh là ngôi chùa thuộc hệ thống Tiêu-sơn. Trước đây tôi đã từng ở trên chùa Tiêu-sơn được thì sao không ở trên chùa Sơn-tĩnh được?

Đinh Ngô-Thương thở đài:

– Quận chúa dạy vậy thì đúng phép Phật rồi. Song đây là môn qui của chùa Sơn-tĩnh. Bởi Sơn-tĩnh là nơi đức Phật hóa thân giáng thế đến mấy lần, trong xác tổ Vô-Ngại của phái Tiêu-sơn. Phụ thân Nguyên-Hạnh đại sư họ Hồ nguyên là người võ lâm Trung-nguyên, sang kiều-ngụ trong trấn. Đại-sư đi tu lúc mười tuổi, là người cực kỳ thông minh, học đâu hiểu đó. Đại-sư đã trứ tác nhiều sách vở về Phật-giáo. Tuy vậy đại-sư cũng không dám bỏ qui luật nghìn năm của Sơn-tĩnh.

Tính Mỹ-Linh ôn hòa. Nàng sợ người chị họ vốn tính cương cường không mấy tin Phật pháp, nếu bà chị có quyết định gì khác, phạm đến vị cao tăng, e khó ngăn cản:

– Thôi chị Bảo-Hòa, Phật giáo có muôn vàn pháp môn. Chúng ta theo Thiền-tông thì lấy yếu chỉ kinh Kim-cương, Lăng-gìa làm lẽ chính. Vua cũng thế, tôi cũng vậy, chó, gà cũng không kém. Ta chẳng nên bắt người khác theo mình. Chị em ta cứ ở nhờ trong dinh tổng-trấn là được rồi. Tuy nhiên Sơn-tĩnh là nơi đức Phật phân thân giáng-sinh, chúng ta cần tới hành hương. Một là lễ Phật, hai là thăm danh lam thắng cảnh.

Mỹ-Linh kính cẩn nói với Huệ-Sinh:

– Sư-phụ. Bao gìơ sư-phụ lên chùa Sơn-tĩnh?

– Ngay bây giờ.

Nàng chỉ Thiệu-Thái, Bảo-Hòa:

– Xin sư phụ cho chúng con đi cùng.

– Con là đệ tử Tiêu-sơn, đương nhiên đến vùng Cửu-chân thì phải lên chùa Sơn-tĩnh lễ Phật. Kể từ khi bản-phái được thành lập, thì chưởng môn bao gìơ cũng trụ trì tại Tiêu-sơn. Vị chưởng-môn sẽ chọn trong tăng chúng, vị đạo hạnh cao nhất, cử vào trụ trì chùa Sơn-tĩnh. Sơn-tĩnh vẫn là ngôi chùa thuộc quản nhiệm của bản phái.

Khi Mỹ-Linh chuẩn bị lên đường, nàng đọc được trên mặt Tạ Sơn những nét lo âu. Biết tính người sư-huynh vốn cẩn thận, tận tụy. Nàng nói mấy câu an ủi:

– Sư huynh khỏi lo cho em. Em theo sư-phụ lên chùa lễ Phật. Cạnh còn chị Thanh-Mai, anh Thiệu-Thái, chị Bảo-Hòa, thì dù bọn Tống có hung dữ đến đâu, chúng cũng chẳng làm gì đựơc em.

Thanh-Mai hỏi Thân Bảo-Hòa:

– Thân quận chúa.Tôi nghe nói khắp Lĩnh-nam mình, phái Sài-sơn là hậu duệ của Phù-đổng thiên vương, thì thuật kỵ-mã đứng đầu. Thứ đến phái Tây-vu. Vậy bản lĩnh kỵ mã của quận chúa hẳn không ai bì kịp. Nhất là bản lĩnh đang phi ngựa, đổi ngựa cho nhau.

Bảo-Hòa cười:

– Em sống ở trên rừng, lại sát biên giới, bắt buộc từ sáu tuổi phải biết cỡi ngựa. Bản lĩnh tuy cũng khá, song không bõ làm trò cười cho chị.

Mỹ-Linh nói với Bảo-Hòa:

– Chị dạy em thuật đổi ngựa đi.

Ngựa Huệ-Sinh, Thanh-Mai là chiến mã của phủ Khai-quốc vương, to lớn hùng dũng. Còn ngựa của Bảo-Hòa là ngựa rừng, nhỏ con, trông không xứng tý nào cả. Còn Thiệu-Thái thì cỡi con cọp mầu đen như nhung. Mỹ-Linh hỏi:

– Anh Thái này, làm cách nào con hùm xám này chịu để cho anh cỡi. Lỡ ra nó táp anh một miếng thì sao?

Thiệu-Thái cười:

– Ở Lạng-châu, ai cũng nuôi thú rừng giữ nhà hoặc săn bắn. Con hùm này mồ côi mẹ từ bé. Anh đi săn gặp nó bơ vơ một mình. Anh bắt dem về nuôi. Nó chơi đùa với Bảo-Hòa suốt ngày. Hồi đầu nó đữ lắm. Sau này Bảo-Hòa thường uốn nắn, huấn luyện nó , riết rồi nó trở thành hiền như con mèo.

Thiệu-Thái hú một tiếng dài. Con cọp đang nằm ở gốc cây đứng dựng dậy, chạy lại vẫn đuôi như con chó. Bảo-Hòa ôm lấy cổ nó, vuốt lên bộ lông đen bóng. Nó liếm tay Bảo-Hòa như …chó. Bảo-Hòa nói với nó:

– Sơn-Sơn ơi, mi phải ngoan ngõan với Mỹ-Linh nghe. Mỹ-Linh bảo gì mi cũng phải tuân như tuân lệnh cô, thì cô mới thương nghe.

Con hùm gật gật cái đầu. Mỹ-Linh vọt lên lưng nó. Bảo-Hòa hô:

– Phi.

Con cọp phóng theo đàn ngựa. Thiệu-Thái cỡi ngựa của Mỹ-Linh. Ngựa của Huệ-Sinh, Thanh-Mai, Thiệu-Thái phải có cương. Còn ngựa của Bảo-Hòa, cũng như con cọp, không cương. Bảo-Hòa điều khiển như điều khiển người. Ngựa Bảo-Hòa phi song song với ngựa Thiệu-Thái. Thình lình nàng quát lên một tiếng. Cả hai anh em vọt lên cao. Nàng đáp xuống lưng ngựa Thiệu-Thái, Thiệu-Thái đáp xuống lưng ngựa nàng. Bảo-Hòa nói với con cọp:

– Sơn-Sơn ơi, đi chậm lại, ngang với ngựa của cô đi.

Con cọp chạy chậm lại. Bảo-Hòa nói với Mỹ-Linh :

– Em vận khí vào đơn điền, rồi dẫn chân khí theo túc Dương-minh vi-kinh, túc Thái-âm tỳ-kinh đến huyệt Túc-tam-lý, Âm-lăng-tuyền, sau đó vọt lên cao theo thức Thần-ưng lăng không, em sẽ đáp lên lưng ngựa chị. Chị cũng sẽ vọt lên lưng con hùm.

Mỹ-Linh vận khí thử một lần, thấy không có gì khó khăn. Nàng làm lại ba lần cho ăn chắc, rồi vọt lên cao. Nhưng thay vì vọt về trước, nàng lại chỉ lên thẳng. Thành ra khi nàng rơi xuống, thì ngựa Bảo-Hoà cũng như con hùm đã tới trước. Thế là nàng rơi xuống đất. Nàng phải vận khí để đáp xuống, thì con hùm phản ứng rất nhanh. Nó ghì chân trước, hai chân sau, theo đà của mình quay một vòng, đầu nó đã trở ngược chiều, nó vọt tới, vừa đúng lúc Mỹ-Linh đặt chân xuống lưng nó. Không cần điều khiển, nó lại quay một vòng, chạy theo đàn ngựa.

Nói thì chậm, chứ động tác Mỹ-Linh vọt lên. Con cọp ghì chân trước quay một vòng, vọt tới đỡ chân chủ, rồi quay một vòng nữa, tiếp tục phi… xẩy ra trong chớp nhoáng.

Bảo-Hòa nói vọng sang:

– Bình-Dương ơi, khi em vọt, thì phải tính tới truyện ngựa đã tới phía trước mấy bước. Vì vậy em phải vọt về trước thay vì lên cao. May mà con hùm nó biết, lùi lại đỡ em. Chứ không em đã rơi xuống đất. Em làm lại đi.

Mỹ-Linh quát lên một tiếng người vọt lên cao, về phía trước. Người nàng rơi xuống vừa đúng lúc con cọp chạy tới. Nàng đứng trên lưng nó an tòan.

Bảo-Hòa tiếp:

– Bây giờ em lại ngồi xuống lưng hùm như thường. Được rồi. Em hít hơi tụ khí vào trung Đơn-điền, rồi dẫn tới huyệt Túc-tam-lý, Âm-lăng-tuyền như hồi nãy, sau đó vọt lên xéo về trước ngựa chị.

Mỹ-Linh vọt lên như Bảo-Hòa nói. Nàng đã đáp trên lưng ngựa của mình. Ngược lại Bảo-Hòa đáp trên lưng cọp. Thiệu-Thái nhìn Bình-Dương, lòng chan chứa niềm vui:

– Bây giờ Bình-Dương, Bảo-Hòa với anh cho ngựa chạy song song… Được rồi. Bình-Dương với Bảo-Hòa đổi ngựa. Sau đó Bình-Dương đổi ngựa với anh.

Ba anh em vừa phi ngựa, vừa đổi ngựa. Hai con ngựa, một con cọp vẫn phi song song, bụi bay mịt mù.

Từ dinh tổng-trấn Cửu-chân đến chùa Sơn-tĩnh phải mất nửa ngày sức ngựa. Ba người vừa đi, vừa đổi ngựa trên không. Trong khi đó thì Huệ-Sinh giảng kinh cho Thanh-Mai nghe. Từ lúc biết Huệ-Sinh kết huynh đệ với bố mình, Thanh-Mai không cần gĩư ý tứ, lễ nghi khách sáo. Nàng biết nội công phái Đông-a nhà mình phát xuất từ phái Tiêu-sơn. Ngược lại ngoại công phái Tiêu-sơn lại phát xuất từ phái Đông-a. Mà nội công phái Tiêu-sơn lại rút từ yếu-chỉ kinh Tượng-đầu, Lăng-gìa. Nàng hỏi:

– Thưa sư bá. Hôm trước, thiền-sư Minh-Thiên, thủ tọa Đạt-ma đường phái Thiếu-lâm lúc đầu cứ lầm rằng chưởng pháp của Tiêu-sơn với Thiếu-lâm là một. Rồi sau chỉ đấu một chiêu với anh cả, mà nhận ra chỗ khác biệt giữa Tiêu-sơn Tượng-đầu chưởng với Thiếu-lâm Kim-cương chưởng là tại sao?

Minh-Thiên đáp:

– Trước hết Tượng-đầu chưởng rút yếu chỉ nội công từ kinh Tượng đầu tinh xá. Kim-cương chưởng rút yếu chỉ từ kinh Kim-cương. Cả hai cùng gốc từ pháp môn Thiền-na nhà Phật. Cả hai cùng có chủ yếu là bỏ ra ngòai Nhân, ngã tứ tướng. Tức khi nhập Thiền, bỏ ra ngòai Lục-căn tức Nhãn-căn, Nhĩ-căn, Tỵ-căn, Thiệt-căn, Thân-căn, Ý-căn. Tức nhìn mà không thấy, nghe mà không biết, ngửi mà không triệt hương, lưỡi tuy có, mà không cảm thấy vị, thân tuy tại thế, mà tự biến đi không biết, ý không tức tư tửơng không họat động… Bởi vậy phần nội công hai pho chưởng giống nhau. Còn khác nhau là Kim-cương chưởng do tổ thứ tám của phái Thiếu-lâm chế ra, sức mạnh vô song. Nhưng sức ấy chỉ hóa giải lực đối phương, tuyệt không phản kích.

Thanh-Mai ngắt lời:

– Như vậy thì chưởng pháp Thiếu-lâm chẳng có ích gì sao?

– Không phải tất cả Thiếu-lâm chưởng đều dùng để hóa giải, mà chỉ có Kim-cương chưởng mới hóa giải mà thôi. Còn Tiêu-sơn Tượng-đầu chưởng do tổ Duy-Giám của Tiêu-sơn chế ra. Sự thực tổ Duy-Giám không phải là người khởi chế ra. Tổ chỉ nhân Thiên-ưng chưởng, sửa đổi cho bớt hung hiểm mà thôi. Như cháu biết, Thiên-ưng chưởng đo tổ sư phái Đông-a dùng Thiền-công phái Tiêu-sơn chế ra. Vì vậy Tiêu-sơn Tượng-đầu chưởng phát ra vừa có cái nhu hòa, hóa giải lực đối thủ của nhà Phật, vừa có cái sát thủ đượm phong lôi, thủy, hỏa, ghê gớm của tục gia.

Thanh-Mai vẫn nghe biết rằng tổ của nàng là Trần Tự-Viễn nhân học Thiền-công phái Tiêu-sơn rồi thành lập phái Đông-a. Song nàng chưa được phân giải rõ ràng. Hôm nay nghe Huệ-Sinh giảng, nàng như sáng mắt ra. Nàng hỏi:

– Trong Đông-a chưởng pháp, phân rõ rằng khi phát chưởng, thì thận khí thuộc thủy, tâm-khí thuộc hỏa. Phải làm sao cho thủy chế được hỏa, thì sức mới mạnh. Hiện trong phái Đông-a rất ít người có khả năng vận khí thăng bằng thủy hỏa. Cháu đã nhiều lần thử, mà không thành công. Bố cháu bảo rằng muốn đạt tới trình độ đó phải trên bốn mươi tuổi. Thưa sư bá, sư bá có cách nào giúp cháu vượt qua cái khó khăn ấy không? Thế trong phái Tiêu-sơn, thủy hỏa khác nhau ra sao?

Huệ-Sinh mỉm cười:

– Để ta đọc cho cháu nghe:

Thủy hỏa nhật tương tham,
Do lai vị khả dàm.
Báo quân vô sở xứ,
Tam tam, hựu tam tam.
Tự cổ lai tham học,
Nhân, nhân chỉ vị Nam.
Nhựơc nhân vấn tân sự,
Tân sự nguyệt sơ tam.

Thanh-Mai đã nghe bố nói rằng Huệ-Sinh là một cao tăng đắc đạo, thành Bồ-tát rồi, song vẫn chưa rời thế tục, nguyện ở lại giúp thế gian. Bây giờ nghe ông đọc bài kệ, nàng tự nghĩ thầm:

– Sư bá muốn dạy thêm Thiền-công cho mình, mà không muốn trực tiếp giảng. Bài kệ trên nói: Thận khí là nước với tâm khí là lửa, hàng ngày vốn có sẵn trong người, kiềm chế lẫn nhau. Nguồn gốc của chúng không thể bàn đến được. Ta nói cho cháu biết chúng không có xứ sở. Ba với ba cộng thành sáu. Tại sao sáu vẫn là sáu? À phải rồi trong kinh Thủ-lăng-nghiêm có nói rằng : «Nhất căn ký phản nguyên. Lục căn thành giải thoát. » Nghiã là một căn đã hoàn nguyện. Sáu căn thành giải thoát. Trong phép luyện Thiền-công, nếu luyện căn nào mình cho là quan trọng. Căn đó thành rồi thì năm căn khác cũng đạt được. Đọan dưới người muốn nói gì? Từ xưa đến giờ người đến học đạo, luyện công đều chỉ có một phương hướng. Nếu nay có ai hỏi cái mới, thì cái mới cũng như trăng mồng ba. Trăng mồng ba là trăng mới ló, vậy tức phải trở lại nguồn gốc.

Thanh-Mai vừa tìm được một tia sáng, yếu chỉ Thiền-công Tiêu-sơn. Nàng hướng vào Huệ-Sinh:

– Đa tạ sư bá chỉ điểm.

Huệ-Sinh mỉm cười:

– Cháu hít hơi, dẫn khí theo Đốc-mạch, tới huyệt Chí-dương thì chia làm hai. Một cứ tiếp tục dẫn theo Đốc-mạch tới huyệt Mệnh-môn. Sau đó dẫn khí từ huyệt Chí-dương vào tâm, cùng một lúc dẫn khí từ huyệt Mệnh-môn vào thận. Cuối cùng giáng khí từ tâm xuống thận.

Thanh-Mai vận khí như Huệ-Sinh giảng, quả nhiên nàng cảm thấy chân khí nhộn nhạo tụ vào đơn điền mạnh vô cùng. Huệ-Sinh vẫy tay cho anh em Thiệu-Thái, Bình-Dương cứ tiếp tục đổi ngựa, phi ngựa. Ngựa ông với Thanh-Mai lùi lại sau. Ông chỉ vào khu rừng ven đường:

– Ta tạm vào đó.

Hai người ghì ngựa dừng lại. Huệ-Sinh chỉ vào cây thông bằng cổ chân, bảo Thanh-Mai:

– Cháu vận Đông-a chưởng pháp đánh vào cây này cho sư bá xem nào?

Thanh-Mai hít hơi, vận khí phát chiêu Thủy ba vô để hướng vào gốc cây. Chưởng phong ào ào phát ra. Bộp một tiếng, cây rung rinh như bị bão, nhưng không gẫy. Nàng đỏ mặt:

– Công lực cháu thấp qúa không bõ làm trò cười cho sư bá.

Huệ-Sinh vẫy tay:

– Cháu còn trẻ. Công lực thấp thì tập sẽ cao. Không có ai sinh ra mà biết hết cả. Nào, bây giờ cháu vận khí theo Đốc-mạch dẫn đến huyệt Mệnh-môn rồi đưa vào thận. Sau đó chuyển ra Nhâm-mạch, dẫn vào Thủ-tam-âm kinh, rồi lại phát chiêu Thủy ba vô để.

Thanh-Mai vận khí lần thứ nhất, không thông. Đầu óc nàng chóang váng. Huệ-Sinh búng tay một cái, viên sỏi từ tay ông kêu rít lên vo vo, trúng giữa huyệt Đại-trùy của nàng. Nàng cảm thấy như người bay bổng lên, cái chóng mặt biến mất. Huệ-Sinh nhắc nhở:

– Phàm vận khí theo Thiền-công, phải bỏ ra ngoài lục căn. Sắc tướng, lục căn làm cho khí phân tán khắp cổ, vì vậy bị nghẹt tại huyệt Đại-trùy. Bây giờ cháu vận lại một lần nữa.

Thanh-Mai tập trung tinh thần, nhắm mắt. Đầu tiên bỏ ra ngòai tiếng động xung quanh. Quả nhiên một căn bỏ ra được, năm căn còn lại cũng biến mầt. Lần thứ nhì nàng được như ý muốn. Chưởng phong phát ra không có gió. Chưởng trúng vào thân cây, phát ra tiếng bịch. Tiếng kêu vang đi rất xa, kéo dài như một luồng sóng biển, liên miên không ngừng.

Huệ-Sinh hỏi:

– Cháu thấy thế nào?

– Bạch sư bá, cháu hiểu rồi. Chưởng đầu cháu phát ra, dùng chân khí hỗn hớp của cơ thể, nên âm dương thăng bằng. Vì vậy cây rung lên thực mạnh. Chưởng sau cháu phát ra sử dụng thận khí. Thận chủ thủy, thuộc thuần âm, nên chưởng phát không có gió, trái lại sức âm nhu trấn động rất đài.

Huệ-Sinh gật đầu:

– Cháu thông minh thực. Ta e rằng còn hơn thân phụ cháu. Bây giờ cháu lại vận khí theo Đốc-mạch, dẫn đến huyệt Chí-dương, đưa vào tim. Rồi từ tim, cháu chuyển khí ra Thủ-thiếu-âm tâm kinh, Thủ-khuyết-âm tâm bào kinh, cuối cùng lại phát chiêu Thủy ba vô để xem nào!

Thanh-Mai hít hơi vận khí, phát chiêu. Chưởng phong phát ra ào ào như sóng vỗ, cát bụi bay mịt mù. Cây bật lên tiếng rắc, rồi đổ xuống.

Thanh-Mai trợn tròn mắt ra vì ngạc nhiên. Nàng không ngờ chưởng lực của mình lại mạnh như vậy. Huệ-Sinh như biết nàng định đặt câu hỏi, ông vẫy tay:

– Cơ duyên chỉ có chốc lát. Cháu gắng mà học. Đừng thắc mắc nữa. Nào bây giờ cháu vận khí như ta dạy, dẫn khí vào tâm, thận cùng một lúc, rồi đưa tâm khí, thận khí vào đơn điền, chuyển ra Đốc-mạch, đưa vào Thủ-tam-dương kinh, sau đó phát chưởng.

Thanh-Mai vận khí xuất chiêu, hướng vào gốc cây. Chưởng phong phát ra như cơn gió lốc. Binh một tiếng, gốc cây bật tung lên cao, rồi rơi xuống. Nàng chạy lại xem, thì gốc cây bị tiện đứt bằng phẳng như tiện.

Huệ-Sinh giảng:

– Cái khó nhất khi luyện Thiền-công là bỏ ra ngoài Lục căn. Trong khi giao đấu, muôn hình, ngàn trạng hiện ra, rồi lo lắng, rồi hiếu thắng…Vậy phải làm thế nào bỏ được Lục-căn?

Thanh-Mai lắc đầu:

– Cháu không làm được như thế.

– Làm được chứ! Bản sư cháu có dạy cháu kinh Bát nhã ba la mật đa tâm kinh rồi mà. Phàm trước khi đọc kinh, muốn lòng trong sáng như trời không mây, thì người Phật tử phải khởi đầu bằng kinh Bát-nhã. Sau đó muốn tụng kinh gì thì tụng. Đôi khi tụng kinh rồi, không hiểu nổi, lòng vướng mắc, phiền tạp, thì một lần nữa tụng kinh Bát-nhã, lòng trong sáng trở lại.

Những điều Huệ-Sinh giảng, Thanh-Mai đã được Tịnh-Huyền dạy rồi. Có điều nàng không ngờ giữa tụng kinh với luyện công lại là một. Như tỉnh ngộ, nàng nói lớn lên:

– Cháu hiểu rồi. Sư phụ dạy cháu Phật-pháp có muôn vàn pháp môn, nhưng chung qui vẫn chỉ có một mối. Đạo Thế-tôn vô thủy vô chung.

Huệ-Sinh vui vẻ:

– Từ sau này luyện công,cháu đừng quên những gì học hôm nay, cũng như những điều tự khải ngộ. Thôi ta đi.

Hai người lên ngựa, chạy theo anh em Thiệu-Thái, lát sau đuổi kịp.

Bảo-Hòa tinh ý, quay lại nói với Thanh-Mai:

– Những người có duyên phần từ kiếp trước, thì kiếp này trước sau gì cũng gặp nhau.

Huệ-Sinh mỉm cười. Đến đó ông chỉ về dẫy núi xa xa:

– Kìa là chùa Sơn-tĩnh.

Trên ngọn núi xa xa, mây trắng trôi qua, khi khuất, khi hiện một dẫy nhà ngói đỏ, giữa những lùm cây xanh rì. Ngựa phi một lát đã tới gần. Ngọn núi không cao, đứng dựng giữa cánh đồng lúa con gái xanh rì. Trên đồng nhấp nhô những người đánh kỳ, tát nước. Họ thấy bốn con ngựa, một con hùm phi như bay, thì dừng tay đứng nhìn. Tới chỗ đường quẹo vào chân núi, cả năm người gò cương ngựa đi chậm lại. Hai cô gái đang tát nước nhìn thấy Thân Thiệu-Thái nói bâng quơ:

– Chàng này coi được quá.

Một cô khác tiếp:

– Người gì mà béo ụt, béo ịt, giống con lợn nhà mình quá.

Các cô cùng cười lên. Một cô tiếp:

– Nếu đem bán lợn đứng, cũng được mấy quan tiền đấy.

Một cô thêm:

—Thôi để em đem chàng lợn về làm chồng. Có lợn còn hơn nằm không.

Nói rồi cô cất tiếng ngâm sa mạc:

Hỡi anh đi đường cái quan,
Dừng chân đứng lại em than đôi lời.

Các cô gái nông thôn thường hát trêu ghẹo con trai qua đường, Thiệu-Thái thấy đã thường, chàng lờ đi như không biết. Còn nếu chàng hỏi han điều gì, các cô sẽ hát trêu tiếp, không biết đâu mà trả lời. Còn Mỹ-Linh lần đầu tiên được nghe hát Sa-mạc, nàng hỏi cô gái:

– Chị ơi! Chị muốn hỏi anh tôi điều gì?

Cô gái vừa hát cười:

– À, tôi muốn hỏi khi khăn của anh cô rơi thì ai nâng cho. Lại khi túi của anh ấy rách thì ai sẽ sửa cho?

Mỹ-Linh hỏi Thanh-Mai:

– Thế nghĩa là gì?

Thanh-Mai đáp:

– Cô ấy muốn hỏi anh Thiệu-Thái có vợ chưa đấy.

Bảo-Hòa nói sẽ:

– Để chị trả lời cho.

Nàng cất cao giọng hát:

Đối địch thì dịch lại đây,
Bên thừng bên chão xem dây nào bền.

Cô gái cũng không vừa:

Đêm qua trời sáng trăng rằm,
Anh đi qua cửa, em nằm không yên.
Mê anh chẳng phải mê tiền,
Mê anh béo ị giống con lợn sề.
Thấy anh em tưởng ngủ mê,
Tưởng rằng lợn đực đem về giết ăn.

Thân Thiệu-Thái hát đáp lại:

Đố ai đốt cháy ao bèo,
Để ta gánh đá bên đèo về ngâm.
Bao giờ cho đá mọc mầm,
Thì ta kết nghĩa tri âm với nàng.

Một cô gái cười khúc khích:

– Anh ơi, làng em năm nay thiếu một ông ỉn. Xin mời anh về làng thay thế ông được không? Cam đoan cả làng sẽ chiều chuộng anh hết sức.

Thiệu-Thái ngơ ngác:

– Ông ỉn là ông gì vậy?

Đến đó, Thiệu-Thái phải cho ngựa chạy theo Huệ-Sinh, vì ông đã đi khá xa. Một cô gái không chịu thua hát vọng theo:

Ba cô cỡi ngựa lên chùa,
Cái cô áo trắng bỏ bùa cho sư.
Sư về sư ốm tương tư.
Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu,
Ai làm cho dạ sư sầu,
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây.

Huệ-Sinh là cao tăng đắc đạo, ông đã vượt ra khỏi vòng nam, nữ. Vì vậy khi nghe cô thôn nữ hát ghẹo, ông cười khoan thứ:

– Trước đây bần tăng nghe nói con gái xứ Thanh-hóa miệng cười tươi như hoa, mà rút kiếm chém giặc lúc nào không hay. Hôm nay mới được biết, sự thực còn hơn lời đồn.

Năm người cho ngựa men theo con đường núi lên chùa. Hai bên đường trồng hoa, cây cảnh cắt tỉa thực tinh vi. Khi mới vào dốc đường là hai cây ngâu hoa vàng, cắt tỉa thành hình hai con hạc chầu. Kế đến là những hàng thược dược mầu vàng, mầu đỏ. Qua hàng thược dược, tới ngọn suối, nước chảy róc rách. Bên bờ suối có mấy con hạc trắng dứng tỉa lông. Cạnh suối là một vùng cỏ non mọc xanh mơn mởn. Mấy con nai nằm phơi nắng dưới gốc cây.

Ngựa lên được khỏang trăm trượng, tới cổng thứ nhất. Cổng lợp ngói tráng men xanh .Cánh cửa gỗ lim mầu đen óng ánh. Cột tô son đỏ chói.

Hai nhà sư trẻ túc trực trong cánh cổng, có lẽ là tri-khách tăng. Hai người kính cẩn hành lễ:

– A-di đà Phật. Đệ tử kính thỉnh pháp danh đại-sư cùng cao danh, qúi tính các vị thí chủ.

Huệ-Sinh đáp:

– Bần tăng là Huệ-Sinh.

Rồi ông giới thiệu bọn Bình-Dương.

Hai vị tri-khách nghe đến tên Huệ-Sinh, vội vàng hành đại lễ:

– Thì ra sư bá giá lâm. Đệ tử Hạnh-Chân và Hạnh-Như kính cẩn vấn an sư bá.

Hạnh-Chân cầm dùi đánh vào cái chuông treo trước cổng năm tiếng, rồi đứng tránh sang một bên nhường lối cho Lâm-Khu đi. Hai người chạy ra cầm dây cương ngựa cột vào những cái cọc trước cổng. Khi nhận ra con cọp không cương, Hạnh-Như kinh hãy kêu lên, lùi lại:

– Ối… A-di đà Phật, ông ba mươi.

Con hùm dường như muốn trêu chọc Hạnh-Như, nó gầm lên một tiếng nhe hàm răng trắng ởn. Hai nhà sư trẻ vội núp sau Huệ-Sinh.

Thân Bảo-Hòa cười:

– Này hai tiểu sư phụ. Tôi nghe nói trong kinh Phật dạy rằng người tu hành thì dù nhảy vào miệng cọp đói, dù xẻo thịt cho chim ưng ăn cũng vui lòng, có đúng không?

Hạnh-Chân vừa run vừa đáp:

– Có…đúng như thế.

Bảo-Hòa càng đùa:

– Hai vị tiểu sư-phụ. Hai vị là đệ tử nhà Phật, vậy hãy nhảy vào miệng ông kễnh nhung đi, để thành chính qủa. Ông kễnh này đói lắm rồi đó. Hai tiểu sư phụ đi tu từ nhỏ, thân thể tinh khiết, chắc thịt thơm ngon lắm.

Con hùm hiểu được tiếng chủ. Nó lại quen lối đùa của Bảo-Hòa. Nó nhe răng từ từ tiến lại trước hai nhà sư trẻ. Hạnh-Như run rẩy:

– Ông kễnh ơi. Thịt bần tăng hôi lắm. Đã ba ngày bần tăng chưa tắm. Nếu ông kễnh ăn thịt bần tăng vào ắt sinh bệnh đấy.

Huệ-Sinh biết Bảo-Hòa đùa, ông muốn biết cô gái miền thượng-du này đùa đến đâu. Ông mỉm cười đứng nhìn. Bảo-Hòa bảo con hùm:

– Sơn-Sơn ơi, trong hai vị tiểu sư phụ đây, mi muốn ăn vị nào trước? Tội nghiệp từ sáng đến giờ mi chưa có gì bỏ bụng, chắc đói lắm rồi.

Hai nhà như thấy con hùm đến gần, thì càng run, núp sau Huệ-Sinh, miệng lắp bắp:

– Sư bá. Xin sư bá cứu đệ tử với.

Hạnh-Chân chỉ Hạnh-Như:

– Ông kễnh ơi! Ông có đói thì xơi thịt em bần tăng trước. Thịt em bần tăng mềm hơn thịt bần tăng.

Chợt có tiếng nói lớn:

– Hạnh-Chân, Hạnh-Như. Đại-hùng, đại-lực các con để đâu? Hãy can đảm tiến lên đứng đối diện với ông ba mươi xem nào. Nếu ông nhảy vào vồ, thì dùng võ công chống lại.

Hai nhà sư trẻ qua cái sợ ban đầu. Được người nhắc, can đảm trở về. Hai người đứng Đinh-tấn, quắc mặt nhìn con hùm xám. Có tiếng nói:

– Hãy đem Phật-pháp ra mà thuyết giảng.

Hạnh-Như dõng dạc nói:

– Này ông kễnh. Giữa bần tăng với thí chủ không thù, không óan. Hà cớ thí chủ lại làm dữ với bần tăng? Nếu như các tiền kiếp của bần tăng có gây nghiệp qủa với thí chủ, thì thí chủ cứ tiến đến mà đòi nợ.

Con hùm không thấy Bảo-Hòa đùa nữa. Nó lùi lại gật đầu, đứng dựng bằng hai chân sau. Hai chân trước chắp lại hành lễ với mấy nhà sư vừa từ trên núi xuống. Bảo-Hòa nhìn lại người dạy Hạnh-Chân, Hạnh-Như là một vị hòa thượng gầy người vừa phải, trông sắc tướng không lấy gì làm đặc biệt. Hai hàm răng gồ ghề, cái vàng, cái đỏ, con mắt lờ đờ như người tửu-sắc. Đi cạnh hoà-thượng là ba nhà sư trung niên khác.

Nhà sư hỏi Huệ-Sinh:

– Quốc sư. Ngọn gió nào thổi quốc-sư tới đây thăm ta.

Huệ-Sinh hành lễ:

– A Di đà Phật. Sư thúc, người vẫn thường an lạc chứ? Tiểu đồ vì lời nguyện, dùng hết sức giúp dân Việt xây dựng quốc uy, rồi mới tịch, nên theo giúp Khai-quốc vương, vì vậy mới tới thăm sư thúc.

Ông giới thiệu bọn Thanh-Mai, Thiệu-Thái, rồi ông chỉ vào vị hòa thượng:

– Vị này là Nguyên-Hạnh, sư thúc của bần tăng
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 79770
Has thanked: 35132 times
Have thanks: 45992 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: April 30th, 2017, 7:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 21st, 2017, 10:06 am


HỒI THỨ MƯỜI LĂM

Phế Đế Đinh Triều


Huệ-Sinh ngạc nhiên:

– Cứ như quận-chúa nói, thì chủ nhân của cặp ưng này là ai? Họ theo dõi hành động của Sơn-tĩnh với mục đích gì?

Bảo-Hòa đưa mắt nhìn Thiệu-Thái như muốn hỏi ý kiến của anh. Thiệu-Thái tiến lại cầm lấy chân đôi chim xem xét. Mỹ-Linh thấy đôi chim dễ thương, nàng đưa tay vuốt lông nó. Thình lìnhh nó ré lên một tiếng lớn, dương cánh xù lông, trợn mắt như định mổ tay nàng. Nàng vội vàng dụt tay lại, mắng nó:

– Loài súc sinh, mi định nhá thịt ta hả?

Thiệu-Thái an ủi Mỹ-Linh :

– Em đừng giận. Chim này do người nuôi dạy, nó rất khôn. Chỉ chủ nhân hoặc người biết cách điều khiển mới mó vào nó được. Em muốn làm thân với nó, để anh bảo nó đã.

Rồi Thiệu-Thái líu lo mấy tiếng. Đôi chim ưng hướng Mỹ-Linh gật đầu chào. Chúng cọ cổ vào bàn tay nàng. Thiệu-Thái nói:

– Chúng xin lỗi Bình-Dương đấy. Em có thể đùa với chúng được rồi.

Mỹ-Linh đưa tay vuốt ve lông chim. Thanh-Mai hỏi Bảo-Hòa:

– Tôi nghĩ người nuôi cặp chim này e không nuôi một đôi, mà còn nuôi nhiều đôi khác. Họ là ai vậy?

Thiệu-Thái nhìn về chân trời xa xa chàng nghĩ thầm:

– Đúng như Thanh-Mai nói. Người nuôi cặp chim có nhiều liên hệ với bản phái. Thân thế của người này rất cao. Mình lại không biết rõ là ai. Người này nuôi nhiều chim ưng, sai canh phòng, theo dõi động tĩnh chùa Sơn-tĩnh không biết để làm gì? Dường như mỗi ngày sai một cặp đến đây. Đại sư Nguyên-Hạnh không để ý, nên tưởng chúng chỉ là một cặp chim hoang. Ta không nên cho đại sư Nguyên-Hạnh biết vội,

Chàng nói lảng:

– Không hẳn thế! Tôi chắc chủ nhân của chúng chỉ nuôi có một đôi. Song phúc đức kém quá, chúng thấy đại sư Nguyên-Hạnh sắp đắc pháp Bồ-tát, nên đến đây chầu.

Nguyên-Hạnh nghe nói, mặt biến sắc, tự chửi thầm:

– Mình đáng chết thực, thấy cặp chim ưng thường đến đậu trên cây đa, những tưởng chúng là chim hoang, không ngờ là chim có chủ… họ dùng nhiều cặp chim theo dõi mọi động tĩnh của mình. Họ theo mình mấy năm liền, mà không ra mặt thì hẳn là kẻ thù chứ không phải người thân. Vậy mình phải cố gắng hỏi cho ra chân tướng kẻ thù mới được.

Nguyên-Hạnh cố lấy bình tĩnh trở lại:

– Cứ như thế-tử nói thì chủ nhân cặp chim ưng này thuộc phái Tây-vu?

Theo tại hạ nghĩ cao nhân này không thuộc phái Tây-vu, nhưng có liên hệ rất sâu sa.

Thanh-Mai ngơ ngác:

– Như thế nghĩa là?

Thiệu-Thái giảng giải:

– Như cô nương biết, bản phái gốc từ Hồ tiên-cô, húy Đề. Thời Lĩnh-nam thống-lĩnh toàn quân là Bắc-bình vương Đào Kỳ, tiên cô được phong công chúa, phó thống lĩnh quân mã. Sau khi vua Bà tuẫn quốc, Hồ tiên-cô ẩn thân dạy đệ tử. Vì vậy tất cả võ công các phái khác bị mai một. Duy đệ tử Tây-vu còn giữ nguyên được. Sau khi Hồ tiên-cô qui tiên, các đệ tử Tây-vu thành lập phái. Mỗi trang, mỗi động vẫn sống tự do, tự tại. Trải trên nghìn năm mà giữ trang động như thời Lĩnh-nam. Trong khi miền xuôi, bị người Hán biến thành làng xã. Đến đời ông nội tôi…

Nguyên-Hạnh tiếp lời:

– Giai đọan lịch sử này bần-tăng biết. Nội tổ của thế-tử là Thân Thiệu-Anh, võ công vô địch, một lòng với xã-tắc. Trong khi vua Ngọa-triều tại vì, người tách 207 trang động khỏi Lê triều, coi như một nước riêng biệt. Người dự định đem quân về lật đổ triều Lê. Giữa lúc đó thì đức kim thượng nhà ta được Trung-nghĩa hầu Đào Cam-Mộc cùng các tướng tôn lên ngôi cửu-ngũ. Lúc đầu người từ chối, sau quần thần khuyên can rằng nếu người không lên ngôi vua, e có nội chiến. Quân Tống nhân đó kéo sang, thì cái vạ mất nước trên nghìn năm tái diễn. Đức kim thượng đành nhận lời lên ngôi. Sau khi người lên ngôi, thì lạc-hầu Thân Thiệu-Anh gửi sứ về tỏ ý qui phục.

Thiệu-Thái gật đầu:

– Đúng như đại sư nói. Thời Lĩnh-nam, Hồ tiên-cô có tám đạo quân tham chiến, quân Hán nghe đến tên là kinh tâm động phách. Đó là Thần-ưng, Thần-hổ, Thần-long, Thần-ngao, Thần-phong, Thần-báo, Thần-tượng, Thần-hầu.

Nguyên-Hạnh chợt nhớ ra:

– Phải rồi, bản lĩnh của đệ tử Tây-vu là huấn luyện thú rừng thành binh đội. Như hồi nãy đến giờ, thế-tử, quận-chúa dùng tiếng nói của chim ưng, nói với chúng, mà sai khiến được. Vì vậy khi thấy chim ưng do người nuôi dậy thì hai thí chủ biết liền. Không lẽ người nuôi chim ưng này thuộc phái Tây-vu?

Thiệu-Thái lắc đầu:

– Không phải. Trong trên ba nghìn tiếng nói của chim ưng mà chúng tôi học để điều khiển chúng, thì có khỏang hai nghìn tiếng có từ thời Lĩnh-nam, còn lại là đời sau chế ra. Từ lúc chúng tôi nói truyện với chim ưng, thì khám phá ra rằng có nhiều tiếng tôi nói chúng không hiểu, ngược lại chúng nói nhiều tiếng, chúng tôi không hiểu. Vì vậy Bảo-Hòa mới quyết đóan chủ nhân của chúng có uyên nguyên với phái Tây-vu mà thôi.

Nguyên-Hạnh nhìn Mỹ-Linh, hỏi Thiệu-Thái:

– Phải chăng công-chúa điện-hạ đây sắp về làm dâu họ Thân?

Thiệu-Thái kinh ngạc:

– Tại sao đại-sư lại hỏi như thế? Chúng tôi là anh em con cô con cậu. Mẫu thân tôi là chị ruột của thân phụ Bình-Dương.

Huệ-Sinh mỉm cười:

– Sư thúc của bần tăng nói đúng đó. Nguyên khi đức kim thượng còn hàn vi, có kết huynh đệ với nội tổ của thế-tử. Hai bên ăn cùng mâm ,ngủ cùng giường. Có một lần người hứa sẽ gả công-chúa Hồng-Châu cho nghĩa đệ. Người còn hứa, đời đời họ Lý sẽ gả con gái cho họ Thân. Cho đến đời thân phụ của thế-tử, lại được người gả công-chúa Bảo-Hòa cho. Bần tăng nghĩ, sau này thái-tử lên nối ngôi ắt gả Bình-Dương cho thế-tử.

Bảo-Hòa lắc đầu:

– Truyện này không thể có được. Vì mạ mạ của đệ tử đã hỏi con gái động trưởng Vật-dương là Vi Huệ-Chân cho anh Thiệu-Thái rồi. Đã có Huệ-Chân, thì anh Thiệu-Thái không thể thêm Bình-Dương được. Mạ mạ sẽ cắt chân.

Hồi còn nhỏ Mỹ-Linh thường nghe mẫu thân kể cho nghe giai thọai này. Song nàng chưa đủ lớn để có ý niệm về hôn nhân. Nàng nghe nói, Lạng-châu là châu lớn nhất Đại-việt, do họ Thân cai trị, theo lối lưu truyền huyết tộc. Vì ảnh hưởng từ thời Lĩnh-nam, dân Lạng-châu theo chế độ mẫu hệ. Để tỏ lòng trung thành với nghĩa huynh, lạc-hầu Thân Thiệu-Anh cưới thái cô Hồng-Châu. Tuy nói rằng cưới, chứ sự thực đón thái-cô lên làm chúa vùng núi rừng Bắc-biên. Không ngờ thái cô Hồng-Châu say mùi đạo, không màng phú quý, bỏ đi tu, người nữ tỳ bỗng trở lên vua bà Lạng-châu. Sau đó ông nội nàng lại gả cô nàng cho con của Thân Thiệu-Anh với tỳ nữ là Thân Thừa-Qúi. Cô nàng được phong tước Lĩnh-Nam bảo-quốc hoà dân công-chúa thường gọi tắt là công-chúa Bảo-hòa. Cô nàng trở thành vua bà Lạng-châu, thống lĩnh tất cả 207 châu động vùng Bắc-biên. Cô nàng có hai con trai, không biết nàng sẽ bị gả cho ai? Nàng đưa mắt nhìn người Thiệu-Thái, quả thực là một bậc nam tử. Thân thể hùng vĩ, cử chỉ đường bệ. Khái niệm về tình yêu bỗng đến thực nhanh. Mặt nàng đỏ ửng, cúi xuống, không dám nhìn Thiệu-Thái nữa.

Thanh-Mai hỏi Mỹ-Linh:

– Này Bình-Dương, em có bao nhiêu chị em gái?

Tất cả chín người. Em là lớn nhất. Song không phải cùng mẹ. Phụ vương có tất cả bẩy vương-phi, ngoài ra còn thêm hai mươi bốn mỹ-nữ nữa.

Thanh-Mai lại hỏi Bảo-Hòa:

– Còn quận chúa. Quận-chúa có mấy anh em trai. Phụ-thân quận-chúa có bao nhiêu phi-tần?

Bảo-Hòa cười:

– Chị này lẩn thẩn. Ở Lạng-châu trên thì thờ vua Trưng, Hồ-tiên-cô. Lạng-châu tôn trọng phụ nữ. Trong 207 châu-động thì đến 99 do nữ chúa cai quản. Người tổng quản là châu trưởng Lạng-châu bao giờ cũng là nữ, thường gọi là vua Bà. Mạ-mạ tôi là đương kim vua Bà. Luật bản triều cho phép chồng có nhiều vợ. Nhưng phép vua thua lệ làng. Cả vùng Bắc-biên theo chế độ một vợ một chồng. Vợ, cũng như chồng lôi thôi là bị tội nặng. Bố chỉ có một mình mạ-mạ. Anh Thiệu-Thái lớn nhất, thứ đến anh Thiệu-Cực, cuối cùng là tôi.

Thanh-Mai cười:

– Như vậy khó biết sau này trong chín chị em của Bình-Dương, ai sẽ về làm dâu họ Thân? Từ năm mười lăm tuổi, bố mẹ Thiệu-Thái đã hỏi Vi Huệ-Chân con gái động trưởng Vật-dương cho chàng. Ngày làm lễ hỏi, chàng được thấy mặt Huệ-Chân một lần. Như tất cả các cô gái vùng thượng du khác, Huệ-Chân học cỡi ngựa, săn thú, sống với thiên nhiên. Từ đấy, cứ mỗi tiết chính chàng lại phải mang lễ vật đến động Vật-dương dâng bố mẹ vợ. Trong dịp này, chàng có dịp phi ngựa, săn thú cùng với Huệ-Chân. Hai người dần dà trở thành đôi bạn thân. Nhưng tuyệt nhiên cả hai chưa hề sinh ra một chút tình yêu trai gái nào. Mạ mạ chàng quyết định cuối năm nay sẽ cưới Huệ-Chân về Lạng-châu. Tuy sắp có vợ, mà chàng thấy rửng rưng như không. Mấy hôm nay, theo lệnh mạ mạ, chàng cùng em gái đuổi theo bọn Địch Thanh vào tới trấn Thanh-hóa thì gặp cô em họ Lý Mỹ-Linh. Khác với các cô gái thượng du chàng đã gặp. Mỹ-Linh ôn nhu, văn nhã. Nàng có một sắc đẹp huyền ảo, mờ mờ như người trong mơ. Mỹ-Linh với chàng là anh em cô cậu. Vì vậy nàng không tỵ hiềm nam nữ. Hai người gặp nhau là truyện trò không ngừng. Bây giờ nghe em gái nhắc đến mối hôn nhân với Huệ-Chân, tự nhiên chàng cảm thấy đau nhói trong tim. Bất giác chàng liếc nhìn Mỹ-Linh, buông tiếng thở dài.

Bỗng có tiếng chim kêu từ xa vọng lại, mọi người ngước mắt nhìn lên: từ phía Tây, một đôi chim ưng khác bay lại. Chúng kêu lên một tràng liên tiếp. Cặp chim ưng đang đậu trên bụi cây kêu lên mấy tiếng đáp lại, rồi vọt lên cao.

Bảo-Hòa nới với Huệ-Sinh:

– Đúng rồi. Chủ nhân thấy đến giờ, đôi chim này không về, sai đôi chim kia đi tìm.

Nàng hướng lên trời hú một tiếng dài. Đôi chim mới tới hạ cánh ngay cạnh đôi chim cũ. Thấy trên bàn có bút nghiên, Thiệu-Thái cầm bút viết liên tiếp đầy một trang giấy, rồi chàng cuộn lại, bọc thêm bên ngoài một lớp giấy nữa, rồi buộc vào chân một con ưng. Chàng huýt sáo mấy tiếng. Đôi chim cũ cất cánh bay bổng lên cao, biến vào phương trời Tây. Còn đôi chim mới bay lên cành đa cao chót vót đậu.

Thanh-Mai đứng lên nói với Huệ-Sinh:

– Trời đã về chiều, tiểu-nữ cùng Bình-Dương, Bảo-Hòa trở lại dinh tổng-trấn. Còn Thiệu-Thái, xin đại-sư chiếu cố cho.

Nguyên-Hạnh đứng lên tiễn khách:

– Rất tiếc qui luật bản tự có từ xưa, thành ra bần-tăng không thể lưu công-chúa, quận-chúa lại được. Xin hai vị đại-xá.

Trước khi rời chùa, bỗng Bảo-Hòa cất tiếng líu lô nói với Thiệu-Thái một hồi dài. Thiệu-Thái luôn gật đầu. Xuống tới chỗ cột ngựa, Bảo-Hòa nói:

– Chúng ta lấy ngựa đi. Còn con cọp này để lại đây cho anh Thiệu-Thái.

Ba người xuống đến chân núi, Mỹ-Linh hỏi Bảo-Hòa:

– Ban nãy em thấy anh Thái viết thư, chắc là gửi cho chủ của chim ưng. Anh ấy viết một thứ chữ gì kỳ lạ, em không đọc được. Rồi khi xuống núi, chị nói líu lo gì với anh Thái vậy?

Bảo-Hòa biết cô em họ chưa ra đời, ít kinh nghiệm. Nàng nói:

– Anh Thái ước đóan người nuôi chim ưng tất có liên hệ với phái Tây-vu, vì vậy anh ấy viết thư cho người ấy bằng chữ Tây-vu. Thứ nhất hỏi xem người đó là ai. Thứ nhì hỏi nguyên do nào người ấy sai chim ưng theo dõi động tĩnh của chùa Sơn-tĩnh. Chị thấy chùa Sơn-tĩnh có nhiều vẻ kỳ bí, nên dặn anh Thiệu-Thái cẩn thận đề phòng. Tiếng mà chị dùng để nói với anh Thái là tiếng Thái.

Thanh-Mai nhắc nhở:

– Khi rời trấn về Tây-vu, phò-mã dặn chúng ta phải theo dõi bọn Tống. Vì chưa chắc chúng chịu đi ngay, mà còn trở lại đền thờ Tích Quang, Nhâm Diên đào bới tìm di thư. Ông Tôn Trung-Luận đánh lừa, mà cho đến giờ phút này chúng cũng không biết.

Mỹ-Linh ngây thơ:

– Cô mẫu đã phái Đàm Tóai-Trạng theo hộ tống bọn họ. Kỳ thực để canh gác, thì sao bọn họ có thể trở lại đền Nhâm, Tích tìm di thư?

Bảo-Hòa cười:

– Em nhớ rằng bọn chúng sang Đại-Việt không phải chỉ có ba tóan. Hồi đầu chúng ta đụng bọn Triệu Huy, sau đó đến bọn Triệu Thành xuất hiện. Kế tiếp bọn Địch Thanh. Chúng còn nhiều toán nữa. Có điều tôi không rõ chúng liên lạc với nhau bằng phương tiện nào?

Thanh-Mai chỉ con đường phía trước:

– Con đường kia có hai ngả. Một ngả về dinh tổng trấn. Một ngả tiến ra biển, nơi có đền thờ Nhâm, Tích. Bây gìơ chúng ta không về dinh nữa, mà lên đường thẳng tới đền thờ thì hơn.

Ba người rẽ ngựa hướng bờ biển. Khi thấy đẫy núi xa xa, Thanh-Mai chỉ tay:

– Kìa là đảo Nghi-sơn, trên có núi Biện-sơn, chỗ tường trắng trên đỉnh núi là đền hai vị anh hùng Đào Nghi-Sơn, Đào Biện-Sơn thời vua Trưng. Sườn núi còn đền thờ nữa, đó là đền thờ Mỵ-Châu. Còn kia là bãi biển Ngọc-đường, nơi có đền thờ Nhâm,Tích.

Bảo-Hòa hỏi:

– Có phải Đào Nghi-Sơn, Đào Biện-Sơn là anh ruột Bắc-bình-vương Đào Kỳ không?

Đúng đấy.

Ngựa phi như gió, thoáng một cái đã tới nơi. Thanh-Mai bàn:

– Cạnh đền thờ có nhiều nhà dân. Vậy chúng ta dấu ngựa, vào rừng nằm nghỉ, đêm sẽ ra dò thám thì tiện hơn. Đi dò thám mà trang phục thế này, coi bất tiện lắm. Chúng ta phải giả trai để dấu tông tích.

Ba người cho ngựa chạy vào rừng. Họ tìm khu cây cối rậm rạp, cột lại. Thanh-Mai bàn:

– Để giả trai, chúng ta cần ba bộ quần áo. Mỹ-Linh, em từng gỉa trai. Em có mấy bộ?

Bốn bộ.

Mỹ-Linh mở bọc ra, nàng lấy quần áo trao cho Thanh-Mai, Bảo-Hòa. Thoáng một cái, ba người đã trở thành ba Nho-sinh, áo, mũ, giầy giống nhau. Thanh-Mai bàn:

– Chúng ta giả trai thì được rồi, nhưng còn tiếng nói, phải làm sao cho tiếng khàn khàn giống tiếng đàn ông mới được.

Bảo-Hòa chỉ cây sung bên bờ suối:

– Không có gì khó cả. Mỗi đứa chúng tan ăn mấy quả sung xanh thì tiếng khàn khàn ngay.

Thanh-Mai vọt mình lên cao, quơ tay một cái, nàng đã hái được mấy quả sung. Mỹ-Linh cầm lấy ăn, nàng nhăn mặt:

– Khó ăn chết đi được. Chát qúa.

Thanh-Mai hát nghêu ngao:

Con cò đậu cọc cầu ao,

Ăn sung, sung chát, ăn đào, đào chua.

Bao giờ cho nước có vua,

Cho dân có gạo, cho chùa có sư.

Đó là câu hát được sáng tác trong thời gian nghìn năm mất nước của người Việt lưu truyền lại, thuận miệng Thanh-Mai hát chơi. Chờ cho Bảo-Hòa, Bình-Dương ăn sung xong, nàng nói:

– Trời tối đến nơi rồi, bụng đói, lấy gì mà ăn bây giờ?

Bảo-Hòa lấy trong bọc ra thanh nga-mi kiếm nhỏ. Nàng cắt cây, vót nhọn thành mấy mũi phi tiễn, rồi nói với Thanh-Mai:

– Trong ba đứa mình thì chị có công lực cao nhất. Vậy chị dùng những mũi phi tiễn này, chúng ta đi săn thú rừng làm bữa ăn chiều. Vùng này thiếu gì gà rừng. Nào bây giờ chúng ta núp vào mấy tảng đá này chờ thú.

Bảo-Hòa hú lên một tiếng dài. Con ngựa rừng của nàng với Thiệu-Thái hí lên đáp lại, rồi hai con chia hai ngả chạy đi. Thanh-Mai tỉnh ngộ:

– Có phải Bảo-Hòa sai ngựa đi đuổi thú chạy lại phía này cho chúng mình săn không?

Bảo-Hòa chưa kịp trả lời, thì từ phía trước nào gà rừng, nào hoẵng bị ngựa đuổi, đang chạy về phía ba người núp. Thanh-Mai vung tay lên, hai con gà rừng trúng phi tiễn, ngã vật ra. Con hoẵng chạy sắp tới nơi, mũi phi tiễn sắp tới đầu, thì nó ngã lộn đi một vòng, dãy dụa mấy cái, rồi nằm im.

Bảo-Hoà reo lên:

– Đủ rồi. Không nên giết nhiều thú vô ích.

Reo xong, quay lại thấy Thanh-Mai tần ngần bên cạnh con hoẵng, nàng kinh ngạc hỏi:

– Cái gì vậy?

Thanh-Mai chỉ đầu con hoẵng:

– Bảo-Hoà nhìn này! Từ xa mình thấy con vật chạy tới với tốc lực mau dị thường, chứng tỏ nó khoẻ mạnh. Mình phóng phi tiễn, phi tiễn không trúng mà con vật lăn ra chết. Mình không hiểu tại sao, mới xem lại. Này Bảo-Hoà nhìn này.

Bảo-Hoà thấy đầu con vật bị trúng một viên đá lớn bằng quả chanh. Viên đá cắm sau vào óc, khiến con vật chết ngay. Vốn kinh nghiệm săn bắn, nàng nghĩ thầm:

– Như vậy phải có một người công lực cao thâm khôn lường, phóng viên đá này vào đầu con hoẵng. Người này đứng phía sau Thanh-Mai, ném đá. Công lực Thanh-Mai đâu có tầm thường, mà viên đá bay xéo qua người, nàng không khám phá ra ắt người đó dùng âm kình.

Bất giác nàng lớn tiếng:

– Cao nhân nào, xin xuất hiện cho tiểu nữ được tương kiến.

Gọi ba lần, không thấy có tiếng trả lời. Thanh-Mai lắc đầu:

– Thôi, tiền bối không muốn hiển lộ thân thế cũng đành. Chị em chúng ta làm thịt hoẵng ăn vậy.

Bình-Dương đứng trước một người chị họ đầy kinh nghiệm về nếp sống hoang dã, với một người chị kết nghĩa kinh lịch có thừa, nàng chỉ biết ngồi nhìn. Bảo-Hòa vẫy tay gọi Mỹ-Linh:

– Em theo chị ra suối, lấy đất làm món gà rừng nướng theo lối Tây-vu. Em ở trong cung, thì không bao giờ được ăn món này đâu. Còn chị Thanh-Mai làm ơn lột da con hoẵng dùm.

Bảo-Hòa vặt lông xong lấy nga mi kiếm mổ bụng hai con gà rừng, , moi ruột gan. Nàng cắt một khúc trúc, chẻ ra lấy một thanh làm lưỡi dao nhỏ. Dùng dao trúc, nàng dưa mấy nhát, bao nhiêu ruột gà xẻ làm đôi. Cái mề nàng lột vỏ bên trong. Sau khi rửa thực sạch nhét bộ lòng vào bụng gà. Nàng men theo bờ suối hái mấy thứ lá cây, nhét vào đầy bụng gà, rồi lấy dây rừng buộc lại:

– Bình-Dương nên biết gà rừng thường không độc bằng gà vườn. Tuy vậy gà nào ăn vào cũng dễ sinh phong, sinh ngứa. Muốn cho khỏi ngứa thì ăn thịt gà với lá chanh hay hành sống. Ở đây không có lá chanh, chị dùng rau dền, rau sam, rau sàn bát, rau dền, xương xông, lá lốt thay thế. Mấy thứ này nhét đầy bụng gà, rồi buộc lại mà nướng. Bây giờ chúng ta đắp đất ra ngoài khi nướng thịt gà mới không bị cháy.

Nói đến đâu nàng đắp đến đó, phút chốc hai con gà bị bọc đất sét kín mít. Bảo-Hòa đặt hai con gà kê giữa hai viên đá, rồi nàng lấy củi nhỏ châm lửa đốt. Một làn khói xanh bay tỏa lên giữa khu rừng u tịch.

Thanh-Mai đã lột da con hoẵng, làm bộ lòng xong. Nàng cắt một cây trúc lớn, xuyên suốt qua bụng, rồi làm hai cái gạc treo lên, đốt củi nứơng.

Gà rừng không lớn lắm, nên nướng mau chín. Bảo-Hòa gỡ đất bọc gà . Bên trong hiện ra thân gà mỡ vàng bóng ngậy. Nàng cầm con gà xé đôi đưa ra cho Mỹ-Linh, Thanh-Mai:

– Nào ăn đi chứ.

Mỹ-Linh cầm nửa con gà, mùi hương thơm bốc lên ngào ngạt. Bảo-Hòa dặn:

– Em nhớ nghe, ăn bộ lòng gà lẫn với năm thứ rau mới tuyệt.

Một là bụng đói, hai là sau một ngày phi ngựa, ba là lạ miệng, Mỹ-Linh cầm nửa con gà ăn hết sạch. Ba người chia nhau ăn hết hai con gà rừng mà bụng chưa no. Bảo-Hòa nhìn Mỹ-Linh tội nghiệp:

– Bây giờ chúng ta ăn thịt hoẵng nướng. Cam đoan thơm, ngon không kém gì thịt gà.

Nàng cầm nga-mi kiếm quay lại định cắt thịt hoẵng. Thì lạ chưa, mới đây con hoẵng còn đầy đủ, mà nay đã biến đâu mất hai cái đùi sau. Thanh-Mai, Mỹ-Linh cũng đã khám phá ra sự lạ lùng ấy. Cả ba người trố mắt nhìn.

Mỹ-Linh hỏi:

– Không chừng con thú nào đến ăn vụng…

Nói hết câu đó nàng biết rằng không phải. Con thú nào mà có khả năng ăn hết nửa con hoẵng ắt phải lớn lắm. Thú lớn, dám đến cạnh ba người mà ăn vụng ắt phải có tiếng động. Nội công ba người tuy chưa cao thâm, song dù con gà, con chim đến gần trong hai trượng cũng nghe thấy, nữa là thú lớn.

Thanh-Mai cầm cây trúc xuyên con hoẵng lên coi, nàng tìm ra vết cắt rất ngọt. Hai cái dùi bị tiện luôn cả xương. Như vậy là có người ăn vụng. Nàng rùng mình, vì với bản lĩnh của người này, nếu y có ác ý thì chỉ cần vung tay, ba chị em nàng đã không còn tính mạng. Nàng nói lớn:

– Cao nhân nào gía lâm, xin cho Thanh-Mai phái Đông-a, Bảo-Hòa phái Tây-vu, Mỹ-Linh phái Tiêu-sơn được tương kiến.

Không có tiếng trả lời. Bảo-Hòa ngửa mặt lên trời hú một tràng dài liên miên bất tuyệt. Tiếng hú vừa dứt thì có hai con chim ưng từ trên cao đáp xuống. Nàng vuốt ve nói với chúng mấy tiếng, rồi thả chúng bay lên không.

Thanh-Mai hỏi:

– Bảo-Hòa tìm ra người ăn vụng thịt rồi à?

Không. Nguyên lúc rời chùa Sơn-tĩnh, em gọi đôi chim ưng đi theo, hầu canh gác gian nhân. Từ lúc rời chùa, lúc nào chúng cũng bay theo chị em mình, em không muốn nói ra đấy thôi. Nay thấy cao nhân xuất hiện, em gọi chúng xuống hỏi cho ra lẽ, thì chúng trả lời rằng đây là người nhà. Không biết ai mà có bản lĩnh dường này. Người ăn vụng bản lĩnh e không thua đại-sư Huệ-Sinh với Nùng đạo-trưởng.

Mỹ-Linh ngây thơ:

– Người này nhất định không phải tăng ni, vì tăng ni đâu có ăn vụng thịt? Ai mà có bản lĩnh ghê thế? Mà thôi, đã là người nhà, lại không có ác ý thì chẳng cần phải thắc mắc làm gì.

Thanh-Mai nhìn lên trời đầy sao, nói bâng quơ:

– Người ném đá giết hoẵng và cắt thịt hoẵng chắc cùng là một.

Bảo-Hòa dứt khoát:

– Chúng ta cứ đường đường chính chính thi hành lệnh của mạ mạ. Ai dám đụng đến chúng ta! Bây giờ chúng ta dưỡng thần một lát rồi lên đường.

Ba người dưỡng thần một lúc, thì đêm đã buông màn. Thanh-Mai nhắc nhở:

– Bảo-Hòa, Bình-Dương nhớ nghe: tuyệt đối tránh dùng võ công. Nếu có gì lạ chúng ta đốt pháo hiệu, binh mã trấn Thanh-hóa sẽ can thiệp.

Ba người hướng đền thờ Nhâm, Tích lần tới. Ngôi đền nằm im lìm dưới ánh trăng vằng vặc, trông rõ như ban ngày. Đền nằm trên một khoảnh đất khá rộng, trông ra bãi biển. Trước đền có hai con ngựa đá trong tư thế đứng chầu đầu vào nhau. Từ ngoài đi tới bằng một lối đi, nằm giữa hai khỏanh ruộng. Cuối lối đi, là khu vườn, có ao sen. Hoa sen mùa hạ nở ra thơm ngát. Tiếng ếch nhái, chão chuộc dưới ao kêu liên hồi. Sau ao sen là cổng đền. Hai bên cổng có hai tấm bia đá lớn. Thanh-Mai đoán chừng bia này tạc vào thời người Hán cai trị đất Việt, để ca tụng công đức tưởng tượng của Nhâm, Tích. Nhanh nhẹn, ba người vượt qua cổng vào trong sân. Sân lát đá khá rộng. Giữa sân có chiếc bể cạn hình bán nguyệt rộng khoảng ba bước. Trong bể có giả sơn, nước trong vắt. Bảo-Hòa chỉ bụi mẫu đơn. Ba người núp vào đó.

Bình-Dương đã nghe nói nhiều về người trong võ lâm hành hiệp. Hôm nay nàng mới chính thức được nhập cuộc. Trong khi im lặng theo dõi, nàng nghĩ vơ vẩn đến mẫu thân, không biết giờ này thân thể ra sao trong mồ? Phụ vương nàng bây giờ đang làm gì? Chợt Bảo-Hòa bấm sẽ vào lưng nàng rồi chỉ lên trời. Đôi chim ưng đang bay lờ lững bỗng lao vụt xuống phía con đường dẫn vào đền. Dưới ánh trăng hiện ra một bọn ba người cỡi ngựa đang tiến tới. Dừng ngựa ở sân ngoài, họ xuống ngựa, hiên ngang tiến đến giật chuông. Tiếng chuông lanh lảnh vang rất xa. Trong dẫy nhà dành cho ông từ lòe lên ánh sáng. Lát sau ông từ tay cầm bó đuốc tiến ra hỏi:

– Đêm khuya quý khách đến viếng đền quan thái-thú có việc gì?

Có tiếng đáp lại:

– Bọn tôi đây mà.

Thanh-Mai nhận ra tiếng Đàm An-Hòa.

Nghe tiếng trả lời, ông từ mở cổng. Ba người bước vào. Đi cạnh Đàm An-Hòa là bọn Triệu Anh, Ngô Tích, Triệu Huy, Quách Qùi. Ông từ hỏi:

– Không biết có truyện chi mà các vị trở lại giữa đêm khuya thế này?

Đàm An-Hòa nói:

– Hôm qua, chúng ta đã lục lọi khắp đền, mà tuyệt không tìm ra dấu vết những vật ấy. Đêm nay chúng tôi trở lại. Vì bản đồ cất dấu bị người lạ mặt cướp đi. Tôi nghĩ có lẽ người này cũng sẽ đến đây. Nên trở lại chờ y.

Thanh-Mai chửi thầm:

– Tên An-Hòa này quả thực khả ố. Ai lại giữa thời thịnh trị, trên có minh chúa, mà dám thông đồng với ngọai bang. Mấy ngày qua, y bị bọn Triệu Huy rồi Triệu Thành lừa dối, khinh khiến, thế mà bây giờ vẫn còn đi làm tay sai cho chúng. Ta phải nói với anh cả giết tên này đi làm những tên gian khác kinh sợ những tên gian khác mới được.

Ngô Tích móc trong bọc ra một đĩnh vàng đưa ông từ:

– Bình-nam vương gia truyền tôi ban thưởng cho ông. Đây là chút ít buổi đầu mà thôi. Đợi việc xong rồi, vương gia sẽ ban thưởng gấp trăm lần. Vương gia còn phong chức tước cho ông nữa.

Ông từ khúm núm tiếp vàng:

– Đa tạ vương gia. Đa tạ đại nhân.

Triệu Huy nói như truyền lệnh:

– Ông tắt đuốc đi, vào nhà dặn vợ con rằng nếu có động tĩnh gì thì nằm im, đừng có kinh hoảng. Còn chúng ta núp ngoài này chờ.

Năm người chia nhau núp vào các bụi hoa. Thanh-Mai dùng thần công Lăng-không truyền ngữ nói với Bảo-Hòa:

– Nếu có truyện gì, Bảo-Hòa để mình chị phản ứng là được rồi. Bọn này võ công rất cao cường. Dụng võ với chúng vô ích, mà còn nguy hiểm nữa.

Thình lình hai con ưng bay trên trời kêu lên ba tiếng. Bảo-Hòa dùng cùi chỏ khẽ thúc vào Thanh-Mai, Bình-Dương ngụ ý có biến cố. Hai người nhìn lên không, thấy đôi chim ưng đang đâm bổ xuống phía sau đền. Không phải chờ đợi lâu, phía sau đền xuất hiện ba bóng đen, đều bịt mặt, họ vượt qua tường đáp xuống sân như chiếc lá rụng. Người thứ nhất cao lớn dềnh dàng, người thứ nhì béo mà lùn. Người thứ ba lùn tịt. Người to lớn bảo người béo mà lùn:

– Sư đệ đứng đây đi. Đỗ quốc-cữu dặn rõ: « Chờ đêm hai ba, gìơ Tuất, ngồi lên lưng con lân trái, dơ tay thẳng lên trời. Bóng trăng dọi bóng ngón tay chỏ chỗ nào… »

Người cao gầy nhảy lên lưng con lân, dơ tay thẳng lên trời, chiã ngón tay chỏ ra. Bóng ngón tay trỏ rọi xuống đúng vào đáy cái bể cạn giữa sân. Người gầy nhảy xuống khỏi con lân. Y nói:

– Làm sao bây giờ? Không lẽ phá cái bể cạn này?

Người cao lớn ra hiệu. Cả ba người vận sức đẩy mạnh, cái bể cạn kêu kẹt ,rồi lệch sang một bên. Ba người hì hục đẩy một lúc, cái bể cạn rời khỏi vị trí cũ đến ba bước. Người lùn cầm búa khẽ gõ vào viên đá dưới gầm bể cạn. Những tiếng cạch cạch vang lên nhè nhẹ. Cứ mỗi lần như vậy, y lại lắc đầu. Thình lình có tiếng kêu lộp cộp. Cả ba người cùng bật lên tiếng kêu:

– Đây rồi.

Người lùn lấy búa cậy viên đá có tiếng kêu lộp cộp lên. Dưới viên đá có lỗ hổng .Y cho tay vào sờ xọang, rồi nói:

– Không có gì cả. Dường như đây là nắp hầm.Trên nắp hầm có cái khoen sắt.

Miệng nói, y vận sức kéo mạnh. Cái khoen sắt không chuyển động. Người to lớn nói:

– Tam đệ thử xoay cái khoen xem sao!

Người lùn cầm cái khoen xoay tròn. Cái khoen kêu kẹt một tiếng rồi chuyển động. Y quay một lúc, thì cảm thấy dừơng như dưới chân chuyển động. Y vội vọt mình lên cao, vừa đúng lúc hơn hai chục viên gạch dưới chân thụt xuống. Người cao gầy nói:

– Thì ra cái khoen là nắp cơ quan. Rút cái khoen ra, cơ quan chuyển động. Nắp hầm hạ xuống.

Dưới ánh trăng sáng, những viên gạch xụp xuống hiện ra mấy bực thang bằng đá, thông vào đường hầm. Người to lớn ra lệnh:

– Nhị đệ đứng canh gác ở ngoài này. Ta với tam đệ xuống hầm.

Thình lình, có tiếng rú như cú kêu, rồi ba mũi tên hướng vào ba người bay tới, kình lực mạnh vô cùng. Cả ba kinh hòang, vọt mình lên cao. Ba mũi tên bay lướt dưới chân. Ba mũi tên trúng vào bia đá, kêu lên ba tiếng choang. Thì ra tên bằng sắt.

Thanh-Mai kinh hãi:

– Người nào mà công lực mạnh đến dường này? Lực tay của y e không thua bố mình làm bao. Không biết làm thế nào, mà y có thể bắn ba mũi tên một lúc?

Người to lớn lên tiếng:

– Cao nhân nào xin xuất hiện?

Một quái nhân đầu bù tóc rối, khuôn mặt lồi lõm không còn ra mặt người. Trên lưng khoác chiếc áo bằng da thú rừng từ trên nóc đền đáp xuống nhẹ như chiếc lá. Người này không nói, không rằng, đưa tay chộp người thấp lùn. Người thấp lùn lạng người đi tránh. Thế tránh cực kỳ thần tốc. Song không hiểu quái nhân làm thế nào chụp được y, nhắc bổng lên cao. Người to lớn, và béo lùn đồng phát chưởng tấn công quái nhân để cứu đồng bọn. Chưởng phong hùng hậu vô cùng. Tay trái quái nhân cặp người lùn. Tay phải phát chưởng chống lại hai người. Thanh-Mai nhận ra chưởng pháp của quái nhân là Hoa-lư chưởng. Nàng chợt hiểu:

– Thì ra quái nhân là người phái Hoa-lư, hèn gì có tiễn thủ kinh người. Mình nghe sư phụ nói, tiễn thuật bắn một lúc ba bốn mũi bị thất truyền từ khi vua Đinh Tiên-Hòang cùng con là Đinh Liễn bị giết chết. Không ngờ người này còn biết sử dụng.

Thanh-Mai nhận thấy chưởng lực của hai người đấu với quái nhân ngang với bọn Triệu Huy, Ngô Tích chứ không ít. Song trong nhất thời nàng chưa nhận ra họ thuộc môn phái nào. Quái nhân thì công lực cực kỳ cao thâm, song các chiêu thức lại rời rạc, dường như biết rất ít. Vì vậy cuộc đấu vẫn không phân thắng bại. Thanh-Mai nói nhỏ vào tai Bảo-Hòa:

– Không biết bọn mình đến trước hay quái nhân đến trước. Nếu quái nhân đến trước thì thực hỏng bét. Ông ta biết bọn mình ở đây, ắt có chủ ý đối với bọn mình rồi.

Bỗng quái nhân quát lên một tiếng, nhảy lùi lại:

– Các người đứng im. Nếu còn vọng động, ta bóp chết tên này liền.

Người to lớn hỏi:

– Cao nhân là ai?

Quái nhân cười nhạt:

– Ta là ai, cũng không đến cái thứ bọn mi hỏi tới. Bọn mi tới đền thờ Nhâm Diên, Tích Quang đào bới thế này đích thị là quân trộm cướp. Theo luật bản triều thì phải bỏ vào chuồng cho cọp ăn thịt.

Mỹ-Linh nói vào tai Thanh-Mai:

– Ông này lầm luật của bản triều với luật thời Đinh rồi. Luật thời Đinh định rằng kẻ nào vào các nơi tôn nghiêm trộm cướp nhẹ thì chặt chân, chặt tay. Nặng thì cho hổ ăn thịt. Từ khi ông nội lên ngôi vua, đã giảm nhẹ đi nhiều. Tội trộm chỉ bị đánh trượng, phát vãng chăn ngựa cho quân trong một năm mà thôi.

Người to lớn quát lên:

– Bọn ta không phải là trộm cướp, mà là quan quân. Bọn ta tuân lệnh tuyên-vũ-sứ tới đây làm việc cơ mật.

Quái nhân cười nhạt:

– Phàm làm việc quan, thì ban ngày đường đường chính chính mà tới. Hà cớ lại đi ban đêm. Nếu người thi hành lệnh quan, hãy cho ta xem thẻ bài.

Người to lớn móc trong túi ra cái thẻ bài, đưa cho quái nhân. Quái nhân cầm thẻ bài lên xem rồi trả lại:

– Các người cứ tiếp tục đi.

Người cao lớn vừa đưa tay cầm thẻ bài, thì quái nhân xỉa bàn tay vào ngực y. Chỉ nghe rắc một cái. Y bay bổng về sau, rơi xuống bụi hoa, rồi nằm im. Quái nhân chuyển tay chụp gã cao. Gã cao đang kinh hoàng, không kịp trở tay, đã bị quái nhân bắt. Quái nhân vung tay hai cái, gã béo, mập bay bổng lên cao, rơi xuống sân, nằm im không động đậy. Quái nhân cười khoan khoái, lấy đá đánh lửa châm vào bó bổi dắt trên lưng, rồi vẫy tay gọi bọn Triệu Anh:

– Các vị xuất hiện đi thôi.

Bọn Triệu Huy, Đàm An-Hòa từ bụi cây bước ra. An-Hòa cung cung kính kính trước quái nhân:

– Kính mừng vương-gia đã thành công.

Nghe An-Hòa nói, Thanh-Mai, Bảo-Hòa, Mỹ-Linh đều kinh ngạc không ít. Vì hiện trong triều Lý không một tước vương nào có hình dạng như quái nhân cả. Thanh-Mai càng nghi vấn khi thấy rõ ràng quái nhân giết ba cao thủ vốn là quan quân tuân lệnh Đàm Toái-Trạng, thế mà An-Hòa lại là người đồng bọn với quái nhân.

Triệu Huy hú lên một tiếng. Ông từ trong đền bước ra. Ông nhìn ba xác chết một cách thản nhiên. Khi thấy đường hầm, ông kinh ngạc đến đờ người ra:

– Tiểu nhân coi đền này đã lâu. Nào ngờ dưới bể cạn lại có đường hầm.

Quái nhân cởi chiếc áo da bên ngoài, y để xuống bệ đá. Tay trái lấy con dao cắt đường chỉ, gỡ lớp lụa phía trong lật ra. Dưới ánh đuốc, hiện rõ tấm bản đồ. Triệu Huy nói:

– Bây giờ chúng ta xem cho kỹ bản đồ đường hầm rồi hãy vào.

Ông từ ngơ ngác chỉ vào quái nhân hỏi:

– Vị này là vương tước Đại-Việt hay Đại-Tống?

Triệu Huy đáp:

– Vị này là Vệ-vương, nguyên là con thứ Đinh Tiên hoàng-đế.

Ông từ ngơ ngác:

– Thế là thế nào?

Đàm An-Hòa đáp:

– Nguyên trước đây vua Đinh có ba người con. Con lớn được phong Nam-việt vương. Con thứ, tức vương gia đây được phong Vệ-vương. Con thứ là Hạng-lang được lập làm thái tử. Niên hiệu Thái-bình thứ 10 (979), Nam-việt vương giết chết thái-tử Hạng-lang, rồi Đỗ Thích giết chết vua Đinh cùng Nam-việt vương. Triều thần tôn vương gia đây lên làm vua. Không ngờ Lê Hòan tư thông với Dương thái hậu, cướp ngôi, phế vương gia xuống làm Vệ-vương.

Ông từ ngắt lời:

– Tôi nghe nói Vệ-vương Đinh Tòan theo vua Lê đánh giặc ở vùng Cẩm-thủy trúng tên chết năm Tân-sửu (1001) nhằm niên hiệu Ứng-thiên thứ 8, chứ đâu có còn đến ngày nay?

Quái-nhân buồn rầu nói:

– Khi phụ hoàng cùng với Nam-việt vương bị ám hại, ta còn quá nhỏ. Ta còn nhớ khi ta được đưa vào triều kiến phụ hòang, thì ngươi chỉ còn thoi thóp thở. Người truyền đuổi hết tả hữu ra, chỉ để lại hai người là Định-quốc-công Nguyễn Bặc, Uy-quốc-công Đinh Điền. Phụ hòang ủy thác cho hai vị làm phụ chính, giúp ta trị nước. Người sai lấy chiếc áo đa trao cho ta và dặn rằng : Trọn đời ta nhờ chiếc áo này, mà trở thành anh hùng vô địch, thắng 12 sứ quân lập đại nghiệp. Vậy nếu sau này con muốn nắm được muôn dân, khuynh đảo anh hùng, phải theo bí quyết trong áo mà luyện tập . Nói rồi người đọc vào tai ta mười câu kệ. Bấy giờ ta vì kinh hỏang nên không nhớ được gì.

Đinh Tòan ngửa mặt nhìn trời, rồi thở dài: Ta vừa được lên ngôi vua, thì Lê Hòan giữ chức thập-đạo tướng quân, mưu cướp ngôi. Nguyễn Bặc với Đinh Điền đem quân bắt y. Y đem quân chống lại. Hai bên giao chiến nửa ngày thì y bị bại. Y chạy vào cung cầu cứu với mẫu hậu ta. Mẫu hậu của ta tư thông với y từ lâu. Người cho một tên quân mặc quần áo của Lê Hoàn, rồi sai đem chém. Triều thần ai cũng tưởng Lê Hòan chết rồi. Nguyễn Bặc, Đinh Điền cho lui quân khỏi Hoa-Lư. Mẫu hậu truyền gọi Nguyễn, Đinh vào cung ủy lạo. Lê Hòan cho võ sĩ phục binh giết chết. Thế rồi Lê lên làm vua. Y định giết ta. May mẫu hậu hết sức che chở ta mới thoát nạn. Ta tuy sáu tuổi, khờ đại, song trong bóng tối còn nhiều người có lòng với Đinh triều. Đêm đêm họ âm thầm gặp ta, dặn dò ta phải đóng vai ngây dại. Năm ta mười tuổi bắt đầu tập võ. Lê Hòan là đệ tử phái Tiêu-sơn. Còn phụ hoàng ta thuộc phái Hoa-lư. Y dạy võ công Tiêu-sơn cho ta. Ta giả ngây, giả dại luyện tập không kết quả. Y tin thực. Trong khi đó đêm đêm vẫn có một kỳ nhân nhập hoàng thành dạy võ công Hoa-lư cho ta. Việc lâu ngày, bị bại lộ. Một đêm kỳ nhân nhập thành, bị Lê Hòan cho phục binh giết chết. Y không tra vấn ta điều gì cả. Ta biết y tìm cách giết ta.

Đinh Tòan nghiến răng nói:

– Năm ta 28 tuổi, nhân có giặc nổi lên ở Cẩm-thủy. Y đem quân đánh dẹp. Y mang ta theo. Ta biết y tìm cách giết ta. Trong lúc giao chiến với giặc ở trên sông. Ta bị một người vô danh từ sau bắn tên vào lưng. Nhưng ta đã được kỳ nhân luyện tập võ công Hoa-lư, nên tránh được. Đến mũi tên thứ ba, ta thấy tên đi không mạnh. Ta dơ tay lên, chờ mũi tên xuyên qua nách, thì kẹp lại. Ta giả loạng choạng như bị trúng tên, rồi ngã lộn xuống sông. Rơi xuống sông rồi, ta lặn vào bờ, ẩn dưới bụi cây. Mặc cho chiến trận xẩy ra, ta cứ thế lặn đi xa, sau chồi lên. Ta giả làm người khùng, ẩn nơi hoang sơn luyện tập võ.

Ông từ nghe truyện cũng buồn lây:

– Tôi nghe vua Đinh xưa là anh hùng vô địch, thế sao di thư để lại trong chiếc áo cho vương gia, mà vương gia luyện không có kết qủa?

Đinh Tòan gật đầu:

– Ta đem chiếc áo da ra tìm đi, tìm lại hàng ngàn lần cũng không ra di thư. Sau ta dùng dao, tháo lớp lụa bên trong, mới tìm ra được bản đồ cất di thư. Ta tuy có bản đồ, mà cũng không tìm ra nơi chôn cất. Ta lần mò sang Trung-quốc triều kiến Tống thiên tử để xin giúp ta về đọat lại giang sơn. Ta đem chiếc áo da ra làm tín vật. Song các quan bàn lui bàn tới không quyết định. Ta đành ẩn thân ở Trung-quốc, cho mãi đến niên hiệu Thuận-thiên thứ nhì (1011), Lý Công-Uẩn sai hai vị cựu thần nhà Đinh là Lý Nhân-Nghiã và Đào Khánh-Vân sang sứ Trung-quốc. Ta tìm đến gặp hai vị sứ. Lý Nhân-Nghiã không những không giúp ta, y còn khuyên ta nên hồi hương. Ta không nghe. Y bỏ về nước. Còn Đào Khánh-Vân gặp ta, y mừng lắm. Bởi y là đệ tử Hoa-lư. Y ở lại Tống, cùng ta mưu phục hồi nghiệp Đinh.

Đàm An-Hòa hỏi:

– Thưa vương gia, thế Đào Khánh-Vân hiện nay ở đâu?

Y chết rồi. Trong khi nói truyện với y. Y kể cho ta nghe rằng xưa kia ông nội ta là Đinh Công-Trứ, làm thứ sử vùng châu Hoan, tức vùng này. Phụ hoàng ta nhân đó theo học phái Hoa-lư. Phái Hoa-lư từ khi vua Trưng tuẫn quốc, võ công bị mai một đi rất nhiều. Thế nhưng trong lần tắm sông, phụ hoàng ta đã tìm ra một hang động trong đó chép hết võ công thời Lĩnh-nam. Nhân đó người luyện tập thành anh hùng vô địch, mà thống nhất được giang sơn. Ta nảy ra ý cùng Đào Khánh-Vân trở về vùng Cửu-chân này tìm ra nơi cất di thư. Không may trên đường về, Khánh-Vân bị bắt, bị đánh bằng gậy cho đến chết. Còn ta, ta lộn trở qua Trung-quốc, rồi gặp Ngô chiêu-thảo-sứ đây bảo tấu. Tống thiên tử hứa sẽ giúp ta đem quân về đọat lại ngôi vua.Bước đầu người truyền ta theo Bình-nam vương đi tìm di thư. Nhờ tài mẫn tiệp, Triệu lang-trung đã tìm được những ký hiệu viết trên áo, rồi tìm ra hang động này… Thực phụ hòang ta linh thiêng, phò hộ ta, mới có ngày hôm nay.

Ngô Tích chỉ vào đường hầm:

– Chúng ta xuống dưới đó. Ông từ ở ngoài này canh chừng.

Quái nhân cầm bó bổi đi trước, bọn Triệu Anh, Ngô Tích, Triệu Huy theo său. Đợi cho cả bọn đi rồi, thình lình Bảo-Hòa vọt mình ra khỏi bụi hoa chụp cổ ông từ. Nàng dí kiếm vào cổ:

– Im ngay. Nếu lên tiếng ta giết chết liền.

Thanh-Mai bảo Mỹ-Linh:

– Em gọi đạo quân Ngự-long hay Quảng-thánh tới ngay.

Mỹ-Linh cầm mũi tên, châm vào lửa, rồi dùng nội lực ném lên cao. Mũi tên nổ đến đoàng một tiếng rồi toả ánh sáng như một con rồng mầu tím.

Bảo-Hòa hỏi Thanh-Mai:

– Bây giờ chúng ta dùng đá lấp cửa hầm lại, thì bọn Triệu Huy hết đường lên. Đợi quân đến, sẽ mở cửa hầm bắt chúng.

Thanh-Mai lắc đầu:

– Không ổn. Công lực bọn này ghê lắm, chúng sẽ gỡ đá leo lên, bọn mình địch không nổi chúng đâu. Đối với bọn này phải ác mới được. Chi bằng dùng cỏ hun cho chúng ngộp hơi thì hơn.

Phía sau đền có đống rơm. Ba chị em rút lấy mấy ôm rồi châm lửa trút xuống hầm. Mỹ-Linh hỏi:

– Không có quạt, thì làm sao quạt khói xuống được?

Thanh-Mai không trả lời, nàng vận khí phát chưởng hướng vào hầm. Gió chưởng cuồn cuộn tuôn ra. Đám rơm bốc cháy đỏ rực. Trong hầm có tiếng la hét rồi có tiếng ho sặc sụa. Bảo-Hòa, Mỹ-Linh rút thêm rơm đem đến cho Thanh-Mai.

Hun một lúc, Bảo-Hòa nói:

– Như vậy đã đủ rồi. Em sợ lỡ ra đường hầm có ngả khác thông ra ngoài, chúng ra được thì bọn mình nguy tai. Bây giờ chúng ta dùng đá lấp lại, rồi ẩn vào bụi cây, chờ hai đạo binh tới.

Ba chị em cậy đá, gạch trên sân liệng xuống cửa hầm, phút chốc, hầm bị lấp kín. Ba người còn dùng sức đẩy cái bể cạn lật ngửa, rồi lấp lên trên. Bảo-Hòa trói ông từ lại, nhét dẻ vào miệng, đem bỏ sau bụi lau phía trước đền. Xong xuôi, ba chị em, tìm chỗ núp.

Mỹ-Linh hỏi Thanh-Mai:

– Hôm trước ông Tôn Trung-Luận bịa đại ra rằng di thư dấu ở đền thờ Nhâm, Tích, để bọn Tống phái đi cho bõ ghét. Không ngờ lại là sự thực.

Bảo-Hòa cũng thắc mắc:

– Nghĩ cũng điên đầu thực. Rõ ràng bọn Triệu-Thành có bản đồ cất di thư. Thế mà chúng còn bầy ra vụ trộm, rồi cướp ở đền thờ Tương-liệt đại vương để làm gì không biết?

Ba người ngồi im, chờ hai đạo quân tới.

Bỗng có tiếng chân người đi từ phía sau đền, rồi có tiếng đàn bà, trẻ con kêu khóc, lẫn với tiếng quát tháo. Thanh-Mai nhận ra tiếng Đàm An-Hòa:

– Chồng mày đâu?

Có tiếng đàn bà đáp lại:

– Mới đây chồng tôi vào dặn tôi rằng bất cứ biến cố gì cũng không được lên tiếng, không được ra khỏi nhà. Rồi theo các ông đi…

Có nhiều tiếng chân đi tới. Từ phía sau đền, Đàm An-Hòa cùng với bọn Triệu Anh, đi ra. Người nào đầu tóc cũng bù xù, quần áo xốc xếch. Đàm An-Hòa túm tóc một người đàn bà. Thanh-Mai đóan là vợ ông từ. Nàng chửi thầm:

– Bọn này bị ta hun khói lấp cửa hầm. Chúng bị ngộp hơi tưởng chết. Không biết chúng thoát ra bằng ngách nào? Chắc ngách đó phải chui dưới nước, nên chúng ướt như chuột lột. Bọn chúng cho rằng ông từ hại chúng, tra khảo vợ con ông.

Triệu Huy nói:

– Tôi nghi chưa chắc người lấp hầm, cũng như hun chúng ta là ông từ. Đàm hiệu úy đừng hành tội bác
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 79770
Has thanked: 35132 times
Have thanks: 45992 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: April 30th, 2017, 7:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 24th, 2017, 4:32 pm


HỒI THỨ MƯỜI SÁU

Lĩnh Nam Vũ Kinh


Thình-lình Triệu Huy lao người lại chỗ bụi hoa ba người nấp. Y sử dụng một thế hổ trảo chụp Mỹ-Linh. Thanh-Mai vọt người lên cao. Từ trên cao nàng phóng một chưởng xuống đầu Triệu Huy. Triệu Huy vội thu tay về biến thành chưởng đỡ chưởng của Thanh-Mai. Bình một tiếng, Thanh-Mai bật lên cao. Nàng cảm thấy trời long đất lở, khí huyết chạy nhộn nhạo trong người, tai kêu lên những tiếng vo vo như sáo diều.

Tự biết mình không phải đối thủ của Triệu, nàng đá gió một cái, tà tà đáp xuống trước thềm đền thờ. Triệu Huy thấy người đối chưởng với mình là một thiếu niên. Nhưng chưởng lực khá mạnh, cánh tay y cảm thấy ê ẩm. Nhất là trong chưởng đó bao hàm phong, lôi, thủy, hỏa, có sức sát thủ khủng khiếp. Lại thấy thiếu niên biết ứng phó, mượn sức vọt ra xa, để tự vệ.

Kinh nghiệm, Triệu-Huy biết đây là con nhà danh gia, được huấn luyện rất chu đáo. Trong chuyến đi này, Tống đế ban chỉ dụ cho Triệu Thành bằng mọi gía phải thu phục nhân tâm cùng kết thân với võ-lâm Lĩnh-nam. Vì vậy y tỏ vẻ khách khí:

– Triệu Huy phái Thiếu-lâm nhà Đại-tống, hân hạnh được biết danh tính thiếu hiệp. Thiếu hiệp mới bằng này tuổi, mà công lực dã tới mức không ngờ. Dường như thiếu hiệp thuộc phái Đông-a thì phải!

Thanh-Mai cố giữ giọng khàn khàn:

– Tại hạ là Trần Thông-Mai thuộc phái Đông-a, xin tham kiến Triệu đại hiệp.

Nàng tự xưng tên anh mình, để dấu tông tích. Nàng đảo ngược tên Mỹ-Linh, Bảo-Hòa đi, chỉ vào hai người:

—Vị này là em con dì với tại hạ, họ Lý tên Linh-Mỹ. Vị này là Nùng Hòa-Bảo, nghiã đệ của tại hạ.

Ngô Tích tỏ vẻ hiểu biết tình hình võ lâm Lĩnh-nam:

– Trần công tử, thì ra công tử là trưởng nam của Côi-sơn đại hiệp đấy. Khi còn ở Trung-nguyên, tại hạ từng nghe đồn rằng chưởng môn phái Đông-a có bốn người con. Con trưởng là Trần Thông-Mai tuy tuổi hai mươi, mà võ công cái thế. Thứ là Trần Thanh-Mai bác học uyên thâm. Hai người con còn nhỏ là Trần Tự-Mai, Trần Thanh-Nguyên kiến thức siêu phàm. Hôm trước đây anh em tại hạ đã được diện kiến nhị tiểu thư, tam công tử cùng tứ tiểu thư. Hôm nay mới hân hạnh được gặp đại công tử.

Triệu Anh chỉ vào miệng hầm:

– Bọn tại hạ đang đêm theo giúp Đàm hiệu úy thi hành mật lệnh của ngài Đàm an-phủ-sứ. Không biết đã phạm tội gì với các vị. Mà các vị lại đem rơm hun đốt anh em tại hạ gần chết ngộp?

Bảo-Hòa quên mất rằng mình giả trai, không còn là quận chúa. Nàng đem chính nghiã ra chất vấn:

– Này Triệu tiền bối. Người đường đường là tiến-sĩ nhà Đại-tống, lại là cao thủ bậc nhất phái Thiếu-lâm. Tại hạ tuy ở xó rừng núi, mà cũng nghe danh Tung-sơn tam kiệt, được Tống đế phong cho làm lang-trung phụ trách Khu-mật-viện người lại được cử theo Bình-nam vương cùng sứ đoàn sang Chiêm-quốc. Hà cớ lại đi ăn trộm?

Triệu Huy là người mưu trí cực kỳ cao thâm. Y tự biết ba thiếu niên này phục ở đây giữa đêm trăng, chắc chắn đã biết rõ sứ mệnh của bọn y. Hơn nữa ba người đã chất rơm đốt bọn y thì ba người cũng biết bọn y võ công cao hơn. Như vậy trong trận đấu này, ba thiếu niên đã biết mình, biết người thì có chối cũng vô ích. Y chỉ Đàm An-Hòa:

– Nùng thiếu hiệp trách bọn tại hạ như vậy, có điều đúng, có điều sai. Nhân tại hạ qua đây, Đàm hiệu úy nhờ tại hạ giúp ý kiến trong công vụ, nên bọn tại hạ đi theo người. Sao lại bảo là trộm cắp?

Mỹ-Linh chỉ ba xác chết:

– Các người đã ra tay giết ba người này, tội không nhỏ đâu nhé.

Triệu Huy cười:

– Giết ba người này chính là Vệ-vương. Lý thiếu hiệp núp ở đây từ lâu, hẳn đã nghe Vệ vương gia tường thuật thân thế. Vương gia đây là dòng chính thống của vua Đinh, thì ngài xử tử một vài con dân là truyện riêng của Giao-chỉ, anh em tại hạ đâu dám xen vào?

Mỹ-Linh hỏi An-Hòa:

– Gã họ Đàm kia. Mi đường đường là quốc cữu. Chị mi hiện là qúi phi, đang được sủng ái trong cung. Cha mi làm tể thần. Anh mi được trọng dụng làm tới tuyên-vũ-sứ, giữ chức tổng trấn vùng này. Thế mà mi lại tư thông với ngoại quốc. Hôm trước mi nghe lệnh Triệu Huy bắt giam người ngay, vô phép với con gái lương gia. Hôm nay mi lại dẫn những người này đi ăn trộm. Mi có biết tội này, sẽ đưa đến diệt tộc không?

Khi gặp lại Thanh-Mai, Mỹ-Linh, Đàm An-Hòa đã cảm thấy hơi quen quen. Trong nhất thời, y không đoán ra được tung tích nàng. Bây giờ nghe chất vấn, y mới tỉnh ngộ. Không nói, không rằng, y xuất thế ưng-trảo chụp Mỹ-Linh.

Hôm trước vì tuân lời Tịnh-Huyền, Mỹ-Linh không dám động thủ, An-Hòa mới vô phép được với nàng. Chứ hôm nay, nàng đã học được nhiều kinh nghiệm, nàng là đệ tử yêu của Huệ-Sinh, đệ nhất cao thủ đương thời, dễ gì y chạm vào người nàng được? Mỹ-Linh không tránh né, cũng không đỡ đòn. Nàng ra tay sau, mà lực đạo tới trước, tát vào mặt An-Hòa hai cái, y ngã lộn đi một vòng.

Tuy bị đau, nhưng An-Hòa vọt người dậy, vung chưởng tấn công Mỹ-Linh. Mỹ-Linh đá cho y một lưu vân cước. Y lại ngã lộn đi hai vòng. Biết không phải đối thủ của Mỹ-Linh. Y nói với Triệu Huy:

– Triệu đại nhân, con nha đầu này tên thực là Mỹ-Linh, thứ nữ của Khai-thiên vương Phật-Mã. Y thị được phong là công chúa Bình-dương.

Triệu Huy đã nhận ra Bảo-Hòa, Thanh-Mai, y cười:

– Thân quận chúa, Trần cô nương. Các vị giỏi thực, đã qua mặt được bọn tại hạ. Không hiểu bọn tại hạ có tội gì với các vị, mà các vị theo phá hoài?

Về võ công, kinh nghiệm thì Mỹ-Linh kém Bảo-Hòa với Thanh-Mai, chứ về luật pháp, văn học, nàng được thầy là một nhà Nho cực kỳ uyên thâm, tên Lý Đạo-Thành dạy dỗ rất kỹ. Nàng lên tiếng:

– Triệu an-phủ-sứ. Bất cứ ai nói câu đó thì được chứ người nói thì không được. Về văn, người đậu tiến-sĩ. Về võ người là cao thủ phái Thiếu-lâm lại đang giữ trọng trách trấn nhậm biên cương trọng thần, coi biên giới phía Nam nhà đại Tống. Người phải biết luật lệ chứ? Đừng nói ta là công-chúa, Bảo-Hòa là quận-chúa, mà bất cứ con dân Đại-Việt nào, thấy đạo tặc đều phải ngăn cản. Huống hồ, các người đường đường là sứ thần đại Tống, lại đi ăn trộm. Hôm trước bọn người với Quách Qùi ăn trộm ở đền thờ Tương-Liệt đại-vương. Địch Thanh trộm vàng ở Lạng-châu. Hôm nay các người đến đây ăn trộm ở đền thờ đanh nhân Trung-quốc. Ta phải bắt giải về triều Tống để trị tội.

Tiếng nói Mỹ-Linh trong mà ngọt ngào, nhưng lý luận đanh thép. Bọn Triệu Huy nhìn nhau chưa biết hành động ra sao. Để ba cô gái này đi, thì cơ mưu bị bại lộ. Hơn nữa trong chuyến đi, nhiệm vụ của bọn y có ba phần. Một là ăn trộm di thư thời Lĩnh-nam. Hai là kết nạp võ lâm Đại-việt, ba là gây bất hòa giữa võ lâm, dân chúng với triều đình nhà Lý, chuẩn bị đánh chiếm Đại-việt, lập lại quận huyện.

Bây giờ di thư ra manh mối. Y với Đinh Tòan đã khám phá ra ký hiệu ghi trên chiếc áo da của vua Đinh, tìm được nơi cất. Y biết nơi cất di thư có cơ quan, cạm bẫy nguy hiểm. Y bàn với An-Hòa, sai ba viên hiệu úy tìm trước. Nếu có nguy hiểm thì bọn chúng chết thay. Còn trường hợp tìm ra rồi, thì Đinh Toàn sẽ ra tay giết ba viên hiệu úy để bảo mật. Khi Toàn giết ba viên hiệu úy, đương nhiên An-Hòa lĩnh thêm tội trạng là theo nghịch thần nhà Đinh, giết quan quân. Như vậy An-Hòa suốt đời bị bọn y không chế.

Ngờ đâu vừa xuống hầm tối, thì bị chị em Thanh-Mai hun khói. Bọn chúng ngộp thở tưởng chết. Giữa lúc nguy nan, thì tìm ra được cửa khác, thông với đáy hồ sen trước ao, mà thoát nạn.

Bây giờ y phải hành động thế nào? Để ba cô gái này đi, thì quan quân kéo đến, di thư không đến tay. Đụng chạm đến Mỹ-Linh, y không sợ, vì khi sang đây, đương nhiên y đối lập với triều đình .Song đụng với Thanh-Mai, là đụng với phái Đông-a, người nhiều, võ công cực kỳ cao. Tống đế truyền bằng mọi gía phải mua chuộc, y không thể trái chỉ. Đụng đến Bảo-Hòa là đụng đến 207 khê động, ắt biên giới phía Nam Trung-quốc không yên? Vậy phải làm thế nào bây giờ?

Triệu Huy đưa mắt nhìn Triệu Anh, cả hai gật đầu, như đồng ý giết ba con nhỏ này đốt xác đi,thì ai mà biết được. Thanh-Mai nhìn sắc diện bọn Triệu Huy, biết nguy hiểm sắp tới, nàng nói với Bảo-Hòa:

– Sư phụ chị đang nhập thiền ngoài bờ hồ. Em ra mời người vào nói truyện với Triệu đại nhân.

Triệu Huy cười nhạt:

– Trần cô nương. Cô nương không qua mắt tại hạ được đâu. Nếu sư phụ cô nương ở đây, thì không bao giờ cô nương phải dùng rơm đốt anh em tại hạ. Cô nương ơi, giữa cô nương với anh em tại hạ không thù, không óan. Triệu vương gia của tại hạ lại sủng ái cô nương cùng cực. Song một là vì việc nước. Hai là vì tự bảo vệ mạng sống, anh em tại hạ phải vô phép với cô nương.

Mỹ-Linh hất hàm hỏi Triệu Anh:

– Các người định giết chúng ta ư? Ông nội ta sẽ băm vằm các người ra từng mảnh. Đừng nói ông nội ta, chỉ cần các người đụng đến sợi tóc của Thanh-Mai thôi, thì dù người có cánh bay lên trời cũng không thoát khỏi màng lưới phái Đông-a trả thù.

Đinh Toàn đang muốn thu phục nhân tâm để trở về làm vua, y kéo Triệu Anh vào một góc nói nhỏ:

– Triệu lang trung, cần có giải pháp nào tốt đẹp chứ tôi không thuận giải pháp giết ba tiểu cô nương này. Nước tôi có câu tục ngữ cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng ra. Nếu các vị giết chúng, mạng sống cá nhân các vị cũng như gia đình không tòan với phái Đông-a. Lại bọn họ Thân đang làm vua 207 khê động giáp giới Hoa, Việt ắt cử binh sang trả thù. Lý Công-Uẩn đời nào chịu khoanh tay khi các vị giết cháu yêu của lão? Các vị sang đây tìm di thư, chưa biết có hay không, mà đã gây chiến, tôi e Tống đế sẽ tru di tam tộc các vị. Các vị chỉ cần khống chế chúng, đợi lấy di thư xong, hay thả ra, tôi cho là giải pháp tốt nhất.

Triệu Anh gật đầu, nhận thấy lời Đinh Toàn đúng. Y nói với Thanh-Mai:

– Trần cô nương, bọn tại hạ xin cô nương dạy cho mấy chiêu.

Bảo-Hòa cười nhạt:

– Đánh nhau thì đánh nhau. Thân Bảo-Hòa này đâu sợ các người. Xin Triệu đại nhân cho thể lệ cuộc đấu.

Triệu Huy cười:

– Thế thì còn gì bằng. Tại hạ có ba huynh đệ, thêm Vệ vương là bốn. Bên quận chúa có ba người, chỉ cần các vị thắng được hai người trong bọn tại hạ là đủ, không biết quận-chúa, muốn đấu bằng phương thức nào?

Thanh-Mai hỏi Đinh Toàn:

– Đinh vương gia. Thời đức Tiên hoàng dựng nghiệp, ông nội tiểu nữ từng cầm gươm theo hầu, lập đại công. Khi thành đại nghiệp, Tiên-hòang phong cho tước công, người không nhận. Lại khi Lê Hoàn cướp ngôi nhà Đinh, ông nội tiểu nữ định khởi binh trả thù. Chỉ vì lúc đó giặc Tống sắp qua, người đành chịu nhịn. Hiện giờ, trong phái Đông-a không một ai làm quan với triều Lý. Chẳng lẽ vương gia lại đi đấu với bậc con cháu công thần nhà Đinh ư? Như vậy dù sau này chiếm lại được giang sơn, thì ai phục vương gia nữa đây?

Đinh Toàn gật đầu:

– Ta không dự vào cuộc đấu này. Triệu lang-trung, các vị tính sao thì tính.

Triệu Huy đổ quạu, y muốn lên tiếng chửi, mà không tiện. Y nói với Thanh-Mai:

– Chúng ta cùng đấu ba cuộc. Nếu bên cô nương thắng hai cuộc, thì bọn tại hạ tha mạng sống cho các cô. Các cô chỉ phải khuất thân theo anh em tại hạ trong một tháng. Còn ngược lại…

Thanh-Mai biết ngược lại chúng giết chị em nàng. Thế không đừng được, Thân Bảo-Hòa tán thành, nàng nói:

– Chính ta là người khởi xướng đem rơm nướng các người, ta lại đã từng theo các người từ Bắc-biên về đây. Ta xin đấu trận đầu. Trong ba vị, dường như Triệu lang-trung võ công cao nhất thì phải. Ta xin được lĩnh giáo cao chiêu của người.

Thanh-Mai biết võ công Bảo-Hòa tuy cao thực, song còn kém mình xa, thế mà nàng lại nhận đấu với Triệu Anh là tên có võ công cao nhất trong bọn, thì ắt nàng có mưu kế gì đây. Hôm trước đến Địch Thanh, mà nàng còn làm cho dở sống dở chết, thì đối với Triệu Anh hẳn nàng có phương pháp kiềm chế.

Thanh-Mai liếc nhìn Bảo-Hòa, chỉ thấy đôi mắt nàng sáng long lanh như hai viên kim cương.

Triệu Anh cười:

– Thân quận chúa. Ta nể quận chúa vì quận chúa là con vua bà vùng Nam biên đại Tống. Chứ còn đấu võ thì… hà hà, chỉ cần ba chiêu, ta bắt quận chúa như bắt con rùa trong rọ. Nào, quận chúa ra chiêu đi.

Bảo-Hòa phóng chưởng tấn công liền. Triệu Anh kinh ngạc không ít. Y nghĩ:

– Con mọi này thực không biết điều. Đến bố nó là Thân Thừa-Qúi, chưa chắc đã chịu được ta qúa trăm hiệp, mà y thị dám đấu với ta, thì thực là ngạo mạn quá sức.

Y vung tay đỡ, bộp một tiếng, cánh tay y tê dại. Còn Bảo-Hòa thì lảo đảo lùi lại ba bước. Qua một chiêu, Triệu Anh thấy chưởng của Bảo-Hòa tinh diệu vô cùng. Y không dám coi thường, hỏi:

– Quận chúa. Chiêu vừa rồi dường như không phải võ công Tây-vu. Nó là võ công gì vậy?

Bảo-Hòa cười:

– Nó là chiêu Ác ngưu nan độ trong Phục-ngưu thần chưởng. Hãy đỡ chiêu thứ nhì.

Nàng lại đánh ra một chiêu nữa. Triệu Anh đỡ, rồi lui một bước. Bảo-Hòa đánh chiêu thứ ba. Mồ hôi Triệu Anh vã ra như tắm, y lùi đến sát tấm bia đá, dựa lưng vào bia chống đỡ. Khi Bảo-Hòa đánh đến chiêu thứ 12, thì y bải hoải cả chân tay. Song sang chiêu thứ mười ba, thì nàng lại đánh trở lại từ chiêu đầu.

Triệu Anh tỉnh ngộ:

– Mình nghe nói xưa kia Đào Kỳ danh trấn Trung-nguyên, Lĩnh-nam nhờ ba mươi sáu chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Nay con nhỏ này dường như mới luyện, mà uy lực đã đến dường này. Hà! Y thị chỉ biết có mười hai chiêu, không đủ biến hóa, bằng không mình phải bỏ mạng tại đây.

Triệu Anh không thèm đỡ chiêu của Bảo-Hòa, tay trái đánh một hư chiêu, tay phải xuất ưng trảo túm sau gáy nàng. Hư chiêu chưa ra, mà Bảo-Hòa đã cảm thấy ngộp thở. Người nàng choáng váng, chưa kịp định thần, thì đã bị nhắc bổng lên cao.

Triệu Anh cười:

– Tiểu quận chúa. Người chịu thua chưa? Ta nghe Phục-ngưu thần chưởng có 36 chiêu, mà sao quận chúa chỉ thuộc có 12 chiêu?

Bảo-Hòa nói:

– Ta ngộp thở quá làm sao mà nói cho được. Người hãy cho ta thở chút xíu đã.

Triệu Anh bỏ nàng xuống đất. Y vừa thu tay về thì cảm thấy có vật gì động đậy, lành lạnh từ cổ chui xuống ngực. Tưởng là ám khí. Y kinh hoàng, giật áo dũ ra. Vật đó chuồn xuống bụng, bụng y đau nhói một cái. Y luồn tay vào chụp vật đó ra, thì là con rắn lục mầu xanh, óng ánh đưới trăng. Y vội hít một hơi, vận chân khí chống độc.

Bảo-Hòa tung một nắm phấn trắng bao trùm người y. Y hít trọn vẹn đám phấn vào ngực. Người y choáng váng, rồi ngã ngồi xuống đất. Bảo-Hòa cười ngất:

– Đa tạ Triệu đại hiệp đã nhẹ tay cho. Triệu đại hiệp, trận thứ nhất tại hạ thắng. Như vậy là thắng trận đầu rồi đấy nhé.

Triệu Huy hỏi sư huynh:

– Đại-ca, cái gì vậy?

Triệu Anh gượng gạo:

– Bị rắn cắn. Trúng độc. Chân tay bải hoải.

Triệu Huy nghĩ rất nhanh:

—Trước hết ta đánh bại con nha đầu họ Trần, sau đó túm cổ cả hai con này một lúc. Không cần đạo lý nữa, mới mong lấy thuốc giải cứu đại ca.

Y nói với Thanh-Mai:

– Trần cô nương, tại hạ lớn tuổi hơn cô nương, mà đấu với cô nương, e mang tiếng lớn hiếp bé. Vậy thế này: tại hạ đấu với cô nương mười chiêu. Nếu trong mười chiêu, cô nương làm cho tại hạ phải lui lại năm bước thì coi như tại hạ thua.

Y phát chiêu tấn công Thanh-Mai. Thanh-Mai biết cái gì sắp xẩy ra. Nàng vận đủ mười thành công lực đỡ chiêu của Huy. Bình một tiếng, Thanh-Mai bật lui lại bốn bước liền. Trong khi cánh tay Huy cũng cảm thấy ê ẩm. Y nhủ thầm:

– Trước đây sư phụ ta thường nói, chưởng pháp phái Đông-a trong cái nhu có cái cương, rất khó chế thắng. Bây giờ ta mới hiểu. Ta không nên giết con nhỏ này vội, cứ thủng thẳng xem võ công Đông-a như thế nào.

Thanh-Mai thấy Triệu Huy suy nghĩ. Nàng phát chiêu thứ nhì tên Đông hải lưu phong. Đây là một chiêu dũng mãnh nhất trong 18 chiêu Đông-a chưởng pháp. Triệu Huy thấy chiêu chưởng hung dữ, y lùi lại một bước đẩy ra một Kim-cương Thiếu-lâm chưởng. Bình một tiếng, Thanh-Mai bật lui hai bước, còn Triệu Huy thì đứng im.

Triệu Huy cười nhạt:

– Trần cô nương, cứ khoan thai phát chưởng, không đi đâu mà vội.

Trong khi ngộp thở, vô tình Thanh-Mai vận khí về Đốc-mạch, rồi dẫn tới huyệt Mệnh-môn, đưa qua thận, dồn sang Nhâm-mạch, phát chiêu Thủy ba vô để, đúng như Huệ-Sinh dạy nàng. Triệu Huy thấy chưởng không có gió, tưởng nàng đã kiệt sức, y phất tay, chỉ vận có ba thành công lực. Không ngờ khi hai tay giao tiếp nhau, y cảm thấy một lực đạo vô cùng nhu hòa phát ra. Bịch một tiếng, y bị bật lui liền bốn bước, trong khi Thanh-Mai đứng nguyên.

Mặt Triệu Huy nhợt nhạt:

– Trần cô nương. Tôi muốn lĩnh giáo võ công Đông-a chứ đâu có muốn lĩnh giáo võ công Tiêu-sơn? Vừa rồi cô nương dùng chiêu thức Đông-a, mà dùng nội lực Tiêu-sơn, như vậy không kể.

Thanh-Mai muốn kéo dài thời gian chờ viện binh. Nàng cười khanh khách:

– Này Triệu đại nhân, sao người hủ lậu lắm vậy. Người có biết rằng tổ sư phái Đông-a nhà tôi là Trần Tự-Viễn, nhân học nội công Tiêu-sơn mà lập ra môn phái ư? Thôi được, tôi phát chiêu thứ tư đây này.

Thanh-Mai áp dụng lý thuyết của Huệ-Sinh dậy. Nàng phát chiêu Kình ngư thăng thiên, bằng cách dẫn khí theo Đốc-mạch đến huyệt Chí-dương đưa vào tim, một phần đến huyệt Mệnh-môn đưa vào thận, rồi cho hai luồng khí giao nhau. Chưởng phong xoáy như con trốt ập về trước. Triệu Huy ra chiêu đỡ. Không ngờ khi hai chưởng sắp gặp nhau, Thanh-Mai chỉ phát ra ở Thủ-tam-âm kinh thuần âm. Huy khám phá ra thì đã muộn. Bộp một tiếng, y loạng choạng lui lại… y phải nhảy vọt lên cao để khỏi ngã.

Triệu Huy biết nếu còn chần chờ, e Thanh-Mai sẽ dùng kỳ chiêu. Không chừng y bị bại cũng nên. Song qua mấy chiêu, y tìm thấy trong Đông-a chưởng pháp đôi phần phảng phất giống Thiếu-lâm chưởng của y. Có điều Đông-a chưởng pháp hung dữ hơn nhiều. Y nghĩ thầm trong lòng :

– Trước đây ta nghe sư phụ nói trong các phái võ Lĩnh-nam, chưởng pháp mạnh nhất phải kể phái Tản-viên với Phục ngưu thần chưởng. Chưởng pháp này lúc đầu thuần đương, do Sơn-Tinh chế ra. Sau Vạn-tín-hầu Lý Thân chế ra Long-biên kiếm pháp, thắng được Sơn-Tinh bên bờ sông Hắc-long. Long-biên kiếm đặt cơ sở trên âm nhu. Tuy thắng được Sơn-Tinh, nhưng Lý Thân cũng khâm phục pho chưởng này vô song, vô đối. Ông nhân ba mươi sáu chiêu Phục-ngưu, chế ra ba mươi sáu chiêu âm nhu khắc chế ba mươi sáu chiêu dương cương. Đến thời Đông-hán, thì Phục-ngưu chưởng âm nhu bị tuyệt tích, mà các chiêu dương cương cũng chỉ còn mười hai. Sau Hán-trung-vương Đào Kỳ có cơ duyên tìm luyện được cả âm lẫn dương chửơng, mà thành anh hùng vô địch. Từ ngày ấy đến giờ trải một nghìn năm, Lĩnh-nam bị sát nhập làm quận huyện Trung-quốc, quan cai trị các thời cấm tập võ. Võ công thời Lĩnh-nam gần như bị tuyệt chủng.

Y nhìn Thanh-Mai, nhăn mặt:

– Ngày nay tuy vẫn còn phái Tản-viên, Mê-linh, song Phục-ngưu chưởng dường như chỉ sót lại mười hai chiêu. Còn Long-biên-kiếm thì mất hết tinh hoa. Ta đã đấu với một vài cao thủ phái Tản-viên, thì thấy chưởng Phục-ngưu mạnh tuy có mạnh. Song hôm nay đối bốn chưởng với con nha đầu này, mới thấy chưởng Đông-a hung hiểm vô cùng. Nếu bảo rằng dương cương thì cũng thấy dương cương, nếu bảo rằng âm-nhu thì cũng thấy âm-nhu. Song trong cái cương nhu hợp nhất này có ẩn tàng cái sát thủ ghê gớm. Hèn chi trước khi lên đường, hoàng thượng ân cần dặn đi dặn lại phải mua chuộc phái Đông-a bằng mọi giá. Tuyệt đối cấm gây hấn với họ. Con nhỏ này là con gái yêu Trần Tự-An, đương kim chưởng môn Đông-a. Năm nay y thị khỏang 17-18 tuổi là cùng, mà công lực đã tới dường này thì không ai có thể ngờ tới. Ta nghe sư bá chưởng môn Thiếu-lâm nói, người đã đối chưởng với Tự-An, mà chỉ chiụ được có 15 chiêu, đành xin thua. Hôm nay ta cứ chần chờ đấu với con này ít chiêu nữa xem sao.

Triệu Huy chỉ biết nội công phái Đông-a xuất phát từ phái Tiêu-sơn một cách lờ mờ. Mà phái Tiêu-sơn với Thiếu-lâm cùng đặt căn bản trên Thiền-công nhà Phật. Thiền công quang minh chính đại, mà sao Đông-a chưởng lại sát thủ như vậy?

Triệu Huy phát một Kim-cương ban nhược trong Thiếu-lâm chưởng tên Vô nhân giả tướng. Chiêu này chuyên hóa giải tất cả những chưởng hung ác khác. Thanh-Mai thấy Huy tần ngần một lúc, nàng đoán hai chiêu vừa rồi mình áp dụng thủy hỏa tương hợp trong Thiền-công mà Huệ-Sinh mới dạy khiến cho y sợ. Bây giờ nàng trở về với Đông-a chưởng thuần túy, nàng ra chiêu Phong ba hợp bích Chưởng phong ào ào tuôn ra. Trong khi chưởng phong dồn dập, nàng cố bỏ Lục-căn ra ngoài. Triệu Huy thấy rõ ràng chưởng của nàng cực kỳ hùng hậu, rồi lại biến mất. Khi hai chưởng giao nhau, chưởng của Thanh-Mai không mất tích như y thường thấy mỗi khi đấu với người khác. Ngược lại chưởng của y như hạt muối rơi xuống biển. Người y bay bổng lên cao. Y phải cố định thân mới đứng xuống đất an toàn. Ngô Tích giật mình:

– Tam đệ, cái gì vậy?

Mặt Triệu Huy nhợt nhạt như gà cắt tiết. Y hít hơi lấy lại thăng bằng:

– Không hiểu nữa.

Triệu Huy khám phá ra Thanh-Mai mới học được một thứ nội công, mà chưa có dịp sử dụng. Hôm nay nàng đem ra thí nghiệm lần đầu. Y cần thắng nàng tức khắc, bằng không thì khó kiềm chế nổi.

Y hít hơi vận đủ mười thành công lực, đánh xuống ba chưởng. Thanh-Mai thấy chưởng lực y hùng hậu vô cùng, nàng không dám đỡ, vội vọt mgười lên cao tránh. Triệu Huy không tha, y đánh ngược lên một chỉ.

Thanh-Mai ở trên cao, thấy chỉ của y bao trùm hạ bàn. Nàng kinh hoảng rút kiếm lia ngang dưới chân. Triệu Huy thu chỉ nhảy lui lại. Thanh-Mai vừa rơi xuống đất, lực đạo hết. Triệu Huy túm lấy phiá sau cổ nàng.

Bỗng y cảm thấy như có ai đánh trộm vào sau gáy. Y vung tay gạt. Bộp một tiếng, tay y chạm phải vật gì mềm mại, vỡ tung ra làm nhiều mảnh, bay tứ tung. Mùi thơm bốc lên, thì ra một quả bưởi.

Bọn Triệu Huy kinh hãi, không biết người tung bưởi ở đâu, tung bằng cách nào, mà không một tiếng động. Người này dường như không ác ý với chúng. Bằng không chúng mất mạng rồi.

Trong khi y suy nghĩ, một vật khác lại bay tới trước ngực y. Kình lực làm y ngộp thở. Y vội buông Thanh-Mai, vận sức vào hai chân thực ững, bắt lấy vật đó. Y nhìn lại, thì ra một cái đầu con hoẵng nướng, đã khoét hết thịt.

Bọn Thanh-Mai, Bảo-Hoà nhận ra cái đầu con hoẵng, hồi chiều chị em nàng lóc thịt ăn, rồi chôn ở trong rừng. Cả ba mừng không thể tưởng tượng được, vì biết đây là cao nhân theo bên cạnh mình.

Triệu Huy nói lớn:

– Cao nhân phương nào xin cho được tương kiến.

Không có tiếng trả lời. Xa xa vọng lại tiếng chim đánh ống dài thê lương dưới trăng. Bọn Đinh Toàn, Triệu Anh cùng chạy xung quanh, bới cỏ, vạch cây tìm, mà nào thấy ai?

Triệu Huy đang lo lắng về cao nhân, bị Thanh-Mai đục một quyền trúng vai, đau thấu xương. Y nổi cộc đánh liền ba chưởng như vũ bão. Thanh-Mai đở được hai chưởng, chân tay rũ liệt, nàng ngã ngồi xuống. Triệu Huy túm cổ áo nhắc bổng nàng lên cao.

Y định quật chết, nhưng nghĩ lại mấy chiêu nhập môn vừa rồi của phái Đông-a, khiến y đã choáng váng, thì với một cao thủ y chịu sao nổi? Phái Đông-a người nhiều thế mạnh, đến Tống đế còn kiêng nể. Nếu y giết con gái yêu của chưởng môn, thì dù có cánh bay lên trời cũng không toàn mạng. Nghĩ vậy y bỏ nàng xuống, quát lớn:

– Trần cô nương chịu thua rồi. Như thế mỗi bên thắng một trận. Vậy trận kết thúc là trận thứ ba. Nào, mời công-chúa Bình-dương xuất thủ dạy dỗ cho nhị sư huynh tôi mấy chiêu.

Giọng nói của y đểu giả vô cùng.

Mỹ-Linh biết mình tuổi còn nhỏ, công lực không được làm bao, muôn ngàn lần không bằng Ngô Tích. Nàng mỉm cười:

– Tôi nghe Ngô đại hiệp nổi tiếng tài kiêm văn võ, được phong tới chiêu-thảo-sứ. Vậy không biết chúng ta đấu văn hay đấu võ.

Vô tình Mỹ-Linh đánh trúng yếu điểm của Ngô. Trong ba sư huynh, sư đệ, thì võ công Ngô kém nhất. Song y tự hào văn chương quán thế, mà rút cục y chỉ được phong chức quan võ. Trong khi Triệu Anh được phong tới lang-trung, Triệu Huy được phong tới an-phủ-sứ là chức tước cả văn lẫn võ. Từ lâu y không nói ra, nhưng vẫn ấm ức trong lòng. Bây giờ Mỹ-Linh thách y đấu văn, thực là dịp y được trổ tài. Y kính cẩn nói:

– Tại hạ xin được hầu tiếp tài nàng Ban, ả Tạ của công-chúa điện hạ.

Trong khi hai người nói truyện, thì Triệu Anh đau đớn khủng khiếp, miệng y rên lên hừ hừ, hai hàm răng đánh vao nhau lộp cộp. Triệu Huy dơ tay lên nói:

– Xin công-chúa nói với quận-chúa Bảo-Hòa trao thuốc giải cho Triệu đại ca. Bằng không, chúng tôi bất chấp luật lệ võ lâm.

Biết không đừng được, Bảo-Hòa móc trong túi ra một viên thuốc, đưa cho Huy:

– Đây là thuốc trừ rắn. Còn thuốc trừ phấn độc, phải dùng châm cứu mà trị. Tôi không biết châm cứu. Trước hết Triệu tam hiệp phải cắt một lỗ nơi vết thương cho máu chảy bớt chất độc ra ngòai. Còn viên thuốc này, thì bỏ vào miệng, vận khí cho mau tan. Khi thuốc tan trong vị, dùng khí dẫn thuốc theo Thủ-thái-âm phế kinh, sau đó lưu chuyển khắp vòng Đại-chu thiên. Trong bẩy lần bẩy là bốn mươi chín ngày không được sử dụng võ công, cũng không được uống rượu, cùng gần đàn bà. Bằng không thì đừng có chê thuốc của tôi không công hiệu.

Triệu Huy trấn ở biên cương đã lâu, y biết Bảo-Hòa nói thực. Trong trận đánh Như-hồng cách đây mấy năm, đã có nhiều người trúng phấn độc, lương y xem xét rồi dùng châm cứu chữa khỏi. Nhưng phấn thì không nguy hiểm trong chốc lát. Đợi sau việc ở đây kiếm thầy châm cứu cũng còn kịp? Y biết phấn độc này để quá mười ngày mới nguy hại. Còn hiện thời, chỉ làm chân tay tê liệt mà thôi.

Triệu Huy nhét viên thuốc trị nọc rắn vào miệng sư huynh. Y lầm con dao nhỏ rách một vết nhỏ trên vết rắn cắn ,máu chảy ra ngoài đầm đìa. Phút chốc mặt Triệu Anh tươi hẳn lên, y không run rẩy nữa.

Ngô Tích hỏi Mỹ-Linh:

– Xin công chúa cho đầu đề.

Mỹ-Linh moi trong bọc ra một bình son, một cái nghiên, sáu cái bút. Nàng đổ son vào nghiên, cầm bút chấm son, viết trên thành cái bể cạn:

Nam-sơn trúc bất tận.

Nét bút hoa dạng, sống động, trong cái nhu, có cái sắc sảo. Cả bọn Triệu Huy đều đã sống cạnh những bậc đại danh Nho triều Tống. Những người hoa tay thực không thiếu, nhưng đa số họ đều già. Ở đây, Mỹ-Linh tuổi bất quá mười sáu, lại là con gái, cho nên bọn Huy đờ người ra.

Mỹ-Linh cười:

– Mấy chữ mèo cào không bõ làm trò cười cho bậc danh sĩ đại Tống. Xin mời Ngô tiên sinh đối cho.

Lúc nghe Mỹ-Linh đòi đấu văn, Ngô Tích tưởng nàng sẽ đem ý nghĩa kinh điển ra thi thố với mình. Nào ngờ nàng lại bắt đấu bút pháp, và bắt thù tụng bằng câu đối. Ngô có trí nhớ, đọc thiên kinh, vạn quyển, nhưng bút pháp y lại rất dở. Đã trót, y đành cầm bút suy nghĩ. Thanh-Mai không cho y suy nghĩ, nàng muốn y chia trí, cười nói:

– Này Ngô đại nhân, coi chừng thua cô em tôi thì phiền lắm đấy. Trước kia Tào Thực bẩy bước thành thơ. Từ nãy đến giờ nếu tôi bước thì đã được bẩy trăm bước, mà Ngô đại nhân chưa xong vế đối ư? Để tôi giảng ý nghiã vế trên của Bình-Dương cho đại nhân nghe. Em tôi đề vế câu đối trên bể cạn nhỏ xíu. Trên bể có vài nhánh trúc. Thế mà em tôi ví với rừng Nam-sơn bên qúi quốc là nơi có hàng vạn mẫu, chuyên trồng trúc để làm bút viết.

Nàng chợt dừng lại, vì không muốn trêu Ngô Tích. Bởi trong ba người cùng bọn, Ngô có vẻ ôn hòa, nghiêm trang, tư thái khác phàm. Sở dĩ nàng với Bảo-Hòa bầy ra cuộc đấu là muốn kéo dài thời gian, đợi viện binh. Nay viện binh chưa tới, mà cuộc đấu kết thúc, dù chị em nàng có thắng, bọn chúng cũng phải giết để phi tang. Vì vậy nàng muốn nói mấy câu mua lấy chút cảm tình của Ngô:

– Cây trúc tượng trưng cho người quân tử. Em tôi muốn ví tiên-sinh giống như trúc rừng Nam-sơn đấy.

Ngô Tích quả bị chia trí. Sự thực y có coi câu đối trên ra gì đâu.Y có thể đối lại bằng cả chục vế khác. Ngặt vì nếu y thắng, thì sư đệ của y sẽ giết ba cô gái này. Y là văn nhân, vốn lãng mạn, đa tình. Y đành chịu nhục, chứ không muốn ba cô gái xinh đẹp thế kia phải chết uổng. Y ném bút nói:

– Tại hạ chịu thua công chúa.

Chị em Thanh-Mai kinh ngạc đã đành, bọn Triệu Huy sững sờ người ra. Y hỏi:

– Nhị ca… việc này…

Ngô Tích nhăn mặt:

– Không hiểu sao hôm nay đầu óc ta lộn xộn qúa, nghĩ không ra.

Y nói với Mỹ-Linh:

– Xin công chúa cho thêm vế nữa.

Mỹ-Linh cầm bút viết thêm:

Đông hải ba vô cùng.

Ngô Tích tấm tắc khen:

– Hay tuyệt, vế này đối với vế trên chan chát: biển Đông sóng không bao giờ hết .Cái bể cạn con con này, mà công chúa ví với biển Đông thì còn gì hay hơn. Khâm phục, khâm phục.

Thanh-Mai, Mỹ-Linh biết Ngô Tích tốt với chị em nàng. Cả hai chắp tay:

– Đa tạ Ngô tiên sinh dạy dỗ.

Ngô Tích nghĩ lại một chút, chợt tìm ra Mỹ-Linh chửi xéo bọn y. Song đã trót. Y biết hai câu trên nàng lấy trong bài biểu đánh Lý Mật đời Đường. Về đời Đường, khi sọan bại biểu kể tội Lý Mật, danh sĩ đã viết rằng:

Quyết Đông hải chi ba lưu ác bất tận,

Khánh Nam-sơn chi trúc thư tội vô cùng.

Nghĩa là: dù lấy hết nước biển Đông rửa cũng không hết tội ác. Dù cắt hết trúc Nam-sơn cũng không chép hết tội ác.

Ngô Tích ngửa mặt lên trời cười, tỏ ý tha thứ. Mỹ-Linh muốn nói một câu cảm ơn y, mà anh em y không hiểu, nàng nói bâng quơ:

– Quân tử thản. đãng đãng

Câu này lấy ý trong Luận-ngữ, nghĩa là người quân tử dù gặp việc bất như ý sự, lúc nào cũng thản nhiên.

Ngô Tích chắp tay tạ Mỹ-Linh:

– Đa tạ công chúa quá khen.

Y nói với Triệu Huy:

– Chúng ta thua hai trận. Tuy nhiên vì việc cơ mật, chúng ta cần giữ ba cô này mấy ngày, rồi sau đó thả ra. Như vậy không làm mất lời hứa, lại không hại gì đến công việc.

Triệu Huy có ý định sau ba trận đấu, dù thua, dù thắng, y cũng giết ba người để phi tang. Nhưng một, y sợ trách nhiệm, trái chỉ dụ Tống đế là không được gây hấn với võ lâm Lĩnh-nam. Hai, y sợ đụng tới phái Đông-a. Y đành tuân lệnh nhị sư huynh. Tuy nhiên y cần dọa Bảo-Hòa:

– Bây giờ ta trói ba cô lại. Nếu trong mấy ngày, không tìm ra thầy châm cứu, ta sẽ giết ba cô chôn chung với đại huynh ta. Như vậy đại huynh có chết cũng đỡ cô độc. Ta nói trước, trong khi đi theo bọn ta, các cô phải tịnh khẩu. Nếu các cô mở miệng, ta quyết không tha.

Y quẳng dây cho An-Hòa trói ba người lại. Sau khi trói bọn Bảo-Hòa, An-Hòa còn lấy khăn lụa cột miệng lại. Y nói sẽ vào tai Triệu Anh:

– Triệu đại nhân. Tôi nghi con nha đầu này có thuốc giải, mà y thị không chịu đưa ra. Bây giờ chúng ta đem phấn độc bắt thị ngửi. Nếu thị có thuốc, ắt phải tự cứu mình. Bằng không thì thị chết chung với đại nhân.

Triệu Anh không ngờ gã họ Đàm lại linh mẫn đến thế. Y lục trong bọc Bảo-Hòa, quả có hộp phấn độc, y lấy chiếc lá múc ra một ít, rồi vung chưởng đánh vào đầu Bảo-Hòa. Bảo-Hòa ngộp thở, nàng ngửa mặt lên trời hít hơi. Đúng lúc đó, y bắn phấn độc vào mặt nàng. Bảo-Hòa vốn tính ngang bướng, nàng biết mình trúng độc, mà vẫn nín thinh không nói một lời. Thanh-Mai thấy mồ hôi nàng vã ra, thì hỏi:

– Quận chúa. Có sao không?

Bảo-Hòa cười nhạt:

– Tôi không sao cả.

Bảo-Hòa nhìn về phía con đừơng dẫn vào đền, tuyệt không thấy bóng viện quân. Nàng nghĩ:

– Lát nữa đây chúng sẽ bắt bọn ta đi. Chi bằng ta để lại dấu vết cho anh ta biết mà tìm.

Nàng giả vờ say thuốc, chân tay run rẩy, trong khi đó dùng ngón tay viết xuống mảnh vườn phía sau mấy chữ vùng Tây-vu.

Từ đầu đến cuối, Quách Qùi không nói, không rằng, bây giờ y mới lên tiếng:

– Sư thúc. Cô này viết chữ để lại cho đồng bọn.

Nói rồi y chỉ vào mấy chữ Bảo-Hòa vừa viết:

– Mấy chữ này có nghiã Em bị bọn Tống bắt, hãy hỏi chim ưng để biết đường.

Triệu Huy lấy chân di vết tích mấy chữ ấy đi. Thanh-Mai chữa thẹn:

– Quách công tử. Tổ tiên Quách công tử quả bền chí thực. Lúc đầu ta lấy làm lạ, tại sao Tống đế sai sứ đoàn sang Đại-Việt với một công tác cực mật, mà lại mang một thiếu niên như công tử theo. Thì ra vì công tử biết nói tiếng Việt, và đọc được chữ Khoa-đẩu.

Nàng nói với Bảo-Hòa:

– Xưa kia Quách Quân-Biện bị bắt làm tù binh, y đã dầy công học tiếng Việt, cùng chữ Khoa-đẩu. Y biết rằng quân luật triều Tống rất nghiêm, khi bị giặc bắt, mà không tự tử, lúc được tha về e khó thóat tội bêu đầu. Tống bị thua trận Bạch-Đằng, muốn báo thù ắt phải cần người biết nói, biết viết chữ Việt. Y được tha chết. Y đem chữ Khoa-đẩu dạy con cái. Cho nên Quỳ mới đọc được.

Triệu Huy nói với Đinh Toàn:

– Nào bây giờ chúng ta cùng xuống hầm. Tuy vậy ta cần để Đàm hiệu-úy giữ miệng hầm. Còn ba con cọp cái này, thì phải mang theo. Tôi đi trước, phiền vương gia đi sau coi chừng chúng.

Nhưng chúng chỉ chú ý đến Bảo-Hòa mà quên mất Mỹ-Linh. Nguyên trong phái Mê-linh, các đệ tử đều học văn tự Khoa-đẩu. Thân-mẫu Mỹ-Linh rất giỏi loại văn tự này. Bà đem đạy cho nàng. Trong khi bọn Triệu Huy chú ý đến Bảo-Hòa, thì nàng dựa lưng vào cây chuối, dùng móng tay viết mấy chữ Khoa-đẩu Thiệu-Thái, em với Bảo-Hòa bị nạn. Theo dấu chim ưng tìm bọn em.

Triệu Huy cầm đuốc đi trước. Xuống bẩy bậc thềm thì vào hẳn trong hang động. Hang rộng khỏang mười bước, hình bát giác, mỗi cạnh lại có một cửa ngách. Giữa là bốn tảng đá đặt song song nhau, hình dạng như cái ghế. Triệu Huy cầm đuốc soi vào mấy cái ghế, thấy không có gì lạ, y lại soi tới tám tấm vách đá. Tấm thứ nhất khắc hình cái búa. Bên dưới chằng chịt những chữ. Y không hiểu chữ gì. Y hỏi Đinh Toàn:

– Phải chăng đây là chữ Giao-chỉ?

Đinh Toàn lắc đầu:

– Giao-chỉ không có chữ, từ hơn nghìn năm nay đều dùng chữ Hán như Trung-quốc.

Khi vào đến miệng hầm, Bảo-Hòa đã biết các bia đều chép bằng chữ Khoa-đẩu. Nàng lờ đi như không chú ý tới. Nàng biết Đinh Tòan cũng học chữ Khoa-đẩu như nàng. Có lẽ Tòan không muốn bọn Tống ăn cắp học thuật Lĩnh-nam, y chối cho qua.

Triệu Anh hỏi Quách Quỳ:

– Đồ đệ, người có đọc được chữ này không?

Quách Quỳ liếc qua, y đã biết rất tường tận các tấm bia đều chép bằng văn tự Khoa-đẩu. Tính láu cá nổi dậy, y nghĩ:

– Sư phụ có dạy ta cả đời, thì bất quá võ công cũng bằng người mà thôi. Võ công của Thiếu-lâm muôn ngàn lần không thể so với võ công trong bộ Lĩnh-nam vũ kinh. Chi bằng mình làm bộ không biết, rồi âm thầm chép lấy, đem về luyện tập. Chỉ mấy năm, bản lĩnh mình thành vô địch, bấy giờ sư phụ có khám phá ra, cũng chẳng làm gì nổi mình.

Quỳ làm bộ nhăn mặt, coi đi, coi lại rồi nói:

– Cứ trăm chữ, đệ tử mới đọc được một chữ, thành ra không hiểu gì cả. Mong sư phụ tha tội.

Soi sang tấm thứ nhì, có khắc hình một đứa trẻ cỡi ngựa, tay cầm gậy, con ngựa phun ra những tia lửa dài. Dưới cũng khắc chữ cổ. Tấm thứ ba vẽ một cái xe, bắn ra nhiều mũi tên. Tấm thứ tư vẽ hình con trâu mập. Trên lưng trâu, một người cỡi trong tư thế đánh xuống đầu trâu. Tấm thứ năm vẽ một con sông, cạnh năm ngọn núi. Tấm thứ sáu, vẽ hình tám con vật: khỉ, ong, rắn, voi, chó, ưng, beo, cọp.

Triệu Huy muốn ngộp thở. Y soi tới tấm thứ bẩy có hình con rồng bay lượn. Tấm thứ tám vẽ hình con phượng. Y rút kiếm trao cho Triệu Anh:

– Đại ca hãy cầm thanh kiếm này, đề phòng. Nếu ba cô nương đây có dở chứng thì giết không tha.

Y cầm đuốc cùng Đinh Toàn đi vào đường hầm thứ nhất, cạnh tấm bia vẽ hình đứa trẻ chăn trâu. Đường hầm hẹp khoảng một người đi lọt. Hai bên có nhiều tấm bia. Trên bia khắc chi chít những chữ quái dị cùng đồ hình võ công. Tất cả có ba mươi sáu đồ hình khác nhau. Y quay lại các tấm bia phía sau cũng có ba mươi sáu đồ hình nữa. Y suy nghĩ:

—Đây là võ công gì mà có tới 72 chiêu.

Y hỏi Đinh Toàn:

– Vương gia. Vương gia có biết trong các kho võ công Lĩnh-nam, pho nào có 72 chiêu không?

– Có, đó là kiếm pháp Long-biên. Trong 72 chiêu biến hóa thành âm, dương, hóa ra 144 chiêu… rồi biến thành tới mấy trăm ngàn chiêu theo Bát-quái.

Triệu Huy lẳc đầu:

– Lạ một điều, nếu là kiếm pháp, thì sao đây lại khắc hình chưởng pháp?

Quách Quỳ theo sát chân sư thúc. Nó đọc qua biết trên bia chép Phục-ngưu thần chưởng. Phía trước chép ba mươi sáu chiêu dương. Phía sau chép ba mươi sáu chiêu âm.

Y lui trở ra, theo phía sau tấm bia khắc hình con rồng, thì thấy vẽ những chiêu thức kiếm thuật. Y chán nản lui trở lại, thuật cho Triệu Anh, Ngô Tích nghe. Tuy Anh bị trúng độc, song nhờ công lực mạnh, đầu óc cũng không đến nỗi mê man.

Hai người nhìn Đinh Toàn. Toàn cũng đang vò đầu, vò óc nghĩ không ra.

Đinh Toàn chợt chỉ vào một cái bia nhỏ, ngay cửa đường hầm đi xuống:

– Bia chữ Hán.

Huy, Tích cùng Đinh chạy lại. Một tấm bia nhỏ trên khắc chữ Hán, nét khắc rất thanh tao. Y lấy vạt áo lau bụi, đọc:

Ta vốn sinh, lớn lên trong ở Thục, trong gia đinh võ lâm. Thân phụ ta cùng sáu đồng môn kết thành Thiên-sơn thất hùng. Nhân thời thế lọan lạc, bẩy người rút gươm khởi nghĩa cưú dân, mưu lập nước Nghiêu-Thuấn. Nào ngờ trời không chiều người, sự nghiệp chỉ được vài chục năm rồi tan vỡ.

Quách Quỳ học sử Lĩnh-nam rất kỹ, y nói:

– Sư thúc, đúng rồi. Người khắc bia này họ Vương tên Sa-Giang, gốc đất Thục. Bà ta nổi tiếng hoa khôi thời Đông-Hán. Cha của bà tên Vương Nguyên,làm thừa tướng cho Ngỗi-Hiêu. Khi Thục bị Hán diệt, y còn kháng chiến mấy năm mới bị diệt.

Triệu-Huy đọc tiếp:

Nhân Thục liên kết với Lĩnh-nam, ta găp đấng quân tử Đào Nhị-Gia,kết thành phu phụ. Từ lúc gặp nhau, chúng ta như đôi chim liền cánh. Chàng sủng ái ta cùng cực, tình nghiã như nước, tưởng không bao giờ hết. Ta theo chàng chinh chiến, khi thì Trường-an, khi thì Động-đình, khi thì Nam-hải.

Niên hiệu vua Trưng thứ ba, vua Bà cùng triều đình bị Lê Đạo-Sinh phục binh, dùng muôn nghìn mũi tên sát hại. Bắc-bình vương Đào Kỳ cùng vương phi là tể tướng Lĩnh-nam, muốn đánh một trận cho thỏa lòng rồi chết. Ngặt vì còn con nhỏ, ra đi không đành. Vương là sư huynh của Nhị-Gia. Vương ủy thác hai con là Tử-Khâm cùng Tường-Qui cho trượng phu với ta. Chúng ta vì thế không được tuẫn quốc với người.

Quách Quỳ giảng:

– Đào Nhị-Gia hồi còn bé có tên Sún-Rỗ, học trò Đào Thế-Kiệt. Nhị gia là một đại tướng khét tiếng với đội Thần-ưng.

Triệu Huy mừng quá, muốn đứng tim:

Ngày mười lăm tháng tám. Vương phi hộ tống vợ chồng chúng ta ra khỏi vòng vây Long-biên, dặn ta đem hai con vào Cửu-chân, chịu nhục, ẩn thân nuôi dạy dùm người. Vương còn trao bộ « Lĩnh-Nam vũ kinh » cùng bộ « Dụng binh yếu chỉ » cho trượng phu ta, vì sợ học thuật Lĩnh-nam mai một.

Nay Tử-Khâm, Tường-Qui đều thành người, văn tài lỗi lạc, võ công vô địch. Trong khi đó, tuổi chúng ta đã trên năm mươi. Ta bàn với trượng phu cần khắc tất cả bộ Lĩnh-nam võ-kinh với bộ Dụng-binh yếu-chỉ, rồi chôn một chỗ. Để khỏi làm mất đi biết bao tâm huyết của tiền nhân. Nhân tìm được bãi đất này, chúng ta khắc để lại. Ta tự biết, chôn đâu rồi cũng có thể bị đào lên. Chúng ta mới nghĩ được một kế: các tham quan Hán sang Lĩnh-nam cai trị. Muốn yên thân, họ luôn tự xưng sang giáo hóa man dân. Họ bắt thờ Nhâm Diên, Tích Quang, để dân chúng dễ qui phục họ. Vì vậy nơi thờ Nhâm, Tích không bao giờ người Hán dám động đến. Nhân đó chúng ta bỏ tiền xây đền thờ trên động đá này là ý nghĩa đó.

Đương thời ta được tôn làm « Cầm tiên, tiêu thần ». Sợ rằng sau khi chết đi, nghệ thuật không còn, ta cũng khắc bia để lại. Kẻ hậu thế có duyên thì tìm được mà học, dưới suối vàng, ta cũng đỡ ân hận.

Khắc ngày lành, tháng Giêng niên hiệu Lĩnh-nam thứ ba mươi.

Vương Sa-Giang.

Triệu Huy nói với Đinh Toàn:

– Vương gia, quả thực kho tàng học thuật Lĩnh-nam đây rồi. Nhưng tất cả lại chép bằng chữ Lĩnh-nam, đến vương gia cũng không biết, thì ai đọc được bây giờ?

Thình lình Ngô Tích à lên một tiếng:

– Ta hiểu rồi.

Triệu Huy hỏi:

– Hiểu cái gì?

– Hiểu nội dung mấy tấm bia này. Thời Lĩnh-nam, có bẩy phái võ và nhóm Tây-vu là tám. Đây là tám cái bia chép lại di thư tám phái. Bia khắc đứa trẻ cỡi ngựa kia chắc là chép võ công phái Sài-Sơn. Vì tổ sư phái này là Phù-Đổng thiên-vương. Bia khắc xe chở máy bắn tên kia chắc là chép võ công phái Hoa-Lư. Còn mấy bia kia, sư đệ thử đoán xem thuộc phái nào.

Quách Quỳ biết nếu mình chối tuột không biết chữ Khoa-đẩu, e sư phụ nghi ngờ. Y làm bộ đọc được vài chữ:

– Sư phụ. Tấm bia khắc cái búa, chép võ công phái Cửu-chân.

Y làm bộ nghẹo đầu, nghẹo cổ một lúc rồi nói:

– Bia có hình đứa trẻ cỡi trâu chép võ công phái Tản-viên.

Triệu Huy đoán già:

– Tấm bia khắc hình con rồng chắc là chép võ công phái Long-biên. Còn bia khắc hình tám con vật kia, tượng trưng cho tám đội binh thú rừng thời Lĩnh-nam của Tây-vu, hẳn là chép võ công Tây-vu.

Ngô Tích chỉ vào hai tấm bia còn lại:

– Tấm bia khắc con phụng, chắc ghi võ công phái Quế-lâm. Tấm còn lại khắc hình năm ngọn núi hẳn là chép võ công phái Khúc-giang.

Hơn ngàn năm trước, khi vua Trưng ra lệnh chép học thuật Lĩnh-nam để lại, thì Khúc-giang ngũ hùng đã qua đời, vì vậy học thuật phái Khúc-giang thất truyền. Tấm bia khắc năm ngọn núi chính là nơi chép bộ Lĩnh-nam dụng binh yếu chỉ. Còn bia khắc con phụng, chép võ công phái Thiên-sơn, cùng nghệ thuật đàn, tiêu của Sa-Giang. Ngô Tích tuy thông minh, mà đóan cũng không ra.

Lúc ở trên sân đền, Bảo-Hòa viết mấy chữ Khoa-đẩu, bị Quách Quỳ khám phá ra. Từ khi xuống hầm thấy những tấm bia khắc chữ Khoa-đẩu, Quách Quỳ giả bộ không hiểu hết… nàng biết trước sau gì bọn Triệu Huy cũng bắt nàng dịch sang Hán-văn cho chúng. Vì vậy nàng giả bộ trúng độc, nằm thiêm thiếp ngủ. Tuy nhiên vẫn lắng tai nghe ngóng động tĩnh. Quả nhiên Triệu Huy trở lại chỗ ba chị em nàng ngồi, gọi:

– Này quận chúa Bảo-Hòa. Chữ Khoa-đẩu là chữ cổ xưa của Lĩnh-nam. Cô nương biết viết, tất biết đọc. Phiền cô nương dịch sang Hán-văn dùm tại hạ. Tại hạ cam đoan sẽ đem cô nương trở về Lạng-châu an toàn.

Thanh-Mai đỡ lời Bảo-Hòa:

– Quận chúa bị các vị phun phấn độc, hiện đang mê man. Xin các vị chữa cho quận chúa trước, rồi hãy bàn đến dịch võ kinh. Tôi nói cho các vị biết, chữ Khoa-đẩu hiện chỉ còn hai người đủ khả năng đọc được. Một là sư phụ của Bảo-Hòa. Hai là Bảo-Hòa. Sư phụ Bảo-Hòa dường như qui tiên rồi thì phải. Các vị mau chữa cho Bảo-Hòa ngay mới kịp.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 79770
Has thanked: 35132 times
Have thanks: 45992 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: April 30th, 2017, 7:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 25th, 2017, 2:40 pm


HỒI THỨ MƯỜI BẢY

Vạn Hoa Sơn Trang

Ngô Tích rất quan tâm đến sức khỏe của Bảo-Hòa. Y chạy lên miệng hầm gọi Đàm An-Hòa:

– Đàm hiệu úy. Gần đây có ông thầy châm cứu nào giỏi không?

– Có thì có đấy, nhưng ông ta ở trong Vạn-thảo sơn-trang. Từ đây đến Vạn-thảo sơn-trang ít ra một ngày đường.

Ngô Tích mau mắn:

– Một ngày thì một ngày, chúng ta dùng ngựa phi thật nhanh đến mời ông ta, hẳn mau hơn. Tên ông ta là gì?

Đàm An-Hòa lắc đầu:

– Không ai biết tên thực ông là gì, bao nhiêu tuổi. Người ta thường gọi ông là Hồng-Sơn đại phu. Ông ta gàn bướng lạ lùng. Ông ta chỉ nhận chữa trị cho những bệnh nhân mà không thầy thuốc nào chữa được. Khi ông ta muốn chữa, thì dù bệnh nhân không chịu, ông cũng đè ra chữa. Còn khi ông ta không muốn chữa thì dù tiền rừng bạc biển, dù quan quyền ông ta cũng từ chối. Thành ra lâu ngày dân chúng gọi ông là Hồng-Sơn quái nhân.

Triệu Huy, Đinh Tòan cũng đã lên mặt hầm. Đinh Toàn hỏi:

– Ông ta có biết võ công không?

– Khải tấu vương gia, thần không biết rõ.

Triệu Huy quả quyết:

– Tôi không tin ông ta chê tiền. Chúng ta cứ tới đó, trả giá gấp một vạn lần, thì ông ta ắt phải tối mắt lại mà nhận. Bây giờ thế này, phiền Đàm hiệu úy đi với chúng tôi tới Vạn-thảo sơn trang một lần xem sao.

Đinh Toàn đề nghị:

– Thế thì Ngô nhị gia, Triệu nhất gia, cùng đi với Bảo-Hòa. Còn Triệu tam gia cùng tôi chờ ở đây.

Triệu Huy nghĩ rất nhanh:

– Trong khi đại ca, nhị ca ra đi với An-Hòa. Ở đây chỉ còn mình ta, lỡ Đinh Toàn trở mặt thì e ta không địch nổi y. Lại thêm hai con nha đầu Thanh-Mai, Mỹ-Linh nữa. Ta không dại gì mà tự giam mình vào chốn nguy hiểm.

Y lắc đầu:

– Tôi bàn thế này. Chúng ta mượn chiếc xe ngựa của ông từ chở đại ca, Quỳ với Bảo-Hòa. Tôi đánh xe đó. Còn xe của chúng ta thì An-Hòa đánh, trên chở nhị ca, và hai con nha đầu. Còn Đinh vương gia cỡi ngựa.

Ngô Tích nhiều mưu trí nhất trong bọn. Y ra lệnh cho Quách Quỳ:

– Này Quỳ, sư điệt đọc không nổi những tấm bia này, nhưng chép thì hẳn được. Vậy sư điệt hãy mượn bút của công-chúa Bình-dương, chép tất cả di thư, rồi chúng ta hủy bia đi. Như vậy trên thế gian này, chỉ chúng ta có di thư mà thôi.

Quách Quỳ biết không đừng được, y lục trong bọc Mỹ-Linh, thấy đủ bút, mực nhưng không có giấy. Lục sang bọc Thanh-Mai, thấy có quyển sách khá dày, y mở ra coi. Sách viết bằng chữ Hán, ngòai bìa đề Lĩnh-Nam di sử, đầu óc y lóe một tia sáng:

– Sư thúc, mình chép bằng son, xen vào giữa những chữ in của cuốn sử này.

Triệu Huy cầm đuốc soi cho Quách Quỳ chép. Trong khi Ngô Tích lên miệng hầm truyền cho ông bà từ làm cơm ăn, cùng đem thêm đuốc với bổi xuống hầm. Tám tấm bia quá dài, Quách Quỳ phải chép liền hai mươi ngày mới xong. Trong hai mươi ngày đó, chị em Thanh-Mai bị chúng giam dưới hầm. Tuy bị tù, nhưng được cái chúng tung tiền ra, ông từ cung đốn thức ăn cực kỳ thịnh sọan.

Bảo-Hòa bị trúng độc, tuy vậy tinh thần vẫn tỉnh táo. Nàng giả vờ mê man, để bọn Tống không làm khó dễ. Còn Mỹ-Linh, nàng làm như không biết chữ, tò mò đi xem những tấm bia. Triệu Huy cười chế diễu:

– Công chúa văn hay chữ tốt, nhưng tiếc rằng đứng trước bia này, nó có chửi công chúa, thì công chúa cũng không biết.

Mỹ-Linh giả ngây, mỉm cười. Nàng lần mò đến trước tấm bia có khắc hình con rồng, nhẩm đọc:

Long-biên kiếm pháp.
Sáng tổ Lý Thân, tước phong Vạn-tín hầu.

Mỹ-Linh muốn nghẹt thở. Nàng nhớ lại trong một đêm trăng trên núi, thái-cô của nàng là sư thái Tịnh-Huyền dạy kiếm pháp Long-biên cho nàng. Bà nhấn mạnh rằng kiếm pháp này gồm hai phần. Phần căn bản có 72 thức. Mỗi thức biến hóa ra thành 36 chiêu. Phần thứ nhì là 72 thức trấn môn nối liền các chiêu lại thành một dây. Nếu học được cả hai, sẽ thành anh hùng vô địch. Bây giờ nàng thử đọc xem, biết đâu không tìm được những bí mật đã thất lạc.

Nàng đọc kỹ, quả phần căn bản có 72 thức, cùng cách biến hóa, đúng như Tịnh-Huyền dạy. Nàng đọc sang phần thứ nhì, thấy có 90 câu quyết trấn môn . Đọc lần đầu nàng không hiểu gì cả. Suy nghĩ một lúc nàng thấy trong đó có nhiều thuật ngữ mà mình không hiểu. Chợt trong đầu nàng lóe lên tia sáng: hôm bị giam trong tù, Tịnh-Huyền bắt nàng học đi, học lại những thuật ngữ và dặn dò : « người xưa chép võ công, sợ rằng kẻ vô tư cách đọc được, mới chép bằng thuật ngữ đặc biệt ». Vì vậy bà bắt nàng học thuộc các thuật ngữ đó.

Vốn thông minh, Mỹ-Linh nhẩm một lúc thuộc tất cả 72 thức trấn môn cùng 90 câu quyết, rồi lần mò đi xem các tấm bia khác.

Bọn Triệu Huy tuyệt không ngờ nàng biết chữ Khoa-đẩu, chúng để nàng tự do muốn làm gì thì làm. Bọn chúng nào ngờ trong hai mươi ngày, Mỹ-Linh thuộc tất cả những gì chép trên tám tấm bia. Lúc đọc đến tấm bia có vẽ con trâu, phía dưới còn ghi chú:

Bồ-tát Tăng-gỉa nan-đà đến Lĩnh-nam hoằng dương đạo pháp vào niên hiệu vua Trưng thứ nhất. Một đêm gặp Trưng Nhị, Hồ Đề, Trần Năng trên hồ Động-đình. Ngài giảng linh Kim-cương, Bát-nhã, Lăng-gìa. Song chỉ có Trần Năng ngộ đựơc. Trong trận đánh Vương-sơn, Trần Năng đã hợp Thiền-công với nội công Tản-viên, mà thành vô địch. Nay xin chép vào đây.

Mỹ-Linh đọc tiếp:

– Người nào muốn luyện Thiền-công này, trước hết phải thấu hiểu yếu chỉ kinh Kim-cương, Lăng-gìa, Bát-nhã đã.

Mỹ-Linh cười thầm:

– Gì chứ kinh Kim-cương, Bát-nhã, Lăng-già thì mình thuộc làu từ hồi còn thơ. Sư phụ giảng đi, giảng lại cho mình đến mấy lần rồi.

Mỹ Linh là đệ tử yêu của cao tăng đắc đạo. Vì vậy nàng thấu ý nghĩ mọi kinh điển nhà Phật. Bây giờ thấy bia chép yếu chỉ luyện công, nàng hiểu liền. Ngẫm nghĩ một lúc, nàng nhẩm đọc, rồi hít hơi vận khí thử, thấy trong người khoan khóai vô cùng. Nàng không dám luyện nữa, vờ xem qua, nhẩm đọc, nghĩ:

– Để đêm ta luyện thử. Chúng tưởng ta luyện nội công Tiêu-sơn, như vậy mới yên.

Đêm đó nàng nhắm mắt luyện Thiền-công như trong bia đá dậy, thì thấy chân khí biến mất, trong lòng trống không. Nàng giật mình:

– Không xong, nếu tiếp tục luyện, chân khí ta sẽ bị tuyệt thì nguy.

Song trong đêm đó, tiềm thức làm việc, nàng tiếp tục luyện. Sáng dậy thấy trong lòng không còn gì cả, nhưng người lại khỏe vô cùng. Nàng nghĩ thầm:

– Tại sao thế nhỉ? Bao nhiêu công lực sư phụ, chú hai dạy mình biến mất rồi, mà mình lại mạnh khoẻ thế này? Mình nghe sư phụ nói, nhà Phật có bốn loại Thiền-công là Vô-ngã tướng, Vô-nhân tướng, Vô-chúng sinh tướng và Vô-thọ giả tướng. Trong bốn loại đó thì Vô-ngã tướng uy lực mạnh nhất, nhưng nay đã thất truyền. Không lẽ là thần công này?

Nàng đến tấm bia chép Phục-ngưu thần chưởng, Lĩnh-nam chỉ nhẩm học thuộc lòng.

Chiều hôm ấy, ông bà từ đem thức ăn vào cho bọn Triệu Huy. Ăn xong, Ngô Tích bàn:

– Hôm qua, chúng ta ngủ trên đền, chỉ có ba con ngạnh đầu ngủ dưới này với Quách Quỳ. Hôm nay chúng ta ngủ cả dưới này cho an ninh.

Bọn chúng gọi ông từ mang chiếu đến cho chúng. Quách Quỳ ngáp dài:

– Sao hôm nay buồn ngủ quá thế này không biết.

Câu nói của Quỳ làm mọi người cùng thấy có gì khác lạ, bởi tất cả đều buồn ngủ ríu mắt lại.

An-Hoà làm ra vẻ hiểu biết, y nói:

– Hồi chiều chúng ta ăn canh rau ngót nấu với cả rô. Rau ngót làm buồn ngủ mà thôi, không có gì lạ đâu.

Cả bọn ngáp dài rồi ngủ.

Trong khi bọn Triệu Huy bàn tán, Mỹ-Linh vẫn ngồi luyện công. Trái với mọi người, nàng vẫn thấy tỉnh táo vô cùng, không hề buồn ngủ.

Nàng luyện được một lúc, thấy trong người khoan khoái vô cùng. Quay lại, từ Thanh-Mai, Bảo-Hoà cho đến bọn Triệu Huy đều ngủ rất sâu. Mỹ-Linh kinh ngạc:

– Dường như có người bỏ thuốc mê vào canh. Cho nên mọi người mới ngủ say thế này? Thế tại sao mình cũng ăn canh mà không bị trúng độc?

Chợt Mỹ-Linh nhớ lại: xưa kia công chúa Yên-Lãng Trần Năng luyện Vô-ngã tướng Thiền-công, chống được Huyền-âm độc chưởng. Vì vậy nay nàng luyện Thiền-công này, thuốc độc không ngấm vào người nàng được. Nàng nhủ thầm:

– Bất biết kẻ nào hạ độc. Ta cứ im lặng xem chúng làm gì?

Nàng vờ nằm xuống ngủ. Quả nhiên không lâu, có tiếng chân người đi nhẹ nhàng. Lát sau một bóng đen xuống hầm. Bóng đen đánh lửa, đốt lên ngọn đuốc, rồi cầm soi vào các bia đá. Mỹ-Linh nghiêng đầu nhìn. Suýt nữa nàng bật lên tiếng la. Thì ra bóng đen chính là nhà sư đã ra tay cứu Bảo-Hoà trong đại hội Lệ-Hải bà vương.

Trong đầu óc Mỹ-Linh có không biết bao nhiêu nghi vấn:

– Nhà sư trẻ này là ai? Chính phái hay tà phái? Ai sai nhà sư lên Bắc-biên theo dõi bọn Địch Thanh? Nhà sư có bản lĩnh cao lắm, mới đấu được mấy chiêu của Dư Tĩnh, Địch Thanh. Không biết có phải nhà sư đã ném đá giết con hoẵng, rồi ăn vụng nửa con hoẵng nướng không? Lại còn người ném quả bưởi đánh Triệu Huy không chừng cũng là nhà sư này cũng nên.

Nhanh như chớp, nhà sư cầm bút chép những võ công trên bia đá. Chép đến gần sáng thì xong. Nhà sư theo lối cũ ra khỏi hầm.

Mỹ-Linh cười thầm:

– Bọn Triệu Huy tưởng mình tìm ra di thư. Nào ngờ ta tự nhiên toạ hưởng. Rồi nhà sư kia cũng biết, đánh thuốc mê mọi người, vào chép di thư.

Trời sáng tỏ, bọn Triệu Huy thức giấc. Chúng tự cho rằng mình ngủ mê. Chúng bàn định đủ truyện. Cuối cùng bàn truyện đi Vạn-thảo sơn trang.

Trong khi bọn Triệu Huy bàn định, Bảo-Hòa nói sẽ vào tai Thanh-Mai, Mỹ-Linh:

– Cứ để cho bọn chúng bàn nhau. Tôi có cách thoát thân rồi. Thanh-Mai với Mỹ-Linh cứ ngoan ngoãn theo chúng đến Vạn-thảo sơn-trang.

Ngô Tích bắt Quách Quỳ kiểm điểm lại xem có sai chữ nào không. Sau khi biết chắc di thư chép lại đầy đủ, Triệu Huy, Ngô Tích cầm kiếm vạc các tấm bia đi. Phút chốc, bia chỉ còn là những phiến đá lồi lõm. Triệu Huy dẫn ba chị em Thanh-Mai ra khỏi hầm. Y cùng với Ngô Tích, Đinh Tòan đem đá lấp cửa hang như cũ,rồi kéo cái bể cạn lại che dấu vết.

Gần một tháng bị giam dưới hầm, bây giờ Bảo-Hòa mới được ra ánh sáng mặt trời. Nàng thấy ông từ với vợ con đứng bên miệng hầm, thì biết ông đã được giải cứu. Triệu Huy rút thanh kiếm múa một vòng. Tia thép sáng ngời. Y dí kiếm vào cổ ông từ. Vợ con ông kêu rú lên. Y móc trong bọc ra nén vàng đưa cho bà từ:

– Đây là phần thưởng cho ông bà. Nếu ông bà tiết lộ những gì ở đây với người khác, ta sẽ giết cả nhà.

Không đợi ông bà từ cảm ơn, Triệu Huy nói với Thanh-Mai:

– Bản tâm chúng tôi không muốn trói công chúa với cô nương. Ngặt vì các cô đều là sư tử dữ, vì vậy tôi phải vô phép. Song chúng tôi chỉ trói giới hạn để các cô vẫn đi đứng như thường, miễn các cô không chạy trốn được là đủ. Tôi xin nói trước, trên đường đi, các cô kêu lên một tiếng, bất đắc dĩ tôi phải chặt đầu các cô.

Bảo-Hòa thấy trên đầu nàng, đôi chim ưng vẫn bay lượn. Nàng vờ lui vào bụi cây đi tiểu, gọi chim ưng xuống. Nàng móc tờ giấy ở trong ống, dưới chân chim, thì ra đó là một bức thư của Thân Thiệu-Thái. Nàng đọc qua, rồi xé bỏ, huýt sáo cho chim bay đi.

Bọn Triệu Huy đốc thúc cho xe lên đường. Xe của Ngô Tích có An-Hòa dẫn đường đi trước, xe chở Bảo-Hòa theo sau. An-Hòa tỏ vẻ thông thạo đường lối:

– Trên đường đi chúng ta phải vượt cửa Thần-đầu, trên núi đường uốn cong như ruột dê. Dưới chân núi là Vạn-hoa-trang, Vạn-thú-trang. Cuối cùng tới Vạn-thảo sơn-trang là nơi quái-nhân ở.

Khởi hành từ lúc mặt trời ló dạng, đến khi ánh nắng vàng úa đổ xuống đầu, thì đã qua được trên trăm dặm. Xe đang đi ngon trớn, phía trước có con ngựa phi ngược chiều, phóng như bay. Quách Quỳ tinh mắt kêu lên:

– Ngựa hoang, nó chạy một mình, không có người cỡi.

Bọn Triệu Huy cùng dương mắt nhìn. Con ngựa dần dần tới gần. Ngô Tích kêu lên:

– Lạ không kìa, ngựa có yên cương đàng hoàng, mà không người cỡi.

Triệu Huy vẫy tay ra hiệu, cả hai chiếc xe cùng dừng lại, y bảo Quách Quỳ:

– Sư điệt, cháu xuống ngăn con ngựa đó lại, bắt mà cỡi.

Quách Quỳ nhanh nhẹn nhảy xuống đứng bên đường, tay nó cầm sợi dây thắt thòng lọng. Khi con ngựa tới gần tầm, nó vung tay. Sợi dây từ từ chụp xuống đầu ngựa. Con ngựa né đầu sang bên cạnh tránh khỏi. Hai chân trước dựng đứng dậy, miệng hí lên lanh lảnh.

Quách Quỳ vung dây chụp nữa. Con ngựa lại né tránh dễ dàng. Sau khi tránh khỏi sợi dây, con ngựa hí lên, nó chụp hai chân trước xuống đầu Quách Quỳ. Quách Quỳ vọt người lên cao, định cỡi lên lưng ngựa. Khi mông y sắp chạm vào lưng ngựa, thì một bàn tay nhỏ bé tát vào mặt y hai cái. Y ngã chúi đầu xuống đất. Y vội lộn một vòng, đáp trên mặt đất.

Y ngửa mặt nhìn lên, người đánh y là một thiếu niên ngang tuổi, đang ngồi chễm chệ trên mình ngựa.

Thiếu niên chỉ mặt Quách Quỳ:

– Mày là ai, mà dám ăn cắp ngựa của tao?

Bấy giờ bọn Triệu Huy mới biết thiếu niên tinh nghịch, bám hai chân vào lưng ngựa, còn mình ẩn thân dưới bụng, thành ra ai cũng tưởng ngựa không người cỡi. Triệu Huy kinh ngạc:

– Ta là tướng cầm quân vùng biên giới bắc Trung-quốc, đối phó với Tây-hạ, nơi đây tập trung tất cả kị mã tài nhất thiên hạ, thế mà chưa từng thấy ai có bản lĩnh kị mã như thiếu niên này.

Quách Quỳ bị tát đau, ỷ có sư phụ, sư thúc bên cạnh. Nó lớn lối:

– Tao thấy ngựa mày chạy lấn đường, tao bắt. Chứ tao thèm ăn cắp con ngựa điên của mày làm gì?

Thiếu niên từ trên mình ngựa tà tà đáp xuống, nó vung roi ngựa quất vào đầu Quách Quỳ. Quách Quỳ khinh thường, tay chụp roi ngựa giật mạnh. Chỉ nghe đến vù một cái, thiếu niên bị bay bổng lên cao.

Thanh-Mai kinh hãi la lớn:

– Nguy quá!

Song nàng bị trói tay, không can thiệp được. Tiếng la vừa dứt, thì binh, binh hai tiếng, Quách Quỳ bay xuống dưới ruộng. Y đứng dậy, bùn dính đầy quần áo, đầu tóc, trông thực thảm hại.

Thì ra thiếu niên nhân cái giật của Quỳ, đã mượn sức vọt người tới, phóng vào Quỳ hai phi cước.

Quách Quỳ xổ ra một tràng tiếng Trung-quốc:

– Con mẹ mày, tên Nam-man đánh trộm.

Thiếu niên dường như không biết tiếng Trung-quốc, hỏi lại:

– Mày nói gì vậy?

Cả bọn Triệu Huy cười ồ lên. Thanh-Mai thấy thiếu niên còn nhỏ tuổi, mà bản lĩnh ngang với Tự-Mai em mình, thì biết đây là con nhà danh gia, được huấn luyện rất chu đáo. Nàng lên tiếng:

– Này em ơi, đứa trẻ này họ Quách tên Quỳ. Nó chửi em đó.

Rồi nàng dịch lại nguyên văn cho thiếu niên nghe. Thiếu niên giận lắm:

– Được, tao tát vào mặt mày đây.

Rồi nó vung tay lên. Quách Quỳ xuống chảo mã tấn, trả đòn. Cuộc đấu bắt đầu. Ngô Tích nói với Triệu Huy:

– Sư đệ, công phu luyện tập của thằng này không hơn Quách Quỳ. Nhưng võ công của nó khắc chế võ công Quách Quỳ, nên y cứ bị lâm thế bị động hoài.

Vừa lúc đó một chiếc xe ngựa đi tới. Trên xe có một thiếu nữ nhan sắc diễm lệ, tuổi khoảng mười tám. Dường như nàng không quan tâm đến cuộc đấu, thản nhiên ngồi trên xe nhìn trời đất.

Quách Quỳ bị thiếu niên đánh trúng ba bốn cái tát, mặt nó đỏ ngầu những máu. Thiếu nữ ngồi trên xe cau mày:

– Cái thằng cà-chớn. Thời giờ đã không có, mà còn đi đùa nghịch với thằng chệt con làm gì! Có mau lên không! Tối này về nhà, tao đánh què cho biết thân.

Nghe thiếu nữ dọa, thiếu niên nói:

– Này thằng Tầu-con. Ngừng nghe. Đánh nữa chị tao phạt tao.

Miệng nói, tay đánh hai chiêu cực quái dị. Quách Quỳ trông rất rõ mà y không tránh được. Người y bay bổng lên cao, rơi xuống cái đụi. Y không ngồi dậy được nữa.

Thiếu niên nhìn thiếu nữ, méo miệng làm xấu. Thiếu nữ vung tay, roi ngựa quấn ngang người thiếu niên. Tay nàng rung một cái, thiếu niên đã bay bổng lên lưng ngựa. Trong khi lơ lửng trên không, nó nhổ một bãi nước miếng, trúng giữa mặt Triệu Huy.

Triệu Huy nổi giận:

– Thằng quỉ Nam-man.

Chửi rồi y bay người lên cao, phóng chưởng đánh thiếu-niên. Thiếu-nữ lên tiếng:

– Cái thằng hư quá. Làm mất thời giờ. Có giải quyết mau đi không?

Chưởng của Triệu Huy đâu phải tầm thường. Thiếu niên chĩa ngón tay phóng ra một chỉ. Nếu Triệu Huy tiếp tục đánh tới, thì bàn tay y bị thương. Y vội biến chưởng thành cầm nã, định bẻ gẫy ngón tay thiếu niên. Thiếu niên hú một tiếng. Con ngựa khụy chân xuống, rồi lao về trước. Triệu Huy đánh hụt, người y rơi xuống đất.

Y quên mất thân phận một đại cao thủ của mình, rút kiếm ra chiêu Vân hoành Tần-lĩnh định chẻ thiếu niên với ngựa làm hai.

Thiếu nữ rung tay, roi ngựa duỗi ra, rồi cuốn lấy thanh kiếm của Triệu Huy. Lách cách hai tiếng, kiếm của y gẫy làm hai. Tay y chỉ còn cầm cái chuôi.

Thiếu niên méo miệng trêu bọn Triệu Huy:

– Bọn chệt, có giỏi chơi keo nữa.

Ngô Tích vung kiếm định tấn công thiếu niên.

Thiếu nữ lên tiếng:

– Các người là ai, mà đến vùng ba xã Vạn này, định ăn cắp ngựa, rồi lại muốn giết người?

Đàm An-Hòa quát lớn:

– Các người không được vô lễ. Đây là hai vị đại nhân tháp tùng Thiên-sứ đại Tống. Các người có mau xuống xe xin lỗi người ngay không? Bằng không ta bắt về dinh tuyên-vũ-sứ chặt đầu.

Thiếu nữ cười nhạt:

– Đúng ra, ta không muốn gây sự làm gì. Nhưng đây là bọn sứ Tầu, thì ta cần cho chúng mấy cái tát.

Thiếu nữ từ xe vọt người lên cao. Từ trên cao, nàng phóng chưởng đánh Triệu Huy, Ngô Tích. Hai người vội đứng dậy phát chưởng đỡ. Bình, bình, hai người choáng váng, thối lui ba bước. Còn thiếu nữ mượn đà, bay về xe. Nàng cười:

– Ta dạy dỗ mi như vậy cũng đủ rồi. Ta đi đây.

Chợt nhìn thấy ba chị em Thanh-Mai bị trói. Thiếu nữ vung roi lên. Cây roi như con rắn, mổ vào dây trói. Dây đứt hết.

Nàng hỏi:

– Các em là ai mà bị bọn này bắt trói như vậy?

Bảo-Hòa chỉ Mỹ-Linh:

– Cô này tên Lý Mỹ-Linh

Thiếu nữ hỏi:

– Cô họ Lý à? Thế cô có liên hệ gì với Lý Công-Uẩn không?

Thời bấy giờ, muốn nói đến vua Lý Thái-Tổ, phải gọi là Thuận-thiên hoàng đế, nếu gọi tên tục ra thì phải tội chém. Nghe thiếu nữ gọi tên ông nội sách mé như vậy, Mỹ-Linh bực mình:

– Tôi là cháu nội đức hoàng đế.

Thiếu-nữ nhổ nước miếng đánh toẹt một cái, rồi hô lên:

– Đi thôi! Ta không muốn nhìn mặt con cháu thằng khỉ đột chăn trâu, ở chùa.

Nói dứt lời, nàng giật cương cho ngựa chạy. Thiếu niên quay lại méo mặt làm xấu trêu Quách Quỳ, rồi cho ngựa chạy theo.

Bọn Triệu Huy ngơ ngác nhìn nhau. Y hỏi Thanh-Mai:

– Trần cô nương kiến thức uyên bác. Cô nương có biết bọn vừa rồi là ai không?

Thanh-Mai mỉm cười:

– Tôi không rõ. Nếu căn cứ vào võ công, thì cũng có thể đoán được lý lịch họ. Thiếu niên có thuật kị mã siêu việt, ắt thuộc phái Sài-sơn. Phái Sài-sơn vốn là đồ tử đồ tôn của Phù-đổng thiên vương, thuật kỵ mã trên thế gian này không ai sánh kịp. Trong khi thiếu niên đấu với Quách công tử, y dùng võ công Cửu-chân, khắc chế võ công Trung-nguyên. Lại lúc đấu với Triệu tam gia, y dùng Lĩnh-nam chỉ pháp. Lĩnh-nam chỉ pháp vốn là võ công do Khất-đại-phu Trần Đại-Sinh với Bắc-bình vương Đào Kỳ chế ra. Lại khi thiếu nữ vung roi cắt đứt dây trói cho bọn tôi, chiêu thức đó do bồ tát Tăng-giả Nan-đà thời Lĩnh-nam truyền cho công chúa Trần Năng. Vì vậy khó có thể đoán ra họ thuộc phái nào.

Triệu Huy nhìn Mỹ-Linh, y cười đểu giả:

– Công chúa. Công chúa tự hào trăm họ Đại-việt đều quay đầu qui phục triều đình. Thế mà hôm nay, còn có người nghe đến họ Lý phát buồn nôn, phải nhổ nước miếng.

Mỹ-Linh lờ đi như không nghe lời Triệu Huy nói.

Mặt trời đã nhô lên khỏi ngọn tre, chiếu ánh nắng chói chang trên rừng núi. Hai chiếc xe lăn bánh trên con đường cái quan, rộng mà dài hun hút. Vì Đàm An-Hòa mặc quân phục của cấp hiệu-úy, nên dọc đường dân chúng tưởng xe quan nha đi bắt người. Tới quá Ngọ, xe vượt qua núi, rồi đổ đèo. Đàm An-Hòa chỉ khu thung lũng xanh tươi nói:

—Kia là Vạn-hoa sơn-trang. Chúng ta vào đó ăn cơm đã.

Đinh Toàn hỏi:

– Đàm hiệu úy có quen thuộc với trang chủ không?

– Thưa vương-gia không. Cứ như người ta kể lại, Vạn-hoa sơn trang mới được thiết lập vào đời vua Đinh. Chủ nhân là người rất giỏi nghề canh nông. Trong sơn trang trồng không thiếu thứ hoa nào cả. Sơn-trang có một quán ăn cho khách thập phương qua đường ăn ở trọ. Cho nên ai có tiền thì vào được, không cần quen biết.

Ngô Tích cho gò xe lại nói với Triệu Huy:

– Tam đệ, chúng ta dừng chân ở quán Sơn-trang kia kiếm cái gì ăn đã.

Đàm An-Hòa tán đồng:

– Quán này thuộc Vạn-hoa trang. Chúng ta dừng lại đó ăn cơm thì tuyệt.

Quách Quỳ hỏi lại:

– Đàm hiệu úy có quen biết trang chủ không?

– Không. Nhưng trang chủ mở nhà tửu lâu tiếp khách. Chúng ta có tiền thì vào được.

Triệu Huy ra lệnh cho Đàm An-Hòa:

– Chúng tôi nói tiếng Việt giọng lơ lớ. Vậy kể từ lúc vào quán, nhất thiết mọi việc do hiệu-úy lo liệu. Tôi chỉ xin nhắc lại một lời, chúng tôi theo sứ đoàn Đại-tống. Nước Đại-tống giầu có súc tích, đức kim thượng không tiếc tiền chi phí cho bọn tôi. Vì vậy ăn phải chọn những món đắt nhất, ngon nhất.

Hai chiếc xe từ từ ngừng bánh trước quán ăn. Quán không lớn, nhưng thực sạch sẽ. Trước quán có hai chậu cảnh. Trong chậu trồng hai cây hoa mào gà. Hoa nở đỏ chói. Sân quán có dàn thiên-lý. Hoa vàng rực rỡ.

Một người đàn bà, dáng người thanh nhã, tóc bạc như cước nhưng da mặt hồng hào, bước đi khoẻ mạnh. Bà thấy trong năm vị khách sang, một đứa trẻ xuống xe, theo sau là ba thiếu nữ tuyệt sắc bị trói tay thì hơi ngạc nhiên. Song trên con đường cái quan này, quan nha bắt người giải qua là thường. Bà đon đả chào:

– Kính chào qúi khách. Không biết quí khách muốn dùng cơm ở quán hay muốn vào Sơn-trang thăm hoa?

Đàm An-Hòa hách dịch:

– Đây là các vị đại nhân thuộc sứ đoàn Thiên-triều. Chúng tôi muốn vào ăn cơm trong Sơn-trang.

Nói rồi y giới thiệu tên họ, chức tước từng người.

Bà già mời bọn Triệu Huy, Đinh Tòan vào cái bàn lớn, trên bàn chưng hai bình hoa tươi, hương thơm ngạt ngào. Bà chỉ cho chị em Thanh-Mai một cái bàn bên cạnh:

– Ba cô ngồi đây.

Bà già nói:

– Xin quí khách ngồi chờ một lát, sẽ có người hướng dẫn qúi khách thăm Sơn-trang. Qúi khách dùng món ăn gì, chúng tôi xin làm dâng lên.

Đàm An-Hòa nghĩ thầm : Đã vậy lão gia gọi những món thực trân quí cho bay không cung ứng nổi. Y nói:

– Chúng tôi đi đường xa, trời lại nắng. Xin cho uống trà ướp sen trước. Món thứ nhất là thịt đùi nai tơ xào với mướp hương. Món thứ nhì cho mỗi người một đùi gà hấp ngũ vị hương. Nhớ phải là đùi gà tơ đấy nhé. Món thứ ba là canh mướp đắng, nhân nhồi bên trong phải đủ tám thứ trân quí. Bà có biết tám thứ trân quí là gì không?

Bà già thấy Đàm sanh ăn, mỉm cười:

– Thưa quí khách, tám món trân quí gồm bốn loại dưới biển là tôm hùm, sò huyết, cua gạch, mực thẻ, thêm bốn thứ gia vị là nấm hương, hành tía, rau ngót, mộc nhĩ.

– Giỏi. Món thứ tư là chim cu quay, trong bụng nhồi năm thứ rau thơm. Không biết trong trang có đủ không?

– Thưa quí khách, có đủ. Một là xương xông, hai là ngổ, ba là húng tía, bốn là tỏi tía, năm là hành trắng.

– Còn tráng miệng xin cho thứ trái nào quí nhất trong trang.

Sau khi mọi người ngồi vào bàn, bà già vẫy tay gọi, một thiếu niên tuổi khoảng mười tám, hai mươi:

– Nhân-Nghĩa, mau ra giữ ngựa cho quí khách.

Nhân-Nghĩa là một thiếu niên vạm vỡ, dáng điệu hiên ngang, da tươi hồng. Y cầm cương, cột ngựa vào mấy cái cọc. Không biết y làm cách nào, mà một lát mang ra được đến ba bó cỏ xanh tươi sạch sẽ cho ngựa ăn. Như quen việc, y múc nước trong cái vại, tắm ngựa.

Ngô Tích thấy thiếu niên chu đáo, y móc trong túi ra một lượng bạc, vẫy tay gọi:

– Chú em, ta tặng chú em chút ít, gọi là thưởng công mẫn cán của chú.

Thời bấy giờ nước Đại-việt dùng tiền do vua Lý Thái-tổ mới đúc mang tên Thuận-thiên thông- bảo. Tiền đúc bằng đồng thau, có ba lọai. Đồng nhỏ nhất gọi là một tiền, rồi tới đồng năm tiền và đồng mười tiền. Một quan có sáu trăm đồng. Cứ ba quan, ăn một lượng bạc, mười lượng bạc ăn một lượng vàng. Tiền công của một đứa trẻ chăn ngựa khỏang một tiền mỗi ngày. Tự nhiên Nghiã được tới 1.800 đồng. Y cúi rập người xuống cảm ơn.

Đinh Toàn thắc mắc:

– Xá gì một chút công cho ngựa ăn, mà Ngô an-phủ-sứ phải phí tiền vậy?

Triệu Huy cười:

– Chúng ta là sứ đoàn Thiên-triều, giầu có ức vạn. Cho vậy còn là ít đó.

Quách Quỳ ngơ ngác:

– Sư thúc, cháu không hiểu.

Ngô Tích nói sẽ vào tai Qùi:

– Khi vua Tống Thái-tổ Triệu Khuông-Dẫn chiếm được vùng sông Trường-giang, lập tức mang quân thanh toán hầu hết các nước xung quanh. Tuy vậy vẫn còn sáu nước Kim, Liêu, Tây-hạ, Thổ-phồn ở phía Bắc và Đại-lý, Đại-việt ở phía Nam. Sau nhiều trận đánh với các nước phương Bắc, quân Tống bị thất bại nặng nề. Vó ngựa chinh phạt tạm dừng lại.

Y thở dài:

– Vua Tống Thái-tổ chết đi, mà lòng còn ấm ức. Ngài để di chiếu lập em trai là Triệu Khuông-Nghĩa kế nghịệp. Trong di chiếu, ngài dặn các vua kế nghiệp sau này phải chiếm hết các mước xung quanh. Vua Thái-tông thấy mở rộng lãnh địa lên phía Bắc chạm phải binh lực qúa hùng hậu của Tây-hạ, Kim, Liêu. Ngọn cờ đành chỉ xuống Nam. Khu-mật-viện nhà Tống nghiên cứu rất kỹ tình hình đất Việt tâu lên: Nước Việt trước đây có tên Văn-lang, sau đổi ra Lĩnh-nam, đất rộng, dân đông, có chữ viết, tiếng nói, văn hóa rực rỡ như Trung-nguyên. Vào thời Đông-Hán, vua Bà cai trị, một lần định đem quân đánh chiếm Trung-quốc. Từ khi vua Bà chết rồi, Lĩnh-nam bị Trung-quốc cai trị 900 năm. Cho mãi đến năm Tân-mão (931) mới có một hào kiệt tên Dương Diên-Nghệ nổi lên đánh đuổi người Hán. Song Nghệ chỉ là một thứ quân phiệt, tự xưng tiết-độ-sứ .Sự nghiệp ông kéo dai năm năm thì bị Kiều Công-Tiễn giết chết (937). Con rể ông là Ngô Quyền giết Công-Tiễn, đánh trận Bạch-đằng bắt giết thái-tử Hoằng Tháo của Nam-hán, lập triều đình (939). Nhà Ngô lập quốc, sau một ngàn năm bị cai trị, chưa kịp tổ chức thành một nước có kỷ cương thì Ngô Quyền mất (944). Đại-việt lâm vào tình trạng sứ quân. Mười hai sứ quân nổi lên đánh giết lẫn nhau. Đinh Bộ-Lĩnh thắng tất cả các sứ quân mà lên ngôi vua.

Quách Quỳ thắc mắc:

– Lúc Đinh Bộ-Lĩnh mới được nước, nội trị chưa vững, sao mình không đem quân sang đánh chiếm, có phải dễ dàng không?

– Có đấy chứ. Nhưng Lĩnh khôn lắm, niện hiệu Khai-bảo thứ nhì (969) y sai sứ sang cống, xin qui phục. Triều đình bàn đi, tính lại. Có ý kiến đưa ra nên đánh Giao-chỉ trước, giữ lấy vùng giầu có, rồi quay lên Bắc. Có ý kiến nên đánh Tây-hạ trước. Trong triều không có quyết định thống nhất. Cuối cùng vua Thái-tổ ban chỉ bỏ đánh Giao-chỉ. Vì Giao-chỉ quân ít nhưng võ lâm thì mạnh hơn các nước kia. Do đó triều đình ưng chuẩn, phong cho Đinh Bộ-Lĩnh làm Giao-chỉ quận vương. Con y là Đinh Liễn làm Kiểm-hiệu thái-sư, Tĩnh-hải quân tiết độ sứ, An-nam đô hộ phủ. Gã Đinh Toàn đi cùng với mình đây là con Đinh Bộ-Lĩnh. Còn truyện Đinh Bộ-Lĩnh cùng Đinh Liễn bị giết thế nào hôm qua Đinh Toàn đã nói rồi.

Ngô Tích ngừng một lát, rồi tiếp:

– Khi Lê Hoàn cướp ngôi nhà Đinh, triều đình sai Hầu Nhân-Bảo đem 20 vạn quân, ba mười vạn dân phu sang đánh, ông nội con được gửi theo giúp, bị thất bại… truyện này con biết rồi. Cho nên từ khi đức kim thượng lên ngôi, người tìm đủ mọi cách đánh chiếm Giao-chỉ. Bình-nam vương được chỉ định coi Khu-mật-viện. Đầu tiên vương gia cử năm đoàn sang dò thám, nghiên cứu tình hình… rồi đích thân vương gia dẫn bọn mình sang với năm chỉ dụ. Một là chia rẽ họ Lý với võ lâm. Hai là mua chuộc các cao thủ Giao-chỉ. Ba là tìm di thư thời Lĩnh-nam. Bốn là lôi kéo võ lâm Lĩnh-nam sang Trung-nguyên thi võ, rồi dùng họ đánh các nước phía Bắc. Khi các nước phía Bắc bị diệt, thì Giao-chỉ như cá nằm trên thớt, giết lúc nào mà chả được? Năm là trong chuyến đi này, sứ đoàn phải tỏ ra nước đại Tống giầu súc tích. Có như vậy, man dân mới hướng về Thiên-triều.

Tích bẹo má Quỳ:

– Con thấy không? Chút công ông từ chẳng làm bao, mà ta cho hai nén vàng, tổng cộng mười lượng. Còn thằng nhỏ này, công chỉ đáng một tiền, ta cho gấp 1.800 lần. Tin này đồn ra, bọn Nam-man sẽ thi nhau tìm chúng ta mà qui phục.

Một lát, hai cỗ xe từ phía chân núi đi tới. Mỗi xe có bốn con lừa kéo. Người đánh xe đi trước là một cô gái áo tím. Người đánh xe đi sau là cô gái mặc áo hồng. Trên mỗi xe có hai hàng ghế, mỗi hàng ghế ngồi được ba người.

Bà gìa kính cẩn mời khách:

– Xin mời quí khách viếng Sơn-trang,

Ngô Tích nhìn hai cô gái ngỡ ngàng:

– Đành rằng trong lịch sử còn ghi gái Việt xinh đẹp. Nhưng xinh đẹp là những tiểu thư, những con nhà giầu. Chứ có đâu hai cô gái này là thôn nữ đánh xe thuê mà cũng đẹp dường này?

Hai thiếu nữ tuổi khoảng mười sáu, mừơi bẩy, dáng người hơi cao ,lưng tròn, bàn tay trắng mịn, nước da mặt tươi hồng. Các cô mặc áo lụa, quần lụa đen. Trên người thoang thoảng tiết ra mùi hương.

Triệu Huy, Đinh Tòan, Triệu Anh, Quách Quỳ đi xe của cô gái áo tím. Ngô Tích, Đàm An-Hòa, ba chị em Thanh-Mai đi xe của cô gái áo hồng. Cô gái áo hồng thấy ba chị em Thanh-Mai bị trói, thì hơi nhăn mặt một cái, rồi thản nhiên như không.

Cô gái áo-tím tự giới thiệu:

– Tôi có tên là Nàng-Tía, được chủ nhân trao cho nhiệm vụ hướng dẩn du khách. Cô em tôi có tên Nàng-Hồng. Chúng tôi được lệnh chủ nhân thù tiếp các vị.

Đàm An-Hòa chỉ bà già tóc trắng hỏi:

– Có phải lão bà kia là chủ nhân không?

– Không. Bà có tên là Bạch-Nương, phụ trách tiếp khách.

Xe hướng chân núi lăn bánh. Đầu tiên qua cái cổng bằng đá xếp lại. Trên nóc cổng có hàng chữ đề:

« Vạn hoa sơn trang. »
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 79770
Has thanked: 35132 times
Have thanks: 45992 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: April 30th, 2017, 7:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 26th, 2017, 5:29 pm


HỒI THỨ MƯỜI TÁM



Vạn Thảo Thôn Trang

Xe đi qua cổng, vào trong trang. Tất cả mọi người đều không kềm chế được, kêu lên một tiếng ồ lớn: trên một cánh đồng cỏ xanh mướt, kéo dài tới chân núi. Ở giữa có con đường lát bằng những tảng đá xanh, mặt phẳng lỳ. Hai bên trồng toàn hoa, có khu hoa mầu trắng. Có khu hoa mầu hồng. Có khu hoa mầu vàng. Hương đưa bát ngát.

Nàng-Tía chỉ ngọn núi nói:

– Trong ngọn núi kia có động An-Tiêm, am Mỵ-Nương, suối Trương-Chi. Chủ nhân tôi ở đó.

Triệu Huy đã từng làm thị vệ trong hoàng cung nhà Tống. Vì có tài trồng hoa, y được Tống đế sủng ái đặc biệt. Sau đó y tiến cử hai sư huynh. Vì vậy khi thấy Vạn-hoa-trang, y kinh hoàng vì sao hoa ở đây từ sắc tới hương đều hơn hoa ở hoàng cung nhiều. Tuy vậy bề ngoài y phải làm ra vẻ coi thường. Xe ngưng lại, Nàng-Hồng chỉ vào mười khu trồng hoa mà giảng:

– Thưa quí khách đây là khu hoa hồng. Hoa hồng sớm được trồng trong nước tôi. Sử kể trong ngày cưới, Quốc-tổ Lạc Long-Quân, đem mười thứ hồng dâng cho nhạc gia. Vì vậy từ ngày ấy, khắp nước tôi đều dùng hoa hồng trong tình yêu. Hoa hồng còn được gọi là hoa Âu-Cơ do gốc tích đó mà ra.

Ngô Tích ngắt lời:

– Tôi tưởng hoa hồng là hoa hồng thôi. Chứ làm gì có đến mười loại?

Nàng-Hồng cười:

– Ngô tiên sinh có đùa không? Người đã đậu tiến sĩ Tống triều, không lẽ không biết gì về hồng? Được, tôi xin vì tiên sinh mà nói. Hoa hồng còn có tên nguyệt-quý hay nguyệt nguyệt hồng hay hoa trường xuân. Nguyệt để chỉ phụ nữ. Hoa hồng xinh đẹp, có hương thơm, nhưng cánh hồng dễ bị vỡ. Cho nên trong nước tôi nam nữ đều được trọng. Mà nữ được nâng niu như cánh hồng.

Nàng-Hồng ngừng lại nhìn ba chị em Thanh-Mai, rồi lại nhìn bọn Triệu Huy. Đàm An-Hòa nói:

– Ba cô này là quân trộm cắp, bản nhân bắt giải về trấn để chém đầu. Cho nên chúng không đáng gọi là hoa.

Mỹ-Linh nghe Đàm An-Hòa nhục mạ, uất khí cành hông, nhưng tay bị trói không sử dụng võ công được. Nàng chợt nhớ đến thuật đổi ngựa mà Thân Thiệu-Thái mới dạy. Nàng hít hơi vận sức vào chân vọt xéo về phía trước. Trong khi đó xe vẫn chạy từ sau tiến tới. Mỹ-Linh từ từ rơi đúng chỗ ngồi cũ. Khi chân sắp tới xe, nàng đá vào mặt An-Hòa một cái .Y ngã chúi xuống xe.

Triệu Huy sợ có truyện lôi thôi, y bảo An-Hòa:

– Hiệu úy sang xe tôi, đừng về xe cũ nữa.

Nàng-Hồng mỉm cười tiếp:

– Hoa hồng tuy đẹp, tuy thơm, cánh dễ vỡ, nhưng kẻ phàm phu tục tử không biết nâng niu, ra tay dập liễu vùi hoa, thì tay chạm phải gai hồng liền .Gai hồng cứng, nhọn, có chất độc, ai chạm phải, thì đau thấu tâm can.

Đàm An-Hòa biết Nàng-Hồng chửi xéo mình, y đổ quạu:

– Hồng với bạch. Hoa là hoa, đàn bà là đàn bà, báu gì mà ví với hoa.

Y còn định nói nữa, nhưng gặp phải cái nhìn nghiên khắc của Ngô Tích, y hoảng sợ im bặt.

Nàng-Hồng vẫy cho xe Nàng-Tía ngừng lại với xe mình:

– Bây giờ tôi xin giới thiệu Mười giống hồng hoa tiếng Hán-Việt gọi là Thập loại danh hồng hoặc Thập đại trường xuân.

Mọi người nhìn ra hai bên đường, mỗi bên đều có một khỏanh rộng, dài ước hơn dậm trồng toàn một thứ hồng mầu trắng hơi ngà ngà xanh. Tuyệt ở chỗ những khóm hồng hoa nhỏ bằng đầu ngón chân đều nằm sát đường đi. Tiếp theo lớp thứ nhì hoa lớn hơn chút nữa. Cho đến chỗ xa nhất thì hoa to bằng cái đĩa. Nàng-Hồng tiếp:

– Hồng có mười loại, mỗi loại một mùi hương riêng. Người thì thích mùi hương này, người lại ưa thích mùi hương khác. Duy chỉ có loài hồng trắng bất cứ ai cũng ưa, cũng nâng niu. Vì vậy còn có tên Trường xuân hoa niên hay nói nôm na là hoa con nít. Hoa hồng trắng tượng trưng cho con gái từ tuổi mới sinh cho đến năm lên mười, lòng dạ còn trong, chưa vẩn bụi trần. Hoa mang tên Trường-xuân hoa niên vì trẻ còn nào cũng có mùi thơm, ai cũng thích hôn, không ai ghét hương thơm con nít cả.

Nàng-Hồng dẫn mọi người đi bộ, tới khu thứ nhì. Khu này trồng toàn một loại hồng, mầu vàng nhạt. Kỳ ở chỗ những cánh ở sát trong nhụy hơi phơn phớt mấy điểm mầu hồng nhạt. Nàng-Hồng tiếp:

– Đây là loại hồng thứ nhì. Loại này tượng trưng cho cô gái đã đến tuổi biết sầu muộn vu vơ, biết mơ màng nhìn trăng khuya, biết hái những đóa hoa e ấp. Nhưng cô không hiểu tại sao. Vì vậy những cánh bên trong mới phớt vài điểm hồng là thế. Lọai hồng này có tên Hoàng-hoa khuê nữ Hoàng hoa khuê nữ đứng xa thì mùi hương thoang thoảng, đứng gần thì như không có mùi gì cả. Các thiếu nữ từ mười đến mười ba tuổi cũng thế. Các đấng quân tử thấy xinh đẹp thì xin chờ, chứ đến gần mà nói truyện yêu, thương, nàng nào hiểu gì?

Ngô Tích ghé mũi vào mấy bông Hoàng-hoa khuê-nữ, thì quả lại không thấy mùi hương thơm như y đứng nhìn, hương tự bốc lên. Y đứng thẳng người, mùi hoa lại thoảng thoảng đưa hương. Y gật đầu:

– Quả như lời cô nương nói.

Đợi cho khách ngắm hết mấy ngàn khóm Hoàng-hoa khuê-nữ. Nàng-Hồng tiếp:

– Bây giờ qúi khách theo tôi tới phía trước. Kia là hai khu vườn trồng lọai hồng thứ ba. Loại này sắc vàng tươi. Những cánh bên trong hồng nhạt, những cánh bên ngoài mầu vàng sậm. Theo thời gian, Hoàng-hoa khuê nữ lớn lên. Nàng e thẹn ấp ủ trong tim một bóng quân tử.. Đôi khi nàng yêu một trang nam nhi trong trí tưởng tượng, lòng nàng ấp ủ khôn nguôi. Nghĩa là thân thể, cũng như bề ngoài nàng vẫn còn là khuê nữ. Nhưng trong tim đã có bóng chàng. Cho nên người Việt chúng tôi đặt tên là Trường-xuân e ấp hay Trường-xuân sầu muộn.

Đinh Toàn không thích hoa, ông ngắt lời Nàng-Hồng:

– Từ nãy đến giờ cô nói nào hoa con nít, hoa con gái, sao không có hoa thiếu nữ lấy chồng?

Nàng-Hồng nhoẻn một nụ cười:

– Thưa quí khách có đấy. Thế rồi tuổi dậy thì đến. Người con gái xinh đẹp lạ thường, cơ thể có mùi hương đặc biệt. Càng tắm nhiều bao nhiêu mùi hương trong da thịt càng tiết ra nhiều bấy nhiêu. Mơ mộng chỉ để mà mơ mộng… rồi có chàng quân tử nhờ người mai mối. Cha mẹ nàng hứa gả. Sau lễ hỏi, nàng được coi như gái có chồng, nhưng cơ thể nàng vẫn còn trinh tiết. Kìa qúi khách nhìn những gốc hồng, hoa nở thực đẹp, mà mầu thì lạ lùng, nửa bông mầu trắng, nửa bông mầu đỏ. Danh sĩ đất Việt gọi loại hồng này là Sửa bước vu qui. Đó là loại thứ tư.

Miệng nói Nàng-Hồng chỉ vào vườn hoa khác. Hồng cánh nhỏ, tươi thắm, mầu hồng nhạt, mờ mờ như hoa trong sương. Trên cánh hoa gờn gợn giống giọt nước chảy.

Nàng-Hồng nói:

– Bây giờ thiếu nữ đến ngày vu qui. Tiêu biểu là loại thứ năm. Đang sống ở nhà với bố mẹ, anh chị em. Lát nữa đây phải lên đường về nhà chồng. Giã từ tất cả những gì quen biết, nhất là giã từ bố mẹ. Nàng nhớ công sinh thành, dưỡng dục, bất giác giọt lệ tuôn rơi. Thế nhưng trong phút cảm động ấy, lát nữa đây nàng lại lặn ngụp trong tình yêu, trong hạnh phúc. Nghĩ đến đó mặt nàng ửng hồng. Quí vị nhìn những gốc hồng, hoa nở mầu hồng nhạt, lăn tăn giọt lệ kia thì đủ thấy tâm trạng của thiếu nữ vu qui. Danh sĩ Việt đặt tên lọai hồng này là Thiếu nữ vu qui. Trong dân gian Việt có câu thơ, diễu các cô gái trong ngày vu qui, hạnh phúc tràn đầy mà khóc là khóc giả bộ, như anh chàng thi hỏng mỉm cười:

Cười như chàng trẻ hỏng thi,
Khóc như cô gái lúc đi lấy chồng.

Đã có người dịch sang Hán-văn như sau:

Khấp như thiếu nữ vu qui nhật,
Tiếu tự thư sinh lạc đệ kỳ.

Nàng-Hồng dẫn đoàn người tiến tới khu vườn thứ sáu, trồng toàn một thứ hồng nhung. Hoa nở đỏ ối.

Nàng nói:

– Bây giờ nhà trai rước dâu về nhà chồng. Bước đi vui vẻ, bước đi e thẹn. Lễ tơ hồng xong, nàng và chồng chia nhau mỗi người uống một ly rượu hợp cẩn. Say vì rượu, say vì men tình. Người nàng ngây ngất. Bởi vậy người ta gọi thứ hồng nhung này là Chung rượu hợp cẩn.

Cả bọn ngây người ra nhìn khu vườn rộng dài bát ngát hồng nhung, hương thơm ngào ngạt. Họ như ngây như dại, không muốn bước chân đi.

Qua khu vườn hồng thứ sáu, tới một căn nhà mái lợp ngói đỏ, cột mầu xám. Bốn phía không tường. Ở giữa có ba cái bàn bằng đá mầu hồng nhạt. Trên bàn đã bày đầy đủ những món Đàm An-Hòa gọi. Hai thiếu nữ khác aó mầu thiên thanh, quần lụa đen đón khách vào nhà ăn. Hai nàng pha trà sen bưng tới mời khách.

Triệu Huy cầm chung trà đưa lên miệng, hương thơm ngạt ngào, mà nước trà lại lạnh ngắt. Uống một hớp, thấy tỉnh người ra, y hỏi:

– Thưa cô nương, cách pha trà thế nào, mà nước lại lạnh như thế này?

Thiếu nữ kính cẩn đáp:

– Sơn-trang chúng tôi cũng pha trà bằng nước đun sôi, mới hai ba tăm thì đổ vào bình. Bình của chúng tôi đậy thực kín, rồi dìm xuống đáy suối, một lúc sau, nước sẽ lạnh, mà hương thơm không mất.

Ngô Tích cầm đũa ăn, mà còn thắc mắc:

– Hồng cô nương. Sau khi hợp cẩn, mới có sáu loài hoa. Còn những bốn loại nữa kia mà.

Nàng-Hồng đáp:

– Quí khách nhìn sang bên phải. Kìa toàn một thứ hồng cánh nhỏ, mầu đỏ như nhung. Thế nhưng những cánh ở trong trên đầu có vùng trắng. Đó là loại thứ bẩy diễn tả tâm trạng thiếu nữ sau đêm động phòng. Trong trắng thì có trong trắng, nhưng bây giờ nàng đã là một người đàn bà, không thể trở về đời sống khuê nữ nữa. Danh sĩ đất Việt đặt tên loại hồng này là Động phòng hoa chúc.

Nàng-Hồng lại chỉ sang bên phải:

– Kia là loại hồng thứ tám. Bông hồng có nhiều cánh kết chặt lại với nhau. Tưởng như gió bão, tưởng như sóng dậy cũng không làm vỡ được. Lọai hồng này tượng trưng cho người đàn bà có chồng, lòng dạ kiên quyết, chỉ biết có chồng. Cho chồng tất cả những gì mình có. Vì vậy được mệnh danh là Nhất kiến chung tình.

Nàng chỉ sang phía trước:

– Xin quí khách nhìn về phía trước. Trong vườn trồng toàn một loài hoa bông nở thực lớn, cánh mầu đỏ sẫm, bông nào cũng nở thực lớn đầy nhụy. Đó là loại thứ chín. Hoa được đặt cho tên là Truyền tử lưu tôn. Hoa nay nụ nở ra thực lớn, chứ không nở từ từ như lọai khác, vì vậy hoa được ví như người phụ nữ sinh con. Nhưng chữ sinh nở nghe thô tục, không hợp với nhiệm vụ quí báu của phụ nữ, cho nên được đặt thêm mỹ tự Khai hoa, nở nhụy. Sau thành ngữ này được dùng để chỉ phụ nữ lâm bồn, riết rồi người ta quên cả tên hoa.

Nàng Hồng chỉ vào luống hoa hai mầu: Hồng nhạt và trắng:

_ Thế rồi cuộc sống êm đềm trôi qua, năm mươi năm sau, bẩy mươi năm sau, người con gái ngày nào, bay giờ đầu đã bạc, nhưng tình thương con cháu vẫn rạo rực, do vậy bông hoa cánh xung quanh thì hồng, mà giữa lại trắng, đó là hoa Lão giả an vi, loại thứ 10.

Nàng-Hồng nói đến đó, rồi bước khỏi phòng ăn, lẩn bước vào các bụi hồng. Khi bọn Triệu Huy ăn xong, thì Nàng-Hồng, Nàng-Tía cùng trở lại. Ngô Tích hỏi:

– Qúi trang có tên Vạn-hoa sơn trang. Không biết còn những thứ hoa nào?

Nàng-Tía chỉ vào khu vườn rộng bao la, sát đến chân núi:

– Chỉ sợ quí khách không có thời giờ. Bằng như quí khách ưa thích, chị em chúng tôi xin đưa qúi khách xem tất cả mọi thứ hoa thơm của Đại-Việt. Hay ít ra quí khách cũng nên thưởng qua Thập đại đanh hoa tức mười thứ loại hoa danh tiếng. Mỗi lọai lại chia thành mười thứ khác biệt. Mười nhân với mười thành một trăm.

Ngô Tích thắc mắc:

– Có một điều tôi không hiểu. Từ khi sang Giao-chỉ, tôi thấy cái gì cũng đặt trên con số mười, con số một trăm. Trong khi kinh Dịch lại chú ý đến con số chín.

Nàng-Hồng lắc đầu không hiểu. Thanh-Mai cười:

– Dễ thôi, Quốc-tổ với Quốc-mẫu kết hôn, sinh ra trăm con, phong mỗi người một nứơc, thành trăm họ. Con số một trăm là con số trời đất sinh ra. Thập đại danh hoa là mười. Trong con số mười, lại nở ra mười thứ khác thành một trăm.

Ngô Tích gật đầu tán thành:

– Bên Trung-quốc chúng tôi cũng có Thập đại danh hoa không biết có khác nhau với Giao-chỉ không? Xin cô nương cho biết tên mười thứ hoa quí bên Giao-chỉ.

Nàng-Tía tính đốt ngón tay kể:

– Một là hoa Lan nở vào mùa Xuân. Hai là hoa Hồng nở vào cuối Xuân sang hạ. Ba là Kim-quế nở vào đầu Hạ. Bốn là hoa Sen nở vào mùa hạ. Năm là Đỗ-quyên, hoa chỉ nở về giữa mùa hạ. Sáu là Sơn-trà nở vào đầu thu. Bẩy là hoa cúc, nở vào toàn mùa thu. Tám là Mẫu-đơn nở vào mùa đông. Chín là Thủy-tiên nở vào dịp Tết, mười là hoa Mai trắng, nở vào mùa đông.

Ghi chú,

Xin xem hình Thập đại danh hoa ở phụ lục AHTS, Q2.

Ngô Tích như say mê với hoa. Y hỏi tiếp:

– Ngoài ra trong trang còn những loại hoa gì nữa?

Nàng-Tía mỉm cười:

– Nhiều lắm, như hoa Nhài, tuy nhỏ mà thơm lạ thường. Hoa Ngọc-lan hương thơm nồng, bay đi rất xa. Hoa Dạ-hương, khi đêm về mới có mùi hương. Hoa Huệ vừa thơm, vừa tươi lâu. Hoa Thiên-lý tuy không thơm mấy nhưng nấu canh ăn được.

Nàng chỉ trên sườn núi:

– Trên sừơn núi kia trồng mười thứ hoa Sơn-trà. Tổng cộng một trăm giống hoa, mỗi giống phân ra mười loài. Mỗi loài mười thứ. Tổng cộng thành một vạn thứ hoa. Cho nên chủ nhân tôi mới đặt tên Vạn-hoa sơn-trang là do ý nghĩa đó.

Nàng-Tía mời mọi người lên xe, tiếp tục tiến đến chân núi. Núi Vạn-hoa không cao, không có đá. Trên sườn núi trồng hoa thơm, cây trái khắp sườn. Phía sau ngọn Sơn-trang có ngọn Đại-thạch dựng đứng lên như chọc trời. Giữa sườn Đại-thạch có ngọn thác rót xuống đỉnh ngọn Sơn-trang. Thành ra ngọn Sơn-trang tỏa ra năm con suối, chia núi thành sáu khu. Năm ngọn suối chảy vào cái hồ lớn dưới chân núi. Từ dưới bờ hồ, leo núi lên sườn khoảng năm mươi bậc, mỗi khu có một căn nhà làm bằng gỗ, cột kèo chạm trổ rất tinh vi. Phía trên mỗi căn nhà đều đề chữ Vọng-hoa-đài.

Ngô Tích khen:

– Người ta bảo Bồng-lai tiên cảnh đẹp không bút nào tả nổi. Không biết Bồng-lai có đẹp bằng nơi này không?

Xe dừng lại trước cây cầu đá bắc ngang qua suối. Nàng-Tía nói:

– Trên sườn núi Sơn-trang có sáu tòa nhà, gọi là Vọng-hoa-đài. Nếu quí khách muốn lên đó thưởng hoa thì xin đi bộ. Dường như bên qúi quốc có câu Đăng cao tác phú, khả vi đại phu nghĩa là lên cao làm được bài phú xứng đáng làm đại-phu.

Triệu Anh tuy bị trúng độc, song công lực vẫn còn. Y lên tiếng:

– Chúng tôi muốn thăm hết quí trang, ngặt vì tôi bị bệnh, phải tới Vạn-thảo sơn-trang chữa bệnh. Đợi khi trở về, chúng tôi sẽ ở lại quí trang ít ra một tháng để nghe cô nương giảng về hoa thơm, trái ngọt Giao-chỉ. Tuy nhiên nể lời cô nương, chúng tôi cũng lên Vọng-hoa-đài ngắm cảnh một lúc.

Đinh Toàn chợt lên tiếng:

– Quí trang rộng lớn, ít ra hàng ngàn mẫu, công phu trồng hoa tốn kém biết bao. Không biết mỗi ngày, quí trang có bao nhiêu khách tới? Như vậy làm sao đủ tiền chi phí? Chúng tôi muốn được ra mắt quí trang chủ có được không?

Nàng-Tiá nghe đến Vạn-thảo sơn-trang, thì đưa mắt nhìn Nàng-Hồng, rồi trả lời:

– Chủ nhân chúng tôi từ lâu không muốn tiếp xúc với khách. Tuy nhiên quí khách là Thiên-sứ, tôi thử vào thưa với người xem sao. Còn quí khách hỏi về chi phí trong trang này ư? Tốn kém không biết bao nhiêu mà kể. Tất cả 1257 nhân công. Còn tiền khách trả cho trang, thì trang chủ thưởng cho chúng tôi hết. Người không lấy một đồng.

Lên Vọng-hoa-đài, Nàng-Hồng mời mọi người ngồi trước cái bàn bằng đá mầu trắng như tuyết, ghế bằng gỗ mầu gụ. Trên bàn có mười chậu hoa Lan. Một thiếu nữ áo thiên thanh, quần lụa đen bưng nước ra mời khách:

– Trời nắng, trang chủ chúng tôi mời quí khách uống bát nước dừa non lấy thảo.

Triệu Huy nói với thiếu nữ áo xanh:

– Xin cô nương cho chúng tôi uống mấy chén rượu với ít quả.

Ngô-Tích nói nhỏ với Triệu Huy:

– Tam đệ. Tôi thấy trang này có nhiều điều kỳ bí. Chúng ta mau rời khỏi nơi đây. Chẳng nên uống rựơu.

Đâu đó tiếng đàn thanh thót vọng ra, rồi có tiếng ca ngọt ngào:

Khuyến quân mạc cự bôi,
Xuân phong tiếu nhân lai.
Đào lý như cựu thức,
Khuynh hoa hương ngã khai.

Đàm An-Hòa không hiểu, y hỏi Ngô Tích:

– Ngô chiêu-thảo-sứ, bài hát nói gì vậy?

– Đây là bài thơ của Lý Bạch đời Đường. Bốn câu này ngụ ý :Ta khuyên người chẳng nên từ chối rượu mời. Kìa gió xuân cười với ta đang hây hẩy thổi. Hoa đào, hoa mận như quen với ta, chúng hướng về ta mà nở.

Giọng ca lẫn với tiếng đàn:

Tạc nhật chu nam tử,
Kim nhật bạch phát thôi.
Cước sinh Thạch-hổ điện,
Lộc tẩu Cô-tô đài,
Quân nhược bất ẩm tửu,
Tích nhân ai tại tai?

Ngô Tích giảng tiếp:

– Mới hôm nào mình còn là đứa trẻ tóc đỏ hoe. Hôm nay đầu đã bạc rồi. Điện Thách-hổ xưa kia nay cỏ mọc hoang. Đài Cô-tô thì hươu nai chạy chơi. Người xưa nay thì đâu mà anh không uống rượu?

Có tiếng dép lẹp kẹp đi ra. Nàng-Tía chắp tay nói:

– Trang chủ chúng tôi đã tới.

Từ bọn Triệu Huy cho đến chị em Thanh-Mai đều kêu lên tiếng ái kinh ngạc. Từ lúc vào trang, thấy tổ chức tiếp đón chu đáo. Trang rộng lớn lạ thường. Mọi người tưởng trang chủ phải là một ông lão ít ra là trên sáu mươi. Không ngờ trước mặt họ là một phụ nữ mảnh mai, dáng điệu tha thướt. Mặt che bằng tấm lụa rất mỏng. Người nàng mặc chiếc áo đỏ chói, với chiếc quần lụa mầu đen. Trên cổ quàng khăn tím.

Trang chủ lên tiếng:

– Vạn-hoa sơn-trang ở trong hốc núi xa xôi, không ngờ lại được tiếp Thiên-sứ tới viếng. Nghe Hồng thuật lại, thì ba vị đều xuất thân tiến sĩ, lại là cao thủ phái Thiếu-lâm. Thực hân hạnh.

Bọn Triệu Huy chỉ thấy lưng trang chủ thon, chân tay dài. Bàn tay búp măng, tiếng nói trong, thì biết nàng còn trẻ. Nhưng mặt nàng che bằng khăn lụa, bọn y không biết thế nào mà xưng hô.

Ngô Tích lên tiếng trước:

– Bọn tại hạ quấy quả trang chủ hôm nay, rồi phải lên đường. Xin hẹn ngày về sẽ được yết kiến lần nữa. Xin trang-chủ cho biết cao danh, quí tính.

– Một phụ nữ quê mùa làm gì có danh cao với quí tính! Xin các vị cứ gọi bằng mụ Sơn-trang là đủ. Tiện thiếp họ Đào.

Mỹ-Linh nghe tiếng nói của trang chủ, nàng thấy quen thuộc, thân ái vô cùng. Nhất là dáng đi, cùng cử chỉ. Nhất định nàng đã gặp trang chủ nhiều lần rồi. Trang chủ đưa mắt nhìn Mỹ-Linh một cái, rồi lại tiếp tục nói truyện:

– Tiện thiếp có đôi lời mạo phạm, không biết ba cô gái này bị tội gì mà Thiên-sứ lại bắt tội như vậy.

Triệu Huy chỉ Đàm An-Hòa:

– Chúng tôi theo ngài chánh sứ là Bình-nam vương sang Giao-chỉ. Đàm tuyên-vũ-sứ cử Đàm hiệu úy theo hộ tống. Không ngờ dọc đường bị trộm. Đàm hiệu úy tìm ra ba cô gái này là thủ phạm nên bắt giam. Vì dọc đường các cô nói nhiều câu phạm thượng nên phải bịt mồm lại như vậy. Đào phu nhân mới gặp, tưởng mấy cô này tầm thường đấy. Thực ra võ công các cô cao thâm ít ai bì.

Tay Mỹ-Linh bị trói, miệng bị cột dây lụa, nàng không nói được, đã vậy bọn Triệu Huy còn bịa truyện bêu xấu. Nàng liếc nhìn sang bên cạnh Huy, thấy Đàm An-Hòa đang cười chế diễu. Nàng dùng cùi chỏ hất một cái. Bát nước dừa để trước mặt nàng bay bổng về phía y. Bốp một tiếng, cái bát trúng mặt y vỡ làm năm sáu mảnh. Mặt y máu tuôn xối xả.

An-Hòa nổi máu điên, y rút kiếm hướng Mỹ-Linh:

– Dù gì ông cũng giết mày ngày hôm nay.

Y vung kiếm hướng cổ Mỹ-Linh. Mỹ-Linh vọt người lên cao. Đợi kiếm lướt dưới chân, nàng co chân đá một cước. Kiếm của An-Hòa vuột khỏi tay bay ra xa. Thuận chân Mỹ-Linh đá thêm một cước nữa trúng bụng y. Y ngã lộn đi hai vòng.

Ngô Tích quát lên:

– Này Lý cô nương. Nếu cô nương không giữ lời hứa, ta chém đầu cô ngay tại chỗ này.

Đào phu nhân lắc đầu:

– Ba cô này đã xinh đẹp, võ công lại cao cường, thực hiếm có. Này Đàm hiệu úy, theo luật bản triều, khi người ta bị tội có thể dùng tiền chuộc ra. Ba cô đây phạm tội trộm thì chỉ phải chuộc mỗi cô năm lượng vàng là đủ. Không biết hiệu-úy có thể cho tôi chuộc các cô ra không?

Đàm An-Hòa cương quyết:

– Thưa Đào phu nhân, nếu các cô phạm tội trộm thường thì chuộc được. Đây các cô trộm của Thiên-sứ. Tiểu chức phải giải đến dinh tổng-trấn để đưa các cô về triều, hầu đức hoàng đế xử tội. Tiểu chức đành vô lễ, không thể tuân lệnh phu nhân được.

Từ khi nhập Sơn-trang, chị em Thanh-Mai đã nghĩ đến kế thóat thân. Trong khi bị giam ở hầm đá, Bảo-Hòa cho Thanh-Mai biết dưới gót chân nàng có dấu một thanh Nga-mi kiếm. Chỉ cần chúng sơ ý, Thanh-Mai quay lưng lại trước mặt Bảo-Hòa, là rút được kiếm ra. Bảo-Hòa tự cọ tay vao kiếm, dây trói đứt, nàng có thể cắt dây cho Mỹ-Linh với Thanh-Mai. Tuy vậy Thanh-Mai còn lưỡng lự, vì thóat khỏi dây trói thì được, nhưng cả ba người cũng không địch lại một trong Tung-sơn tam-kiệt, thì thoát ra cũng vô ích. Ba người quan sát sơn trang, ngoài thiếu niên tên Nghĩa, còn lại toàn mỹ nhân, thì kiếm đâu ra cao thủ có thể đấu lại bọn này. Vì vậy cả ba lặng thinh chờ dịp khác.

Đào phu-nhân lại hỏi:

– Đàm hiệu úy, dường như lần đầu tiên hiệu úy tới tệ trang thì phải. Chứ các vị hiệu úy trong trấn Cửu-chân này, ít ra cũng đến đây đôi ba lần.

Đàm An-Hòa khoe khoang:

– Quả như Đào phu nhân dạy. Tại hạ mới tới đây mấy tháng. Tại hạ là em ruột của tuyên-vũ-sứ Đàm Toái-Trạng và cũng là em Đàm quí phi.

Nghe đến Đàm quí phi, mặt Đào phu nhân thoáng một vẻ khác lạ, rồi trở lại bình thường.

Triệu Huy không muốn nấn ná lại Vạn-hoa sơn-trang. Y đứng đậy chắp tay cáo từ:

– Chúng tôi lĩnh sứ mệnh thiên tử trong mình, không dám ham vui. Xin từ tạ phu nhân cùng các vị cô nương ở đây. Hẹn khi nhị sư huynh tại hạ hết bệnh, sẽ trở lại xem cảnh đào nguyên một lần nữa.

Đào phu nhân chỉ chị em Thanh-Mai:

– Đây là địa phân Vạn-hoa trang. Hoa tượng trưng cho phụ nữ. Vì vậy xin các vị nể mặt chủ nhân mà gỡ khăn bịt miệng cùng cởi trói cho ba cô bé này, được chăng?

Từ đầu, Ngô Tích không muốn trói, cũng chẳng đồng ý bịt miệng bọn Thanh-Mai. Nhưng sư-huynh, sư đệ không thuận. Bây giờ, nhân có lời Đào phu nhân, Tích rút kiếm, thấp thoáng ánh thép, bao nhiêu dây trói đứt hết. Tuyệt ở chỗ dây đứt, mà kiếm không chạm đến y phục một chút nào.

Triệu Huy chú ý quan sát sắc mặt của Đào phu nhân cùng mấy cô gái áo xanh xem có phản gì không. Mà tuyệt không thấy sắc mặt bà thay đổi, cũng như khen ngợi chiêu kiếm của sư huynh. Từ lúc vào sơn-trang đến giờ, anh em y đều thắc mắc một điều: trang chủ có biết võ công không? Thế mà nay đến lúc ra đi, y cũng không tìm ra manh mối. Chiêu kiếm tuyệt vời của sư huynh y, nếu bà biết võ hẳn đã lên tiếng khen ngợi. Còn bà không biết võ, ít ra cũng phải rú lên kinh sợ. Thế nhưng Đào phu nhân cùng với mấy nàng thanh thản nhiên như không.

Triệu Huy lấy trong bọc ra một nén vàng, kính cẩn bỏ vào đĩa, hai tay đưa cho Đào phu nhân:

– Của ít lòng nhiều, xin gửi phu nhân, để tặng các vị cô nương. Vàng tuy quí, nhưng không xứng đáng với tài dạy dỗ của mấy vị cô nương.

Đào phu nhân cầm vàng đưa cho cô gái áo xanh:

– Con cầm lấy, tạ ơn Thiên-sứ, chị em chia nhau mà dùng.

Cô gái áo xanh tiếp vàng, rồi bưng một chậu hoa thực đẹp, sắc đỏ tươi đưa cho Ngô Tích, giọng oanh vàng thỏ thẻ bằng tiếng Trung-quốc:

– Thứ hoa này tên là Quân tử hoa. Chúng có mười lọai. Nay xin tặng danh sĩ một nhánh làm duyên.

Từ Triệu Anh cho tới Quách Quỳ đều ngẩn người ra, vì người tặng vàng là Triệu Anh, mà nàng lại đem hoa cho Ngô Tích.

Ngô Tích móc trong túi ra tấm thẻ bài, kính cẩn trao cho Đào phu nhân:

– Phu nhân. Anh em tại hạ lĩnh chỉ dụ của Thiên-tử, xin gửi đến phu nhân cũng như tất cả anh hùng trong trang. Ngày rằm tháng tám sang năm, Thiên-tử mở Thiên hạ anh hùng đại hội ở Biện-kinh. Dù nam, dù nữ, dù Hán, dù Việt đều có quyền tham dự. Đại hội sẽ tuyển chọn một trạng-nguyên, hai bảng nhãn, ba thám hoa, ba mươi sáu tiến sĩ cùng bẩy mươi hai phó bảng. Kính mong phu nhân cùng anh hùng quí trang tới dự.

Đào phu nhân không chối, cũng không nhận. Hai tay bà tiếp tấm thẻ bài có khắc hình hai con rồng vàng chấu vào nhau. Bà nói:

– Đa tạ Thiên-sứ đã có lòng chiếu cố.

Trong khi Triệu Anh nói truyện với Đào phu nhân, thì thiếu nữ áo xanh trao chậu Quân-tử-hoa cho Ngô Tích. Ngô đỡ lấy chậu hoa. Thiếu nữ liếc mắt đưa tình. Bàn tay nàng chạm vào tay Ngô. Ngô cảm thấy có cái gì mềm mền dưới tay, dường như một tờ giấy. Ngô bàng hòang như đi vào mộng. Y bái từ Đào phu nhân, rồi lên xe đi.

Đâu đó văng vẳng tiếp đàn, lẫn với tiếng hát. Bảo-Hòa rút trong bọc ra ống tiêu bằng trúc mầu xanh biếc. Nàng đưa lên miệng thổi, hòa nhịp với tiếng đàn. Tiếng tiêu véo von vang đi rất xa. Ngô Tích nhận ra đó là một bài thơ của Tào-Đường:

Thụ nhập Thiên-thai thạch lộ tân,
Vân hòa thảo tĩnh quýnh vô trần.
Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,
Thủy mộc không nghi mộng hậu thân.
Vãng vãng kê minh nham nguyệt hạ,
Thời thời khuyển phệ động trung xuân.
Bất tri thử địa tri hà xứ,
Tu tựu Đào-nguyên vấn chủ nhân.

Đinh Toàn hỏi Ngô Tích:

– Ngô chiêu-thảo-sứ, họ hát hay họ nói gì vậy?

Ngô Tích cười:

– Họ hát, dường như trong bài hát ngụ ý mời bọn mình trở lại. Đây là một bài thơ của Tào-Đường. Tác giả dùng thơ thuật truyện Lưu, Nguyễn nhập Thiên-thai. Nguyên đời Hán có Lưu Thần, Nguyễn Triệu, nhân ngày tết Đoan-ngọ đi hái thuốc ở suối Đào-nguyên, núi Thiên-thai, gặp hai nàng tiên. Hai người ăn ở với tiên được một năm rồi về. Khi về tới nhà thì cháu bẩy đời đã chết cả rồi. Hai người trở lại núi Thiên-thai, nhưng chỉ thấy mây mù không có gì nữa. Bài này là bài thứ nhất tả cảnh hai người vào núi. Còn bốn bài nữa. Tôi không đủ khả năng dịch sang tiếng Việt.

Mỹ-Linh ngâm:

Thiên-thai đường đá chen cây,
Mây êm cỏ lặng, chẳng dây chút trần.
Khói mây quên bẵng phàm căn,
Tưởng sau giấc mộng ra thân suối rừng.
Tiếng gà khe đá gáy trăng,
Trong hang chó sủa như mừng bóng xuân.
Về đâu chốn ấy, xa gần,
Tới đây ta hỏi chủ nhân vườn đào.

Thanh-Mai khen:

– Em dịch hay thực.

Nhân lúc mọi người không để ý, Ngô Tích bỏ mảnh giấy vào túi. Y đoán thiếu nữ viết riêng cho mình, thì chẳng nên cho người khác biết.

Trong khi Mỹ-Linh ngâm, tiếng tiêu Bảo-Hòa vẫn hòa điệu theo. Nhưng Mỹ-Linh ngừng ngâm, mà tiếng tiêu vẫn còn lên cao chót vót, rồi mới từ từ xuống thấp, và ngừng hẳn.

Xe tới cổng, thiếu niên tên Lý Nhân Nghiã đã đứng chờ sẵn. Y trao cương ngựa cho khách rồi chắp tay:

– Vạn-hoa sơn-trang kính biệt quý khách, chúc quý khách thượng lộ bình an.

Triệu Huy hô:

– Đi thôi!

Hai xe, một ngựa lục tục lên đường. Đi được hơn dậm, Ngô Tích hỏi Triệu Anh:

– Đại ca. Đại ca nghĩ gì về Vạn-hoa sơn-trang?

– Ta đoán chủ nhân phải là người có lai lịch rất lớn, mới dám đến thung lũng khai hoang, lập trại. Nhìn chung khu đất, ít ra đến hai nghìn mẫu. Như cô gái hướng dẫn nói, trong trang có tới 1257 người làm vườn. Lúc đầu khai khẩn, tốn kém đâu có ít? Tiếc rằng chúng ta mới qua Giao-chỉ, bằng không với loại người như thế tìm ra lý lịch đâu khó?

Đinh Toàn tiếp:

– Cứ nghe Nàng-Hồng nói, trong trang còn động An-Tiêm, am Mỵ-Nương, suối Trương-Chi… đẹp đến không thể tưởng tượng nổi. Điều chúng ta cần tìm hiểu: trong trang có người biết võ không?

Triệu Huy suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Chắc không. Đào phu nhân muốn chuộc ba con sư tử này ra. Đàm An-Hòa không thuận, bà cũng làm thinh. Nếu trong trang có người biết võ, họ đã gây sự với chúng mình rồi.

Quách Quỳ chợt kêu lên:

– Nguy quá. Khi chúng ta lên Vọng-hoa-đài không mang theo hành lý, coi chừng bị người ta lấy hết tiền bạc thì nguy tai. Hôm trước Địch Thanh đã bị anh em họ Thân làm nhục bằng cách đó.

Triệu Huy, Ngô Tích soát lại hành lý, vẫn còn y nguyên. Ngô Tích thở phào nhẹ nhõm:

– Hú vía!

Xe lại lên đèo. Con ngựa ì ạch lê bước. Khi gặp chỗ dốc quá, nó không lên nổi. Ngô Tích, Triệu Huy nhảy xuống xe đẩy phụ, xe từ bò lên. Khi xe bắt đầu đổ đèo, An-Hòa chỉ vào thung lũng bên giòng sông:

– Kia là Vạn-thảo sơn-trang, nơi Hồng-sơn quái nhân ở.

Bảo-Hòa nhìn lên trời, vẫn thấy đôi chim ưng bay là là trên đầu. Nàng mỉm cười tự tin:

– Bọn này sắp chết đến nơi rồi.

Xe đổ dốc thực nhanh, phút chốc đã xuống hết đèo. An-Hòa chỉ vào con đường mòn phía trái:

– Quẹo lối này, thì tới Vạn-thảo sơn-trang.

Từ đường cái quan, muốn vào làng, phải qua một cánh đồng bát ngát,lúa tháng ba, đang thì con gái, xanh tươi lạ lùng. Trên đồng, nhấp nhô những người tát nước, đánh kỳ, trải phân. Con hương lộ bị cắt ngang bởi cái cổng, trên cổng có chữ đề:

« Vạn-thảo xã ».

Làng Vạn-thảo cũng như muôn nghìn làng khác vào thời Lý, gồm có hai khu. Khu đồng ruộng mênh mông, trồng lúa. Khu dân chúng cư ngụ. Khu cư ngụ được tổ chức như một thành trì. Từ đồng ruộng vào là cái sách, tức một con lạch nhỏ. Sách rộng ít ra từ năm tới mười bước. Dưới sách cắm chông, hoặc những cành tre có gai. Vượt qua sách, tới một hàng rào thiên nhiên trồng tre. Những bụi tre lâu ngày trở nên dày đặc, đến con chuột con mèo chui qua cũng khó. Từ ngoài, du khách muốn vào trong làng phải qua một cái cổng. Có làng một cổng, có làng năm sáu cổng. Mỗi cổng một toán hoàng-nam canh gác.

Khi thấy người lạ mặt vào làng, hoàng-nam hỏi xem khách muốn tới thăm ai, rồi thân dẫn tới nhà. Trước cổng xã, thường trồng cây đa họặc đề. Cũng có khi lại là cây gạo họăc cây chay. Dưới gốc cây, là hàng ghế cho du khách ngồi chờ.

Cổng làng Vạn-thảo gồm nhiều viên đá chồng lên nhau. Hai bên cổng tọa lạc căn nhà gỗ nhỏ dùng làm điếm canh. Trong điếm, năm hoàng-nam, quần chẽn, áo nâu, dáng điệu khỏe mạnh. Ngay trước điếm, treo cái mõ bằng gỗ, tạc hình con cá chép. Một hoàng nam thấy xe người lạ, bước ra lễ phép hỏi:

– Qúi khách tới làng chúng tôi có việc gì?

Đàm An-Hòa hách dịch, móc trong túi ra đạo công-văn:

– Ta là hiệu-úy, lĩnh mệnh của tuyên-vũ-sứ trấn Thanh-hóa theo hộ tống Thiên-sứ. Người mau gọi lý-dịch ra đây ta bảo.

Hoàng-nam tiếp giấy đọc lướt qua, rồi y cầm dùi đánh ba tiếng mõ lớn ,ba tiếng nhỏ:

– Xin hiệu úy chờ một lát. Lý-dịch sẽ ra tiếp ngài.

Triệu Huy đưa con mắt nhìn vào trong làng: con đường trải bằng những tảng đá xanh rộng, dài ước hơn bước. Hai bên đường là hàng dậu trúc nhỏ, cắt tỉa bằng phẳng. Cứ một quãng dài, lại có nột con đường khác cắt ngang, thường được gọi là ngõ. Mỗi ngõ gồm nhiều ngách dẫn vào cái cổng. Trong cổng là nơi cư trú của một gia đình, một giòng họ.

Cổng kiến trúc giống nhau, tường xây bằng gạch, mái lợp ngói, cánh cổng bằng gỗ. Trên hai cột cổng, đặt hai con chó đá. Trên mặt trước của cổng có đôi câu đối. Hai bên cạnh tường tiếp giáp với hàng dậu .Sau cổng, dân chúng cất nhà ở. Nhà nhà đều có ao cá, vườn hoa, vườn rau. Những ngôi nhà cách nhau bằng hàng dậu tre, dậu dâm bụt khá cao.

Triệu Huy nghĩ thầm:

– Khó đấy! Ta đánh nhau với Kim, Liêu, chỉ cần chiếm được kinh đô, cùng những thành lớn, thì coi như xong. Còn đất Giao-chỉ này lại khác. Nếu một triều đình được lòng dân, thì dù nhà đại Tống mình có chiếm được Thăng-long cũng vô ích. Cứ mỗi xã như kiểu này, lập thành một nước, một thành trì, thì đánh đến bao giờ mới chiếm cho được. Hèn chi, thời Đông-Hán, Mã Viện anh hùng là thế, mang đến mấy chục vạn quân, mà phải đánh trong năm năm mới thắng được. Thắng rồi còn phải trải qua bẩy năm nữa, mới bình định xong.

Một ông lão, tóc hoa râm, mặc quần áo nâu từ trong đi ra. Hoàng-nam chỉ ông lão giới thiệu với bọn Đàm An-Hòa:

– Ông cụ này là lý dịch của xã Vạn-thảo chúng tôi.

Y quay lại, đưa tờ công văn cho lý dịch:

– Cụ lý ơi. Có ông quan hiệu úy dẫn mấy ông thiên-sứ tới xã mình.

Thông thường khi phủ Thanh-hóa cử quan về thăm hoặc kinh lý xã, thì sức giấy cho huyện. Huyện đạt giấy về xã chuẩn bị trước. Lần này Đàm An-Hòa đến bất thình lình. Vì vậy ông lý dịch tuy cầm lệnh của An-phủ-sứ trong tay, mà lòng nghi hoặc. Ông trao trả giấy cho Đàm, rồi thi lễ:

– Chẳng hay hiệu úy quang lâm xã tôi có điều chi dạy bảo?

Đàm chỉ vào Triệu Anh:

– Tôi lĩnh mệnh hộ tống Thiên-sứ, chẳng may Thiên-sứ bị ốm. Chúng tôi đưa ngài đi tìm Hồng-sơn lão nhân trị bệnh.

Ông lý à lên một tiếng:

– Thì ra thế. Nhưng tiếc rằng Hồng-sơn lão nhân không phải là người trong làng Vạn-thảo. Trang trại của người ở phía nam làng chúng tôi. Đây là cửa đông. Nếu hiệu úy muốn đến Vạn-thảo sơn trang phải băng qua làng, xuất cổng nam. Từ cổng nam men theo đường núi, xa xa có ngọn thác Băng-sơn chảy xuống. Đó là nơi cư ngụ của người.

Đàm An-Hòa hỏi:

– Ông có thể cho người dẫn chúng tôi tới sơn-trang không?

Ông lý gật đầu:

– Được chứ. Được chứ. Tôi xin cho một hoàng-nam dẫn hiệu-úy đi.

Triệu Huy thắc mắc:

– Tại sao tráng đinh làng này lại gọi là hoàng-nam?

Đàm An-Hòa lắc đầu, tỏ vẻ không biết. Ông lý trả lời:

– Không phải trong làng tôi, mà trên toàn đất Việt, các thiếu niên từ mười sáu tuổi trở lên đến bốn mươi tuổi, đều gọi là hoàng-nam. Nguyên từ khi đức Thuận-thiên hoàng đế thuận mệnh trời cai trị dân Việt. Ngài ban chiếu chỉ rằng tất cả con trai đến tuổi mười sáu đều gọi là hoàng-nam, tức con của đức vua.

Ông ngưng lại một lúc, quan sát sắc mặt Đàm An-Hòa, rồi tiếp:

– Khi con trai đến mười sáu tuổi. Trong xã phải chép tên vào sổ gáy vàng, cử hành lễ trình tổ thực long trọng trước đền thờ vua Hùng. Kể từ đấy, con trai có quyền lấy vợ. Trong xã cấp cho mỗi hoàng nam một mẫu ruộng. Mẫu ruộng này không phải nộp thuế. Trong năm, những tháng làm ruộng, cấy lúa, làm mùa thì hoàng nam được ở nhà làm ruộng của mình, và giúp người khác. Những tháng còn lại, thì luyện tập võ nghệ, xung phong, hãm trận. Khi nhà nước có sự, tùy theo nhân đinh từng xã, gọi hoàng nam nhập ngũ. Thời gian hoàng nam vắng nhà, thì ruộng của họ, xã phải chia người ra cầy cấy dùm.

Luật lệ, cùng tổ chức binh bị triều Lý, con trai đến tuổi mười sáu am hiểu cả. Duy Đàm An-Hòa cậy thế chị gái, cậy thế anh, không khai báo. Y lại cũng chẳng chú ý đọc sách, vì vậy y đặt câu hỏi, làm ông lý nghi ngờ:

– Thiếu niên này trình giấy của An-phủ-sứ ra, nói rằng dẫn Thiên-sứ đi… đã là hiệu úy thì phải làm hoàng-nam trước, mà y không biết hoàng nam là gì thì thực lạ lùng. Ta phải cẩn thận, bằng không sẽ mắc vào tai nạn lớn.

Ông chỉ một hoàng nam:

– Cháu này họ Lê tên Phụng-Hiểu, cháu sẽ dẫn các vị qua cổng phía nam xã.

Lê Phụng-Hiểu là một thanh niên cao lớn hùng vĩ, tuổi khoảng ba mươi. Lưng y đeo thanh đỏan đao. Nghe ông lý ra lệnh, y chắp tay tỏ ý tuân phục.

Triệu Huy móc trong bọc ra bốn nén bạc. Y nhảy xuống xe đưa cho bốn hoàng nam:

– Tôi là Thiên-sứ đức hoàng đế Đại-tống. Đại -tống giầu có, vàng bạc chất như núi. Tôi tặng mấy chú em chút ít tiêu vặt.

Cũng như cậu bé Nghĩa ở Vạn-hoa sơn-trang. Đám hoàng nam thấy Huy cho bạc nhiều quá, họ tiếp bạc, mà còn tưởng trong giấc mơ. Huy lấy trong bọc ra một lượng vàng, đưa cho ông lý:

– Xin tặng ông, để mua rượu uống.

Từ ông Lý cho đến đám hoàng-nam, suốt đời sống nơi thôn dã, chỉ biết ruộng vườn. Họ có học, song chỉ đủ để đọc thông văn tự. Trong khi học, họăc nghe phụ huynh kể nhiều truyện về Trung-quốc, nhưng bằng danh tự bình dân Nước Tầu. Nào Tầu đem quân đánh ta, nào Tầu sai sứ sang, ta cử người đối phó, nào Tầu sang tìm vàng, giết con gái chôn theo làm thần giữ của. Trong lòng họ nghĩ rằng người Tầu là cái gì kinh khiếp. Nay Triệu Huy tặng vàng, bạc cho họ. Một tia lửa lóe lên: Tầu giầu có ức vạn.

Triệu Huy, không chờ ông lý cùng đám hoàng nam cảm ơn, y dắt tay Lê Phụng-Hiểu lên xe cùng ngồi, rồi đánh ngựa chạy vào trong xã.

Xe đi theo con đường đá. Triệu Huy thấy những viên đá lát đường có ba lọai. Một loại đài ước hai bước, rộng ước một bước. Một loại dài rộng bằng nhau, ước một bước. Còn một loại vuông vức hơn gang tay. Y thắc mắc:

– Này Lê huynh đệ. Tại sao đá lát đường lại có ba loại khác nhau?

Lê Phụng-Hiểu đang thắc mắc trong lòng rằng, tại sao các bạn y đều được thưởng bạc. Còn y dẫn đường Thiên-sứ mà lại không được? Nghe Triệu Huy hỏi, y trở về với thực tại:

– Đó là lệ làng. Trong nước có luật vua, thì trong làng có lệ. Lệ làng tôi định rằng, con gái đến tuổi đi lấy chồng phải nộp treo. Trước kia treo đồng đều, mỗi đầu người năm quan tiền. Từ mười năm nay, xã trở nên giầu có, mà khi mưa xuống, nước trong núi tràn ra lầy lội khó chịu vô cùng. Cho nên các quan viên xã họp lại, đặt ra lệ: mỗi người đi lấy chồng phải nộp treo thêm một viên đá, kích thước đồng nhất. Sở dĩ có ba lọai đá, cũng do lệ làng cả. Con gái nhà giầu, phải nộp viên lớn. Con gái chức sắc phải nộp viên nhỡ. Con gái bạch đinh phải nộp viên nhỏ. Còn khi con gái lấy chồng làng khác phải nộp mỗi thứ ba viên.

Chuyến đi này của bọn Triệu Huy là tìm hiểu mọi chi tiết đời sống xã hội Đại-việt, vì vậy y hỏi tiếp:

– Còn trường hợp con gái lấy chồng làm quan, hay làm vua thì sao?

– Tùy theo địa vị. Nếu chồng làm quan võ, có huân công thì được miễn. Còn quan, mỗi cấp nộp một khác. Trong xã tôi, có cô lấy một ông đội trưởng. Ông này theo đức vua Lê đánh Tống bị cụt một tay, mù một mắt. Làng đã không bắt nộp treo, còn cấp thêm cho hai mẫu ruộng. Người thứ nhì là ông tiên chỉ trong làng. Hồi còn trẻ, ông chỉ là đứa bé chăn trâu, mồ côi, không tiền cưới vợ, cũng chẳng ai gả con gái cho. Khi được chiếu chỉ gọi hoàng nam ra trận, ông được cử đi. Ông lập nhiều công trạng. Cách đây năm năm, trong trận đánh Như-hồng với người Tầu, ông bị mất một tay. Thiên tử phong cho ông tước hầu, ăn lộc nghìn hộ. Ông trở về, cả tổng đánh trống, đem kiệu rước ông. Ông cưới một cô gái đẹp nhất làng. Cả làng xây dinh cho ông.

Ngô Tích vỗ vai Phụng-Hiểu:

– Tỷ như con gái lấy chồng ngoại quốc, chắc phải nộp treo nhiều lắm Lê Phụng-Hiểu đang thắc mắc trong lòng rằng, tại sao các bạn y đều được thưởng bạc. Còn y dẫn đường Thiên-sứ mà lại không được? Nghe Triệu Huy hỏi, y trở về với thực tại:

– Đó là lệ làng. Trong nước có luật vua, thì trong làng có lệ. Lệ làng tôi định rằng, con gái đến tuổi đi lấy chồng phải nộp treo. Trước kia treo đồng đều, mỗi đầu người năm quan tiền. Từ mười năm nay, xã trở nên giầu có, mà khi mưa xuống, nước trong núi tràn ra lầy lội khó chịu vô cùng. Cho nên các quan viên xã họp lại, đặt ra lệ: mỗi người đi lấy chồng phải nộp treo thêm một viên đá, kích thước đồng nhất. Sở dĩ có ba lọai đá, cũng do lệ làng cả. Con gái nhà giầu, phải nộp viên lớn. Con gái chức sắc phải nộp viên nhỡ. Con gái bạch đinh phải nộp viên nhỏ. Còn khi con gái lấy chồng làng khác phải nộp mỗi thứ ba viên.

Chuyến đi này của bọn Triệu Huy là tìm hiểu mọi chi tiết đời sống xã hội Đại-việt, vì vậy y hỏi tiếp:

– Còn trường hợp con gái lấy chồng làm quan, hay làm vua thì sao?

– Tùy theo địa vị. Nếu chồng làm quan võ, có huân công thì được miễn. Còn quan, mỗi cấp nộp một khác. Trong xã tôi, có cô lấy một ông đội trưởng. Ông này theo đức vua Lê đánh Tống bị cụt một tay, mù một mắt. Làng đã không bắt nộp treo, còn cấp thêm cho hai mẫu ruộng. Người thứ nhì là ông tiên chỉ trong làng. Hồi còn trẻ, ông chỉ là đứa bé chăn trâu, mồ côi, không tiền cưới vợ, cũng chẳng ai gả con gái cho. Khi được chiếu chỉ gọi hoàng nam ra trận, ông được cử đi. Ông lập nhiều công trạng. Cách đây năm năm, trong trận đánh Như-hồng với người Tầu, ông bị mất một tay. Thiên tử phong cho ông tước hầu, ăn lộc nghìn hộ. Ông trở về, cả tổng đánh trống, đem kiệu rước ông. Ông cưới một cô gái đẹp nhất làng. Cả làng xây dinh cho ông.

Ngô Tích vỗ vai Phụng-Hiểu:

– Tỷ như con gái lấy chồng ngoại quốc, chắc phải nộp treo nhiều lắm.

Lê Phụng-Hiểu bật cười:

– Con gái làng tôi vốn xinh đẹp, lại giỏi tề gia nội trợ, làm gì có người phí… phí… thân xác đi lấy chồng ngoại quốc.

Đúng ra trong xã Vạn-thảo, thường truyền tụng con gái phí l. cũng không lấy thằng Ngô. Ngô để chỉ người Tầu. Phụng-Hiểu quen miệng định phun ra. Nhưng nghĩ lại như vậy quá vô phép với khách. Y mới đổi thành phí thân xác.

Từ khi gặp Thanh-Mai, Bảo-Hòa, Mỹ-Linh, rồi mấy cô gái trong Vạn-hoa sơn trang, Ngô Tích tự nhiên có cảm tình với con gái Việt. Năm mười chín tuổi đậu tiến-sĩ, lại có võ công cao, y sớm được bổ ra làm quan. Tính y trung trực, không khéo lấy lòng tể-thần, vì vậy bị đưa xuống vùng Lưỡng-Quảng. Trong cái may, có cái rủi. Ra biên giới, y có dịp thi thố tài năng.Y lập được nhiều công trạng. Năm nay y mới hai mươi ba, mà đã lên tới Chiêu-thảo-sứ. Chức này cao hơn thiên-tướng, thần-tướng hai bậc. Thế nhưng y vẫn chưa lấy vợ. Y có tính lãng mạn, trong lần đột nhập vào các khê động Đại-việt, y được thấy những cô gái Việt thực kỳ lạ. Nhu mì, đoan trang, thì cũng như con gái Trung-quốc. Song trong họ ẩn tàng tính tình cương trực, bất khuất như nam tử. Y ước ao, sau khi hết nhiệm vụ, trở về Thăng-long sẽ xin hoàng đế nhà Lý cho cưới một cô gái Việt. Bây giờ nghe Lê Phụng-Hiểu nói, y như bị rơi xuống hồ nước lạnh. Y cãi:

– Lệ làng này khắt khe quá. Trong lịch sử Đại-việt, công-chúa Gia-hưng Trần Quốc, chả từng lấy chồng Trung-quốc đó sao? Có ai trách bà đâu?

Phụng-Hiểu cười:

– Trường hợp ấy khác. Tiên sinh chẳng từng nghe nói con gái Việt yêu nước hơn yêu chồng đó sao?. Công-chúa Gia-hưng lấy Trấn-nam vương Vương Phúc, bởi ngài vì Lĩnh-nam xông pha trận tiền. Thời Lĩnh-nam vua Trưng đã từng chọn mỹ nhân đẹp nhất gả cho quốc-công Minh-Giang, Đô-Thiên. Nay dân chúng thờ cúng cả quốc công lẫn phu nhân. Nếu bây giờ có chàng trai Chiêm-quốc, Trung-nguyên, Lão-qua ra sức khuông phò Đại-Việt, tôi e những cô xinh đẹp nhất sẽ tranh nhau cưới làm chồng.

Câu nói của Phụng-Hiểu đưa Ngô Tích về thực tại. Y sờ vào túi, nơi cất bức thư Nàng-Thanh đưa cho y tại Vạn-hoa sơn-trang.

Qua câu truyện đối đáp giữa Ngô Tích với Lê Phụng-Hiểu, Thanh-Mai, Quách Quỳ đưa mắt nhìn nhau. Nguyên ngày nọ, tại đền thờ Tương-liệt đại vương Quách Quỳ bị Tự-Mai thẩm vấn về nguyên do bọn y sang Đại-việt. Y có nhắc đến trận đánh Như-hồng rằng: quân Tống sang cướp phá đất Việt, bị quan quân Việt truy kích. Võ lâm Trung-nguyên bênh quân Tống, võ lâm Đại-Việt bênh quân Việt. Cao thủ bên phía Trung-quốc chết nhiều. Từ nguyên do ấy vua tôi nhà Tống mới nghĩ đến việc gửi sứ đoàn sang tìm di thư. Không ngờ hôm nay họ lại được nghe truyện một phế binh Đại- việt của làng Vạn-thảo đã từng dự trận đó
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 79770
Has thanked: 35132 times
Have thanks: 45992 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: April 30th, 2017, 7:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

Re: ANH-HÙNG TIÊU-SƠN

Postby DaMinhChau » April 29th, 2017, 1:59 am


HỒI THỨ MƯỜI CHÍN

Tiên Cô Giáng Trần


Xe đi vào giữa xã. Có tiếng ào ào từ xa đưa đến. Đinh Toàn lắng tai nghe:

– Hình như gần đây có chợ. Chợ đang họp, nên có tiếng vọng lại. Này cháu, phiên chợ làng này họp vào những ngày nào?

– Làng chúng tôi thuộc tổng Hồng-sơn. Tổng có ba xã. Xã nào cũng có chợ. Hội đồng quan viên ba xã họp nhau, đưa ra hương ước rằng: Xã Vạn-thảo phiên ngày một, ngày bẩy. Xã Vạn-thú họp ngày năm, ngày chín. Xã Vạn-hoa họp ngày ba ngày tám. Ngoài phiên ra, hàng ngày dân trong xã cũng họp chợ mua bán lẻ tẻ, gọi là chợ hôm, bởi họp từ sau giờ ngọ.

Đinh Toàn ngậm ngùi trong lòng. Hồi y bị Lê-Hoàn cướp ngôi, tuổi còn nhỏ, y không có ý thức gì. Y thích ăn bún riêu. Mỗi lần như vậy y lại gọi người tỳ nữ tên Lê Thúy dẫn đi chợ phiên ngoài thành Hoa-lư. Từ sau trận Cẩm-thủy, y không biết tin tức Lê Thúy, cũng chẳng có dịp đi chợ phiên. Y đề nghị:

– Cháu Hiểu này. Cháu có thể dẫn bọn ta xem chợ không?

Hiểu nhanh nhẹn:

– Thưa bác được, kính mời bác cùng các vị vào chợ mua sắm.

Chợ Vạn-thảo nằm bên bờ sông. Sông không lớn, nhưng thuyền, bè từ các nơi đổ về lũ lượt đậu trên bến. Triệu Huy có nhiều ý thức nhất về quân-sự. Y ngây người ra nhìn những người dân quê Việt chèo thuyền, neo thuyền, đi đứng trên những con thuyền nhỏ tròng trành như xiếc leo dây. Y tấm tắc khen ngợi trong lòng:

– Hơn nghìn năm nay, trong võ lâm truyền tụng rằng người Việt giỏi thủy tính nhất thiên hạ quả không sai. Thời Đông-hán thua Lĩnh-nam bẩy trận. Trong đó hết sáu trận là thủy chiến. Cứ như những người nông dân này, khi nhập ngũ, không cần huấn luyện, họ cũng là chiến sĩ thủy quân ưu tú nhất. Hoằng Tháo bị bắt trên sông Bạch-đằng. Đến bản triều bọn Lưu Trừng cũng bị mất mạng, chôn theo năm vạn quân trong cùng một giòng sông. Mình phải tấu về triều, tự hậu nếu đem quân sang Giao-chỉ, thì tránh dùng thủy chiến.

Huy để ý, trên sông có ba loại thuyền. Loại nhỏ nhất đan bằng tre, lòng thuyền trát nhựa cản nước. Loại này dài không quá mười bước, rộng không quá năm bứơc. Trên nóc thuyền có mui che mưa nắng. Có thuyền mui hình cong như ổ tò vò. Có thuyền mui là một tấm phên tre lợp lá, chống bằng bốn cọc tre. Loại thuyền thứ nhì bằng gỗ, dài từ hai mươi bước tới ba mươi bước. Loại này chỉ có một tầng. Trên mặt sàn thuyền, chở đầy hàng hóa. Thuyền di chuyển bằng sức chèo hoặc bằng sức chống của sào. Lọai thứ ba hơi ít, đó là thuyền đinh đi biển. Thuyền cao vòi vọi, dài hàng trăm bước, cao hai, ba tầng. Tầng trên cùng có nhiều cột buồm, có buồng lái cho tài công. Tầng thứ nhì, và tầng cuối có nhiều chèo.

Chợ Vạn-thảo chia làm hai loại gian hàng. Loại thứ nhất, ở trung ương gồm bốn cái đình lớn không tường, chỉ có cột gỗ, với nóc lợp ngói. Còn lại là lều, nóc bằng phên lát lá nón.

Phụng-Hiểu chỉ đình:

– Hàng ngày không có phiên, thì người trong làng họp chợ hôm. Chợ hôm ít người nên được họp trong đình. Khi có chợ phiên như hôm nay, thì ngày hôm trước người thị chợ phải đem cọc ra đóng, rồi chụp mái lều lên. Ai dùng lều phải trả tiền. Mỗi phiên một lều trả tiền-rưỡi.

Chợ gồm nhiều khu, khu bán tơ vải, khu bán ngũ cốc, khu bán rau cỏ, khu ban tôm cá, khu bán thịt. Qua khu bán quà, Mỹ-Linh cứ liên miên hỏi về các món ăn. Phụng-Hiểu trả lời không kịp. Vừa đến mấy hàng bún riêu, hơi xông lên thơm nức. Đinh-Toàn chỉ một hàng nói:

– Nào, mời các vị ngồi xuống ăn bún riêu đã.

Cô hàng bán bún riêu tuổi khỏang mười bẩy, mười tám, dáng người rỏng cao, khuôn mặt thanh nhã, đôi môi hồng mọng. Cô mặc áo lụa mầu mỡ gà, yếm trắng, đầu vấn khăn mỏ quạ. Cô thấy Phụng-Hiểu, hỏi:

– Anh trương-tuần. Anh dẫn khách đắt hàng cho em hả?

– Đúng vậy, này cô Trúc, cô phải trả ơn anh đấy nhé?

– Dĩ nhiên. Mình là người giáp Nhì với nhau, bao giờ chả bênh nhau.

Cô hỏi Đinh Toàn:

– Bún riêu có hai loại bát. Loại bát ăn cơm và loại bát ăn canh. Loại bát ăn cơm thì một tiền năm bát. Còn loại bát ăn canh thì một tiền hai bát. Bác muốn xơi loại nào?

Triệu Huy xen vào:

– Chúng tôi có chín người, với anh Hiểu là mười. Tôi xin trả tiền hết. Cô cứ múc mời khách. Bao nhiêu tiền tôi cũng trả.

Bún riêu là món ăn bình dân của thôn quê Đại-việt. Đối với Thanh-Mai, Phụng-Hiểu, họ ăn thường ngày. Còn Đinh Toàn, từ ngày lưu lạc đến giờ đã gần bốn mươi năm, bây giờ mới được ăn lại. Còn bọn Triệu Huy, Bảo-Hòa, Mỹ-Linh lần đầu tiên được ăn món ăn thôn quê, họ ngồi chờ cô hàng múc riêu, miệng nuốt nước miếng ừng ực.

Cô hàng bún riêu lấy bún bỏ vào bát, rau muống của cô chẻ nhỏ như sợi tóc, ngâm nước, thành quăn queo. Trong rổ rau muống, còn có kinh giới, tía tô thái nhỏ. Hóa cho nên rổ rau muống đưa thêm mùi hương lên mũi thực khách thêm thơm tho. Sau khi bỏ bún vào bát, cô bốc rau muống, rau thơm bỏ lên trên. Cô không quên gắp tý mắm tôm với lát ớt vào cạnh bát. Cuối cùng, cô chan riêu, lễ phép mời khách:

– Mời các ông, các bác, các cô, các cậu xơi đi.

Đinh Toàn và hai ba cái, hết một bát. Cô hàng múc bát thứ nhì. Ông lại và mấy cái hết nhẵn. Trong khi đó Mỹ-Linh cũng ăn hết một bát. Nàng là công chúa, hàng ngày được ăn không biết bao nhiêu miếng ngon vật lạ, nhưng bún riêu là món bình dân, chưa bao giờ nàng được ăn. Sau khi ăn hai bát, bụng no rồi, nàng nghĩ:

– May mắn mình theo chú hai ra ngoài mới được ăn những món này. Chỉ tội hai đứa em Kim-Thành, Trường-Ninh của mình, ở mãi trong cung, chẳng được ăn miếng ngon thôn quê. Kỳ này về kinh, mình phải rủ bọn nó trốn ra ngòai thành Thăng-long ăn quà mới được.

Ăn xong, tính tiền, mười người ăn hết ba mươi mốt bát. Ngô Tích móc tiền trao cho cô hàng:

– Phương danh cô là Thanh-Trúc phải không? Ba mươi mốt bát giá mười tiền rưỡi. Nhưng tay cô đẹp thế kia, mà múc riêu cho bọn phàm phu tục tử như tôi ăn thì biết trả bao nhiêu cho vừa? Thôi tôi trả cô một quan vậy.

Một quan tiền Thuận-thiên là sáu trăm đồng, Tích trả cô gấp hai mươi lần gía bán thông thường.

Thanh-Trúc ngơ ngác không hiểu. Phụng-Hiểu giải nghĩa:

– Tiên sinh đây họ Ngô tên Tích, người nứơc Tống sang sứ nước ta. Tiên sinh thấy em xinh đẹp lễ phép, tặng thêm tiền cho em đấy.

Thanh-Trúc ít học. Nàng hỏi lại:

– Em đã dốt nát, không biết chữ, anh cứ nói chữ thì em hiểu sao nổi?

Phụng-Hiểu giảng nghĩa:

– Ông này là quan của Tàu. Vua Tàu sai đi sứ sang nước ta.

Thanh-Trúc tươi mặt:

– Cảm ơn ông sứ Tàu.

Nàng liếc mắt nhìn tay, rồi lại cúi xuống nhìn chân Triệu Huy. Triệu Huy chưa hết kinh ngạc, nàng lại nhìn Ngô Tích, Triệu Anh. Đinh Toàn lạ lùng hỏi:

– Cô hàng bún! Mấy vị này có gì lạ đâu mà cô nhìn kỹ thế?

Thanh-Trúc nhoẻn một nụ cười:

– Trong làng này có nhiều người ghẻ Tầu. Vì vậy tôi nhìn chân tay các ông Tầu xem có ghẻ không!

Bảo-Hòa vỗ vai Trúc:

– Cô đừng sợ. Ba ông sứ Tầu này không bị ghẻ chân tay, mà ghẻ tim, ruột.

Bọn Triệu Huy biết Bảo-Hoà chửi mình, nhưng giữa chợ, y đành nhịn cho qua.

Tới gốc cây đề, tiếng nhạc từ đâu đó vọng lại, êm tai lạ lùng. Mỹ-Linh rất giỏi âm nhạc, nàng lắng tai nghe, rồi nói:

– Tiếng đàn bầu. Tại sao giữa chợ quê này mà lại có nghệ sĩ tài ba đến thế nhỉ? Chúng mình lại xem đi.

Dưới gốc đa to cỡ mười người ôm. Một cặp nghệ sĩ đang trình diễn. Người chồng mù, tuổi khoảng ba mươi. Gương mặt khắc khổ, da dăn deo, nhưng đôi bàn tay rất đẹp. Người vợ tuổi khoảng hai mươi lăm, hai mươi sáu, gương mặt tươi như hoa. Đôi mắt sáng như sao.

Người chồng ngồi trước cây đàn bầu, đang bật lên những âm thanh réo rắt. Người vợ tay kéo nhị, miệng hát. Bọn Thanh-Mai tới, thì khúc hát vừa hết. Thính chúng vỗ tay rào rào. Người đàn bà bưng cái rổ chìa ra. Mọi người ném tiền vào trong. Nàng luôn miệng nói câu cảm ơn.

Triệu Huy thấy cây đàn có một dây, thì ngạc nhiên:

– Đàn gì mà chỉ có một dây!

Người vợ đáp:

– Cây đàn này là nhạc khí có từ thời vua Hùng, do Trương Chi chế ra, tên gọi đàn bầu. Tiếng Hán-Việt gọi là Độc-huyền cầm.

Người chồng hướng vào thính chúng:

– Nào, bây giờ quý thính giả ưa thích bản nào, chúng tôi xin trình tấu.

Một người hỏi:

– Bản nào ông bà cũng thuộc sao?

– Vâng! Chúng tôi thuộc hết.

Ngô Tích rẽ đám đông, hỏi người đàn bà:

– Ông bà có hát những bản nhạc Trung-nguyên do chúng tôi yêu cầu không?

Người chồng lễ phép:

– Thưa quan viên. Không biết quan viên thích thưởng thức bản gì?

– Tôi muốn nghe bản Xuân dạ yến Trường-giang.

Người chồng ngước đôi mắt mờ nhìn trời không trả lời. Người vợ cúi xuống suy nghĩ. Triệu Huy cười đểu dả:

– Thôi, không biết hát bản đó, cũng chẳng hề gì. Bọn này làm sao biết được những bản cao như thế ? Chúng ta đi nào!

Người chồng cười nhạt:

– Chúng tôi suy nghĩ trước khi trình bày. Quan khách yêu cầu bản đó, thực là điềm gở. Nên chúng tôi còn trù trừ có nên hát không?

Triệu Huy cười khành khạch:

– Ông không biết hát bản đó tôi chẳng chấp đâu. Không biết thì nói không biết. Hà cớ gì nại ra rằng không tốt, với điềm gở?

Người chồng nói bâng quơ:

– Tôi nghe giọng nói quý khách, dường như là người Trung-quốc. Trung-quốc ở Bắc, Đại-Việt ở Nam. Thế mà quý khách muốn chúng tôi hát bài của Ngụy-Võ đế, đem quân Nam chinh. Quý khách có biết rằng bài này do Ngụy-Võ đế, trước khi vượt Trường-giang đánh Ngô, bầy tiệc rượu, cầm giáo múa dưới trăng rồi sáng tác không? Quý khách có biết rằng sau đó tám mươi vạn quân Tào bị đốt ở Xích-bích không?

Triệu Huy đồ chừng rằng vợ chồng nhà hát không biết nói lảng. Y cương quyết:

– Gở thì gở. Xin thử hát xem.

Người chồng bật lên mấy tiếng đàn dài thê lương. Người vợ kéo nhị, cất cao tiếng hát:

Đối tửu đương ca,
Nhân sinh kỷ hà?
Thí như triêu lộ,
Khứ nhật vô đa.
Khái đương dĩ khang,
Ưu tư nan vong,
Hà dĩ giải ưu.
Duy hữu Đỗ Khang.
Thanh thanh tử khâm,
Du du ngã tâm,
Đán vị quân cố,
Trầm ngâm chí kim.
Ao ao lộc minh,
Thực dã chi bình,
Ngã hữu gia tân,
Cổ cầm suy sanh.
Hạo hạo như nguyệt,
Hà thời khả chuyết?
Ưu tùng trung lai,
Bất khả đoạn tuyệt.
Vượt mạch, độ thiên,
Uổng dụng tương tồn,
Khế khoát đàm yên,
Tâm niệm cựu du.
Nguyệt minh tinh hy,
Ô thước Nam phi,
Nhiễu thụ tam đáp,
Vô y khả chi.
Sơn bất yếm cao,
Thủy bất yếm thâm,
Chu-công thổ bộ,
Thiên hạ quy tâm.

Bản nhạc dứt. Hai vợ chồng vẫn tiếp tục đàn. Người chồng nói:

– Mời quý thính giả lắng tai nghe. Kẻ hèn này xin dịch, nếu có chỗ nào khuyết điểm, nhờ cao nhân chỉ dạy cho:

Nâng chén rượu, ta ca một khúc,
Ngẫm đời người mấy chốc ai ơi?
Lăn tăn như hạt sương mai,
Ngày qua, tháng lại, kéo dài được bao?
Làm sao vơi được u sầu.
Giải khuây ta uống một bầu Đỗ Khang.
Nhớ người tà áo xanh xanh.
Lòng ta khắc khoải, sao đành quên nhau?

Chỉ vì nhớ bạn, lòng đau,
Ngày dài trôi mãi, mà sầu nào nguôi.
Tiếng nai ảo não trên đồi,
Ăn đêm trong cánh đồng tươi hoa bèo.
Nhà ta, bạn hữu cười reo,
Cùng nhau tấu nhạc, thổi tiêu gảy đàn.
Đêm nay ngập ánh trăng vàng,
Làm sao ta vẫn bàng hoàng chưa khuây?
Mối lo, canh cánh dạ này,
Biết làm sao để cho ngày trôi qua?
Đường đi vừa khó, vừa xa,
Trăm cay, nghìn đắng, thế mà còn đây.
Vui buồn trong bữa tiệc này,
Nên lòng nhớ lại những ngày cùng nhau.
Trăng khuya làm ánh sao mờ,
Quạ sang Nam kiếm, đâu ra mặt trời.
Lượn quanh cây lớn ba vòng,
Tìm không chỗ đậu, lại cùng bay cao.
Sơn nguy, thủy tận sợ nào?
Chu-công hiếu khách anh hào về theo.

Bọn Triệu Huy kinh hãi tự nghĩ:

– Người này dường như mới mù. Chứ y mù từ nhỏ, sao có thể thuộc, hiểu được những bài ca có trình độ cao như thế? Không lẽ đất Việt toàn người giỏi vậy sao?

Y cầm một thoi bạc trao cho người vợ:

– Xin thù lao hai vị.

Người vợ cầm lấy bạc. Nàng không tỏ vẻ mừng khi Huy cho số bạc quá lớn, chỉ nói nhẹ nhàng như gió thoảng:

– Đa tạ quan viên.

Người chồng hắng rặng một tiếng, rồi nói:

– Quý khách thích nghe thơ Ngụy-Võ, chúng tôi xin hát bài Hành lộ nan. Bài này, Ngụy-Võ đế làm trên đường chinh Bắc, diệt Viên Thiệu, thống nhất Hán tộc.

Bắc thượng Thái-hằng sơn,
Nan tai hà nguy nguy,
Dương trường phản cất khuất,
Xa luân vi chi tồi.
Thụ mộc hà tiêu sắt.
Bắc thanh phong chính bi,
Hùng bi đối ngã tỗn,
Hổ báo giáp lộ đề.
Khê cốc thiểu nhân dân,
Tuyết lạc hà phân phân.

Người vợ cất cao giọng ngâm lại câu:

Hung bi đối ngã tỗn.
Hổ báo giáp lộ đề.
Tuyết lạc hà phân phân.

Bà vừa hát vừa nháy Bảo-Hòa.

– Tiểu cô nương! Tiểu cô nương có hiểu không?

Bảo-Hòa lắc đầu. Mỹ-Linh giảng:

– Bài thơ này của Ngụy-Võ đế tức Tào Tháo. Tào trên đường đi đánh Viên Thiệu đã làm ra. Nghĩa rằng: Phía Bắc có núi Thái-hằng, cao vòi vọi, đường đi quanh co như ruột dê. Xe cộ lên núi, bánh bị gẫy. Cây cối thực tiêu sơ. Gió Bắc thổi rét căm căm. Gấu ngồi trên hốc đá nhìn xuống. Hổ báo rống bên đường. Trong thung lũng dân chúng thưa thớt. Tuyết rơi phơi phới.

Bảo-Hòa chợt hiểu ra:

– Mình chết thực. Thì ra cặp vợ chồng này là người của Khu-mật viện Đại-Việt. Cậu hai bố trí họ để nhắn mình cái gì đây? Đúng rồi. Hai người này rõ ràng nói giọng Thăng-long, chứ đâu có phải tiếng Thanh-Nghệ?

Bảo-Hòa móc túi lấy bạc tặng vợ chồng nhà hát. Giữa lúc đó có tiếng người dùng lăng không truyền ngữ nói vào tai nàng:

– Gặp hổ, sai hổ. Gặp báo, sai báo. Hổ, báo không thắng thì dùng trăn. Đừng hỏi lôi thôi. Cứ đến khu bán thú vật sẽ biết.

Triệu Huy thấy cặp vợ chồng nhà hát kỳ bí. Y thúc Lê Phụng-Hiểu:

– Chuồn thôi.

Họ tiếp tục đi tới khu bán gia súc. Tiếng trâu rống, tiếng ngựa hí, tiếng lợn kêu, tiếng chó sủa tạo thành âm thanh đặc biệt. Mùi xú uế xông lên nồng nặc, làm Mỹ-Linh choáng váng. Trong khu này, bán khá nhiều thú rừng, nào trĩ, nào công, nào gà rừng. Lại có chỗ bầy bán cả hươu, nai.

Chợt Bảo-Hòa sáng mắt lên, khi nàng nhìn thấy mấy người thợ săn bán thú dữ. Trước mặt một ông lão tuổi khoảng sáu mươi, bầy ra ba cái cũi. Cũi thứ nhất trong giam năm đôi trăn lớn. Cũi thứ nhì giam một đôi báo. Cũi thứ ba giam một đôi hổ. Cạnh đấy còn một cái xe, trên có căn nhà nhỏ. Căn nhà không có cửa, mà chỉ có những lỗ bằng trứng gà. Bảo-Hòa biết đây là tổ nuôi ong mật. Nàng lên tiếng:

– Cụ ơi, những thú này cụ bán cả ư?

Ông cụ nghe giọng nói, nhìn dáng người Bảo-Hòa, thì biết nàng không ở trong tổng. Ông cười:

– Cô hỏi chơi hay định mua?

– Cháu định mua đem về nuôi.

Người con trai ông thợ săn, tuổi khoảng hơn hai mươi, cười chế diễu:

– Cô nói đùa. Cô tưởng mấy con thú này hiền hẳn. Nó mà gầm một tiếng, cô vỡ mật ra chết liền.

Bảo-Hòa mỉm cười:

– Nhà tôi không có chó. Tôi định mua về để chơi với chúng cho vui. Ông định giá đi?

Ông già cười:

– Trời đất ôi, có ai mua thú dữ về nuôi như chó bao giờ? Nếu cô sai bảo được những con thú này, tôi biếu cô đấy. Còn không thì một đôi trăn giá hai quan tiền. Đôi báo năm lạng bạc, đôi hổ bẩy lạng.

Thanh-Mai thấy Bảo-Hòa nháy mắt, thì biết nàng đang tìm dịp thoát thân. Vì vậy nàng nói với ông thợ săn:

– Ông giữ lấy lời nghe. Nếu em tôi sai bảo những con thú này được thì ông phải cho chúng tôi.

Ông lão thợ săn quả quyết:

– Quân tử nhất ngôn mà!

Người đi chợ, cùng tất cả đám thợ săn thấy truyện lạ cùng bu lại xem. Bảo-Hòa tiến đến cũi giam hai con hổ, nàng gầm gừ mấy tiếng nhỏ. Hai con hổ đang nằm ủ rũ trong chuồng, nghe tiếng nàng, chúng đứng nhỏm dậy, vẫy đuôi mừng. Bảo-Hòa rút then mở cũi, rồi gầm lên mấy tiếng. Hai con hổ nhanh nhẹn chui ra khỏi cũi. Chúng nhảy vào vồ Triệu Huy, Ngô Tích.

Hành động của nàng nhanh quá, đám thợ săn cũng như mọi người không ai ngờ tới. Dân chúng kinh hoàng chạy ra xa đứng nhìn. Ngô Tích, Triệu Huy chuyển thân, liệng hành lý cho Đinh Toàn với Quách Quỳ giữ, rồi xuất chiêu, phục hổ.

Khi thấy Bảo-Hòa mở cũi hùm, Thanh-Mai ra hiệu cho Mỹ-Linh, rồi phóng chưởng tấn công Triệu Anh. Chỉ một chiêu nàng đã kiềm chế y, bẻ gập cánh tay ra sau. Bình thường, đấu võ Thanh-Mai không thể nào chịu của y được đến ba chiêu. Nay y bị trúng độc, khí lực không còn, y bị kiềm chế dễ dàng. Mỹ-Linh cũng chụp cổ Đàm An-Hòa bằng một chiêu cầm-long công. Nàng quay lại tìm Đinh Toàn với Quách Quỳ, không biết hai người trốn đâu mất!

Triệu Huy, Ngô Tích đang dùng hết sức chống nhau với đôi hổ. Bảo-Hòa lại mở cũi thả đôi báo ra. Nàng hú lên một tiếng, chúng nhảy vào trợ sức với đôi hổ. Anh em Ngô Tích, Triệu Huy quả xứng đáng là đại cao thủ. Mỗi người chống với một cọp một báo, mà không nao núng.

Bảo-Hòa đứng gầm gừ điều khiển hổ, báo tấn công ráo riết. Nàng chạy lại cũi chứa trăn, mở cũi húyt sáo mấy tiếng. Một đôi trăn vọt ra khỏi cũi, chúng phóng đến cuốn Triệu Anh, Đàm An-Hòa lại, như người ta dùng dây trói. Còn bốn đôi khác ngỏng đầu như người đứng, trong tư thế sẵn sàng tấn công anh em Triệu Huy.

Dân chúng náo loạn cả lên. Tuy vậy họ vẫn không chạy, mà đứng thành vòng tròn xem ba cô gái lạ, mặt đẹp như tiên, có tài sai hổ, báo, trăn tấn công người. Trống báo động thúc liên hồi.

Ông lý đã cùng một đội hoàng-nam xuất hiện, đao kiếm sáng ngời, làm thành vòng vây xung quanh đấu trường, đề phòng thú dữ.

Chiến đấu được một lúc, Ngô Tích mệt muốn đứt hơi. Y nhìn sang bên cạnh, chiêu thức Triệu Huy đã rời rạc. Y nghĩ:

– Tình thế này, chi bằng hãy tạm bỏ chạy. Đại ca ta là Thiên-sứ, chắc bọn chúng không dám hại. Ta cần tìm Bình-nam vương, để người can thiệp với vua Giao-chỉ bắt chúng tha đại ca ra.

Nghĩ vậy y hú lên một tiếng, báo hiệu cho Triệu Huy bỏ chạy. Hai người cùng vận hết sức phát liền mấy chưởng, bình, bình. Hổ báo bị đẩy lui . Hai người vọt mình vào đám dân chúng trốn. Nhưng nhanh hơn, Bảo-Hòa huýt sáo mấy tiếng, tám con trăn phóng tới quấn hai người vào giữa.

Hai người càng vùng vẫy, trăn cuốn càng chặt.

Thanh-Mai mừng quá, nàng lấy mấy sợi dây của thợ săn trói bọn chúng lại. Bảo-Hòa bị trúng độc, thân thể rã rời. Sau trận đấu, nàng choáng váng, ngồi xuống đất dựa lưng vào một con hổ dưỡng thần. Một con khác đến nằm cạnh. Hai con báo liếm tay nàng tỏ vẻ thân ái. Bảo-Hòa ôm lấy cổ chúng như ôm những con chó.

Mỹ-Linh đến bên hỏi:

– Chị Bảo-Hòa, có sao không?

– Không sao cả. Em yên tâm.

Nói xong nàng gượng gạo vẫy tay gọi bố con ông thợ săn. Hai bố con ông cùng hơn mười người thợ săn khác không dám lại gần. Họ quỳ gối ở xa, lạy thụp xuống đất. Đối với thợ săn, thú rừng là những con vật linh thiêng, phải có thần tiên mới sai khiến được chúng. Họ thấy Bảo-Hòa sai thú của họ như họ sai chó. Nàng lại trang phục như người Thái, hơi khác lạ với người Kinh. Bảo-Hòa mỉm cười nói với ông thợ săn:

– Cụ giữ lời, hứa cho tôi mấy con thú này nghe.

Hai bố con ông thợ săn quỳ gối chắp tay lạy Bảo-Hòa liên tiếp:

– Tấu lạy tiên cô. Cô là người nhà trời, cô sai khiến đươc hổ báo. Con xin kính dâng cô hết.

Bảo-Hòa là con một lạc-hầu vùng bắc-biên Việt-Tống. Mẫu thân nàng hiện làm vua bà 207 khê động. Khi sinh ra đời được mười ngày, mẫu thân nàng bị cảm, rồi mất sữa. Với địa vị một vua bà, thì kiếm cho con một bà vú thực không khó. Nhưng mẹ nàng là người sùng đạo Phật, không muốn con mình bú người, mà con người không được bú mẹ, như vậy sinh ra nghiệp quả. Sẵn trong châu nuôi nhiều hổ, báo, thân phụ nàng nặn sữa hổ, báo nuôi nàng.

Khi đã lên bốn, lên năm, nàng vẫn còn ăn sữa. Một lần theo anh vào rừng chơi, chẳng may đi lạc. Bố mẹ nàng kinh hãi, xuất lĩnh trên trăm người đi tìm suốt hai ngày không thấy đâu. Mọi người cho rằng nàng bị thú dữ ăn thịt rồi. Bốn hôm sau một tóan thợ săn tìm thấy Bảo-Hòa đang ở trong hang cọp. Suốt mấy ngày nàng bú cọp, sống với bầy cọp con. Không ai hiểu tại sao cọp mẹ không ăn thịt nàng. Cuối cùng một người thợ săn cho biết rằng khi trẻ con uống sữa thú rừng lâu ngày tự nhiên trong người tiết ra mùi hương đặc biệt thoang thỏang như hoa lan rừng. Phàm thú dữ ngửi thấy mùi hương đó, thì không ăn thịt. Ngược lại còn phục tùng, trung thành như chó đối với chủ. Từ đấy dân chúng Bắc- biên coi nàng như công chúa con Ngọc-Hòang thượng đế giáng sinh, gọi nàng bằng cô. Nàng cũng xưng cô với họ, riết rồi thành quen.

Bảo-Hòa cũng như các đệ tử Tây-vu khác, được dạy tiếng nói của thú rừng, hầu sai khiến, chỉ huy như chỉ huy binh đội. Hôm nay, giữa lúc chị em lo sợ rằng sau khi chữa khỏi bệnh cho Triệu Anh, chắc chắn bọn chúng sẽ giết chết chị em nàng để phi tang… thì gặp bọn thợ săn bán thú rừng. Nàng dùng bản lĩnh Tây-vu, sai thú tấn công bọn chúng, mà thành công.

Bảo-Hòa mỉm cười:

– Không, cô không nhận của ông đâu. Đây cô trả tiền cho.

Nàng trả cho ông số bạc gấp đôi lần ông ra giá. Nàng nói:

– Ông mua cho mỗi con trăn một con gà. Mỗi cặp hổ, báo một đùi thịt trâu, bỏ vào cũi cho chúng ăn.

Khi bọn Triệu Anh đi rồi, trong lòng ông lý khả nghi. Ông sai một hoàng nam theo dõi hành tung của bọn chúng. Hoàng nam vừa đi, đã chạy về báo cho ông hay về cuộc giao chiến của chị em Thanh-Mai với bọn Triệu Huy. Ông ra lệnh đánh trống Ngũ-liên báo động, rồi dẫn đội hoàng nam đến đấu trường. Dân chúng có mặt kể cho ông nghe từ đầu đến cuối diễn tiến trận đấu. Ông đến nơi đúng lúc Thanh-Mai, Mỹ-Linh bắt Đàm An-Hòa, Triệu Anh. Trong lòng ông kinh hoàng, tự hỏi:

– Mấy cô gái này là ai, đang đi cùng Đàm hiệu úy, với Thiên-sứ, rồi lại sai hổ, báo, trăn bắt sống họ?

Bảo-Hòa vẫy tay gọi ông lý:

– Cụ lý. Mời cụ lại đây, tôi có truyện muốn nói với cụ.

Tiếng nói của nàng thanh tao, mà oai lạ lùng. Ông lý chắp tay:

– Tấu lạy tiên cô. Con muốn lại, nhưng… những ông kễnh này ghê quá. Con không dám.

Bảo-Hòa mỉm cười:

– Ông đừng sợ, những con chó, con mèo này hiền lắm. Nó không nhá thịt ông đâu. Thôi, ông sợ thì thôi. Phụng-Hiểu, anh lại đây.

Lê Phụng-Hiểu rất can đảm. Chàng hiên ngang tiến tới. Bảo-Hòa nói sẽ:

– Anh có biết cô là ai không?

– Tấu lạy cô không.

– Cô là con vua bà coi 207 châu động vùng biên giới bắc Đại-Việt. Bọn người Tầu này mưu hại cô. Cô ra lệnh cho hổ, báo bắt chúng. Vậy anh hãy sai hoàng-nam đóng kín cổng làng tìm cho được hai tên đồng bọn đang trốn đâu đó.

Một con báo liếm tay Phụng-Hiểu. Tuy chàng biết nó không cắn mình, mà chân tay cũng run run, người phát lạnh. Tiếng nói uy nghiêm của Bảo-Hòa khiến chàng không tự chủ được. Chàng lui lại gọi bốn đội trưởng hoàng-nam ra lệnh, tìm bắt Đinh Toàn, Quách Quỳ.

Thấy Lê Phụng-Hiểu dám lại bên Bảo-Hòa, ông lý làm gan, ông đến gần chắp tay lạy:

– Tấu lạy cô, xin cô ban lệnh.

Bảo-Hòa rút lệnh bài của mẹ, trao cho ông lý:

– Ông cho người phi ngựa về đinh tiết-độ-sứ Đinh Ngô-Thương, nói rằng cô đã bắt được bọn gian nhân. Đinh phải cho đạo binh Quảng-thánh tới giải tù nhân về.

Một người cụt tay, tuổi khỏang ba mươi rẽ đám đông đi ra. Ông lý chỉ người đó giới thiệu:

– Đây ông tiên chỉ làng Vạn-thảo.

Bảo-Hòa kinh ngạc không ít, vì xưa nay tiên chỉ phải là người già, đạo cao, đức trọng. Không ngờ tiên chỉ Vạn-thảo lại còn quá trẻ. Nhìn dáng điệu, khuôn mặt của ông tiên chỉ rất quen, mà nàng không nhớ đã gặp ở đâu. Người cụt tay cúi đầu chào Bảo-Hòa:

– Hoàng-triều thiên tướng Quách Thịnh xin kính cẩn ra mắt cô nương. Chẳng hay cô nương từ đâu gía lâm tệ xã?

Bảo-Hòa nghe đến tên Quách Thịnh, nàng á lên một tiếng, mừng rỡ:

– Quách tướng quân quên cô rồi sao? Cách đây năm năm, tướng quân theo cậu hai của cô là Dực-thánh vương, đem quân giúp mạ mạ đánh bọn Tầu-ô Đại Quang-Lịch, đốt trại Như-hồng trên đất Tống. Sau đó tướng quân bị thương ở tay. Mạ mạ đem về nhà dưỡng thương hơn tháng mới khỏi. Lúc ấy cô thường gọi hùm, gọi báo đến chơi đùa với tướng quân. Sau trận đó, ông ngọai thương xót, phong cho tướng quân tước Trung-thành hầu, ăn lộc một nghìn hộ.

Người cụt tay đã nhận ra Bảo-Hòa:

– Thì ra quận chúa. Tiểu tướng thực vô tâm. Cũng tại quận chúa mau lớn qúa, tiểu-tướng nhận không ra. Thấm thoát đã trên năm năm. Bây giờ quận chúa xinh đẹp như thế này rồi. Tiểu tướng xin ra mắt quận chúa.

Bảo-Hòa chỉ Mỹ-Linh:

– Bình-Dương là con gái lớn cậu cả đấy.

Quách Thịnh chắp tay:

– Thần Trung-thành hầu xin tham kiến công chúa điện hạ.

Quách Thịnh gọi ông lý:

– Mau đánh trống rước công chúa, quận chúa về đình.

Quách Thịnh đến bên Bảo-Hòa:

– Từ sau khi được hoàng thượng phong cho tước hầu. Tiểu nhân trở về làng cũ lấy vợ, được dân chúng tôn làm tiên chỉ. Tuy ở thôn dã, tiểu nhân cũng vẫn lấy việc dạy dỗ lớp sau, hầu khi quốc gia hữu sự, cho chúng ra giúp nước.

Dân làng đã đem đến ba cái kiệu để rước chị em Thanh-Mai. Bảo-Hòa xua tay:

– Cô không đi kiệu đâu. Chị Thanh-Mai cỡi ngựa. Mỹ-Linh đi kiệu. Cô cỡi hùm được rồi.

Bảo-Hòa nói với đám thợ săn:

– Các ông chở mấy cái cũi trăn này theo cô. Còn mấy con chó, con mèo của cô thì không cần.

Nàng nhảy lên lưng cọp, hô một tiếng, nó rảo bước theo sau kiệu Mỹ-Linh. Con hùm còn lại, cùng hai con báo đi cạnh nàng.
IM LẶNG VÀ MĨM CƯỜI
Image Image
User avatar
DaMinhChau
SuperModerator
Huy Chương Thượng Hạng VI
Đệ Nhất Post Bài Đệ Nhất Tin Tức Nử Hoàng VietDeThuong Đệ Nhất Âm Nhạc
Đệ Nhất Khóc Nhè   
5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership5 years of membership
Status:Offline
zodiac: Leo-Sư Tử
Mood: Sunshine
Posts: 79770
Has thanked: 35132 times
Have thanks: 45992 times
Joined: September 7th, 2011, 12:15 am
Last Visit: April 30th, 2017, 7:11 pm
Country: United States of America
    Windows 8 Firefox

PreviousNext

Return to History & Culture Of VietNam | Lịch Sử & Văn Hóa Việt Nam

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest